Sơ đồ, bảng biểu và việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Ngữ văn Sơ đồ, bảng biểu là một phương tiện dạy học có nhiều ưu thế trong việctích cực hóa hoạt động học tập, tạo điều ki
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
HOÀNG THỊ HẢI YẾN
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
VÀO DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 9
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học văn
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Phạm Thị Thu Hương
HÀ NỘI - 2014
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Giả thuyết khoa học 9
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Cấu trúc của luận văn 10
B NỘI DUNG 11
CHƯƠNG I: SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN 11
1.1 Sơ đồ, bảng biểu 11
1.1.1 Khái niệm và vai trò của sơ đồ, bảng biểu trong cuộc sống 11
1.1.1.1 Khái niệm 11
1.1.1.2 Những ưu điểm của sơ đồ, bảng biểu trong cuộc sống 12
1.1.2 Sơ đồ, bảng biểu là một phương tiện trực quan trong dạy học 15
1.1.2.1 Phương tiện trực quan trong dạy học 15
1.1.2.2 Những đặc điểm của sơ đồ, bảng biểu - một phương tiện dạy học trực quan 17
1.2 Sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Ngữ văn 20
1.2.1 Thực trạng sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Ngữ văn 20
1.2.2 Các yêu cầu của việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Ngữ văn 35
1.2.2.1 Tuân thủ đặc trưng môn học 35
1.2.2.2 Bám sát và thực hiện theo mục tiêu bài học 39
Trang 31.2.2.3 Tăng cường hoạt động học tập tích cực của học sinh 40
1.2.2.4 Đảm bảo tính khoa học, tính trực quan và tính thẩm mĩ 42
1.2.2.5 Phối kết hợp với các phương pháp, phương tiện dạy học khác 45
1.3 Sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học tác phẩm văn chương 47
CHƯƠNG II: TỔ CHỨC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU VÀO DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM TRONG SGK NGỮ VĂN 9 52
2.1 Vị trí của phần truyện ngắn hiện đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn 9 52
2.2 Định hướng xây dựng sơ đồ, bảng biểu để dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ văn 9 54
2.2.1 Xây dựng sơ đồ, bảng biểu từ những khám phá sâu sắc về truyện
ngắn Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ văn 9 54
2.2.1.1 Sơ đồ, bảng biểu để học sinh tìm hiểu cốt truyện 55
2.2.1.2 Xây dựng sơ đồ, bảng biểu để học sinh tìm hiểu tình huống truyện 61
2.2.1.3 Xây dựng sơ đồ, bảng biểu để học sinh tìm hiểu thế giới nhân vật trong tác phẩm 65
2.2.2 Xây dựng sơ đồ, bảng biểu từ những căn cứ khoa học của hoạt động tiếp nhận truyện ngắn Việt Nam hiện đại ở bạn đọc học sinh lớp 9 73
2.2.3 Xây dựng sơ đồ, bảng biểu gắn với tiến trình giờ dạy học đọc - hiểu truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ văn 9 79
2.3 Định hướng sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào quá trình dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 9 84
2.3.1 Sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình học tập cá nhân 84
2.3.2 Sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình học hợp tác 90
2.3.2.1 Hoạt động hợp tác với bạn 90
2.3.2.2 Hoạt động hợp tác với giáo viên 93
Trang 42.3.3 Sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình ôn tập và kiểm tra, đánh giá .95
2.3.3.1 Sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình ôn tập 95
2.3.3.2 Sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình kiểm tra đánh giá 97
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 102
3.1 Mục đích thực nghiệm 102
3.2 Đối tượng 102
3.3 Phương pháp tiến hành 103
3.4 Nội dung thực nghiệm 103
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 123
3.5.1 Mục đích, nội dung đánh giá 123
3.5.2 Phương pháp đánh giá 124
3.5.4 Kết quả thực nghiệm 125
C KẾT LUẬN 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 129
PHỤ LỤC 133
Trang 5A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tầm quan trọng của vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học luônđược các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu Nhiều quan điểm, phươngpháp, biện pháp kĩ thuật dạy học mới đã được giới thiệu, dù có khác nhau,nhưng đều thống nhất khẳng định vai trò của người học không phải là những
“bình chứa thụ động” mà là những chủ thể nhận thức tích cực trong quá
trình học tập
Vì vậy, phát triển năng lực người học chính là xu hướng đổi mới căn bảntoàn diện của nền giáo dục Việt Nam hiện nay
Điều 28, Luật Giáo dục cũng đã chỉ rõ: “ Giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm hứng thú học tập của học sinh”.
1.2 Thực trạng dạy học Ngữ văn hiện nay trong các nhà trường THCS
Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội Đây là mônhọc có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển cảm xúcthẩm mĩ, tư duy của con người Đồng thời, môn học này có tầm quan trọngtrong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh Mặt khác,Ngữ văn cũng là môn học có tính chất công cụ, có mối quan hệ với nhiều bộmôn trong các nhà trường phổ thông Học tốt môn Ngữ văn sẽ tác động tíchcực tới các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần đểhọc tốt môn Ngữ văn Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành của
Trang 6Khi học sinh tạo lập một văn bản, giáo viên có thể dễ dàng nhận ranhững lỗi sai cơ bản của học sinh như: dùng từ sai, viết câu sai, viết chính tảsai, bố cục và lời văn lủng củng, thiếu logic Đặc biệt có những bài văn diễnđạt ngô nghê, tối nghĩa Đây là một tình trạng đã trở nên phổ biến, thậm chí
là đáng báo động trong nhà trường
Mục tiêu của bậc học phổ thông là đào tạo con người toàn diện, nhưngthực tế hiện nay cho thấy, các bộ môn khoa học xã hội thường bị học sinhxem nhẹ, mặc dù kiến thức của môn học này rất quan trọng cho tất cả mọingười Muốn khôi phục sự quan tâm đối với các bộ môn khoa học xã hội,không thể chỉ bằng biện pháp kêu gọi, mà chúng ta phải tích cực đổi mới
Trang 7phương pháp dạy học Văn, khơi gợi hứng thú học Văn của học sinh, hìnhthành cho các em phương pháp học Văn hiệu quả.
Do vậy, đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là một vấn đề mang tínhtất yếu, góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn tại các nhà trường phổthông
1.3 Sơ đồ, bảng biểu và việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Ngữ văn
Sơ đồ, bảng biểu là một phương tiện dạy học có nhiều ưu thế trong việctích cực hóa hoạt động học tập, tạo điều kiện để học sinh tự học, phát huy khảnăng sáng tạo của cả giáo viên và học sinh Việc sử dụng sơ đồ, bảng biểugiúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, giúp học sinh học tập tích cực
Đó là một trong những cách làm thiết thực để triển khai nội dung dạy học có hiệu quả - nội dung quan trọng nhất trong năm vấn đề của phong trào thi đua
“ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ Giáo dục và Đào
tạo phát động Kiến thức lĩnh hội được biểu hiện dưới dạng các sơ đồ, bảngbiểu bao giờ cũng ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ nên học sinh dễ dàng nắm bắt,tổng hợp, phát triển ý tưởng, tìm tòi xây dựng kiến thức mới Từ đó giúp các
em hăng say tích cực học tập và yêu mến môn học Tuy vậy trong dạy học bộmôn việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu như một biện pháp, kĩ thuật dạy học cònchưa thực sự được quan tâm Các sơ đồ, bảng biểu chủ yếu được vận dụngvào bài dạy Văn học sử, Tiếng Việt, Làm văn hoặc đọc hiểu văn bản nhậtdụng Với văn bản văn chương, do đặc thù phản ánh và tiếp nhận nên dườngnhư nhiều người cho rằng không thể sử dụng những công cụ này Sử dụng sơ
đồ, bảng biểu vào dạy học tác phẩm văn chương liệu có làm xơ cứng cảm xúcthẩm mĩ, “đồng phục hóa” cách cảm nhận của học sinh hay sẽ kích hoạt sựsáng tạo của cả người dạy và người học? Luận văn của chúng tôi sẽ góp phần
Trang 81.4 Vị trí của các truyện ngắn hiện đại Việt Nam trong sách giáo khoa lớp 9
Có thể thấy, các tác phẩm truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương
trình sách giáo khoa Ngữ văn 9 không nhiều: Làng - Kim Lân, Chiếc lược
ngà - Nguyễn Quang Sáng, Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long, Những ngôi sao xa xôi - Lê Minh Khuê và đoạn trích đọc thêm Bến quê - Nguyễn Minh Châu Song, các tác phẩm này là phần kiến thức quan trọng, góp phần
vào việc tạo dựng nền tảng hiểu biết về văn học Việt Nam hiện đại, rèn luyện
kĩ năng tiếp nhận, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho học sinh trung học cơ sở Vậy làm thế nào người giáo viên có thể hướng dẫn học sinh cảm nhậntác phẩm, để người học tạo dựng kiến thức đồng thời rèn luyện kĩ năng cơ bản
về truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ văn 9 quả làđiều không đơn giản
Xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào quá trình dạy học truyệnngắn Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 là một trongnhững biện pháp không chỉ giúp học nắm vững kiến thức trọng tâm, mà còntạo cơ hội thuận lợi để các em phát huy khả năng tích cực, chủ động và sángtạo của mình trong việc lĩnh hội tri thức Nếu biết kết hợp hài hòa với cácphương pháp, kĩ thuật dạy học khác thì sơ đồ, bảng biểu sẽ phát huy hiệu quảđáng kể trong việc đổi mới dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông nóichung, dạy học tác phẩm văn chương nói riêng
Với những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn đi vào tìm hiểu đề tài: Xây
dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ văn 9.
