1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

VĂN hóa núi RỪNG tây NGUYÊN NHÌN từ góc độ TRƯỜNG NGHĨA

91 841 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 424 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn hoá được hiểu là “sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [39,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRUỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THANH SEN

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRUỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THANH SEN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS: ĐẶNG THỊ HẢO TÂM

HÀ NỘI, NĂM 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới cô giáo PGS TS Đặng Thị Hảo Tâm – người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong quá

trình thực hiện đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn,trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy trong quá trình tôihọc tập tại trường

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đãluôn khích lệ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thựchiện luận văn

Hà Nội, tháng 10 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Sen

Trang 4

MỤC LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Có thể có nhiều con đường khác nhau để tìm hiểu văn hóa của một

vùng miền, một quốc gia, một dân tộc Trong đó, việc tìm hiểu văn hóa củamột vùng đất từ phương diện ngôn ngữ là một trong những hướng đi đầy triểnvọng Bởi lẽ, văn hóa và ngôn ngữ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Từ khihình thành, ngôn ngữ đã luôn gắn với văn hóa của nhân loại, văn hóa củanhững cộng đồng người cụ thể Hay nói cách khác, ngôn ngữ là phương tiệnchuyên chở văn hóa và văn hóa chứa đựng trong ngôn ngữ

Ngày nay, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,bên cạnh sự phát triển vượt bậc của xã hội là sự xuống cấp, mai một dần củakhông ít giá trị văn hóa Việc nghiên cứu, tìm hiểu những giá trị văn hóa ấy từgóc độ ngôn ngữ là việc làm hết sức cấp bách, nhằm góp phần gìn giữ và bảolưu bản sắc văn hóa của dân tộc

1.2 Cho tới nay, khái niệm văn hóa đã trở thành kinh điển Văn

hoá được hiểu là “sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [39, 28] hay “Văn hóa là một hệ thống hữu

cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể ) do con người sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [39, 28] Từ khái niệm

văn hóa đó, chúng ta có các khái niệm “văn hóa ăn”, “văn hóa mặc”, “văn hóaở”… Dưới góc độ không gian sinh tồn, nhà văn hóa học, nhà ngôn ngữ họcTrần Ngọc Thêm trong công trình “Những vấn đề văn hóa học lí luận và ứngdụng” (NXB Văn hóa – Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2013) đã đưa ra kháiniệm “văn hóa sông nước”, “văn hóa biển đảo” Hệ thống lí luận của côngtrình này là một gợi ý để chúng tôi hướng tới vấn đề: với Tây Nguyên, có hay

Trang 6

không “văn hóa núi rừng” và văn hóa ấy được mã hóa bằng hệ thống ngônngữ, hệ thống từ vựng như thế nào?

Mặt khác, chúng tôi nhận thấy lí thuyết về trường nghĩa đã được ứngdụng rất thành công trong việc khám phá một hiện tượng văn học, một tácphẩm văn học Văn học là một bộ phận của văn hóa, mọi giá trị của văn hóađều được đánh dấu bằng ngôn ngữ Thực tế này tạo tiền đề cho luận vănhướng tới một vấn đề đó là: ứng dụng lí thuyết trường nghĩa để nghiên cứumột hiện tượng văn hóa Nếu như sự ứng dụng này trước đó đã được thừanhận ở lĩnh vực văn học thì tất yếu nó phải được thừa nhận ở lĩnh vựcvăn hóa

1.3 Việc hiểu biết về văn hóa Tây Nguyên một cách sâu sắc và toàn diện

là việc làm vô cùng cần thiết và có ý nghĩa thiết thực Nó giúp chúng ta hiểu

rõ quan niệm, thế giới quan minh triết của con người Tây Nguyên để từ đó cónhững suy ngẫm, nhìn nhận về cuộc sống, về xã hội ngày nay Qua đó, thấyđược vị thế, sắc thái của văn hóa Tây Nguyên trong đời sống dân tộc, gópphần gìn giữ bản sắc độc đáo của Tây Nguyên trong sự xói mòn của văn hóahiện nay Đồng thời còn phục vụ cho việc giảng dạy, học tập môn Văn trongnhà trường được đúng hướng và toàn diện hơn

