1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội

108 452 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội Đối với bất cứ quốc gia nào, thời đại nào, giáo dục cũng có vị trí quan trọng trong sự phát triển xã hội. Xƣa kia cha ông ta đã có câu: "Quy trí tất hưng" (Chăm lo cho giáo dục thì đất nƣớc hƣng thịnh). Ngày nay, giáo dục là phát triển. Năm 2004, UNESCO khẳng định: "Không có một sự tiến bộ nào, sự thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó. Và những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết tiến hành sự nghiệp giáo dục một cách hiệu quả thì số phận quốc gia đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn cả sự phá sản". Nhƣ vậy. vấn đề cấp thiết hiện nay là nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo để đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội trong thời đại mới. Tháng 4/2006, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: "Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo bước chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ khu vực và thế giới"; "ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học". Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011) đã khẳng định: "Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo"; khẳng định "Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội".2 Môn Lịch sử ở nhà trƣờng phổ thông có vị trí rất quan trọng trong việc đào tạo con ngƣời. Lịch sử không chỉ giáo dục cho học sinh tình cảm yêu ghét trong đấu tranh giai cấp mà còn bồi dƣỡng cho các em năng lực đối xử với mọi ngƣời xung quanh, biết yêu quý cái đẹp, yêu lao động, sự căm thù quân cƣớp nƣớc và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khơi dậy ở học sinh sự thông cảm sâu sắc và lòng kính yêu đối với quần chúng nhân dân. Những kiến thức lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc từ cổ đến kim đều có tác động không chỉ đến trí tuệ mà cả trái tim học sinh. Các con ngƣời thực, việc thực trong quá khứ sẽ gợi dậy trong học sinh những tƣ tƣởng tình cảm đúng đắn, mà những tƣ tƣởng tình cảm này là hành trang tối cần thiết cho thế hệ trẻ trong điều kiện mở cửa, hội nhập với thế giới. Song, muốn phát huy tốt chức năng, nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử trong việc giáo dục học sinh, cần nâng cao hiệu quả dạy học. Phƣơng pháp dạy học tốt sẽ nâng cao hiệu quả bài học. Xuất phát từ thực trạng việc học tập lịch sử hiện nay – đa phần các em coi Lịch sử là môn phụ, học chống đối, không thích học Lịch sử, sợ sử, chán sử… chúng ta cần phải có nhận thức mới về bộ môn, về bài học lịch sử. Mỗi một bài học phải đem đến cho học sinh niềm say mê học tập, có mong muốn, nhu cầu học tập. Nói cách khác, giáo dục lịch sử không đặt nặng trọng tâm vào kiến thức, mà phải đặt trọng tâm vào khơi dậy đam mê của học sinh, kích thích tò mò, hứng thú, sáng tạo để các em có thể tự tìm kiếm những gì không chỉ trong phạm vi kiến thức ở nhà trƣờng, mà cả kiến thức ngoài xã hội, để các em thấy rằng, mỗi ngày đến trƣờng, mỗi một bài học lịch sử đều có ích. Một giờ học lịch sử mà khơi dậy đƣợc đam mê, khởi dậy hứng thú để các em chủ động lĩnh hội kiến thức, giúp các em nhận ra những năng lực, trí tuệ của mình, qua đó giáo dục tƣ tƣởng, tình cảm cho các em – đó chính là một bài học hiệu quả. Việc sử dụng hiệu quả các nguồn tài liệu ngoài sách giáo khoa, đặc biệt là các tƣ liệu "sống" khiến cho các giờ học lịch sử vốn bị coi là khô cứng và3 giáo điều trở nên "mềm" hơn, dễ hiểu và gần gũi với học sinh. Giờ học lịch sử sẽ đƣợc học sinh đón đợi hơn, học sinh cũng dễ nhớ, dễ thuộc kiến thức hơn. Bảo tàng Phòng không – Không quân với hàng nghìn hiện vật đƣợc trƣng bày đã tái tạo lại những trang sử oai hùng của dân tộc ta trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Mỗi hiện vật, hình ảnh trong hệ thống trƣng bày là huyền thoại về những chiến công xuất sắc của bộ đội Phòng không – Không quân qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, lập nên những kỳ tích anh hùng đánh thắng không quân nhà nghề của một nƣớc có nền khoa học kỹ thuật hiện đại nhất từ trƣớc đến nay. Qua những hình ảnh đó, học sinh nhƣ đƣợc tận mắt chứng kiến cuộc sống, chiến đấu của quân dân ta, những tấm gƣơng anh dũng hy sinh của các anh hùng … sẽ gợi cho học sinh nhiều cảm xúc. Bài học vì thế có tác dụng, hiệu quả hơn nhiều so với việc ngồi nghe thuyết trình trong lớp. Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tế nêu trên, chúng tôi chọn đề tài: "Sử dụng Bảo tàng Phòng không- Không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trƣờng Trung học cơ sở tại Hà Nội" làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ của mình. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Vấn đề sử dụng bảo tàng trong dạy học nói chung, trong dạy học lịch sử nói riêng đã đƣợc nhiều nhà khoa học trong và ngoài nƣớc đề cập tới. 2.1. Nguồn tài liệu nước ngoài Tổ chức UNESCO đã tổ chức một số hội thảo và công bố nhiều tài liệu về việc sử dung tài liệu về việc sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử và giáo dục thế hệ trẻ. Đặc biệt là ở Liên Xô trƣớc đây, việc nghiên cứu vấn để sử dụng bảo tàng để dạy học lịch sử và và giáo dục học sinh đạt đƣợc nhiều thành tựu.4 - T.A.Cudrinoi viết tác phẩm: "Bảo tàng và trường phổ thông" (Matxcơva -NXB Giáo dục - 1985) đã nêu rõ lịch sử phát triển của ngành bảo tàng nói chung, chức năng của bảo tàng Xô viết nói riêng và tính giai cấp của chúng. Đặc biệt tác giả nhấn mạnh ý nghĩa giáo dục của bảo tàng đối với học sinh và nêu rõ một số phƣơng pháp sử dụng bảo tàng trong dạy học. - A.E.Xaynhenxki, trong quyển "Bảo tàng giáo dục thế hệ trẻ" ((Matxcơva -NXB Giáo dục - 1988) trình bày khái quát lịch sử phát triển của bảo tàng chính trị - xã hội ở nhà trƣờng Xô Viết, cách xây dựng bảo tàng phổ thông và tổ chức hoạt động của chúng. tác giả nhấn mạnh đến phƣơng pháp sử dụng của bảo tàng trong giờ học nội khóa, ngoại khóa và vai trò của giáo viên đối với việc sử dụng của bảo tàng. 2.2. Nguồn tài liệu trong nước Ở nƣớc ta, việc sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử vẫn là vấn đề khá mới mẻ, chƣa đƣợc nghiên cứu sâu sắc và có hệ thống. Trong thập niên 90 thế kỉ trƣớc, Sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội phối hợp với Bảo tàng Cách mạng Việt Nam tổ chức cuộc thi giáo viên dạy giỏi tại phòng trƣng bày của bảo tàng. Sau đó sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội đã tổ chức tổng kết, rút kinh nghiệm đánh giá hiệu quả của phƣơng pháp dạy, học này. Hầu hết các giáo viên lịch sử ở trƣờng phổ thông đều đánh giá cao và hoan nghênh phƣơng pháp dạy học này. Trong các giáo trình "Phương pháp dạy học lịch sử" và một số bài viết đã đề cập đến việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử, nhƣ xây dựng, sử dụng phòng học bộ môn lịch sử ở trƣờng phổ thông, sử dụng bảo tàng, nhà truyền thống trong dạy học lịch sử... Cuốn “Bảo tàng lịch sử, cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông trung học” của tác giả Nguyễn Thị Côi, xuất bản năm 1998 đã trình bày các vấn đề, nhƣ: Vai trò và ý nghĩa của bảo tàng lịch sử, cách mạng trong dạy5 học lịch sử ở trƣờng phổ thông trung học; Nội dung các vật trƣng bày của bảo tàng lịch sử, cách mạng và khả năng sử dụng trong dạy học lịch sử ở trƣờng phổ thông trung học; Các hình thức, phƣơng pháp sử dụng tƣ liệu bảo tàng trong dạy học lịch sử. Tác giả khẳng định “Tư liệu ở bảo tàng là phương tiện trực quan, quan trọng góp phần tạo biểu tượng lịch sử cụ thể, chân thực và chính xác cho học sinh ”. [21; 12] Việc khai thác, sử dụng, tƣ liệu của bảo tàng đảm bảo cho quá trình nhận thức của học sinh diễn ra hợp với quy luật nhận thức và đảm bảo nguyên tắc trực quan trong dạy học lịch sử. Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

VƯƠNG THỊ NGÀ

"Sö dông B¶o tµng Phßng kh«ng - Kh«ng qu©n

trong d¹y häc lÞch sö ViÖt Nam (1954 - 1975)

ë tr-êng Trung häc c¬ së t¹i Hµ Néi"

CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ

MÃ SỐ:

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Đình Tùng

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài: 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài: 11

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài: 11

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn : 12

7 Cấu trúc của luận văn 12

Chương 1: VẤN ĐỀ SỬ DỤNG BẢO TÀNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 13 1.1 Cơ sở lý luận 13

1.1.1 Quan niệm về bảo tàng trong dạy học lịch sử 13

1.1.2 Các loại bảo tàng 17

1.1.3 Mối quan hệ giữa bảo tàng với kiến thức lịch sử 18

1.1.4 Cơ sở xuất phát của vấn đề nghiên cứu 21

1.1.4.1 Đặc điểm tâm lý và nhận thức của HS THCS 21

1.1.4.2 Xuất phát từ đặc trưng của việc DHLS 26

1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của tư việc sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường THCS 27

1.2 Cơ sở thực tiễn 34

1.2.1 Thực trạng việc khai thác và sử dụng tư liệu ở Bảo tàng của giáo viên THCS tại Hà Nội trong dạy học lịch sử 35

1.2.2 Thực tiễn của việc sử dụng Bảo tàng Phòng không – Không quân trong dạy học lịch sử tại các trường THCS tại Hà Nội 36

1.2.2.1 Về phía GV 37

Trang 3

1.2.2.2 Về phía HS 39

1.2.3 Nguyên nhân và định hướng khắc phục những hạn chế 41

1.2.3.1 Nguyên nhân 41

1.2.2.2 Định hướng khắc phục những hạn chế 44

Chương 2: NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC SỬ DỤNG BẢO TÀNG PHÕNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1954 – 1975) Ở TRƯỜNG THCS TẠI HÀ NỘI 46

2.1 Mục tiêu, nội dung kiến thức cơ bản của phần LSVN từ 1954 – 1975 trường THCS 46

2.1.1 Mục tiêu 46

2.2 Nội dung của Bảo tàng Phòng không – Không quân cần khai thác trong DHLS Việt Nam (1954 – 1975) ở trường THCS 48

2.3 Yêu cầu của việc sử dụng bảo tàng Phòng không – Không quân trong DHLS Việt Nam (1954 – 1975) ở trường THCS tại Hà Nội 54