2 Lịch sử vấn đề
Sơ đồ, bảng biểu và việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình dạy họckhông phải là một vấn đề thực sự mới Đã có rất nhiều bài viết, công trình
Trang 9nghiên cứu về vấn đề này Chúng ta có thể kể đến một số bài viết, công trìnhnghiên cứu sau đây.
TS Bạch Thị Lan Anh đã có bài viết Giới thiệu phương pháp dạy học theo
sơ đồ Trong bài báo, tác giả đã đưa ra cách hiểu về sơ đồ hóa kiến thức.
Người viết cho rằng phương pháp dạy học theo sơ đồ hóa kiến thức là cáchthức hoạt động phối hợp thống nhất của người dạy và người học nhằm giúpngười học hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng liên quan đến nội dung,nhiệm vụ dạy học dựa vào mô hình, sơ đồ của chúng Đồng thời, tác giả đãchỉ ra những ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học theo sơ đồ hóakiến thức, hướng dẫn cách sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào dạy học như: sửdụng sơ đồ trước khi lên lớp, sử dụng sơ đồ trong khi lên lớp, sử dụng sơ đồsau khi lên lớp và sử dụng sơ đồ trong quá trình ôn tập, tổng hợp kiến thức
Tác giả Nguyễn Thị Ban ở bài viết Sử dụng Graph trong dạy học Ngữ văn
7 cũng đã đưa ra phương pháp sử dụng Graph vào các bài học cụ thể thuộc
phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn ở chương trình lớp 7 với nhiều gợi ý thú
vị về cách thức ứng dụng cho giáo viên và học sinh
Trong bài viết Phương pháp dạy học Ngữ văn 6 theo dạng sơ đồ tóm tắt,
tác giả Trần Văn Huy đã đưa ra dạng sơ đồ tóm tắt cho một số bài học trongchương trình Ngữ văn 6 Bài viết chia làm ba phần Ở phần một tác giả trìnhbày thực trạng dạy học Văn ở những lớp mình trực tiếp giảng dạy Có thể thấychất lượng dạy học Văn còn thấp, tỉ lện học sinh học yếu môn Văn còn cao
Sang phần hai, tác giả đưa ra giải pháp “dùng sơ đồ” trong quá trình giảng
dạy để nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn 6 Người viết đã trình bày một
số kinh nghiệm khi sử dụng sơ đồ ở một số bài cụ thể như: Ông lão đánh cá
và con cá vàng; Danh từ; Sự việc và nhân vật trong văn tự sự Ở phần ba, tác
giả đã chứng minh kết quả của việc sử dụng “sơ đồ tóm tắt”: Học sinh cóhứng thú học tập, thời gian thực hành nhiều; Từ đó, các em yêu thích học môn
Trang 10Ngữ văn hơn, chất lượng dạy học Văn cũng vì thế được nâng lên đáng kể, quacác bài kiểm tra và thi định kì.
Với bài viết Sử dụng phương tiện hỗ trợ dạy học trong môn Ngữ văn
(Sáng kiến kinh nghiệm, dethi.violet.vn), tác giả Nguyễn Hải Sơn đưa rakhái niệm về phương tiện dạy học Sau đó, người viết đi sâu vào nghiêncứu hiệu quả của việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình dạy họcNgữ văn, đặc biệt là đối với giáo viên và học sinh trường THCS Cao Xanh.Đây là một ngôi trường cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn, các thiết bịcông nghệ thông tin sử dụng trong quá trình dạy học còn hạn chế Vì thế,
sơ đồ, bảng biểu là phương tiện trực quan được sử dụng nhằm nâng caochất lượng dạy và học môn Ngữ văn
Tác giả Nguyễn Thị Xuân Mai trong bài viết Gợi ý sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào giảng dạy một số tiết Văn trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 (Hội thảo khoa học quốc gia về dạy học Ngữ văn ở trường phổ
thông Việt Nam) cũng đã đề cập đến việc sử dụng phương tiện trực quan tạinhà trường phổ thông trong đó có sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào dạy học Ngữvăn Tác giả đã chỉ ra việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu mang lại hiệu quả trongviệc phát huy tính sáng tạo của học sinh, đặc biệt là đánh thức khả năng tưduy của các em Cuối bài, người viết đã đưa ra một số sơ đồ, bảng biểu có thể
áp dụng vào dạy học Ngữ văn 10 như: sơ đồ, bảng biểu cho bài khái quát; sơ
đồ, bảng biểu dùng cho dạy truyện; sơ đồ, bảng biểu dùng cho dạy thơ…Ngoài ra, chúng ta phải kể đến những công trình nghiên cứu khác như:
Tác giả Nguyễn Thị Châu với bài viết Vận dụng bản đồ tư duy vào giờ văn học sử ở THPT (bài khái quát văn học), Luận văn Thạc sĩ khoa
học, Chuyên ngành lí luận và phương pháp dạy học Văn, Đại học Sư phạm
Hà Nội
Trang 11Bài viết Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng lí thuyết Graph vào dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường THPT, Chuyên đề giảng dạy Thạc sĩ, Đại
học Sư phạm Hà Nội của tác giả Nguyễn Quang Ninh
Tác giả Nguyễn Thị Thanh, Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học văn học sử ở nhà trường THPT, Luận văn Thạc sĩ khoa học, Chuyên ngành lí luận
và phương pháp dạy học Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội
Tác giả Vũ Thị Hà với Sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào dạy học truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 11, Luận văn Thạc sĩ khoa
học, Chuyên ngành lí luận và phương pháp dạy học Văn, Đại học Sư phạm
Hà Nội
Như vậy, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết về sơ
đồ, bảng biểu; sơ đồ tư duy, Graph và việc sử dụng các phương tiện trựcquan trong dạy học nói chung và dạy học Văn nói riêng Tuy vậy các bàiviết thường tập trung vào hai dạng sơ đồ chính là Graph và bản đồ tư duy.Ngoài ra, cũng có một vài bài quan tâm đến việc sử dụng bảng biểu vàodạy học Ngữ văn Phạm vi ứng dụng chủ yếu chưa phải là các bài dạy tácphẩm văn chương
Kết quả nghiên cứu trong các công trình trên là gợi ý quý báu để chúng
tôi đặt vấn đề nghiên cứu Xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 9
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Từ những tiền đề cơ sở lí luận và thực tiễn, đề tài nghiên cứu cách thứcxây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào hoạt động dạy học các tác phẩmtruyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 9.Qua đó, giúp giáo viên và học sinh thực hiện tốt hoạt động dạy học, góp phần
Trang 12nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn ở nhà trường THCS nói chung, dạy họcphần truyện ngắn Việt Nam hiện đại chương trình Ngữ văn 9 nói riêng.
