1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ý thức và vai trò của tri thức khoa học trong công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay tiểu luận cao học

38 444 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 176 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 NGUỒN GỐC , BẢN CHẤT VÀ KẾT CẤU CỦA Ý THỨC 1. Ý thức là gì Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo cho rằng ý thức có một cuộc sống riêng , tồn tại tách biệt vật chất thậm chí quyết định , sinh ra vật chất . Chủ nghĩa duy vật tầm thường cho rằng ý thức cũng là một dạng vật chất . Chủ nghĩa duy vật cận đại đã thấy dược ý thức phản ánh thế giới khách quan, đã chỉ ra được kết cấu của ý thức song lại chưa thấy nguồn gốc xã hội và vai trò xã hội của ý thức . Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã kế thừa , phát triển , khắc phục những quan niệm trên đưa ra định nghĩa khoa học về ý thức : Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới khách quan vào bộ não người thông qua lao động và ngôn ngữ . Ý thức là toàn bộ hoạt động tinh thần của con người bao gồm từ cảm giác cho tới tư duy , lý luận trong đó tri thức là phương thức tồn tại của ý thức . 2. Nguồn gốc của ý thức : Ý thức có hai nguồn gốc là nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội . 1.1. Nguồn gốc tự nhiên : Trước Mác nhiều nhà duy vật tuy không thừa nhận tính chất siêu tự nhiên của ý thức , song do khoa học chưa phát triển nên cũng đã không giải thích đúng nguồn gốc và bản chất của ý thức . Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên nhất là sinh lý học thần kinh , chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng ý thức là một thuộc tính của vật chất nhưng không phải của mọi dạng vật chất mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc người . Bộ óc người là cơ quan vật chất của ý thức . Ý thức là chức năng của bộ óc người . Hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người . Ý thức phụ thuộc vào hoạt động bộ óc người , do đó khi bộ óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ không bình thường hoặc bị rối loạn . Vì vậy không thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc . Ý thức không thể diễn ra , tách rời hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người . Bộ óc của con người hiện đại là sản phẩm của quá trình tiến hoá lâu dài về mặt sinh vật xã hội sau khi vượn biến thành người , óc vượn biến thành óc người . Bộ óc là một tổ chức vật chất sống đặc biệt , có cấu trúc tinh vi và phức tạp , bao gồm từ 14 dến 15 tỷ tế bào thần kinh . Các tế bào này có liên quan với nhau và với các giác quan , tạo thành vô số những mối liên hệ thu nhận , điều khiển hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài qua các phản xạ không điều kiện và có điều kiện . Trong bộ óc người , quá trình ý thức không đồng nhất và cũng không tách rời , độc lập hay song song với quá trình sinh lý . Đây chính là hai mặt của một quá trình quá trình sinh lý thần kinh trong bộ óc người mang nội dung ý thức , cũng giống như tín hiệu vật chất mang nội dung thông tin . Ngày nay sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật hiện đại đã tạo ra những máy móc thay thế cho một phần lao động trí óc của con người . Chẳng hạn các máy tính điện tử , rôbốt tinh khôn , trí tuệ nhân tạo . Song điều đó không có nghĩa là máy móc cũng có ý thức như con người . Máy móc dù có tinh khôn đến.đâu đi chăng nữa cũng không thể thay thế được cho hoạt động trí tuệ của con người . Máy móc là một kết cấu kỹ thuật do con người tạo ra , còn con người là một thực thể xã hội . Máy móc không thể sáng tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần trong bản thân nó như con người . Do đó chỉ có con người với bộ óc của mình mới có ý thức theo đúng nghĩa của từ đó .

Trang 1

Đề tài:

Ý THỨC VÀ VAI TRÒ CỦA TRI THỨC KHOA HỌC TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY

CHƯƠNG 1 NGUỒN GỐC , BẢN CHẤT VÀ KẾT CẤU CỦA Ý THỨC

Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã kế thừa , phát triển , khắc phục nhữngquan niệm trên đưa ra định nghĩa khoa học về ý thức :

Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới khách quan vào bộ não ngườithông qua lao động và ngôn ngữ

Ý thức là toàn bộ hoạt động tinh thần của con người bao gồm từ cảm giáccho tới tư duy , lý luận trong đó tri thức là phương thức tồn tại của ý thức

2 Nguồn gốc của ý thức : Ý thức có hai nguồn gốc là nguồn gốc tự nhiên vànguồn gốc xã hội

1.1 Nguồn gốc tự nhiên :

Trước Mác nhiều nhà duy vật tuy không thừa nhận tính chất siêu tự nhiêncủa ý thức , song do khoa học chưa phát triển nên cũng đã không giải thíchđúng nguồn gốc và bản chất của ý thức Dựa trên những thành tựu của khoahọc tự nhiên nhất là sinh lý học thần kinh , chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳngđịnh rằng ý thức là một thuộc tính của vật chất nhưng không phải của mọi dạngvật chất mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc

Trang 2

người Bộ óc người là cơ quan vật chất của ý thức Ý thức là chức năng của bộ

óc người Hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lýthần kinh của bộ óc người Ý thức phụ thuộc vào hoạt động bộ óc người , do đókhi bộ óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ không bình thường hoặc bị rốiloạn Vì vậy không thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động sinh lý thần kinh của

bộ óc Ý thức không thể diễn ra , tách rời hoạt động sinh lý thần kinh của bộ ócngười

Bộ óc của con người hiện đại là sản phẩm của quá trình tiến hoá lâu dài

về mặt sinh vật - xã hội sau khi vượn biến thành người , óc vượn biến thành ócngười Bộ óc là một tổ chức vật chất sống đặc biệt , có cấu trúc tinh vi và phứctạp , bao gồm từ 14 dến 15 tỷ tế bào thần kinh Các tế bào này có liên quan vớinhau và với các giác quan , tạo thành vô số những mối liên hệ thu nhận , điềukhiển hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài qua các phản

xạ không điều kiện và có điều kiện Trong bộ óc người , quá trình ý thức khôngđồng nhất và cũng không tách rời , độc lập hay song song với quá trình sinh lý Đây chính là hai mặt của một quá trình - quá trình sinh lý thần kinh trong bộ ócngười mang nội dung ý thức , cũng giống như tín hiệu vật chất mang nội dungthông tin