Từ những lí do trên, chúng tôi chọn “Văn hóa núi rừng Tây Nguyên nhìn

từ góc độ trường nghĩa” để làm đề tài nghiên cứu

Trang 7

Trên thế giới, lí thuyết về trường nghĩa được các nhà ngôn ngữ Đức vàThụy Sĩ đưa ra vào những thập kỉ 20 và 30 của thế kỉ XX Lí thuyết này bắtnguồn từ những tư tưởng về mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ trong ngônngữ của W Humboldt, M Pokrovxkij, Meyer Nhưng tiền đề thúc đẩy mộtcách quyết định sự hình thành nên lí thuyết về các trường là những nguyên lícủa F De Saussure, đặc biệt là luận điểm giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng donhững yếu tố xung quanh quy định và chính phải xuất phát từ cái toàn thểlàm thành một khối để phân tích ra những yếu tố mà nó chứa đựngcủa ông

Ở Việt Nam, trường nghĩa cũng được rất nhiều tác giả quan tâm nghiêncứu như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng TrọngPhiến, Đỗ Việt Hùng… Trong đó, Đỗ Hữu Châu là người đi đầu trong việcđưa ra lí thuyết về trường nghĩa cũng như những phạm trù ngôn ngữ liên quanđến trường nghĩa

Thực tế việc tìm hiểu trường từ vựng ngữ nghĩa và vận dụng những lýthuyết về trường nghĩa trong văn học đã làm sáng tỏ nhiều mối quan hệ giữacác từ ngữ, tính hệ thống của từ vựng nói riêng và ngôn ngữ nói chung, đồngthời cho thấy ưu thế của nó trong việc khảo sát các hiện tượng văn học

Tìm hiểu trường từ vựng ngữ nghĩa với các vấn đề có liên quan còn chothấy đặc điểm của ngôn ngữ trong hoạt động hành chức của nó

2.2 Một số khuynh hướng ứng dụng lí thuyết trường từ vựng – ngữ nghĩa

Trong những năm gần đây, có rất nhiều luận án, luận văn của nhiều tácgiả đi sâu tìm hiểu lí thuyết về trường nghĩa cũng như vận dụng lí thuyếttrường nghĩa vào việc nghiên cứu hoạt động của trường nghĩa trong mối quan

hệ với môi trường xã hội, văn hóa và lịch sử như: Trường nghĩa chỉ màu sắctrong thơ Tố Hữu, Trường nghĩa thiên nhiên xứ Huế trong kí Hoàng Phủ

Trang 8

Ngọc Tường, Trường nghĩa hoa trong ca dao, Trường nghĩa lửa trong truyệnKiều của Nguyễn Du, Trường nghĩa hiện tượng khí tượng trong truyện Kiềucủa Nguyễn Du, Trường nghĩa năm giác quan trong truyện Kiều của Nguyễn

Du, Trường nghĩa yêu trong thơ Xuân Diệu và thơ Nguyễn Bính, Trường từvựng về con người Tây Nguyên trong sáng tác của nhà văn Nguyên Ngọc,Hiện tượng chuyển trường nghĩa trong thơ Xuân Diệu, Hiện tượng chuyển ditrường nghĩa trong thơ Chế Lan Viên…

Như vậy, có thể thấy cho đến nay đã có không ít những công trìnhnghiên cứu khoa học vận dụng lí thuyết trường nghĩa vào việc lĩnh hội, phântích, cảm thụ tác phẩm văn chương, song chưa có công trình nào đi vàonghiên cứu một hiện tượng văn hóa mà ở đây là văn hóa núi rừngTây Nguyên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Giá trị văn hóa núi rừng Tây Nguyên từ góc độ ngôn ngữ học, cụ thể là

từ lí thuyết trường nghĩa

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài khảo sát 52 tác phẩm văn học viết về Tây Nguyên bao gồm cả vănhọc Dân gian và văn học Viết

- Văn học dân gian:

1) Sử thi Đăm Săn

2) Sử thi Khinh Dú

3) Sử thi Mdrong Đăm

4) Sử thi Đăm Noi

5) Sử thi Ama H’Wứ

6) Sử thi Chàng Đăm Tiông

7) Sử thi Hbia Mlin

Trang 9

8) Sử thi Xinh Nhã

9) Sử thi Cướp chiêng cổ bon Tiăng

10) Sử thi Thuốc cá ở hồ Bầu Trời, Mặt trăng

11) Sử thi Lùa cây bạc, cây đồng

12) Sử thi Trâu bon Tiăng chạy đến bon Krơng, Lơng con jiăng13) Sử thi Tiăng giành lại bụi tre lồ ô