3.2 Đối tượng
Đề tài tập trung nghiên cứu việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào quá trìnhdạy học các truyện ngắn Việt Nam hiện đại ở chương trình sách giáo khoaNgữ văn 9
+ Khảo sát thực trạng sử dụng sơ đồ, bảng, biểu vào dạy học Ngữ văn vàdạy học phần truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ văn 9.+ Nghiên cứu đề xuất một số định hướng xây dựng và sử dụng sơ đồ,bảng biểu trong quá trình dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong sáchgiáo khoa Ngữ văn 9
+ Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của các đềxuất đưa ra trong đề tài nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiêncứu cơ bản sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Chúng tôi sử dụng phương phápnghiên cứu lí thuyết để thu thập tư liệu, nghiên cứu lịch sử vấn đề, nghiên cứu
Trang 13các tài liệu liên quan đến sơ đồ, bảng biểu trong dạy học và dạy học bộ mônNgữ văn nói chung, đặc biệt là dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trongsách giáo khoa Ngữ văn 9.
- Phương pháp thống kê, phân tích:
+ Nghiên cứu thực trạng sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học bộ mônNgữ văn
+ Phân tích và vận dụng những vấn đề lí thuyết đã nghiên cứu vào thực tếgiảng dạy các truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ văn 9.+ Thống kê kết quả thực nghiệm để hỗ trợ cho việc đánh giá, nhận xéttính khả thi của các định hướng đã đề xuất
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm:Tổ chức thực nghiệm sư phạm; sau
đó thống kê kết quả thực nghiệm Từ đó đánh giá những thành công và nhữngđiều cần tiếp tục hoàn thiện của các đề xuất
5 Giả thuyết khoa học
Sơ đồ, bảng biểu là một phương tiện trực quan có thể sử dụng hiệu quảtrong dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông nhằm tích cực hóa hoạt động
nhận thức, cảm thụ của học sinh Nếu nghiên cứu tìm hiểu được những ưu
điểm, giới hạn, từ đó xây dựng để đưa vào sử dụng các sơ đồ, bảng biểu trong
dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại ở sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 sẽ
giúp giáo viên và học sinh có hứng thú, tích cực, chủ động, sáng tạo tronghoạt động dạy học phần nội dung này; góp phần nâng cao chất lượng dạy học
bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông
6 Đóng góp của luận văn
Với việc thực hiện đề tài:“Xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào
dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9”, chúng tôi đã:
Trang 14- Bổ sung lí luận về việc sử dụng phương tiện trực quan nói chung, sửdụng sơ đồ, bảng biểu vào dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói riêng.
- Đề xuất một số định hướng để xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểuvào dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại
- Hiện thực hóa các đề xuất vào giáo án thực nghiệm có thể ứng dụngtrong dạy học
- Gợi mở hướng áp dụng của đề tài cho các nội dung khác trong chươngtrình Ngữ văn ở nhà trường phổ thông
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văngồm ba chương:
Chương I: Sơ đồ, bảng biểu và sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Ngữ văn Chương II: Tổ chức xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào dạy học
truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ văn 9
Chương III: Thực nghiệm sư phạm.
Trang 15B NỘI DUNG CHƯƠNG I
SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN
1.1 Sơ đồ, bảng biểu
1.1.1 Khái niệm và vai trò của sơ đồ, bảng biểu trong cuộc sống 1.1.1.1 Khái niệm
Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (Nhà xuất bản Đà Nẵng - 2009) đã
đưa ra khái niệm về sơ đồ và bảng biểu như sau:
- Sơ đồ là những hình vẽ quy ước có tính chất sơ lược nhằm mô tả đặc
trưng nào đó của đối tượng hay quá trình nào đó.
- Bảng biểu gồm: bảng và biểu Trong đó, bảng thường có cột và hàng
dùng để kê một nội dung nào đó theo thứ tự, cách thức nhất định Còn biểu là bảng kê danh mục, số liệu để làm căn cứ đối chiếu.
Theo TS Bạch Thị Lan Anh, sơ đồ hóa kiến thức là một trong những hình
thức trực quan của quá trình dạy học Sơ đồ, mô hình là những hình ảnh có tính biểu tượng được xây dựng trên các sự vật, các yếu tố trong cấu trúc sự vật và mối liên hệ giữa các yếu tố đó dưới dạng trực quan cảm tính (quan sát được, cảm nhận được) Sơ đồ tạo thành một tổ chức hình khối phản ánh cấu trúc và logic bên trong của một khối lượng kiến thức một cách khái quát, súc tích và trực quan cụ thể, nhằm giúp cho người học nắm vững một cách trực tiếp, khái quát những nội dung cơ bản, đồng thời qua đó phát triển năng lực nhận thức cho người học.[2;1]
Các khái niệm sơ đồ, bảng biểu ở trên được hiểu khá rộng, bao gồm nhiềuloại như: sơ đồ tư duy, bản đồ khái niệm, graph…Mỗi loại lại có những khái
Trang 16niệm cụ thể riêng biệt Ở đây chúng tôi không có ý định phân biệt hay đi sâutìm hiểu vào một loại nào.
Thực tế cho thấy, các khái niệm này được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả
ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề trong cuộc sống như: học tập, thuyết trình, kinhdoanh, chính trị, xã hội,… Chẳng hạn có thể sử dụng sơ đồ để xây dựng ýtưởng cho cơ cấu tổ chức của một công ty, sơ đồ của một lớp học, sơ đồ thựchiện một dự án kinh doanh; hay lập bảng kế hoạch một tháng, một tuần, mộtngày,… Chỉ một vài ví dụ cũng đã cho thấy sơ đồ, bảng biểu có một phạm vi
sử dụng khá rộng
1.1.1.2 Những ưu điểm của sơ đồ, bảng biểu trong cuộc sống
Sở dĩ sơ đồ, bảng biểu có phạm vi sử dụng rộng, trước hết là do bản thâncông cụ này chứa đựng nhiều yếu tố ưu việt Chúng ta có thể kể đến một số
ưu điểm sau:
1.1.1.2.1 Phát huy tiềm năng ghi nhớ của bộ não
Kiến thức được thể hiện dưới dạng sơ đồ bao giờ cũng ngắn gọn, côđọng, súc tích và có thể tri giác trực tiếp bằng các giác quan nên dễ dàng lưugiữ trong trí nhớ và lưu giữ lâu hơn
Các nhà tâm lí học đã chỉ ra mỗi giác quan của con người có khả năngtri giác một khối lượng thông tin hoàn toàn khác nhau trong cùng một thờigian như nhau Khả năng truyền tin của thị giác là 3 triệu bis/s, của thính giác
là 30 - 50 nghìn bis/s Như vậy khả năng truyền tin của thị giác gấp mười lầnthính giác Vì thế nếu con người quan sát sự vật dưới dạng trực quan sinhđộng thì thông tin có khả năng được lưu giữ nhanh hơn và lâu hơn Họ cònchỉ ra rằng bộ não của con người khó có thể lưu giữ, nhớ nội dung của mộtbài học, một chương, một cuốn sách nhưng có thể ghi nhớ chính xác một sơ
đồ về nội dung của một bài học, một chương, thậm chí là cả cuốn sách dù sơ
đồ đó hết sức phức tạp
Trang 171.1.1.2.2.Phát huy tiềm năng sáng tạo
Trước một vấn đề, mỗi đối tượng cá nhân sẽ có ý tưởng trình bày, thểhiện dưới dạng sơ đồ, bảng biểu theo những cách khác nhau, không ai giống ai
Sơ đồ, bảng biểu cho phép hình thành những ý tưởng mới Nói cáchkhác, sơ đồ, bảng biểu tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát huy tính sáng tạocủa bản thân Cách thức thể hiện phản ánh mức độ thâm nhập, hiểu về đốitượng và chứng tỏ khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân Sự sáng tạo thể hiệntrước hết ở việc cá nhân lựa chọn vấn đề trung tâm và xác lập cho chúngnhững mối liên hệ theo ý đồ riêng của mình Để có được một sơ đồ, bảngbiểu, đòi hỏi người tạo lập phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng phongphú của bản thân một cách tối đa, tạo cho đối tượng những mối liên hệ, những
