1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu đặc điểm nhu cầu nhận thức của sinh viên trường đại học tây bắc

63 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 803,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đã đề ra, đề tài thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau: - Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài - Nghiên cứ

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ NHU CẦU, NHU CẦU NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 11

1.2 Một số vấn đề lí luận về nhu cầu nhận thức 12

1.2.1 Khái niệm về nhu cầu nhận thức 12

1.2.1.1 Khái niệm về nhu cầu 12

1.2.1.2 Khái niệm về nhận thức 14

1.2.2 Các đặc điểm của nhu cầu nhận thức 17

1.3 Nhu cầu nhận thức của sinh viên sư phạm 20

1.3.1 Khái quát về sinh viên 20

1.3.2 Khái niệm “sinh viên sư phạm” 22

1.3.3 Nhu cầu nhận thức của sinh viên sư phạm 24

1.4 Một số yếu tố tác động đến NCNT của sinh viên sư phạm 26

1.4.1 Những yếu tố khách quan 26

1.4.2 Những yếu tố chủ quan 27

Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 29

2.1.1 Về địa bàn nghiên cứu 29

2.1.2 Về khách thể nghiên cứu 29

2.2 Tổ chức nghiên cứu 30

2.3 Nhóm các phương pháp nghiên cứu 30

2.3.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu tài liệu lí luận, văn bản 30

2.3.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 31

Trang 2

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHU CẦU NHẬN THỨC CỦA SINH

VIÊN SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC 34

3.1 Thực trạng nhu cầu nhận thức của sinh viên 34

3.1.1 NCNT của sinh viên và phương thức thỏa mãn NCNT 34

3.1.1.1 Nhu cầu nhận thức của sinh viên 34

3.1.1.2 Nhận thức của sinh viên về phương thức thỏa mãn nhu cầu 41

3.1.2 Thực trạng nhu cầu nhận thức của sinh viên biểu hiện ở mặt thái độ 44

3.1.3 Thực trạng nhu cầu nhận thức của sinh viên biểu hiện ở mặt hành động 47

3.1.4 Nguyên nhân ảnh hưởng đến NCNT của sinh viên 48

3.2 Đặc điểm NCNT của sinh viên sư phạm Trường Đại học Tây Bắc 53

3.2.1 NCNT của SV sư phạm Trường ĐHTB có tính chuyên nghiệp rõ rệt 53

3.2.2 NCNT của sinh viên SP Trường ĐHTB có tính chuyên môn 54

3.2.3 NCNT của sinh viên sư phạm Trường ĐHTB có tính sư phạm 55

3.2.4 Đối tượng NCNT của SVSP Trường ĐHTB có nội dung phong phú, đa dạng 56

3.2.5 Phương thức thỏa mãn NCNT của SVSP Trường ĐHTB có những nét đặc thù 57

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong mỗi con người, nhu cầu là vô hạn Để thỏa mãn nhu cầu, con người phải tiến hành hoạt động Nhu cầu này được thỏa mãn thì nhu cầu khác lại xuất hiện Khi xã hội phát triển, quá trình hội nhập trở thành xu thế chung của toàn nhân loại, mỗi cá nhân đang được cổ vũ, khích lệ, có cơ hội phát huy hết tài năng, trí tuệ của mình để làm việc đạt hiệu quả cao Xã hội càng phát triển nhu cầu của con người cũng ngày càng tăng lên Trong mỗi con người người luôn luôn tồn tại cả hai dạng nhu cầu: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần

Nhu cầu nhận thức là một trong những nhu cầu tinh thần đặc trưng của con người Đó là những đòi hỏi, mong muốn, khát khao bù đắp sự thiếu hụt một cái

gì đó trong lĩnh vực nhận thức Nhu cầu nhận thức là nhu cầu về tri thức, nhu cầu hiểu biết, nhu cầu về thông tin có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của con người Sự thỏa mãn nhu cầu này có ý nghĩa to lớn đối với đòi sống của cá nhân và xã hội Nhu cầu nhận thức là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại và phát triển cho mỗi người Nếu xét theo quan điểm phát triển bền vững thì đó là điều kiện cần thiết để phát triển con người bền vững Vì vậy, quan tâm hình thành và phát triển nhu cầu nhận thức cho mỗi người ngày càng trở nên cấp thiết

Trong thời đại ngày nay, tri thức trở thành nhân tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển, tri thức là nguồn lực hàng đầu tạo ra sự tăng trưởng, quan trọng hơn cả vốn, tài nguyên, đất đai Khối lượng tri thức của con người ngày càng tăng lên, hầu hết những người làm ở các nghề nghiệp khác nhau đều phải đối mặt với một thực tế là kiến thức trang bị ban đầu không đủ giúp họ làm việc trong suốt cả cuộc đời Vì vậy, họ phải thường xuyên cập nhật và nâng cao kiến thức, kĩ năng của mình trong suốt cuộc đời như Lênin đã từng nói “Học, học nữa, học mãi”

Đối với thanh niên, sinh viên thì điều này lại càng cần thiết Trong bài phát biểu của mình tại cuộc gặp gỡ với sinh viên Đại học Bách khoa vào dịp sang thăm Việt Nam, tỉ phú Bill Gates đã nói: “Điều quan trọng nhất mà tôi muốn nhắn gửi đến các bạn là phải đầu tư vào việc học tập của mình Những

Trang 4

việc làm lý thú, đem lại nhiều tiền, giúp cải thiện thế giới, cải thiện cuộc sống của các bạn, … đều đòi hỏi rất nhiều từ việc học tập Đầu tư cho học tập là đầu

tư quan trọng nhất cho bản thân mình, cho đất nước mình Những người vào được đại học phải thấy mình có nghĩa vụ với quốc gia để có thể đem lại cho đất nước những điều mình làm được,… Những nguyên tắc tôi theo đuổi trong công việc là học hỏi điều mới lạ, lạc quan, có hoài bão,…”

Sinh viên sư phạm là những người giáo viên tương lai Nghề nghiệp của

họ rất đặc thù: vừa dạy chữ, vừa dạy người Thành quả lao động của họ được thể hiện ở bản thân học sinh Vì vậy, đòi hỏi họ phải nắm bắt rất nhiều vấn đề về nghề nghiệp, về xã hội, về cuộc sống để không chỉ là người làm tốt việc truyền thụ tri thức khoa học cho học sinh mà còn cung cấp cho các em những kiến thức

về xã hội, về con người Điều này đòi hỏi họ phải luôn luôn bị thôi thúc bởi những nhu cầu nhận thức tích cực Nhưng họ đã có hay chưa? Ở mức độ nào?

Và nhu cầu nhận thức của họ có đặc điểm gì? Làm thế nào để giúp họ phát triển nhu cầu cấp cao đó? Những vấn đề này còn ít được nghiên nghiên cứu ở sinh viên, đặc biệt ở sinh viên sư phạm, trong đó có sinh viên sư phạm Trường Đại học Tây Bắc Vì thế, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu đặc điểm nhu cầu nhận thức của sinh viên Trường Đại học Tây Bắc”

3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm nhu cầu nhận thức của sinh viên sư phạm

* Khách thể nghiên cứu

Khảo sát 120 sinh viên Sư phạm Trường Đại học Tây Bắc

4 Giả thuyết khoa học

Đa số sinh viên Sư phạm Trường Đại học Tây Bắc được nghiên cứu có

Trang 5

nhu cầu nhận thức và nhu cầu này mang một số nét đặc thù như: tính chuyên nghiệp, tình chuyên môn, tính sư phạm Nhu cầu nhận thức của sinh viên có sự khác nhau giữa các khoa, giới tính, khóa học Có rất nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến nhu cầu nhận thức của sinh viên Nếu có những biện pháp tác động phù hợp sẽ nâng cao nhu cầu nhận thức cho sinh viên

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đã đề ra, đề tài thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau:

- Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu thực trạng và những nguyên nhân ảnh hưởng đến nhu cầu nhận thức của sinh viên Sư phạm Trường Đại học Tây Bắc

- Nêu được các đặc điểm nhu cầu nhận thức của sinh viên

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm tác động đến nhu cầu nhận thức của sinh viên, giúp sinh viên tích cực hơn nữa trong hoạt động học tập

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

60 sinh viên khoa Toán – Lý – Tin (30 sinh viên năm thứ nhất – khóa 56,

30 sinh viên năm thứ 3 – khóa 54)

60 sinh viên khoa Ngữ văn (30 sinh viên năm thứ nhất – khóa 56, 30 sinh viên năm thứ 3 - khóa 54)

7 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu lí luận, văn bản

Trang 6

Phương pháp điều tra viết

Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học

Trang 7

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ NHU CẦU,

NHU CẦU NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

* Quan niệm về nhu cầu, nhu cầu nhận thức theo hướng tiếp cận của các nhà Tâm lí học phương Tây

Vấn đề nhu cầu đã được nghiên cứu từ khá lâu trong tâm lí học, ngay từ những thập kỉ đầu tiên của thế kỉ XX Từ đó đến nay đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của nhu cầu, từ những quan điểm sinh học thuần túy đến những quan điểm kinh tế, xã hội và triết học