Ngày nay sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật hiện đại đã tạo

ra những máy móc thay thế cho một phần lao động trí óc của con người Chẳnghạn các máy tính điện tử , rôbốt " tinh khôn " , trí tuệ nhân tạo Song điều đókhông có nghĩa là máy móc cũng có ý thức như con người Máy móc dù có tinhkhôn đến.đâu đi chăng nữa cũng không thể thay thế được cho hoạt động trí tuệcủa con người Máy móc là một kết cấu kỹ thuật do con người tạo ra , còn conngười là một thực thể xã hội Máy móc không thể sáng tạo lại hiện thực dướidạng tinh thần trong bản thân nó như con người Do đó chỉ có con người với bộ

óc của mình mới có ý thức theo đúng nghĩa của từ đó

Tuy nhiên , nếu chỉ có bộ óc không thôi mà không có sự tác động của thếgiới bên ngoài để bộ óc phản ánh lại các tác động đó thì cũng không thể có ý

Trang 3

thức Phản ánh là một thuộc tính phổ biến của mọi dạng vật chất Phản ánhđược thể hiện trong sự tác động qua lại giữa các hệ thống vật chất ; đó là nănglực giữ lại , tái hiện của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vậtchất Thí dụ : nước và oxi tác động vào kim loại gây ra sự han gỉ của kim loạiphản ánh đặc điểm của nước và oxi

Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất , tương ứng với sựphát triển của các hình thức hoạt động của vật chất , thì thuộc tính phản ánh củavật chất cũng phát triển Hệ thống vật chất có tổ chức càng phức tạp thì nănglực phản ánh càng cao

Phản ánh đơn giản nhất ở trong giới vô sinh là phản ánh vật lí Hìnhthức phản ánh này được thể hiện qua những biến đổi cơ , lí , hoá dưới nhữnghình thức biểu hiện cụ thể như thay đổi vị trí , biến dạng và phá huỷ

Giới hữu sinh có hệ thống tổ chức cao hơn so với giới vô sinh Songbản thân giới hữu sinh lại tồn tại với những trình độ khác nhau tiến hoá từ thấpđến cao , từ đơn giản đến phức tạp nên hình thức phản ánh sinh vật cũng thểhiện ở thực vật và các cơ thể động vật bậc thấp Khác với phản ánh vật lý mangtính thụ động , không chọn lọc , phản ánh kích thích đã có sự chọn lọc trướcnhững sự tác động của môi trường Thí dụ hoa hướng dương hướng đến mặttrời , rễ cây phát triển mạnh về phía có nhiều phân bón

Ở động cao cấp phản ánh được phát triển cao hơn do việc xuất hiện hệthần kinh Tính cảm ứng ( năng lực có cảm giác ) là hình thức phản ánh nảysinh do những tác động từ bên ngoài lên cơ thể động vật và cơ thể phản ứng lạitrước tác động đó của môi trường So với tính kích , tính cảm ứng hoàn thiệnhơn , nó được thực hiện trên cơ sở các quá trình thần kinh điều khiển mối liên

hệ giữa cơ thể với môi trường thông qua cơ chế phản xạ không điều kiện Phản ánh tâm lý , hình thức cao nhất trong giới động vật gắn liền vớiquá trình hình thành các phản xạ có điều kiện Ở phản ánh tâm lý ngoài cảmgiác , đã xuất hiện tri giác và bểu tượng Cảm giác , tri giác , biểu tượng lànhững biểu hiện của phản ánh tâm lý ở động vật có hệ thần kinh trung ương

Trang 4

Cùng với quá trình vượn biến thành người , phản ánh tâm lý ở động vậtcao cấp chuyển hoá thành phản ánh ý thức của con người Phản ánh ý thức làmột hình thức phản ánh mới đặc trưng của một dạng vật chất có tổ chức caonhất , đó là bộ não con người

Là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực , ý thức chỉ nảysinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất , cùng với sự xuất hiện củacon người Ý thức là ý thức của con người , nằm trong con người , không thểtách rời con người Ý thức bắt nguồn từ một thuộc tính của vật chất - thuộc tínhphản ánh - phát triển thành Ý thức ra đờì là kết quả phát triển lâu dài của thuộctính phản ánh của vật chất , nội dung của nó là thông tin về thế giới bên ngoài ,

về vật được phản ánh Ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài vào trong bộ ócngười Bộ óc người là cơ quan phản ánh , song chỉ có riêng bộ óc thôi thì chưathể có ý thức Không có sự tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan vàqua đó đến bộ óc thì hoạt động ý thức không thể xảy ra

Như vậy , bộ óc người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc - đó lànguồn gốc tự nhiên của ý thức

1.2 Nguồn gốc xã hội

Để cho ý thức ra đời , những tiền đề , nguồn gốc tự nhiên là rất quantrọng , không thể thiếu được , song chưa đủ Điều kiện quyết định cho sự ra đờicủa ý thức là những tiền đề , nguồn gốc xã hội Ý thức ra đời cùng với quá trìnhhình thành bộ óc người nhờ lao động , ngôn ngữ và những quan hệ xã hội Ýthức là sản phẩm của sự phát triển xã hội , nó phụ thuộc vào xã hội , và ngay từđầu đã mang tính chất xã hội

Loài vật tồn tại nhờ vào những vật phẩm có sẵn trong tự nhiên dưới dạngtrực tiếp , còn loài người thì khác hẳn Những vật phẩm cần thiết cho sự sốngthường không có sẵn trong tự nhiên Con người phải tạo từ những vật phẩm

ấy Chính thông qua hoạt động lao động nhằm cải tạo thế giơí khách quan mà

Trang 5

con người mới có thể phản ánh được thế giới khách quan , mới có ý thức về thếgiới đó