2.3.1 Phải xác định rõ mục 54

2.3.2 Phải xây dựng kế hoạch khi sử dụng 54

2.3.3 Cần tổ chức kiểm tra, đánh giá sau sử dụng 55

2.4 Một số hình thức sử dụng Bảo tàng Phòng không - Không quân trong dạy học lịch sử (1954 – 1975) ở trường THCS tại Hà Nội 56

2.4.1 Tổ chức học sinh tham quan bảo tàng 56

2.4.1.1 Xác định mục đích tham quan 57

2.4.1.2 Xây dựng kế hoạch 57

2.4.1.3 Công tác chuẩn bị 58

2.4.1.5 Kiểm tra, đánh giá sau tham quan 60

2.4.1.6 Rút kinh nghiệm 61

2.4.2 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa ở bảo tàng sau học tập trên lớp 61

2.4.3 Tổ chức học kiến thức mới tại bảo tàng 64

Trang 4

2.4.4 Khai thác, sử dụng Bảo tàng Phòng không - Không quân để tổ chức

triển lãm, ra báo học tập ở trường THCS 67

2.4.4.1 Mục tiêu 68

2.4.5 Tiến hành tổ chức cuộc triển lãm hình ảnh về chủ đề Cả nước trực tiếp chiến đấu chống Mĩ, cứu nước (1965 – 1973) 70

Chương 3: SỬ DỤNG BẢO TÀNG PHÕNG KHÔNG – KHÔNG QUÂN TRONG BÀI HỌC NỘI KHÓA Ở TRÊN LỚP KHI DẠY HỌC LSVN 1954 – 1975 TRƯỜNG THCS TẠI HÀ NỘI THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73

3.1 Các biện pháp sử dụng bảo tàng trong DHLS Việt Nam 73

3.1.1 Sử dụng tư liệu bảo tàng để tạo hứng thú học tập cho HS ngay đầu giờ 73

3.1.2 Sử dụng tư liệu bảo tàng để minh họa kiến thức cơ bản của bài 74

3.1 3 Sử dụng tư liệu bảo tàng để kể chuyện cho HS 76

3.1.4 Tổ chức HS học tập với tư liệu của Bảo tàng 80

3.1.6 Sử dụng tư liệu bảo tàng để củng cố, kiểm tra kiến thức lịch sử 87

3.2 Thực nghiệm sư phạm 90

3.2.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 90

3.2.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm sư phạm 91

3.2.3 Nội dung và phương pháp tiến hành thực nghiệm 91

3.2.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 93

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đối với bất cứ quốc gia nào, thời đại nào, giáo dục cũng có vị trí quan

trọng trong sự phát triển xã hội Xưa kia cha ông ta đã có câu: "Quy trí tất

hưng" (Chăm lo cho giáo dục thì đất nước hưng thịnh) Ngày nay, giáo dục là

phát triển Năm 2004, UNESCO khẳng định: "Không có một sự tiến bộ nào,

sự thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó Và những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết tiến hành sự nghiệp giáo dục một cách hiệu quả thì số phận quốc gia đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn cả sự phá sản"

Như vậy vấn đề cấp thiết hiện nay là nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo để đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội trong thời đại mới Tháng 4/2006,

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: "Đổi

mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo bước chuyển

biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ khu

vực và thế giới"; "ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học"

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại

hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011) đã khẳng định: "Đổi mới

căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo"; khẳng định "Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội"

Trang 6

Môn Lịch sử ở nhà trường phổ thông có vị trí rất quan trọng trong việc đào tạo con người Lịch sử không chỉ giáo dục cho học sinh tình cảm yêu ghét trong đấu tranh giai cấp mà còn bồi dưỡng cho các em năng lực đối xử với mọi người xung quanh, biết yêu quý cái đẹp, yêu lao động, sự căm thù quân cướp nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khơi dậy ở học sinh sự thông cảm sâu sắc và lòng kính yêu đối với quần chúng nhân dân

Những kiến thức lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc từ cổ đến kim đều có tác động không chỉ đến trí tuệ mà cả trái tim học sinh Các con người thực, việc thực trong quá khứ sẽ gợi dậy trong học sinh những tư tưởng tình cảm đúng đắn, mà những tư tưởng tình cảm này là hành trang tối cần thiết cho thế hệ trẻ trong điều kiện mở cửa, hội nhập với thế giới Song, muốn phát huy tốt chức năng, nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử trong việc giáo dục học sinh, cần nâng cao hiệu quả dạy học Phương pháp dạy học tốt sẽ nâng cao hiệu quả bài học

Xuất phát từ thực trạng việc học tập lịch sử hiện nay – đa phần các em coi Lịch sử là môn phụ, học chống đối, không thích học Lịch sử, sợ sử, chán sử… chúng ta cần phải có nhận thức mới về bộ môn, về bài học lịch sử Mỗi một bài học phải đem đến cho học sinh niềm say mê học tập, có mong muốn, nhu cầu học tập Nói cách khác, giáo dục lịch sử không đặt nặng trọng tâm vào kiến thức, mà phải đặt trọng tâm vào khơi dậy đam mê của học sinh, kích thích tò

mò, hứng thú, sáng tạo để các em có thể tự tìm kiếm những gì không chỉ trong phạm vi kiến thức ở nhà trường, mà cả kiến thức ngoài xã hội, để các em thấy rằng, mỗi ngày đến trường, mỗi một bài học lịch sử đều có ích Một giờ học lịch sử mà khơi dậy được đam mê, khởi dậy hứng thú để các em chủ động lĩnh hội kiến thức, giúp các em nhận ra những năng lực, trí tuệ của mình, qua đó giáo dục tư tưởng, tình cảm cho các em – đó chính là một bài học hiệu quả Việc sử dụng hiệu quả các nguồn tài liệu ngoài sách giáo khoa, đặc biệt

là các tư liệu "sống" khiến cho các giờ học lịch sử vốn bị coi là khô cứng và

Trang 7

giáo điều trở nên "mềm" hơn, dễ hiểu và gần gũi với học sinh Giờ học lịch sử

sẽ được học sinh đón đợi hơn, học sinh cũng dễ nhớ, dễ thuộc kiến thức hơn Bảo tàng Phòng không – Không quân với hàng nghìn hiện vật được trưng bày đã tái tạo lại những trang sử oai hùng của dân tộc ta trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ Mỗi hiện vật, hình ảnh trong hệ thống trưng bày là huyền thoại về những chiến công xuất sắc của bộ đội Phòng không – Không quân qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống

Mỹ, lập nên những kỳ tích anh hùng đánh thắng không quân nhà nghề của một nước có nền khoa học kỹ thuật hiện đại nhất từ trước đến nay Qua những hình ảnh đó, học sinh như được tận mắt chứng kiến cuộc sống, chiến đấu của quân dân ta, những tấm gương anh dũng hy sinh của các anh hùng … sẽ gợi cho học sinh nhiều cảm xúc Bài học vì thế có tác dụng, hiệu quả hơn nhiều

so với việc ngồi nghe thuyết trình trong lớp

Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tế nêu trên, chúng tôi chọn đề

tài: "Sử dụng Bảo tàng Phòng không- Không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội" làm đề tài

luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề sử dụng bảo tàng trong dạy học nói chung, trong dạy học lịch sử nói riêng đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập tới

2.1 Nguồn tài liệu nước ngoài

Tổ chức UNESCO đã tổ chức một số hội thảo và công bố nhiều tài liệu

về việc sử dung tài liệu về việc sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử và giáo dục thế hệ trẻ Đặc biệt là ở Liên Xô trước đây, việc nghiên cứu vấn để sử dụng bảo tàng để dạy học lịch sử và và giáo dục học sinh đạt được nhiều thành tựu

Trang 8

- T.A.Cudrinoi viết tác phẩm: "Bảo tàng và trường phổ thông"

(Matxcơva -NXB Giáo dục - 1985) đã nêu rõ lịch sử phát triển của ngành bảo tàng nói chung, chức năng của bảo tàng Xô viết nói riêng và tính giai cấp của chúng Đặc biệt tác giả nhấn mạnh ý nghĩa giáo dục của bảo tàng đối với học sinh và nêu rõ một số phương pháp sử dụng bảo tàng trong dạy học

- A.E.Xaynhenxki, trong quyển "Bảo tàng giáo dục thế hệ trẻ"

((Matxcơva -NXB Giáo dục - 1988) trình bày khái quát lịch sử phát triển của bảo tàng chính trị - xã hội ở nhà trường Xô Viết, cách xây dựng bảo tàng phổ thông và tổ chức hoạt động của chúng tác giả nhấn mạnh đến phương pháp

sử dụng của bảo tàng trong giờ học nội khóa, ngoại khóa và vai trò của giáo viên đối với việc sử dụng của bảo tàng

2.2 Nguồn tài liệu trong nước

Ở nước ta, việc sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử vẫn là vấn đề khá mới mẻ, chưa được nghiên cứu sâu sắc và có hệ thống

Trong thập niên 90 thế kỉ trước, Sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội phối hợp với Bảo tàng Cách mạng Việt Nam tổ chức cuộc thi giáo viên dạy giỏi tại phòng trưng bày của bảo tàng Sau đó sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội đã tổ chức tổng kết, rút kinh nghiệm đánh giá hiệu quả của phương pháp dạy, học này Hầu hết các giáo viên lịch sử ở trường phổ thông đều đánh giá cao và hoan nghênh phương pháp dạy học này

Trong các giáo trình "Phương pháp dạy học lịch sử" và một số bài viết

đã đề cập đến việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử, như xây dựng, sử dụng phòng học bộ môn lịch sử ở trường phổ thông, sử dụng bảo tàng, nhà truyền thống trong dạy học lịch sử

Cuốn “Bảo tàng lịch sử, cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường phổ

thông trung học” của tác giả Nguyễn Thị Côi, xuất bản năm 1998 đã trình bày

các vấn đề, như: Vai trò và ý nghĩa của bảo tàng lịch sử, cách mạng trong dạy

Trang 9

học lịch sử ở trường phổ thông trung học; Nội dung các vật trưng bày của bảo tàng lịch sử, cách mạng và khả năng sử dụng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông trung học; Các hình thức, phương pháp sử dụng tư liệu bảo tàng

trong dạy học lịch sử Tác giả khẳng định “Tư liệu ở bảo tàng là phương tiện

trực quan, quan trọng góp phần tạo biểu tượng lịch sử cụ thể, chân thực và chính xác cho học sinh ” [21; 12] Việc khai thác, sử dụng, tư liệu của bảo

tàng đảm bảo cho quá trình nhận thức của học sinh diễn ra hợp với quy luật

nhận thức và đảm bảo nguyên tắc trực quan trong dạy học lịch sử

Trong cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” của Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị chủ biên, xuất bản năm 2003, chương IX “Hoạt động

ngoại khóa trong dạy học lịch sử” [50] đã nêu lên tầm quan trọng của việc

khai thác và sử dụng tư liệu hiện vật của bảo tàng trong dạy học lịch sử

Đặc biệt trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử”, tập II do Phan

Ngọc Liên, Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, xuất bản năm 2005, ở chương