14) Sử thi Đăm Duông hóa cọp

15) Sử thi Đăm Băng Mlan

16) Sử thi Con diều lá cướp Bing con Jri

17) Sử thi Lễ ăn trâu

18) Sử thi Lễ hội Bon Tiăng

19) Sử thi Duông làm nhà rông

20) Sử thi Chàng Đăm Bhên và nàng H’Bia Hni

21) Sử thi Chim kéc ăn lúa rẫy của bon Tiăng

22) Sử thi Tiăng lấy cây tre

23) Sử thi Ông Gleh làm lễ bỏ mả Duông

24) Sử thi Duông làm thủ lĩnh

25) Luật tục Tây Nguyên

- Văn học viết: các tác phẩm văn học viết về đề tài Tây Nguyên củamột số nhà văn có tên tuổi như: Nguyên Ngọc, Trung Trung Đỉnh, ThuLoan, Linh Nga Nie Kdăm

1) Tây Nguyên mê hoặc

Trang 10

7) Các bạn tôi ở trên ấy

8) Người hát rong giữa rừng

9) Người về Kông Ch’ro

10) Già làng hôm nay

11) Bằng đôi chân trần

12) Rừng trong văn hóa Tây Nguyên

13) Rừng xà nu

14) Tháng Ninh Nông

15) Người hát rong giữa rừng

16) Người nghệ sĩ vô danh đã sinh ra cây Knia

27) Thung lũng Yang Hruê

4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

- Xây dựng một định nghĩa có tính chất tác nghiệp về văn hóa núi rừng

Tây Nguyên

Trang 11

- Chỉ ra và chứng minh sự tồn tại của văn hóa núi rừng Tây Nguyên –

“văn hóa núi rừng Tây Nguyên” từ đặc điểm của hệ thống từ ngữ có chungnét nghĩa “chất núi rừng Tây Nguyên”

- Khẳng định giá trị, tầm quan trọng của văn hóa núi rừng Tây Nguyêntrong việc góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

- Khái quát hóa kết quả miêu tả để làm sáng tỏ nội hàm của khái niệm

“Văn hóa núi rừng Tây Nguyên”

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để lượng hóa được văn hóa núi rừng Tây Nguyên, luận văn đặt ra nhữngnhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Khảo sát thống kê các từ ngữ có chung ngữ cảnh Tây Nguyên

- Phân loại và miêu tả ngữ liệu khảo sát theo 3 tiêu chí ngữ nghĩa:

(i) chủ thể con người Tây Nguyên

(ii) không gian Tây Nguyên

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thống kê, hệ thống hóa

- Phương pháp thống kê được sử dụng vào việc điều tra các lời văn có sửdụng từ ngữ thuộc trường từ vựng chỉ về rừng núi Tây Nguyên

- Việc phân loại các từ mang nguyên nghĩa và các từ đã chuyển nghĩadựa vào ý nghĩa của các từ thuộc trường từ vựng trên

5.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn

- Phân tích đặc điểm từng loại kết hợp nghĩa Trên cơ sở đó đưa ra nhậnxét, đánh giá khái quát những nét độc đáo về sử dụng ngôn từ

5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Trang 12

- Phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng nhằm làm nổi rõ nộidung đề tài, đồng thời thấy được nét đặc sắc, mang tính đặc trưng văn hóavùng Tây Nguyên

6 Đóng góp của luận văn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể coi là một trong nhữngđường hướng tiếp cận tác phẩm văn học Tây Nguyên từ góc độ ngôn ngữ –văn hóa

7 CÊu tróc của luËn v¨n

Tương ứng với nhiệm vụ, mục đích nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần mởđầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm

Trang 13

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỔNG QUAN 1.1 Lý thuyết trường nghĩa

1.1.1 Khái niệm

Trong hệ thống, ở trạng thái tĩnh, các đơn vị từ vựng không tồn tại táchbiệt, rời nhau mà luôn có những mối quan hệ nhất định Một trong những mốiquan hệ mà các nhà khoa học thường tập trung làm rõ là quan hệ về nghĩagiữa các đơn vị từ vựng Các từ ngữ đồng nhất về nghĩa được tập trung thànhcác nhóm được gọi là trường nghĩa (hay là trường từ vựng hoặc trường từvựng – ngữ nghĩa)

