1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục

125 477 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Trong hệ thống giáo dục quốc dân, GDMN có vị trí quan trọng, là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nền tảng đầu tiên của ngành GDĐT, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi. Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một. Thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về GD nói chung, GDMN nói riêng đang từng bước được đổi mới toàn diện từ mục tiêu, nội dung, chương trình phương pháp và hình thức dạy học, tạo nên sự liên thông và đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ với các bậc học khác. Quy mô GD và mạng lưới cơ sở GDMN phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của con em nhân dân. Chất lượng GDMN được nâng cao một bước. Công bằng xã hội trong tiếp cận GDMN đã được cải thiện, đặc biệt con em người dân tộc thiểu số, con em các gia đình nghèo, trẻ em gái và các đối tượng bị thiệt thòi ngày càng được quan tâm. Công tác quản lý GDMN có bước chuyển biến tích cực. 1.2. Trong mỗi cơ sở GDMN, ĐNGV luôn là một trong những nhân tố quan trọng nhất góp phần quyết định sự phát triển nhà trường, bởi lẽ chính họ là người tổ chức thực hiện có hiệu quả các khâu của quá trình GD và phát triển chuyên môn, phát triển nhà trường. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; … “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 4 khoá VIII đã xác định: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục”. Chỉ 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư TW Đảng đã nêu rõ: “… xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, bảo đảm về chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc2 biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo”. Những thành tựu của GDMN hiện nay là thành quả của những chủ trương, quyết sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong từng thời kì, sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội. Tuy nhiên, yếu tố có ý nghĩa quyết định là các thế hệ CBQL, GVMN bằng tấm lòng yêu trẻ, yêu nghề đã tận tụy, kiên trì mở lớp, bám trường, cống hiến không mệt mỏi cho sự nghiệp phát triển GDMN. ĐNGV và CBQL GDMN tăng nhanh về số lượng, nâng dần về chất lượng, đáp ứng yêu cầu phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi và phát triển bậc học. 1.3. Đối với tỉnh Tây Ninh, thực hiện Quyết định số 469/QĐ-UBND ngày 06 tháng 3 năm 2008 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về Kế hoạch phát triển GDMN trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2008-2015, hiện nay hệ thống trường mầm non, mẫu giáo phát triển đều khắp 95/95 xã, phường, thị trấn, kể cả các xã vùng sâu, biên giới trong tỉnh. Tính đến thời điểm tháng 5 năm 2014 toàn tỉnh có 214 trường mầm non, mẫu giáo, 1.020 nhóm lớp với 1.484 giáo viên trực tiếp giảng dạy. Năm học 2013-2014 là năm thứ tư ngành GDĐT Tây Ninh thực hiện đổi mới GDMN với quan điểm "Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm". Với sự phát triển mạnh mẽ về quy mô trường lớp, đội ngũ GVMN Tây Ninh cũng từng bước phát triển về số lượng và chất lượng cao. Bước đầu đáp ứng yêu cầu phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới GDMN trong giai đoạn mới, đội ngũ GVMN tỉnh Tây Ninh đang bộc lộ một số hạn chế yếu kém: - Định biên GV trên lớp chưa đạt theo Điều lệ trường mầm non. Nhất là đối với các huyện vùng sâu, vùng xa đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ.3 - Chất lượng đào tạo GVMN chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới GDMN trong bối cảnh đổi mới giáo dục. - Đa số GV thiếu nhạy bén, sáng tạo trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục cũng như đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động xây dựng môi trường học tập trong và ngoài lớp khi thực hiện Chương trình GDMN theo quan điểm "Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm". Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chỉ rõ “Đối với GDMN, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1. Hoàn thành phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020. Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non. Phát triển GDMN dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục”. Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 xác định “Hoàn thành mục tiêu phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi vào năm 2015; đến năm 2020, có ít nhất 30% trẻ trong độ tuổi nhà trẻ và 80% trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong các cơ sở GDMN giảm xuống dưới 10%”. Để thực hiện được các mục tiêu trên, bên cạnh những giải pháp về qui hoạch mạng lưới, đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức dạy học và đánh giá kết quả học tập rèn luyện của trẻ, tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và đồ chơi trẻ em, điều đặc biệt quan trọng là phải phát triển ĐNGV đáp ứng yêu cầu đổi mới GDMN. Việc nghiên cứu, tìm hiểu các biện pháp phát triển đội ngũ GVMN tỉnh Tây Ninh đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng là vấn đề cấp thiết. Tuy nhiên hiện nay chưa có đề tài nghiên cứu nào về vấn đề này. Đó là lý do để chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục”.4 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về phát triển ĐNGV, khảo sát thực trạng đội ngũ GVMN và phát triển đội ngũ GVMN tỉnh Tây Ninh, đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ GVMN trong bối cảnh đổi mới giáo dục ở tỉnh Tây Ninh. 3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 3.1. Khách thể nghiên cứu Công tác phát triển đội ngũ GVMN trong bối cảnh đổi mới giáo dục ở tỉnh Tây Ninh. 3.2. Đối tượng nghiên cứu Các giải pháp quản lý phát triển đội ngũ GVMN trong bối cảnh đổi mới giáo dục của của Sở GDĐT tỉnh Tây Ninh. 4. Giả thuyết khoa học Hiện nay đội ngũ GVMN tỉnh Tây Ninh đang thiếu về số lượng, không đồng bộ về cơ cấu, hạn chế về chất lượng. Việc phát triển đội ngũ GVMN tỉnh Tây Ninh đang có nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của bậc học trong bối cảnh đổi mới GD. Nếu đề xuất và thực thi được một số biện pháp có tính khoa học, khả thi sẽ tăng cường phát triển được đội ngũ GVMN đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, mạnh về chất lượng ở tỉnh Tây Ninh. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 5.1. Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận về đội ngũ GVMN. 5.2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ GVMN và phát triển đội ngũ GVMN tỉnh Tây Ninh. 5.3. Đề xuất những giải pháp phát triển đội ngũ GVMN trong bối cảnh đổi mới giáo dục ở tỉnh Tây Ninh.5 6. Phạm vi nghiên cứu Tập trung nghiên cứu các giải pháp phát triển đội ngũ GVMN các trường mầm non, mẫu giáo công lập trên địa bàn tỉnh Tây Ninh từ nay đến năm 2020 của Sở GDĐT Tây Ninh Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

-o0o -

NHAN HOA PHƯƠNG

QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ

GIÁO VIÊN MẦM NON TỈNH TÂY NINH TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo duc

Mã số: 60 14 01 14

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Đình Chuẩn

Hà Nội, năm 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Luận văn có tham khảo tư liệu nghiên cứu của nhiều tác giả nhưng các số liệu, kết quả nghiên cứu trong trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, tháng 10 năm 2014

Tác giả

Nhan Hoa Phương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

- Trưởng khoa Quản lý Giáo dục, Trường Đại học sư phạm Hà Nội;

- Các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn cho tác giả trong suốt quá trình học tập;

- Lãnh đạo, chuyên viên Vụ Giáo dục Mầm Non và các Cục, Vụ, Viện liên quan thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo;

- Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Tây Ninh, các Phòng Giáo dục và Đào tạo, các trường Mầm non trên địa bàn tỉnh Tây Ninh;

- Người hướng dẫn khoa học và các thầy, cô giáo trong Hội đồng khoa học đã hướng dẫn và chỉ bảo nhiều ý kiến quý báu để tác giả hoàn thành bản Luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn bản Luận văn còn nhiều thiếu sót Kính mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy giáo, cô giáo

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 5

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Dự kiến cấu trúc của luận văn 7

Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON 8

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 11

1.2.1 Khái niệm quản lý 11

1.2.2 Quản lý giáo dục 12

1.2.3 Quản lý nhà trường 13

1.2.4 Đội ngũ giáo viên mầm non 14

1.2.5 Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non 16

1.3 Đặc trưng hoạt động của trường mầm non và giáo viên mầm non trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay 21

1.3.1 Đặc trưng của trường mầm non 21

1.3.2 Vai trò, nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên trường mầm non 22

1.3.3 Những yêu cầu đối với đội ngũ GVMN trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay 24

1.4 Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non 27

1.4.1 Lý luận về quản lý phát triển nguồn nhân lực 27

Trang 6

1.4.2 Nội dung quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non 28

Vận dụng lý thuyết quản lý nguồn nhân lực vào quản lý phát triển ĐNGV, có thể xác định các nội dung sau đây về quản lý phát triển đội ngũ GVMN 28