Quá trình hình thành ý thức không phải là quá trình con người thu nhậnthụ động Nhờ có lao động con người tác động vào các đối tượng hiện thực ,bắt chúng phải bộc lộ những thuộc tính , những kết cấu , những quy luật vậnđộng của mình thành những hiện tượng nhất định và các hiện tượng này tácđộng vào bộ óc người Ý thức được hình thành không phải chủ yếu là do tácđộng thuần tuý tự nhiên của thế giới khách quan vào bộ óc người , mà chủ yếu

là do hoạt động của con người cải tạo thế giới khách quan , làm biến đổi thế giới

đó Quá trình hình thành ý thức là kết quả hoạt động chủ động của con người Như vậy , không phải ngẫu nhiên thế giới khách quan tác động vào bộ óc người

để con người có ý thức , mà trái lại, con người có ý thức chính vì con người chủđộng tác động vào thế giới thông qua hoạt động thực tiễn để cải tạo thế giới Con người chỉ có ý thức do có tác động vào thế giới Nói cách khác , ý thức chỉđược hình thành thông qua hoạt động thực tiễn của con người Nhờ tác độngvào thế giới mà con người khám phá ra những bí mật của thế giới , ngày cànglàm phong phú và sâu sắc ý thức của mình về thế giới

Trong quá trình lao động , ở con người xuất hiện nhu cầu trao đổi kinhnghiệm cho nhau Chính nhu cầu đó đòi hỏi sự xuất hiện của ngôn ngữ Ph.Ăngghen viết : " Đem so sánh con người với các loài vật , người ta sẽ thấy rõrằng ngôn ngữ bắt nguồn từ trong lao động và cùng phát triển với lao động , đó

là cách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ "

Ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ vào lao động mà hình thành

Nó là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Không có hệ thống tínhiệu này - tức ngôn ngữ , thì ý thức không thể tồn tại và thể hiện được Ngônngữ , theo C.Mác là cái vỏ vật chất của tư duy , là hiện thực trực tiếp của tưtưởng , không có ngôn ngữ , con người không thể có ý thức Ngôn ngữ ( tiếngnói và chữ viết ) vừa là phương tiện giao tiếp đồng thời là công cụ của tư duy Nhờ ngôn ngữ con người mới có thể khái quát hoá , trừu tượng hoá , mới có thể

Trang 6

suy nghĩ , tách khỏi sự vật cảm tính Nhờ ngôn ngữ , kinh nghiệm , hiểu biếtcủa người này được truyền cho người kia , thế hệ này cho thế hệ khác Ý thứckhông phải là hiện tượng thuần tuý cá nhân mà là một hiện tượng có tính chất

xã hội , do đó không có phương tiện trao đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thứckhông thể hình thành và phát triển được Như vậy , nhôn ngữ là yếu tố quantrọng để phát triển tâm lý , tư duy và văn hoá con người , xã hội loài người nóichung Vì thế Ph.Ăngghen viết :" sau lao động và đồng thời với lao động làngôn ngữ đó là hai sức kích thích chủ yếu " của sự chuyển biến bộ não củacon người , tâm lý động vật thành ý thức

2 Bản chất của ý thức

Dựa trên lý luận phản ánh của mình , chủ nghĩa duy vật biện chứng đãgiải quyết một cách khoa học vấn đề bản chất của ý thức Trước C.Mác , cácnhà duy vật đều thừa nhận sự vật , vật chất tồn tại khách quan và ý thức là sựphản ánh sự vật đó Tuy nhiên , do chịu ảnh hưởng bởi quan điểm siêu hình nênnhiều nhà duy vật trước C.Mác đã coi ý thức là sự phản ánh thụ động giản đơn ,máy móc sự vật mà không thấy được tính năng động sáng tạo của ý thức , tínhbiện chứng của quá trình phản ánh Trái lại , các nhà duy tâm lại cường điệutính năng động , sáng tạo của ý thức đến mức coi ý thức sinh ra vật chất , chứkhông phải là sự phản ánh của vật chất

Khác với những quan điểm trên đây , chủ nghĩa duy vật Mácxít coi ý thức

là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người một cách năng động, sáng tạo

Điểm xuất phát để hiểu bản chất của ý thức là phải thừa nhận ý thức là sựphản ánh , là cái phản ánh , còn vật chất là cái được phản ánh Cái được phảnánh - tức vật chất - tồn tại khách quan , ở ngoài và độc lập với cái phản ánh là ýthức " Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại ý thức " , làhình ảnh tinh thần của sự vật khách quan Vì vậy không thể đồng nhất hoặctách rời ý thức với vật chất Ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan , nhưng

Trang 7

nó là cái thuộc phạm vi chủ quan , là thực tại chủ quan , không có tính vật chất

Ý thức là hình ảnh phi cảm tính của các đối tượng vật chất có tồn tại cảm tính Nếu coi ý thức cũng là một hiện tượng vật chất thì sẽ lẫn lộn giữa vật chất và ýthức , làm mất ý nghĩa của sự đối lập giữa vật chất và ý thức , từ đó đó dẫn đếnlàm mất đi sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

Tuy nhiên , ý thức không phải là bản sao giản đơn , thụ động máy của sựvật Ý thức là của con người , mà con người là một thực thể xã hội năng động ,sáng tạo Ý thức phản ánh thế giới khách quan trong quá trình con người tácđộng , cải tạo thế giới Do đó ý thức con người là sự phản ánh có tính năngđộng , sáng tạo Ý thức là sự phản ánh sáng tạo lại hiện thực , theo nhu cầuthực tiễn xã hội Vì vậy ý thức " chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyểnvào đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó " Nói cách khác , ý thức làhình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú Trên cơ sởnhững cái đã có , ý thức có thể tạo ra tri thức về sự vật , có thể tưởng tượng racái không có trong thực tế Ý thức có thể tiên đoán , dự báo tương lai ( phảnánh vượt trước ) , có thể tạo ra những ảo tưởng , những huyền thoại , những giảthuyết , lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng và khái quát cao , thậm chí ở một

số người có những khả năng đặc biệt như tiên tri , thôi miên , ngoại cảm , thấuthị Những khả năng đó càng nói lên tính chất phức tạp và phong phú của đờisống tâm lý - ý thức ở con người mà khoa học còn phải tiếp tục đi sâu nghiêncứu để làm sáng tỏ bản chất của những hiện tượng kì lạ đó

Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người , song đây làphản ánh đặc biệt - phản ánh trong quá trình con người cải tạo thế giới Quátrình ý thức là quá trình thống nhất của 3 mặt sau đây :

Một là , trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh Sự traođổi này mang tính hai chiều , có định hướng và chọn lọc các thông tin cần thiết

Trang 8

Hai là ,mô hình hoá đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần Thực chất đây là quá trình sáng tạo lại hiện thực của ý thức theo nghĩa mã hóacác đối tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất

Ba là , chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan , tức quá trìnhhiện thực hóa tư tưởng , thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm thànhcái thực tại , biến các ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chấtngoài hiện thực Trong giai đoạn này con người lựa chọn những phương pháp ,phương tiện , công cụ để tác động vào hiện thực khách quan nhằm thực hiệnmục đích của mình Điều đó càng nói lên tính năng động sáng tạo của ý thức Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất Sángtạo của ý thức là sáng tạo của sự phản ánh , theo quy luật và trong khuôn khổcủa sự phản ánh , mà kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần Sựsáng tạo của ý thức không đối lập , loại trừ , tách rời sự phản ánh , mà ngược lạithống nhất với phản ánh , trên cơ sở phản ánh Phản ánh và sáng tạo là hai mặtthuộc bản chất của ý thức Ý thức - trong bất kỳ trường hợp nào - cũng là sựphản ánh và chính thực tiễn xã hội của con người tạo ra sự phản ánh phức tạp ,năng động , sáng tạo của bộ óc

Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần tuý mà là một hiệntượng xã hội Ý thức bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử - xã hội , phản ánh nhữngquan hệ xã hội khách quan C.Mác khẳng định :" ngay từ đầu , ý thức đã là mộtsản phẩm xã hội , và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại "

3 Kết cấu của ý thức

Ý thức có kết cấu phức tạp , bao gồm nhiều thành tố có quan hệ vớinhau Có thể phân chia kết cấu đó theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo cách tiếpcận Ở đây có thể chia cấu trúc đó theo hai chiều sau đây :

3.1 Theo chiều ngang

Bao gồm các yếu tố cấu thành như tri thức , tình cảm , niềm tin , lý trí , ýtrí Trong đó tri thức là nhân tố cơ bản , cốt lõi

Trang 9

Tri thức là kết quả của quá trình con người nhận thức thế giới , là sự phảnánh thế giới khách quan Tri thức có nhiều lĩnh vực khác nhau như tri thức về

tự nhiên , về xã hội , về con người và có nhiều cấp độ khác nhau như tri thứccảm tính và tri thức lý tính , tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận , tri thứctiền khoa học và tri thức khoa học Để cải tạo tự nhiên và xã hội , con ngườiphải có hiểu biết về thế giới , nghĩa là phải có tri thức về sự vật Do đó mọihiện tượng ý thức đều có nội dung tri thức ở mức độ nhất định Ý thức màkhông bao hàm tri thức , không dựa vào tri thức vì ý thức đó là một sự trừutượng , trống rỗng , không giúp ích gì cho con người trong hoạt động thực tiễn Theo Mác tri thức là phương thức mà theo đó ý thức tồn tại và theo đó một cái

gì đó nảy sinh ra đối với ý thức Cho nên một cái gì đó nảy sinh ra đối với ýthức chừng nào mà ý thức biết cái đó Quá trình hình thành và phát triển của ýthức cũng là quá trình con người tìm kiếm , tích luỹ tri thức về thế giới xungquanh Càng hiểu biết về sự vật thì ý thức về sự vật càng sâu sắc

Tuy nhiên , sự tác động của thế giới bên ngoài đến con người không chỉđem lại hiểu biết về thế giới mà còn đem lại tình cảm của con người đối với thếgiới Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh tồn tại , nó phản ánhquan hệ giữa người với người và quan hệ giữa người với thế giới khách quan Tình cảm tham gia vào mọi hoạt động của con người và trở thành một trongnhững động lực quan trọng của hoạt động con người Tri thức có biến thànhtình cảm mãnh liệt mới sâu sắc và phải thông qua tình cảm thì mới biến thànhhành động thực tế , mới phát huy được sức mạnh của mình

3.2 Theo chiều dọc

Đó là lát cắt theo chiều sâu của thế giới nội tâm con người bao gồm cácyếu tố như tự ý thức , tiềm thức , vô thức Tất cả những yếu tố đó cùng vớinhững yếu tố khác quy định tính chất phong phú , phức tạp trong thế giới tinhthần và hoạt động tinh thần của con người

Trang 10

Trong quá trình nhận thức thế giới xung quanh , con người đồng thờicũng tự nhận thức bản thân mình , đó chính là tự ý thức Như vậy , tự ý thứccũng là ý thức , là một thành tố quan trọng của ý thức , song đây là ý thức vềbản thân mình trong mối quan hệ với ý thức về thế giới bên ngoài Tự ý thức là