Vấn đề quan hệ giữa các từ ngữ trong vốn từ của một ngôn ngữ mà cụthể là mối quan hệ đồng nhất về nghĩa giữa các từ ngữ tạo nên trường từ vựngngữ nghĩa đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học thế giới trong

đó có Việt Nam Vì vậy, xoay quanh vấn đề trường từ vựng – ngữ nghĩa có sựtồn tại nhiều quan điểm khác nhau

Quan niệm vào loại sớm nhất về trường từ vựng – ngữ nghĩa là của nhàbác học người Nga M.M Pokrovxki Ông cho rằng: từ và ý nghĩa của chúngkhông tồn tại tách rời nhau mà liên kết với nhau trong tư tưởng của chúng ta

và độc lập với ý thức của chúng ta thành những nhóm nhất định Cơ sở để tậphợp những nhóm như vậy là sự đồng nhất hay sự trái ngược trực tiếp vớichúng về nghĩa

Tuy nhiên, J Trier mới là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “trường” vàongôn ngữ học J Trier cho rằng, trong ngôn ngữ, mỗi từ tồn tại trong mộttrường, giá trị của nó là do quan hệ với các từ khác trong trường quyết định,rằng “trường” là những hiện thực ngôn ngữ nằm giữa từ với toàn bộ từ vựngcũng như từ quan hệ với trường của mình

Trang 14

L Weisgerber lại cho rằng cần phải tính đến các “góc nhìn” khác nhau

mà tác động giữa chúng sẽ cho kết quả là sự ngôn ngữ hóa một lĩnh vực nào

đó trong cuộc sống

Song, các quan niệm của J Trier và L Weisgerber đều có những hạn chếnhất định Khắc phục những hạn chế đó, W Porzig đã phân chia trường theonhững nguyên tắc khác, đó là nguyên tắc liên tưởng Cụ thể, theo ông một từnào đó xuất hiện thế nào cũng gợi đến sự tồn tại của những từ khác

Trên đây là những quan điểm đã phần nào đặt nền móng cho những cấutrúc về bề sâu của ngữ nghĩa

Ở Việt Nam, trường nghĩa cũng được rất nhiều tác giả quan tâm nghiêncứu như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng TrọngPhiến, Đỗ Việt Hùng… Trong đó, Đỗ Hữu Châu là người đi đầu trong việcđưa ra lí thuyết về trường nghĩa cũng như những phạm trù ngôn ngữ liên quanđến trường nghĩa Ông đã vận dụng lí thuyết về trường nghĩa của các tác giảnước ngoài để xây dựng những quan niệm của mình về trường nghĩa Đỗ Hữu

Châu định nghĩa: Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa.

Đó là tập hợp những từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa [2, 28] Quan điểm

này lấy tiêu chí ngữ nghĩa làm cơ sở cho việc phân lập trường nghĩa Đây làquan niệm có tính chất định hướng cho các quan niệm về trường nghĩa củacác nhà Việt ngữ khác sau ông

Khi tiến hành luận văn này, chúng tôi dựa trên quan điểm của Đỗ HữuChâu để làm cơ sở lí thuyết nghiên cứu vấn đề

1.1.2 Cơ sở xác lập trường

Theo Đỗ Hữu Châu, việc phân lập từ vựng của một ngôn ngữ thành cáctrường từ vựng – ngữ nghĩa nhằm mục đích phát hiện ra tính hệ thống và cấutrúc của hệ thống từ vựng về mặt ngữ nghĩa, từ đó có thể giải thích các cơ chếđồng loạt chi phối sự sáng tạo nên đơn vị và hoạt động của chúng trong quá

Trang 15

trình sử dụng ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp Tác giả đã có những nhận định

về tiêu chí phân lập trường nghĩa như các trường từ vựng – ngữ nghĩa lànhững sự kiện ngôn ngữ cho nên tiêu chí để phân lập chúng phải là tiêu chí

ngôn ngữ Cơ sở để phân lập là sự đồng nhất nào đó trong ý nghĩa biểu vật và

ý nghĩa biểu niệm của các từ

Đỗ Hữu Châu nhận thấy khi đi vào trường nghĩa, giữa các từ tồn tại tìnhtrạng thiếu đường ranh giới dứt khoát và tình trạng một từ có thể có mặt trongmột số trường nghĩa khác nhau Tuy vậy việc phân lập trường nghĩa là rấtquan trọng Ông đã đề ra phương thức xác lập như sau:

- Tìm những trường hợp điển hình, tức là những trường hợp mang và chỉmang các đặc trưng từ vựng – ngữ nghĩa được lấy làm cơ sở Những từ điểnhình này lập thành tâm cho trường

- Xác lập vùng ngoại vi bằng những từ có khả năng đi vào một số trường.Chúng ta sẽ dựa vào các từ điển hình để xác định một trường, sau đó chúng ta

sẽ xử lý các trường hợp khó phân định nhờ cấu trúc ngữ nghĩa trong các từđiển Cơ sở để lập trường biểu vật không phải là nhận thức về các phạm vi sựvật trong thực tế mà là ý nghĩa biểu vật của từ Như vậy tất cả các ý nghĩabiểu vật nào có chung một nét nghĩa biểu vật thì có thể đi vào một trường.Tuy nhiên, việc phân chia hiện thực thành những lát cắt để nghiên cứu(tức là việc phân chia trường nghĩa) mang tính chủ quan và khó thực hiện mộtcách triệt để bởi hiện thực thế giới khách quan là một chuỗi liên tục Mặtkhác, một từ có thể có nhiều nghĩa, có thể tham gia vào nhiều trường nghĩakhác nhau

Ví dụ: Từ “cao” thuộc trường nghĩa Tính chất Nét nghĩa duy trì của cao

là “hơn hẳn mức trung bình về số lượng hay chất lượng, trình độ, giá cả ”.Với nét nghĩa này, từ “cao” có thể thuộc nhiều trường khác nhau “Cao” trongkết hợp “cây cao” thuộc trường Thực vật; trong kết hợp “người cao” thuộc

Trang 16

trường Con người, tiểu trường Ngoại hình; trong kết hợp “tinh thần cao, ý chícao” thuộc trường Con người, tiểu trường Tinh thần; trong kết hợp “tay nghềcao” thuộc trường Con người, tiểu trường Năng lực.

Tóm lại, vấn đề hệ thống tất cả các trường nghĩa trong ngôn ngữ, phânlập trường nghĩa như thế nào, các cấp độ của trường nghĩa chưa có được sựphân lập rõ ràng, mạch lạc, sự nhất trí trong giới nghiên cứu Việc xác lậptrường biểu vật một cách đầy đủ càng không phải là một việc dễ dàng

1.1.3 Phân loại các trường nghĩa

Dựa vào hai mối quan hệ cơ bản giữa các đơn vị đồng loại của ngôn ngữ

đó là quan hệ ngang (quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữđoạn) và quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình), Đỗ Hữu Châuphân chia trường nghĩa tiếng Việt thành các loại: trường nghĩa biểu vật,trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa tuyến tính và trường nghĩa liên tưởng

1.1.3.1 Trường nghĩa biểu vật

Trường nghĩa biểu vật là tập hợp các từ ngữ đồng nhất với nhau về nghĩabiểu vật

Để xác lập trường nghĩa biểu vật, người ta chọn một danh từ biểu thị sựvật làm gốc rồi trên cơ sở đó thu thập các từ ngữ có cùng phạm vi biểu vật vớidanh từ được chọn làm gốc đó

Vd: Chọn từ HOA làm gốc, ta có thể thu thập các từ đồng nhất về phạm

vi biểu vật với hoa, như:

- Các loại hoa: hoa hồng, hoa huệ, hoa lay ơn, hoa lan…

- Các bộ phận của hoa: đài, cánh, nhụy…

- Tính chất, trạng thái của hoa: nở, tàn, tươi, héo…

- Màu sắc của hoa: đỏ, hồng, vàng, tím…

- Hình dáng, kích thước của hoa: to, nhỏ…

Trang 17

Tùy theo mục đích của việc huy động vốn từ mà ta có thể lựa chọn sốlượng các tiêu chí để xác lập trường nghĩa Ví dụ, có thể chọn thêm các tiêuchí liên quan đến trường nghĩa HOA như: cách trồng hoa, chăm sóc hoa…Các trường nghĩa khác nhau có thể có một số lượng từ ngữ nhất địnhchung nhau Các trường nghĩa đó được gọi là các trường nghĩa giao nhau Ví

dụ, trường nghĩa CHÓ và CHIM là hai trường nghĩa giao nhau vì ngoài các từngữ của riêng từng trường nghĩa, cả hai trường nghĩa này đều có chung một

số từ ngữ về:

- Bộ phận cơ thể: đầu, mình, mắt, lông…

- Hoạt động: ăn, uống…

- Kích thước: to, nhỏ…

v.v

Như vậy, theo quan hệ với trường nghĩa, có thể phân chia từ vựng thànhcác từ đơn trường nghĩa và các từ đa trường nghĩa

1.1.3.2 Trường nghĩa biểu niệm

Trường nghĩa biểu niệm là tập hợp các từ ngữ có chung một cấu trúcnghĩa biểu niệm

Để xác lập trường nghĩa biểu niệm, ta chọn một cấu trúc biểu niệm làmgốc rồi trên cơ sở đó thu thập các từ ngữ có chung cấu trúc biểu niệm gốc đó

Ví dụ:

Chọn cấu trúc biểu niệm: (hoạt động) (A tác động vào X) (X dời chỗ) làm

gốc, ta có thể thu thập được các nhóm từ ngữ cùng trường nghĩa biểu niệmnhư sau:

Trang 18

Tùy mục đích xác lập trường nghĩa biểu niệm, người ta có thể bổ sung

nét nghĩa (bằng tay), (bằng chân), (X ra xa A), (X lại gần A), (X theo A), (có

sử dụng phương tiện)…

Chẳng hạn, khi bổ sung nét nghĩa (bằng chân) (X ra xa A), ta có cấu trúc biểu niệm gốc như sau: (hoạt động) (A tác động vào X) (bằng chân) (X dời chỗ) (X ra xa A) Khi đó, số lượng các từ ngữ cùng trường nghĩa thu được sẽ

ít hơn hẳn (chỉ còn các từ ngữ nhóm 2), hoặc nếu bổ sung nét nghĩa (X theo A) thì các từ ngữ nhóm (1) và nhóm (2) sẽ bị loại bỏ Như vậy, số lượng nét

nghĩa trong cấu trúc biểu niệm được chọn làm gốc quyết định số lượng từ ngữthu thập được Cấu trúc nghĩa biểu niệm được chọn làm gốc chứa càng ít nétnghĩa thì số lượng từ ngữ thu thập được càng nhiều Ngược lại, số lượng nétnghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu niệm gốc càng nhiều thì số lượng từ ngữ thuthập được càng ít

Các từ cùng một trường nghĩa biểu niệm có thể khác nhau về trườngnghĩa biểu vật

Ví dụ: Các từ: hót, sủa, hí…có chung một cấu trúc nghĩa biểu niệm (hoạt động) (phát ra âm thanh), song chúng thuộc về các trường nghĩa biểu vật

khác nhau: hót – thuộc về trường nghĩa biểu vật CHIM, sủa – thuộc về trườngnghĩa biểu vật CHÓ, hí – thuộc về trường nghĩa biểu vật NGỰA

1.1.3.3 Trường nghĩa tuyến tính

Để xác lập trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìmtất cả những từ ngữ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm

từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ Ví dụ:

Trường tuyến tính của từ tay là: dài, ngắn, to, nhỏ, ném, đáp,

Trường tuyến tính của từ môi là: hồng, thâm, trái tim, mỏng, dầy,

Các từ trong một trường tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từtrung tâm trong các loại ngôn bản Phân tích ý nghĩa của chúng, chúng ta có

Trang 19

thể phát hiện được những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tínhchất của các quan hệ đó

1.1.3.4 Trường nghĩa liên tưởng

Các sự vật, hoạt động, tính chất được phản ánh trong nhận thức của conngười theo những mối quan hệ nhất định Các sự vật, hiện tượng có quan hệliên tưởng với nhau là các sự vật, hiện tượng mà từ một sự vật, hiện tượngnày người ta nghĩ đến các sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất khác

Trường nghĩa liên tưởng là trường nghĩa tập hợp các từ biểu thị các sựvật, hiện tượng, hoạt động, tính chất có quan hệ liên tưởng với nhau