Tổng kết chương 1 34

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON TỈNH TÂY NINH 35

2.1 Khái quát về tình hinh phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo tỉnh Tây Ninh 35

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 35

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tây Ninh 35

2.1.3 Tình hình phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Tây Ninh 36

2.1.4 Tình hình phát triển giáo dục Mầm non tỉnh Tây Ninh 37

2.2 Khái quát quá trình khảo sát 39

2.2.1 Mục đích khảo sát 39

2.2.2 Nội dung khảo sát 39

2.2.3 Đối tượng, địa bàn khảo sát 39

2.2.4 Phương thức khảo sát 39

2.2.5 Xử lý số liệu và viết báo cáo hiệu quả khảo sát 40

2.3 Thực trạng đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh 40

2.3.1 Về số lượng 40

2.3.2 Về cơ cấu (tính đến tháng 5/2014) 41

2.3.3 Về chất lượng 44

2.4 Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh 45

2.4.1 Nhận thức về công tác phát triển đội ngũ GVMN 45

2.4.2 Thực trạng về kế hoạch phát triển đội ngũ GVMN 46

2.4.3 Thực trạng việc tuyển dụng và sử dụng đội ngũ GVMN 47

2.4.4.Thực trạng việc bồi dưỡng và tự bồi dưỡng đội ngũ GVMN 48

Trang 7

2.4.5 Thực trạng việc kiểm tra, đánh giá đội ngũ GVMN 50

2.4.6 Về thực hiện chế độ chính sách đối với đội ngũ GVMN 52

2.5 Đánh giá chung về thực trạng phát triển đội ngũ GVMN tỉnh Tây Ninh 53 2.5.1 Mặt ưu điểm 53

2.5.2 Mặt hạn chế 54

2.5.3 Cơ hội 55

2.5.4 Thách thức 55

Tổng kết chương 2 57

Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON TỈNH TÂY NINH TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 58

3.1 CÁC NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP 58

Việc đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ GVMN nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc GD trẻ mầm non, trong điều kiện hiện nay cần đảm bảo các nguyên tắc sau: 58

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 58

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính nhất quán 58

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 59

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 59

3.2 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON TỈNH TÂY NINH TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 60

3.2.1 Nâng cao nhận thức của các cấp QLGD về sự cần thiết của vấn đề phát triển đội ngũ GVMN trong bối cảnh đổi mới GD ở tỉnh Tây Ninh 60

3.2.2 Xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ GVMN tỉnh Tây Ninh đến năm 2020 đáp ứng yêu cầu đổi mới GD 64

3.2.3 Đổi mới công tác tuyển dụng, sử dụng và phân công nhiệm vụ đội ngũ GVMN 69

Trang 8

3.2.3.1 Mục đích, ý nghĩa 69

3.2.4 Tăng cường công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nâng chuẩn, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng cho đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp 73

3.2.5 Tổ chức kiểm tra, đánh giá đội ngũ GVMN trên cơ sở chuẩn nghề nghiệp GVMN 81

3.2.6 Hoàn thiện chế độ khen thưởng, chính sách đãi ngộ cho đội ngũ GVMN trong tỉnh 85

3.2.6.2 Nội dung biện pháp 86

3.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIỆN PHÁP 89

3.4 KHẢO NGHIỆM VỀ TÍNH CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP 91

Tổng kết chương 3 95

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Học sinh, lớp và GVMN tỉnh Tây Ninh 40

2.2 Trình độ chuyên môn của GVMN dạy các trường mầm

2.3 Độ tuổi GVMN tỉnh Tây Ninh năm 2014 43 2.4 Kết quả đánh giá chuẩn nghề nghiệp GVMN 45

2.5 Thống kê số liệu khảo sát các biện pháp phát triển đội

3.1 Kết quả khảo sát về tính cấp thiết và khả thi của đề tài 106

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

1.1 Mô hình quản lý nguồn nhân lực 28 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp 91

Trang 10

1.2 Trong mỗi cơ sở GDMN, ĐNGV luôn là một trong những nhân tố quan trọng nhất góp phần quyết định sự phát triển nhà trường, bởi lẽ chính họ

là người tổ chức thực hiện có hiệu quả các khâu của quá trình GD và phát

triển chuyên môn, phát triển nhà trường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Cán

bộ là cái gốc của mọi công việc”; … “Công việc thành công hay thất bại đều

do cán bộ tốt hay kém” Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần

thứ 4 khoá VIII đã xác định: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục” Chỉ 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư TW Đảng đã

nêu rõ: “… xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, bảo đảm về chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc

Trang 11

ý nghĩa quyết định là các thế hệ CBQL, GVMN bằng tấm lòng yêu trẻ, yêu nghề đã tận tụy, kiên trì mở lớp, bám trường, cống hiến không mệt mỏi cho sự nghiệp phát triển GDMN ĐNGV và CBQL GDMN tăng nhanh về số lượng, nâng dần về chất lượng, đáp ứng yêu cầu phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi và phát triển bậc học

1.3 Đối với tỉnh Tây Ninh, thực hiện Quyết định số 469/QĐ-UBND ngày

06 tháng 3 năm 2008 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về Kế hoạch phát triển GDMN trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2008-2015, hiện nay hệ thống trường mầm non, mẫu giáo phát triển đều khắp 95/95 xã, phường, thị trấn, kể cả các xã vùng sâu, biên giới trong tỉnh Tính đến thời điểm tháng 5 năm 2014 toàn tỉnh có 214 trường mầm non, mẫu giáo, 1.020 nhóm lớp với 1.484 giáo viên trực tiếp giảng dạy Năm học 2013-2014 là năm thứ tư ngành GDĐT Tây Ninh thực hiện đổi mới GDMN với quan điểm "Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm"

Với sự phát triển mạnh mẽ về quy mô trường lớp, đội ngũ GVMN Tây Ninh cũng từng bước phát triển về số lượng và chất lượng cao Bước đầu đáp ứng yêu cầu phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới GDMN trong giai đoạn mới, đội ngũ GVMN tỉnh Tây Ninh đang bộc lộ một

số hạn chế yếu kém:

- Định biên GV trên lớp chưa đạt theo Điều lệ trường mầm non Nhất là đối với các huyện vùng sâu, vùng xa đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ

Trang 12

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 Hội nghị Trung

ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chỉ rõ “Đối với GDMN, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1 Hoàn thành phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020 Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non Phát triển GDMN dưới

5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục” Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 xác định “Hoàn thành mục tiêu phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi vào năm 2015; đến năm 2020, có ít nhất 30% trẻ trong độ tuổi nhà trẻ và 80% trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong các cơ sở GDMN giảm xuống dưới 10%”

Để thực hiện được các mục tiêu trên, bên cạnh những giải pháp về qui hoạch mạng lưới, đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức dạy học và đánh giá kết quả học tập rèn luyện của trẻ, tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và đồ chơi trẻ em, điều đặc biệt quan trọng là phải phát triển ĐNGV đáp ứng yêu cầu đổi mới GDMN Việc nghiên cứu, tìm hiểu các biện pháp phát triển đội ngũ GVMN tỉnh Tây Ninh đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng là vấn đề cấp thiết Tuy nhiên hiện nay chưa có đề tài nghiên cứu nào về

vấn đề này Đó là lý do để chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý phát triển đội ngũ

giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục”

Trang 13

4

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về phát triển ĐNGV, khảo sát thực trạng đội ngũ GVMN và phát triển đội ngũ GVMN tỉnh Tây Ninh, đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ GVMN trong bối cảnh đổi mới giáo dục ở tỉnh Tây Ninh

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác phát triển đội ngũ GVMN trong bối cảnh đổi mới giáo dục ở tỉnh Tây Ninh

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các giải pháp quản lý phát triển đội ngũ GVMN trong bối cảnh đổi mới

giáo dục của của Sở GDĐT tỉnh Tây Ninh

4 Giả thuyết khoa học

Hiện nay đội ngũ GVMN tỉnh Tây Ninh đang thiếu về số lượng, không đồng bộ về cơ cấu, hạn chế về chất lượng Việc phát triển đội ngũ GVMN tỉnh Tây Ninh đang có nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của bậc học trong bối cảnh đổi mới GD