ý thức của con người về những hành vi , những tình cảm , tư tưởng , động cơ ,lợi ích của mình , về địa vị của mình trong xã hội Tự ý thức là ý thức hướng vềnhận thức bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài Thông quaphản ánh thế giới xung quanh , con người ý thức mình như một cá nhân đangtồn tại , đang hoạt động , có tư duy , có cảm giác , có các hành vi đạo đức và có

vị trí trong xã hội Tự ý thức không chỉ là tự ý thức của cá nhân mà còn là tự ýthức của một giai cấp , một tập đoàn xã hội , thậm chí của xã hội Trình độ tự ýthức nói lên trình độ phát triển của nhân cách , trình độ làm chủ bản thân Nhờ

có tự ý thức , con người tự điều chỉnh bản thân theo các quy tắc , các chuẩn mực

mà xã hội đề ra

Tiềm thức là những hoạt động tâm lý ( chủ yếu là hoạt động nhận thức ở

cả hai trình độ cảm tính và tư duy) tự động diễn ra bên ngoài sự kiểm soát củachủ thể , song lại có liên quan trực tiếp đến các hoạt động tâm lý đang diễn radưới sự kiểm soát của chủ thể ấy Về thực chất , tiềm thức là những tri thức màchủ thể đã có được từ trước ( bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp nắm bắt chúng )nhưng đã gần như trở thành bản năng , thành kĩ năng nằm trong tầng sâu của ýthức chủ thể , là ý thức dưới dạng tiềm năng Do đó tiềm thức có thể tự độnggây ra các hoạt động tâm lý và nhận thức mà chủ thể không cần kiểm soátchúng một cách trực tiếp Tiềm thức có vai trò quan trọng cả trong hoạt độngtâm lý hàng ngày của con người và cả trong tư duy khoa học Trong tư duykhoa học , vai trò của tiềm thức chủ yếu gắn với các loại hình tư duy chính xác ,với các hoạt động tư duy thường lặp đi lặp lại nhiều lần Ở đây tiềm thức gópphần làm giảm sự quá tải của đầu óc trong việc xử lý một khối lượng các tài liệu, dữ kiện , tin tức diễn ra một cách lặp đi , lặp lại mà vẫn đảm bảo được độchính xác và chặt chẽ cần thiết của tư duy khoa học

Trang 11

Vô thức là những hiện tượng tâm lý không phải do lý trí điều khiển Lĩnhvực vô thức là lĩnh vực các hiện tượng tâm lý nằm ngoài phạm vi của lý trí mà ýthức không kiểm soát được trong một lúc nào đó Chúng liên quan đến nhữnghoạt động xảy ra bên ngoài phạm vi của lý trí hoặc chưa được con người ý thứcđến Con người là một thực thể xã hội có ý thức nhưng không phải mọi hành vicủa con người đều do lý thí chỉ đạo Trong đời sống của con người , có nhữnghành vi do bản năng chi phối hoặc do những động tác được lặp đi lặp lại nhiềulần trở thành thói quen tới mức chúng vẫn tự động xảy ra ngay cả khi không có

sự chỉ đạo của lý trí Những hành vi thuộc loại như vậy là những hành vi vôthức , do vô thức điều khiển , nói cách khác , vô thức là những trạng thái tâm lý

ở chiều sâu , điều chỉnh sự suy nghĩ , hành vi , thái độ ứng xử của con người màchưa có sự truyền tin bên trong , chưa có sự kiểm tra , tính toán của lý trí Vôthức biểu hiện ra thành những hiện tượng khác nhau như bản năng ham muốn ,giấc mơ , bị thôi miên , mặc cảm , sự lỡ lời , nói nhịu , trực giác Mỗi hiệntượng vô thức có vùng hoạt động riêng , có vai trò , chức năng riêng , song tất

cả đều có một chức năng chung là giải toả những ức chế trong hoạt động thầnkinh vượt ngưỡng nhất là những ham muốn bản năng không được phép bộc lộ

ra và thực hiện trong quy tắc của đời sống cộng đồng Nó góp phần quan trọngtrong việc lập lại thế cân bằng trong hoạt động tinh thần của con người màkhông dẫn tới trạng thái ức chế quá mức như ấm ức , sự dày vò mặc cảm Nghiên cứu những hiện tượng vô thức giúp cho con người luôn luôn làm chủđời sống nội tâm của mình , có phương pháp kìm chế đúng quy luật những trạngthái ức chế của tinh thần Như vậy vô thức có vai trò và tác dụng nhất địnhtrong đời sống và hoạt động của con người Nhờ vô thức , con người tránhđược tình trạng căng thẳng không cần thiết do thần kinh khi làm việc quá tải Nhờ vô thức mà những chuẩn mực con người đặt ra được thực hiện một cách tựnhiên không có sự khiên cưỡng Vô thức có ý nghĩa quan trọng trong hoạt độnggiáo dục thế hệ trẻ , trong hoạt động khoa học và nghệ thuật Vì vậy không thểphủ nhận vai trò của vô thức trong cuộc sống , nếu phủ nhận vô thức sẽ không

Trang 12

thể hiểu đầy đủ và đúng đắn về con người Tuy nhiên không nên cường điệuhoá , tuyệt đối hóa và thần bí hoá vô thức Không nên coi vô thức là hiện tượngtâm lý cô lập , hoàn toàn tách biệt khỏi hoàn cảnh xã hội xung quanh và tuyệtnhiên không phải nó không có liên hệ gì đến ý thức Thực ra vô thức là vô thứcnằm trong con người có ý thức , con người là một thực thể có ý thức Giữ vaitrò chủ đạo trong hoạt động của con người là ý thức chứ không phải vô thức Nhờ có ý thức mới điều khiển được các hiện tượng vô thức hướng tới chân ,thiện , mỹ Vô thức chỉ là một mắt khâu trong cuộc sống có ý thức của conngười

4 Vai trò và tác dụng của ý thức Ý nghiã phương pháp luận của mối quan hệgiữa vật chất và ý

Kẻ thù của chủ nghĩa Mác thường xuyên tạc là chủ nghĩa Mác chỉ biếtđến vật chất , kinh tế mà coi nhẹ vai trò của ý thức tư tưởng Thực ra hoàn toànkhông phải như vậy Chỉ có chủ nghĩa duy vật tầm thường , không biện chứng ,duy vật kinh tế mới phủ nhận hoặc coi nhẹ vai trò của các yếu tố tinh thần , ýthức mà thôi

