Đề tài Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao Antôn Pavlôvits Sêkhôp (1860-1904) là đại biểu xuất sắc cuối cùng của chủ nghĩa hiện thực Nga thế kỷ XIX. Ông “bước vào lịch sử văn học như một nhà cách tân thiên tài trong lĩnh vực truyện ngắn và kịch” [40,349]. Đến nay, nhân loại vẫn gọi ông là “nhà văn làm ta muôn thuở say mê” [108]. Toàn bộ truyện ngắn của Sêkhôp là bức tranh liên hoàn gồm nhiều mảng nhỏ hợp lại dựng lên chân dung xã hội Nga những năm cuối thế kỷ XIX. Đó là một “thời đại đau ốm”, con người sa vào thói dung tục, tha hoá ngay trong “cảnh sống thừa”. Vượt lên thực tại tầm thường, Sêkhôp đã phê phán sự bất lực của con người, nhất là giới trí thức, đồng thời nghiêm khắc lên án “cái phi nhân” của chế độ xã hội bằng “tiếng thở dài khẽ mà sâu của một trái tim trong sạch” [38,341]. Nam Cao (1917-1951) là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc nhất của văn học Việt Nam thế kỷ XX. Sự nghiệp sáng tác của nhà văn chỉ gói gọn trong 15 năm (1936- 1951), song cho tới nay ông vẫn là hiện tượng hấp dẫn, lôi cuốn giới nghiên cứu phê bình và bạn đọc “nghĩ tiếp”, khơi sâu vào những “địa tầng” mới để kiếm tìm những “vỉa vàng” lấp lánh. Trong sáng tác của Nam Cao, chúng ta bắt gặp những bức tranh rất chân thực, sống động về những kiếp người nhỏ bé. Đó là số phận bi thảm của người nông dân nghèo bị đẩy vào đường cùng, bị chà đạp tàn nhẫn, đặc biệt là bị tha hoá, lưu manh hóa; những trí thức nghèo có hoài bão, tâm huyết, tài năng, muốn vươn lên cao nhưng lại bị chuyện áo cơm ghì sát đất rơi vào bi kịch “sống mòn”, “chết mòn”. Trái tim nhân đạo Nam Cao đã phê phán gay gắt xã hội phi nhân tính tàn phá, huỷ diệt tâm hồn con người, đồng thời thể hiện khao khát về một cuộc sống có ích và thực sự có ý nghĩa. 1.2. Theo kết quả khảo sát, lượng truyện xuất hiện nhân vật trí thức trong sáng tác của Sêkhôp và Nam Cao chiếm tỷ lệ cao (trung bình 54%, trong đó Sêkhôp có 32/60 truyện, Nam Cao có 27/50 truyện). Điều đó chứng tỏ, nhân vậtĐề tài: Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao 4 trí thức là đối tượng chính, giữ một vị trí đặc biệt trong sáng tác của Sêkhôp và Nam Cao, bởi hơn ai hết họ thấu hiểu đời sống, tâm lý của giới mình. Và hai ông đã trở thành nhà văn của những trí thức bình dân. Đây chính là cơ sở, thu hút sự quan tâm của người đọc và giới nghiên cứu tiếp tục khơi sâu vào những “địa tầng” mới về người trí thức. 1.3. Theo hồi ký của nhà văn Tô Hoài, trong bài “Người và tác phẩm Nam Cao” đăng trên báo Văn nghệ năm 1956, có đoạn: “Những bạn gần Nam Cao bây giờ nhắc lại còn cười với nhau vì đã nắm lần vui chuyện, hoặc quá chén, cái anh chàng gầy gò, loeo khoeo ấy đỏ mặt đỏ tai lên, vừa rung đùi vừa nói băm băm vào bàn tay, chửi bới rất hùng hổ, coi giời bằng vung, coi ai cũng bằng cứt. Nào Gorki viết cũng xoàng. Lỗ Tấn thì khá hơn một tý. Mình sâu tý nữa, có thể kịp Sêkhôp…” [71, 24]. Như vậy, Sêkhôp là nhà văn được Nam Cao yêu thích và nể phục, giữa Sêkhôp và Nam Cao đã có những dấu nối quan trọng giúp người đọc có thể đặt câu hỏi, phân tích, chứng minh ảnh hưởng của Sêkhôp đối với Nam Cao nói riêng và văn học Nga đối với văn học Việt Nam nói chung. Trong xu thế toàn cầu hoá, so sánh các nền văn học là hướng bổ sung quan trọng cho việc nghiên cứu văn học dân tộc. Ở Việt Nam, hiện so sánh đang là hướng nghiên cứu lý thú và có hiệu quả. Về sáng tác của Sêkhôp và Nam Cao đã có một số bài nghiên cứu so sánh tiêu biểu, đó chính là những gợi dẫn khoa học quan trọng giúp chúng tôi hứng thú tìm hiểu nét tương đồng và dị biệt trong đề tài “Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao”. 1.4. Đề tài nghiên cứu này đối với chúng tôi có một ý nghĩa thiết thực: Sêkhôp và Nam Cao là hai đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông, Cao đẳng, Đại học của Việt Nam. Việc nghiên cứu đề tài sẽ giúp chúng tôi có phương pháp nghiên cứu, phục vụ tốt hơn công tác giảng dạy, đồng thời thấy rõ hơn những cách tân nghệ thuật, vị thế và tầm ảnh hưởng của Sêkhôp trong sự so sánh với Nam Cao. Trên cơ sở đó hiểu hơn những đóng góp cách tân của Nam Cao trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc. 2. Lịch sử vấn đềĐề tài: Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao 5 2.1.Vấn đề nghiên cứu nhân vật trí thức trong sáng tác của A.Sêkhôp Sêkhôp và những sáng tác của ông là “hạt ngọc ẩn dấu” đối với giới nghiên cứu phê bình suốt hai thế kỷ qua. Trên thế giới và cả ở Việt Nam, các học giả đã giành cho ông những tình cảm đặc biệt thể hiện qua những công trình nghiên cứu chuyên sâu dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong quá trình thực hiện đề tài “Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao”, do hạn chế về ngoại ngữ, chúng tôi chỉ xin nêu những ý kiến có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề nghiên cứu dựa trên cơ sở những công trình được dịch ra tiếng Việt và bài viết của các nhà nghiên cứu của Việt Nam. Dường như tất cả các nhà văn nổi tiếng đương thời đều yêu mến, trân trọng và đánh giá cao tài năng của Sêkhôp. Trong bức thư ngày 25 tháng 3 năm 1886 gửi Sêkhôp, nhà văn lão thành Đ.V.Grigôrôvich đã khẳng định Sêkhôp có “một tài năng đích thực”. Ông khâm phục “tính chính xác, chân thực tuyệt vời trong việc miêu tả nhân vật và thiên nhiên”, khen ngợi “khả năng phân tích nội tâm chính xác”, “tài nghệ trong miêu tả”, “khả năng tạo hình” của Sêkhôp. Với “tất cả sự chân thành” của “con tim trong sạch”, Grigôrôvich “tin vào tài năng” của nhà văn trẻ thuộc trong số những người viết được những “tác phẩm xuất sắc, những tác phẩm nghệ thuật thực sự” [63, 200-201]. L.Tônxtôi rất quý mến “con người tuyệt mỹ, chân thành và trung thực Sêkhôp”. Đại thi hào cảm phục tài năng của Sêkhôp và không ngần ngại xem ông là “Puskin trong văn xuôi” và khẳng định: “Cũng như Puskin, anh đã đẩy hình thức tiến lên phía trước, và đây là một cống hiến lớn lao” [41,2]. Cũng như L.Tônxtôi, M.Gorki rất khâm phục “tài năng vĩ đại” của Sêkhôp. Ông cho rằng: “A.P.Sêkhôp là nghệ sỹ duy nhất của thời đại ta nắm vững đến mức điêu luyện cái nghệ thuật viết làm sao cho “lời chật mà ý rộng”. Và “sức mạnh khủng khiếp của tài năng ông chính là ở chỗ ông không tự bịa đặt ra một điều gì, không mô tả một cái gì không có trong cuộc đời này” [37,47]. Theo ông, sự độc đáo của tự sự Sêkhôp là “ở chỗ nào cũng phát hiện và nêu bật sự dung tục” và “không ai hiểu được một cách rõ ràng và tinh tế cho bằng Antôn Pavlôvits cái chất bi kịch của những chuyện vặt vãnh trong cuộc sống” [38,335-341]. Ngoài những đánh giá của các nhàĐề tài: Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao 6 văn trên, M.Khrapchenkô, G.N.Pospelôp, N.X.Lexcôp và các thế hệ nhà văn kế tục ở nhiều quốc gia đều bày tỏ sự mến phục tài năng nghệ thuật độc đáo của Sêkhôp. Về thế giới nhân vật của Sêkhôp, các nhà nghiên cứu cũng có nhiều nhận xét tinh tế và thống nhất cho rằng, thế giới nhân vật của ông vô cùng rộng lớn, đông đúc. Nữ nhà văn Pháp Elsa Triolet đã từng ca ngợi: “Chỉ cần Sêkhôp đặt con mắt vào một người để người đó trở thành nhân vật… Mỗi người đàn ông và đàn bà trở thành một chiếc chìa khoá để hiểu hàng chục, hàng trăm đồng loại lớn nhỏ” [103,22]. Nhà nghiên cứu người Nga Vasily Grossman đã có một so sánh khá thú vị về số lượng nhân vật của Sêkhôp: “hãy điểm lại số lượng nhân vật của A.P.Sêkhôp, có lẽ may ra chỉ có Bandắc là người biết đưa vào ý thức tập thể một số lượng đông đúc như vậy” [39,7]. Có thể nói, ở Việt Nam sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Nguyễn Tuân là nhà nghiên cứu đầu tiên tuyển chọn và viết bài giới thiệu cho tập “Truyện ngắn của Sêkhôp”. Như “một thiên hồi ức ngắn”, bài viết đã kể lại sự ra đời, tác động của cuốn sách trong lòng bạn đọc, nhất là giới cầm bút. Đặc biệt, ông đã có những nhận xét rất đáng chú ý có liên quan đến vấn đề chúng tôi quan tâm. Theo Nguyễn Tuân, truyện ngắn Sêkhôp đã khái quát lên bức tranh cuộc sống đương thời: “luôn luôn bốc lên cái hơi ngạt độc đoán chuyên chế làm nghẹn ngào và ngạt thở bao tâm hồn, bao con người… Những người ấy như bị lắc trong một cái hũ nút khổng lồ”. Sêkhôp đã phát hiện ra một kiểu nạn nhân khiếp sợ trật tự xã hội đến mức bị “cái áo bao trùm kín lấy một kiếp người có ăn có nghĩ” và có “biết bao kẻ mang áo bao ấy vẫn nhan nhản sờ sờ” trong cuộc sống thường ngày, mặc dù nhân vật trí thức Bêlicôp (Người trong bao) đã chết. Đặc biệt về nghệ thuật xây dựng nhân vật, Sêkhôp “không chen vào mà giải quyết vấn đề”. Ông để “nhân loại nhân vật” tự nói lên tư tưởng nghệ thuật, thái độ của mình đối với nghề nghiệp và cuộc sống [103,12-13-19]. Trong số những người yêu quý và say mê Sêkhôp ở Việt Nam không thể không kể tới Phan Hồng Giang. Trong bài giới thiệu “Sêkhôp tuyển tập truyện ngắn” năm 1994, tuy nhà nghiên cứu không đề cập trực tiếp đến nhân vật trí thức, song lại có những gợi dẫn quý báu về mối liên hệ chặt chẽ, sự ảnh hưởng qua lại giữa đời sống hiện thực với sáng tác văn học. Với “đôi mắt tinh tường “nhìn thấuĐề tài: Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao Đề tài Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao Đề tài Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao Đề tài Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao Đề tài Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao Đề tài Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao Đề tài Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao Đề tài Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao Đề tài Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao Đề tài Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao Đề tài Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao Đề tài Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao Đề tài Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao Đề tài Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao Đề tài Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 4
2.1.Vấn đề nghiên cứu nhân vật trí thức trong sáng tác của A.Sêkhôp 5
2.2 Vấn đề nghiên cứu nhân vật trí thức trong sáng tác của Nam Cao 10
2.3 Vấn đề so sánh Sêkhôp và Nam Cao ở Việt Nam 14
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
4 Giới thuyết đề tài và phương pháp nghiên cứu 17
5 Ý nghĩa của đề tài 19
6 Cấu trúc luận văn 19
Chương 1: NHỮNG BI KỊCH ĐỜI THƯỜNG CỦA NHÂN VẬT TRÍ THỨC 20 1.1 Bi kịch đời thường- những khám phá tương đồng của Sêkhôp và Nam Cao 20
1.1.1 Khám phá sự thật đời thường 20
1.1.2 Khám phá bi kịch đời thường 24
1.2 Bi kịch đời thường của nhân vật trí thức trong truyện ngắn Sêkhôp 26
1.2.1 Bi kịch người trong bao 27
1.2.2 Bi kịch tha hóa 30
1.2.3 Bi kịch của sự bừng tỉnh muộn màng 34
1.3 Bi kịch đời thường của nhân vật trí thức trong truyện ngắn Nam Cao 39
1.3.1 Bi kịch “vỡ mộng” 39
1.3.2 Bi kịch “đời thừa”- “sống mòn” 43
1.3.3 Bi kịch vật lộn căng thẳng để tự cứu mình 48
Chương 2: SỨC MẠNH ĐỘC THOẠI NỘI TÂM 53
2.1 Tự ý thức và độc thoại nội tâm- sự gặp gỡ giữa Sêkhôp và Nam Cao trong khám phá bi kịch đời thường của người trí thức 53
2.1.1 Khả năng tự ý thức- đặc điểm nổi bật của người trí thức 53
2.1.2 Độc thoại nội tâm- thủ pháp hữu hiệu trong miêu tả tự ý thức 57
2.2 Độc thoại nội tâm hướng ngoại của Sêkhôp 60
Trang 22.2.1 Độc thoại nội tâm trực tiếp 60
2.2.2 Độc thoại nội tâm nửa trực tiếp 64
2.2.3 Độc thoại nội tâm- khoảnh khắc căng thẳng, giây phút bừng tỉnh 70
2.3 Độc thoại nội tâm hướng nội của Nam Cao 72
2.3.1 Độc thoại nội tâm trực tiếp 73
2.3.2 Độc thoại nội tâm nửa trực tiếp 76
2.3.3 Độc thoại nội tâm- những nỗi đau, giằng xé dữ dội 80
Chương 3: GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT 83
3.1 Lạnh lùng khách quan xen lẫn buồn thương đồng cảm- sự đồng giọng điệu giữa Sêkhôp và Nam Cao khi viết về bi kịch đời thường của người trí thức 84