XI “Cơ sở lý luận về bài học lịch sử ở trường phổ thông, phần III Các loại

bài học ở trường phổ thông: thì bài học thực địa, trong nhà bảo tàng lịch sử cách mạng “Là những bài học nội khóa, một mắt xích trong toàn bộ khóa trình, có liên quan tới bài học lịch sử khác, việc học tập những bài học này là bắt buộc đối với toàn bộ học sinh” [54; 81] Trong chương XV: “Vị trí ý nghĩa và các hình thức hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử ” các tác

giả cũng nêu rõ vai trò, vị trí của bảo tàng trong dạy học lịch sử: “ Tham quan

lịch sử có vị trí quan trọng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, những dấu vết của quá khứ những vật trưng bày trong bảo tàng không chỉ cụ thể hóa kiến thức mà còn để lại ấn tượng mạnh mẽ nâng cao kiến thức học tập và còn rèn luyện khả năng quan sát, phân tích của học sinh ” [54; 235]

Trong cuốn “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch

sử ở trường phổ thông” do Nguyễn Thị Côi chủ biên xuất bản năm 2008,

Trang 10

trong chương III tăng cường các hoạt động hỗ trợ các bài học trên lớp đã dành một phần lượng lớn nội dung viết về hình thức tổ chức học tập ở nhà bảo tàng lịch sử: “Tham quan có vị trí quan trọng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, là một hình thức tổ chức học tập có ý nghĩa to lớn về các mặt giáo dưỡng, giáo dục, phát triển học sinh” [22; 130] Và “đối với học sinh buổi tham quan học tập tại bảo tàng lịch sử không chỉ giúp các em ôn tập củng cố kiến thức đã học mà còn chuẩn bị tiếp thu bài học mới cụ thể sâu sắc hơn…” [22; 132]

Trong cuốn “Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử ở

trường phổ thông”, do Phan Ngọc Liên chủ biên, xuất bản năm 2008, có

nhiều bài viết đề cập đến khai thác sử dụng tư liệu hiện vật của bảo tàng trong

dạy học lịch sử phổ thông như bài Chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ

thông - lý luận, thực trạng và giải pháp của tác giả Nguyễn Thị Côi, có viết

“Tổ chức tham quan ở nhà bảo tàng lịch sử là một hình thức dạy học lịch sử”

[59; 380] Trong bài viết “Một số vấn đề đổi mới dạy học lịch sử ở trường phổ

thông” của tác giả Phan Ngọc Liên, đã nêu những yêu cầu của việc đổi mới

phương pháp dạy học lịch sử, và yêu cầu thứ 4 là “đa dạng hóa các hình thức

tổ chức dạy học lịch sử và những hình thức cơ bản” là “học ở lớp, ở phòng bộ môn, ở bảo tàng…” [59; 310]

Trong Kỷ yếu hội thảo khoa học “Đổi mới nghiên cứu và giảng dạy lịch

sử” của Hội khoa học lịch sử thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 2008

[39], có một số bài viết, như bài “Đổi mới bảo tàng trong xu thế hội nhập và

phát triển” của Nguyễn Đình Thanh và Phạm Lan Hương, bài “Bảo tàng lịch

sử Việt Nam - TP Hồ Chí Minh và học sinh phổ thông”, “Một số kinh nghiệm

thu hút thanh thiếu niên đến học tập lịch sử tại bảo tàng” của Huỳnh Ngọc

Vân; “Góp phần việc dạy và học môn lịch sử qua kênh Bảo tàng” của tiến sĩ

Trịnh Thị Hà, bài “Tăng cường sử dụng đồ dùng trực quan - một biện pháp

Trang 11

hữu hiệu để góp phần đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông” của Nguyễn Văn Sơn… đã đề cập đến tầm quan trọng, ý nghĩa của

việc sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử, và một số hình thức, phương pháp sử dụng có thể tham khảo

Trong bài viết “Khai thác hệ thống bảo tàng trong dạy học lịch sử ở

trường phổ thông” của Trần Văn Giáp có đề cập có nhiều biện pháp sư phạm

để tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh, trong đó sử dụng các nguồn tài liệu hiện vật có ưu thế hơn cả Nguồn tài liệu hiện vật này rất phong phú và đa dạng ở các bảo tàng trung ương và địa phương Nó có vai trò ý nghĩa rất quan trọng đối với việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Việc khai thác và sử dụng tư liệu Bảo tàng trong dạy học lịch sử còn được nghiên cứu trong các luận văn, luận án và khóa luận tốt nghiệp của sinh viên, học viên sư phạm như:

Trong thời gian gần đây, một số sinh viên khoa lịch sử trường Đại học

Sư phạm Hà Nội đã làm khóa luận tốt nghiệp về vấn đề này Năm học 1996 -

1997, sinh viên Nguyễn Thị Châm thực hiện đề tài: "Khai thác, sử dụng

những của bảo tàng Quân đội để dạy, học chương trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1946 - 1975 trong sách giáo khoa lớp 12 THPT (không chuyên ban)"

Khóa luận này đã đề cập đến những vấn đề lí luận cơ bản của việc sử dụng tài liệu, hiện vật ở bảo tàng nói chung, bảo tàng lịch sử Quân sự nói riêng trong dạy học lịch sử Tác giả bước đầu đã tìm hiểu nội dung của Bảo tàng Quân đội và nêu một số hình thức khai thác các tài liệu, hiện vật của bảo tàng

Năm học 1995 - 1996, viện Bảo tàng Cách mạng Việt nam kết hợp với một số giáo viên ở hai trường THPT Kim Liên và Minh Khai (Hà Nội) nghiên

cứu đề tài cấp viện: "Bảo tàng Cách mạng Việt Nam với việc dạy học lịch

sử ở trường THPT Kim Liên và Minh Khai" nhằm các mục tiêu sau:

Trang 12

+ Nội dung sách giáo khoa lịch sử THPT (phần lịch sử việt nam) có quan hệ thế nào với các tài liệu, hiện vật trưng bày trong Bảo tàng Cách mạng Việt Nam

+ Việc dạy, học lịch sử tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam có tác dụng như thế nào trong giáo dục lòng yêu nước cho học sinh

Năm 1996, Nguyễn Văn Phong trong luận văn sau đại học chuyên ngành

Phương pháp dạy học Lịch sử với đề tài: "Bảo tàng lịch sử, cách mạng đối

với việc dạy học lịch sử (dân tộc và địa phương) ở trường phổ thông trung học" đã có những đóng góp bước đầu về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc

sử dụng bảo tàng lịch sử, cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Luận văn đã đưa ra một số hình thức và yêu cầu khi sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu

và đề cập có hệ thống về mối quan hệ giữa bảo tàng với bộ môn lịch sử ở trường phổ thông

Năm 1997, Trần Thị Nhị - cán bộ của bảo tàng Cách mạng Việt Nam,

trong luận văn sau đại học chuyên ngành Văn hóa học với đề tài: "Bảo tàng

cách mạng Việt Nam với việc dạy học lịc sử ở trường Trung học phổ thông"

đã tiếp tục đóng góp thêm cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng bảo tàng Cách mạng Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Tác giả cũng đưa ra một số yêu cầu và một số hình thức sử dung bảo tàng Cách mạng Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa bảo tàng với bộ m,ôn lịch sử ở trường phổ thông

Tuy nhiên hai luận văn sau đại học trên, các tác giả đều chưa tiến hành thực nghiệm sư phạm, chưa quan tâm tói đối tượng học sinh trung học cơ sở, qua đó chưa khẳng định được vững chắc về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài Tác giả đưa ra những yêu cầu có tính lý luận đối với việc khai thác và sử dụng tài liệu, hiện vật của bảo tàng khi tiền hành một số hình thức để dạy học

Trang 13

lịch sử Đây là công trình đặt nền móng vững chắc về lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu sâu sắc và có hệ thống mối quan hệ giữa bảo tàng với dạy học lịch sử ở trường phổ thông, cách khai thác, sử dụng, cũng như các yêu cầu khi tiến hành khai thác bảo tàng trong dạy học lịch sử

Tháng 11/2003 trong hội thảo khoa học, thực tiễn "Bảo tàng góp phần

hoàn thiện nhân cách con người", một lần nữa các nhà giáo dục lịch sử và

các nhà bảo tàng học tiếp tục khẳng định vai trò, mối quan hệ của bảo tàng với việc giáo dục thế hệ trẻ, trong đó dặc biệt chú trọng đến đối tượng học sinh phổ thông Tuy nhiên trong khuôn khổ hội thảo các nhà nghiên cứu không đề cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn việc sử dụng và khai thác bảo tàng trong dạy học lịch sử mà chỉ dừng ở việc khẳng định vai trò, vị thế của bảo tàng trong giáo dục nói chung và trong dạy học lịch sử nói riêng

Trên đây là một số công tình nghiên cứ, luận văn đã nghiên cứ về vấn đề

sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói chung; tác giả cần kế thừa các lý luận trên xong phải áp dụng một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh các trường THCS tại Hà Nội để đạt kết quả cao nhất

Trên các Tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước, như Tạp chí Giáo

dục, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, Tạp chí khoa học trường ĐHSP Hà Nội

đăng tải một số bài nghiên cứu như: "DTLS và việc tích cực hóa hoạt động

nhận thức của HS ” [74]; "Sử dụng DTLS - CM trong dạy học lịch sử tại thực địa” [74]; "Tổ chức hướng dẫn cho HSPT tham gia lễ hội xuân tại DTLS”

[75] đã khái quát một số vấn đề lý luận về sử dụng DTLS - VH, bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Như vậy, có thể nói rằng, trong lý luận dạy học lịch sử thì vấn đề khai thác và sử dụng tài liệu hiện vật của bảo tàng trong dạy học lịch sử ngày càng trở thành hình thức dạy học cơ bản của bộ môn

Trang 14

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về lý luận dạy học và lý luận dạy học

bộ môn nêu trên đã nêu lên những cơ sở khoa học cho việc đổi mới PPDH lịch sử nói chung, cho việc xác định những nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức cho HS học tập tại bảo tàng nói riêng

Các công trình trên đã khẳng định tầm quan trọng, ý nghĩa của việc sử dụng bảo tàng nói chung, Bảo tàng Phòng không – Không quân nói riêng trong dạy học lịch sử và một số hình thức phương pháp sử dụng có thể tham khảo nhưng mới ở việc sử dụng Bảo tàng trung ương mà chưa có một đề tài nào nhắc đến cụ thể việc sử dụng bảo tàng Phòng không – Không quân trong dạy học lịch sử nói chung, trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trung học cơ sở nói riêng Mặc dù vậy, đây là những tác phẩm giúp ích cho chúng tôi rất nhiều

về mặt lý luận cũng như định hướng phương pháp khi nghiên cứu đề tài này

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:

3.1 Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất biện

pháp sử dụng ở Bảo tàng Phòng không - Không quân trong dạy học phần lịch

sử Việt Nam (1954 - 1975) ở trường THCS tại Hà Nội nhằm nâng cao hứng

thú học Lịch sử cho học sinh, qua đó nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn

3.2 Nhiệm vụ:

+ Nghiên cứu lý luận về phương pháp dạy - học, phương pháp dạy - học lịch sử nói chung và sử dụng Bảo tàng Phòng không – Không quân trong dạy học lịch sử ở trường THCS nói riêng

+ Khảo sát thực trạng giảng dạy bộ môn lịch sử ở các trường THCS tại

Hà Nội và thực tiễn việc sử dụng Bảo tàng Phòng không – Không quân trong dạy học lịch sử ở trường THCS