Khi khẳng định vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức , chủ nghĩaduy vật Mácxít đồng thời cũng vạch rõ sự tác động trở lại vô cùng quan trọngcủa ý thức đối với vật chất Ý thức do vật chất sinh ra và quyết định , song saukhi ra đời , ý thức có tính độc lập tương đối nên có tác động trở lại to lớn đốivới vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Ý thức của conngười có tác động tích cực , làm biến đổi hiện thực , vật chất khách quan theonhu cầu của mình Quan hệ giữa vật chất và ý thức không phải là quan hệ mộtchiều mà là quan hệ tác động qua lại Không thấy điều đó sẽ rơi vào quan niệmduy vật tầm thường và bệnh bảo thủ trì trệ trong nhận thức và hành động

Nói tới vai trò của ý thức về thực chát là nói tới vai trò của con người ,bởi vì ý thức là ý thức của con người Bản thân ý thức không trực tiếp thay đổiđược gì trong hiện thực cả Theo Mác " lực lượng vật chất chỉ có thể đánh đổi

Trang 13

bằng lực lượng vật chất " , cho nên muốn thực hiện tư tưởng phải sử dụng lựclượng thực tiễn Điều đó cũng có nghĩa là con người muốn thực hiện thực hiệnđược các quy luật khách quan thì phải nhận thức vận dụng đúng đắn những quyluật đó , phải có ý chí và có phương pháp để tổ chức hành động Cho nên vaitrò của ý thức là ở chỗ chỉ đạo hoạt động của con người , hình thành mục tiêu ,

kế hoạch , ý chí , biện pháp cho hoạt động của con người Ở đây ý thức , tưtưởng có thể quyết định làm cho con người hoạt động đúng hay sai , thành cônghay thất bại trên cơ sở những điều kiện khách quan nhất định

Vai trò tích cực của ý thức , tư tưởng không phải ở chỗ nó trực tiếp tạo rahay thay đổi thế giới vật chất mà là nhận thức thế giới khách quan và từ đó làmcho con người hình thành được mục đích , phương pháp , biện pháp và ý chí cầnthiết cho hoạt động của mình Sức mạnh của ý thức con người không phải ởchỗ tách rời điều kiện vật chất , thoát ly hiện thực khách quan , mà biết dựa vàođiều kiện vật chất đã có , phản ánh đúng quy luật khách quan để cải tạo thế giớikhách quan một cách chủ động , sáng tạo với ý chí , nhiệt tình cao Con ngườiphản ánh càng đầy đủ và chính xác thế giới khách quan thì càng cải tạo thế giới

có hiệu quả Vì vậy phải phát huy tính năng động , sáng tạo của ý thức , pháthuy vai trò nhân tố con người để tác động cải tạo thế giới khách quan Đồngthời phải khắc phục bệnh bảo thủ , trì trệ , thái độ tiêu cực , thụ động , ỷ lại ,ngồi chờ trong quá trình đổi mới hiện nay

Tuy nhiên cơ sở cho việc phát huy tính năng động chủ quan là việc thừanhận và tôn trọng tính khách quan của vật , của các quy luật tự nhiên và xã hội Nếu như thế giới vật chất - với những thuộc tính và quy luật vốn có của nó - tồntại khách quan , không phụ thuộc vào ý thức con người thì trong nhận thức vàhoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan , lấy thực tế kháchquan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình Chính vì vậy , Lênin đã nhiềulần nhấn mạnh rằng không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chínhsách , không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lượccách mạng Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan , nếu lấy ý chí áp đặt cho

Trang 14

thực tế , lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ýchí

Trước Đại hội Đảng lần thứ VI , bên cạnh những thành tựu đạt được ,chúng ta đã phạm những sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xâydựng cơ sở vật chất - kỹ thuật , cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế Chúng ta đã nóng vội muốn xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần , vi phạmnhiều quy luật khách quan Cương lĩnh của Đảng được thông qua tại Đại hộilần thứ VII đã khẳng định :" Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí , viphạm quy luật khách quan " Vì vậy , từ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin cũngnhư từ những kinh nghiệm thành công và thất bại trong quá trình lãnh đạo cáchmạng , Đại hội lần thứ VII của Đảng ta đã rút ra bài học quan trọng là : " Mọiđường lối , chủ Đảng phải xuất phát từ thực tế , tôn trọng quy luật khách quan ".Bài học đó có ý nghĩa thời sự nóng hổi trong quá trình đổi mới đất nước ta Đạihội lần thứ VIII của Đảng ta đã tổng kết 10 năm đổi mới , đề ra những mụctiêu , phương pháp cho thời kì mới - thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiệnđại hoá đất nước Trong thời kì mới này phải " lấy việc phát huy nguồn lực conngười làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững " , chúng ta cầntránh sai lầm chủ quan nóng vội trong công nghiệp hoá , hiện đại hóa đồng thờiphải " khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước , ý chí quật cường , phát huy tàichí của nguời Việt Nam , quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu "

Chương 2 Vai trò của tri thức khoa học trong công cuộc đổi mới nền kinh tế ởnước ta

1 Vai trò của tri thức khoa học trong nền kinh tế - xã hội

Trang 15

Trên phạm vi thế giới những tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ mới

đẫ làm cho lợi thế so sánh của mỗi quốc gia biến đổi không ngừng , làm thayđổi mối quan hệ giữa các nước , trong đó mỗi nước đều có cơ hội to lớn để tìm

ra lợi thế so sánh mới cho mình và đều đứng trước những thách thức mới Trong điều kiện như vậy các nước phụ thuộc lẫn nhau rất mạnh mẽ

Tiến bộ khoa học - kỹ thuật thực sự góp phần không nhỏ vào quá trìnhquốc tế hoá đời sống kinh tế này , đã làm nảy sinh sự liên kết kinh tế đa dạng ,nhiều chiều Chính tiến bộ khoa học - kỹ thuật , một mặt đang làm thay đổinhững quan điểm trước đây về một nền kinh tế độc lập , tự chủ , hoàn chỉnh ,dẫn thế giới đến một chỉnh thể đầy mâu thuẫn đòi hỏi phải có cách giải quyếtmới , mặt khác , dẫn đến sự cấu trúc lại nền kinh tế cả trên phạm vi thế giới lẫntrong nội bộ từng nước