Nếu đề xuất và thực thi được một số biện pháp có tính khoa học, khả thi sẽ tăng cường phát triển được đội ngũ GVMN đủ về số lượng, đồng bộ

về cơ cấu, mạnh về chất lượng ở tỉnh Tây Ninh

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận về đội ngũ GVMN

5.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ GVMN và phát triển đội ngũ GVMN tỉnh Tây Ninh

5.3 Đề xuất những giải pháp phát triển đội ngũ GVMN trong bối cảnh đổi mới giáo dục ở tỉnh Tây Ninh

Trang 14

5

6 Phạm vi nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu các giải pháp phát triển đội ngũ GVMN các trường mầm non, mẫu giáo công lập trên địa bàn tỉnh Tây Ninh từ nay đến năm 2020 của Sở GDĐT Tây Ninh

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa trong nghiên cứu các nguồn tài liệu lý luận và thực tiễn có liên quan đến phát triển đội ngũ GVMN, bao gồm:

- Các văn kiện của Đảng, Nhà nước, Tư tưởng Hồ Chí Minh có liên quan đến đề tài

- Các tác phẩm về tâm lý học, giáo dục học, khoa học quản lý giáo dục,… trong và ngoài nước

- Các công trình nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục của các nhà lý luận, các nhà quản lý giáo dục, các nhà giáo…có liên quan đến đề tài như các luận văn, luận án, các báo cáo khoa học, các chuyên khảo, các bài báo

Các tài liệu trên được phân tích, nhận xét, tóm tắt và trích dẫn phục vụ trực tiếp cho việc giải quyết các nhiệm vụ của đề tài

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra, khảo sát

+ Tiến hành điều tra thống kê để nắm được số lượng, cơ cấu, trình độ đào tạo, thâm niên công tác, phân bố đội ngũ GVMN trên địa bàn tỉnh Tây Ninh; + Tiến hành điều tra bằng anket để khảo sát nhu cầu về nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng GV; thực trạng công tác phát triển đội ngũ GVMN

Đối tượng điều tra, khảo sát là GV, CBQL các cơ sở đào tạo GVMN; các

cơ sở sử dụng GVMN; các cơ quan quản lý cơ sở sử dụng GVMN

Trang 15

6

Kết quả điều tra, khảo sát được phân tích, so sánh, đối chiếu để tìm ra những thông tin cần thiết theo hướng nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

+ Nghiên cứu các sản phẩm của GV như kế hoạch dạy học, giáo án, đồ dùng dạy học, kế hoạch tự bồi dưỡng để đánh giá trình độ, việc tự bồi dưỡng của GV;

+ Nghiên cứu các kế hoạch, quyết định, báo cáo của sở/phòng GDĐT, hiệu trưởng các trường có liên quan đến việc phát triển đội ngũ GVMN

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Tiến hành nghiên cứu, tiếp thu các kinh nghiệm phát triển của các đơn vị liên quan ở những nơi làm tốt công tác phát triển đội ngũ GVMN; các cơ sở đào tạo GVMN,…)

- Phương pháp chuyên gia

Hỏi ý kiến chuyên gia bằng các phiếu hỏi, bao gồm :

- Các nhà quản lý các đơn vị sử dụng đội ngũ GVMN;

- Các nhà khoa học, các chuyên gia về giáo dục học, tâm lý học, quản

lý GDĐT

Việc lấy ý kiến chuyên gia tổ chức theo cách trao đổi hoặc xin ý kiến đóng góp bằng văn bản

Phương pháp này được sử dụng ngay từ khâu xây dựng đề cương, góp

ý bộ công cụ, góp ý vào nhận định đánh giá thực trạng hoặc vào các giải pháp

đề xuất

- Phương pháp trò chuyện

Tiến hành trao đổi với các GV cốt cán, CBQL ở sở/phòng và trường mầm non để tìm hiểu nhu cầu, điều kiện của họ, đánh giá của họ về phát triển đội ngũ GVMN hiện nay nhằm thu thập những thông tin cần thiết bổ sung cho phương pháp điều tra khảo sát

Trang 16

7

7.3 Phương pháp thống kê

- Sử dụng thống kê toán học để xử lý các kết quả nghiên cứu về định lượng (lập bảng phân phối tần số, tính điểm trung bình cộng) và định tính

8 Dự kiến cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên mầm non

Chương 2: Thực trạng đội ngũ giáo viên mầm non và phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh

Chương 3: Giải phát triển đội ngũ giáo viên mầm non trong bối cảnh đổi mới giáo dục ở tỉnh Tây Ninh

Trang 17

8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Báo cáo của Ủy ban Quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO (1996) đã “khẳng định vai trò quyết định của người thầy giáo trong việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ có trách nhiệm xây dựng tương lai của nhân loại theo hướng toàn cầu hóa”; khẳng định “thầy giáo là yếu tố quyết định hàng đầu đối với chất lượng GD Do đó, muốn phát triển GD thì trước hết và trên hết phải phát triển đội ngũ GV cả về số lượng và chất lượng” [40] Nhận định này cho thấy công tác phát triển ĐNGV là vấn đề phổ biến của mọi quốc gia Nhật Bản cũng đặc biệt chú trọng tới công tác phát triển đội ngũ GV Luật Giáo dục Nhật Bản quy định: “Địa vị xã hội của giáo viên phải được tôn trọng, sự đối xử đúng đắn và phù hợp với giáo viên phải được đảm bảo” [21]

Ở nước ta, từ xưa trong xã hội phong kiến với quan hệ “Vua-Tôi”, nghề thầy giáo và người thầy giáo được xã hội tôn vinh xếp “Quân-Sư-Phụ” chỉ sau vua, trước cha mẹ và những lời răn dạy con cháu “Nhất tự vi sư - Bán tự vi sư” và tinh thần “Phi sư bất thành” “Tôn sư trọng đạo” đã ăn sâu vào tâm trí cũng như đời sống của mỗi người dân Việt Nam, trở thành bài học GD cho mọi thế hệ, trở thành truyền thống vô cùng tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Trong sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn coi ĐNGV là lực lượng cốt cán của sự nghiệp GD, người GV được đưa lên vị trí xã hội xứng đáng và được coi trọng, được thường xuyên chăm lo nâng cao uy tín, cải thiện điều kiện làm việc để GV được phát huy hết tài năng, sáng tạo của mình Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD đã nêu nhiệm

Trang 18

9

vụ: “Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, CBQLGD để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đảm bảo đủ số lượng và cân đối về cơ cấu; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo, CBQLGD” [16]

Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD giai đoạn 2005-2010” đã chỉ ra mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp GD trong công cuộc đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước [11]

Quyết định số 149/2006/QĐ-TTg ngày 23 tháng 6 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển GDMN non giai đoạn 2006-2015" mục tiêu cụ thể: Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng ĐNGV mầm non, phấn đấu để có 80% GV đạt chuẩn trình độ đào tạo năm 2010 và 100% năm

2015, trong đó có 8% đạt trình độ trên chuẩn năm 2010 và 15% năm 2015 [12] Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt "Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020" đã chỉ ra một trong những yếu kém của GD nước ta là “Một bộ phận nhà giáo và CBQL chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ GV trong thời kỳ mới Đội ngũ nhà giáo vừa thừa, vừa thiếu cục bộ, vừa không đồng bộ về cơ cấu chuyên môn", "Vẫn còn một bộ phận nhỏ nhà giáo và CBQLGD có biểu hiện thiếu trách nhiệm và tâm huyết với nghề, vi phạm đạo đức và lối sống, ảnh hưởng không tốt tới uy tín của nhà giáo trong xã hội Năng lực của một bộ phận nhà giáo và CBQLGD còn thấp" Trong các giải pháp phát triển GD ở văn bản chiến lược này đã đề cập giải pháp phát triển ĐNGV nhằm “Đảm bảo từng bước có đủ GV thực hiện GD toàn diện theo chương trình GDMN và phổ thông, dạy học 2 buổi/ngày” [15]

Trang 19

10

Kết luận Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng (khóa XI), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, một trong những yêu cầu để bảo đảm thực hiện đổi mới hệ thống GD là xây dựng đội ngũ nhà giáo "Ðội ngũ nhà giáo (bao gồm các GV và CBQLGD) đóng vai trò quyết định chất lượng