3.2 Giọng điệu trần thuật của Sêkhôp 90
3.2.1 Giọng buồn thương, chia sẻ hướng ngoại 90
3.2.2 Giọng trữ tình mỉa mai nước đôi 94
3.2.3 Giọng triết lý ngẫu nhiên 98
3.3 Giọng điệu trần thuật của Nam Cao 104
3.3.1 Giọng buồn thương day dứt hướng nội 104
3.3.2 Giọng mỉa mai, hài hước tự trào 107
3.3.3 Giọng triết lý suy ngẫm sâu xa về sự đời 110
KẾT LUẬN 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Antôn Pavlôvits Sêkhôp (1860-1904) là đại biểu xuất sắc cuối cùng của chủ nghĩa hiện thực Nga thế kỷ XIX Ông “bước vào lịch sử văn học như một nhà cách tân thiên tài trong lĩnh vực truyện ngắn và kịch” [40,349] Đến
nay, nhân loại vẫn gọi ông là “nhà văn làm ta muôn thuở say mê” [108]
Toàn bộ truyện ngắn của Sêkhôp là bức tranh liên hoàn gồm nhiều mảng nhỏ hợp lại dựng lên chân dung xã hội Nga những năm cuối thế kỷ XIX Đó là một
“thời đại đau ốm”, con người sa vào thói dung tục, tha hoá ngay trong “cảnh sống thừa” Vượt lên thực tại tầm thường, Sêkhôp đã phê phán sự bất lực của con người, nhất là giới trí thức, đồng thời nghiêm khắc lên án “cái phi nhân” của chế độ xã hội bằng “tiếng thở dài khẽ mà sâu của một trái tim trong sạch” [38,341]
Nam Cao (1917-1951) là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc nhất của văn học Việt Nam thế kỷ XX Sự nghiệp sáng tác của nhà văn chỉ gói gọn trong 15 năm (1936- 1951), song cho tới nay ông vẫn là hiện tượng hấp dẫn, lôi cuốn giới nghiên cứu phê bình và bạn đọc “nghĩ tiếp”, khơi sâu vào những “địa tầng” mới để kiếm tìm những “vỉa vàng” lấp lánh
Trong sáng tác của Nam Cao, chúng ta bắt gặp những bức tranh rất chân thực, sống động về những kiếp người nhỏ bé Đó là số phận bi thảm của người nông dân nghèo bị đẩy vào đường cùng, bị chà đạp tàn nhẫn, đặc biệt là bị tha hoá, lưu manh hóa; những trí thức nghèo có hoài bão, tâm huyết, tài năng, muốn vươn lên cao nhưng lại bị chuyện áo cơm ghì sát đất rơi vào bi kịch “sống mòn”,
“chết mòn” Trái tim nhân đạo Nam Cao đã phê phán gay gắt xã hội phi nhân tính tàn phá, huỷ diệt tâm hồn con người, đồng thời thể hiện khao khát về một cuộc sống có ích và thực sự có ý nghĩa
1.2 Theo kết quả khảo sát, lượng truyện xuất hiện nhân vật trí thức trong sáng tác của Sêkhôp và Nam Cao chiếm tỷ lệ cao (trung bình 54%, trong đó Sêkhôp có 32/60 truyện, Nam Cao có 27/50 truyện) Điều đó chứng tỏ, nhân vật
Trang 4trí thức là đối tượng chính, giữ một vị trí đặc biệt trong sáng tác của Sêkhôp và Nam Cao, bởi hơn ai hết họ thấu hiểu đời sống, tâm lý của giới mình Và hai ông
đã trở thành nhà văn của những trí thức bình dân Đây chính là cơ sở, thu hút sự quan tâm của người đọc và giới nghiên cứu tiếp tục khơi sâu vào những “địa tầng” mới về người trí thức
1.3 Theo hồi ký của nhà văn Tô Hoài, trong bài “Người và tác phẩm Nam
Cao” đăng trên báo Văn nghệ năm 1956, có đoạn: “Những bạn gần Nam Cao bây
giờ nhắc lại còn cười với nhau vì đã nắm lần vui chuyện, hoặc quá chén, cái anh chàng gầy gò, loeo khoeo ấy đỏ mặt đỏ tai lên, vừa rung đùi vừa nói băm băm vào bàn tay, chửi bới rất hùng hổ, coi giời bằng vung, coi ai cũng bằng cứt Nào Gorki viết cũng xoàng Lỗ Tấn thì khá hơn một tý Mình sâu tý nữa, có thể kịp Sêkhôp…” [71, 24] Như vậy, Sêkhôp là nhà văn được Nam Cao yêu thích và nể phục, giữa Sêkhôp và Nam Cao đã có những dấu nối quan trọng giúp người đọc có thể đặt câu hỏi, phân tích, chứng minh ảnh hưởng của Sêkhôp đối với Nam Cao nói riêng và văn học Nga đối với văn học Việt Nam nói chung
Trong xu thế toàn cầu hoá, so sánh các nền văn học là hướng bổ sung quan trọng cho việc nghiên cứu văn học dân tộc Ở Việt Nam, hiện so sánh đang là hướng nghiên cứu lý thú và có hiệu quả Về sáng tác của Sêkhôp và Nam Cao đã
có một số bài nghiên cứu so sánh tiêu biểu, đó chính là những gợi dẫn khoa học quan trọng giúp chúng tôi hứng thú tìm hiểu nét tương đồng và dị biệt trong đề tài
“Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao”
1.4 Đề tài nghiên cứu này đối với chúng tôi có một ý nghĩa thiết thực: Sêkhôp và Nam Cao là hai đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông, Cao đẳng, Đại học của Việt Nam Việc nghiên cứu đề tài sẽ giúp chúng tôi có phương pháp nghiên cứu, phục vụ tốt hơn công tác giảng dạy, đồng thời thấy
rõ hơn những cách tân nghệ thuật, vị thế và tầm ảnh hưởng của Sêkhôp trong sự so sánh với Nam Cao Trên cơ sở đó hiểu hơn những đóng góp cách tân của Nam Cao trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc
2 Lịch sử vấn đề
Trang 52.1.Vấn đề nghiên cứu nhân vật trí thức trong sáng tác của A.Sêkhôp
Sêkhôp và những sáng tác của ông là “hạt ngọc ẩn dấu” đối với giới nghiên cứu phê bình suốt hai thế kỷ qua Trên thế giới và cả ở Việt Nam, các học giả đã giành cho ông những tình cảm đặc biệt thể hiện qua những công trình nghiên cứu chuyên sâu dưới nhiều góc độ khác nhau Trong quá trình thực hiện
đề tài “Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao”, do hạn
chế về ngoại ngữ, chúng tôi chỉ xin nêu những ý kiến có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề nghiên cứu dựa trên cơ sở những công trình được dịch ra tiếng Việt và bài viết của các nhà nghiên cứu của Việt Nam
Dường như tất cả các nhà văn nổi tiếng đương thời đều yêu mến, trân trọng
và đánh giá cao tài năng của Sêkhôp Trong bức thư ngày 25 tháng 3 năm 1886 gửi Sêkhôp, nhà văn lão thành Đ.V.Grigôrôvich đã khẳng định Sêkhôp có “một tài năng đích thực” Ông khâm phục “tính chính xác, chân thực tuyệt vời trong việc miêu tả nhân vật và thiên nhiên”, khen ngợi “khả năng phân tích nội tâm chính xác”, “tài nghệ trong miêu tả”, “khả năng tạo hình” của Sêkhôp Với “tất cả sự chân thành” của “con tim trong sạch”, Grigôrôvich “tin vào tài năng” của nhà văn trẻ thuộc trong số những người viết được những “tác phẩm xuất sắc, những tác phẩm nghệ thuật thực sự” [63, 200-201]
L.Tônxtôi rất quý mến “con người tuyệt mỹ, chân thành và trung thực Sêkhôp” Đại thi hào cảm phục tài năng của Sêkhôp và không ngần ngại xem ông là “Puskin trong văn xuôi” và khẳng định: “Cũng như Puskin, anh đã đẩy hình thức tiến lên phía trước, và đây là một cống hiến lớn lao” [41,2]
Cũng như L.Tônxtôi, M.Gorki rất khâm phục “tài năng vĩ đại” của Sêkhôp Ông cho rằng: “A.P.Sêkhôp là nghệ sỹ duy nhất của thời đại ta nắm vững đến mức điêu luyện cái nghệ thuật viết làm sao cho “lời chật mà ý rộng” Và “sức mạnh khủng khiếp của tài năng ông chính là ở chỗ ông không tự bịa đặt ra một điều gì, không mô
tả một cái gì không có trong cuộc đời này” [37,47] Theo ông, sự độc đáo của tự sự Sêkhôp là “ở chỗ nào cũng phát hiện và nêu bật sự dung tục” và “không ai hiểu được một cách rõ ràng và tinh tế cho bằng Antôn Pavlôvits cái chất bi kịch của những chuyện vặt vãnh trong cuộc sống” [38,335-341] Ngoài những đánh giá của các nhà
Trang 6văn trên, M.Khrapchenkô, G.N.Pospelôp, N.X.Lexcôp và các thế hệ nhà văn kế tục ở nhiều quốc gia đều bày tỏ sự mến phục tài năng nghệ thuật độc đáo của Sêkhôp
Về thế giới nhân vật của Sêkhôp, các nhà nghiên cứu cũng có nhiều nhận xét tinh tế và thống nhất cho rằng, thế giới nhân vật của ông vô cùng rộng lớn, đông đúc Nữ nhà văn Pháp Elsa Triolet đã từng ca ngợi: “Chỉ cần Sêkhôp đặt con mắt vào một người để người đó trở thành nhân vật… Mỗi người đàn ông và đàn bà trở thành một chiếc chìa khoá để hiểu hàng chục, hàng trăm đồng loại lớn nhỏ” [103,22] Nhà nghiên cứu người Nga Vasily Grossman đã có một so sánh khá thú vị về số lượng nhân vật của Sêkhôp: “hãy điểm lại số lượng nhân vật của A.P.Sêkhôp, có lẽ may ra chỉ có Bandắc là người biết đưa vào ý thức tập thể một
số lượng đông đúc như vậy” [39,7] Có thể nói, ở Việt Nam sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Nguyễn Tuân là nhà nghiên cứu đầu tiên tuyển chọn và viết bài
giới thiệu cho tập “Truyện ngắn của Sêkhôp” Như “một thiên hồi ức ngắn”, bài viết
đã kể lại sự ra đời, tác động của cuốn sách trong lòng bạn đọc, nhất là giới cầm bút Đặc biệt, ông đã có những nhận xét rất đáng chú ý có liên quan đến vấn đề chúng tôi quan tâm Theo Nguyễn Tuân, truyện ngắn Sêkhôp đã khái quát lên bức tranh cuộc sống đương thời: “luôn luôn bốc lên cái hơi ngạt độc đoán chuyên chế làm nghẹn ngào và ngạt thở bao tâm hồn, bao con người… Những người ấy như bị lắc trong một cái hũ nút khổng lồ” Sêkhôp đã phát hiện ra một kiểu nạn nhân khiếp sợ trật tự xã hội đến mức bị “cái áo bao trùm kín lấy một kiếp người có ăn có nghĩ” và
có “biết bao kẻ mang áo bao ấy vẫn nhan nhản sờ sờ” trong cuộc sống thường ngày,
mặc dù nhân vật trí thức Bêlicôp (Người trong bao) đã chết Đặc biệt về nghệ thuật
xây dựng nhân vật, Sêkhôp “không chen vào mà giải quyết vấn đề” Ông để “nhân loại nhân vật” tự nói lên tư tưởng nghệ thuật, thái độ của mình đối với nghề nghiệp
và cuộc sống [103,12-13-19]
Trong số những người yêu quý và say mê Sêkhôp ở Việt Nam không thể
không kể tới Phan Hồng Giang Trong bài giới thiệu “Sêkhôp tuyển tập truyện
ngắn” năm 1994, tuy nhà nghiên cứu không đề cập trực tiếp đến nhân vật trí thức,
song lại có những gợi dẫn quý báu về mối liên hệ chặt chẽ, sự ảnh hưởng qua lại giữa đời sống hiện thực với sáng tác văn học Với “đôi mắt tinh tường “nhìn thấu
Trang 7bốn cõi”, Sêkhôp đã làm được điều khó khăn là “chỉ cho con người thấy tính quái thai ở những con người thoạt nhìn tưởng như bình thường vô tội, ở những hiện tượng lặp lại hàng ngày, không mấy ai để ý” [35,9]
Năm 1960, trong bài “Chủ nghĩa nhân đạo trong tác phẩm của Sêkhôp”, La
Côn đã chỉ ra “cảm tình của Sêkhôp hướng về những người lao động” và “khinh
bỉ những kẻ ngồi không ăn bám” Sau khi phân tích một loạt truyện ngắn, La Côn
đã có những nhận xét đáng chú ý động chạm đến đối tượng chúng tôi nghiên cứu
về nhân vật trí thức, tuy nhiên mới chỉ ở mức độ khái quát: Một mặt, Sêkhôp chỉ
ra sự sa đọa của giới trí thức trong xã hội Nga hoàng, phê phán học thuyết của Tônxtôi và sự đề cao một cách mù quáng thuyết “những việc thiện nho nhỏ” của một số trí thức ảo tưởng Mặt khác, ông đặt niềm tin vào những thanh niên trí thức tích cực mong muốn đoạn tuyệt với đời sống lười biếng ươn hèn, muốn đấu tranh
để thay đổi cuộc sống [23,69]
Trong bài viết “Sêkhôp, nhà văn vĩ đại của nhân dân Nga”, Mai Thúc
Luân cũng đưa ra nhận xét gợi dẫn: “Sêkhôp không đồng ý với triết lý “việc nhỏ” mà giới trí thức Nga những năm 90 kêu gọi mọi người hướng đến” Ông đã
cho ra đời hàng loạt truyện ngắn nổi tiếng: “Người trong bao”, “Người đàn bà có
con chó nhỏ”, “Cuộc đấu súng”… để chống lại sự “sa đọa của tâm hồn con
người” Tác giả còn chỉ ra những đặc điểm cơ bản trong thi pháp nghệ thuật của nhà văn, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả nhân vật “từ bên trong”, cách miêu tả thiên nhiên “qua ấn tượng của nhân vật” [65,267-275]
Một số bài nghiên cứu chuyên sâu về những vấn đề trong sáng tác của Sêkhôp
được chúng tôi đặc biệt chú ý khi giải quyết vấn đề Đầu tiên phải kể đến, “Cái mới
trong truyện ngắn của A.Sêkhôp” của giáo sư Nguyễn Hải Hà Bài viết đã đưa ra
nhiều nhận xét quan trọng về thi pháp Sêkhốp, tiêu biểu như: thế giới nhân vật với
“những người lao động giản dị, trung thực, thuộc đủ ngành nghề”, đặc điểm tự sự đan xen yếu tố miêu tả, kể và bình luận, dòng chảy ngầm Đặc biệt vấn đề nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật thông qua độc thoại nội tâm là gợi dẫn quan trọng cho người viết trong triển khai nội dung đề tài [41,7-12]
Trang 8Trong bài “Tchekhov, nhà văn xuôi tự sự, nhà viết kịch”, Phạm Vĩnh Cư đã
phát biểu những ý kiến quan trọng về nghệ thuật của Sêkhôp trên nhiều phương diện Trước hết, nhà nghiên cứu khẳng định Sêkhôp là “nghệ sĩ có một cảm hứng đặc biệt với cái thường thường bậc trung, cái ít mang dấu ấn ngoại biệt, cái không đập vào mắt ai” Cuộc sống đời thường đã “tập trung hết tâm não” của ông, trở thành “địa hạt” tiến hành những khảo sát chuyên sâu và thực hiện những khám phá