Nền kinh thế giới chuyển dần sang cơ cấu phát triển theo chiều sâu , đặcbiệt là trong công nghiệp cơ cấu đó chuyển dịch khá nhanh về phía nhữngngành có hàm lượng khoa học , công nghệ và trí tuệ cao , cơ cấu tiêu thụ giảmtheo hướng giảm các sản phẩm dùng nhiều lao động và nguyên liệu Chính tiến

bộ khoa học - kỹ thuật đã làm cho vai trò của năng lượng và lợi thế so sánh củanguyên liệu và sản phẩm sơ cấp trong công nghiệp giảm dần , do vậy mà mới cótình trạng chỉ số giá cả các sản phẩm sơ cấp và nguyên liệu trên thị trường thégiới giảm tói 40% so với đầu thập kỷ 80 Cũng do sự chuyển dịch nhanh chóng

đó mà hiện nay đã có tới 11 trong số 28 ngành công nghiệp chính của thế giớiđang bị lu mờ , bị coi là đã xế chiều và đang bị các ngành mới ra đời lấn át hoặcthay thế hoàn toàn Trước tình hình đó để tránh thua thiệt những nước xuấtkhẩu nguyên liệu và các sản phẩm sơ cấp - mà ở đây chủ yếu là các nước đangphát triển - phải tìm cách nhanh chóng nâng cao năng lực biến đổi tài nguyênthành sản phẩm tiêu dùng cao cấp , muốn như thế thì không có cách nào kháchơn là phải tìm đến tiến bộ khoa học - kỹ thuật

Như vậy , do tác động của tiến bộ khoa học - kỹ thuật mà yêu cầu phải đổimới về mặt kinh tế , từ cơ cấu sản xuất cho đến quan hệ giữa các quốc gia , trở

Trang 16

thành một tất yếu không thể cưỡng lại được nếu như quốc gia đó muốn tồn tại

và không bị nhấm chìm

Tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong giai đoạn hiện nay , một mặt , tạo điềukiện cho sự quản lý sản xuất , quản lý xã hội nhanh nhạy và linh hoạt hơn , mặtkhác nó lại cũng đòi hỏi phải có sự quản lý đối với nó nhanh nhạy và linh hoạtnhư vậy Vì thế tiến bộ khoa học - kỹ thuật thực tế là mâu thuẫn với cơ chế tậptrung quan liêu bao cấp Những thay đổi nhanh chóng trong kỹ thuật và trongcông nghệ cũng như trong tổ chức sản xuất , trong các mặt hàng , các sản phẩmđược làm ra đòi hỏi phải có cách quản lý linh hoạt , mềm dẻo có hiệu quả cao ,nghĩa là để chuyển sang chất lượng mới của sự phát triển thì phải có sự đổi mớisâu sắc và căn bản trong cơ chế quản lý Một hệ thống kinh tế bị đóng kín , bịgiới hạn từ trên xuống dưới , bị hạn chế quan hệ ngang , được điều khiển bằngmệnh lệnh tập trung và quan liêu không tránh khỏi kìm hãm sự phát triển của xãhội , sự tiến bộ khoa học - kỹ thuật cho nên tất yếu phải bị thay thế

Ngày nay việc quản lý xã hội , trong đó quan trọng quản lý kinh tế , quản

lý nhà nước , thành công đến mức nào là tuỳ thuộc vào khả năng xử lý thông tin Không theo kịp những biến đổi hết sức mới trong lĩnh vực này mà khư khư giữlấy cách quản lý cũ , lạc hậu thì không tránh khỏi bỏ lỡ thời cơ có thể vươn lên

để tiến kịp cùng thời đại và thoát ra sự trì trệ

Cùng với những biến đổi về chất lượng trong lực lượng sản xuất , trongkinh tế và trong quản lý xã hội , tiến bộ khoa học - kỹ thuật còn tạo nên nhữngbiến đổi ghê gớm trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự , trong việc tạo ra nhữngphương tiện phá hoại và huỷ diệt sự sống , làm gay gắt những vấn đề toàn cầucủa thời đại Sức mạnh quân sự của một quốc gia lúc này không chỉ phụ thuộcvào số lượng lớn binh lính , vào những loại vũ khí thông thường có sức côngphá lớn đã từng một thời làm mọi người khiếp đảm mà còn phụ thuộc rất lớnvào các vũ khí dựa trên những tiến bộ khoa học - kỹ thuật mới nhất , thậm chí

có khi chỉ phụ thuộc vào một số ít người thuộc các ngành nghề khác nhau từnhà chính trị cho đến nhà sinh học , y học chuyên nghiên cứu các vi khuẩn gây

Trang 17

bệnh , từ nhà vật lý hạt nhân cho đến người điều khiển tên lửa mang đầu đạn hạtnhân Những tiến bộ khoa học - kỹ thuật mới nhất được sử dụng để sản xuấtcác loại vũ khí giết người hàng loại

Chẳng hạn , đứng về mặt kỹ thuật mà xét thì số vũ khí hiện có đã đủ để xoásạch hoàn toàn nhiều lần toàn bộ sự sống trên trái đất nếu chiến tranh hạt nhânxảy ra Chỉ riêng một tầu ngầm chiến lược , trong số hàng trăm tàu ngầm hiện

có , cũng mang theo tiềm năng huỷ diệt tương đương với mấy cuộc chiến tranhthế giới thứ hai trong cuộc chiến tranh mới đó không ai có thể tìm thấy phầnthắng Trước nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tranh thế giới có sức huỷ diệt lớnnhư vậy những người đứng đầu các quốc gia buộc phải đổi mới cách đánh giá ,cách nhìn nhận các quan hệ chính trị quốc tế , cách giải quyết mâu thuẫn khuvực và thế giới , đổi mới quan niệm về quốc phòng và an ninh mới Nếu làmngược lại chắc chắn không thể tránh được những hậu quả ghê gớm khó lườngtrước được