sự liên kết chặt chẽ và bản chất nhất Có thể nói, sơ đồ, bảng biểu là sản phẩmsáng tạo của mỗi cá nhân Họ xây dựng sơ đồ, bảng biểu theo những cáchriêng để phục vụ nhu cầu của cá nhân mình
1.1.1.2.3.Tiết kiệm thời gian và công sức
Sơ đồ, bảng biểu tận dụng tối đa những từ khóa và những hình vẽ sinhđộng, sáng tạo Một khối lượng kiến thức lớn, phong phú, thậm chí lên tới vàichục trang giấy vẫn có thể cấu trúc lại bằng một sơ đồ, một bảng biểu hết sứcngắn gọn, cô đọng, súc tích mà không bỏ sót bất cứ thông tin quan trọng nào.Tất cả những thông tin cơ bản, cốt lõi, cần thiết vẫn được giữ nguyên đếnnhững nội dung nhỏ Nhìn vào sơ đồ, bảng biểu, chúng ta tái hiện được toàn
bộ những nội dung liên quan đến đối tượng, dễ dàng xâu chuỗi các dấu hiệubản chất của đối tượng Khi cần tái hiện không cần phải mất nhiều thời gian
và công sức để tìm hiểu, mà chỉ cần sử dụng một sơ đồ, bảng biểu thể hiệntoàn bộ kiến thức một cách nhanh chóng, đầy đủ và chính xác Việc sử dụng
sơ đồ, bảng biểu sẽ giúp con người tiết kiệm thời gian và công sức mà hiệuquả lại không hề giảm sút
Trang 181.1.1.2.4.Cung cấp bức tranh tổng thể
Tất cả mọi thông tin về đối tượng, sự vật đều có thể phản ánh trên sơ
đồ trong những mối liên hệ với nhau Quan sát sơ đồ, chúng ta phát hiện ratoàn bộ những vấn đề liên quan đến đối tượng Bắt đầu từ những kiến thứctổng quát, trọng tâm đến những nội dung nhỏ nhất Bất kì ai nhìn vào bứctranh tổng thể này cũng có thể nắm được những nét chính tổng quát nhất vềđối tượng
Sơ đồ, bảng biểu không những cung cấp cho chúng ta cái nhìn tổng thể
về đối tượng mà còn có cách thức nhìn nhận đa chiều về mọi mặt của vấn
đề Đặc biệt nhìn vào sơ đồ còn giúp chúng ta nhận ra những mối liên hệ, sựràng buộc, chi phối, liên quan của các nội dung tới nhau Từ đó, chúng taxác định được đâu là vấn đề trung tâm, dấu hiệu bản chất, đâu là ý chính, ýphụ,…để sắp xếp thời gian cho công việc và học tập một cách khoa học, hợp
lí và hiệu quả
Như vậy với tất cả những lợi ích mà sơ đồ, bảng biểu đem lại, chúng ta
có thể nhận thấy đây là một công cụ có nhiều ưu điểm Nhờ vào những ưuđiểm vượt trội này mà sơ đồ, bảng biểu được sử dụng rộng rãi ở mọi lĩnh vực,ngành nghề trong cuộc sống
Trong giáo dục, việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào quá trình giảng dạy
và học tập có tác dụng tích cực trong việc nâng cao tính chủ động, khả năng
tự học, tự tìm hiểu, khám phá của học sinh, kích thích tư duy sáng tạo, giúpcác em có những cách học hiệu quả Đồng thời, khi sử dụng sơ đồ, bảng biểutrong quá trình giảng dạy sẽ làm tăng tính linh hoạt, sáng tạo của giáo viên
Sơ đồ, bảng biểu là những công cụ ghi chép bài tối ưu vì nó thường dùngnhững từ khoá ngắn gọn để diễn đạt, triển khai nội dung vấn đề Quan trọnghơn là sơ đồ, bảng biểu kích thích sự hoạt động của các giác quan, giúp choviệc ghi nhớ, liên tưởng, sáng tạo đạt hiệu quả
Trang 19Như vậy, có thể khẳng định sơ đồ, bảng biểu là phương tiện trực quan cónhiều ưu thế trong việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của họcsinh Sử dụng đúng cách trong giảng dạy và học tập sẽ góp phần giải phóngnhững năng lực tiềm ẩn trong bản thân mỗi cá nhân và chắc chắn sẽ tạo ranhững chuyển biến tích cực của người dạy và người học.
1.1.2 Sơ đồ, bảng biểu là một phương tiện trực quan trong dạy học 1.1.2.1 Phương tiện trực quan trong dạy học
Có rất nhiều quan niệm từ xưa đến nay về phương tiện trực quan.
Quan niệm truyền thống: Vấn đề trực quan đã có từ ngàn xưa trong
lịch sử triết học cổ đại và đạt đến đỉnh cao trong quan niệm của các nhà dạyhọc sư phạm như: Comenxki (1792 - 1870), Rutxo (1712 - 1778), Betalozi(1746 - 1827)…Theo quan niệm này, trực quan có nghĩa là chủ thể sử dụngmột hay nhiều giác quan để quan sát, từ đó tạo ra các hình ảnh bên ngoài củađối tượng nhận thức Công thức chung là quan sát trực tiếp đối tượng để tạo
ra hình ảnh cảm tính về chúng đến khái quát hoá (trừu tượng hoá) các hìnhảnh đó trở thành biểu tượng chung (tức là khái niệm về một lớp các biểutượng cùng loại được xét theo những tiêu chí nhất định) Quan niệm này đượchình thành dựa trên hai cơ sở chủ yếu là xã hội và triết học
Mặc dù mang tính duy cảm nhưng quan niệm về trực quan và phương tiệntrực quan theo quan niệm truyền thống là một tiến bộ so với dạy học kinhnghiệm trước đây Theo đó học tập bắt đầu từ việc quan sát bên ngoài Thôngqua quan sát người học thu được những bằng chứng về sự vật, hiện tượng, tạoniềm tin đối với tri thức được truyền thụ, chống lại lối dạy học giáo điều theokiểu nhồi nhét tri thức cho người học
Quan niệm hiện đại: theo quan niệm hiện đại thì phương tiện trực
quan gắn liền với triết học, triết học biện chứng và tâm lí học hiện đại Lúcnày phương tiện trực quan đã được hiểu theo đúng nghĩa của nó Phương tiện
Trang 20trực quan không đơn giản là quan sát sự vật bằng các giác quan mà bằngnhững hành động tác động lên sự vật làm biến đổi các dấu hiệu bên ngoài củachúng, làm cho cái bản chất, các mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật củachúng được bộc lộ, được phơi bày một cách cảm tính mà nếu không có sự tácđộng đó thì chúng mãi còn là bí ẩn đối với nhận thức của con người Quanniệm về trực quan như vậy có ý nghĩa to lớn với hoạt động dạy học Nó chính
là cơ sở để xác định vai trò trực quan trong dạy học
Từ hai quan niệm truyền thống và hiện đại, chúng ta có thể hiểu về
phương tiện trực quan như sau: Phương tiện trực quan là những phương
tiện được sử dụng trong hoạt động dạy và học, có vai trò là công cụ để người giáo viên tác động vào đối tượng; có chức năng khơi dậy, dẫn truyền, làm tăng khả năng hoạt động của các giác quan, góp phần tạo nên chất liệu cảm tính của đối tượng nhận thức nhằm đạt được các mục đích dạy học cụ thể.[18;118]
Nói cách khác, có thể hiểu phương tiện trực quan như những phươngtiện trung gian để chủ thể có hình ảnh trực quan về đối tượng Chẳng hạnnhư trong trường hợp sự vật quá nhỏ, sự vật quá xa, chủ thể khó quan sátđược, hay những sự vật trừu tượng, khó hiểu không trực tiếp cảm nhận đượcthì chủ thể tìm đến với những phương tiện trung gian Thông qua việc tìmhiểu những phương tiện trung gian mà chủ thể có những hình ảnh trực quannhất về đối tượng Quá trình chiếm lĩnh và nhận thức đối tượng trở nên dễdàng và hiệu quả hơn
Trong quá trình dạy học, việc sử dụng các phương tiện trực quan cầnphải chú ý đến chức năng của nó đối với mục đích và nội dung dạy học Mỗiphương tiện trực quan trong những bài dạy nhất định sẽ có vị trí và chức năngkhác nhau, sẽ có một cách sử dụng phù hợp với chức năng và nội dung của
nó Do đó làm cho hiệu quả của hoạt động dạy học được nâng cao
Trang 21Chẳng hạn như ta sử dụng phương tiện trực quan là bức tranh về Vịnh
Hạ Long (phương tiện hình ảnh) trong những tình huống dạy học khác nhau:
Trường hợp thứ nhất: Giáo viên sử dụng bức tranh Vịnh Hạ Long để
giới thiệu với học sinh vẻ đẹp của một kì quan thiên nhiên thế giới, niềm tựhào của người dân Quảng Ninh, người dân Việt Nam với bạn bè thế giới.Trong trường hợp này, bức tranh Vịnh Hạ Long là trực quan thay thế