“làm hiển lộ chất bi thường trực của đời thường lẩn khuất khỏi con mắt nhiều người khác” Chính vì vậy, cảm thức cuộc sống trong truyện của Sêkhôp “bộc lộ tính “đa thanh”, “phức điệu” cực độ” Người trí thức càng bận tâm tha thiết hơn với sự đời:
“Cuộc sống sẽ đi đến đâu? Thu thút tâm não nhiều người trong họ hơn mọi câu hỏi của đời sống thực tiễn” [24,142-143-154] Việc nghiên cứu sự tiến triển của tiếng cười Sêkhôp từ những sáng tác giai đoạn đầu đến sáng tác giai đoạn chín chắn giúp tác giả đi tới kết luận về sự đa dạng trong sắc thái của nó: “từ hồn nhiên, nhẹ nhõm, vô tâm đến nặng trĩu ưu tư hay thấm đượm chất trữ tình”, đồng thời phát hiện “sự đan thoa lấp lánh đầy bất ngờ giữa cái hài và cái nghiêm” trong cốt truyện và trong nhiều nhân vật của Sêkhôp Nhà nghiên cứu đã đưa ra những nhận xét thú vị về mối quan hệ giữa tác giả - nhân vật và người đọc trong thế giới của nhà văn, đặc biệt là quan niệm sáng tác của Sêkhôp, trong đó có đánh giá về vai trò của người trí thức: “Tôi không tin vào giới trí thức của chúng ta, đạo đức giả, dối trá, thao cuồng, vô giáo dục, lười biếng; tôi không tin ngay cả khi họ đau khổ
và kêu ca, bởi những kẻ hà hiếp họ xuất thân ngay từ tầng lớp của họ [24,176]
Đào Tuấn Ảnh trong bài nghiên cứu “Cách tân nghệ thuật của A.Sêkhôp” đã
khái quát tính cô đọng hướng về nguyên tắc “im lặng” tối giản nhằm hướng nội, tính khách quan, mạch ngầm văn bản, sự tin cậy của nhà văn vào khả năng đồng sáng tạo của bạn đọc Nhà nghiên cứu nhận xét chính xác: “Trạng thái tâm lý nhân vật của Sêkhôp không diễn ra liên tục mà luôn phá vỡ những cái từ bên ngoài đưa vào Những
tự bạch, tự phân tích, mổ xẻ, giằng xé nội tâm, trăn trở của nhân vật luôn bị đứt quãng… Dòng tâm lý của con người xen lẫn dòng đời bất tận” [4,15-18] Đào Tuấn
Trang 9Ảnh còn đi sâu phân tích phương pháp thể hiện tâm lý của Sêkhôp và khẳng định:
“kiểu miêu tả “đoán bệnh” với sự trợ giúp của các thủ pháp nghệ thuật tượng trưng và
ấn tượng đã giúp Sêkhôp tái hiện được thế giới bên trong nhân vật với sự chuyển động
và độ sâu không cùng của nó” Đó chính là những cách tân nghệ thuật Sêkhôp đưa vào trong sáng tác của mình dựa trên cơ sở của “sự trông cậy vào độc giả” [4,24]
Trong cuốn “Giáo trình văn học Nga”, tác giả Đỗ Hải Phong đã nêu bật
những bước chuyển và đặc điểm nghệ thuật trong sáng tác của Sêkhôp qua các giai đoạn, đặc biệt chỉ ra chất “bi kịch đời thường” gắn bó mật thiết với chính thời đại, cuộc đời của nhà văn bác sỹ Sêkhôp Đồng thời cho rằng, trong giai đoạn sáng tác cuối của Sêkhôp “luôn có sự kết hợp tính tự sự và tính trữ tình làm thành “giọng điệu trữ tình- mỉa mai nước đôi” ẩn dưới mạch ngầm văn bản tạo nên “mối liên hệ tích cực giữa ba thành tố của hoạt động nghệ thuật: tác giả- văn
bản nghệ thuật- độc giả” Tác giả đã phân tích “Mạch ngầm tự sự và mạch ngầm
trữ tình trong “Một truyện đùa nhỏ”, truyện ngắn “Người trong bao” và khẳng
định “Sêkhôp là một bậc thầy của nghệ thuật xây dựng mạch ngầm văn bản” và chính điều đó tạo nên nét đặc sắc cho các truyện ngắn và truyện vừa của ông Đây thực sự là những gợi dẫn quý báu cho đề tài [83,141-144-146]
Bài “A.Sêkhôp- người trần thuật điềm tĩnh tài hoa” của Nguyễn Trường
Lịch lại chú ý đến giọng điệu, điểm nhìn của người trần thuật “toát lên bút pháp khách quan tự nhiên nhi nhiên bằng một giọng điệu điềm tĩnh”, được thể hiện qua việc nhà văn “không cầm tay dẫn dắt người đọc tới tận chốn cái gì đấy, mà chỉ bình thản giới thiệu nhằm hướng tới một chân trời mới” [62,11]
Đánh giá Sêkhôp từ cái nhìn của một nhà văn- bác sỹ có “tài chẩn bệnh”,
“bắt mạch”, “kê đơn” cho căn bệnh kinh khủng của thời đại Trong bài “Sêkhôp:
nghệ sĩ và bác sĩ”, Lê Huy Bắc cho rằng: “Với tư cách là một nghệ sỹ- bác sỹ,
Sêkhôp đã thực sự tạo nên phong cách độc đáo của riêng mình Là nhà văn hiện thực, con mắt nghề nghiệp (bác sỹ) đã giúp ông bắt mạch, lần tìm và mổ xẻ đúng căn bệnh trầm kha của thời đại Là nghệ sỹ trác tuyệt, tâm hồn ông vươn tới tận miền sâu thẳm, đầy bí ẩn trong vô thức, trong bản thể con người” [14,28] Tác giả đã thấy được mối liên hệ đặc biệt giữa khoa học và nghệ thuật làm nên thành
Trang 10công trong sự nghiệp văn học của Sêkhôp Trong “Ngòi bút chẩn bệnh của
A.Sêkhôp”, tác giả Hà Thị Hòa nhìn nhận: “Nhiều truyện của ông như những tấm
phim hiện hình của những thói đời dung tục”, từ đó đi lý giải sâu sắc “thói sợ hãi cấp trên” đã nhiễm sâu vào tâm lý con người nhất là tầng lớp trí thức, công vụ bậc trung Tác giả còn chỉ ra biệt tài chẩn bệnh “rất tài tình” của Sêkhôp, đồng thời đưa ra khả năng phòng tránh để nhân vật “vươn lên mà sống theo đúng nghĩa làm người” [48,37-38]
Năm 2004, kỷ niệm 100 năm ngày mất của A Sêkhôp, Hội nghị khoa học
“A.Sêkhôp và nhà trường Việt Nam” tổ chức tại Hà Nội, với sự tham gia của
nhiều nhà nghiên cứu phê bình và những người mến mộ ông Ngoài những bài nghiên cứu nêu trên, còn có rất nhiều bài viết cảm thụ và phân tích những tác phẩm riêng lẻ, cũng như cảm nghĩ về Sêkhôp với người đương thời và hậu thế của các tác giả tiêu biểu như: Thành Đức Hồng Hà, Nguyễn Diệu Linh, Lê Nguyên Cẩn, Đinh Thị Khang, Lê Thời Tân, Trần Lê Bảo, Lê Lưu Oanh…đã đưa ra những gợi dẫn bổ ích đối với người viết luận văn
Ngoài ra, có hơn chục khoá luận, luận văn đã nghiên cứu về thế giới nhân vật của Sêkhôp ở những góc độc khác nhau cũng đã có những đúc rút quan trọng, thuyết phục, là tài liệu tham khảo hữu ích
Xung quanh sáng tác của Sêkhôp, các bài viết tập trung nghiên cứu đặc điểm thi pháp Sêkhôp trên nhiều cấp độ Đặc biệt nhiều bài viết đã đề cập đến nhân vật trí thức, tuy chưa hệ thống và đầy đủ Hơn nữa, vấn đề so sánh nhân vật trí thức của Sêkhôp với các tác giả khác, nhất là Nam Cao của Việt Nam còn là vấn đề khá mới mẻ Dựa trên những tài liệu nghiên cứu trên, chúng tôi mạnh dạn triển khai đề tài với mong muốn đóng góp một góc nhìn đối sánh về nhân vật trí thức của Sêkhôp với Nam Cao
2.2 Vấn đề nghiên cứu nhân vật trí thức trong sáng tác của Nam Cao
Nam Cao cũng là một trong những nhà văn được giới nghiên cứu, phê bình Việt Nam chú ý hơn suốt nửa thế kỷ nay Về đề tài người trí thức đã có những ý kiến đánh giá ở nhiều khía cạnh khác nhau Trong quá trình thực hiện
đề tài, chúng tôi xin lược điểm những công trình và ý kiến đánh giá quan trọng
Trang 11liên quan đến số phận bi kịch, đời sống tâm lý thể hiện qua sức mạnh của độc thoại nội tâm và giọng điệu trần thuật
Ngay từ đầu những năm 1960, Huệ Chi và Phong Lê đã “đột phá”, mở đầu
bằng hai bài viết: “Đọc truyện ngắn Nam Cao, soi lại bước đường đi lên của nhà
văn hiện thực” và “Con người và cuộc sống trong tác phẩm Nam Cao” Đây là
những bài viết đã có nhiều khám phá đáng chú ý về tác phẩm của Nam Cao, nhất
là nhân vật trí thức tiểu tư sản Về nghệ thuật miêu tả tâm lý, Huệ Chi và Phong
Lê đã đánh giá: “Anh khai thác sâu vào những diễn biến của các tâm tư và qua chiều sâu của tâm tư những mẩu đời chật hẹp cỏn con của người tiểu tư sản, những mẩu đời quanh đi quẩn lại động cựa mãi cuối cùng vẫn đứng im một chỗ…
cứ hiện dần lên như những bóng góc cạnh và rõ nét một cách tàn nhẫn” [19,2]
Người có quá trình nghiên cứu công phu, tâm huyết và nhiều phát hiện mới
mẻ về nhà văn Nam Cao là giáo sư Hà Minh Đức Năm 1961, chuyên luận “Nam
Cao nhà văn hiện thực xuất sắc” là công trình nghiên cứu đầu tiên về sáng tác của
Nam Cao trước và sau cách mạng của ông Ở phần “Đời sống và hoạt động văn
học của Nam Cao”, tác giả giới thiệu về cuộc đời, những ảnh hưởng của gia đình,
hoàn cảnh xã hội tới sự nghiệp của Nam Cao, trong đó sớm có sự so sánh đáng chú ý: “Bước vào đời văn, Nam Cao thích hơn cả là những tác phẩm của Đôtxtôiepxki và Tsêkhôp, đặc biệt là Tsêkhôp Cũng không phải ngẫu nhiên mà Nam Cao quý mến Tsêkhôp Nam Cao tìm thấy ở Tsêkhôp sự gần gũi về quan niệm sáng tác cũng như về phong cách …Tsêkhôp thích đi sâu phân tích tâm lý nhân vật, đặc biệt là những nhân vật tiểu tư sản trí thức nghèo với những tâm trạng đầy mâu thuẫn Chủ đề sáng tác của Nam Cao về con người tiểu tư sản trí thức nghèo nhiều điểm gần gũi với những chủ đề của Tsêkhôp… Những tác phẩm của Đôtxtôiepxki và Tsêkhôp có ảnh hưởng ít nhiều đến sáng tác của Nam Cao về nội dung cũng như hình
thức biểu hiện” Đề cập đến “Chủ đề tiểu tư sản” ở phần hai “Thời kỳ trước Cách
mạng tháng Tám”, nhà nghiên cứu đã đề xuất khái niệm “nhân vật trí thức kiểu Nam
Cao” và đặc biệt quan tâm đến tính chân thực của hình tượng này: “Nhân vật trí thức kiểu Nam Cao được tập trung phản ánh một số nét điển hình và chân thực về tâm lý
Trang 12và sinh hoạt của các tầng lớp trí thức thành thị trong thời kỳ Đại chiến thế giới lần thứ
II Đó là thời kỳ bản thân họ đang phải đấu tranh gay gắt tìm đường thoát khỏi tình trạng bế tắc của cuộc sống, vươn tới lý tưởng tốt đẹp hơn” [31,30-110] Ngoài ra, Hà Minh Đức nhận xét khái quát về nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật Nhưng phải đến
năm 1982, trong bài “Nam Cao và nghệ thuật sáng tạo tâm lý”, ông mới đi sâu
nghiên cứu chuyên biệt về nghệ thuật sáng tạo tâm lý Hà Minh Đức nhận xét: Nam Cao đã thể hiện một nghệ thuật miêu tả tâm lý già dặn và đặc biệt chú ý “chất tâm lý” của nhân vật trí thức, đến việc miêu tả thiên nhiên gắn với việc thể hiện tâm lý nhân vật, sự tự nhận thức… và nhất là “Nam Cao sử dụng nhiều độc thoại nội tâm để biểu hiện nhân vật… Nam Cao không phải là nhà văn đầu tiên sử dụng độc thoại nội tâm nhưng là tác giả vận dụng nhiều nhất độc thoại nội tâm và có hiệu quả nhất” Hà Minh Đức còn cho rằng: “dòng tâm lý trong tác phẩm của Nam Cao vận động qua nhiều cảnh ngộ nhưng vẫn quẩn quanh, tù túng, không tìm được hướng giải thoát Nó không được giao lưu với hành động nên có những phát triển ở bên trong, ngày càng
đi sâu vào nội tâm Ở đây có những trạng thái tâm lý gần gũi với miêu tả tâm lý của Đốtxtôiépxki và đặc biệt là Sêkhốp” [32,73]
Trong bài “Nam Cao phê phán và tự phê phán” năm 1992, Hà Minh Đức lại
tiếp tục chỉ ra: “Yếu tố tự phê phán trong tác phẩm của Nam Cao bắt nguồn từ sự ý thức của Nam Cao trong cuộc sống hàng ngày” và “ý thức phê phán của nhân vật thực chất là sự phê phán hoàn cảnh nhân vật trí thức của Nam Cao có nội lực khỏe nên ý thức tự phê phán mạnh” đã tạo nên ở các nhân vật cái ranh giới rất rõ rệt không thể vượt qua: ranh giới giữa cái tốt và cái xấu Chính vì vậy, “yếu tố tâm lý trở thành đối tượng miêu tả trực tiếp” và “độc thoại nội tâm là phương thức biểu hiện quan trọng” trong miêu tả sự vận động ý thức của nhân vật trí thức [33,42] Những bài viết của Hà Minh Đức có ý nghĩa đặc biệt đối với người viết trong quá trình tìm hiểu nhân vật trí thức của Nam Cao
Trong “Nam Cao khát vọng về một cuộc sống lương thiện, xứng đáng”,
giáo sư Nguyễn Văn Hạnh đã cho rằng: Nam Cao dồn nhiều suy nghĩ thiện cảm cho người trí thức nghèo- “có trình độ học vấn, có ý thức hơn về số phận, có nhiều
Trang 13điều băn khoăn về ý nghĩa của cuộc sống, về giá trị làm người” Qua họ, “Nam Cao đã đề cập đến một tấn bi kịch của con người và xã hội mà càng từng trải, càng
có ý thức về nhân phẩm, về cống hiến, về ý nghĩa của cuộc sống, người ta càng thấy ghê rợn, đó là bi kịch sống mòn” [44,22-26]
Trong “Bi kịch tự ý thức- nét độc đáo trong cảm hứng nhân đạo của Nam
Cao”, Đinh Trí Dũng đã đi sâu khẳng định một khía cạnh liên quan đến vấn đề
chúng tôi đang quan tâm, đó là “chưa ai đưa được vấn đề tự ý thức của nhân vật lên đến mức sâu sắc, thường trực, nhất quán như ở ngòi bút của Nam Cao” Và “trong cuộc đấu tranh vươn tới lẽ sống nhân đạo ở các nhân vật tiểu tư sản của Nam Cao…
có nhiều mất mát, bi kịch” nhưng “sự tự ý thức dường như là tự nhiên, thường trực trở thành một bộ phận không thể thiếu của con người” [28,35]
Bài viết “Nam Cao và sự lựa chọn một chủ nghĩa hiện thực kiểu mới” của