+ Xác định nội dung bảo tàng cần khai thác và các hình thức sử dụng trong dạy học lịch sử ỏ trường THCS tại Hà Nội

Trang 15

+ Đề xuất biện pháp sử dụng Bảo tàng Phòng không - Không quân trong dạy học phần lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) ở trường THCS tại Hà Nội + Tiến hành việc thực nghiệm sư phạm giảng dạy phần lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) sử dụng Bảo tàng Phòng không - Không quân

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp sử dụng Bảo tàng Phòng

không - Không quân trong quá trình dạy học lịch sử Việt Nam (1954 - 1975)

ở trường THCS tại Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: ở các trường THCS tại thành phố Hà Nội

- Về nội dung: là các bài lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 lớp 9

- Về hình thức tổ chức dạy học: các loại bài nội khóa và ngoại khóa, trọng tâm là các bài nội khóa

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài:

5.1 Cơ sở phương pháp luận: Là cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác- Lê

nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác giáo dục nói chung, giáo dục lịch sử ở nhà trường THCS nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu: Luận văn vận dụng các phương pháp

nghiên cứu bộ môn:

+ Nghiên cứu các tài liệu tâm lí học, giáo dục học, các tài liệu giáo dục lịch sử, tài liệu lịch sử văn hóa, khảo cổ học có liên quan đến đề tài

+ Điều tra cơ bản: Tiến hành quan sát, điều tra bằng phiếu đối với giáo viên lịch sử và học sinh lớp 9 một số trường THCS trên địa bàn tại Hà Nội + Nghiên cứu kĩ chương trình lớp 9 phần lịch sử Việt Nam để lựa chọn các bài có nội dung trong giai đoạn 1954-1975 để sử dụng trong quá trình tổ chức dạy học

Trang 16

+ Soạn một số bài lịch sử trong chương trình nội khóa, ngoại khóa, tiến hành thực nghiệm sư phạm để rút ra những kết luận về việc sử dụng Bảo tàng Phòng không- Không quân trong quá trình dạy học lịch sử ở trường THCS trên địa bàn Hà Nội

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn :

Việc giảng dạy lịch sử ở các trường THCS tại Hà Nộivẫn còn những vấn

đề hạn chế, trong đó có nguyên nhân từ việc chưa thực sự đổi mới phương pháp dạy - học của giáo viên; Vì vậy nếu nghiên cứu một cách hợp lý, khoa học và sử dụng linh hoạt, sáng tạo nguồn sử liệu ( Bảo tàng Phòng không - Không quân) thì học sinh sẽ hứng thú hơn với bộ môn Lịch sử, chất lượng dạy - học môn Lịch sử sẽ được nâng cao Kết quả nghiên cứu đề tài có thể vận dụng trong DHLS ở các trường THCS tại Hà Nội

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Vấn đề sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường phổ

thông – lý luận và thực tiễn

Chương 2: Nội dung và hình thức sử dụng Bảo tàng Phòng không -

Không quân trong dạy học lịch sử ở trường THCS tại Hà Nội

Chương 3: Các biện pháp sử dụng Bảo tàng Phòng không - Không quân

trong bài học nội khóa ở trên lớp khi dạy học phần lịch sử Việt Nam (1954 -

1975) THCS tại Hà Nội Thực nghiệm sư phạm

Trang 17

Chương 1 VẤN ĐỀ SỬ DỤNG BẢO TÀNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Quan niệm về bảo tàng trong dạy học lịch sử

Thuật ngữ “Bảo tàng” xuất hiện từ rất sớm, nó bắt đầu từ ngôn ngữ

cổ Hy Lạp “Museion” Trải qua các hoạt động tôn giáo và các cuộc chiến tranh xâm lược, bảo tàng đã ra đời, sự xuất hiện của các bộ sưu tập Sau này thuật ngữ “Bảo tàng” được cải tiến đi nhưng ở tất cả các nước đều có

từ “Muse” Còn tiếng Trung Quốc và Nhật Bản họ dùng thuật ngữ “Bảo vật quán” thay cho “Bảo tàng” Dưới thời Alêchxăngđri của đế quốc Rôma cổ đại trong quá trình tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược và các hoạt động tôn giáo sang nước lân họ đã cướp bóc, thu thập những bảo vật quý, hiếm, các tác phẩm nghệ thuật có giá trị đem về trưng bày ở nước mình, coi

đó là nơi lưu giữ lại những chiến tích, những công trình mà họ đã làm được

mà gọi đó là “Bảo tàng”

Sau này bảo tàng phát triển và được nâng lên thành một ngành khoa học

ở tất cả các quốc gia trên thế giới Các nhà giáo dục tiên tiến ở các nước đã đi sâu tìm hiểu về bảo tàng, trong đó đặc biệt quan tâm đến sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Xung quanh thuật ngữ về bảo tàng có nhiều cách định nghĩa khác nhau:

- Theo wikipedia.org: “bảo tàng” (viện bảo tàng, nhà bảo tàng) là

nơi trưng bày và lưu giữ tài liệu, hiện vật cổ liên quan đến một hoặc nhiều lĩnh vực như lịch sử, văn hóa của một dân tộc hay một giai đoạn lịch sử nào

đó Mục đích của viện bảo tàng là giáo dục, học tập, nghiên cứu và thỏa mãn

trí tò mò tìm hiểu về quá khứ

Trang 18

- Tổ chức ICOM (Hội đồng bảo tàng quốc tế) vào năm 1996 đưa ra khái

niệm: “Bảo tàng là thiết chế tồn tại lâu dài, không vụ lợi nhằm phục vụ cho

xã hội và sự phát triển của xã hội, mở cửa phục vụ công chúng và tiến hành nghiên cứu liên quan đến di sản của con người và môi trường xung quanh”

- Ở các nước Đông Âu: Bảo tàng là cơ quan nghiên cứu, giáo dục, tiến

hành nghiên cứu sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày những tài liệu hiện vật gốc tiêu biểu của lịch sử, tự nhiên và xã hội, phù hợp với nội dung và loại hình bảo tàng Bảo tàng dành để phục vụ cho công chúng vì mục đích nghiên cứu và sưu tầm

Trong luật Di sản văn hóa ở nước ta, ban hành năm 2002, ghi rõ: “Bảo

tàng là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập về lịch sử, tự nhiên, xã hội nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hóa của nhân dân” [ Luật di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi hành;tr 42]

Trong bách khoa toàn thư: “Bảo tàng là nơi trưng bày và lưu giữ tài liệu,

hiện vật cổ liên quan đến một hoặc nhiều lĩnh vực như lịch sử, văn hóa của một dân tộc hay một giai đoạn lịch sử nào đó Mục đích của bảo tàng là giáo dục, học tập, nghiên cứu và thõa mãn trí tò mò tìm hiểu về quá khứ” [Hội đồng Quốc

gia (2002), Từ điển bách khoa toàn thư, Nxb Từ điển Bách khoa.;tr 151]

Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu: “Bảo tàng là cơ quan sưu

tầm, giám định và trưng bày các tài liệu, hiện vật có tính chất nguyên gốc, đầu tiên của tri thức về lịch sử phát triển của xã hội và tự nhiên, về lịch sử của cuộc đấu tranh cách mạng.” [ Nguyễn Thị Côi (1998), Bảo tàng lịch sử, cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông trung học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.tr.8]

Ở nước ta, dưới thời Pháp thuộc đã xây dựng một số bảo tàng lớn như: Luiphirô (Hà Nội), bảo tàng Hải dương học (Nha Trang), bảo tàng Chăm (trưng bày các hiện vật về văn hóa Chăm ở Đà Nẵng)

Sau giải phóng miền Bắc, chúng ta đã xây dựng nhiều bảo tàng quốc gia và

Trang 19

các bảo tàng địa phương, bảo tàng chuyên ngành như: Bảo tàng cách mạng (1958), Bảo tàng Quân đội nhân dân Việt Nam (1959), Bảo tàng Hồ Chí Minh (1990) Mỗi bảo tàng có một chủ đề khác nhau song nhìn chung đều phản ánh mỗi chặng đường phát triển của dân tộc hay truyền thống một ngành nào đó Bảo tàng thể hiện bức tranh sinh động, chân thực về cuộc sống lao động, sự

hy sinh chiến đấu của các thế hệ cha ông trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước mà thế hệ trẻ hôm nay không thể nào chứng kiến các hoạt động đó Các

em sẽ không thể hình dung một cách rõ nét có hệ thống quá khứ nếu không được trực tiếp đến, thăm quan Bảo tàng

Bảo tàng là nơi sưu tầm, gìn giữ, trưng bày hiện vật theo luật pháp mà Nhà nước quy định Nhiệm vụ của bảo tàng là sưu tầm, trưng bày và tổ chức hướng dẫn thăm quan tư liệu được trình bày

Bảo tàng học là một môn khoa học riêng thuộc khoa học Lịch sử, có mối quan hệ khăng khít với nghiên cứu và học tập lịch sử Sử học và bảo tàng có cùng đối tượng nghiên cứu, đó là những hiện vật, những tài liệu chữ viết, các tác phẩm nghệ thuật tạo hình, phim ảnh gốc phản ánh quá khứ Song lại khác nhau ở nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu Bản thân bảo tàng là một bài học lịch sử sinh động, sâu sắc Việc sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử sẽ làm chất lượng bài học phong phú, sinh động hơn

Sử học khác bảo tàng ở chỗ không giữ gìn những hiện vật mà chỉ nghiên cứu, khai thác những hiện vật được trưng bày ở bảo tàng, miêu tả đúng quá khứ rồi rút ra quy luật vận động của lịch sử Ngược lại, kết quả nghiên cứu của sử học làm phong phú và phục vụ tốt cho bảo tàng

Bảo tàng là cơ quan nghiên cứu khoa học và giáo dục khoa học của Nhà nước Nó có nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày nhằm phát huy tác dụng của những di tích lịch sử

Các nhà bảo tàng học cho rằng: Bảo tàng có hai chức năng cơ bản: chức

Trang 20

năng nghiên cứu khoa học và chức năng giáo dục Hai chức năng này có mối quan hệ biện chứng, thực hiện tốt cả hai chức năng trên thì Bảo tàng mới đáp ứng được nhiệm vụ do xã hội đặt ra

Thứ nhất, chức năng nghiên cứu khoa học: mọi hoạt động trong công tác

nghiên cứu khoa học của Bảo tàng đều phải xoay quanh các hiện vật gốc phù hợp với loại hình của bảo tàng Đó là trọng tâm, là cơ sở của mọi công tác nghiên cứu khoa học của bảo tàng Hay nói cách khác, chức năng này được biểu hiện ở hai hoạt động sau:

+ Những hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm không ngừng bổ sung cho khâu bảo quản cơ sở của Bảo tàng, di tích có giá trị tiêu biểu về các mặt lịch sử, khoa học, thẩm mỹ

+ Những hoạt động có liên quan tới việc chỉnh lý, hệ thống hóa và bảo quản một cách khoa học các di tích của Bảo tàng nhằm biến các di tích đó thành nguồn tư liệu đáng tin cậy phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học của các ngành khác Đồng thời nâng cao trình độ văn hóa của đông đảo quần chúng nhân dân