GD Nhà giáo không chỉ đơn thuần là người chia sẻ kiến thức và kỹ năng mà còn là người góp phần nuôi dưỡng, phát triển tâm hồn, hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ" [20]

Trong "Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI" (xuất bản năm 1999), Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc khẳng định ĐNGV là một yếu

tố quyết định sự phát triển sự nghiệp GDĐT và đã đưa ra những chuẩn quy định đào tạo GV [22]

Ngoài ra những công trình, nghiên cứu được công bố trên các tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, Tạp chí Phát triển giáo dục), như bài viết “Định hướng nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng GV giai đoạn 2007-2010” của Trần Bá Hoành [24] "Về định hướng nghiên cứu giáo viên trong những năm tới" của Cao Đức Tiến [36] đã đề cập nhiều nội dung có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất thiết thực đối với công tác xây dựng và phát triển ĐNGV nói chung và riêng ở một số địa phương

Nhìn chung, từ những văn bản chỉ đạo của các cấp, các ngành, các luận văn các bài viết khoa học mà mỗi địa phương khi nghiên cứu thực hiện đều có những thực trạng và nhiều biện pháp khác nhau trong công tác phát triển ĐNGV theo đặc thù của riêng của địa phương Tuy nhiên, tại tỉnh Tây Ninh những năm vừa qua chưa có công trình nghiên nào đi sâu về công tác phát triển ĐNGV của cấp học mầm non trên quy mô tổng quát từ thực trạng

cụ thể, để từ đó có những biện pháp, những đề xuất hiệu quả góp phần phát triển đội ngũ GVMN của tỉnh ngày càng hoạt động hiệu quả hơn

Trang 20

11

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Khái niệm quản lý

Khái niệm quản lý là một khái niệm có ý nghĩa rất tổng quát Từ khi xã hội loài người hình thành, hoạt động tổ chức, quản lý đã được quan tâm Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm đạt được hiệu quả cao hơn Xét ở góc độ hoạt động thì quản lý là điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi con người để đạt đến mục đích, phù hợp với quy luật khách quan

Dưới góc độ khoa học, quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung

Trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau, khái niệm quản lý đã được các nhà lý luận đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau

F.W Taylor, một nhà quản lý người Mỹ cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [26]

Harold Koontz trong cuốn "Những vấn đề cốt yếu của quản lý" cho rằng:

"Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nổ lực cá

nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm" [28]

Marry Follet cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác” [9]

Theo Các-Mác: “Quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xã hội,

nó gắn chặt với sự phân công và phối hợp” Ông viết: “Một nghệ sỹ vĩ cầm thì

tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” [30]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động quản lý gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì

hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ

Trang 21

12

đưa hệ vào thế phát triển” Trong “quản” phải có “lý”, trong “lý” phải có

“quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực) [3]

Đặng Vũ Hoạt - Hà Thế Ngữ: "Quản lý là một quá trình có định hướng,

có mục tiêu; Quản lý là một hệ thống, là quá trình tác động đến hệ thống đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mỗi hệ thống và người quản lý mong muốn" [25]

Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động quản lý

là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [10]

Như vậy, quản lý là quá trình tác động của chủ thể quản lý gây ảnh

hưởng đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu xác định

1.2.2 Quản lý giáo dục

QLGD theo nghĩa tổng quan là sự điều hành, điều chỉnh và phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội

Theo M.I Kôndacov: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục chủ nghĩa cộng sản cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ Trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung vốn có của chủ nghĩa xã hội, cũng như các quy luật khách quan của quá trình dạy học

- giáo dục, của sự phát triển về thể chất và tâm lý của trẻ em, thiếu niên cũng như thanh niên” [27]

Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý giáo dục theo định nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [1]

Trang 22

13

Tác giả Trần Kiểm quan niệm: “Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình GD nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” [26] Theo cố tác giả Nguyễn Ngọc Quang "Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất" [32]

Như vậy, QLGD là hệ thống những tác động có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau, đến tất cả các khâu, các bộ phận của

hệ thống GD, nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống vận hành tối ưu Đảm bảo sự phát triển mở rộng cả về số lượng và chất lượng để đạt tới mục tiêu GD

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [22]

Theo tác giả Trần Kiểm, quản lý nhà trường có thể hiểu là: "Một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có định hướng của chủ thể quản

lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài

Trang 23

14

trường nhằm huy động và phối hợp sưc lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt của

nhà trường hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu

dự kiến [26]

Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có, tiến lên một trạng thái phát triển mới Bằng phương thức xây dựng và phát triển các nguồn lực GD đảm bảo đầy đủ, đồng bộ các thành tố (nhân lực, vật lực, tài lực và cơ chế phối hợp bền vững với các lực lượng GD trong xã hội) và hướng các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng GD, làm cho quá trình GD có hiệu quả, đạt mục tiêu Trong đó, nhân lực GD luôn được xem

là lực lượng cốt cán của sự phát triển GDĐT, là nhân tố chủ đạo có vai trò quyết định việc nâng cao chất lượng GD; các thành tố khác là những điều kiện

hỗ trợ không thể thiếu được tạo cho quá trình dạy học, GD đạt hiệu quả

Như vậy, quản lý nhà trường được hiểu là hệ thống những hoạt động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường Từ Hiệu trưởng đến tập thể GV, nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực luợng trong và ngoài nhà trường nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thể hỉện tính chất nhà trường xã hội chủ nghĩa, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, GD thế hệ trẻ, biến mục tiêu phát triển GD của Đảng thành hiện thực

1.2.4 Đội ngũ giáo viên mầm non

1.2.4.1 Khái niệm giáo viên

Theo từ điển Giáo dục học, thì GV là “Chức danh nghề nghiệp của người dạy học trong các trường phổ thông, trường nghề và trường mầm non, đã tốt nghiệp các trường sư phạm sơ cấp, trung cấp, đại học, hoặc sư phạm mẫu giáo” [40, tr.169]

Luật Giáo dục (2005) qui định tại điều 70: "Nhà giáo là người làm nhiệm

vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, các cơ sở giáo dục khác", "Nhà giáo

Trang 24

15

giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên" [33]

Như vậy, những quan niệm dẫn ra trên đây về GV trong nghĩa rộng, hẹp

có khác nhau song đều có sự thống nhất cơ bản: GV là người làm nhiệm vụ giảng dạy và GD trong nhà trường phổ thông, trường nghề và trường mầm non, hoặc cơ sở GD khác nhằm thực hiện mục tiêu GD xây dựng nhân cách người học đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội

Trong luận văn đối tượng GV mà đề tài đề cập đến là GVMN Theo Điều 34, Chương V, Điều lệ trường MN quy định: “Giáo viên trong các cơ sở giáo dục mầm non là người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ

em trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập" [4]

1.2.4.2 Đội ngũ giáo viên

Đội ngũ: Từ điển Tiếng Việt: “Đội ngũ là tập hợp một số đông người, cùng chức năng nghề nghiệp thành một lực lượng” [39, tr 339]

Khái niệm đội ngũ dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách khá rộng rãi: đội ngũ trí thức, đội ngũ thanh niên xung phong, đội ngũ GV Tuy nhiên,

ở một nghĩa chung nhất chúng ta hiểu: Đội ngũ là tập hợp một số đông người, hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc khác nghề, nhưng có chung mục đích xác định; họ làm việc theo kế hoạch và gắn bó với nhau về lợi ích vật chất và tinh thần cụ thể

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Đội ngũ là một tập thể người gắn kết với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc” [3]

Như vậy, khái niệm về đội ngũ có thể diễn đạt nhiều cách khác nhau, nhưng đều thống nhất: Đó là một nhóm người, một tổ chức, tập hợp thành một lực lượng để thực hiện mục đích nhất định

Trang 25

GD trong nhà trường Họ được đào tạo và được qui định rõ tiêu chuẩn ở Điều

70 của Luật Giáo dục năm 2005

Đội ngũ trong trường mầm non bao gồm CBQL, GV, nhân viên trong đó

GV là lực lượng chủ yếu, bởi họ là những người trực tiếp tổ chức quá trình

GD và vì thế họ là một trong số lực lượng GD quyết định chất lượng GD ĐNGV mầm non là tập hợp những nhà giáo giảng dạy trong các trường, các

cơ sở giáo dục bậc học mầm non Đối tượng giảng dạy, GD của họ là trẻ em trong độ tuổi từ 0 đến 5 tuổi