Phạm Xuân Nguyên đã khẳng định sự vượt trội của Nam Cao so với các tác giả cùng thời Về nhân vật trí thức, ông đã vạch ra mâu thuẫn “giằng xé giữa cái sống
và kiếm sống với cái làm nghệ thuật và phụng sự nghệ thuật” bằng cách “tác giả nhập vào nhân vật để nó tự suy nghĩ phân tích”, tạo “một khả năng mới trong mối quan hệ tác giả- nhân vật” Kết quả, “Nam Cao đã đa thanh hoá giọng điệu tự sự, giọng tác giả và giọng nhân vật đan xen, hoà trộn vào nhau, tiếng nói tác giả và tiếng nói nhân vật phụ hoạ nhau, tranh cãi nhau” [72,74]
“Lối văn kể chuyện của Nam Cao” của Phan Diễm Phương là một bài viết
chuyên sâu đưa ra nhiều phát hiện mới mẻ về nghệ thuật kể chuyện của Nam Cao Tác giả khẳng định giọng văn Nam Cao phong phú mà sinh động, hấp dẫn: “Trong truyện của Nam Cao, ta gặp lối kể chuyện bằng nhiều chất giọng: nghiêm nghị và hài hước; trân trọng, nâng niu và nhạo, đay, mỉa” Đặc biệt giọng văn Nam Cao vừa mang tính chất triết lý nhưng cũng thấm đẫm chất trữ tình, với đặc điểm này,
“truyện ngắn Nam Cao có thể ôm vào mình những cặp đặc điểm đối nghịch: sắc lạnh và tình cảm, tỉnh táo nghiêm ngặt và chứa chan trữ tình” [86,134-136]
Nhân kỷ niệm 50 năm ngày mất của Nam Cao, Trần Đăng Suyền cho ra
đời chuyên luận “Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao” Đây là công trình công phu,
khẳng định sự đóng góp to lớn cũng như những cách tân nghệ thuật của nhà văn
Trang 14đối với văn học hiện thực phê phán nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
Về phương diện nhân vật, nhà nghiên cứu đã giành nhiều trang đi sâu tìm hiểu nhân vật trí thức và cho rằng: “Đề tài người trí thức tiểu tư sản khá quen thuộc đối với văn học Việt Nam 1930-1945 Nhưng chỉ đến Nam Cao, với ngòi bút hiện thực tỉnh táo, nghiêm ngặt, với sự phân tích tâm lý sắc sảo, hình ảnh những nhân vật trí thức tiểu tư sản mới hiện lên thật cụ thể và sinh động qua những tấn
bi kịch và bi hài kịch cùng với những cuộc đấu tranh tư tưởng đầy căng thẳng nhưng bế tắc Qua cuộc đời những người trí thức tiểu tư sản… Nam Cao truyền đến cho người đọc cái không khí tù túng, ngột ngạt của một xã hội ở tận cùng của sự bế tắc đang quằn quại trong những ngày cuối cùng của chế độ thực dân phong kiến” Đặc biệt, tác giả còn đi sâu làm rõ tấn bi kịch tinh thần của những cuộc đời mòn mỏi trong những lo toan căng thẳng vì miếng cơm manh áo”, và trong các hình tượng người trí thức nổi bật nhất là nhân vật Thứ “điển hình có ý nghĩa khái quát sâu sắc nhất của bi kịch” Nhà nghiên cứu còn chỉ ra sắc thái đa giọng và giọng chủ đạo trong truyện ngắn Nam Cao [91,152-162] Đây là những gợi dẫn khoa học quan trọng cho vấn đề chúng tôi quan tâm
Trong cuốn giáo trình “Văn học Việt Nam 1900- 1945” xuất bản năm
2004, phần viết về “Nam Cao”, Hà Văn Đức đã đi sâu tìm hiểu đề tài người trí
thức nghèo và nhấn mạnh đến bi kịch vỡ mộng và bi kịch chết mòn về tinh thần cũng như cuộc đấu tranh để vượt lên chính mình và hoàn cảnh Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra 4 đặc điểm thành công của nghệ thuật miêu tả tâm lý là: Khắc hoạ tâm trạng, độc thoại nội tâm, kết cấu tâm lý và hình thức tự truyện [30, 483-489]
Có thể thấy, các tác giả đã nghiên cứu nhân vật trí thức trong sáng tác của Nam Cao từ nhiều phương diện nhưng còn mang tính khái quát, chứ chưa đặt nhân vật trí thức trong cái nhìn đối sánh với các nhà văn khác trên thế giới, cụ thể
là A.Sêkhôp của văn học Nga Song những nhận định thống nhất, chính xác về nhân vật, đời sống tâm lý của người trí thức và giọng điệu kể chuyện là tiền đề quan trọng để chúng tôi thực hiện đề tài
2.3 Vấn đề so sánh Sêkhôp và Nam Cao ở Việt Nam
Trang 15Ở Việt Nam, hướng tiếp cận Nam Cao từ góc độ so sánh với các tác gia văn học nước ngoài đã manh nha từ thập niên 60,70,80 của thế kỷ XX Các nhà nghiên cứu như Phan Cư Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn Đức Đàn, Phong Lê đã đưa
ra những lời nhận định có tính chất khái quát về Sêkhôp và Nam Cao nhưng chưa
có một công trình nào đi sâu nghiên cứu từ góc độ văn học so sánh Trong “Nam
Cao- nhìn từ cuối thế kỷ”, giáo sư Phong Lê định hướng: “Vấn đề đánh giá sự phát
triển nghệ thuật của Nam Cao với tư cách người nghệ sỹ, và sự soi sáng vấn đề từ một chân dung khác- Tsêkhôp trong văn học Nga, quả gợi được nhiều điều thú vị Đạt đến đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực ở thời kỳ tiền Cách mạng, thực hiện tích cực cuộc canh tân văn học trong hoàn cảnh xã hội thuộc địa, Nam Cao có vị trí tựa như Tsêkhôp, không chịu lui vào bóng rợp của hai cây đại thụ Đốtxtôiepxki và Tônxtôi, mà tự vạch lấy đường đi cho mình vào những năm giao thời giữa hai thế
kỷ Cả hai, Nam Cao và Tsêkhôp đều tìm về chủ nghĩa hiện thực đời thường, soi
chiếu các giá trị phổ quát của đời sống vào “Những chuyện không muốn viết”, vào
những điều tưởng như chi ly, vặt vãnh” [59,108]
Sang thập niên 90, đã có những bài viết chuyên sâu so sánh Nam Cao với
một số nhà văn trên thế giới Đặc biệt, trong bài viết “A.Sêkhôp và Nam Cao- một
sáng tác hiện thực kiểu mới”, dưới góc độ lý luận văn học nhà nghiên cứu Đào
Tuấn Ảnh đã đi tìm sự tương đồng trong sáng tác của hai nhà văn “trên cơ sở phương pháp loại hình”, để từ đó “vượt” qua sự giống nhau “bên ngoài” đi vào sự giống nhau về bản chất “bên trong” Tác giả nhấn mạnh: “Sêkhôp giống như một lăng kính lớn qua đó thấy rõ hơn các góc cạnh sáng tác của Nam Cao” và xác định một số đặc điểm trong hệ thống thi pháp của Nam Cao làm sáng tác của ông gần gũi với Sêkhôp, nhất là “quá trình diễn biến tâm lý phức tạp qua đó làm nổi bật lên tính bi kịch của đời thường” [3,205] Dựa trên những thành tựu nghiên cứu đã có, Đào Tuấn Ảnh tiếp tục cho ra đời hai bài viết so sánh trên những góc độ thi pháp
là “Kết cấu thời gian trong truyện ngắn Sêkhôp và Nam Cao” và “A Sêkhôp và
Nam Cao nhìn từ góc độ thi pháp”, tác giả đã chỉ ra sự tương đồng và khác biệt
giữa Sêkhôp và Nam Cao trên hai phương diện cụ thể: Cốt truyện và kết cấu thời gian trong truyện ngắn Những bài viết này đã gợi dẫn, tạo tiền đề cho người viết
Trang 16đưa ra vấn đề so sánh về nhân vật trí thức
Năm 2004, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày mất của A.Sêkhôp, đã có nhiều bài viết so sánh Sêkhôp với các nhà văn trên thế giới, trong đó có bài viết quan trọng so
sánh trực diện giữa Sêkhôp và Nam Cao của giáo sư Phong Lê với nhan đề: “Sêkhôp
và Nam Cao nhìn từ hai nền văn học” Tác giả đã “lần lượt” tìm đến những nét giống
nhau và khác nhau giữa Sêkhôp và Nam Cao Từ đó khẳng định sự tương đồng giữa hai nhà văn thể hiện ở “vai trò và sứ mệnh của mỗi người đối với lịch sử văn học dân tộc”, “ở vai trò kết thúc và đưa lên đỉnh cao chủ nghĩa hiện thực vào giai đoạn cuối của nó; một lối tư duy nghệ thuật độc đáo- đào sâu vào đời sống tâm lý và hướng vào cuộc sống nhỏ nhặt thường ngày; ở một tiếng nói thâm trầm, chua xót, giàu suy nghĩ và triết lý; ở một lối văn kiệm lời- “lời chật mà ý rộng”, giàu sức chứa và sức mở” [60,189-203] Tác giả đã dành cả phần IV đề cập đến người trí thức và những cảnh sống thừa Đây là định hướng quan trọng, nền tảng giúp chúng tôi triển khai đề tài
Ngoài ra, luận án tiến sỹ “Chủ nghĩa hiện thực hiện đại qua sáng tác của
Nam Cao (so sánh với sáng tác của Sêkhôp)” của Lý Thị Quỳnh Anh đã làm rõ chủ
nghĩa hiện thực hiện đại những thập niên đầu thế kỷ XX thông qua sự phân tích sáng tác của Nam Cao so với Sêkhôp, chỉ ra những nét tương đồng trên các khía cạnh như hiện thực tâm lý, những yếu tố hiện thực hiện đại qua nghệ thuật tổ chức truyện trong sáng tác của Nam Cao so sánh với sáng tác của Sêkhôp [1]
Các công trình nghiên cứu về nhân vật, nhất là nhân vật trí thức nói chung
và dưới góc độ so sánh giữa Sêkhôp và Nam Cao nói riêng là chưa thật chuyên sâu, song những kết luận mang tính phát hiện là cơ sở quan trọng giúp chúng tôi triển
khai đề tài “Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và Nam Cao”
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 17người trí thức mang bi kịch đời thường Qua đó, chúng ta thấy được những cách tân nghệ thuật, vị thế của Sêkhôp trong so sánh với Nam Cao và vai trò của Nam Cao trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc và sự hòa nhập vào dòng chảy của văn học thế giới
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn, chúng tôi không có tham vọng giải quyết toàn bộ vấn đề về nhân vật trí thức của Sêkhôp và Nam Cao mà chỉ tập trung khảo sát, nghiên cứu trên 3 bình diện: Bi kịch đời thường, sức mạnh của độc thoại nội tâm
trong miêu tả tâm lý người trí thức và giọng điệu trần thuật của hai nhà văn
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài “Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Sêkhôp và
Nam Cao”, chúng tôi khảo sát 32 truyện ngắn của Sêkhôp và 27 truyện ngắn của
Nam Cao (trước Cách mạng tháng Tám năm 1945) viết về người trí thức được in trong các tuyển tập sau:
- “Antôn Sêkhôp- tuyển tập tác phẩm”, Vương Trí Nhàn tuyển dịch, NXB Văn học, 1999
- “Truyện ngắn Sêkhôp”, Phan Hồng Giang dịch, NXB Văn hóa Thông tin, 2001
- “Tuyển tập Nam Cao”, tập 1, 2, NXB Văn học, 2001
- “Nam Cao tuyển tập”, tập 1, 2, NXB Văn học, 2002
4 Giới thuyết đề tài và phương pháp nghiên cứu
4.1 Khái niệm nhân vật trí thức
Theo cách hiểu thông thường, “trí thức” được dùng để chỉ những người lao động trí óc Cách hiểu này chủ yếu nhằm để phân biệt giữa trí thức với các giai tầng khác trong xã hội như: công nhân, thợ thủ công, nông dân, thương nhân Ngoài ra, còn nhiều quan niệm, định nghĩa khác về người trí thức
Theo C.Mac, trí thức là một tầng lớp lao động làm thuê, là giai cấp vô sản lao động trí óc Trong xã hội tư bản, giống như các giai cấp khác: công nhân, nông dân đa số những người thuộc tầng lớp này cũng bị giai cấp tư sản áp bức, bóc lột về sức lao động Vì thế, họ có một vai trò nhất định trong liên minh công- nông- binh- trí thức trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc
Trang 18Trong “Từ điển Tiếng Việt”, Hoàng Phê định nghĩa: “Trí thức là những
người chuyên lao động trí óc và có tri thức chuyên môn cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của mình” [81,1034]
Trong luận án tiến sĩ “Những cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của A P
Sêkhôp”, Nguyễn Thị Minh Loan đưa ra khái niệm về người trí thức như sau: Trí
thức bao gồm trí thức cao cấp, trung cấp và trí thức bình dân, mở rộng ra còn có cả quan, tu sĩ, doanh nhân, quý tộc, sinh viên, viên chức, nghệ sỹ [63,93]
Như vậy, các định nghĩa về người trí thức trên đều thống nhất cho rằng: trí thức là những người lao động trí óc Tuy nhiên, nếu chỉ định nghĩa như vậy về người trí thức thì chưa thật đầy đủ Vì vậy, chúng tôi xin đưa ra quan điểm về trí
thức trong cuốn giáo trình “Chủ nghĩa xã hội khoa học”: trí thức bao gồm những
người lao động trí óc phức tạp và sáng tạo, có trình độ học vấn đủ để am hiểu và hoạt động trong lĩnh vực lao động của mình Họ hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy, ứng dựng khoa học, văn học, nghệ thuật, lãnh đạo và quản lý [85,191] Định nghĩa trên sẽ giúp chúng ta có một cơ sở để xác định về tầng lớp trí thức trong đời sống cũng như trong văn học
Mặt khác, chúng ta lưu ý rằng, trí thức không phải là một giai cấp, mà chỉ là một đội ngũ, một tầng lớp có học vấn trong xã hội Nhưng tầng lớp này lại kết tinh những tư tưởng tiến bộ của xã hội Họ là lực lượng quan trọng tạo ra những bước chuyển đột phá trong mỗi thời kỳ phát triển của xã hội Cho nên, trong văn học nhà văn thường hay xây dựng những nhân vật trí thức, qua đó thể hiện được quan điểm,
tư tưởng nghệ thuật của mình về con người và cuộc sống
Nhân vật trí thức đã trở thành một chủ đề lớn trong văn học nói chung và văn học Nga- Việt nói riêng Họ thường là những con người khổng lồ, mang trong mình những trăn trở, dằn vặt lớn lao của thời đại: Phải làm gì? Và sống như thế nào? Nhưng phải đến Sêkhôp và Nam Cao, người trí thức mới hiện lên với tất cả những mặt mâu thuẫn, phức tạp