Thứ hai, chức năng giáo dục của Bảo tàng: các tư liệu, hiện vật trong bảo

tàng được sắp xếp, trưng bày có hệ thống để khách tham quan trong và ngoài nước hiểu, hình dung được tiến trình lịch sử Việt Nam, song khác với công tác giáo dục của các cơ quan, các phương tiện thông tin đại chúng ở chỗ công tác này phải dựa trên cơ sở nghiên cứu của các hiện vật gốc Bởi vì, thông qua các tư liệu và hiện vật gốc được trưng bày ở bảo tàng nhằm gợi dậy những tư tưởng, tình cảm tốt đẹp cho người xem chứ không phải thông qua sách vở Bảo tàng thực hiện chức năng giáo dục khoa học của mình bằng cách tuyên truyền, phổ biến kiến thức và thông qua các hoạt động của mình, Bảo tàng giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Vì vậy, cần phải “đánh thức” các tài liệu, hiện vật để chúng có tác dụng giáo dục tới học sinh

Với chức năng như trên, Bảo tàng có các nhiệm vụ:

Trang 21

+ Tiến hành công tác nghiên cứu khoa học

+ Tiến hành thu thập các tài liệu, hiện vật gốc phù hợp với các loại hình Bảo tàng

+ Công tác kiểm kê giám định một cách có khoa học các hiện vật của Bảo tàng

+ Công tác bảo quản hiện vật của Bảo tàng

+ Công tác trưng bày của bảo tàng

+ Công tác tuyên truyền, giáo dục và là tài liệu quan trọng, cần thiết phục

Một là, các bảo tàng lịch sử, như: Bảo tàng lịch sử, Bảo tàng Cách mạng,

Bảo tàng Quân đội, Bảo tàng Hồ Chí Minh Các loại bảo tàng này chiếm vị trí rất quan trọng trong toàn bộ hệ thống bảo tàng Việt Nam Những hiện vật được trưng bày trong các bảo tàng này phản ánh về đời sống văn hóa vật chất, tinh thần của con người Việt Nam từ khi hình thành đến nay

Hai là, các bảo tàng nghệ thuật nhằm sưu tầm , bảo quản, nghiên cứu

những tác phẩm nghệ thuật của nhiều thời đại khác nhau vào mục đích khoa học và giáo dục thẩm mĩ cho quần chúng

Ba là, các bảo tàng chuyên ngành như: Bảo tàng phụ nữ, Bảo tàng

Không quân, Bảo tàng Văn học những bảo tàng này chiếm một số lượng nhất định trong toàn bộ hệ thống bảo tàng Nhiệm vụ của chúng là sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu các hiện vật gốc của một ngành khoa học nhất định để nói lên sự phát triển, phục vụ cho công tác khoa học của chính bản thân

Trang 22

ngành đó và quần chúng nhân dân

Bốn là, Bảo tàng lịch sử tự nhiên gồm các bảo tàng cùng loại hình với

các ngành khoa học Đối tượng nghiên cứu là các mặt khác nhau của thế giới

tự nhiên, như Bảo tàng động vật học, Bảo tàng thực vật học, Bảo tàng hải dương học

Năm là, các bảo tàng lưu niệm nhằm lưu giữ lại trong quần chúng nhân dân

những sự kiện, những nhân vật lịch sử lớn, quan trọng trên mọi mặt của đời sống

xã hội, chính trị, quân sự, văn học, nghệ thuật Loại bảo tàng này giới thiệu một cách hệ thống diễn biến những sự kiện, hoạt động của các nhân vật lịch sử Ví như, bảo tàng ở di tích lịch sử số 5 Hàm Long, 48 Hàng Ngang (Hà Nội), di tích Kim Liên (Nghệ An), Pác Bó (Cao Bằng), Tân Trào (Tuyên Quang)

Sáu là, các bảo tàng ở địa phương: cũng là cơ quan thực hiện chức năng

nghiên cứu khoa học và giáo dục ở mức độ nhất định, chủ yếu là sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu và trưng bày những tài liệu, hiện vật về văn hóa vật chất, tinh thần cũng như tự nhiên của địa phương đó Hiện nay, các loại bảo tàng này và các nhà lưu niệm, truyền thống của địa phương đang phát triển rất mạnh mẽ ở các địa phương trong nước [ tr.10-11]

Những bảo tàng, nhà lưu niệm địa phương có vai trò quan trọng trong việc giáo dục truyền thống của địa phương, của dân tộc cho đông đảo quần chúng nhân dân

1.1.3 Mối quan hệ giữa bảo tàng với kiến thức lịch sử

Bảo tàng với mục đích sưu tầm, lưu giữ bảo vệ các di sản văn hóa, lịch

sử, tự nhiên và thông qua các hoạt động phong phú của mình như trưng bày, giới thiệu, giáo dục và xuất bản sách báo Bảo tàng còn được xem như là một thiết chế văn hóa đặc biệt, đóng vai trò quan trọng trong đời sống nhân dân Bảo tàng có mối quan hệ mật thiết với lịch sử

Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, việc tăng cường cho

Trang 23

học sinh tiếp xúc “làm việc” với các tài liệu lịch sử ngoài sách giáo khoa, nhất

là tài liệu hiện vật ở bảo tàng có ý nghĩa nhiều mặt Bảo tàng là nơi lưu giữ và

trưng bày các bằng chứng “vật thật” về các sự kiện lịch sử, và chính các bằng

chứng này sẽ giúp học sinh dễ học, dễ nhớ hơn Những tư liệu, hiện vật của bảo tàng nói chung, của Bảo tàng Phòng không – Không quân nói riêng vừa là nguồn sử liệu quan trọng, vừa là phương tiện dạy học có hiệu quả, góp phần tạo cho học sinh những biểu tượng lịch sử cụ thể, chân thực, chính xác

Với việc bảo quản tài liệu hiện vật lịch sử, bảo tàng đã góp phần giáo dục truyền thống dân tộc và đạo đức cho thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên như là một phương tiện truyền thông hiệu quả nhất

Nhìn chung các tư liệu, hiện vật, tranh ảnh được lưu giữ trong các bảo tàng lịch sử hiện nay là minh chứng cho sự tồn tại của lịch sử quá khứ Vì vậy, nó có ý nghĩa là giúp cho học sinh tìm hiểu, nghiên cứu về các thời kỳ lịch sử đã qua Qua đó các em có thể nhìn nhận quá khứ một cách chính xác hơn Đồng thời bảo tàng còn góp phần giáo dục cho thế hệ trẻ lòng kính trọng, khâm phục đối với cha ông đã làm nên những di sản văn hoá quý báu Từ đó phát triển thành lòng tự hào dân tộc, giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ Bởi vì, khi các em trực tiếp quan sát các tư liệu, hiện vật, tranh ảnh ở các bảo tàng thì các em sẽ có cảm tưởng như mình đang được quan sát hiện thực quá khứ của đất nước mình, đang được sống lại với các giai đoạn lịch sử, sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước Đặc biệt khi quan sát các tư liệu ở bảo tàng, còn nảy sinh tình yêu thiên nhiên, niềm tự hào về truyền thống cách mạng của quê hương, tổ quốc ở các em

Bảo tàng còn giúp cho học sinh sự hiểu biết về hoàn cảnh tự nhiên, khả năng kinh tế, truyền thống đấu tranh anh dũng, lao động cần cù của nhân nhân địa phương, những đóng góp của quê hương mình đối với lịch sử dân tộc nhất

là đối với giai đoạn lịch sử năm 1972 khi nhân dân thủ đô làm nên trận “Điện

Trang 24

Biên Phủ trên không” – chiến thắng vang dội, là một trong những tác động mạnh đến việc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán kí Hiệp định Pari năm 1973

Mặt khác, việc sử dụng tư liệu của bảo tàng còn giúp cho học sinh “trực quan sinh động” quá khứ lịch sử dân tộc, làm cho quá khứ xích lại gần với nhận thức của học sinh, biến những kiến thức trên sách vở thành những hiểu biết cụ thể, sâu sắc về cuộc sống hiện thực Sử dụng nguồn tư liệu của bảo tàng trong dạy học lịch sử còn giúp học sinh hiểu một cách tự nhiên, sinh động quá khứ lịch sử, khắc sâu kiến thức cơ bản bài học, giúp các em nhớ lâu

kiến thức, nâng cao hiểu biết lịch sử

Trong đời sống xã hội, việc giáo dục thế hệ trẻ thông qua giáo dục lịch

sử không chỉ có tác dụng về trí lực mà cả về tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ So với các bộ môn khác, môn lịch sử có ưu thế trong việc giáo dục tư tưởng đạo đức cho HS Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế thị trường với những mặt tích cực đã đem lại kết quả khả quan trong bước đường đổi mới toàn diện của đất nước Tuy nhiên, do tác động của mặt trái của nền kinh tế thị trường nên phải tăng cường hơn nữa việc giáo dục tư tưởng đạo đức, hình thành nhân cách và bồi dưỡng niềm tin cho các em trong dạy học lịch sử Tư liệu ở bảo tàng còn là một trong những nguồn tài liệu quan trọng làm phong phú nguồn tri thức của học sinh về quê hương mình, giáo dục cho các em lòng yêu quê hương, hình thành những khái niệm nghĩa vụ đối với quê hương Điều đó có tác động to lớn đến tư tưởng, tình cảm của HS, nuôi dưỡng lòng tự hào, biết ơn và yêu quý hơn nơi chôn nhau cắt rốn của mình, đây cũng là cội nguồn của lòng yêu nước Từ đó, giúp các em hình thành thái độ đúng đắn và xác định nghĩa vụ của mình đối với quê hương cũng như đất nước Sử dụng tư liệu bảo tàng trong dạy học lịch sử góp phần giáo dục cho các em lòng kính yêu quần chúng nhân dân, những người sáng tạo ra lịch sử, là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội

Bảo tàng còn có ý nghĩa giáo dục truyền thống, truyền bá văn hoá Việt

Trang 25

Nam, gợi lên những vấn đề về bảo vệ và phát huy di sản văn hoá dân tộc Bởi

vì khi tham quan học tập tại bảo tàng sẽ để lại những dấu ấn tốt đẹp và khơi dậy lòng tự hào dân tộc Bảo tàng còn giáo dục cho thế hệ trẻ Việt Nam lòng yêu nước, yêu truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc, nhất là truyền thống chống xâm lược và bảo vệ đất nước của ông cha ta Làm cho thế hệ trẻ hiểu rõ những mất mát, đau thương về tinh thần lẫn vật chất mà nhân dân ta đã phải chịu đựng bởi chiến tranh, từ đó càng nhận thức đúng đắn về vai trò, trách nhiệm của mình trong công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc

Như vậy, bảo tàng có ý nghĩa nhiều mặt đối với cuộc sống của con người: truyền bá kiến thức khoa học, tìm hiểu lịch sử, giáo dục truyền thống, tham quan du lịch Ngày nay, đời sống kinh tế phát triển, trình độ khoa học

kỹ thuật của nhân loại ngày càng được nâng cao, hiện đại thì càng nên chú ý khai thác và sử dụng bảo tàng trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục

1.1.4 Cơ sở xuất phát của vấn đề nghiên cứu

1.1.4.1 Đặc điểm tâm lý và nhận thức của HS THCS

Tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 - 15 tuổi, các em được vào học ở trường trung học cơ sở (từ lớp 6 - 9) Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời

kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ“, “tuổi khó bảo“, “tuổi khủng hoảng “, “tuổi bất trị” Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn(người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong

mọi mặt phát triển : thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này

Giới hạn đề tài luận văn là nghiên cứu và sử dụng tài liệu hiện vật ở bảo tàng Phòng không – Không quân trong dạy học LSVN (1954 – 1975) ở