* S.Freud cho rằng: Đời sống tâm lý của con người bao gồm 3 khối: “cái nó”, “cái tôi” và “cái siêu tôi”; trong đó, nhu cầu tự nhiên mà bản năng tính dục

“cái nó” khi không được thỏa mãn, bị dồn nén thì sẽ thăng hoa thành động lực chủ yếu thúc đẩy con người hoạt động Ông cũng cho rằng, mọi nhu cầu xã hội khác chỉ là biến thể của nhu cầu tự nhiên, chúng vẫn có cái gốc là nhu cầu tự nhiên, là bản năng tính dục S.Freud mới chỉ đề cập đến nhu cầu tự nhiên mà chưa đề cập đầy đủ đến nhu cầu xã hội và vai trò của nhu cầu xã hội đối với mỗi

cá nhân Như vậy, theo quan niệm của ông nhu cầu nhận thức cũng có nguồn gốc từ tự nhiên, là bản năng tính dục

* H Murray cho rằng, sự xuất hiện nhu cầu dẫn đến những thay đổi hóa học trong não và do tác động của chúng mà diễn ra hoạt động tư duy và tình cảm Bất kì nhu cầu nào cũng gây ra trong cơ thể sự căng thẳng nhất định, mà việc giải tỏa nó chỉ bằng cách thỏa mãn nhu cầu Như vậy, nhu cầu phóng ra các kiểu hành vi nhất định, mang lại sự thỏa mãn cần tìm Ông đã tính có gần 20 dạng nhu cầu, trong đó có những dạng nhu cầu như thành đạt (đạt được cái mong muốn), nhu cầu quan hệ, thuộc nhóm xã hội nhất định, nhu cầu thể hiện tính xâm kích, nhu cầu độc lập và khát vọng quyền lực [17, tr 319]Ông còn đưa

ra một danh mục các nhu cầu thứ phát là những nhu cầu có nguồn gốc tâm lý, xuất hiện do kết quả của sự dạy dỗ, học tập, huấn luyện dựa trên những bản năng tương ứng Đó là những nhu cầu thành tích, nhu cầu hội nhập, nhu cầu

Trang 8

được tôn trọng, nhu cầu an toàn, nhu cầu hiểu biết lẫn nhau, nhu cầu trốn tránh thất bại,… Ngoài ra tác giả còn đề xuất 8 loại nhu cầu nữa đặc trưng ở người như: nhu cầu sở thuộc, nhu cầu từ chối sự buộc tội, nhu cầu về tri thức, nhu cầu sáng tạo, nhu cầu giải thích, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu tiết kiệm và nhu cầu hợp tác Murray khẳng định, nhu cầu là một tổ chức cơ động, có chức năng

tổ chức, hướng dẫn và thúc đẩy hành vi Nhờ nhu cầu mà hoạt động mang tính mục đích, do đó hoặc là đạt được sự thỏa mãn nhu cầu, hoặc là ngăn ngừa sự đụng độ khó chịu với môi trường

Điểm giống nhau giữa H.Murray và S.Freud là: trong sự phát triển của mình, nhân cách trải qua hàng loạt các cấp độ Trong từng giai đoạn, cái chủ đạo

là cách thức đạt được sự thỏa mãn các nhu cầu

* E.Fromm phân chia thành 5 loại nhu cầu cơ bản:

1 Nhu cầu quan hệ giữa người với người

2 Nhu cầu tồn tại “cái tâm” con người

3 Nhu cầu bền vững và hài hòa

4 Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc

5 Nhu cầu nhận thức, nghiên cứu [3, tr.70]

E.Fromm đã đề cập đến nhu cầu nhận thức của con người trong 5 loại nhu cầu

cơ bản Nhưng theo quan điểm của ông, nhu cầu có nguồn gốc từ vô thức, và nhu cầu nhận thức của con người cũng có nguồn gốc từ vô thức

Một sự phân loại khác về nhu cầu của con người là của A.Maslow

* A.Maslow đưa ra hệ thống nhu cầu, quá trình nhận thức, triệu chứng nhân cách và năng lực Tất cả các yếu tố đó tạo nên động lực thúc đẩy hành vi

con người Động cơ thúc đẩy mạnh mẽ nhất là nhu cầu

Khác với Murray phân chia nhu cầu thành 20 dạng khác nhau, A.Maslow phân chia ra thành 5 loại nhu cầu

- Nhu cầu sinh lí: nhu cầu thỏa mãn, đói, khát, sinh dục, những nhu cầu này có tính bản năng, có cả ở động vật

- Nhu cầu an toàn: nhu cầu về sự yên ổn, trật tự và an ninh

- Nhu cầu yêu thương, nhu cầu lệ thuộc

Trang 9

- Nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu thành đạt, nhu cầu kết quả, nhu cầu về niềm tin

- Nhu cầu tự thực hiện: nhu cầu sáng tạo, nhu cầu hiểu biết, nhu cầu tri thức, nhu cầu nghệ thuật

Các loại nhu cầu này được chia thành nhu cầu cấp thấp và nhu cầu cấp cao

Nhu cầu cấp cao: nhu cầu tự thực hiện, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu yêu thương, lệ thuộc

Nhu cầu cấp thấp: nhu cầu an toàn, nhu cầu sinh lý

Ông cho rằng, nhu cầu sinh lý là nhu cầu mạnh nhất, còn nhu cầu tự thực hiện là nhu cầu yếu nhất Nhu cầu yêu thương, lệ thuộc là nhu cầu vừa cấp thấp, vừa cấp cao

Thứ tự các nhu cầu được ông nêu ra là rất quan trọng [1, tr.78-79]Ông cho rằng, nhu cầu được phân loại theo các nhóm cấu trúc có đẳng cấp từ thấp tới cao, mà tính chất nhất quán, logic của chúng chứng tỏ một trật tự xuất hiện các nhu cầu trong quá tình phát triển của cá thể, cũng như chứng tỏ sự phát triển của hệ thống động cơ Hệ thống gồm 5 nhóm nhu cầu trên xuất hiện một cách nhất quán, có trật tự cùng với quá trình phát triển của chủ thể Tuy nhiên, hệ thống nhu cầu có tính tầng bậc này lại hết sức linh hoạt, nó thường xuyên biến động theo mối quan hệ của chủ thể và hoàn cảnh Mặc dù các nhu cầu ở tầng bậc thấp hơn, về nguyên tắc sẽ dễ thỏa mãn hơn, và chúng được thỏa mãn thường xuyên hơn so với những nhu cầu ở các tầng bậc cao hơn, nhưng trong cùng một thời điểm, một người có thể trải nghiệm các nhu cầu thuộc các tầng bậc khác nhau Maslow cho rằng, các nhu cầu thuộc các tầng bậc cao hơn có thể ảnh hưởng tới mọi người, thậm chí cả trong những trường hợp khi mà tất cả các nhu cầu ở những tầng bậc thấp không được thỏa mãn đến cùng Chẳng hạn, các nhu cầu ăn uống của chúng ta ở một thời điểm hiện tại được thỏa mãn ở mức trung bình khoảng 80% và xu hướng này sẽ được tăng cường ở tất cả các trình độ tiếp theo của thứ bậc nhu cầu Và như vậy, mức độ biểu hiện nhu cầu tự hiện thực hóa của chúng ta trong trường hợp này có thể là 10%

Trang 10

* Vroom, đại diện cho hướng tiếp cận nhu cầu với tư cách là động cơ thúc đẩy

đã đưa ra một lý thuyết đáng chú ý là: Lý thuyết Động cơ thúc đẩy theo hy vọng Vroom cho rằng: động cơ thúc đẩy con người làm việc được quy định bởi giá trị

mà họ đặt vào kết quả cố gắng của họ (dù là tích cực hay tiêu cực), được nhân thêm bởi niềm tin mà họ cho rằng sự cố gắng của họ sẽ được hỗ trợ thực sự để đạt được mục tiêu

Theo ông, động cơ thúc đẩy là sản phẩm của giá trị mong đợi mà con người đặt vào mục tiêu và những cơ hội mà họ thấy sẽ hoàn thành được mục tiêu đó Quan điểm của Vroom đã khắc phục được tính đơn giản trong cách tiếp cận của A.Maslow, nó có thể lí giải được động cơ hành động của con người trong những trường hợp khác nhau [5, tr.109 - 110]

* Quan niệm nhu cầu, nhu cầu nhận thức theo quan điểm các nhà Tâm lí học hoạt động

Cùng với các nhà Tâm lí học phương Tây, nhu cầu cũng là vấn đề được nhiều nhà tâm lí học Liên Xô (cũ) như D.N.Uznatde, A.N.Leonchiev, J.A.Comenxki,…

đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa nhu cầu với hoạt động của con người