1.2.5 Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non

1.2.5.1 Khái niệm phát triển

Theo Từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học, phát triển có nghĩa là:

"Biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp" [39]

Khái niệm phát triển theo triết học: "Phát triển là một quá trình vận động

từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, theo đó cái cũ biến mất và cái mới ra đời Đối với sự phát triển, nét đặc trưng là hình thức xoáy trôn ốc, mọi quá trình riêng lẻ đều có sự khởi đầu và kết thúc Trong khuynh hướng, ngay từ đầu

đã chứa đựng sự kết thúc của phát triển, còn việc hoàn thành một chu kỳ phát

triển lại đặt cơ sở cho một chu kỳ mới, trong đó không tránh khỏi sự lặp lại một

số đặc điểm của chu kỳ đầu tiên Phát triển là một quá trình nội tại: bước chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới sự tiềm

Trang 26

17

tàng những khuynh hướng dẫn đến cái cao là cái thấp đã phát triển Đồng thời, chỉ ở một mức độ phát triển khá cao thì những mầm mống của cái cao chứa đựng trong cái thấp mới bộc lộ ra và lần đầu tiên mới trở nên dễ hiểu" [40] Theo tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: "Phát triển là tăng cả về chất lượng và số lượng làm cho hệ giá trị được cải tiến, được hoàn thiện" [2]

Phát triển khác với vận động, phát triển là sự vận động có định hướng, còn vận động là sự biến đổi nói chung, "phát triển" và "xây dựng" luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau "Xây dựng" là cho hình thành một tổ chức hay một chỉnh thể, còn phát triển sẽ làm cho "xây dựng" tiếp tục biến đổi, tiến lên theo mục tiêu đề ra Như vậy phát triển là sự biến đổi của sự vật hiện tượng

theo chiều hướng tích cực

1.2.5.2 Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non

Theo đánh giá của Piper (1993) thì: "Phát triển ĐNGV là công cụ mạnh nhất của công tác phát triển nhà trường Nó tập trung vào các biện pháp nhằm đạt được các mục tiêu trong tương lai và gắn chặt với lập kế hoạch chiến lược" Mục tiêu của công tác phát triển ĐNGV theo quan niệm của Menges là:

"Nhằm mục đích tăng cường hơn nữa đến sự phát triển toàn diện của người

GV trong hoạt động nghề nghiệp”

Trong tác phẩm "Quản lý nhân sự và việc xây dựng ĐNGV trong nhà trường", tác giả Nguyễn Quang Truyền quan niệm phát triển ĐNGV là "Xây dựng một đội ngũ đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, loại hình, đoàn kết nhất trí trên cơ sở đường lối giáo dục của Đảng và ngày càng vững mạnh về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đủ sức thực hiện chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo" [37]

Phát triển ĐNGV không chỉ trình độ GV, trình độ nghề nghiệp được nâng cao, mà còn là sự thỏa mãn của cá nhân, sự trung thành, tận tụy của người GV đối với nhà trường cùng bầu không khí làm việc thỏa mái và lành

Trang 27

18

mạnh Sự phát triển của từng cá nhân GV có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của toàn đội ngũ Ngược lại, ĐNGV phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi để cho cá nhân phát triển tốt hơn Do vậy, phát triển ĐNGV vừa là phát triển tập thể GV vừa là phát triển phẩm chất và năng lực của từng cá nhân GV để đáp ứng yêu cầu phát triển GDMN

Phát triển ĐNGV ở trường mầm non đáp ứng chuẩn nghề nghiệp trong bối cảnh đổi mới giáo dục là công việc không đơn giản và phải được tiến hành có kế hoạch lâu dài và đặc biệt trong điều kiện hiện nay đội ngũ vẫn còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng và không đồng bộ

Như vậy, phát triển đội ngũ GVMN là xây dựng đội ngũ đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, loại hình và nâng cao chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển GDMN Cụ thể:

a) Phát triển số lượng

Số lượng GVMN cần phải đáp ứng đầy đủ cho các nhà trường theo Điều

lệ trường mầm non: "Mỗi nhóm trẻ, lớp mẫu giáo có đủ số lượng GV theo quy định hiện hành Nếu nhóm, lớp có từ 2 GV trở lên thì phải có 1 GV phụ trách chính" [4]

Thông tư Liên tịch số 71/2007/TTLT-BGDĐT-BNV, ngày 28 tháng 11 năm 2007 của Bộ GDĐT và Bộ Nội vụ Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở GDMN công lập: [6]

Đối với nhóm trẻ: Bình quân mỗi GV nuôi dạy 8 trẻ Nếu nhiều hơn 5 trẻ thì được bố trí thêm 01 giáo viên

Đối với lớp mẫu giáo:

- Lớp không có trẻ bán trú: 1 GV phụ trách một lớp có từ 20 đến 25 trẻ

- Lớp có trẻ bán trú: 2 GV phụ trách một lớp có từ 20 đến 25 trẻ

- Lớp mẫu giáo nếu nhiều hơn 10 trẻ thì được bố trí thêm một giáo viên

- Đối với nữ GV còn trong độ tuổi sinh con (chưa sinh từ 1 đến 2 con) số

Trang 28

19

thời gian nghỉ thai sản được tính để bổ sung thêm quỹ lương để trả cho người trực tiếp dạy thêm

b) Nâng cao chất lượng

Tại điều 70, mục 1, chương IV luật Giáo dục 2005 qui định nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:

- Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;

- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;

- Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp;

- Người GVMN phải có nhận thức tư tưởng chính trị tốt, thực hiện trách nhiệm của một công dân Chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước; Chấp hành các quy định của ngành, quy định của trường, kỷ luật lao động; Có đạo đức, nhân cách và lối sống lành mạnh, trong sáng của một nhà giáo; Có ý thức phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp; Trung thực trong công tác, đoàn kết trong quan hệ với đồng nghiệp; Tận tình phục vụ nhân dân và trẻ

- Người GVMN phải có kiến thức cơ bản về GDMN; Kiến thức về chăm sóc sức khoẻ trẻ lứa tuổi mầm non; Kiến thức cơ sở chuyên ngành; Kiến thức

và phương pháp giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non; Kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội liên quan đến GDMN

- Người GVMN phải có kỹ năng sư phạm (kỹ năng giáo dục, dạy học, tổ chức) Đó là kỹ năng lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ; Kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ; Kỹ năng tổ chức các hoạt

Trang 29

kỹ năng cần thiết đáp ứng yêu cầu của bậc học

c) Điều chỉnh cơ cấu đội ngũ

Phát triển ĐNGV phải chú trọng đến sự đồng bộ về cơ cấu Sự đồng bộ này thể hiện ở các mặt sau:

- Cơ cấu hợp lý về độ tuổi: Với đặc thù tâm lý trẻ mầm non, người GVMN phải trẻ, nhiệt tình, tâm huyết, tiếp cận nhanh với công nghệ dạy học hiện đại, có chí hướng học hỏi Bên cạnh đó cũng không thể thiếu một bộ phận GV có thâm niên công tác, có trình độ tay nghề cao làm điểm tựa cho

GV trẻ phát triển tay nghề

- Cơ cấu hợp lý theo địa bàn: Hệ thống lớp mầm non được phân tán tới từng xã, phường do đó việc cân đối giữa GV người địa phương với GV được tuyển dụng từ vùng khác đến là rất quan trọng Điều đó sẽ giúp đội ngũ GV

an tâm công tác, phấn đấu cho công tác giảng dạy tại quê hương mình

- Cơ cấu hợp lý về trình độ: Cơ cấu đội ngũ GVMN theo trình độ đào tạo chính là sự phân chia GV theo tỷ trọng ở các trình độ đào tạo Các trình độ đào tạo của GVMN hiện nay là: THSP, CĐSP, ĐHSP, Thạc sĩ Xác định được một cơ cấu hợp lý về trình độ đào tạo và thực hiện các hoạt động liên quan để đạt đến cơ cấu đó cũng chính là biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ Số GVMN hiện nay đã đạt chuẩn là chủ yếu, do vậy cần có các biện pháp phát triển đội ngũ theo hướng trên chuẩn để đáp ứng có đội ngũ GVMN trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, giữ vai trò cốt cán trong việc

tổ chức, hướng dẫn việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong trường mầm non, trường mẫu giáo