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tìm hiểu đề tài “Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của
Trang 19Sêkhôp và Nam Cao”, chúng tôi vận dụng ba phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp tiếp cận hệ thống, tiếp cận thi pháp, đặc biệt để hiểu sâu đối tượng nghiên cứu, một trong những phương pháp tiếp cận cơ bản là xem xét đối tượng trên bình diện so sánh với những đối tượng khác có cùng loại hình Chính vì vậy, so sánh loại hình là phương pháp xuyên suốt nhằm phát hiện những điểm tương đồng và những đặc trưng riêng về nhân vật trí thức trong sáng tác của Sêkhôp và Nam Cao
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn vận dụng một số thao tác khác như phân tích, tổng hợp, thống kê, phân loại… nhằm phục vụ mục đích của đề tài
5 Ý nghĩa của đề tài
Thông qua việc tìm hiểu bi kịch đời thường, sức mạnh của độc thoại nội tâm trong thể hiện tâm lý nhân vật trí thức và giọng điệu trần thuật của Sêkhôp
và Nam Cao, chúng tôi mong muốn vận dụng một hướng nghiên cứu có nhiều tiềm năng để thấy được sự giao thoa, gặp gỡ giữa hai mô hình đồng dạng, mang tính đặc thù của các nền văn học Nga- Việt nói riêng và quy luật vận động, phát triển mang tính tất yếu của văn học thế giới nói chung
Hơn nữa, chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu hữu ích đối với việc dạy học tích hợp giữa tác phẩm văn học nước ngoài và trong nước ở trường phổ thông Việt Nam
6 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm: Mở đầu, 3 chương, Kết luận, Tài liệu tham khảo
Chương 1: Những bi kịch đời thường
Chương 2: Sức mạnh của độc thoại nội tâm
Chương 3: Giọng điệu trần thuật
Trang 20Chương 1: NHỮNG BI KỊCH ĐỜI THƯỜNG
CỦA NHÂN VẬT TRÍ THỨC
Như một quy luật tất yếu, văn chương không phải lúc nào cũng là bản anh hùng ca, là cái đẹp viên mãn hay tiếng cười sảng khoái Văn chương đôi khi chính là những tiếng thở dài, xung đột gay gắt, xuất phát từ những đòi hỏi, khát vọng chân chính của con người Nói cách khác, văn chương là cuộc sống, nghệ thuật chân chính là nghệ thuật vì cuộc sống Cuộc sống ở khía cạnh bản chất nhất chính là cuộc sống thường ngày- cuộc sống đời thường Nhiệm vụ của người nghệ sỹ phải tìm ra cái quy luật chung có tính tất yếu về “sự thật của bản thân đời sống” biểu hiện trong cái hàng ngày
Viết về nhân vật trí thức, Sêkhôp và Nam Cao khơi sâu vào tấn “bi kịch tinh thần” chứ không đề cập đến ý thức chính trị hay lập trường cách mạng Sự vĩ đại của hai nhà văn là khám phá sự thật đời thường, phát hiện “bi kịch đời thường” luôn tiền ẩn trong những cái vụn vặt, những điều vặt vãnh lặp đi lặp lại hàng ngày Nâng “bi kịch tinh thần” thành “bi kịch của vĩnh cửu”, bắt những điều vặt vãnh nhất cũng phải nói lên tiếng nói về ý nghĩa cuộc sống đó là mục đích của cả Sêkhôp và Nam Cao Tất cả những chuyện bình thường của anh, của tôi, của chúng ta dưới ngòi bút sắc sảo của nhà văn đều trở thành những vấn đề có ý nghĩa xã hội lớn lao Từ “sự nhàm chán, buồn tẻ, loãng nhạt, vô vị đó mà cất một câu hỏi lớn- một cuộc sống như vậy có đáng gọi là cuộc sống không? Và ý nghĩa của cuộc đời là gì?” [60,192]
1.1 Bi kịch đời thường- những khám phá tương đồng của Sêkhôp và Nam Cao
1.1.1 Khám phá sự thật đời thường
Trong quá trình sáng tác, Sêkhôp và Nam Cao đã sớm tìm ra “cái chung có tính quy luật”, “tính tất yếu” làm nên “sự bất tử” của truyện ngắn, đó là sự thật đời thường Sêkhôp đã từng phát biểu về sứ mạng ngòi bút của mình: “Văn học được coi là có tính nghệ thuật vì nó vẽ tả cuộc sống như vốn có trong thực tế Mục tiêu của văn học là sự thật tuyệt đối và trung thực ” [41,4] Mượn lời nhà văn Điền
Trang 21trong “Giăng sáng”, Nam Cao phát biểu: “Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa
dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than…” Nhiệm vụ của người nghệ sỹ phải “đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời…” Sêkhôp và Nam Cao đã có sự gặp gỡ trong quan điểm sáng tác: nghệ thuật chân chính phải trung thành với hiện thực khách quan của đời sống; người cầm bút phải miêu tả chân thực, nhìn thẳng vào sự thực “tàn nhẫn”, phanh phui cả cái tích cực và cái tiêu cực, cả cái tốt đẹp và cái bùn lầy, nói lên nỗi thống khổ, cùng quẫn của nhân dân, thôi thúc con người đến cái đẹp
Cái hàng ngày, cái đời thường là mảng đề tài phổ biến nhất, là nguồn cảm hứng dồi dào, bất tận để Sêkhôp và Nam Cao tìm kiếm, khám phá sự thật đời thường Trong cái phong phú và phức tạp của cuộc sống hàng ngày, hai nhà văn hướng đến cái nhỏ bé, cái đời thường, thậm chí là tầm thường Đó là những
“Chuyện đùa nho nhỏ”, “Chuyện đời vặt vãnh”, “Chuyện không muốn viết” xảy ra
hàng ngày hết sức đơn giản, không có gì quan trọng, không gây sự chú ý, giật gân
“Chuyện đời vặt vãnh” của Sêkhôp có thể là chuyện viên y sĩ nhổ răng cho viên
trợ tế nhà thờ, chuyện cả đời mơ ước được ăn quả phúc bồn tử chua loét, chuyện giáo sư già ngẫm lại cuộc đời đã qua của mình, chuyện người đàn bà phù phiếm,
thích hư danh, luôn mơ ước hão huyền; còn ở Nam Cao là những chuyện “Nhỏ
nhen”, chuyện “Quên điều độ”, chuyện dạy trẻ con quét nhà, chuyện mua một căn
nhà mới, chuyện vợ chồng cắn rứt nhau…Dường như trong cuộc sống có bao nhiêu biến cố, bao nhiêu sự kiện, bao nhiêu lát cắt đời thường đều có thể trở thành một trong những thiên truyện ngắn của hai ông Tất cả những gì diễn ra hàng ngày, tất cả những số phận, những kiếp người dù chỉ một lần thoáng gặp, thoáng
đi qua cuộc đời của nhà văn cũng đều có thể trở thành cảm hứng sáng tạo của hai
ông Trong những “Chuyện đời vặt vãnh”, “Những chuyện không muốn viết”,
Sêkhôp và Nam Cao đã nhìn thấy những đặc tính tiêu biểu của nếp sống chung,
Trang 22chỉ ra những cái không bình thường trong cái tưởng như là bình thường Đó là cuộc sống với sự vận động bề mặt hết sức đơn điệu, tẻ nhạt nhưng lại ngầm ẩn chứa những vận động tâm trạng hết sức phức tạp và tinh tế, những day dứt bức bối, những bừng ngộ bất ngờ, những dự cảm, ước mơ đôi khi còn mơ hồ chưa ý thức được hết Có thể nói, trong quan niệm sáng tác của Sêkhôp và Nam Cao cái hàng ngày không chỉ biểu hiện trên phương diện đề tài mà còn là hạt nhân tạo nên
ý nghĩa thẩm mỹ và ý nghĩa triết lý cho các truyện ngắn của hai ông
Tính chân thật là sức mạnh trong sáng tác của Sêkhôp và Nam Cao Hai nhà văn đã gặp gỡ trong phương pháp, cách thức khám phá sự thật đời thường
M Gorki từng khẳng định: “Tất cả những con người ấy, kẻ xấu cũng như người tốt, đều sống trong câu chuyện của Sêkhôp đúng như họ sống trong hiện thực Trong truyện ngắn của Sêkhôp không có cái gì mà lại không có trong cuộc sống Cái sức mạnh khủng khiếp của tài năng Sêkhôp chính là ở chỗ ông không bao giờ tự bịa đặt ra một cái gì, không bao giờ miêu tả một cái gì không có trên đời này, tuy có thể là tốt đẹp, có thể là đáng mong ước Ông không bao giờ tô vẽ con người…” [37,47] Nhà nghiên cứu Trần Đăng Suyền cũng nhận xét đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Nam Cao: “Đưa truyện trở về dạng “đời thật” nhất, đồng thời, soi rọi vào đó một luồng ánh sáng rất mạnh của tư tưởng, bắt những chuyện vặt vãnh, những cảnh đời thường hàng ngày quen thuộc nói lên những ý nghĩa sâu sắc về con người, về cuộc sống và nghệ thuật” [91,45]
Nguyên tắc miêu tả chân thực trong sáng tác có mối liên hệ trực tiếp với quan niệm của Sêkhôp và Nam Cao về sứ mệnh, nhiệm vụ của người nghệ sỹ Sêkhôp nói: “… công việc của người nghệ sỹ không phải là giải quyết những vấn đề chuyên môn hẹp… Nghệ sỹ chỉ nên xét đoán về điều gì anh ta hiểu biết; phạm vi của anh ta cũng có hạn như phạm vi của bất cứ chuyên gia nào… hai khái niệm: giải quyết vấn đề và đặt đúng vấn đề Chỉ có điểm sau là bắt buộc đối với nghệ sỹ” Đặc biệt, ông đề cao cộng đồng sáng tạo: “khi viết tôi hoàn toàn tin cậy vào bạn đọc vì cho rằng những yếu tố chủ quan còn thiếu, bạn đọc sẽ
Trang 23thêm vào” [22,447] Qua lời của văn sỹ Hộ trong “Đời thừa”, Nam Cao đã phát
biểu nhiệm vụ của người cầm bút: “Văn chương không cần những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa có” Sêkhôp và Nam Cao đã “đào sâu”, khơi trúng cái sự thật đời thường bằng ngòi bút chân thực khách quan của một chủ nghĩa hiện thực tỉnh táo, nghiêm ngặt với một tấm lòng thiết tha sôi nổi rất mực yêu thương những con người bình thường với tất cả những mặt xấu tốt của nó
Nhân vật hoạ sỹ trong “Ngôi nhà có căn gác nhỏ” thay lời Sêkhôp khẳng
định mục đích lớn lao mà mỗi tác phẩm nghệ thuật đích thực phải hướng tới:
“…nền khoa học và nghệ thuật chân chính không nhằm mục đích riêng lẻ, nhất thời mà bao giờ cũng hướng về những gì chung mà vĩnh viễn Khoa học và nghệ thuật đi tìm sự thật và ý nghĩa của cuộc sống, tìm Thượng đế, tìm tâm hồn…” Nam Cao thì khẳng định: “Một tác phẩm có giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả
bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho tất cả loài người Nó chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình…Nó làm cho người gần người hơn” Với mục đích chân chính đó, Sêkhôp và Nam Cao đặt chúng ta đối diện với cuộc sống, nhìn thẳng vào nó mà hiểu mà thấy mình đang sống “tồi tệ” và “buồn tẻ”,
“nghèo” và “hèn” như thế nào Truyện của Sêkhôp và Nam Cao có tác dụng lay động và “thức tỉnh trong con người lòng kinh tởm đối với cuộc sống tẻ nhạt, cái cuộc sống chẳng khác cái chết mấy đỗi này” [38,344]
Quan điểm của Sêkhôp và Nam Cao về sứ mệnh nghệ thuật, về nhiệm vụ của nghệ sỹ là nhất quán, thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa nghệ thuật và cuộc sống, nhà văn và bạn đọc, khẳng định một lần nữa cái nhìn khách quan, có chừng mực của hai ông về cuộc sống Sêkhôp và Nam Cao đã phát ngôn đầy đủ và sâu sắc hơn về đặc trưng và nguyên tắc sáng tác của chủ nghĩa hiện thực Trên cơ sở “nghệ thuật vị nhân sinh”, hai ông khơi sâu vào cái hàng ngày, tìm ra “sự thật đời thường”,
Trang 24khám phá bi kịch tinh thần của người trí thức
1.1.2 Khám phá bi kịch đời thường
Theo “Từ điển tiếng Việt”, “bi kịch” được hiểu trước hết là “thể loại kịch thể
hiện sự diễn biến gay gắt của mâu thuẫn, thường kết thúc bằng sự thất bại, hi sinh của nhân vật chính diện” Hai là “cảnh éo le, mâu thuẫn dẫn đến đau thương” [81,60] Mục đích mà chúng ta tìm hiểu là bi kịch của những khát vọng con người, chứ không đề cập đến phạm trù rộng cái bi Đó là bi kịch phổ biến mà con người thường gặp lại ở ngay trong chính cuộc sống xã hội của con người, bắt nguồn chủ yếu từ những mâu thuẫn, xung đột của những cá nhân trong cuộc sống hàng ngày, được biểu hiện trong những hoàn cảnh cụ thể rất đa dạng Đó là bi kịch trong cái hàng ngày hay còn gọi là bi kịch đời thường
Con người bình thường mà Sêkhôp và Nam Cao quan tâm nhất trong thời buổi rối ren là những người trí thức Trong truyện ngắn Sêkhôp, họ là những trí thức bình dân làm nhiều nghề nghiệp khác nhau, nhiều nhất là bác sỹ, giáo viên, luật sư… Họ xuất thân trong những gia đình bình thường, phải kiếm sống bằng chính sức lao động của mình Cuộc sống của những giáo khổ trường tư, những nhà văn “vỡ mộng”, những anh học trò nghèo thất nghiệp với những lo lắng tẹp nhẹp về vật chất, cơm áo cũng đi vào sáng tác của Nam Cao một cách tự nhiên như chính hiện thực ngoài đời mà nhà văn đã trải qua
Viết về người trí thức, Sêkhôp và Nam Cao không chỉ phản ánh đời sống vật chất tầm thường, dù không ít lần đề cập đến cuộc sống thiếu thốn Mục đích cao nhất của hai ông là tập trung xoáy sâu, làm nổi bật tấn bi kịch tinh thần của họ trong cuộc sống hàng ngày Đó là trạng thái đau khổ về tinh thần khi con người đứng trước những mâu thuẫn, xung đột không thể hoá giải, điều hoà giữa ước mơ, khát vọng chân chính đời thường và thực tiễn cuộc sống Họ tự ý thức được tình trạng của mình, song bàng quan, thoả hiệp, sợ hãi chui vào bao, tha hóa hoặc cố tìm lối thoát nhưng không tìm được, sống trong dằn vặt, đau đớn, dày vò Đặc biệt trong quá trình đi sâu phân tích tấn bi kịch tinh thần, khám phá “con người trong con