Trường hợp thứ hai: Giáo viên sử dụng bức tranh Vịnh Hạ Long để
dạy học sinh kiến thức địa lí về khái niệm “ Vịnh” Vì vậy, bức tranh có tácdụng gợi dẫn đến khái niệm này, để từ đó giáo viên cung cấp kiến thức “thếnào là Vịnh?” Ở trường hợp này, bức tranh là trực quan dẫn…
Qua ví dụ trên, chúng ta có thể thấy chức năng của các phương tiện trựcquan có thể chuyển hoá cho nhau trong các tình huống dạy học cụ thể Dovậy, việc hướng dẫn học sinh sử dụng các phương tiện trực quan cần vô cùnglinh hoạt Nó không phụ thuộc vào đặc tính vật lí làm ra phương tiện trựcquan mà phụ thuộc vào chức năng của chúng Nhiệm vụ của người giáo viên
là làm sao phải xác định được mục đích và chức năng của các phương tiệntrực quan trong các tình huống dạy học cụ thể; trên cơ sở đó, hướng dẫn, tổchức học sinh sử dụng phương tiện trực quan sao cho phù hợp và có kết quả
1.1.2.2 Những đặc điểm của sơ đồ, bảng biểu - một phương tiện
dạy học trực quan
Tác giả Phan Trọng Ngọ trong cuốn Dạy học và phương pháp dạy học
trong nhà trường cho rằng sơ đồ, bảng biểu là những mô hình vật chất hoá có
khả năng thay thế cho đối tượng, sự vật hiện tượng nào đó Việc tìm hiểu sơ
đồ, bảng biểu sẽ cung cấp những thông tin mới về đối tượng mà nó thay thế
Sơ đồ, bảng biểu với tư cách là một mô hình vật chất hoá sẽ có nhữngđặc điểm riêng biệt Chúng ta có thể kể đến một số đặc điểm cơ bản như:
Trang 22- Sơ đồ, bảng biểu bao giờ cũng là một vật đại diện cho cái gì, cho hiệntượng nào Nói đến sơ đồ, bảng biểu phải biết sơ đồ của cái gì, của sự vậthiện tượng nào Chẳng hạn ta có sơ đồ mạch điện trong môn Vật lí; sơ đồphân tử, nguyên tử trong môn Hoá học; sơ đồ tóm tắt cốt truyện, sơ đồ thểhiện tình huống truyện, sơ đồ thể hiện tính cách nhân vật trong môn Ngữvăn Xác định đối tượng cho sơ đồ, bảng biểu là một việc làm cần thiết trongquá trình dạy học Xác định đối tượng sẽ định hướng học sinh vào quá trìnhtìm kiếm, lựa chọn những chi tiết, dấu hiệu liên quan đến đối tượng, từ đólàm nổi bật đối tượng.
- Sơ đồ, bảng biểu bao giờ cũng phản ảnh những dấu hiệu bản chất, cácquan hệ có tính phổ biến, quy luật của sự vật mà nó đại diện Vì thế, qua sơ
đồ, bảng biểu chúng ta không chỉ có cái nhìn tổng thể của đối tượng mà cònxác định được những dấu hiệu bản chất của chúng Trong quá trình dạy học,
sử dụng sơ đồ, bảng biểu sẽ cung cấp cho học sinh cái nhìn tổng quát về đốitượng Học sinh nắm được những nét chung, nét khái quát nhất về đối tượngnhưng không dừng lại ở đó, sơ đồ, bảng biểu còn giúp người học cách thứcnhìn nhận đa chiều về vấn đề, tìm ra sự liên kết, ràng buộc những phương tiệnvới nhau Hay nói cách khác, các em sẽ tìm ra được những dấu hiệu bản chấtnhất của đối tượng, xác định được ý chính, ý phụ, những ý nào quan trọng cầnxoáy sâu Từ đó, các em sắp xếp thời gian học tập để có kết quả cao
- Sơ đồ, bảng biểu bao giờ cũng có tính trực quan về đối tượng mà nó đạidiện Nói cách khác, sơ đồ, bảng biểu bao giờ cũng phản ánh một cách trựcquan các dấu hiệu bản chất của đối tượng mà nó đại diện Đây là đặc trưngđiển hình của sơ đồ, bảng biểu trong quá trình dạy học và là ưu thế nổi trộicủa nó trong nhận thức Tuy nhiên, sơ đồ, bảng biểu không phải là vật đạidiện hoàn toàn cho một đối tượng hay một sự vật nào đó, mà chỉ là sự phảnánh những dấu hiệu nhất định của nó làm cho dấu hiệu bản chất trở nên trực
Trang 23quan trước người học Giáo viên sử dụng sơ đồ, bảng biểu khi đối tượng họctập, đối tượng nhận thức ở dưới dạng trừu tượng, học sinh khó tiếp thu Việc
sử dụng sơ đồ, bảng biểu khiến cho sự vật bộc lộ một cách trực quan Họcsinh dễ dàng nhận thức, từ đó mà việc tìm hiểu đối tượng trở nên thuận lợi vàhiệu quả hơn
Sơ đồ, bảng biểu cũng như các phương tiện dạy học khác luôn là nhữngcông cụ trợ giúp, chuyển tải nội dung Sơ đồ, bảng biểu tạo ra sự chú ý, cảithiện khả năng ghi nhớ, mức độ tiếp thu của học sinh Nó không thể quyếtđịnh toàn bộ chất lượng giảng dạy mà chỉ hỗ trợ thể hiện nội dung của bàihọc Tự nó không thể là nội dung Giáo viên phải là người kết nối khả nănggiao tiếp về nội dung và sơ đồ, bảng biểu để mang lại hiệu quả tối ưu chogiờ dạy
Trong thực tế giảng dạy, rất nhiều giáo viên đã coi việc sử dụng sơ đồ,bảng biểu thay thế hoàn toàn cho việc tìm hiểu nội dung bài học Cho nên chỉcần tìm hiểu, hoàn thành sơ đồ, bảng biểu là đủ, là xong Việc làm này khiếnhọc sinh hiểu về đối tượng một cách giản đơn Do vậy, người giáo viên cầnphải có sự phân biệt rõ ràng giữa nội dung và phương tiện Nội dung cầnchiếm lĩnh ở đây không phải là các sơ đồ, bảng biểu mà là sự vật hiện tượng,trong đó sơ đồ, bảng biểu chỉ là những đại diện Sơ đồ, bảng biểu giúp đốitượng bộc lộ trực quan, học sinh dễ dàng quan sát và tìm kiếm tri thức Nhậnthức tốt đặc trưng này thì việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu mới mang lại hiệuquả tích cực
- Sơ đồ, bảng biểu được tạo ra không phải sự lắp ghép, sự sắp xếp giản đơn
các dấu hiệu quan sát từ đối tượng sự vật mà là kết quả của một quá trình tìmhiểu, phân tích, phát hiện ra những dấu hiệu bản chất của sự vật và xác lậpcho chúng mối liên hệ bản chất nhất để cấu trúc lại thành một sơ đồ
Trang 24Trong quá trình dạy học, nhận thức rõ đặc trưng này của sơ đồ, bảng biểu
sẽ giúp người giáo viên phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo củahọc sinh Tính sáng tạo của các em thể hiện trong việc lựa chọn dấu hiệu củađối tượng và xác lập cho chúng những mối liên hệ bản chất nhất Mỗi họcsinh sẽ có những cách triển khai khác nhau và không em nào giống em nào.Cách thức thể hiện của học sinh có thể giúp giáo viên vừa đánh giá được mức
độ hiểu bài, vừa nhận thức được khả năng sáng tạo của các em Chính vì vậy
mà sơ đồ, bảng biểu được xem như một phương tiện trực quan có nhiều lợithế trong việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Do vậy,cần sử dụng phương tiện trực quan này ở tất cả các môn học trong nhà trường
Sơ đồ, bảng biểu là những phương tiện trực quan có nhiều ưu thế trongquá trình dạy học Sử dụng thành thạo và có hiệu quả sơ đồ, bảng biểu sẽmang lại thay đổi tích cực trong phương thức học tập của học sinh vàphương pháp giảng dạy của giáo viên Học sinh sẽ có được những phươngpháp học tập mới, tăng tính chủ động, tích cực, sáng tạo và phát triển tư duy.Giáo viên sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức, tăng tính linh hoạttrong bài giảng và quan trọng hơn là giúp học sinh nắm được kiến thức trọngtâm của bài học thông qua những sơ đồ, bảng biểu thể hiện các mối liên hệbản chất của tri thức
1.2 Sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Ngữ văn
1.2.1 Thực trạng sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Ngữ văn
Về việc chọn mẫu: Chúng tôi tiến hành khảo sát: việc sử dụng sơ đồ, bảngbiểu trong dạy học Ngữ văn ở lớp 9, từ đó có cái nhìn tổng quát về thực trạng
sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Ngữ văn Việc khảo sát của chúng tôidựa trên một số cơ sở:
- Thống kê số lượng sơ đồ, bảng biểu được sử dụng trong cuốn sách: Sáchgiáo viên, sách thiết kế bài giảng
Trang 25- Thống kê số lượng sơ đồ, bảng biểu trong một số giáo án của giáo viên.