Trang 30

21

Tóm lại, sự cân đối về cơ cấu của ĐNGV sẽ là động lực, là điều kiện để phát triển bậc học trong địa bàn nhất định Nó góp phần tạo ra sự ổn định về tâm lý GV, góp phần nâng cao chất lượng công tác chăm sóc giáo dục trẻ trên địa bàn

1.3 Đặc trưng hoạt động của trường mầm non và giáo viên mầm non trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

1.3.1 Đặc trưng của trường mầm non

Bậc học mầm non là một bậc học có những đặc trưng riêng so với các ngành học, bậc học khác trong hệ thống GD quốc dân Việt Nam, đó là:

Thứ nhất, "GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc - giáo dục trẻ

em từ 3 tháng đến 5 tuổi và nội dung GDMN phải đảm bảo hài hòa giữa nuôi

dưỡng, chăm sóc và giáo dục, phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em: Giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn; Biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà cha mẹ, thầy giáo, cô giáo và người trên; Yêu quý anh, chị, em, bạn bè; Thật thà, mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; Ham hiểu biết, thích đi học Phương pháp chủ yếu trong GDMN là thông qua việc tổ chức các hoạt động vui chơi để giúp trẻ lĩnh hội kiến thức

kỹ năng ban đầu, phát triển toàn diện; Chú trọng việc nêu gương, động viên, khích lệ ” [4] GDMN đòi hỏi GVMN phải là người am hiểu sâu sắc về khoa học nuôi, dạy trẻ và đặc biệt phải hết sức yêu nghề, mến trẻ

Thứ hai, GDMN là khâu đầu tiên của hệ thống GD quốc dân, nhưng cho

đến nay nó vần chưa mang tính chất bắt buộc đối với mọi trẻ em Nhiều trẻ

em trong độ tuổi vẫn chưa đến trường Nhiều loại hình chăm sóc GD trẻ em cùng song song tồn tại Hơn nữa, sự tồn tại và phát triển của ngành chủ yếu dựa vào sự đóng góp và hỗ trợ của cộng đồng Vì thế, công tác quản lý GDMN là phải làm sao để mọi người trong xã hội hiểu rõ trách nhiệm của mình là phải quan tâm đến việc chăm sóc, GD trẻ Do đó, GVMN cũng phải

Trang 31

22

là người năng động, linh hoạt biết tuyên truyền, cuốn hút mọi lực lượng xã hội tham gia vào công tác chăm sóc, giáo dục trẻ

Thứ ba, đội ngũ GVMN hầu hết là nữ Đó là một nét riêng biệt khác hẳn

với các ngành học, bậc học khác Thực tế các trường mầm non cho thấy việc quản lý một tập thể toàn nữ rất khó khăn, phức tạp Bởi vì phụ nữ có những điểm khác biệt với nam giới Phụ nữ thường cẩn thận, tỉ mỉ, thích nhẹ nhàng tình cảm, dễ xúc động nhưng cũng hay đố kỵ, tự ti Do đó, còn có những mặt hạn chế nhất định, điều đó đòi hỏi người GVMN cũng phải biết phát huy mặt mạnh và hạn chế những mặt yếu còn tồn tại trong tập thể nữ

1.3.2 Vai trò, nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên trường mầm non

Sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác cán bộ Người coi GV trong chế độ mới hoàn thành được nhiệm vụ của Đảng, nhân

dân giao cho là những người “Anh hùng vô danh” Người căn dặn: “Người

thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất Dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh” [31]

Đảng và Nhà nước đánh giá cao vị trí, vai trò của nhà giáo Điều 15, Luật GD (2005) quy định vai trò và trách nhiệm của nhà giáo: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng GD Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng, đãi ngộ, bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học” [33]

Vai trò của đội ngũ GV còn thể hiện ở các văn bản của Đảng và Nhà nước, Nghị quyết Trung ương II (Khóa XIII) có đoạn viết: "Giáo viên là nhân

tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh Giáo viên phải có

đủ đức, đủ tài" [17]

Trang 32

23

Vai trò của đội ngũ GVMN trong chiến lược nguồn lực con người:

"Giáo dục mầm non có vai trò khá đặc biệt trong chiến lược xây dựng nguồn lực con người" Những nghiên cứu gần đây cho thấy sự phát triển đặc biệt về mọi mặt của trẻ trong lứa tuổi mầm non, các nhà GDMN coi đó là "thời kỳ vàng của cuộc đời" mỗi người

Cô giáo mầm non không chỉ thể hiện ở vai trò người thầy, người cô mà còn thể hiện ở vai trò là người mẹ như lời căn dặn của Bác Hồ: “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ Muốn làm được thì trước hết phải yêu trẻ Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ, chịu khó mới nuôi dạy được các cháu Dạy trẻ cũng như trồng cây non Trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này các cháu thành người tốt” [31]

Đảng và Nhà nước cũng đã khẳng định bậc học mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống GD quốc dân Là nền tảng đầu tiên trong hệ thống GD Mục tiêu của GDMN là chăm sóc nuôi dưỡng GD trẻ 0 - 5 tuổi giúp trẻ phát triển toàn diện về 5 lĩnh vực: thể chất, trí tuệ, ngôn ngữ, tình cảm kĩ năng xã hội, thẩm mĩ Hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị những tâm thế tốt nhất cho trẻ trước khi bước vào học trường phổ thông; Hình thành và phát triển ở trẻ những chức năng tâm sinh lý, năng lực phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học suốt đời

Khi nhìn vào mục tiêu GD của bậc học mầm non chúng ta cũng hiểu được công việc của cô giáo mầm non là như thế nào có thể nói là “Đa chức năng” là toàn diện, cô giáo mầm non có lúc là cô giáo, có lúc là mẹ hiền nhưng cũng có lúc lại là người bạn của trẻ Ngoài ra cô còn là “nghệ sĩ”, “bác sĩ” theo đặc thù của công việc và GVMN có chung mục đích là phấn đấu thực hiện mục tiêu GDMN Cụ thể:

Trang 33

Trau dồi đạo đức, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; Gương mẫu, thương yêu trẻ em, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của trẻ em; Bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của trẻ em; Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp

Tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ em cho cha mẹ trẻ Chủ động phối hợp với gia đình trẻ để thực hiện mục tiêu GD trẻ em Rèn luyện sức khỏe; Học tập văn hoá; Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ

để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em

Thực hiện các nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của ngành, các quy định của nhà trường, quyết định của Hiệu trưởng

1.3.3 Những yêu cầu đối với đội ngũ GVMN trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

1.3.3.1 Những yêu cầu chung

Trong bối cảnh hiện nay đất nước đang hội nhập với thế giới, chúng ta cần phải tiếp tục thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV và cán bộ quản lý GD, với mục tiêu là: Tập trung xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GD theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chất lượng về trình độ chuyên môn, trình độ quản

lý, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao

Trang 34

25

bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp GD trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [16]

Quốc hội khoá X đã thông qua nghị quyết 40/QH10 về đổi mới chương trình GD trong đó có chương trình GDMN mới Qua 4 năm thay triển khai có thể thấy chương trình mới đã khắc phục được các nhược điểm của chương trình cũ: tăng cường hơn tính thực tiễn, quan tâm hơn đến khả năng thực hành của trẻ em mầm non, phát huy tính tích cực sáng tạo ở trẻ, nâng cao kinh nghiệm sống cho trẻ vượt bậc Chương trình mới kiến thức nâng cao hơn, gắn thực tiễn hơn và thực hành nhiều hơn Điều đó đòi hỏi đội ngũ GV phải phấn đấu tự học, tự rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ, sáng tạo trong giảng dạy, học tập thêm kiến thức để cập nhật với kiến thức mới

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 Hội nghị Trung

ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chỉ rõ “Đối với GDMN, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1 Hoàn thành phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020 Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non Phát triển GDMN dưới 5 tuổi

có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục”

Điều căn bản trong vấn đề đổi mới chương trình GDMN không chỉ là đổi mới nội dung chương trình mà còn đổi mới phương pháp dạy học Phương pháp dạy học mới không lặp lại những phương pháp dạy học truyền thống mà chỉ kế thừa, chọn lọc những ưu điểm của chúng Phương pháp dạy học mới hướng tới đối tượng HS là chủ yếu HS là trung tâm của quá trình nhận thức