Trang 26

trường THCS Ở giai đoạn này, HS chủ yếu đang trong độ tuổi thiếu niên, nội dung và tính chất học tập yêu cầu có khác nhiều so với lứa tuổi thanh niên

“Học sinh THCS có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp hơn khi tri giác các sự vật, hiện tượng Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác trở nên có kế hoạch, có trình tự và hoàn thịên hơn… Ở lứa tuổi này tính lựa chọn của chú ý phụ thuộc rất nhiều vào tính chất của đối tượng học tập và mức độ hứng thú của các em với đối tượng đó” [Lê Văn Hồng (chủ biên), PTS Lê Ngọc Lan, Lê Văn Thăng

(1995), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.; tr.23] Như vậy ở

bậc THCS tư duy của các em chủ yếu là gắn liền với nhận thức cảm tính, cụ

thể “Tất cả các em đều ý thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của học

tập” [ Lê Văn Hồng (chủ biên), PTS Lê Ngọc Lan, Lê Văn Thăng (1995), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Tr 25] Và những thao tác của tư duy như

tích cực, độc lập ngày càng bộc lộ rõ nét, học sinh đã có thể chủ động lĩnh hội kiến thức

Học sinh THCS là lứa tuổi hiếu động, tò mò, ham hiểu biết những tri thức mới nhưng cũng dễ nhàm chán trước việc giáo viên trình bày sự kiện theo cách thông báo khô khan những vấn đề lý thuyết nặng nề, những kết luận chung chung, không có những thông tin mới, thiếu hấp dẫn Các nhà tâm lý

đã khẳng định hứng thú là động lực thúc đẩy sự say sưa, tò mò, tích cực tìm hiểu tri thức mới của học sinh, sự hứng thú sẽ tạo ra “thái độ tích cực đối với học tập, là điều kiện rất cần thiết để lĩnh hội tài liệu đạt kết quả cao ” [VA

Cruchetxki (1988), Những cơ sở của tâm lý học sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.;tr 76] Trong

dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng, để bài học thành công, mang lại hiệu quả cao thì giáo viên phải tạo ra và duy trì niềm hưng phấn, sự hứng thú của học sinh Sử dụng các tài liệu hiện vật ở bảo tàng là một biện pháp cho sự thành công của bài học lịch sử Cùng với sự phát triển về trình độ so với học sinh đầu cấp THCS (lớp 6) năng lực tư duy lịch sử ở những học sinh cuối cấp

Trang 27

(lớp 9) sẽ được nâng cao hơn khi tiếp xúc với tư liệu, hiện vật ở bảo tàng

Về quá trình nhận thức: quá trình nhận thức của HS trong học tập nói

riêng cũng như quá trình nhận thức của loài người nói chung bao giờ cũng đi

từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lí tính, từ cụ thể, trực tiếp đến khái quát,

từ đơn giản đến phức tạp Những hình ảnh này đều thông qua quá trình cảm giác, tri giác của con người phản ánh vào sự nhận thức tư duy Bởi vì “cảm giác là viên gạch xây nên toàn bộ lâu đài nhận thức” và tất cả hiểu biết đều bắt nguồn từ kinh nghiệm, từ cảm giác, tri giác”[Bút ký triết học ,tr.95] Nói cách khác, quá trình nhận thức của HS THCS cũng là một quy luật và quy luật này được phản ánh trong công thức nổi tiếng của Lê nin: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan” [nt ,tr.189]

Nhưng khác với quá trinh nhận thức của loài người, quá trình nhận thức của HS trong học tập là một quá trình nhận thức mang tính đặc thù Nhận thức của HS là nhận thức lại những vấn đề mà các nhà khoa học đã nghiên cứu, xác minh nhưng các em chưa biết và quá trình nhận thức này đặt dưới sự hướng dẫn, điều khiển của GV Đó là quá trình nhận thức đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính Trước hết, các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan phản ánh trực tiếp vào não HS thông qua các giác quan Trong giai đoạn cảm tính này, HS phản ánh một cách trực tiếp và riêng lẻ từng thuộc tính các sự vật, hiện tượng Từ đó tạo nên trong óc các em những biểu tượng về đối tượng đã được tri giác trước đó, hình thành khái niệm và rút ra bài học (nếu có) Nói cách khác, nhận thức cảm tính là cơ sở của nhận thức lý tính

Thực tiễn đã cho thấy, tài liệu cảm tính càng đa dạng, phong phú bao nhiêu thì càng tạo cơ sở thuận lợi bấy nhiêu cho việc nhận thức lý tính Nhận

Trang 28

thức lý tính là giai đoạn tiếp theo của nhận thức cảm tính giúp các em nhận biết và giải quyết các vấn đề phức tạp mà cuộc sống đặt ra Chính vì vậy, trong quá trình dạy học, GV cần nghiên cứu nội dung bài học, sử dụng hợp lí, linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học khác nhau để phát huy tính độc lập, năng lực sáng tạo của HS trong học tập, góp phần nâng cao hiệu quả bài học

Về đặc điểm sinh lý: HS THCS thuộc lứa tuổi từ 11 đến 15, là lứa tuổi

thiếu niên Đây là thời kì chuyển từ thời thơ ấu sang tuổi trưởng thành, vẫn mang tính trẻ con nhưng tập làm người lớn Nội dung cơ bản của sự khác biệt

ở lứa tuổi HS THCS với các em lứa tuổi khác là sự phát triển mạnh mẽ, thiếu cân đối về các mặt trí tuệ, đạo đức Sự xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành do kết quả biến đổi cơ thể, của sự tự ý thức, của các kiểu quan hệ Vì vậy, trong quá trình dạy học ở trường THCS cần tính đến các đặc điểm sau:

Về động cơ học tập: Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của lứa

tuổi học sinh, nhưng đến HS THCS hoạt động học tập xây dựng lại một cách

cơ bản so với lứa tuổi tiểu học Đối với các em, hoạt động học tập được xem như là hoạt động độc lập hướng vào sự thỏa mãn nhu cầu nhận thức Tuy nhiên, động cơ học tập lại rất phong phú, đa dạng nhưng chưa bền vững nhiều khi còn thể hiện mâu thuẫn của nó Để giúp các em có thái độ đúng đắn với việc học tập thì tài liệu học tập phải súc tích về nội dung khoa học, phải gắn thực tiễn cuộc sống, phải gây được hứng thú cho các em và giúp các em có phương pháp học tập phù hợp, tránh tình trạng hoang mang lo lắng dẫn đến thất bại

Về chú ý: Sự phát triển chú ý của HS THCS diễn ra rất phức tạp Chú ý

có chủ định, bền vững được hình thành Mặt khác, sự rung động tích cực và rung động mạnh mẽ của lứa tuổi này thường dẫn đến chú ý không bền vững Biện pháp tốt nhất để thu hút sự chú ý của các em là tổ chức các hoạt động

Trang 29

học tập hợp lí Cần lưu ý rằng không phải bao giờ các em cũng thích cái vui, cái dễ hiểu mà chính những giờ học có nội dung đòi hỏi tư duy, suy nghĩ mới

là cho các em thấy hào hứng

Về ghi nhớ: HS THCS có nhiều tiến bộ trong việc ghi nhớ tài liệu trừu

tượng, từ ngữ Tốc độ ghi nhớ và khối lượng ghi nhớ được tăng lên Ghi nhớ máy móc ngày càng nhường chỗ cho ghi nhớ logic, ghi nhớ ý nghĩa, hiệu quả của trí nhớ trở nên tốt hơn Các em có khuynh hướng muốn tái hiện lại kiến thức đã học theo cách diễn đạt của mình và không thích học thuộc lòng GV cần dạy cho HS kỹ năng ghi nhớ logic và rèn luyện cho các em kỹ năng, thói quen trình bày nội dung đã học bằng ngôn ngữ của mình

Về tư duy: Tư duy khái quát ngày càng chiếm ưu thế, tuy rằng tư duy cụ

thể vẫn còn tồn tại và giữ một vai trò quan trọng Khả năng vận dụng các thao tác tư duy được nâng lên rõ rệt, đặc biệt là đối với HS cuối cấp Ở lứa tuổi này, các em đã biết vận dụng các kiến thức đã học, biết lấy kinh nghiệm riêng của bản thân mình để minh họa cho bài học Vì vậy, trong quá trình dạy học đòi hỏi GV phải quan tâm đến sự phát triển của tư duy trừu tượng

Về giao tiếp: Ở lứa tuổi này nảy sinh cảm giác về sự trưởng thành, các

em muốn được người lớn tôn trọng nhân cách và tin cậy Tính cách độc lập của các em bắt đầu phát triển Đồng thời ở lứa tuổi này có nhu cầu lớn trong quan hệ giao tiếp với bạn bè, thích hoạt động cùng nhau, mong muốn được bạn bè, thầy cô công nhận, thừa nhận, tôn trọng mình Vì vậy, GV cần tạo điều kiện để HS phát triển quan hệ giao tiếp, hợp tác trong tập thể và phải biết hướng, uốn nắn theo hướng phục vụ cho mục tiêu giáo dục

Nói tóm lại, tâm lí của học sinh THCS có những đặc trưng mà GV cần nắm được để từ đó xác định cho mình cách tổ chức dạy học cho phù hợp, phát huy tính tích cực, tư duy sáng tạo của các em trong quá trình học tập Bên cạnh đó, ở bậc THCS các em được tiếp xúc với nhiều môn học khác nhau, nội

Trang 30

dung mỗi môn học là đa dạng, phong phú đòi hỏi tư duy độc lập, khả năng phân tích, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa để rút ra kết luận Mỗi môn học được trình bày, nghiên cứu, học tập với tư cách là một môn khoa học của

HS phổ thông Do đó các phương pháp dạy học cần linh hoạt đổi mới GV không nên trình bày theo SGK một cách máy móc, đơn điệu mà thông qua việc thảo luận, đặt câu hỏi gợi mở để HS hiểu vấn đề Như vậy, những kiến thức mà các em thu nhận được sẽ bền vững, sâu sắc hơn Có nhiều hình thức

tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực của HS trong dạy học, đòi hỏi

GV có bản lĩnh sư phạm để tạo cho HS niềm khám phá, tìm tòi kiến thức mới

1.1.4.2 Xuất phát từ đặc trưng của việc DHLS

Bộ môn lịch sử có những đặc trưng riêng so với các bộ môn văn hóa khác Nói đến lịch sử là nói đến những gì đã diễn ra trong quá khứ (các sự kiện, hiện tượng, biến cố lịch sử) không bao giờ lặp lại, cũng không thể mô hình hóa lại trong phòng thí nghiệm đúng như nó tồn tại Đặc điểm của tri thức lịch sử đã tri phối nhận thức lịch sử Mặc dù hiện tượng khách quan đó

có tồn tại độc lập ngoài ý muốn của con người hoàn toàn nhận thức được hiện tượng khách quan ấy mặc dù cần sự cố gắng tích cực trong nhận thức Nhiệm vụ của người giảng dạy lịch sử là làm thế nào để học sinh dễ dàng tưởng tượng hình dung lại những sự kiện , hiện tượng đs đúng như nó từng tồn tại Đây không phải là một yêu cầu dễ đối với GV lịch sử Mặt khác ,học lịch sử không thể dừng lại ở việc HS nắm các kiến thức một cách chung chung hay điểm qua một vài sự kiện chính, mà phải nhận thức được toàn bộ nội dung cơ bản của lịch sử xã hội loài người Từ đó HS có thể tìm ra được mối liên hệ bản chất giã các sự kện đẻ so sánh đánh giá ,nhận xét .theo tư duy của mình Hay nói cách khác ,học lịch sử không chỉ cần “biết”, ”nhớ” mà phải đi tới “hiểu” những quy định về bài học kinh nghiệm Cụ thể, quá trình nhận thức của HS trong học tập lịch sử xuất phát từ việc nhận thức những sự