D.N.Uznatde [19, tr.12] là người đầu tiên trong tâm lý học Xô Viết đề cập một cách khá sâu sắc tới vấn đề nhu cầu Ông là người khám phá ra mối quan hệ giữa nhu cầu và hành vi Tương ứng với mỗi kiểu hành vi là một loại nhu cầu cơ bản Ông cho rằng, khi có một loại nhu cầu cụ thể nào đó xuất hiện, chủ thể hướng sức lực của mình vào thực tại xung quanh nhằm thỏa mãn nhu cầu đó Đó chính là cách nảy sinh hành vi Nhu cầu là một thuộc tính tâm lý đặc trưng giữ vai trò quan trọng thúc đẩy hành vi Ông đã có những đóng góp quan trọng đối với tâm lý học thế giới vì khẳng nhu cầu là yếu tố quyết định tạo ra tính tích cực,

nó xác định xu hướng, tính chất hành vi, không có nhu cầu thì không thể có tính tích cực Giữa nhu cầu và hành vi có liên quan mật thiết, vì thế có thể dựa vào nhu cầu để phân loại các hành vi khác nhau ở con người

A.N.Leonchiev đề cập đến vấn đề tương ứng giữa động cơ và nhu cầu Theo ông, một nhu cầu thực sự phải là nhu cầu về một cái gì đó Các nhu cầu của con người đều được sản xuất ra và được cải biến ngay trong quá trình sản

Trang 11

xuất và tiêu thụ Trên cấp độ tâm lý, các nhu cầu bao giờ cũng phải thông qua sự trung giới của phản ánh tâm lý - đối tượng thỏa mãn nhu cầu và bản thân trạng thái nhu cầu đều được chủ thể phản ánh Khi đó, xuất hiện các mối quan hệ hết sức động cơ giữa các nhu cầu và các đối tượng thỏa mãn nhu cầu Như vậy, đối tượng thỏa mãn nhu cầu luôn tồn tại khách quan nhưng tự nó không bộc lộ ra khi chủ thể có cảm giác thiếu hụt hay đòi hỏi mà chỉ khi con người thực sự hoạt động thì nó mới phát lộ ra Nhờ đó, nhu cầu có được tính đối tượng của nó, còn cái được nhận biết thì có chức năng thúc đẩy, hướng dẫn hoạt động, tức là trở thành động cơ hoạt động Vậy là nội dung đối tượng của nhu cầu chính là động

cơ Khi phân tích mối quan hệ giữa nhu cầu và hoạt động, A.N.Leonchiev đã cho rằng nhu cầu của con người đều được sản sinh ra trong quá trình hoạt động,

vì thế có thể biểu diễn mối quan hệ đó bằng một sơ đồ theo chu kì:

HOẠT ĐỘNG NHU CẦU HOẠT ĐỘNG

Dưới góc độ tâm lý học cá nhân, vấn đề nhu cầu được tiếp cận với tư cách một cấu trúc tâm lí quy định xu hướng nhân cách và được khẳng định rằng đó là động lực bên trong tạo nên tính tích cực của con người Một nhu cầu khi đã được con người phản ánh nó sẽ trở thành một trạng thái chủ quan, một thái độ của cá nhân, nó sẽ điều chỉnh hành vi, hoạt động của người đó [7, tr.192 - 211]

Nhu cầu bao giờ cũng có nội dung đối tượng của nó, tức là nhu cầu về một cái gì đó Vì thế, trong các loại nhu cầu cấp cao, nhu cầu tinh thần đã được quan tâm nghiên cứu, thì nhu cầu nhận thức là một trong những nhu cầu được đề cập đến từ lâu và khá nhiều trong giáo dục học, tâm lí học

J.A.Comenxki cho rằng: cần phải lôi cuốn, kích thích người học vào việc học của chính bản thân Ông rất coi trọng vai trò của nhu cầu học của người học đối với hiệu quả dạy học nói chung và học tập nói riêng Vì thế, ông đã dày công nghiên cứu tìm ra cách thức cơ bản, quan trọng nhằm hình thành, phát triển nhu cầu nhận thức ở chủ thể học tập, trong đó có vai trò tác động không nhỏ của yếu

tố khách quan, đặc biệt là vai trò của người giáo viên trong việc sắp xếp, chế biến tài liệu học tập phù hợp, sinh động, phương pháp dạy học, nội dung chương trình học tập vừa sức, thiết thực Theo ông, để hình thành và phát triển nhu cầu

Trang 12

nhận thức ở người học thì bản thân việc dạy học cũng như người giáo viên phải biết cách hấp dẫn người học, từ đó mới lôi cuốn, thúc đẩy họ học tập tích cực, chủ động với tư cách là chủ thể của hoạt động học tập [12]

K.D.Usinxki cũng khẳng định, nhu cầu nhận thức là cơ sở duy nhất vững chắc cho mọi sự học tập có hiệu quả Từ đó, ông cho rằng, cần phải dạy người học biết định hướng về học tập, tự hình thành và phát triển nhu cầu nhận thức của bản thân Điều này cũng có nghĩa là muốn hình thành, phát triển nhu cầu nhận thức phải tác động vào tự ý thức của người học để làm thay đổi từ nhận thức, thái độ đến việc xây dựng thói quen tích cực học tập

B.B.Đavưđov là người đã có những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu về nhu cầu nhận thức Ông nhận thấy rằng, tiền đề của nhu cầu đối với hoạt động học xuất hiện ở trẻ mẫu giáo lớn trong quá trình tham gia các trò chơi đóng vai là những trò chơi mà qua đó tưởng tượng và các chức năng biểu tượng phát triển mạnh mẽ Nhu cầu học tập được hình thành, phát triển trong quá trình học tập, khi đứa trẻ lĩnh hội kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học, kiến thức lí luận với tư cách là nội dung của hoạt động học, đồng thời cũng là nhu cầu về hoạt động học Trong quá trình hình thành nhu cầu học tập ở học sinh tiểu học đã diễn ra sự cụ thể hóa nó trong những động cơ khác nhau thúc đẩy trẻ thực hiện các hành động học tập

Các nhà tâm lý học hoạt động cũng khẳng định: về bản chất, con người là một thực thể xã hội, nghĩa là thông qua hoạt động và giao tiếp thì nhân cách của con người mới được hình thành và phát triển Sự hình thành các nhu cầu thúc đẩy hành vi có liên quan đến bản chất xã hội của tâm lý người; kể cả nhu cầu sinh vật của con người (trong đó có bản năng và ham muốn) cũng được xã hội hóa theo mức độ phát triển của xã hội loài người

Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu đã khẳng định vai trò đặc biệt của nhu cầu đối với hoạt động của nói chung và của nhu cầu nhận thức đối với hoạt động nhận thức nói riêng Kết quả cũng cho thấy, trong hoạt động dạy học, để phát huy tính tích cực, tự giác học tập ở người học, để nâng cao hiệu quả của

Trang 13

việc dạy học nói chung, điều quan trọng là phải hình thành nâng cao mức độ nhu cầu nhận thức ở bản thân người học

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, nghiên cứu về nhu cầu đã có nhiều nhà Tâm lí học đầu ngành bàn đến như: Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành… Các tác giả đã bàn luận về các khía cạnh: khái niệm, phân loại, mức độ, vai trò của nhu cầu trên quan điểm truyền thống của các nhà tâm lí học hoạt động Dù mỗi tác giả có cách lập luận khác nhau nhưng đều chung quan điểm: Nhu cầu được hiểu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của các cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển Các công trình này đã làm rõ thêm lí luận

về nhu cầu, vai trò của nhu cầu trong thực tiễn đời sống tâm lí con người

Đương thời Bác Hồ đã nói đến vai trò quan trọng của nhu cầu nhận thức đối với việc phát huy tinh thần độc lập, tự giác trong học tập của học sinh, sinh viên Kết quả những nghiên cứu khoa học sau này đã hoàn toàn khẳng định điều

đó Các tác giả: Nguyễn Kế Hào, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Lũy, Hoàng Thị Thu Hà,… đã chỉ ra rằng nhu cầu nhận thức có tính “không no”, nó phát triển không ngừng theo mức độ thỏa mãn Đó là nhu cầu đối với những kiến thức mới, đối với quá trình và phương thức tiếp nhận những kiến thức này Các nghiên cứu cũng cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa nhu cầu nhận thức và nhu cầu học tập với động cơ học tập Các yếu tố như phương pháp, nội dung chương trình, cách thức tổ chức hoạt động có ảnh hưởng đến nhu cầu nhận thức với tư cách là thành tố cơ bản của động cơ học tập Các tác giả cũng đã chứng minh rằng, nếu dạy học theo kiểu khái quát hóa lí luận thì nhu cầu học tập phát triển bền vững Việc dạy học theo phương pháp tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh là một trong những giải pháp quan trọng nhằm phát triển nhu cầu nhận thức ở học sinh [15,19]

Việc nghiên cứu nhu cầu nhận thức ở sinh viên sư phạm là một trong những hướng tích cực nhằm thúc đẩy hoạt động học tập của sinh viên, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội Vì thế, nghiên cứu nhằm đề xuất những biện pháp