- Khảo sát tình hình sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình dạy học Ngữvăn ở nhà trường THCS thông qua việc dự giờ một số tiết dạy của giáoviên
Sách giáo viên và các sách thiết kế bài giảng luôn là người bạn đồng hànhcủa người giáo viên Những cuốn sách không những giúp giáo viên về mặt nôidung trong quá trình soạn giáo án mà còn định hướng về mặt tổ chức và xâydựng bài học Mỗi cuốn sách đều có định hướng về phương pháp, phương tiệndạy học trong từng bài dạy cụ thể để giáo viên có thể tham khảo và vận dụng
Vì thế để biết được thực trạng sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào dạy học Ngữ vănthì cần thiết phải khảo sát tình hình sử dụng sơ đồ, bảng biểu ở trong nhữngcuốn sách này Ở đây, chúng tôi tiến hành thống kê số lượng sơ đồ, bảng biểutrong các cuốn sách như: Sách giáo viên Ngữ văn 9, sách Thiết kế bài bài giảngNgữ văn 9 của tác giả Nguyễn Văn Đường Sau đây là kết quả thống kê:
BẢNG THỐNG KÊ VIỆC SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
( Nguồn: Sách giáo viên, sách Thiết kế bài học Ngữ văn lớp 9, tập 1, 2)
BẢNG THỐNG KÊ VIỆC SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Trang 26Nguyễn Thị Thủy
Nguyễn Thị Yên
8 Chuyện người con gái
Trang 2728 Đối thoại, độc thoại và độc
thoại nội tâm trong văn
bản tự sự
31 Người kể chuyện trong
Trang 2843 Chó sói và cừu trong thơ
ngụ ngôn của La phông
52 Nghĩa tường minh và hàm
Trang 2959 Ôn tập phần Tiếng Việt 2 2 2
đồ, bảng biểu được sử dụng cho cả hai học kì Sách Thiết kế bài học của tácgiả Nguyễn Văn Đường có số lượng cao hơn với 34 sơ đồ, bảng biểu Trongquá trình thiết kế, các tác giả đã ý thức sử dụng sơ đồ, bảng biểu như mộtcông cụ để giáo viên hướng dẫn học sinh học tập Sự chênh lệch về số lượng
sơ đồ, bảng biểu giữa các cuốn sách là do nhiều yếu tố chi phối Có lẽ sáchgiáo viên vẫn thiên về nội dung hơn phương pháp Trong khi đó, sách Thiết
kế bài học của tác giả Nguyễn Văn Đường được biên soạn nhấn mạnh hơncách thức tổ chức dạy học Các tác giả phần nào hiểu được giá trị của những
Trang 30công cụ này nên đã ý thức xây dựng, sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trìnhthiết kế bài học.
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì số lượng sơ đồ, bảng biểu nhưtrên là còn khiêm tốn Nói cách khác, sách giáo viên và sách thiết kế chưa địnhhướng sử dụng sơ đồ và bảng biểu một cách thường xuyên ở các bài học
Qua khảo sát, thống kê sách giáo viên, sách Thiết kế bài học và các giáo
án của một số giáo viên, chúng tôi nhận thấy: người thiết kế cũng như giáo viênthường sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào quá trình dạy các bài Tiếng Việt, Tập làmvăn; còn sử dụng trong giảng dạy các tác phẩm văn chương thì rất ít, thậm chínhiều bài không sử dụng sơ đồ, bảng biểu Thực trạng này xuất phát từ chỗ cácbài Tiếng Việt, Tập làm văn trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 là những vănbản khoa học Các văn bản này cung cấp kiến thức một cách hệ thống, khoahọc về các phương châm hội thoại, các thành phần biệt lập, cách làm các dạngvăn nghị luận…Tất cả những nội dung kiến thức này đều được trình bày mộtcách mạch lạc, rõ ràng từ tên bài cho đến những đề mục, tiêu mục được tổ chứcsắp xếp khoa học, logic Do vậy, giáo viên dễ dàng sử dụng sơ đồ, bảng biểutrong quá trình giảng dạy Khi lập sơ đồ, bảng biểu cho các bài Tiếng Việt, Tậplàm văn hoặc tổng kết văn học, giáo viên và học sinh không mất nhiều côngsức và thời gian cho việc tìm kiếm vấn đề trung tâm bởi nó đã được trình bày
cụ thể, chi tiết trong sách giáo khoa Học sinh chỉ cần chắt lọc và hoàn thiện
vào sơ đồ, bảng biểu Chẳng hạn khi dạy bài Tổng kết về từ vựng (sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập 1, trang 126), giáo viên có thể sử dụng sơ đồ để khái quát
toàn bộ các đơn vị kiến thức của bài học Các đơn vị kiến thức này, học sinhvừa được giáo viên hướng dẫn ôn tập trong giờ Như vậy, học sinh chỉ cần kháiquát và hoàn thiện sơ đồ Tương tự, với các bài Tập làm văn hoặc Tổng kết vănhọc, giáo viên cũng có thể sử dụng sơ đồ, bảng biểu để giúp học sinh hệ thốngtoàn bộ kiến thức của bài học Như vậy, xuất phát từ đặc trưng của các bài
Trang 31Tiếng Việt, Tập làm văn, Tổng kết văn học mà việc sử dụng sơ đồ, bảng biểucũng dễ dàng và thuận lợi hơn.
Chẳng hạn đây là sơ đồ về phần từ trong bài học Tiếng Việt:
Từ
(xét về đặc điểm cấu tạo)
Từ đơn
Từ láy âm.
Trang 32Trong khi đó, tác phẩm văn học là sáng tạo của người nghệ sĩ, từ những
sự việc, hiện tượng trong cuộc sống mà nhà văn hư cấu, khái quát để xâydựng thế giới nghệ thuật Tác phẩm luôn chứa đựng những tư tưởng, vốnsống, kinh nghiệm cũng như phong cách rất riêng Bất cứ tác phẩm văn họcnào cũng là những lời tri ân, là tiếng lòng của tác giả dành cho cuộc sống vàcon người Khám phá mỗi sáng tác còn giúp độc giả chúng ta nhận ra tài năngcũng như phong cách nghệ thuật của từng cây bút Là sáng tạo của mỗi cánhân nên tác phẩm văn chương thường mang đậm dấu ấn chủ quan của ngườinghệ sĩ Mỗi nhà văn nhìn nhận cuộc sống ở những khía cạnh, phương diệnkhác nhau Nếu các bài Tiếng Việt, Tập làm văn hay tổng kết văn học được tổchức, sắp xếp một cách khoa học, logic, rõ ràng…thì các tác phẩm vănchương lại được tổ chức, sắp xếp theo ý đồ nghệ thuật của nhà văn từ việcchọn đề tài, cốt truyện, tình huống truyện, nhân vật…Việc thể hiện những cáichủ quan dưới dạng trực quan bao giờ cũng khó hơn Vì thế, việc sử dụng sơ
đồ, bảng biểu trong khi dạy học các tác phẩm văn chương có phần thử tháchhơn so với các bài học trên Chẳng hạn như những tâm sự sâu kín trong lòngnhân vật, đặc biệt là nhân vật trữ tình là rất khó bộc lộ dưới dạng trực quan
Để khám phá, phát hiện ra những tầng ý nghĩa sâu xa ẩn chứa dưới lớp ngôn
từ nhiều khi đòi hỏi người giáo viên phải thuyết trình, bình giảng, tái hiệngiúp học sinh liên tưởng, tưởng tượng…
Tiếp nhận tác phẩm văn chương là quá trình học sinh nắm bắt thôngđiệp nghệ thuật của người sáng tác, là sự trao đổi tâm tình, sự lay động tâm
can người đọc, là những chuyển hóa nội tâm, học sinh sẽ đi từ cái tôi cá nhân
để bắt gặp cái ta của tác giả, của tác phẩm Đó là một quy trình nhiều công
đoạn, nhiều việc làm tổng thể, đồng bộ Chính vì vậy, việc sử dụng sơ đồ,bảng biểu nếu không có sự chuẩn bị kĩ lưỡng, chu đáo, tuân thủ đặc trưng củamôn học thì không những không đem lại kết quả mà còn đưa đến những phản
Trang 33tác dụng Giờ dạy học tác phẩm văn chương trở thành giờ thiết kế và thi côngtrong kĩ thuật sản xuất Học sinh lúng túng, các em tiếp thu kém, cảm nhậnhời hợt, thiếu cảm xúc Và như vây, hiệu quả tác động thẩm mĩ của tác phẩmvăn chương tới người người đọc chưa thực sự có hiệu quả.