HS sẽ chủ động, tích cực tiếp thu kiến thức theo nhu cầu của bản thân GV chỉ

là người hướng dẫn, định hướng HS đi tìm kiến thức mới Phương pháp mới

Trang 35

26

cũng chú trọng đặc biệt tới việc hình thành kỹ năng kinh nghiệm sống cho học sinh Để làm được như vậy, yêu cầu đòi hỏi đội ngũ GVMN phải được chuẩn

bị tốt để tiếp cận với phương pháp dạy học mới, với phương pháp sử dụng thiết

bị dạy học mới hiện đại Đó là con đường tự học, tự rèn, tự nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân mỗi GVMN

Trong định hướng phát triển GDMN giai đoạn Điều đó nhằm ngày càng tạo điều kiện chăm sóc, giáo dục trẻ em tốt hơn Và muốn làm được điều đó đội ngũ GVMN phải được phát triển đủ số lượng, đủ cơ cấu môn học để đáp ứng yêu cầu dạy học

Như vậy phát triển GVMN là yêu cầu tất yếu để đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình mầm non mới Sự phát triển này nếu được tính toán kỹ càng, sát thực tiễn thì sẽ tạo hiệu quả cao cho GDMN, giảm được sự lãng phí không cần thiết và góp phần vào thành công của đổi mới chương trình GD, trong đó có GDMN

Phát triển đội ngũ GVMN đáp ứng chuẩn nghề nghiệp là vấn đề rất cần thiết, thông qua việc đánh giá chuẩn nghề nghiệp GV sẽ tự soi mình và thực hiện tốt hơn

về việc nắm bắt kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất năng lực cần đạt được

1.3.3.2 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non

Thực hiện theo Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT ngày 22 tháng 1 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT về đánh giá chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non [5]

Tóm lại, phát triển ĐNGV phải bảo đảm đạt được các tiêu chí về chuẩn nghề nghiệp GVMN, đây cũng chính là những nội dung cơ bản của công tác phát triển đội ngũ GVMN trong bối cảnh hiện nay Mỗi nội dung đều có vị trí

và tầm quan trọng đặc biệt, nhưng chúng không tách rời mà lại có mối quan

hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau, hợp thành một hệ thống hoàn chỉnh giúp cho ĐNGV tồn tại và phát triển để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Trang 36

27

1.4 Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non

1.4.1 Lý luận về quản lý phát triển nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực (Human resources) hay còn gọi là "vốn con người" (Human capital) chính là nguồn lực con người trong một tổ chức, một tập hợp

cụ thể Theo UNESCO "Con người vừa là mục đích, vừa là tác nhân của sự phát triển" và "Con người được xem như là một tài nguyên, một nguồn lực hết

sức cần thiết"

Quản lý nguồn nhân lực là một nhiệm vụ quản lý của một tổ chức, thể hiện trong việc lựa chọn, đào tạo, xây dựng và phát triển các thành viên của tổ chức do mình phụ trách Quản lý nguồn nhân lực bao gồm 3 phạm trù là:

- Quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng nhân lực, bao gồm: giáo dục đào tạo,

bồi dưỡng và tự bồi dưỡng

- Sử dụng hợp lý đội ngũ nhân lực, bao gồm: tuyển dụng, sử dụng, đề bạt, sàng lọc một cách hợp lý để đáp ứng yêu cầu phát triển của tổ chức

- Tạo môi trường thuận lợi để nhân lực phát triển Bao gồm việc tạo môi trường làm việc thuận lợi, môi trường sống lành mạnh, cũng như xây dựng

các chính sách và môi trường pháp lý phù hợp để nhân lực phát triển

Khái niệm phát triển nguồn nhân lực có thể hiểu là quá trình đào tạo và đào tạo lại, trang bị hoặc bổ sung thêm kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết

để người lao động có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ mà họ đang làm hoặc để tìm một việc làm mới

Phát triển nguồn nhân lực được hiểu đầy đủ hơn trong ý tưởng quản lý nguồn nhân lực của Leonard Nadle (Mỹ), thể hiện qua sơ đồ 1.1:

Trang 37

28

Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý nguồn nhân lực

Ngày nay, phát triển nguồn nhân lực được hiểu với một khái niệm rộng hơn bao gồm cả 3 mặt: Phát triển sinh thể; phát triển nhân cách đồng thời tạo một môi trường thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển Hiểu một cách tổng quát, phát triển nguồn nhân lực về cơ bản là làm gia tăng giá trị cho con người trên các mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực, làm cho con người trở thành những người lao động có những năng lực, phẩm chất mới và cao hơn đáp ứng được những yêu cầu to lớn của sự nghiệp phát triển kinh tế -

xã hội Tuy nhiên, kể cả phát triển nhân cách, phát triển sinh thể lẫn xây dựng một môi trường tốt đẹp cho nguồn nhân lực đều cần đến GDĐT

1.4.2 Nội dung quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non

Vận dụng lý thuyết quản lý nguồn nhân lực vào quản lý phát triển ĐNGV,

có thể xác định các nội dung sau đây về quản lý phát triển đội ngũ GVMN

1.4.2.1 Quản lý việc xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ GVMN

Xây dựng kế hoạch nhằm đảm bảo cho cho cơ quan đơn vị có đủ số lượng, chất lượng để bố trí một cách kịp thời và đúng chỗ nhằm thực hiện mục tiêu có hiệu quả Trong công tác phát triển đội ngũ GVMN trước hết phải tiến

Trang 38

29

hành quy hoạch ĐNGV Quy hoạch đội ngũ GVMN là bản luận chứng khoa học về phát triển đội ngũ đó để góp phần thực hiện các định hướng của tỉnh/huyện, sở/phòng GDĐT, của Hiệu trưởng các trường mầm non, phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng GV, đồng thời làm nhiệm vụ điều khiển, điều chỉnh trong công tác quản lý, chỉ đạo của các cấp quản lý Lập quy hoạch đội ngũ GVMN cho từng giai đoạn là một công việc cần thiết trong công tác quản lý Quá trình lập quy hoạch đội ngũ GVMN cần lưu ý: một mặt phải đáp ứng yêu cầu trước mắt, mặt khác phải chuẩn bị tốt một đội ngũ GVMN kế cận để có một đội ngũ đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ và hợp lý về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới

Ngoài việc lập quy hoạch đội ngũ, công tác phát triển đội ngũ GVMN cần phải có kế hoạch sử dụng hợp lư đội ngũ hiện có Bởi vì, sử dụng không hợp lý sẽ làm cho việc phát huy khả năng của đội ngũ trở nên kém hiệu quả, không phát huy được sức mạnh vốn có, những khả năng tiềm ẩn của từng GV Trong nội dung của việc lập quy hoạch có phân tích đánh giá hiện trạng,

dự báo, dự đoán được nguồn bổ sung, hướng phát triển để có kế hoạch bố trí, sắp xếp hợp lý Dự báo là một khâu rất quan trọng nối liền giữa lý luận với thực tiễn, dự báo gắn liền với một khái niệm rộng hơn đó là sự tiên đoán, dự báo được hiểu là những thông tin được kiến giải có căn cứ khoa học về trạng thái khả dĩ của đối tượng dự báo trong tương lai, về các con đường để đạt tới trạng thái trong tương lai ở các thời điểm khác nhau của đối tượng Dự báo dựa trên cơ sở nhận thức những quy luật vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy Về mặt bản chất, dự báo là sự phản ánh trước hiện thực

Khi xem xét quá trình phát triển cũng như dự báo quá trình phát triển đội ngũ GVMN trong tương lai, bao giờ cũng thấy rõ vết tích của quá khứ, những

cơ sở của hiện tại và những mầm mống của tương lai Quá khứ, hiện tại và tương lai của quá trình phát triển đội ngũ GVMN phải là sự kế tục trực tiếp

Trang 39

30

của nhau Nếu nghiên cứu phân tích tình hình đội ngũ GVMN hiện nay mà bỏ qua quá trình phát triển của các trường mầm non trước đây cũng như xu hướng phát triển theo thời gian của các trường mầm non mới thì không thể dự báo đúng tương lai Xét về mặt tính chất thì dự báo chính là khả năng nhìn trước, ước tính được những diễn biến khách quan để xây dựng, quy hoạch, kế hoạch và giải pháp thực hiện đúng mục đích Với những quan điểm trên, dự báo quá trình phát triển đội ngũ GVMN là một tài liệu tiền kế hoạch, nó là nội dung quan trọng nhất của công tác quản lý Tuy nhiên kết quả của dự báo không mang tính pháp lệnh mà chỉ mang tính chất khuyến cáo