Trang 14

giáo dục và phát triển nhu cầu nhận thức cho sinh viên sư phạm đang ngày càng được quan tâm bởi đó là một trong những vấn đề quan trọng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập và đào tạo trong nhà trường sư phạm cũng như đáp ứng

xu thế phát triển nghề nghiệp trong tương lai của mỗi cá nhân sinh viên

1.2 Một số vấn đề lí luận về nhu cầu nhận thức

1.2.1 Khái niệm về nhu cầu nhận thức

1.2.1.1 Khái niệm về nhu cầu

Trong các tài liệu tâm lí học có thể tìm thấy nhiều định nghĩa khác nhau

về nhu cầu; mỗi tác giả khác nhau dựa trên các cách tiếp cận khác nhau lại có định nghĩa khác nhau về nhu cầu Tuy nhiên, qua các tài liệu chúng tôi tổng hợp thành các hướng chính cơ bản sau:

* Nhu cầu là sự xác định đối tượng của môi trường bên ngoài, nó cần thiết đối với hoạt động sống của con người

Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cũng có quan niệm về nhu cầu tương tự như quan niệm của tác giả Đặng Xuân Hoài: “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển” [23, tr.173]

Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin dạy rằng: nhu cầu là những đòi hỏi khách quan của mỗi con người trong những điều kiện nhất định đảm bảo cho sự sống và sự phát triển của con người [7, tr.192]

* Nhu cầu như là một trạng thái tâm lý phản ánh sự không đầy đủ, thiếu hụt một cái gì đó

Trong từ điển của Vũ Dũng: “Nhu cầu là trạng thái của cá nhân, xuất phát

từ chỗ nhận thấy cần những đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình và đó là nguồn gốc tính tích cực của cá nhân” [9, tr.190]

* Nhu cầu như là thuộc tính chủ yếu của nhân cách, nó xác định mối quan hệ của nhân cách với thế giới

Theo tác giả Phạm Minh Hạc “Nhu cầu là một thuộc tính của nhân cách, biểu thị mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là những đòi hỏi

mà cá nhân thấy cần phải được thỏa mãn trong điều kiện nhất định để có thể tồn tại và phát triển” [13]

Trang 15

Theo tác giả Lê Thị Bừng [5, tr.113] “Nhu cầu là sự biểu hiện mối quan

hệ tích cực của con người đối với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển”

Bàn về nhu cầu, mỗi tác giả có những nét riêng, có thể định nghĩa khái

quát về nhu cầu như sau: Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển, là sự biểu hiện mối quan hệ qua lại giữa con người với những điều kiện cụ thể, luôn biến đổi của đời sống

Nhu cầu có thể tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau, tùy thuộc vào mức độ tham gia của ý thức cá nhân Vì thế, việc xem xét các mức độ khác nhau sẽ cho thấy rõ nhu cầu là hoạt động tâm lí, còn mức độ ý thức của nhu cầu sẽ cho thấy những dạng nhu cầu cụ thể

Nhìn chung, trong tâm lí học hiện nay đều nhất trí với ba mức độ biểu hiện của nhu cầu, đó là: ý hướng (khi nhu cầu được phản ánh trong ý thức còn

mù mờ, chưa rõ ràng), ý muốn (sự phản ánh trong ý thức về nhu cầu đã rõ rệt hơn, song cá nhân vẫn chưa tìm được phương pháp, phương tiện thỏa mãn nhu cầu) và ý định (khi sự phản ánh là cao nhất, tức là cá nhân đã nhận thức rõ cả về mục đích, phương tiện thực hiện mục đích và ở trong tâm thế sẵn sàng thực hiện mục đích)

Khi phân tích khái niệm nhu cầu, người ta cũng thường đề cập đến các đặc điểm của nó Nhìn chung, có một số đặc điểm chung thường được đề cập đến như: tính đối tượng, tính chu kì, bản chất xã hội của nhu cầu,…; hay một số đặc điểm khác như: việc nhận thức khá rõ ràng về nhu cầu làm theo trạng thái cảm xúc tiêu biểu(sự hài lòng khi nhu cầu được thỏa mãn, hay hay không hài lòng thậm chí đau khổ khi không được thỏa mãn); trạng thái ý chí – xúc cảm thúc đẩy thỏa mãn nhu cầu phải tìm kiếm và tiến hành những cách thức cần thiết

để thỏa mãn nhu cầu đó (vì thế mà nhu cầu là một trong những động cơ nhất thúc đẩy các hành động ý chí) Khi những nhu cầu này được thỏa mãn, các trạng thái đó bị suy yếu, có lúc hoàn toàn biến mất hoặc trong một số trường hợp nó biến thành trạng thái ngược lại

Trang 16

Những đặc điểm kể trên của nhu cầu cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của

nó trong quá trình quyết định hành vi con người, trong việc biểu hiện và củng cố mối liên hệ giữa cá nhân và xã hội Nhu cầu tạo thành cơ sở bản chất của nhân cách con người, đồng thời nó cũng đánh dấu trình độ phong phú mà xã hội đã đạt được qua từng thời kì lịch sử

* Khi bàn về cách phân loại nhu cầu, có nhiều ý kiến khác nhau Mỗi nhà

nghiên cứu thường dựa vào các tiêu chí khác nhau để đưa ra cách phân loại khác nhau Có tác giả phân loại nhu cầu thành nhu cầu tự nhiên và nhu cầu xã hội; tác giả khác lại phân thành nhu cầu bậc thấp và nhu cầu bậc cao; hoặc nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần; nhu cầu vật chất – nhu cầu tinh thần và nhu cầu chính trị đạo đức; hoặc nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần và nhu cầu xã hội; hoặc năm loại nhu cầu mà Maslow đưa ra trong tháp nhu cầu của ông là: nhu cầu cơ thể, nhu cầu an toàn, nhu cầu sở thuộc, nhu cầu tôn trọng và nhu cầu phát huy bản ngã… Có thể thấy rằng, mỗi cách phân loại đều có tính hợp lí riêng nhưng

sự phân loại nào cũng chỉ mang tính tương đối vì trên thực tế các loại nhu cầu đều có liên quan mật thiết với nhau và khó có thể tách bạch hoàn toàn

1.2.1.2 Khái niệm về nhận thức

Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về bản chất của nhận thức:

- Nhận thức là quá trình phản ánh tái tạo lại hiện thực trong tư duy con người trên cơ sở của thực tiễn xã hội

- Nhận thức của con người là một quá trình trong đó có nhiều giai đoạn, trình

độ, vòng khâu và hình thức khác nhau Chúng có nội dung cũng như vai trò khác nhau đối với việc nhận thức sự vật

+ Nhận thức cảm tính

Là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, phản ánh các thuộc tính bề ngoài, những mối quan hệ, liên hệ không gian và thời gian của đối tượng Phương thức phản ánh của nhận thức cảm tính là phản ánh trực tiếp sự vât hiện tượng khi chúng tác động vào các giác quan của con người Sản phẩm cảu nó là những hình ảnh trực quan, cụ thể về thế giới (các cảm giác, các biểu tượng về thế giới)

Trang 17

+ Nhận thức lí tính

Là giai đoạn tiếp theo và cao hơn về chất của quá trình nhận thức, nó nảy sinh trên cơ sở nhận thức cảm tính Nhận thức lí tính phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan

Nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính là hai giai đoạn khác nhau về chất, nhưng chúng lại thống nhất biện chứng với nhau, liên hệ tác động lẫn nhau,

bổ sung, hỗ trợ cho nhau, không tách rời nhau Chúng đều phẩn ánh thế giới vật chất, có cùng một cơ sở sinh lý là hệ thần kinh của con người và cùng đều chịu

sự chi phối của thực tiến lịch sử - xã hội Nhận thức cảm tính là cơ sở của nhận thức lí tính; không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lí tính Trái lại, nhận thức cảm tình mà không có nhận thức lí tính thì không nắm bắt được bản chất và quy luật của sự vật Vì vậy, cần phải phát triển nhận thức lí tính sẽ giúp cho nhận thức cảm tính trở nên chính xác hơn

Tóm lại: Nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính là hai giai đoạn của quá trình nhận thức thống nhất của con người Từ nhận thức cảm tính đến nhận thức

lí tính là sự chuyển hóa biện chứng, là bước nhảy vọt trong nhận thức Đây là hai giai đoạn, hia yếu tố không thể tách rời nhau của một quá trình nhận thức thống nhất V.I.Lenin đã vạch ra quy luật chung của nhận thức: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, nhận thức thực tại khách quan”

* Khái niệm về nhu cầu nhận thức

Trong các phân loại về nhu cầu, nhu cầu nhận thức được xếp vào nhóm nhu cầu tinh thần, đặc trưng ở người Chẳng hạn, trong phân loại của A.G.Covaliov [8] là “nhu cầu học tập và nhận thức thế giới” Nhu cầu này có sau nhu cầu lao động Trong quá trình lao động cải tạo và khai thác thiên nhiên, con người từng bước có nhận thức về thế giới xung quanh, tích lũy những kinh nghiệm trong lao động, hình thành được một hệ thống ý thức ban đầu về thế giới, từ đó nảy sinh những nguyện vọng, ước mơ đạt đến những thành tựu cao hơn, có sức mạnh để giải phóng con người khỏi những chế ước khắc nghiệt của