Khác với hai trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm, trườngnghĩa liên tưởng có sự khác biệt nhất định giữa các cá nhân sử dụng ngônngữ Do đó, người ta có thể xây dựng các từ điển trường nghĩa đối với cáctrường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm nhưng khó có thể có từ điểncác trường nghĩa liên tưởng vì trường nghĩa liên tưởng có tính chủ quan cao,

nó phụ thuộc vào điều kiện, môi trường sống, thời đại sống, kinh nghiệmsống của mỗi cá nhân Có những liên tưởng có ở người này nhưng khôngtồn tại hoặc xa lạ đối với người khác và ngược lại Tuy nhiên, mỗi thời đại,mỗi ngành nghề, mỗi địa phương lại có thể có một điểm liên tưởng chungnhau Ví dụ, cùng sự việc “ăn sáng” (điểm tâm), những người sống ở thànhthị thường liên tưởng đến một số món nhất định khác với những người sống ởnông thôn, những người ở thời đại này liên tưởng khác với những người ởthời đại khác Do đó, nắm được những điểm chung trong liên tưởng cho mỗithời đại, mỗi nhóm xã hội là điều kiện cần thiết để lí giải những hiện tượng

“ý tại ngôn ngoại”, “mượn mây để tả trăng” hay các biểu tượng, biểu trưngvăn học

Trang 20

1.2 Lý thuyết văn hóa học

1.2.1 Khái niệm văn hóa

Ngay từ thuở lọt lòng, chúng ta đã đắm mình trong chất men văn hóa: từlời ru của mẹ, bài học của cha, trò chơi của chị cho đến tiếng gọi đò bênsông, tiếng võng đưa kẽo kẹt lúc trưa hè, tiếng chuông buông khi chiềuxuống tất cả những sự kiện đó, những ấn tượng đó, những âm thanh đó,những hình ảnh đó đều thuộc về văn hóa Cái tinh thần như tư tưởng, ngônngữ là văn hóa; cái vật chất như ăn, ở, mặc cũng là văn hóa Chính vănhóa đã nuôi chúng ta lớn, dạy chúng ta khôn

Người ta nói: văn hóa ẩm thực, văn hóa trang phục, văn hóa ứng xử, vănhóa tiêu dùng, văn hóa kinh doanh, văn hóa chính trị, văn hóa Đông Sơn, vănhóa hòa bình, văn hóa rìu vai Từ “văn hóa” có biết bao nhiêu là nghĩa, nóđược dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau

Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, kháiniệm văn hóa bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp

Giới hạn theo chiều rộng, văn hóa được dùng để chỉ những giá trịtrong từng lĩnh vực (văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh ) Giới hạn

Trang 21

theo không gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từngvùng (văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Nam Bộ ) Giới hạn theo thời gian,văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hóa HòaBình, văn hóa Đông Sơn ).

Giới hạn theo hoạt động thì văn hóa theo nghĩa hẹp thường đồng nhất vớivăn hóa ứng xử Theo hướng này, văn hóa thường được hiểu là cách sống,cách nghĩ và cách đối xử với người xung quanh

Tuy nhiên, trong khoa học nghiên cứu về văn hóa, văn hóa thường đượchiểu theo nghĩa rộng Federico Mayor, nguyên Tổng giám đốc UNESCOtrong các năm 1987 – 1999, cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ baogồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối vớinhững người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khácvới dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng,phong tục tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu văn hóa theo nghĩa thứhai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ vềcác chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise”

Chính với cách hiểu rộng này, văn hóa đã trở thành đối tượng của vănhóa học – khoa học nghiên cứu về văn hóa

Song, có thể nhận thấy rằng dù theo khuynh hướng nào, mọi định nghĩavăn hóa đều chứa một nét nghĩa chung là “con người”, đều thừa nhận vàkhẳng định mối liên hệ mật thiết giữa văn hóa với con người; văn hóa thườngđược xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra Văn hóa làthuộc tính cơ bản nhất của con người, giúp cho con người tách biệt được khỏigiới động vật Con người xuất hiện từ lúc nào thì văn hóa xuất hiện từ lúc ấy Trong “Những vấn đề văn hóa học và ứng dụng” Trần Ngọc Thêm đã

đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về văn hóa như sau “Văn hóa là một hệ thống giá trị mang tính biểu tượng do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình

Trang 22

hoạt động thực tiễn trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [56, 39].