Sơ đồ, bảng biểu ít được sử dụng trong các giờ dạy tác phẩm vănchương còn do tâm lí của người giáo viên Người giáo viên quan tâm làm sao
đi hết mọi nội dung của bài học chứ chưa thực sự chú trọng tới những hiệuquả xa hơn Giáo viên cố gắng thuyết trình, giảng giải, cung cấp hết nội dungtrong sách giáo khoa, yêu cầu học sinh học thuộc, nhớ máy móc, thậm chí giờdạy thành giờ đọc chép
Các tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông đều là nhữngsáng tác giàu giá trị Có rất nhiều vấn đề trong tác phẩm mà giáo viên cầnhướng dẫn học sinh khai thác, tìm hiểu để phát hiện ra giá trị nội dung, giá trịnghệ thuật cũng như tài năng của người nghệ sĩ, nhưng thời gian dành choviệc dạy học không nhiều Sơ đồ, bảng biểu nếu không được sử dụng mộtcách hợp lí thì vừa tốn thời gian, công sức; vừa không hiệu quả Do vậy, giáoviên thường sử dụng các phương pháp, phương tiện khác để có một bài giảngđảm bảo mục tiêu trong khoảng thời gian eo hẹp giúp học sinh dễ dàng lĩnhhội kiến thức
Như vậy, sơ đồ và bảng biểu chủ yếu được sử dụng vào dạy học các bàiTiếng Việt, Tập làm văn, tổng kết văn học,…ít được sử dụng trong việc dạyhọc tác phẩm văn chương Tuy nhiên đây lại là mảnh đất giàu có cần đượckhai thác Giáo viên và học sinh sẽ có những cơ hội thực sự khi khám phá,sáng tạo trong mỗi sơ đồ, bảng biểu được xây dựng và sử dụng Trong khi sơ
đồ, bảng biểu cho các nội dung học tập khác (Tiếng Việt, Tập làm văn…)dường như khá ổn định, quy phạm, theo trật tự, khoa học, logic thì sức hấpdẫn của sơ đồ, bảng biểu trong dạy học tác phẩm văn chương là sự linh hoạt,
Trang 34sáng tạo, phong phú, hấp dẫn, sự dồi dào trong ý tưởng Dấu ấn cá nhân, dấu
ấn chủ quan, những sáng tạo riêng của người cảm thụ được thể hiện rất rõ quanhững sơ đồ, bảng biểu này Có thể nói, sơ đồ, bảng biểu trong dạy học tácphẩm văn chương chính là những sơ đồ mở, sơ đồ ý tưởng Mỗi học sinh sẽ
có những cách vẽ, cách thể hiện khác nhau Cùng một vấn đề trong tác phẩmnhưng sẽ có nhiều hình thức sơ đồ Tính sáng tạo của học sinh và giáo viênđược thể hiện trực tiếp trên mỗi sơ đồ, bảng biểu đó
Sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào giảng dạy những nội dung trong sáchgiáo khoa Ngữ văn trung học cơ sở là một việc làm cần thiết Bởi phương tiệntrực quan này có những tính năng vượt trội Vì vậy, giáo viên không nên chỉ
sử dụng sơ đồ, bảng biểu ở những tiết dạy Tiếng Việt, Tập làm văn hay tổngkết văn học; mà cần chú ý đầu tư để có thể sử dụng hiệu quả ở những tiết dạyhọc tác phẩm văn chương
Ngoài việc khảo sát tình hình sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong các tàiliệu dạy học, các giáo án Chúng tôi còn dự giờ một số tiết dạy Ngữ văn trongnhà trường Cụ thể là chúng tôi đã dự được 19 tiết Ngữ văn lớp 9 Trong đó
có 5 tiết dạy Tiếng Việt (Các phương châm hội thoại; Sự phát triển của từ
vựng; Tổng kết từ vựng; Ôn tập Tiếng Việt; Các thành phần biệt lập), 5 tiết
dạy Tập làm văn (Luyện tập tóm tắt văn bản tự sự; Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí; Cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (đoạn trích); Cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, một bài thơ; Tổng kết Tập làm văn); 9 tiết dạy Văn học (Truyện Kiều; Làng; Chiếc lược ngà; Lặng lẽ Sa Pa; Những ngôi sao xa xôi; Ôn tập về thơ; Tổng kết văn học nước ngoài; Bàn
về đọc sách; Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La-phông-ten)
Qua các tiết dự giờ, chúng tôi nhận thấy: giáo viên đã sử dụng sơ đồ,bảng biểu vào quá trình dạy học ở trên lớp, tuy nhiên hiệu quả của cácphương tiện trực quan này mang lại chưa được như mong muốn Bởi sơ đồ,bảng biểu mới chỉ được sử dụng ở cấp độ thấp Nói cách khác, người giáo
Trang 35viên sử dụng sơ đồ, bảng biểu chủ yếu để tái hiện kiến thức, minh họa kiếnthức chứ chưa thực sự xem sơ đồ, bảng biểu như một công cụ nhằm phát huytính tích cực, chủ động, sáng tạo, tự tìm hiểu kiến thức của học sinh.
Chẳng hạn như dạy về tác phẩm Truyện Kiều, khi giới thiệu về đại thi
hào Nguyễn Du và tác phẩm, giáo viên đã dùng sơ đồ để khái quát toàn bộcuộc đời và sự nghiệp văn chương như sau:
Cũng như giới thiệu khái quát về giá trị và nội dung tóm tắt tác phẩm:
Trang 36Theo quan sát của chúng tôi, giáo viên là người kiêm tất cả mọi việc, từviệc lựa chọn các từ khóa khái quát kiến thức, chọn nội dung đến hoàn thiện
sơ đồ và trình bày cho học sinh Các em ngồi nghe giáo viên thuyết trình,theo dõi sơ đồ và ghi chép về học Việc làm này đã biến học sinh thànhnhững đối tượng thụ động, “thui chột” khả năng làm chủ kiến thức và sáng
tạo của các em
Hoặc khi dạy các tác phẩm văn học nghị luận như: Bàn về đọc sách;
Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La phông ten, giáo viên chủ yếu sử
Trang 37dụng sơ đồ, bảng biểu để khái quát mạch nghị luận trong tác phẩm, ngoài rakhông sử dụng ở các nội dung phân tích tác phẩm Chính vì vậy, sau giờ học,các em chỉ nhớ máy móc mạch nghị luận mà chưa hiểu tác phẩm một cáchtoàn diện
Đặc biệt là khi dạy học tác phẩm văn chương như các truyện ngắn Việt
Nam hiện đại : Làng; Chiếc lược ngà; Lặng lẽ Sa Pa; Những ngôi sao xa
xôi, giáo viên sử dụng sơ đồ để minh họa cho bài dạy ở các nội dung tóm tắt
truyện, hệ thống các đặc điểm nhân vật hay khái quát giá trị tác phẩm Học
sinh không tham gia trực tiếp vào quá trình tìm hiểu, cảm thụ sâu sắc về
sáng tác mà chỉ thông qua cảm nhận một chiều của giáo viên Do vậy, giờ
dạy chưa lôi cuốn, chưa kích thích khả năng tự tìm hiểu chiếm lĩnh kiến thứccủa cả học sinh và giáo viên
Tóm lại, qua khảo sát thực trạng sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạyhọc Ngữ văn ở sách giáo viên, sách Thiết kế bài học, các giáo án và trong quátrình dự giờ ở nhà trường phổ thông chúng tôi nhận thấy:
- Hầu hết các cuốn sách chưa gợi ý cho giáo viên sử dụng sơ đồ, bảng biểuvào từng khâu, từng bài học cụ thể
- Giáo viên sử dụng sơ đồ, bảng biểu một cách tùy hứng, không thườngxuyên và mang tính hình thức Sơ đồ, bảng biểu chủ yếu được sử dụng vào dạyhọc các văn bản khoa học, rất ít sử dụng trong dạy các tác phẩm văn chương
- Sơ đồ bảng biểu chủ yếu mới phát huy tính tích cực của giáo viên mà chưa
quan tâm đến tính tích cực của học sinh Phần lớn giáo viên xây dựng sơ đồ
để phối hợp với thuyết trình của bản thân mình, giúp học sinh dễ hình dung,
ghi nhớ và tái tạo lại khi cần thiết chứ chưa phải là các sơ đồ hướng dẫn học
sinh tự làm việc, tự khám phá bài học.