Trang 18

tự nhiên Trình độ khoa học ngày càng phát triển, con người cũng dần khám phá

ra quy luật của tự nhiên và xã hội, và ngày càng có nhiều điều kiện nhận thức thế giới Như vậy, nhu cầu học tập và nhu cầu nhận thức thế giới là nhu cầu phổ biến của con người, và cũng giống như nhiều nhu cầu khác, nó không có giới hạn

Còn trong bảng phân loại của A.Maslow thì nhu cầu nhận thức được đặt ở bậc thang trên cùng trong 5 bậc, ngay dưới nhu cầu thẩm mĩ và nhu cầu sáng tạo

Nhìn chung, nhận thức được hiểu là đạt được một cái gì đó, có được một cái gì đó, lĩnh hội được những kiến thức, hiểu biết về cái gì đó., nắm được quy luật của các hiện tượng, quá trình,… Từ đó, có thể hiểu nhu cầu nhận thức là mong muốn, ước muốn nắm được, lĩnh hội được những tri thức, những hiểu biết,

có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của con người Sự thỏa mãn nhu cầu này

có ý nghĩa to lớn đối với đời sống của cá nhân và xã hội

Giống như các nhu cầu khác, nhu cầu nhận thức rất cơ động, nếu bị ngừng thỏa mãn, nhu cầu này sẽ trở nên gay gắt thêm Ngược lại, một việc làm quá căng thẳng có thể làm trì trệ và suy yếu nó Nhưng khác với nhu cầu cơ thể,, nhu cầu nhận thức sẽ không tạm thời lắng dịu xuống mà càng tăng lên rõ rệt Và đương nhiên nếu nhu cầu nhận thức thường xuyên không được thỏa mãn, tức là không được củng cố, thì nó sẽ bị suy yếu đi và có thể mất hẳn

Tính chất cơ động của nhu cầu nhận thức còn được biểu hiện ở chỗ: nó được phản ánh vào ý thức con người trong một giai đoạn nhất định Lúc đầu cá nhân cảm thấy xốn xang, háo hức; tiếp đến là sự ước ao, căng thẳng; khi được đáp ứng thì ta cảm thấy nhẹ nhõm, và cuối cùng cảm thấy thỏa mãn, sảng khoái

Cách hiểu về nhu cầu nhận thức của các tác giả nhìn chung là nhất quán: nhu cầu nhận thức là đòi hỏi của con người về việc tìm tòi, tiếp thu cái mới, cái chưa có trong kinh nghiệm của cá nhân, mà cá nhân cần được thỏa mãn để phát triển

Trang 19

Như vây, xét cho cùng, nhu cầu nhận thức là nhu cầu về tri thức (hiểu biết, thông tin) và nhu cầu về các kĩ năng, kĩ xảo hành động Đây cũng chính là những nội dung của nhu cầu nhận thức mà đề tài xem xét

Các nghiên cứu đã chứng minh rằng, nhu cầu nhận thức là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại của chính bản thân con người Khi một đứa trẻ bị mất hầu như tất cả mọi cảm xúc và do đó không có khả năng thỏa mãn được một nhu cầu nhận thức thì không được phát triển về mặt tâm lí nói chung và không thể hiện một dấu hiệu nào của phản ứng nhận thức

Quan sát của nhiều nhà khoa học phương Tây trên những trẻ sống trong điều kiện “thiếu thông tin”, “đói giao tiếp” đã chỉ ra rằng: sự phát triển của chúng bị kìm hãm một cách rõ rệt do chỗ các phương pháp tác động trong hoàn cảnh đó là những kích thích đơn điệu và buồn chán, dẫn đến sự hạn chế hoạt động nhận thức của trẻ

Những nghiên cứu tâm lí học khác cũng chứng tỏ rằng, sự thỏa mãn nhu cầu nhận thức là điều kiện tất yếu cho sự phát triển bình thường của con người Nhu cầu nhận thức ở con người phát triển từ rất sớm Khi nghiên cứu sự phát triển tư duy ở trẻ em, Margaret Donaldon thấy: ngay từ khi còn chưa nắm vững ngôn ngữ, con người đã tích cực tìm hiểu thế giới xung quanh như đặt câu hỏi, muốn hiểu biết; và ngay từ nhỏ đã có mục đích và ý định, nghĩa là đã muốn hành động [15] Hay thực nghiệm của H.Papousek cũng đã chứng minh, ngay từ khi còn nhỏ, con người đã có một nhu cầu cơ bản, đó là nhu cầu tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh và điều đó được thực hiện với sự kiểm tra có chủ định

1.2.2 Các đặc điểm của nhu cầu nhận thức

Cũng như các loại nhu cầu khác ở người, nhu cầu nhận thức có những đặc điểm cơ bản Những đặc điểm này thể hiện ở nhiều góc độ khác nhau, với các mức độ khác nhau, tạo nên những nét đặc trưng cho nhu cầu nhận thức của con người Nhìn chung, có 4 đặc điểm chủ yếu là:

- Cường độ của nhu cầu nhận thức: đó là độ mạnh, độ gay gắt của những đòi hỏi về thông tin, sự hiểu biết của con người Cường độ nhu cầu nhận thức có thể được xem xét dưới góc độ ý thức và dưới góc độ xúc cảm – tình cảm trí tuệ

Trang 20

Dưới góc độ ý thức, có thể có các mức độ nhu cầu nhận thức khác nhau được biểu hiện từ thấp đến cao ở: ý hướng nhận thức, ý muốn nhận thức và ý định nhận thức

Dưới góc độ xúc cảm – tình cảm trí tuệ, có thể có các mức độ từ sự tò mò ham hiểu biết đến sự say mê hiểu biết Các mức độ của tình cảm trí tuệ đó luôn

đi kèm với những xúc cảm muôn màu muôn vẻ như: sự vui sướng thán phục tự hào khi giải quyết được vấn đề; sự hoài nghi, chán nản khi không thành công; sự

lo âu, giận giữ nếu gặp những điều kiện khó khăn làm cản trở quá trình nhận thức của cá nhân

Như vậy, có thể nói, quá trình phản ánh của chủ thể về đối tượng và phương thức thỏa mãn nhu cầu từ chỗ chưa rõ, chưa đầy đủ đến chỗ rõ ràng, đầy

đủ là quá trình biến hóa của nhu cầu, quá trình động cơ hóa Trong quá trình này, cùng với sự phát triển các cấp độ ý thức, các mức độ gay gắt của sự đòi hỏi thông tin (cường độ nhu cầu nhận thức) cũng dần dần tăng lên Tức là mức độ ý thức rõ ràng về đối tượng và phương thức thỏa mãn nhu cầu nhận thức tỉ lệ thuận với cường độ của nhu cầu nhận thức Vì thế, để biết được cường độ của nhu cầu nhận thức, cần phải tìm hiểu mức độ phản ánh của ý thức về đối tượng

và phương thức thỏa mãn nó

Bên cạnh đó, những biểu hiện xúc cảm – tình cảm trí tuệ ở các mức khác nhau là những dấu hiệu của mức độ phát triển nhu cầu nhận thức của cá nhân Tính chất của tình cảm trí tuệ phản ánh mức độ gay gắt của sự đòi hỏi thông tin (cường độ nhu cầu nhận thức)

- Độ bền vững của nhu cầu nhận thức: được thể hiện ở chu kì xuất hiện của nó Chu kì xuất hiện càng liên tục, mật độ càng dày càng phản ánh độ bền vững cao của nhu cầu nhận thức Khi nhu cầu nhận thức là bền vững, nó sẽ chi phối hoạt động nhận thức của con người trong một thời gian dài và ít phụ thuộc vào hoàn cảnh Biểu hiện cụ thể nhất là tính tự nguyện, tự giác trong việc thực hiện các nhiệm vụ nhận thức

- Nội dung đối tượng của nhu cầu nhận thức: đó là tập hợp những khách thể của nền văn hóa vật chất và tinh thần có khả năng thỏa mãn nhu cầu đó và

Trang 21

khi được phản ánh vào đầu óc con người thì trở thành động cơ nhận thức, thúc đẩy hoạt động nhận thức vươn tới chiếm lĩnh hoặc làm thay đổi nó Như vậy, nhu cầu nhận thức không trực tiếp dẫn đến hành vi, hoạt động nhận thức mà nó ảnh hưởng đến hoạt động nhận thức thông qua các động cơ nhận thức Từ đây,

có thể hiểu, mức độ phát triển của động cơ nhận thức là biểu hiện tương ứng với các mức độ phát triển nhu cầu nhận thức

- Phương thức thỏa mãn nhu cầu nhận thức Là một nhu cầu cơ bản của con người, nhu cầu nhận thức có thể được thỏa mãn bằng nhiều phương thức khác nhau như học tập, vui chơi, giải trí, giao tiếp, lao động, tự học,… Trong các dạng hoạt động đó, nhu cầu nhận thức có chức năng kích thích hoạt động, đặc biệt là hoạt động nhận thức Vì vậy, nhu cầu nhận thức là nguồn gốc bên trong của tính tích cực nhận thức Do đó, mức độ tích cực nhận thức của cá nhân quyết định trực tiếp kết quả hoạt động của họ