Trang 31

kiện, hiện tượng riêng lẻ, có thể phản ánh quá trình phát triển của lịch sử, đi đến chỗ khái khoát các chi thức đó thành những khái niệm , quy luật bài học Trên cơ sở những kiến thức thu được , các em đã giải quyết một cách đúng đắn, thông minh, sáng tạo những vấn đề thực tế trong học tập, trong đời sống

và trong đấu tranh xã hội, thực hiện mục đích, phương châm học lịch sử để biết được quá khứ, hiểu hiện tại và đoán định tương lai

1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của tư việc sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường THCS

Theo thống kê hiện nay cả nước ta có hơn 120 bảo tàng gồm các loại hình khác nhau thuộc lịch sử xã hội cũng như lịch sử tự nhiên đã có thể là chỗ dựa cho các trường phổ thông trong việc đổi mới dạy học lịch sử dân tộc

Từ rất sớm, các nhà giáo dục đã khẳng định vai trò không thể thiếu của tính trực quan trong dạy học Cômemxki (1592 – 1670) nhà giáo dục học người Tiệp đã đưa ra yêu cầu phải đảm bảo tính trực quan trong dạy học Usinxki (1823 – 1870) cũng quan niệm rằng: hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ chúng ta là những hình ảnh mà chúng ta thu thập được bằng trực giác [trích Mấy ý kiến về sử dụng trực quan trong dạy học lịch sử, NCGD, số 9/1982- Tạ Khánh Hùng]

Tư liệu ở Bảo tàng là phương tiện trực quan quan trọng góp phần tạo biểu tượng lịch sử cụ thể, chân thực, chính xác cho học sinh Tư liệu ở Bảo tàng không mang tính lý luận, khái quát, tư liệu ở Bảo tàng thể hiện sự kiện

và hiện tượng cụ thể như: công cụ lao động bằng đá biểu hiện trình độ sản xuất thời kì đồ đá, bằng sắt thể hiện trình độ sản xuất ở thời đại kim khí, hay

mô hình căn cứ chiến đấu, sa bàn một trận đánh biểu hiện những sự kiện, những cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta Tranh ảnh chụp ở Bảo tàng còn diễn tả một sự kiện riêng lẻ, cục bộ hay một mặt của quá trình lịch sử như sự hình thành một nền văn minh, sự ra đời một Nhà nước

Trang 32

Việc khai thác và sử dụng những tư liệu của Bảo tàng đảm bảo cho quá trình tư duy của HS diễn ra hợp quy luật nhận thức và đảm bảo nguyên tắc trực quan trong dạy học lịch sử Bởi vì, các tư liệu ở Bảo tàng bao gồm (tài liệu gốc, tranh ảnh lịch sử, mô hình, bản đồ phục chế, tài liệu thành văn) được sắp xếp có hệ thống theo trình tự thời gian, là các phương tiện trực quan có giá trị xuyên suốt trong nhận thức lịch sử đối với học sinh

Các nhà tâm lý học cũng khẳng định rằng quá trình nhận thức của con người diễn ra theo con đường từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính Quá trình nhận thức của học sinh cũng diễn ra theo quy luật như trên Nhận thức lịch sử mang đặc trưng riêng, khó khăn hơn nhận thức khoa học khác, là không thể trực tiếp trực quan sinh động, do vậy nhận thức lịch sử phải bắt đầu bằng tạo biểu tượng lịch sử Có nhiều biện pháp để tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh, trong đó sử dụng các nguồn tư liệu, hiện vật lịch sử có ưu thế hơn

cả Nguồn tư liệu, hiện vật này rất phong phú, đa dạng ở các bảo tàng trung ương và địa phương Bảo tàng là nơi lưu giữ, trưng bày các bằng chứng “vật thật” về các sự kiện lịch sử Vì vậy trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, các tư liệu, hiện vật của bảo tàng vừa là nguồn sử liệu quan trọng, vừa là phương tiện dạy học mang lại hiệu quả cao, góp phần tạo cho học sinh những biểu tượng lịch sử cụ thể, chân thực, chính xác về các sự kiện lịch sử, còn bổ sung các kiến thức lịch sử mà sách giáo khoa không có điều kiện trình bày Học tập lịch sử tại bảo tàng còn tạo cho HS hứng thú, say mê tìm hiểu lịch sử, bồi dưỡng cho các em lòng tự hào về truyền thống quê hương, đất nước Tham quan học tập tại bảo tàng còn giáo dục cho các em ý thức tôn trọng và gìn giữ các di sản văn hoá quý báu của quê hương mình

Vai trò và ý nghĩa quan trọng của việc sử dụng, khai thác tài liệu, hiện vật của bảo tàng đối với việc dạy học lịch sử ở trường THCS thể hiện ở các mặt sau đây

Trang 33

sử dụng GV chỉ thực hiện trong giờ nội khoá và chỉ dừng ở mức độ minh họa chứ chưa xem đây là nguồn nhận thức làm cho bài giảng thêm nặng nề, thiếu tính hấp dẫn

Đa số HS chưa thực sự hứng thú với việc học tập bộ môn lịch sử, điều này do nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan Trong đó việc ít sử dụng tài liệu dạy học, tài liệu học tập, các em không có điều kiện tiếp cận với nguồn tài liệu ngoài SGK

Tài liệu, hiện vật ở bảo tàng có ý nghĩa to lớn đối với việc hình thành kiến thức lịch sử cho HS ở trường phổ thông Với nguồn tài liệu, hiện vật đa dạng, phong phú, cụ thể và được sắp xếp theo thứ tự thời gian sẽ làm hiện lên trước mắt HS những bức tranh quá khứ sinh động, sẽ làm cho học sinh nhanh chóng nắm chắc được kiến thức cơ bản của bài học, sẽ khắc phục được xu hướng “hiện đại hóa lịch sử” của HS Bởi vì: nguồn tài liệu này rất phong phú

và đa dạng, cụ thể nó phản ánh những hoạt động của con người trong quá khứ

về đời sống vật chất, đời sống tinh thần, từ lao động sản xuất, đến đề tài chiến tranh Hơn nữa, những tư liệu, hiện vật ở bảo tàng là nguồn cung cấp kiến thức giúp cho HS có cái nhìn toàn diện về quá khứ, biểu tượng lịch sử chính xác, chân thực hơn

Khi quan sát các tư liệu, hiện vật ở bảo tàng HS nhận thức đúng bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử, từ đó tạo điều kiện cho việc hình thành khái niệm lịch sử “Biểu tượng lịch sử càng chân thực, cụ thể bao nhiêu thì khái niệm

Trang 34

hình thành càng vững chắc bấy nhiêu Vì vậy có thể nói, tài liệu, hiện vật ở bảo tàng là chỗ dựa đáng tin cậy để HS hình thành khái niệm lịch sử.” [21; 16]

Ví dụ, cho HS lớp 6 học tại bảo tàng địa phương bài 13 lịch sử 6: Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Văn Lang GV giới thiệu cho học sinh quan sát các phòng trưng bày hiện vật cổ, như quan sát các công cụ lao động như lưỡi cày bằng đồng, lưỡi liềm đồng, Sau đó cho HS quan sát thạp đồng Đào Thịnh Tiếp

đó GV hướng dẫn cho HS quan sát phòng trưng bày trống đồng, từ đó HS sẽ hiểu được đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Văn Lang

Hay học tập tại bảo tàng, GV dễ dàng cung cấp kiến thức để các em phân biệt khái niệm “văn minh”, “văn hóa” Đến với bảo tàng các em sẽ biết văn minh – đó là những thành tựu vật chất, tinh thần ở một giai đoạn lịch sử nhất định như văn minh sông Hồng, văn minh Đại Việt Còn “văn hóa” là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, trong đó bao hàm cả các nền “văn minh”

Các tư liệu, hiện vật ở bảo tàng không chỉ là nguồn cung cấp kiến thức cho HS mà còn là “đồ dùng trực quan” giúp cho HS hiểu sâu, nhớ lâu những kiến thức lịch sử đã học Như khi dạy bài “Đời sống vật chất và tinh thần của

cư dân Văn Lang” ở mục 1 “Nông nghiệp và các nghề thủ công” giáo viên sử dụng các tư liệu trưng bày ở bảo tàng để dạy: cho HS quan sát “thạp đồng Đào Thịnh”, quan sát “trống đồng Ngọc Lũ” để các em nhận thức được nghề thủ công phát triển nhất thời bấy giờ, kĩ thuật luyện kim phát triển đạt đến trình độ điêu luyện Trống đồng là vật tiêu biểu cho văn minh Văn Lang Như vậy qua việc quan sát các hiện vật trống đồng HS sẽ biểu tượng chân thực về những cơ sở cho sự xuất hiện văn minh Văn Lang - Âu Lạc, nền văn minh đầu tiên của dân tộc ta

Được sự hướng dẫn của cán bộ bảo tàng, giáo viên bộ môn qua tài liệu

và hiện vật ở bảo tàng, các em dễ dàng nắm bắt được bản chất của các sự kiện lịch sử và nhớ lâu hơn kiến thức đã được lĩnh hội

Trang 35

Như vậy, sử dụng tư liệu, hiện vật của bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc lĩnh hội kiến thức lịch

sử của học sinh

1.1.5.2 Về kỹ năng

Khai thác các tư liệu hiện vật ở bảo tàng trong dạy học lịch sử ngoài tác dụng góp phần hình thành kiến thức lịch sử, giáo dục tư tưởng, đạo đức, còn góp phần rèn luyện kỹ năng, phát triển các năng lực tư duy độc lập, sáng tạo của các em

Sử dụng các tư liệu hiện vật ở bảo tàng trong dạy học lịch sử dân tộc góp phần rèn luyện cho học sinh thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa trừu tượng hóa Việc sử dụng tài liệu, hiện vật ở bảo tàng trong dạy học LS không dừng lại ở việc minh họa, tạo biểu tượng LSDT mà còn từng bước hình thành khái niệm giúp học sinh nắm vững đặc trưng bản chất, mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử, rút ra bài học, quy luật lịch sử… Trên cơ

sở đó, bồi dưỡng cho các em tư tưởng, tình cảm, lòng yêu quê hương và trách nhiệm đối với cộng đồng

Sử dụng các tư liệu, hiện vật ở bảo tàng trong dạy học lịch sử còn giúp

HS phát triển các năng lực tri giác, như quan sát, hình dung, tưởng tượng về các sự kiện lịch sử một cách sinh động, cụ thể