Trang 25người”, Sêkhôp và Nam Cao phát hiện bi kịch của người trí thức nằm ngay trong cuộc sống hàng ngày mà họ không chịu thừa nhận hoặc cố tình lẩn trốn nó
Không phải ngẫu nhiên, Sêkhôp và Nam Cao quan tâm đến đời sống tinh thần, chỉ ra bi kịch đời thường của người trí thức Nhà văn chỉ có thể viết hay nhất, sâu sắc nhất về những gì mà mình nếm trải Cùng sinh trưởng trong những gia đình nghèo, sớm phải tự thân kiếm sống, bệnh tật đeo đuổi, Sêkhôp và Nam Cao am hiểu và thấm thía sâu sắc thân phận chính mình và bi kịch tinh thần của người trí thức nghèo Họ là những người có học, có ước mơ hoài bão nhưng sống
“buồn tẻ”, “nghèo hèn”, không phát huy được tài năng, hoặc quên lãng khát vọng chân chính của mình
Sinh ra và lớn lên ở hai đất nước, hai thời kỳ lịch sử khác nhau nhưng Sêkhôp và Nam Cao cùng chứng kiến những chuyện chướng tai gai mắt của chế
độ đương thời Những năm 80 thế kỷ XIX, khi Sêkhôp bắt đầu hoạt động văn học, cả nước Nga đang trong “buổi hoàng hôn” ảm đạm của “một xã hội cổ lỗ,
mà lại hoang dại tối tăm, và cái chính là nó cứ mòn mỏi trôi qua trước mắt mọi người Một ít cải cách có được thực hiện, song rút cục mọi chuyện vẫn đâu đóng đấy” [76,16] Người trí thức Sêkhôp đã vượt lên trên thực tại tầm thường, sôi sục một tinh thần dân chủ triệt để, chống đối những mưu toan loại bỏ văn nghệ ra ngoài cuộc đấu tranh xã hội, không đồng ý với triết lý “việc nhỏ” mang tính cải lương và phê phán những thói tật của giới trí thức đương thời “Cuộc sống tẻ nhạt, cái cuộc sống chẳng khác chết mấy đỗi này” cần phải thay đổi đó là mục đích mà Sêkhôp muốn thức tỉnh con người
Nam Cao xuất hiện trên văn đàn khi chế độ nửa thực dân phong kiến vẫn đang tồn tại, phát xít Nhật xâm lược Đông Dương, chiến tranh thế giới lần thứ hai sắp xảy ra, nhân dân Việt Nam đang sống trong cảnh một cổ hai tròng Phản ánh trung thực cuộc sống quẩn quanh, mòn mỏi của người trí thức tiểu tư sản, Nam Cao đã đụng chạm đến căn bệnh một thời của những người tiểu tư sản Việt Nam Họ nghèo đói, thiếu thốn về vật chất, bị tù túng, giam hãm về tinh thần nên mang một tâm lý
Trang 26chung: thụ động, sợ đổ vỡ, ngại thay đổi, sợ va chạm…Tâm lý yếu đuối này bắt nguồn từ địa vị kinh tế và chính trị bấp bênh, tính chất hay dao động và do dự của giai cấp tiểu tư sản Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám Nam Cao đã phản ánh trung thực, dũng cảm vạch trần những mặt thấp kém, xé toang lớp vỏ hào nhoáng bên ngoài để chỉ ra căn nguyên, ngọn nguồn khởi phát bi kịch đời thường
Hoàn cảnh lịch sử, bối cảnh văn học, cuộc đời của mỗi nhà văn đã lý giải tại sao Sêkhôp và Nam Cao lại đi sâu vào những chuyện vặt vãnh đời thường, những chuyện tưởng chừng như không muốn viết về tầng lớp mình, cuộc đời mình Vương Trí Nhàn đã nhận xét khi viết về Sêkhôp và có thể song trùng với cả sáng tác của Nam Cao: “Như những bức tranh có một gam màu duy nhất, và thoạt trông ai cũng biết ngay là tác giả” và “truy nguyên đến cùng, cái cảm giác về đời sống toát lên từ những trang văn Sekhov hẳn có điều gì đó liên quan tới hoàn cảnh lịch sử mà nhà văn này đang sống” [76,12- 16]
Khám phá bi kịch tinh thần, Sêkhôp và Nam Cao đã phát hiện ra bi kịch đời
thường của người trí thức Họ không phải là Anđrây Bônkônxki (Chiến tranh và
hoà bình), hay Raxkônnhikôp (Tội ác và hình phạt) theo đuổi những hoài bão, tư
tưởng lớn lao mang tầm vóc thời đại mà hướng suy nghĩ, trăn trở vào cuộc sống thường ngày Họ đang vật lộn trong những mâu thuẫn, xung đột tưởng như bình thường không ai băn khoăn, thắc mắc đang gặm nhấm, đầu độc cuộc sống con người và đẻ ra hàng loạt những cuộc sống thừa, những cảnh đời thừa, đẩy con người đứng trước bờ vực của sự tha hoá ngay trong nhịp sống uể oải hàng ngày Nhà nghiên cứu Đào Tuấn Ảnh khái quát: “Đây chính là “thái độ dân chủ đối với chất liệu, là chủ nghĩa nhân văn cao cả của Sêkhôp và Nam Cao, là sự mẫn cảm đặc biệt của những nhà văn lớn trước những yêu cầu, đòi hỏi mới của thời đại- thời đại diễn ra quá trình hiện đại hoá, dân chủ hoá gấp rút trong lĩnh vực văn hoá, văn nghệ [6,100]
1.2 Bi kịch đời thường của nhân vật trí thức trong truyện ngắn Sêkhôp
Qua ngòi bút chẩn bệnh tài tình của Sêkhôp, bi kịch đời thường của người trí thức hiện ra với những biến dạng rất tinh vi: bi kịch người trong bao, bi kịch sự
Trang 27tha hoá, bi kịch của sự bừng tỉnh muộn màng
1.2.1 Bi kịch người trong bao
Hình ảnh “cái bao” là sáng tạo độc đáo của Sêkhôp trong truyện ngắn
“Người trong bao” Ngoài ý nghĩa cụ thể, nó còn là một biểu tượng mang ý
nghĩa ẩn dụ Nói như thầy giáo Burkin, thứ bao này là “một dạng tính cách” của
“cái thứ người bản tính vốn ưa sống đơn độc như con ốc, con sên lúc nào cũng
cố thu mình vào trong vỏ ốc” Để tránh mọi ảnh hưởng bên ngoài, Bêlikốp- một giáo viên dạy tiếng Hy Lạp đã tạo cho mình một thứ bao hoàn hảo, làm nên phong cách trong bao Đó là một chân dung chìm lấp đi trong lớp lớp những cái bao khác nhau: bao trang phục, bao thân hình, bao vật dụng, bao ý nghĩ Trong công việc, hắn khống chế trường học bằng bao thận trọng, đa nghi suốt mười lăm năm trời Hắn ca ngợi quá khứ, “những chỉ thị, thông tư, những bài báo cấm đoán điều này điều nọ mới là những cái rõ ràng”, còn “mọi chuyện vi phạm khuôn phép, hơi trái với lẽ thường đều làm hắn rầu rĩ”, lo lắng ra mặt và luôn miệng nói “nhỡ có chuyện gì xảy ra” Hắn “duy trì tốt mối quan hệ với các bạn đồng nghiệp” bằng cách “chẳng nói chẳng rằng, mắt nhìn xung quanh…ngồi im như phỗng thế rồi một giờ sau thì cáo từ” Trong cuộc sống sinh hoạt, hắn thu mình vào cái bao vật chất chật cứng, kín mít Đến cả hạnh phúc riêng tư hắn cũng cân nhắc trong bao phận sự, nghĩa vụ, tương lai Bị tiếng cười của Varenka tấn công, Bêlikốp sợ hãi đến cùng cực, chui sâu hơn vào bao và chỉ thấy mãn nguyện khi “được chui vào cái bao mà từ đó không bao giời hắn phải thoát ra nữa” Sau câu chuyện kể về cuộc đời Bêlikốp- một kiểu “người trong bao”, bác
sỹ Ian Ivannứts đã nhận thức và thốt lên rằng: “Chúng ta sống chui rúc ở thành phố này trong không khí ngột ngạt, chúng ta viết những giấy tờ vô dụng, đánh bài, đánh bạc, những cái đó há chẳng phải là một thứ bao sao? Chúng ta sống cả đời bên những kẻ vô công rồi nghề, những kẻ xui nguyên giục bị, những mụ đàn
bà nhàn rỗi ngu si, chúng ta nói và nghe đủ thứ chuyện nhảm nhí, vô nghĩa đó chẳng phải là một thứ bao sao?” Như vậy, cái bao vừa là biểu tượng cho cuộc sống ngột ngạt, bức bối, bó buộc, vừa là biểu tượng cho lối sống che đậy, thu
Trang 28mình, ích kỷ, bảo thủ trì trệ, vừa là biểu tượng cho tâm lý nô lệ, tha hóa nhân cách đến mức trốn tránh thực tế, luôn luôn rúm ró trước bất cứ điều gì Sêkhôp
đã phát hiện và nhận thức sâu sắc những “cái bao” đang giam hãm, kìm kẹp con người, mỗi cái một vẻ, phong phú, độc đáo Chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu những
“cái bao” đang bủa vây, đẩy người trí thức vào bi kịch sợ hãi chui vào bao
Thẩm phán Aliôkhin (Một câu chuyện tình yêu) là một trí thức có tài Nhiều
năm nay, cuộc sống của anh vẫn giậm chân tại chỗ, chấp nhận “sống mòn” nơi làng quê, xa rời tất cả những hứng thú và đam mê nghiên cứu khoa học Tức là Aliôkhin
tự nguyện, chấp nhận lối sống trong bao- buồn bã, tẻ nhạt, để cuộc đời trôi đi vô vị giữa một trang ấp mênh mông Nguy hiểm hơn, lối sống trong bao đã chi phối cả suy nghĩ, hành động của Aliôkhin Khi làm thẩm phán của hội đồng thành phố, anh
đã thầm yêu Anna Alêchxâyépna - một phụ nữ đã có chồng, trẻ trung, xinh đẹp, phúc hậu, thông minh và có học thức Trước những suy nghĩ, đắn đo tính toán về hạnh phúc hay bất hạnh, về sự trung thực trong tình yêu, về sự tự ti của bản thân, Aliôkhin đã không đủ dũng cảm, quả quyết đến với tình yêu, đánh mất vĩnh viễn hạnh phúc của mình, đẩy Anna vào tâm trạng bức bối, suy nhược thần kinh Cuối cùng, anh sống trong day dứt, dằn vặt và Anna mãi mãi dời xa anh
Trong truyện ngắn “Thủ đoạn”, đốc tờ Sêlextốp đã rơi vào nỗi sợ hãi của
những mặc cảm cá nhân Để che đậy những yếu kém trong chuyên môn trước buổi họp Hội các bác sỹ thành phố, ông đã dàn dựng một vở kịch vô cùng hoàn hảo trong ý nghĩ, tư tưởng Nhưng tiếc thay, thái độ cao ngạo, thách thức, đầy chiến thắng đã hoàn toàn thất bại khi một mình đối diện với nỗi sợ- sự mặc cảm yếu hèn của chính mình Sêlextốp cố gắng gượng vượt lên nhưng lại bị chính nỗi
sợ hãi lấn át, chống đối Ông luôn có cảm giác xung quanh mình đầy những thủ đoạn: mọi thứ, mọi vật từ cái áo lông, đôi ủng cao su, chiếc mũ; bọn xà ích, chiếc xe, gió lạnh, tuyết ẩm ướt, con ngựa… “Tất cả đều đồng lõa với nhau, tất
cả đều giở thủ đoạn xấu xa” Thậm chí, nhìn khuôn mặt mình trong gương, ông
“cảm thấy rằng chính khuôn mặt này cũng đang dở thủ đoạn chống lại ông”
Trang 29Chân dung Sêlextốp trở lên kệch cỡm, đần độn và kỳ quặc, nỗi sợ hãi của con người bên trong lấn át biểu hiện của con người bên ngoài Chính mình không thoát ra khỏi cái bao của mình nên nhìn đâu cũng thấy “thủ đoạn”
Ivan Gromov trong “Phòng 6” sợ hãi, hèn yếu đến mức phát điên phải chui
vào cái bao “vô luân” Là một trí thức, anh nhận biết được cuộc sống “ngột ngạt
và buồn tẻ” cần phải có những cải cách thay đổi thị trấn, nhưng chỉ nghĩ mà không làm, sống thu mình trong tâm trạng “ủ dột” Trước sự việc áp giải tù nhân diễn ra hàng ngày, một mối “lo âu” không sao hiểu nổi làm anh xa lánh mọi người, sống trong “đọa đày”, tìm cách che dấu tâm trạng và thức suốt đêm để chờ “người ta đến bắt” Nỗi lo âu và tuyệt vọng khống chế Ivan Gromov đến mức anh tìm cho mình một cái bao cô lập để trốn tránh nỗi sợ hãi Vụ án hai cái chết đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý của anh Tưởng người thợ sửa lò là những tên mật thám đến bắt mình, anh “hoảng hốt lẻn ra khỏi nhà”, cứ chạy trên phố và có cảm giác
“bạo lực của cả thế giới này đã đổ dồn hết lên lưng anh và đuổi diết theo anh” Ivan Gromov đã bị mọi người coi là bệnh nhân tâm thần và đẩy vào phòng 6 Điều trị tại bệnh viện “vô luân” tình trạng bệnh tật của Gromov ngày càng trầm trọng hơn “Lo lắng và ghê sợ đến cùng cực” làm anh phản ứng mãnh liệt với hoàn cảnh, luôn sống trong trạng thái khích động, sẵn sàng chờ đợi một điều
gì mơ hồ sắp xảy ra: “Họ đến bắt mình chăng? Họ lùng mình chăng?” Nỗi sợ hãi tột đỉnh đã biến Ivan Gromov trở thành một bệnh nhân điên dại theo đúng như lời bác sỹ Raghin “không nên cản trở người ta khi người ta điên” Giờ đây, Ivan Gromov sợ hãi thu mình trong cái bao khép kín do mình tạo ra và xã hội đẩy vào, tồn tại quẩn quanh trong thế giới tù đọng, hăng hái nhiệt thành nói về
“sự hèn hạ của con người, về bạo lực chà đạp lên chân lý, về cuộc sống tươi đẹp của nhân loại sau này”
Với mong ước được an toàn, rất nhiều trí thức như: Raghin (Phòng 6), Xtarxép (Iônứts), Laevski (Đấu súng), Ippolit (Thầy giáo dạy văn), Kôvin (Nhà
tu hành vận đồ đen) … cũng chọn và gói mình trong những thứ bao khác nhau
Trang 30để thoả hiệp với chính mình và cuộc sống tù đọng
Không những chỉ ra cái bao vô hình và hữu hình đóng khung cuộc sống con người, Sêkhôp còn cắt nghĩa căn nguyên đẩy con người vào bi kịch sợ hãi chui vào bao, sống và chết một cách thảm hại Theo Sêkhôp, bi kịch xuất phát chủ yếu từ sự hèn nhát, yếu ớt của chính bản thân nhân vật Họ là những trí thức yếu đuối cả về thể
trạng lẫn tinh thần trước môi trường sống Tiêu biểu là Ivan Gromov trong “Phòng 6”
từ nhỏ đến lớn chưa bao giờ khỏe mạnh, lúc nào cũng “xanh xao, gầy gò, hay cảm vặt, ăn ít, ngủ không ngon”, khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn đã “không chịu nổi”,