Tuy nhiên, tính tích cực nhận thức xuất phát không chỉ từ nhu cầu nhận thức mà còn từ các nhu cầu khác như: nhu cầu sinh học, nhu cầu đạo đức, nhu cầu thẩm mĩ, nhu cầu quan hệ xã hội,… Vì vậy, tính tích cực nhận thức chỉ liên

hệ với nhu cầu nhận thức khi nằm trong mối tương quan giữa động cơ đối tượng của chủ thể với động cơ của nó – nội dung đối tượng cảu nhu cầu Do đó, nếu tính tích cực nhận thức trong hoạt động nhận thức của người học hướng vào đối tượng với tư cách là mục đích hoạt động đó thì tính tích cực nhận thức phản ánh mức độ phát triển của nhu cầu nhận thức Còn tính tích cực hướng vào đối tượng nhận thức chỉ như là phương tiện đạt được mục đích nằm ngoài hoạt động nhận thức thì tính tích cực đó không phản ánh mức độ phát triển của nhu cầu nhận thức Chẳng hạn, đối với học sinh ở cùng một lứa tuổi nhất định, trong cùng một điều kiện nhất định, nếu tính tự giác, chủ động, độc lập của chủ thể trong hoạt động học tập được thúc đẩy bởi mục đích ưu thế là lĩnh hội tri thức và phương pháp giành tri thức đó thì chứng tỏ nhu cầu nhận thức phát triển ở trình

đọ cao hơn so với hoạt động học tập mang tính đối phó, thụ động với mục đích

ưu thế là thỏa mãn nhu cầu đánh giá, nhu cầu về quan hệ xã hội

Trang 22

Đối với sinh viên, hoạt động chủ đạo là học nghề, tức là học tập để nắm vững nghề nghiệp tương lai, thì phương thức chủ yếu để thỏa mãn nhu cầu nhận thức vẫn là hoạt động học tập bằng phương pháp nhà trường tương ứng với trình

độ văn minh, văn hóa nhà trường đại học Do đó, tính tích cực nhận thức biểu hiện trong mối quan hệ với động cơ học tập của họ Tuy nhiên, xuất phát từ trình

độ phát triển tâm lí và nhân cách của lứa tuổi này, bên cạnh hoạt đông học tập có

tổ chức trong nhà trường đại học, sinh viên còn có thể thỏa mãn nhu cầu nhận thức của mình thông qua các dạng hoạt động giải trí và hoạt động tự học Như vậy, có thể dựa vào rất nhiều dấu hiệu khác nhau để đánh giá mức độ nhận thức của sinh viên

1.3 Nhu cầu nhận thức của sinh viên sƣ phạm

1.3.1 Khái quát về sinh viên

* Khái niệm tuổi sinh viên

Thuật ngữ “sinh viên” có gốc từ tiếng Latinh “students”, nghĩa là người làm việc, người tìm kiếm, khai thác tri thức Sinh viên là những người đang chuẩn bị cho một hoạt động mang lại lợi ích vật chất hay tinh thần của xã hội Các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học, sản xuất hay hoạt động xã hội của

họ đều phục vụ cho việc chuẩn bị tốt nhất cho hoạt động mang tính nghề nghiệp của mình sau khi kết thúc quá trình học trong các trường nghề

Về tuổi sinh học, đa số sinh viên thuộc lứa tuổi thanh niên từ 17 đến 25 tuổi, một số ít có tuổi đời thấp hoặc cao hơn tuổi thanh niên Vì vậy, sự phát triển và trưởng thành về giải phẫu và sinh lí của lứa tuổi thanh niên là đặc trưng cho lứa tuổi sinh viên

Về phương diện xã hội, sinh viên là nhóm người chưa ổn định, còn phụ thuộc về kinh tế do chưa thực sự tham gia vào guồng máy sản xuất của xã hội

* Hoạt động học tập và đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên

- Hoạt động học tập của sinh viên: Hoạt động học tập của sinh viên không chỉ đơn thuần là lĩnh hội những tri thức khoa học phổ thông mà là quá trình học tập nghề nghiệp Đối tượng học của sinh viên là tri thức, kĩ năng và nhân cách nghề

Trang 23

- Đặc điểm tâm lí lứa tuổi sinh viên: Với sự thay đổi của hoạt động chủ đạo từ hoạt động học tập – định hướng nghề nghiệp (lứa tuổi học sinh trung học phổ thông) sang hoạt động học tập nghề nghiệp, làm nảy sinh những nét cấu tạo tâm lí mới ở lứa tuổi sinh viên Và một trong những nét tâm lí nổi bật của sinh viên là sự phát triển mạnh mẽ của tự ý thức – cái tôi với những ước mơ, hoài bão, khát vọng và lí tưởng sống

Bên cạnh sự trưởng thành về mặt thể chất, điều kiện hoàn cảnh xã hội cũng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển cái tôi ở lứa tuổi sinh viên Vai trò, trách nhiệm, quyền lợi, sự độc lập cùng với sự hoàn thiện về mặt trí tuệ là những yếu

tố kích thích cái tôi phát triển mạnh mẽ về chất so với lứa tuổi trước

Tự ý thức – cái tôi phát triển mạnh mẽ Nếu như ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông, các em mô tả về bản thân một cách trừu tượng và lí tưởng thì bước sang giai đoạn này, sự tự ý thức về mình theo những chuẩn mực của xã hội trên bình diện thể chất, tâm lí, đạo đức Hơn thế nữa, họ tự đánh giá về hình ảnh

cơ thể của bản thân một cách tỉ mỉ và nghiêm khắc Thường họ không hài lòng

về bản thân và có ý thức phấn đấu hơn nữa

Trong quá trình tự ý thức về năng lực, họ bắt đầu có sự phấn đấu cho nghề nghiệp tương lai của bản thân Đa số sinh viên học tập vì nhu cầu nghề nghiệp sau này Họ học tập vì muốn tạo ra cơ sở vững chắc cho nghề nghiệp tương lai

Họ thường tự chất vấn: Tôi sẽ trở thành một người… Tôi sẽ làm được Tôi tin vào khả năng của mình Tôi không chắc lắm…

Tự ý thức của sinh viên còn được thể hiện ở việc tự quan sát, tự xem xét mình, tự phản tỉnh về bản thân Thế giới nội tâm của sinh viên rất phong phú và phức tạp Sự tự ý thức về cái tôi cũng vậy Cái tôi được thể hiện trong mỗi sinh viên rất phong phú, phức tạp và thay đổi theo từng hoàn cảnh cụ thể Một trong những yếu tố cốt lõi của cái tôi chính là lòng tự trọng Lòng tự trọng là giá trị của bản thân hay hình ảnh bản thân, là khía cạnh tổng thể của bản ngã Để thể hiện được cái tôi của mình, sinh viên thường tham gia vào các hoạt động xã hội phù hợp với khả năng và hứng thú của bản thân như: văn nghệ, thể dục thể thao, các hoạt động tình nguyện… Chính sự tham gia vào các hoạt động này đã làm

Trang 24

cho nhãn quan của họ mở rộng, thế giới quan của sinh viên hình thành, giúp họ

lý giải được các hiện tượng trong cuộc sống cũng như của bản thân

Một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển cái tôi của sinh viên

đó chính là đời sống xúc cảm, tình cảm và một loại tình cảm đặc trưng cho lứa tuổi là tình yêu Nó được bộc lộ trong các mối quan hệ với gia đình, bạn bè và trong quan hệ với những người xung quanh khiến cho sinh viên chú ý nhiều đến tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mĩ, lợi ích cá nhân và xã hội Điều này đã làm cho hình ảnh cái tôi của họ ngày càng hoàn thiện hơn

Về “xây dựng kịch bản đường đời”: Tuổi thiếu niên và thanh niên học sinh đã có kế hoạch đường đời nhưng đó chỉ là những phác thảo có tính đại cương và mơ hồ Khi vào các trường nghề, hầu hết sinh viên đều có kịch bản riêng cho mình về đường đời sẽ đi Đó là sự kì vọng về một tương lai gần và viễn cảnh cuộc đời Từ đó vạch ra kế hoạch chi tiết nhằm đạt được kì vọng đó Trong quá trình xây dựng kịch bản đường đời, sinh viên thường xuyên đặt ra cho mình các câu hỏi và tự trả lời hoặc trao đổi với bạn bè hay người thân: Tương lai của tôi sẽ như thế nào? Có nên lấy vợ/chồng ngay sau khi ra trường hay không? Con đường sự nghiệp sẽ như thế nào? Chính trong quá trình trao đổi như vậy, nhiều sinh viên có cơ hội làm sáng tỏ hoặc chính xác hóa hơn kế hoạch của mình

Sinh viên là thời kì có nhiều biến động mạnh mẽ về động cơ, về thang giá trị xã hội Sinh viên đã biết xác định con đường sống tương lai, tích cực học tập nghề nghiệp và bắt đầu dần cuộc sống độc lập

1.3.2 Khái niệm “sinh viên sư phạm”

Sinh viên sư phạm được hiểu là những người đang theo học ở các trường Cao đẳng và Đại học sư phạm Họ là những người học tập, rèn luyện về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm để trở thành người giáo viên tương lai