VD: Khi dạy bài 10 (SGK Lịch sử lớp 6), khi GV sử dụng bảo tàng trong dạy học, GV hướng dẫn cho HS quan sát các công cụ sản suất như: rìu đá Hoa Lộc, rìu đá Phùng Nguyên, lưỡi cày đồng, lưỡi liềm đồng… Từ đó HS sẽ hình dung tưởng tượng, phát triển được năng lực tri giác của mình, HS sẽ hiểu được sự mở rộng địa bàn cư trú của người Việt cổ, sẽ thấy được công cụ sản xuất gồm những gì và thấy được những điểm cải tiến của công cụ sản xuất của người Việt cổ

Dưới sự dẫn dắt của giáo viên bộ môn, của hướng dẫn viên bảo tàng HS

Trang 36

sẽ được rèn luyện kỹ năng quan sát, khả năng tưởng tượng, diễn đạt lô gic kiến thức thông qua các tài liệu, hiện vật, mô hình, bản đồ, tranh ảnh lịch sử Đồng thời các em còn phải phân tích, đối chiếu, so sánh các tư liệu ở bảo tàng với kiến thức trong sách giáo khoa Từ đó góp phần phát triển khả năng nhận thức, đặc biệt là năng lực tư duy Các em còn trình bày được một cách tổng hợp bằng ngôn ngữ khoa học về các sự kiện lịch sử đã học, tự mình làm được các đồ dùng trực quan như vẽ bản đồ, vẽ chân dung các nhân vật lịch

sử, xây dựng niên biểu lịch sử

Chẳng hạn như khi đến tham quan học tập tại Bảo tàng Phòng không – không quân, học sinh sẽ được quan sát, thăm quan phần trưng bày ngoài trời với những hiện vật khối được trưng bày khoa học giới thiệu các bộ sưu tập hiện vật vũ khí độc đáo về 4 lực lượng của bộ đội PK- KQ: Pháo Cao xạ, Máy bay, Tên lửa, Ra đa Đây là những vũ khí đã lập nhiều chiến công xuất sắc: Khẩu pháo 37mm của khẩu đội Tô Vĩnh Diện tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ Như vậy, việc khai thác và sử dụng tư liệu Bảo tàng đảm bảo cho quá trình tư duy của học sinh diễn ra hợp quy luật nhận thức và đảm bảo nguyên tắc trực quan trong DHLS Bởi vì, các tư liệu ở Bảo tàng bao gồm (tài liệu gốc,, tranhanhr lịch sử, mô hình, bản đồ phục chế, tài liệu thành văn ) được sắp xếp theo trình tự thời gian, là phương tiện trực quan có giá trị xuyên suốt trong nhận thức đối với học sinh

1.1.5.3 Về tư tưởng, thái độ

Khai thác hiệu quả các tài liệu, hiện vật ở bảo tàng không chỉ giúp HS biết, hiểu nhanh, nhớ lâu các kiến thức lịch sử mà còn có ý nghĩa giáo dục tư tưởng, đạo đức cho các em Trong thời đại mới, học sinh rất thông minh, các

em được tiếp xúc với công nghệ thông tin hiện đại bên cạnh sự đổi mới tiên tiến của giáo dục các em có khả năng nhận thức, tư duy lôgic Vì vậy, chúng

ta không thể giáo dục các em bằng “lý thuyết suông” Mặc dù, trong tình hình

Trang 37

hiện nay có một bộ phận nhỏ thế hệ trẻ thờ ơ với quá khứ, buông thả với cuộc sống, với tương lai của mình, nhưng những tài liệu, hiện vật phong phú ở bảo tàng có khả năng kích thích ham muốn tìm tòi, khơi dậy tính hiếu kỳ khoa học, óc suy luận Qua đó, hình thành cho HS các xúc cảm lịch sử: yêu, ghét, kính trọng, khâm phục…và dấy lên lòng tự hào dân tộc trong các em

Ví dụ, khi quan sát mô hình kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên, cùng với những cùng với những chiến cọc Bạch Đằng nhọn trên đầu bịt sắt, các em thấy được ý chí đánh giặc và giết giặc của quân và dân ta thời Trần Các em sẽ khâm phục Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn – những vị tướng

đã lãnh đạo nhân dân đánh tan đế quốc Mông Nguyên – một đế quốc đi chinh phục hầu khắp thế giới ở thế kỉ XIII

Hay khi quan sát bức ảnh của các anh vệ quốc đoàn hai tay nâng quả bom ba càng, hiên ngang đứng trên chiến lũy trước của chợ Đồng Xuân sẵn sàng lao vào xe tăng địch, học sinh sẽ hiểu cụ thể hơn về chiến công và con người các anh Những tư liệu, hiện vật được trình bày sẽ gợi dạy cho các em thái độ khâm phục, kính trọng, lòng biết ơn và tự suy nghĩ về trách nhiệm của bản thân

Khai thác và sử dụng bảo tàng còn có ý nghĩa rất sâu sắc đối với việc giáo dục lòng yêu nước cho HS phổ thông hiện nay Các tư liệu, hiện vật ở bảo tàng địa phương là một trong những vũ khí sắc bén nhất để giáo dục lòng yêu nước nói chung, tình yêu quê hương mình, tình yêu thiên nhiên, niềm tự hào về truyền thống cách mạng của quê hương mình

Ví dụ, đưa học sinh lớp 9 đến học tập tại bảo tàng Phòng không – không quân , GV hướng dẫn và giới thiệu cho HS quan sát phần trưng bày trong nhà với hơn 3.000 hiện vật, hình ảnh đã tái tạo lại những trang sử oai hùng của bộ đội Phòng không – Không quân, mỗi hiện vật, hình ảnh trong hệ thống trưng bày là huyền thoại về những chiến công xuất sắc của bộ đội Phòng không –

Trang 38

Không quân qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, lập nên những

kỳ tích anh hùng đánh thắng không quân nhà nghề của nước có nền khoa học

kỹ thuật hiện đại đến nay vẫn còn là những điều hấp dẫn đối với nhiều khách tham quan trong và ngoài nước

Như vậy, sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng tình cảm đạo đức của HS

Ngoài ý nghĩa giáo dưỡng, giáo dục và phát triển, bảo tàng còn giúp giáo viên, học sinh biết cách sưu tầm, làm giàu kiến thức lịch sử và đồ dùng dạy học Điều này đặc biệt cần thiết đối với những trường nằm cách xa bảo tàng Tóm lại, sử dụng tư liệu và hiện vật ở bảo tàng có tác dụng to lớn trong việc hình thành kiến thức lịch sử, giáo dục tư tưởng tình cảm đạo đức và phát triển HS, nâng cao được hiệu quả dạy học lịch sử nói chung, ở trường THCS nói riêng

Trang 39

cậy, phản ánh trung thực về việc học tập lịch sử của HS ở trường THCS nói chung, việc sử dụng Bảo tàng trong dạy học lịch sử nói riêng Qua điều tra thực tế, chúng tôi thấy có những quan niệm khác nhau về việc sử dụng tư liệu bảo tàng dẫn đến những cách nhìn nhận khác nhau đối với vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng Bảo tàng trong DHLS Kết quả như sau:

1.2.1 Thực trạng việc khai thác và sử dụng tư liệu ở Bảo tàng của giáo viên THCS tại Hà Nội trong dạy học lịch sử

Với quan niệm môn Lịch sử chỉ trở nên hấp dẫn khi học sinh nhận biết được quá khứ đang tồn tại trong hiện tại và còn hiện diện ở tương lai, nhiều trường học, từ BGH cho đến GV bộ môn Sử đã có nhiều động thái để nâng cao chất lượng dạy - học môn Sử như: Tăng cường những giờ học tại các bảo tàng,

di tích lịch sử để kết nối học sinh với hiện vật, liên hệ với lịch sử địa phương… Trong thực tế giảng dạy, một vài nơi cũng đã tiến hành sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông như:

Năm 1991 – 1992, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam cũng đã kết hợp với

Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội tổ chức giảng dạy tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam bài “Chiến cuộc Đông Xuân 1953 – 1954 và chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ”

Năm 1994 – 1995, giáo viên ở hai trường THPT Kim Liên và THPT Minh Khai (Hà Nội) tiến hành dạy học tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam nhằm tham gia thực hiện đề tài : “Bảo tàng Cách mạng Việt Nam với việc dạy

và học lịch sử ở trường THPT Kim Liên và Minh Khai”

Năm 1995, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, trung tâm giáo dục truyền thống lịch sử thuộc trung ương hội tâm lý giáo dục học Việt Nam, hội tâm lý giáo dục học Hà Nội đã tiến hành hội nghị chuyên đề “Bảo tàng và di tích với giáo dục truyền thống lịch sử cho tuổi trẻ học đường”

Ngày 25 – 3 – 2003, nhân dịp kỉ niệm 72 năm ngày thành lập Đoàn

Trang 40

thành niên cộng sản Hồ Chí Minh, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam kết hợp với Ban tư tưởng – Văn hoá trung ương Đoàn tổ chức phòng trưng bày “Tuổi trẻ Việt Nam – những chặng đường lịch sử”

Ngày 29/4/2014, Bảo tàng Lịch sử quốc gia khai mạc triển lãm ảnh

“Điện Biên Phủ chiến trường xưa và nay” đã giới thiệu một số hình ảnh về các di tích Điện Biên Phủ ngày nay bằng công nghệ 3D GV tại Hà Nội có thể đưa HS đến tham quan, học tập để có những cái nhìn chân thực hơn về chiến dịch Điện Biên Phủ, để biết thêm về một Điện Biên trong thời kỳ đổi mới sau 60 năm xây dựng và phát triển

Nhân dịp kỷ niệm 39 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2014) và 60 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2014) Bảo tàng lịch sử quốc gia đã xây dựng câu lạc bộ “Em

yêu lịch sử” với các chủ đề với nhiều nội dung khác nhau như: “Âm vang

Điện Biên”, “Trận quyết chiến chiến lược”, “Chiến trường Nam bộ chia lửa với Điện Biên”, “Bác Tôn - Câu chuyện giáo dục trong gia đình qua những lá thư”, “Côn Đảo - nơi ấy đừng quên”…

Song đây mới chỉ là những việc làm có tính thí điểm còn vấn đề khai thác và sử dụng Bảo tàng trong dạy học lịch sử vẫn chưa được thực hiện rộng rãi Do đó thời gian tới, chúng ta nên đưa hình thức này vào dạy học lịch sử

để góp phần thiết thực nâng cao hiệu quả giảng dạy

1.2.2 Thực tiễn của việc sử dụng Bảo tàng Phòng không – Không quân trong dạy học lịch sử tại các trường THCS tại Hà Nội

Sử dụng Bảo tàng đóng vai trò quan trọng trong việc chiếm lĩnh tri thức mới, có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả DHLS Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng Bảo tàng nói chung, Bảo tàng Phòng không – Không quân nói riêng chưa được quan tâm đúng mức, hay nói cách khác HS chưa được tiếp xúc học tập nhiều với các tư liệu ở Bảo tàng Để làm sáng tỏ vấn đề này, chúng

Ngày đăng: 02/04/2017, 13:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3 : Biểu đồ kết quả thực nghiệm - Đề tài Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội
Bảng 3 Biểu đồ kết quả thực nghiệm (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w