Như vậy, dự báo cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đề xuất chiến lược, quy hoạch tổng thể của quá trình phát triển Đối với việc xây dựng phát

triển đội ngũ GVMN thì việc này giúp cho các nhà lãnh đạo, quản lý biết

trước được xu thế, có kế hoạch, phương pháp tác động để đạt kết quả mong muốn trong việc phát triển đội ngũ GVMN theo yêu cầu thực tiễn đòi hỏi

1.4.2.2 Quản lý việc tuyển dụng, sử dụng đội ngũ giáo viên mầm non

Tuyển chọn là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý nguồn nhân lực Tuyển chọn phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đợn vị; phải căn cứ vào kế hoạch phát triển nguồn nhân lực về số lượng, chất lượng

về nhu cầu, nhiệm vụ công việc Trong tuyển chọn cần phải công tâm, khách quan, cần sử dụng nhiều hình thức để tuyển chọn như: thi tuyển, xét tuyển và các hình thức phỏng vấn nhằm đánh giá về kiến thức giao tiếp, hiểu biết xã hội, nguyện vọng, hướng phấn đấu của người dự tuyển Yêu cầu trong tuyển chọn, người dự tuyển phải có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, chuyên môn nghiệp

vụ, năng lực theo yêu cầu của vị trí việc làm

Việc tuyển GVMN mới hiện nay chủ yếu do UBND cấp huyện quản lý, Phòng GDĐT phối hợp Phòng Nội vụ huyện tổ chức thực hiện, các đơn vị trường học nhận biên chế và phân công trong đơn vị

Trang 40

31

Việc sử dụng đội ngũ sao cho có hiệu quả cao nhất luôn là câu hỏi lớn của các nhà quản lý Một đội ngũ với rất nhiều độ tuổi, nhiều tính cách, năng lực, sở trường, hứng thú khác nhau thì công tác quản lý sẽ rất phức tạp Điều đó đòi hỏi công tác quản lý phải làm tốt một số công việc sau: Nắm bắt đặc điểm riêng biệt của mỗi cá nhân, mỗi nhóm cá nhân, tìm ra ưu, nhược điểm của họ để từ đó có sự phân công lao động hợp lý; Phân công công việc phù hợp, phát huy được ưu thế của họ; Đề ra được qui chế làm việc, phân công rõ ràng, công bằng; Gắn chặt các nghĩa vụ với quyền lợi của người lao động Đảm bảo sự công bằng trong đãi ngộ

Đặc thù của GVMN là phải dạy tất cả các môn học, trong khi năng lực của mọi GV không phải là toàn tài, nên khi phân công lao động cho GV nếu phát huy được sở trường của họ thì sẽ phát huy tốt nhất năng lực vốn có của

họ, hiệu quả công tác của GV sẽ rất cao

1.4.2.3 Quản lý việc đánh giá đội ngũ giáo viên mầm non

Mỗi tổ chức đều có những qui định, chuẩn mực để duy trì nền nếp trật tự

và kỷ cương của tổ chức mình Công tác kiểm tra rất quan trọng V.I.Lênin đã lưu ý rằng: “Quản lý mà không có kiểm tra không gọi là quản lý” Kiểm tra giúp cho người quản lý đánh giá đúng thực trạng, để có các biện pháp thích ứng tạo nên quá trình quản lý có hiệu quả, đồng thời kết quả kiểm tra còn là tiền đề cho quá trình quản lý tiếp theo

Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng nhấn mạnh: "Đánh giá cán bộ phải công khai, minh bạch, khách quan, toàn diện và công tâm, lấy hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị làm thước đo phẩm chất và năng lực cán bộ" [19] Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc hoặc phẩm chất của GV dựa trên những phân tích, những thông tin thu được, đối chiếu nó với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đưa đến những kết luận Đánh giá phải dựa trên những nguyên tắc sau: Đánh giá phải căn cứ

Ngày đăng: 02/04/2017, 13:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đặng Quốc Bảo (1997), Một số khái niệm về quản lý giáo dục, Trường Cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về quản lý giáo dục, Trường Cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo Trung ương
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 1997
[2]. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai, vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai, vấn đề và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
[3]. Đặng Quốc Bảo (2010), Những vấn đề cơ bản của hoạt động quản lý và sự vận dụng vào quản lý nhà trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của hoạt động quản lý và sự vận dụng vào quản lý nhà trường
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
[4]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quyết định số 14 /2008/QĐ-BGDĐT ngày 07/4/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về Điều lệ trường mầm non, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 14 /2008/QĐ-BGDĐT ngày 07/4/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về Điều lệ trường mầm non
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
[5]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT ngày 22/1/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về đánh giá chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT ngày 22/1/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về đánh giá chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
[6]. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ (2007), Thông tư số 71/2007/TTLT- BGDĐT-BNV, ngày 28/11/2007, Thông tư liên tịch Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập, Hà Nội [7]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Thông tư số 36/2011/TT-BGDĐT, ngày Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 71/2007/TTLT-BGDĐT-BNV, ngày 28/11/2007, Thông tư liên tịch Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập", Hà Nội [7]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ (2007), Thông tư số 71/2007/TTLT- BGDĐT-BNV, ngày 28/11/2007, Thông tư liên tịch Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập, Hà Nội [7]. Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2011
[8]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Thông tư số 48/2011/TT-BGDĐT, ngày 25/10/2011, Thông tư Quy định chế độ làm việc đối với giáo viên mầm non, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 48/2011/TT-BGDĐT, ngày 25/10/2011, Thông tư Quy định chế độ làm việc đối với giáo viên mầm non
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
[9]. Nguyễn Phúc Châu (2010), Quản lý nhà trường, Sách, chuyên khảo, Học viện quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà trường
Tác giả: Nguyễn Phúc Châu
Năm: 2010
[10]. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996), Lý luận đại cương về Quản lý, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận đại cương về Quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
[11]. Chính phủ (2005), Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010”
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
[12]. Chính phủ (2006), Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 23 tháng 6 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án “Phát triển Giáo dục mầm non giai đoạn 2006 - 2015”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 23 tháng 6 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án “Phát triển Giáo dục mầm non giai đoạn 2006 - 2015”
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
[13]. Chính phủ (2011), Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt “Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
[14]. Chính phủ (2011), Quyết định số 60/QĐ-TTg ngày 26/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ Quy định một số chính sách phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2011 - 2015”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 60/QĐ-TTg ngày 26/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ Quy định một số chính sách phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2011 - 2015
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
[15]. Chính phủ (2012), Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ "phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
[16]. Đảng cộng sản Việt Nam (2004), Chỉ thị số 40/2004/CT-TW, ngày 15/6/2004 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam về việc "nâng cao chất lýợng ðội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 40/2004/CT-TW
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam
Năm: 2004
[17]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1997
[18]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2001
[19]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb
Năm: 2006
[20]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb
Năm: 2011
[21]. Mạc Thị Việt Hà, (2008), Định hướng nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên giai đoạn 2010-2015, Tạp chí giáo dục số 204, tháng 01/2008 [22]. Phạm Minh Hạc (1999), “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thếkỷ XXI" , Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên giai đoạn 2010-2015
Tác giả: Mạc Thị Việt Hà
Nhà XB: Tạp chí giáo dục
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  Nội dung  Trang - Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục
ng Nội dung Trang (Trang 9)
Bảng 2.2: Trình độ chuyên môn của GVMN dạy các trường - Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục
Bảng 2.2 Trình độ chuyên môn của GVMN dạy các trường (Trang 50)
Bảng 2.4: Kết quả đánh giá chuẩn nghề nghiệp GVMN (tháng 5/2014) - Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục
Bảng 2.4 Kết quả đánh giá chuẩn nghề nghiệp GVMN (tháng 5/2014) (Trang 54)
Bảng 2.5. Thống kê số liệu khảo sát các biện pháp - Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục
Bảng 2.5. Thống kê số liệu khảo sát các biện pháp (Trang 55)
Bảng 3.1. Kết quả khảo sát về tính cấp thiết và khả thi của đề tài - Đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục
Bảng 3.1. Kết quả khảo sát về tính cấp thiết và khả thi của đề tài (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w