Sinh viên sư phạm sẽ là những người mà trong tương lai, bằng chính nhân cách của mình sẽ góp phần đào luyện thế hệ trẻ thành lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 25

Sinh viên sư phạm có tất cả những đặc điểm nhân cách chung của giới sinh viên như: có khả lập kế hoạch và thực hiện hành động một cách độc lập, có sự biến đổi mạnh mẽ về động cơ, về thang giá trị xã hội có liên quan đến nghề nghiệp, xác định con đường sống tích cực, bắt đầu thể nghiệm bản thân trong mọi lĩnh vực cuộc sống, tự ý thức phát triển mạnh mẽ và thế giới quan đã được hình thành ró rệt và tiếp tục phát triển

Sinh viên thường hướng vào việc hình thành, phát triển nhân cách người chuyên gia tương lai, củng cố và phát triển xu hướng nghề nghiệp, hình thành những phẩm chất và năng lực cần thiết đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp tương lai thông qua hoạt động học tập nghề nghiệp (học nghề), qua đó hình thành tâm thế nghề nghiệp Sự hình thành, phát triển nhân cách người chuyên gia tương lai diễn ra liên tục dưới nhiều hình thức hoạt động học tập khác nhau

Hiện nay, nhu cầu về kiến thức của sinh viên nói chung có nhiều thay đổi

do những yêu cầu mới của thời đại Đặc biệt, sinh viên phải có những kĩ năng, thái độ phù hợp để sẵn sàng cho nghề nghiệp tương lai Có ba yêu cầu được đặc biệt nhấn mạnh đối với sinh viên hiện nay là: “sáng kiến”, “sáng tạo” và “linh hoạt”

Đề cập tới sinh viên của ngành sư phạm nói riêng, các chuyên gia cho rằng, công tác đào tạo sinh viên sư phạm cần phải được hết sức chú ý ưu tiên trong thời kì mới này vì họ là những người thầy trong tương lai, là người có vai trò quan trọng đối với chất lượng giáo dục Họ phải được đào tạo tốt để sau này khi trở thành giáo viên họ mới có khả năng động viên được học sinh học tập theo cách hợp tác, khuyến khích được tính độc lập tư duy cũng như phát triển được khả năng tự đánh giá ở các em So với trước đay, giáo dục hiện nay có sự biến đổi quan trọng, đó là người giáo viên giúp học sinh xây dựng kiến thức của mình trên cơ sở khuôn khổ riêng của các em và giúp các em làm chủ tri thức, nâng cao tri thức Đây là cách tiếp cận “Tạo dựng” Vì vậy, sinh viên sư phạm trước hết phải học tập và làm chủ được phương pháp này để khi trở thành giáo viên thực sự, họ sẽ giảng dạy và hỗ trợ học sinh học tập tốt nhằm đáp ứng những thay đổi của thời đại cũng như những đổi mới trong nghề nghiệp của mình Một

Trang 26

số nhà nghiên cứu Trung Quốc cho rằng [15]:sinh viên sư phạm ngày nay có sứ mạng lịch sử mới: “Kế thừa quá khứ, mở ra tương lai” Để đáp ứng yêu cầu mới,

họ phải được đào tạo “thành tài” theo phương châm ba hướng điểm là “hướng vào hiện đại”, “hướng ra thế giới” và “hướng tới tương lai” Họ phải được đào tạo một cách toàn diện về đức dục, trí dục, thể dục, mĩ dục, tâm lí học và lao động qua đó tăng cường năng lực sáng tạo, năng lực cạnh tranh, năng lực hợp tác; đồng thời phải bồi dưỡng nhân cách tự chủ độc lập, ý chí kiên định

Như vậy, ngoài những đặc điểm chung của một người sinh viên, sinh viên sư phạm cần phải có những phẩm chất và năng lực cần thiết đáp ứng yêu cầu của nghề nghiệp như: có xu hướng nghề sư phạm với năm mặt biểu hiện là:

- Có nhu cầu nghề dạy học, mong muốn được là thầy, cô giáo; sinh viên ý thức đầy đủ ý nghĩa của nghề đối với bản thân và xã hội

- Có hứng thú với nghề dạy học, sinh viên không những ý thức được sự cần thiết của nghề dạy học đối với bản thân và xã hội mà còn yêu thích nó Nghề dạy học trở nên hấp dẫn, lôi cuốn họ thể hiện ở lòng yêu nghề

- Có niềm tin về nghề dạy học, sinh viên không chỉ thấy sự cần thiết và lòng yêu nghề mà còn có sự tin tưởng mạnh mẽ vào những giá trị tốt đẹp của nghề giáo viên, của con người

- Có thế giới quan khoa học Sinh viên sư phạm cần phải xây dựng hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội, con người Điều này không chỉ quyết định mọi hành động của bản thân sinh viên mà còn ảnh hưởng quan trọng đến lớp lớp thế hệ trẻ tương lai

- Có lí tưởng cao đẹp: lí tưởng đào tạo thế hệ trẻ Sinh viên sư phạm hình thành, phát triển lí tưởng nghề nghiệp trong quá trình nỗ lực học tập, rèn luyện phấn đấu không ngừng để trở thành người giáo viên tương lai Lí tưởng đào tạo thế hệ trẻ của sinh viên sư phạm biểu hiện ở niềm say mê học tập, lòng yêu trẻ, tác phong sinh hoạt mô phạm, tinh thần trách nhiệm, lối sống

1.3.3 Nhu cầu nhận thức của sinh viên sư phạm

* Khái niệm nhu cầu nhận thức của sinh viên sư phạm

Trang 27

Trên cơ sở phân tích các khái niệm liên quan, khái niệm nhu cầu nhận thức của sinh viên sư phạm được hiểu như sau: Nhu cầu nhận thức của sinh viên

sư phạm là những đòi hỏi của sinh viên về việc tìm tòi tiếp thu những kiến thức,

kĩ năng, kĩ xảo cũng như về những cách thức tiếp cận chúng chưa có trong kinh nghiệm của họ, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu phát triển của nghề nghiệp tương lai

và của bản thân sinh viên Nhu cầu nhận thức là thành tố cơ bản của động cơ nhận thức nghề nghiệp, thúc đẩy sinh viên tích cực học tập, rèn luyện

Khái niệm trên cho thấy:

- Nhu cầu nhận thức của sinh viên sư phạm được thể hiện trước hết trong hoạt động học tập trên lớp (ở đây là hoạt động học tập chuyên môn – chuyên nghiệp)

- Nhu cầu nhận thức còn được thể hiện trong các hoạt động khác như: tự học, giao tiếp, các hoạt động xã hội,…

* Biểu hiện nhu cầu nhận thức của sinh viên sư phạm

Trong đề tài này, chúng tôi đánh giá NCNT của sinh viên sư phạm thông qua động cơ nhận thức và thông qua các biểu hiện của tính tích cực nhận thức

- Tính tích cực nhận thức được đánh giá thông qua các dấu hiệu cụ thể sau đây:

+ Sự chú ý, quan tâm vào việc học tập chuyên môn

+ Sự tham gia vào các hình thức hoạt động học tập khác

+ Sự tự giác, chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập

+ Cảm xúc trí tuệ trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập (hứng thú hay không hứng thú)

+ Ý chí vượt khó

- Về nội dung: NCNT của sinh viên sư phạm được xem xét dựa vào nội dung của công tác sư phạm mà người sinh viên phải đảm nhận trong tương lai Những nội dung nhận thức có liên quan đến công tác dạy học và giáo dục học sinh trong tương lai bao gồm:

+ Nhận thức nội dung chuyên ngành học (kiến thức, kĩ năng, phương pháp lĩnh hội, phương pháp giảng dạy bộ môn)

Trang 28

+ Nhận thức về đối tượng của hoạt động giảng dạy (vấn đề nghiệp vụ sư phạm)

+ Nhận thức về môi trường xã hội của hoạt động dạy và hoạt động học + Nhận thức về các kiến thức, kĩ năng xã hội khác nhằm phục vụ tốt cho công tác giáo dục học sinh

1.4 Một số yếu tố tác động đến NCNT của sinh viên sƣ phạm

NCNT của sinh viên sư phạm chịu ảnh hưởng bởi cả những yếu tố chủ quan và những yếu tố khách quan

1.4.1 Những yếu tố khách quan

Các yếu tố khách quan được hiểu là những yếu tố nằm ngoài cá nhân, không phụ thuộc vào cá nhân Những yếu tố khách quan tác động đến NCNT của sinh viên sư phạm bao gồm: gia đình, bạn bè, môi trường học tập, giáo viên, ảnh hưởng của biến đổi xã hội…

- Ảnh hưởng của bạn bè: Trong mối quan hệ tương tác qua lại giữa các cá nhân

với bạn bè sẽ làm nảy sinh những mong muốn, cạnh tranh trong học tập Mối quan hệ này được thể hiện theo hai chiều: chiều thuận (đoàn kết, thân thiện, giúp

đỡ, cạnh tranh cùng phấn đấu, cùng phát triển), chiều nghịch (ganh đua, ghen tỵ,

đố kỵ, loại trừ nhau) Dù sinh viên theo hướng nào thì cũng cố gắng, tích cực để nâng cao nhận thức cho bản thân để không bị tụt hậu so với bạn bè

- Ảnh hưởng của môi trường học tập: Môi trường học tập là tất cả các thành

phần trong cấu trúc dạy học như: mục đích đào tạo, nội dung, chương trình đào tạo, hệ thống phương pháp và phương thức đào tạo, kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo, các điều kiện vật chất, phương tiện học tập Một số kết quả nghiên cứu cho thấy [22, tr.51], điều kiện học tập tốt sẽ góp phần nâng cao thành tích học tập của cá nhân và ngược lại, điều kiện học tập không tốt sẽ làm giảm hiệu quả của hoạt động học tập Đối với sinh viên, những người làm trí óc thì môi trường học tập càng có ý nghĩa trong việc phát huy năng lực của họ Rất nhiều nhân tài của chúng ta đã, đang và sẽ ra nước ngoài học tập và làm việc, phải chăng môi trường học tập, làm việc trong nước không phù hợp để họ phát huy hết khả năng của mình?