“suy sụp hẳn về tinh thần và thể xác” Cho nên trước sự tấn công của cái ác, Ivan Gromov đã rơi vào trạng thái khủng hoảng, sợ hãi đến phát điên và tự nguyện thiết kế cho mình những cái bao để trốn tránh thực tại Bi kịch sợ hãi chui vào bao còn nảy sinh từ chính cuộc sống “buồn tẻ”, ngưng đọng, bức bối quá mức đang bủa vây, giam hãm đời sống vật chất và tinh thần của người trí thức “Cái nhịp điệu vừa uể oải vừa
căng thẳng của đời sống” đã ru ngủ Aliôkhin (Một chuyện tình yêu) chấp nhận cuộc
sống vô vị, tẻ nhạt giữa một trang ấp mênh mông, đánh mất mãi mãi hạnh phúc đời
mình Chính hoàn cảnh làm cho Raghin (Phòng 6) tìm đến lối sống khắc kỷ, bàng
quan với thực tại xung quanh và nỗi đau khổ của con người
Chỉ ra bi kịch người trong bao, Sêkhôp lên án cái cơ chế xã hội Nga đương thời, đồng thời phê phán lối sống dung tục, tầm thường, ích kỷ, xa rời thực tế của một bộ phận trí thức Nga cuối thế kỷ XIX và khơi dậy khát vọng tự do, thay đổi
cuộc sống của con người như kết luận của Ivan Ivannứts trong truyện ngắn “Người
trong bao”: Con người “không thể sống như thế mãi được”
1.2.2 Bi kịch tha hóa
Theo “Từ điển tiếng Việt”, tha hóa là “con người biến thành xấu đi”, biến
thành cái khác, đối nghịch lại những giá trị người” [81,907] Và bi kịch tha hóa
là “mức độ kịch liệt nhất” của quá trình tha hóa
Với Sêkhôp, con người luôn là một bí ẩn, “đằng sau cái vẻ nhìn nhằng, lặt vặt,
xô bồ, thầm lặng, cuộc đời của các nhân vật… không vì thế mà kém phần bi thảm”
Trang 31[65,7] Khám phá sự thật đời thường, Sêkhôp cay đắng nhận ra rằng, không phải lúc nào con người cũng giữ được những phẩm chất cao đẹp, những khát vọng mà mình hằng ấp ủ Để bắt kịp với cuộc sống đang diễn ra hàng ngày, nhiều trí thức đã vượt
ra ngoài ranh giới của những giá trị đích thực, đi chệch khỏi quỹ đạo người, sa vào lối sống dung tục tầm thường hủy hoại nhân cách mình một cách từ từ - “người ta trở nên cái người ta ghê sợ lúc nào không biết”
Cuộc đời Xtarxép trong truyện “Iônứts” có thể chia làm hai giai đoạn, trước và
sau khi Kôchích lên Maxcơva học nhạc gắn với hai giai đoạn tha hóa trong lối sống của anh Nếu giai đoạn đầu, Xtarxép nhận thức cuộc sống buồn tẻ đơn điệu, chấp nhận nó một cách hiển nhiên thì giai đoạn sau Xtarxép hoàn toàn tha hóa trong lối sống dung tục Là một bác sỹ yêu đời, yêu nghề, ham làm việc, thường hay đi bộ dạo chơi trong công viên và khe khẽ hát để xua đi sự tẻ nhạt Ngay lần đầu làm quen với gia đình Turkin, Xtarxép đã nhận thức được bản chất thực của một “gia đình có học và tài năng nhất” ở tỉnh lỵ X nói riêng và lối sống tẻ nhạt, nhàm chán, trốn tránh hiện thực của những trí thức đương thời nói chung Nhưng để hòa hợp với những con người “dễ chịu”, “thú vị” và “thông minh”, anh tỏ ra là một vị khách đáng mến hết lời ca ngợi những tiểu thuyết “viết về những gì không tồn tại trong cuộc đời”, tán thưởng “bản đàn ồn ào, chẳng lấy gì làm du dương nhưng vẫn có vẻ cao siêu”, thích thú với thói quen “lần lượt kể các chuyện tiếu lâm, chơi chữ, ra những câu đố vui rồi tự mình giải đáp” Anh thoả mãn tận hưởng cuộc sống của giới thượng lưu và ngây ngất say mê “vẻ tươi mát của nàng” (Êkatêrina Ivanốpna) Chán ghét gia đình Turkin và tâm hồn tầm thường, ti tiện Êkatêrina, Xtarxép bước nhanh đến cái chết của cả thế xác và tâm hồn, rơi vào bi kịch tha hóa do chính mình tạo ra Anh ngày càng to béo đến phát phì, không còn thích đi bộ vì khó thở Xtarxép đi làm bằng cỗ xe tam mã có chuông rung “Anh rất nhiều việc, nhưng vẫn không từ bỏ chức bác sỹ ăn lương, lòng tham thúc giục anh vừa muốn làm cả hai việc, ở cả hai nơi” Tính tình của anh cũng thay đổi “khó tính và cáu gắt”, ở một mình và sống buồn tẻ, không quan tâm đến điều gì Anh thỏa mãn với
Trang 32cái “hạnh phúc” của mình là “tối nào cũng đánh bài say sưa” và thích thú ngồi đếm những đồng tiền nhàu nát vừa kiếm được Mỗi khi nghe sở tín dụng báo đấu giá nhà thì anh đến xem tận nơi Anh xông thẳng vào nhà, không đếm xỉa đến đàn
bà trẻ con còn chưa ăn mặc tử tế mà đã gõ gậy vào từng cánh cửa để hỏi thăm:
“Buồng làm việc đây à? Hay buồng ngủ? Còn kia là buồng gì?”… Xtarxép không tha hóa một cách ngẫu nhiên Anh ý thức được hoàn cảnh nhưng không chiến thắng được cuộc sống ti tiện tầm thường, không chiến thắng được con người thích nghi nên mới rơi vào bi kịch tha hóa
Cuộc sống của con người là vườn hoa đa sắc, cái xấu, cái đẹp có vô vàn biểu hiện khác nhau Nếu Iônứts còn chút ghê tởm cuộc sống tẻ nhạt thì Vlađimia
Mikhailứts- thường gọi thân mật là Vôlôđia bé (Vôlôđia lớn vàVôlôđia bé) lại chấp
nhận tha hóa trước hoàn cảnh sống một cách tự nhiên, không chút lăn tăn suy nghĩ
Là một trí thức đang viết luận án văn học nước ngoài, ngay từ khi 14 tuổi, anh đã có
sở thích dan díu với các quý bà đã có chồng, bỏ qua tình yêu “như điên, như dại” của Xôfia Lơvôpna Suốt thời sinh viên, anh chìm đắm trong cuộc sống xa đọa của tình ái Khi Xôfia lấy một đại tá già giàu có hơn cha mình hai tuổi thì Vôlôđia bé lại
“tỏ ra chú ý tới nàng, điều từ trước tới nay anh ta chưa từng biểu lộ”, nhưng “khi đã làm được điều mình muốn” thì “một tuần sau, Vôlôđia bé bỏ rơi nàng” Một câu hỏi lớn đặt ra, vì sao một con người có học thức cao như Vôlôđia bé lại có lối sống dung tục, phóng đãng tha hóa như vậy? Dù Sêkhôp không trực tiếp thể hiện thái độ của mình nhưng qua lời của Xôfia và người kể chuyện: anh “không có tiền tiêu mặc
dù đã ba mươi tuổi”, luôn luôn “muốn lảng tránh việc trả tiền ăn” nhưng thích dan díu với giới phụ nữ đã có chồng và chỉ mong Xôfia “đi lấy chồng” Phải chăng, Vôlôđia bé đã bị đồng tiền làm cho tha hóa, chấp nhận ngụp lặn trong thế giới phụ
nữ đã có chồng, một mặt để tồn tại, mặt khác, để thỏa mãn lối sống phóng đãng đang là mốt của giới trí thức lúc bấy giờ, nên mới có một hệ quả “mặc dù vướng mắc với những chuyện tình ái nhiều khi rắc rối, lôi thôi, Vôlôđia vẫn học tốt” Sêkhôp đã phát hiện ra một kiểu trí thức sống bám theo giới thượng lưu đương thời
Họ chấp nhận tha hóa hoàn toàn để tồn tại, hy sinh cả quyền có một tình yêu chân
Trang 33chính để leo lên nấc thang của học vị, sống trong giới thượng lưu Bi kịch thay, trên con đường đã chọn, họ không những đánh mất mình mà còn nhìn cuộc đời như một trò đùa bông lơn, tầm thường, tẻ nhạt, vô vị, nhìn đâu cũng thấy “xấu xa, hư hỏng”
và luôn cất câu nói cửa miệng “Tara…ra…bumbia…”
Trong truyện ngắn “Mưa dầm”, Sêkhôp lại chỉ ra một lối sống tha hóa khác
Sau khi vợ và bà nhạc biết viên trạng sư Alếchxây Xtêphanứts Kơvansin đang ăn
ở với người tình, họ rơi vào tuyệt vọng và đau khổ Nhưng với bản chất lừa đảo, anh đã nhanh nhảu hành động “ngoại giao”, vào vai kẻ khổ sở làm điệu làm bộ,
ra vẻ công việc kiện cáo nợ nần quá bận bịu nên năm ngày qua không về thăm nhà được đã lật ngược được tình thế, xóa bỏ những nghi ngờ trong lòng hai mẹ con, biến họ trở thành người day dứt, có lỗi và tự nguyện phục tùng tuyệt đối con người giả rối mà không hề hay biết Sêkhôp đã vạch trần bản chất xấu xa lối sống hai lòng của viên trạng sư, mặt khác, ông còn cho thấy sự tha hóa nghiêm trọng trong lối sống của những con người mang tiếng là có học thức hơn người Lối sống xa đoạ, lừa đảo, ăn bám của viên trạng sư là lối sống biến chất, tiêu cực hoàn toàn, là trạng thái phát triển tinh vi của lối sống dung thục, tầm thường
Năm vị trí thức trong “Mặt nạ” không chỉ tha hóa trong cảnh sống nhàm
chán, giả rối mà còn trở thành những tên nô lệ trước kẻ vô lại lắm tiền nhiều của Trong buổi “khiêu vũ trá hình với mục đích từ thiện”, năm vị trí thức không đeo mặt nạ đang “chúi mắt chúi mũi vào mấy tờ báo mà đọc, mà ngủ gà ngủ gật” theo kiểu đang “tư duy” thì một người đàn ông đeo mặt lạ lấy tay gạt mấy tờ tạp chí từ trên bàn xuống đất, đuổi các vị trí thức đáng kính ra ngoài để có không gian thỏa mái đùa vui với những ả đàn bà Năm ông trí thức bị xúc phạm đã ra sức lời qua tiếng lại, từ phản ứng yêu cầu đến giáo huấn, cáu giận, dọa nạt, mạt xát, huy động
cả cảnh binh đến quát tháo, ra lệnh lôi người đàn ông ra khỏi đây, để ra oai họ còn làm biên bản giải quyết sự việc Trong khi đó, người đàn ông đeo mặt nạ ra sức quấy rối, trêu ngươi, thách thức, bóc trần bản chất giả dối, nghèo hèn của giới trí thức làm “tất cả các vị trí thức đều la hét” om sòm tạo nên một cảnh tượng hỗn loạn Nhưng khi “tên vô lại” giật mặt nạ xuống để lộ bộ mặt thật say mềm thì “tất
Trang 34cả đều nhận ra kẻ phá bĩnh vừa rồi là ông Piatigorốp, nhà triệu phú bản địa, chủ nhà máy…” Các vị trí thức “ngẩn người nhìn nhau, mặt tái mét, vài vị còn giơ tay gãi gáy” Trước lời ra lệnh “có đi ra hay không” của Piatigorốp, các vị trí thức
“không hé răng nói nửa lời lặng lẽ rón rén đi kiễng chân ra khỏi phòng đọc”,
“buồn thiu ngơ ngác như người có tội…linh cảm thấy rõ rệt điềm gì chẳng lành sắp đến” Khi được tiếp tay nâng “vị công dân thân hào truyền kế” lên ngựa về nhà, tất cả “nhoẻn miệng cười thích thú”, vui vẻ và bình tâm trở lại, ra sức cười nói hả hê kể công, ca ngợi “một bậc tài năng mới nổi” Chớp lấy một tình huống, một trò đùa ú tim trong cuộc sống thường ngày, Sêkhôp đã vạch trần “mặt nạ” của những vị trí thức “không đeo mặt lạ” Trước thói quyền uy, họ không còn là chính mình, trở thành một dạng kỳ nhông vô hình len lỏi vào trong cuộc sống Lối sống tha hóa tâm lý ươn hèn, xu nịnh đã trở thành lẽ sống của giới trí thức
Bi kịch tha hóa của người trí thức trước hoàn cảnh sống được Sêkhôp nhìn nhận khám phá một cách khách quan trung thực, gợi mở những cách phân tích,
lý giải khác nhau Sức mạnh của quyền uy, tiền bạc, dục vọng sống tầm thường
đã làm người trí thức sa lầy vào bi kịch tha hóa một cách tự nhiên, không thể thoát ra được Và “cái thực tại tàn khốc trong sự tầm thường dung tục không được ý thức, trong óc vị kỷ mù quáng làm thui chột lương tri, ở biết bao nhiêu người vẫn đinh ninh là tinh khôn lõi đời” là nguyên nhân chính dẫn đến bi kịch tha hóa của người trí thức Sêkhôp luôn nhắc nhở mỗi người chúng ta “chỉ cần buông xuôi một chút lơ là, một chút thiếu đi cái tự ý thức cần thiết, là bất cứ lúc nào ta cũng sẽ trở nên như họ” [76,11]
1.2.3 Bi kịch của sự bừng tỉnh muộn màng
Viết về người trí thức, Sêkhôp không chỉ phản ánh sự yếu đuối, sa đọa trong tinh thần, lối sống Ông còn “nhận thấy đốm lửa rất nhỏ, rất leo lét bên trong con người bình thường, có khả năng bùng sáng, đánh thức ở họ những năng lực tiềm ẩn” vượt lên cái tầm thường của cuộc sống hàng ngày, tránh được sự ăn mòn của những thói quen dung tục, nhưng chính khoảnh khắc bừng tỉnh, người trí thức lại
Trang 35rơi vào bế tắc, vô vọng [4,20] Nói như Khravchenko, đó là biểu hiện “của tính bi đát của tồn tại con người, sự cô đơn của con người trong thế giới của sự tha hóa phổ biến, sự sa sút đáng lo ngại của môi trường xung quanh” [53,267]
Trước khi bừng tỉnh, rất nhiều trí thức đã rơi vào bi kịch đời thường, nô lệ trước quyền uy, tiền bạc và danh vọng hoặc bị cuốn vào lối sống dung tục tầm thường dần dần đánh mất bản chất tốt đẹp, sợ hãi chui vào bao hoặc trượt dài trên con đường tha hóa Tiêu biểu như: thái độ bàng quan, vô trách nhiệm của bác sỹ
Raghin (Phòng 6), cuộc sống no nê, vị kỷ của bác sỹ Xtarxép (Iônứts), sớm mãn nguyện với hạnh phúc mới của Nikitin (Thầy giáo dạy văn), lối sống sợ hãi thu mình vào bao của Bêlikốp (Người trong bao), cuộc sống no nê, thừa thãi và ham muốn tiền bạc tầm thường của lão chủ nhà băng và anh chàng luật sư (Đánh
cược)… Sự bừng tỉnh của người trí thức không hề dễ dàng Họ phải trải qua một
quá trình căng thẳng, day dứt, vật vã trong tư tưởng để vượt lên chiến thắng chính mình, chiến thắng hoàn cảnh, chiến thắng lối sống dung tục, tầm thường đẩy con người đến bi kịch của sự tha hóa nhưng con người vẫn bế tắc và thất bại
Trong “Thầy giáo dạy văn”, tính gàn dở của vợ và cái chết của người đồng