Nhờ tiến bộ khoa học - kỹ thuật mà càng ngày người ta càng tạo ra đượcnhiều loại nguyên liệu và vật liệu có thể thay thế những thứ từ trước đến nay chỉ

có thể dựa vào sự cung cấp của thiên nhiên Vì vậy tiến bộ khoa học - kỹ thuậtđang làm cho ưu thế dưới dạng tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên trở nêntương đối

Tiến bộ khoa học - kỹ thuật một mặt tạo thời cơ thuận lợi cho các nướcnày thoát ra khỏi sự lạc hậu và trì trệ nếu như biết định hướng đúng , nếu có mộttiềm năng nhất định nào đó về nguồn vốn và nguồn nhân lực có trình độ cầnthiết để tiếp thu các công nghệ tương đối hiện đại Khi đã có những kĩ thuật vàcông nghệ mới , tiến bộ thì vấn đề đặt ra tiếp theo là giải quyết việc làm cho sốlao động dôi ra , tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm Nếu giải quyết tốt chúng thìkhả năng hội nhập của các nước này với trào lưu chung của thế giới là hiện thực Song tiến bộ khoa học - kỹ thuật thời đại chúng ta còn có một mặt khác nghiệtngã là hoàn toàn có khả năng nhấn các nước kém phát triển chìm sâu hơn trongcảnh lạc hậu và phụ thuộc , đồng thời còn tạo nên một khoảng cách còn lớn gấp

Trang 18

bội so với khoảng cách đã từng tồn tại trước đây giữa họ và các nước phát triểnnếu như họ không tìm ra con đường thích hợp hoặc cố tình duy trì cách làm ăn

cũ , thói quen cũ , không thích nghi với những biến đổi của thời đại

Như vậy , trong thế giới hiện đại vừa liên kết hợp tác , vừa chứa đầy mâuthuẫn và cạnh tranh với nhau khốc liệt , mọi quốc gia trong đó có chúng ta , nếumuốn giành cho một vị trí xứng đáng hay ít ra để không bị nhấn chìm , đềukhông thể cưỡng lại xu thế của thời đại là đổi mới mọi mặt trên cơ sở nhậnthức , đánh giá và sử dụng đúng đắn , nhanh chóng các tiến bộ khoa học - kỹthuật mới nhất được loài người tạo ra , đồng thời biết khai thác và tạo đượcnhững điều kiện cho sự khai thác những nguồn lực khác có thể khai thác

2 Vai trò của tri thức khoa học trong công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay 2.1 Những thành tựu của công cuộc đổi mới nền kinh tế - xã hội ở nước ta 2.1.1 Bối cảnh thế giới và trong nước :

Thế giới và nền sản xuất của nó đang chuyển biến hết sức nhanh chóngdưới tác động mạnh mẽ của tiến bộ khoa học - kỹ thuật mà đỉnh cao mới lànhững tiến bộ do cách mạng công nghệ , cách mạng tin học mang lại Nhiềunước đã và đang tiến hành những cải cách rộng rãi , mạnh bạo , đặc biệt là tronglĩnh vực thông tin

Tuy nhiên cũng trong bối cảnh đó các nước xã hội chủ nghĩa đã rơi vàotình trạng nặng nề và rút cục bị lạc hậu về nhiều mặt Nguyên nhân của tìnhtrạng này là không đánh giá đúng đắn và kịp thời những tiến bộ khoa học - kỹthuật , thiếu những điều kiện cần thiết , thiếu một môi trường dân chủ thực sự

để cho con người phát huy mọi khả năng sáng tạo của mình Có thể thấy rõđiều này qua các chỉ số so sánh cụ thể giữa Liên Xô và Mĩ

Việt Nam tiến hành đổi mới trong bối cảnh bị cô lập tương đối về kinh tếtrong một thời gian dài Những hỗ trợ kinh tế và tài chính hầu như không đáng

kể , nguồn viện trợ vay của Liên Xô trước đây và các nước Đông Âu bị cắt Sựphong toả về kinh tế , sự lôi cuốn Việt Nam vào những xung đột chính trị và

Trang 19

quân sự đã buộc đất nước phải tiêu hao nguồn lực mà lẽ ra có thể sử dụng chotăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội

Tuy nhiên bên cạnh đó chúng ta cũng có một số cơ may và thuận lợi : xuthế hoà bình và hợp tác kinh tế quốc tế đang mở rộng , sự phát triển như vũ bãocủa cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại , vị trí địa lý thuận lợi cho

sự phát triển kinh tế

2.1.2 Công cuộc đổi mới và những thành tựu đã đạt được ở nước ta

Đại hội Đảng lần thứ VI ( tháng 12 / 1986 ) đã đưa ra những quan điểm cơbản trong quá trình đổi mới ở nước ta là :

_Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hộichủ nghĩa

_Chuyển nền kinh tế vận hành từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung , quanliêu , bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa

_Mở cửa nền kinh tế , đa dạng hoá , đa phương hóa và nâng cao hiệu quảkinh tế đối ngoại trên cơ sở mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước trongkhu vực và trên thế giới

_Dân chủ hoá mọi mặt đời sống kinh tế xã hội , tiến tới đổi mới hànhchính và xây dựng Nhà nước trong sạch vững mạnh

Nhìn vào một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản , chúng ta thấy những nhân tố ổnđịnh của nền kinh tế đã đạt được hình thành :

Tổng sản phẩm trong nước tăng đều và có xu hướng tăng nhanh trongnhững năm gần đây Trong gai đoạn 1986 - 1990 bình quân mỗi năm tăng 3,9%( 1986 tăng 0,3% ; 1987 tăng 3,6 % ; 1988 tăng 6% ; 1989 tăng 4,7% ; 1990tăng 5,1% ) Trong giai đoạn 1991 - 1995 bình quân mỗi năm tăng 8,7 %( 1991 tăng 6% ; 1992 tăng 8,6% ; 1993 tăng 8,1% ; 1994 tăng 8,8% ; 1995 tăng9,5% ; 1996 tăng 9,34% ) Tăng trưởng kinh tế năm 1996 vẫn đạt trên mức 9%nói lên sự phát triển ổn định

Ngày đăng: 02/04/2017, 12:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w