Trang 29

- Ảnh hưởng của giáo viên Giáo viên là những người trực tiếp tham gia giảng

dạy, giáo dục học sinh, sinh viên không chỉ trong nhà trường mà cả bên ngoài xã hội Tư tưởng, quan điểm, lối sống, phong cách làm việc của giáo viên ảnh hưởng trực tiếp đến sinh viên Một số công trình nghiên cứu cho thấy: những giáo viên được sinh viên nể trọng thường có ảnh hưởng rất lớn tới sinh viên đó

về mọi mặt (trong hoạt động sống hàng ngày cũng như trong công tác)

Những yếu tố khách quan có ảnh hưởng rất lớn đến NCNT của sinh viên

sư phạm

1.4.2 Những yếu tố chủ quan

Những yếu tố chủ quan từ phía sinh viên được hiểu là những yếu tố bên trong tâm lý cá nhân như: tính cách, sở thích, nỗ lực ý chí, niềm tin, năng lực chuyên môn…

- Tính cách có tác động đáng kể đến NCNT của sinh viên Bản thân tính cách là sự kết hợp độc đáo các đặc điểm tâm lý ổn định của con người Những nét tính cách như: nhút nhát, dũng cảm, tự tin, kiên trì… Trong hoạt động nhận thức, ở một ý nghĩa nào đó, tính cách có ảnh hưởng đến hiệu quả của chính bản thân người đó Những sinh viên chăm chỉ, kiên trì, có quyết tâm cao, tích cực tham gia các hoạt động… sẽ là yếu tố cơ bản để nâng cao vốn hiểu biết cho bản thân và có những hiểu biết về nghề nghiệp trong tương lai Ngược lại, những sinh viên lười biếng, ngại tham gia hoạt động, … thì vốn hiểu biết về tự nhiên,

xã hội, tư duy và về những yêu cầu của nghề sẽ bị hạn chế

Dựa vào tính cách, người ta có thể đánh giá hành vi của mỗi cá nhân, chỉ ra những hành vi mang tính ổn định của cá nhân, thái độ của cá nhân đối với thế giới xung quanh

- Hứng thú nghề nghiệp có tác dụng tích cực đối với cá nhân trong công việc mà cá nhân đảm nhận Hứng thú luôn gắn liền với những cảm xúc, tình cảm tích cực khiến cho cá nhân có sự say mê hơn đối với công việc của mình Nó là động lực thúc đẩy con người khắc phục những khó khăn, trở ngại để hoàn thành mục tiêu Sự thành công của con người phụ thuộc phần lớn vào thái độ của con người đối với công việc của mình Hứng thú của cá nhân đối với một nghề nào

Trang 30

đó thường xác định mục tiêu và hành vi của cá nhân đối với công việc đó Cá nhân có thái độ thờ ơ, chán nản với công việc thì không thể đạt thành tích gì, dù

đó là công việc đơn giản nhất

- Năng lực có tác động lớn đến NCNT của sinh viên NCNT là những đòi hỏi của con người về việc tìm tòi, tiếp thu cái mới, cái chưa có trong kinh nghiệm cá nhân mà cá nhân cần được thỏa mãn để phát triển Để thỏa mãn được những đòi hỏi này rất cần đến năng lực của mỗi cá nhân

Trang 31

Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu

2.1.1 Về địa bàn nghiên cứu

Trường Đại học Tây Bắc là một trường nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc – nơi có rất nhiều dân tộc thiểu số sinh sống và học tập Trường được đặt tại thành phố Sơn La – tỉnh Sơn La nhằm phục vụ nhu cầu học tập cho con em các tỉnh phía Tây Bắc và các tỉnh lân cận

Mặc dù trường mới lên Đại học được 15 năm, nhưng hiện nay đã là một trường đa ngành với 10 khoa cơ bản và 1 bộ môn trực thuộc Hàng năm, trường

đã đào tạo ra hàng ngàn sinh viên có chất lượng để phục vụ cho khắp nẻo đường của Tổ quốc, đặc biệt nhiều sinh viên sau khi ra trường đã sẵn sàng hy sinh tuổi trẻ để mang tri thức khoa học vào với các em ở vùng sâu, vùng xa

Là một trường có tổng diện tích rộng trên 90ha; có nhiều dãy nhà dành cho sinh viên học tập với đầy đủ tiện nghi; có trung tâm thông tin thư viện hiện đại phục vụ cho sinh viên học tập, nghiên cứu ngoài giờ lên lớp; có các sân thể thao cho sinh viên luyện tập nâng cao sức khỏe và xua tan những mệt mỏi sau những giờ học tập căng thẳng trên lớp; có những khu thực hành, thí nghiệm riêng biệt cho các khoa hướng dẫn sinh viên làm thí nghiệm, thực hành,… Mỗi năm, trường tuyển sinh hàng ngàn sinh viên chính quy và phi chính quy ở các ngành sư phạm và ngoài sư phạm Trường đang từng bước cải tiến về nội dung, phương pháp giảng dạy, thường xuyên bổ sung thêm các trang thiết bị dạy học hiện đại để đáp ứng cho sự phát triển của nhà nhà trường Hiện nay, trường Đại học Tây Bắc đang ngày càng phát triển để phấn đấu trở thành một trường đại học vùng trong cả nước Cả thầy và trò đang không ngừng cố gắng phấn đấu vươn trên trong công tác, trong học tập để ngày càng nâng cao chất lượng dạy và học

2.1.2 Về khách thể nghiên cứu

Sinh viên khoa Ngữ văn đại diện cho sinh viên thuộc khoa học xã hội Sinh viên khoa Toán – Lý – Tin đại diện cho sinh viên thuộc khoa học tự nhiên

Ngày đăng: 02/04/2017, 11:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1:  Nhu  cầu  nhận  thức  của  sinh  viên  sư  phạm  Trường  Đại  học  Tây Bắc (tính theo tỉ lệ %) - Tìm hiểu đặc điểm nhu cầu nhận thức của sinh viên trường đại học tây bắc
ng 1: Nhu cầu nhận thức của sinh viên sư phạm Trường Đại học Tây Bắc (tính theo tỉ lệ %) (Trang 36)
Bảng 2: Nhu cầu nhận thức của sinh viên theo khoa, giới tính, khóa học (tính  theo tỉ lệ %) - Tìm hiểu đặc điểm nhu cầu nhận thức của sinh viên trường đại học tây bắc
Bảng 2 Nhu cầu nhận thức của sinh viên theo khoa, giới tính, khóa học (tính theo tỉ lệ %) (Trang 40)
Bảng 3: Nhận thức của sinh viên về các phương thức thỏa mãn nhu cầu - Tìm hiểu đặc điểm nhu cầu nhận thức của sinh viên trường đại học tây bắc
Bảng 3 Nhận thức của sinh viên về các phương thức thỏa mãn nhu cầu (Trang 43)
Bảng 5: Những vấn đề ngoài kiến thức chuyên môn GV thường trao đổi với  sinh viên (tính theo tỉ lệ %) - Tìm hiểu đặc điểm nhu cầu nhận thức của sinh viên trường đại học tây bắc
Bảng 5 Những vấn đề ngoài kiến thức chuyên môn GV thường trao đổi với sinh viên (tính theo tỉ lệ %) (Trang 45)
Bảng 6: Thực trạng nhu cầu nhận thức biểu hiện ở mặt thái độ của sinh viên  (tính theo tỉ lệ %) - Tìm hiểu đặc điểm nhu cầu nhận thức của sinh viên trường đại học tây bắc
Bảng 6 Thực trạng nhu cầu nhận thức biểu hiện ở mặt thái độ của sinh viên (tính theo tỉ lệ %) (Trang 47)
Bảng 8: Những lý do thúc đẩy sinh viên thỏa mãn nhu cầu nhận thức - Tìm hiểu đặc điểm nhu cầu nhận thức của sinh viên trường đại học tây bắc
Bảng 8 Những lý do thúc đẩy sinh viên thỏa mãn nhu cầu nhận thức (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w