nghiệp Ippolit vẫn không làm Nikitin bừng tỉnh khỏi hạnh phúc quẩn quanh Đi chơi bài từ câu lạc bộ về nhà lúc nửa đêm đã tác động đến Nikitin một cách ghê gớm, anh cảm thấy nặng nề, bức bối trong lòng, lởn vởn những ý nghĩ mới: “ngoài cái ánh sáng đèn dịu dàng mỉm cười với cái hạnh phúc của gia đình êm ái, ngoài cái thế giới cỏn con ấy trong đó anh và con mèo kia sống rất êm ái và ngọt ngào hãy còn một thế giới khác…” Một cuộc tự vấn nhìn lại chính mình đã diễn ra trong lòng Nikitin Anh tự nhủ rằng: “anh hoàn toàn không phải nhà giáo mà là một viên chức cũng không có tài, không có cá tính…; chẳng bao giờ anh có thiên hướng làm nghề dạy học…chưa biết đến khoa học giáo dục và cũng chưa bao giờ quan tâm đến nó, không biết cư xử với trẻ em, anh không biết ý nghĩa điều mà anh giảng dạy…” Đối với bạn bè đồng nghiệp, anh cảm thấy “tất cả họ chỉ lo sao dấu cho kỹ sự dốt nát và sự bất mãn đối với cuộc đời mình” Còn chung quanh anh
Trang 36“tất cả đều tầm thường, ti tiện Những con người tầm thường, buồn tẻ, những chum kem, những bình sữa chua, những con gián, những mụ đàn bà đần độn, không còn có gì đáng sợ hơn, dễ nhục hơn, buồn chán hơn cái tầm thường” Cuộc sống cần phải thay đổi, anh phải trốn khỏi nơi đây, đến với thế giới khác để được làm việc trong “nhà máy hay là trong một xưởng thủ công lớn, diễn giảng viết bài,
in báo, làm ồn nhọc nhằn, đau khổ” Một cuộc sống mới, căng thẳng, có ý thức đã bắt đầu, nhưng tất cả mới chỉ dừng lại trong ý nghĩ, trên những trang nhật ký
Vaxilép trong “Cơn bệnh thần kinh” đã hóa thân thành một khách làng chơi
bước vào thế giới của cô gái sa đọa để “muốn được sống như bạn bè anh dù chỉ trong một buổi tối, muốn được tự giải thoát khỏi sự kiềm chế của chính mình” Nhưng khi bị thu hút đến những bến bờ buồn bã, Vaxilép bị dày vò bởi những ý nghĩ “tất cả những gì gọi là nhân phẩm, nhân cách, với sáng tạo theo hình mẫu của Chúa, bị lăng nhục đến tận cùng, đến tận giọt cặn” ở ngõ X Anh thấu hiểu sự bất công ngang trái và trớ trêu của cuộc đời Một nỗi sợ hãi mơ hồ không rõ rệt bao phủ tâm trí anh Để cứu vớt những người đàn bà xa đoạ, anh đã chia họ ra thành
ba loại và đưa ra những giải pháp, nhưng chính anh lại rơi vào mâu thuẫn- anh là người đầu tiên không thể lấy loại người ấy Anh lại đặt vấn đề “lối thoát duy nhất
là lòng sùng đạo” Nhưng tất cả đã làm anh mệt mỏi rã rời, một nỗi đau “âm ỉ,
mơ hồ, không rõ rệt, vừa giống như một nỗi buồn, lại vừa giống như niềm sợ hãi
ở mức tột đỉnh, vừa giống như niềm tuyệt vọng” đang day dứt tâm hồn anh Sống trong sợ hãi và đau đớn, anh đã ngộ ra một điều tưởng như phi lý: “Tôi theo học hai khoa- người ta coi đó là kỳ tích ghê gớm; tôi viết ra một bản luận văn mà ba năm sau sẽ đi vào xếp xó - thì người ta tâng bốc tôi lên đến tận mây xanh, còn khi tôi không thể nói đến những người đàn bà sa đọa với giọng dửng dưng như nói đến cái bàn, cái ghế, thì người ta cho tôi là điên loạn, mất trí, người ta chữa cho tôi và thương hại tôi!” Vaxilép đã ý thức được tất cả- hiện thực sa đọa và sự bất “tài làm người” của con người Những giải pháp cải lương,
sự ích kỷ của bản thân không thể cứu vớt con người khỏi bùn lầy Anh bất lực, thất bại với chính mình và thực tại
Trang 37Anđrêy Yefimovich Raghin trong truyện “Phòng 6” là nhân vật bừng tỉnh ý
thức được thực tại đen tối nhưng không đủ nghị lực để chiến thắng nó Làm việc trong môi trường “vô luân”, trái tim Raghin đã nguội lạnh với mọi sự việc xung quanh Cho đến một hôm, ông đến phòng số 6- cái nhà tù thu nhỏ của bệnh viện giam giữ những người bị thần kinh, tiếp xúc với Gromov- một bệnh nhân tâm thần, cộng với cuộc thẩm tra lại khả năng tâm lực, Raghin đã nhận ra điểm thiếu sót và hạn chế trong tư tưởng của mình Thực ra từ trước đến giờ, ông chưa nhìn thấy cuộc sống, “không biết chút gì về đời”, tất cả “chỉ biết trên lý thuyết” Chính
nó đã thiêu đốt nhiệt huyết, đẩy ông vào tình trạng “mù mẫm đờ đẫn”, thờ ơ với cuộc sống Chỉ khi Gromov phản biện lại quan điểm sống khắc kỷ, coi khinh đau khổ, Raghin đã có những biến đổi trong nhận thức dù là mơ hồ: “lần đầu tiên trong đời ông cảm thấy tủi nhục và căm phẫn” Khi nhận lời đi nghỉ dưỡng cùng Mikhail Averyanyts, những cảm xúc của Raghin càng ngày càng tăng, “ông tự giận mình sao lại ra đi thế này, và giận ông bạn cứ mỗi ngày lại thêm ba hoa và tùy tiện; ông muốn đưa tư tưởng mình lên một cung bậc nghiêm trang, cao cả mà không sao đưa được” Tư tưởng của Raghin đang được kiểm chứng bởi thực tiễn cuộc sống Nếu trước kia, ông tôn thờ trí tuệ sách vở thì nay công việc biên soạn một bản thư mục chi tiết cho tủ sách và dán những cái nhãn con con vào gáy sách còn thú vị hơn đọc sách Dần dần những thói quen của ông cũng bị phá bỏ Ông hướng suy nghĩ vào những chuyện nhỏ nhen đời thường và ghét cay ghét đắng Khobotov và Mikhail Averyanyts Nhưng chính lúc Raghin biết đến cảm xúc rất đỗi đời thường cũng chính là lúc ông bị lừa nhốt vào phòng 6, trở thành nạn nhân của cái trật tự khủng khiếp mà trước đây ông đã chưa thừa nhận và bỏ qua Đến lúc này cái ý nghĩ cho rằng “cùng với thời gian tất cả sự thối rữa và biến thành bùn đất” không còn an
ủi được Raghin “Ông bỗng cảm thấy tuyệt vọng, hai tay nắm lên song sắt cửa rồi lấy hết sức mình mà lay” Bao nhiêu cảm giác tủi cực, sợ hãi, tuyệt vọng bao quanh, buộc ông phải thốt lên “tôi không thể thế này được…tôi không đủ sức” Cũng vào lúc đau đớn tột cùng ấy, ông đã nghĩ ra, đã bừng ngộ, thay đổi hoàn toàn nhận thức:
Trang 38“Cái cảm giác đau đớn gớm ghiếc này chính là cái cảm giác của những con người kia…Họ đã phải chịu đựng đúng cái đau này hết năm này qua năm khác, từng ngày, từng ngày một Làm sao suốt hai mươi năm liền ông lại có thể không biết và không muốn biết đến điều đó…Ông bật dậy, muốn lấy hết hơi hết sức gào thật to và chạy
đi giết ngay Nikita, rồi đến Khobotov, viên quản lý và viên y tá trưởng, rồi đến bản thân ông nữa Nhưng từ lồng ngực không phát ra một âm thanh nào và chân ông không chịu bước Ông thở hổn hển, đưa tay lên ngực giật tung chiếc áo choàng và chiếc áo sơ mi ra, xé nát đi rồi ngã phịch xuống giường, mê man bất tỉnh” Như vậy cho đến khi trở thành nạn nhân đích thực của hoàn cảnh, bị nếm mùi bất công và những đau khổ mà cái nhà tù khủng khiếp ấy đem lại, Raghin mới thực sự hành động và lên tiếng đấu tranh cho quyền tự do của con người Ông hối hận vì đã không đập nát cái môi trường ô uế khủng khiếp, phi nhân tính ấy, nhưng không kịp nữa, ông đã chết trước bình minh Đó là bi kịch của con người bừng tỉnh nhưng lại
bị vùi dập và chết trong đau khổ mà mình thấu hiểu
Laevski trong “Cuộc đấu súng” đã trải qua những tháng ngày cô độc, hoảng
loạn trước khi bừng tỉnh Hai năm trước, anh cùng người tình Nadezda Fedorovna chạy trốn “sự đơn điệu và trống rỗng” nơi thành thị đến với ruộng đồng Capkaz để xây dựng hạnh phúc Nhưng ngay từ đầu, Laevski “đã nhận ra sự phá sản” của tương lai và rơi vào bế tắc Anh trở thành một trí thức coi thường công việc, đánh mất tình yêu, sa vào rượu chè, cờ bạc, nợ nần chồng chất và hoàn toàn mất phương hướng, lý tưởng sống Trong trạng thái chán chường, dằn vặt, tội lỗi, Laevski có ý định chạy trốn về Peterburg thực hiện dự định “sống lương thiện, thông minh cao cả và trong sạch” Anh đã lập kế hoạch, sẵn sàng bỏ rơi Nadezda
vì mình mà trốn khỏi gia đình, cầu xin sự giúp đỡ và vay mượn tiền nong của Samoilenko, nhưng tất cả đã không thành khi đối mặt với lời thách đấu súng của Phon Koren Trong ăn năn và tuyệt vọng, Laevski bước vào cuộc đấu súng và may mắn thoát chết trước phát súng bắn trượt của Phon Koren “Con người tội nghiệp” Laevski bừng tỉnh, quyết tâm làm lại cuộc đời sau cuộc đấu súng: “Từ sáng tới
Trang 39chiều lúc nào cũng ngồi ở bàn làm việc” để mong sao trả hết nợ lần, xây dựng một cuộc sống mới ngay trên mảnh đất đau khổ Trong cảm nhận của Samoilenko và Phon Koren, Laevski hoàn toàn thay đổi, “thậm chí dáng đi của anh ta cũng khác trước” Có thể nói lần đầu tiên Laevski được sống, được làm việc quần quật suốt ngày, vùi đầu vào sách vở, “sống còn khổ hơn cả một kẻ ăn mày” mà vẫn cảm thấy hạnh phúc Đúng là “trong cuộc đời không có gì quý hơn những con người”
và “không ai biết được hoàn toàn sự thật”
Trạng thái bừng tỉnh ở người trí thức là kết quả của sự vật lộn và giằng xé dữ dội, lâu dài trong nội tâm, suy nghĩ Để nhận thức được chính mình và cuộc sống, nhiều trí thức đã phải trả giá bằng cái kết bi thảm mà chưa tìm được con đường đấu tranh đúng đắn để thay đổi thực tại bức bối Họ thực sự bế tắc trong tư tưởng và hành động mặc dù đã chiến thắng mình trong nhận thức Mọi phản ứng của họ chỉ
là tức thời, mang tính tiêu cực, bi quan nhiều hơn là giải phóng con người khỏi cuộc sống buồn tẻ, tầm thường Đó cũng chính là cái nhìn bi quan của một nhà văn- bác
sỹ trước những căn bệnh trầm kha của thời đại
1.3 Bi kịch đời thường của nhân vật trí thức trong truyện ngắn Nam Cao
Cùng khám phá bi kịch đời thường của người trí thức, ở Nam Cao lại có những biến dạng mang những sắc thái khác Sêkhôp Trong không khí tù túng, ngột ngạt của một xã hội đã ở tận cùng của sự bế tắc, nhân vật trí thức của Nam Cao rơi vào bi kịch “vỡ mộng”, lâm vào cảnh ngộ “chết mòn” về tinh thần, cố gắng vươn tới một cuộc sống có ý nghĩa nhưng lại bị gánh nặng cơm áo và hoàn cảnh xã hội đầy rẫy bất công, vô nhân đạo làm cho chết mòn
1.3.1 Bi kịch “vỡ mộng”
Khác với “bi kịch vỡ mộng” của những con người trẻ tuổi đầy tham vọng cá nhân ích kỷ Nhân vật trí thức tiểu tư sản của Nam Cao xuất thân từ những làng quê nghèo đói, tù túng, nhập cuộc vào cái xã hội mới sôi động của chốn thành thị Mang trong mình nhiều mộng đẹp, họ sẵn sàng cam chịu mọi cực khổ để thực hiện hoài bão của tuổi trẻ, xây dựng một sự nghiệp tinh thần cao quý
Trang 40Nhưng tất cả những khao khát, ước mơ đều bị xã hội vùi dập, đẩy họ vào bi kịch
“vỡ mộng” và cuộc đấu tranh tinh thần dai dẳng không lối thoát Bốn anh chàng
trong “Nhỏ nhen” là những kẻ không quan tâm đến cái đời vật chất, mang trong
mình những khát vọng lớn, dự định mở một trường tư tốn có đến vài ba vạn bạc, bán lấy bạc trăm những cuốn tiểu thuyết mang ở trong đầu hay mở một nhà xuất
bản thật to… Tá trong “Nguyện vọng” là một trí thức có tâm huyết với dân tộc
Anh luôn suy nghĩ đến sự nghiệp đào tạo con người, coi đó là cái gốc để cho dân tộc phát triển: “những kẻ còn nghĩ đến giống nòi đều nghĩ đến việc đào tạo óc
Vì chỉ có sự học thôi, chỉ có sự học là cải tạo được con người Xã hội Việt Nam muốn tiến lên, quốc dân Việt Nam phải học Yêu nước lo đến tương lai của giống nòi không gì bằng học, khuyến khích việc học, truyền bá sự học Gieo hạt giống tốt vào óc thiếu niên để đợi lớp người sau, ai yêu nước một cách sáng suốt
đều nghĩ như tôi cả” Còn Điền trong “Giăng sáng” đã từng có một thời theo
đuổi cái mộng văn chương Anh “nguyện sẽ cam chịu tất cả những thiếu thốn, đoạ đầy” để trở thành một văn sỹ Anh sẵn sàng từ chối chỗ làm kiếm mỗi tháng hàng trăm bạc, nếu có thể kiếm được năm đồng bạc về nghề văn Óc Điền đẫm văn thơ, nhờ văn thơ mà hiểu được cái đẹp của gió, của giăng Đặc biệt, Hộ
trong “Đời thừa” là một gã trai trẻ say mê lý tưởng, hết lòng phụng sự nghệ
thuật Hắn đã từng “đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán Đối với hắn lúc ấy, nghệ thuật là tất cả; ngoài nghệ thuật không có gì đáng quan tâm nữa Hắn băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm cùng ra một thời” Hộ từng thốt lên một cách cuồng nhiệt: “Đói rét không nghĩa lý gì đối một gã trẻ tuổi say mê lý tưởng Lòng hắn đẹp Đầu hắn mang một hoài bão lớn” Hộ xây dựng cho mình một quan điểm văn chương rất rõ ràng, vô cùng đúng đắn và tiến bộ Để xứng đáng với danh hiệu con người, Hộ còn đề cao triết lý tình thương: “kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thỏa mãn lòng ích kỷ Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ người khác trên đôi vai của mình” và
“nếu không có tình thương con người chỉ là một thứ quái vật bị sai khiến bởi lòng