Thực trạng này dẫn tới việc dạy học Ngữ văn tuy có sử dụng cácphương tiện trực quan là sơ đồ, bảng biểu nhưng hiệu quả chưa cao Vì vậy
Trang 38cần thiết phải có những biện pháp để các phương tiện trực quan này phát huylợi thế của nó trong dạy học Ngữ văn Muốn làm được điều này, giáo viênkhông chỉ sử dụng thường xuyên vào từng bài, từng khâu của quá trình dạyhọc mà nên có ý thức tạo điều kiện để học sinh trực tiếp tham gia vào quátrình xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình tự chiếm lĩnh tácphẩm của họ Có như vậy, việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu mới đem lại hiệuquả thực sự trong dạy học Ngữ văn.
1.2.2 Các yêu cầu của việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Ngữ văn
Sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Ngữ văn không yêu cầu khắt khe vàchặt chẽ về mặt logic giống như các sơ đồ, bảng biểu trong Toán học, Hóahọc, Địa lí…và một số bộ môn khác Trong dạy học Văn, sơ đồ, bảng biểu
chủ yếu là các sơ đồ mở, sơ đồ ý tưởng.
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và sử dụng, giáo viên và các emhọc sinh cũng phải chú ý đến một số yêu cầu cơ bản sau:
1.2.2.1 Tuân thủ đặc trưng môn học
Hiện nay, dạy học Văn đang đứng trước những thách thức: nặng về
giảng giải nội dung tác phẩm, lịch sử văn học và tác giả; dạy học tiếng Việtvẫn tập trung vào cấu trúc ngôn ngữ; Chương trình quy định chi tiết nội dungcho từng cấp học và lớp học, chi tiết đến từng tác giả và tác phẩm; sách giáokhoa, tài liệu cụ thể hóa chương trình, như một cuốn cẩm nang dẫn đường chotất cả: từ các cấp chỉ đạo chuyên môn đến thầy cô giáo và học sinh Tác giả vàtác phẩm đã được quy định bất di bất dịch; Hệ thống các câu hỏi và những
điều cần ghi nhớ đã được in sẵn trong sách giáo khoa “Miếng cơm đã được
nhai sẵn”, học sinh chỉ việc “đưa vào miệng” Các em được ăn, nhưng
không cảm nhận được vị ngon của món ăn Nói theo cách của các nhà giáo
dục Phần Lan: chỉ những con cá chết mới trôi theo dòng chảy của con suối.
Trang 39Cách dạy học Ngữ văn lấy sách giáo khoa làm “khuôn vàng thước ngọc” củachúng ta chỉ tạo ra những sản phẩm được đúc từ một khuôn, không phải cáchdạy học theo quan điểm giáo dục hiện đại.
Học sinh của chúng ta có thể học thuộc những ghi nhớ về nội dung vànghệ thuật của các tác phẩm văn học và tiểu sử của các nhà văn trong sáchgiáo khoa, nhưng không mấy khi được đọc kỹ lưỡng toàn bộ một tác phẩmvăn học, nhất là văn xuôi và có cảm xúc thực sự khi đọc Học sinh của chúng
ta có thể viết lại đúng các định nghĩa, nhận diện và phân loại chính xác cácđơn vị và hiện tượng ngôn ngữ, nhưng không có thời gian thực hành các hoạt
động giao tiếp Các em không mấy khi được thảo luận (nói và nghe) về một tác phẩm mà mình yêu thích (đọc) Các bài làm văn phần lớn được học sinh
viết theo ý tưởng gợi ý của giáo viên và các loại sách tham khảo mà các emhọc thuộc lòng Giáo viên cũng không có thời gian chấm và sửa bài cho kĩlưỡng Kĩ năng viết sáng tạo, thể hiện năng lực đánh giá, phê phán một cách độc lập của người viết bị biến thành kĩ năng học thuộc ý tưởng và cách diễnđạt của người khác rồi chép lại Theo nguyên lí của giáo dục, dạy là một hoạtđộng làm cho quá trình học được diễn ra Nói nhiều trong lớp mà học sinhkhông nghe, nghe mà không hiểu, hiểu mà không cảm thấy thích thú, tức làngười giáo viên đang nói vào thinh không Cách mà chúng ta giảng bài nhưlâu nay chỉ làm cho quá trình học diễn ra ở số khía cạnh, vì vậy chỉ đạt đượcmột số mục tiêu khiêm tốn như đã nêu
Nguyên nhân của thực trạng trên bắt nguồn từ việc giáo viên chưa nhậnthức đầy đủ và đúng đắn về bản chất của môn Ngữ văn trong nhà trường phổthông Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng dạy học văn hay cụ thể hơn làphát huy tối đa ưu thế của các phương pháp, phương tiện dạy học thì trước hết
cần phải ý thức được tính chất “kép” của môn Ngữ văn trong nhà trường Đây
Trang 40là một môn khoa học vừa mang tính nghệ thuật ngôn từ, vừa mang tính chấtcủa một môn học.
Điểm phân biệt dễ thấy nhất giữa môn Ngữ văn với các môn học nhân vănkhác ở chỗ văn học là nghệ thuật ngôn từ Tác phẩm văn chương bao giờ cũng
là sản phẩm sáng tạo tinh thần vô cùng độc đáo, mới mẻ của người nghệ sĩ.Tiếp cận và chiếm lĩnh tác phẩm văn chương trong nhà trường luôn bị chiphối của những quy luật tiếp cận văn chương Hiệu quả của việc dạy học vănbao giờ cũng là những tác động về tâm hồn, tình cảm, thẩm mĩ của học sinh.Phương pháp dạy học văn trong nhà trường cũng phải căn cứ một cách khoahọc vào những quy luật của tâm lí sáng tạo và cảm thụ văn chương Cácphương pháp, phương tiện dạy học được sử dụng cần gắn với sự nhận thứcđúng đắn về bản chất của môn Ngữ văn trong nhà trường Nếu không nắmvững đặc trưng này thì mọi phương pháp, phương tiện dạy học sẽ bị phản tácdụng, làm xơ cứng cảm xúc thẩm mĩ của học sinh Song, nếu chỉ nhấn mạnh,chú trọng mặt văn học của môn Ngữ văn thì người giáo viên dễ đi lệch hướngtrong việc thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu của giáo dục và lúng túng khi
sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học trong quá trình giảng dạy Môn Ngữ văn trong nhà trường vừa mang tính chất nghệ thuật ngôn từ,vừa mang tính chất của một môn học Văn học nhưng lại là văn học trong nhàtrường Môn Ngữ văn cũng giống như tất cả những môn học khác trong giáodục phổ thông đều có nhiệm vụ là cung cấp cho học sinh những hiểu biết vànhững kĩ năng nhất định Dạy học Văn không chỉ dừng lại ở chỗ gây nhữngrung động thẩm mĩ cho học sinh, mặc dù rung động chính là con đường tạonên hiệu quả của giờ dạy học nhưng đó không phải là mục đích duy nhất củadạy học văn Mà mục đích là tạo ra sự phát triển cân đối, tác động vào tâmhồn, trí tuệ, thẩm mĩ và hiểu biết để hình thành và phát triển nhân cách chocác em Như vậy, dạy học văn nhất thiết phải cung cấp cho học sinh những