1.2.2 Văn hóa vùng miền

Trên thế giới việc nghiên cứu văn hóa vùng trở nên đặc biệt phát triển từcuối thế kỉ XIX, tạo nên ba trường phái đỉnh cao: Thứ nhất là thuyết

“khuyếch tán văn hóa” ở Tây Âu vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX vớitrường phái văn hóa – lịch sử ở Đức, Áo và trường phái văn hóa truyền bá ởAnh Thứ hai là thuyết “vùng văn hóa” trong nhân loại học Mỹ vào nửa đầuthế kỉ XX với đại diện là F.Boas, O.T.Mason, C.Wissler, A.L Kroeber Thứ

ba là thuyết “loại hình kinh tế - văn hóa” và “khu vực văn hóa - lịch sử” củadân tộc học Xô Viết vào giữa thế kỉ XX với đại diện là N.N.Cheboksarovcùng với M.G.Levin, S.A.Tokarev và một số người khác Ba lý thuyết này đãđược Ngô Đức Thịnh tổng thuật khá đầy đủ trong luận án tiến sĩ sử học củaông, bảo vệ tại Moskva năm 1980

Nghiên cứu văn hóa vùng được hiểu là nghiên cứu văn hóa giới hạntrong phạm vi một vùng không gian Về nguyên tắc, vùng không gian có thểđược giới hạn theo một tiêu chí bất kì: đó có thể là tiêu chí địa lý, hành chính,kinh tế, văn hóa Chẳng hạn, văn hóa châu Phi là văn hóa của vùng địa lý;văn hóa của một tỉnh, một huyện, một thành phố là văn hóa của vùng hànhchính; văn hóa quốc gia dao động giữa văn hóa của vùng hành chính và vănhóa của vùng văn hóa Như vậy, có thể thấy rõ ràng văn hóa vùng và vùngvăn hóa là hai khái niệm không trùng nhau

Để đề tài đi đúng định hướng đề ra, chúng tôi thấy cần phân biệt rõ hai

khái niệm vùng văn hóa và văn hóa vùng.

Theo Trần Ngọc Thêm, vùng văn hóa là một không gian lãnh thổ liên tụcvới hoàn cảnh tự nhiên tương đối đồng nhất ở bên trong và khu biệt với cáckhông gian lãnh thổ liền kề bên ngoài, trong đó tồn tại một cộng đồng người

Trang 23

thống nhất tương đối (gồm một hay nhiều tộc/nhóm người), đã cùng cư trú vàtiếp xúc giao lưu đồng hướng với nhau trong một thời gian đủ dài để tạo nênđược một hệ thống giá trị chung đặc thù cho phép khu biệt nó với các hệthống giá trị của những vùng có liên quan.

Còn văn hóa vùng là hệ thống giá trị đặc thù do một chủ thể văn hóathống nhất sáng tạo và tích lũy trong một thời gian văn hóa đủ dài tại mộtkhông gian văn hóa liên tục Theo Trần Ngọc Thêm, văn hóa vùng gồm cóvăn hóa sông nước, văn hóa biển đảo

Về văn hóa biển, Trần Ngọc Thêm định nghĩa “Văn hóa biển là một hệ thống giá trị do con người sáng tạo ra và tích lũy được trong quá trình tồn tại lấy biển làm nguồn sống chính” [39, 129] Với định nghĩa này, văn hóa biển

trước hết phải là văn hóa, nó phải thỏa mãn bốn đặc trưng của văn hóa nóichung là tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử Ngoài bốnđặc trưng chung, có hai đặc trưng riêng làm nhiệm vụ khu biệt văn hóa biểnvới các dạng thức văn hóa khác Thứ nhất là đặc trưng về không gian tồn tại:lấy biển cả làm nguồn sống Thứ hai là đặc trưng định lượng về không giantồn tại ấy: biển cả không chỉ là nguồn sống mà phải là nguồn sống chính Văn hóa biển còn cần được phân biệt với văn hóa sông nước ở chỗ sôngnước nằm trên đất liền, thuộc về lục địa còn biển cả thì không Trong cuộcsống sông nước ở trên đất liền, con người có thể thực hiện mọi hoạt động sinhtồn từ A đến Z nhưng ở trên biển cả thì không Tình trạng sử dụng những dấuhiệu của văn hóa sông nước để gán cho văn hóa biển, lẫn lộn “văn hóa biển”với “văn hóa sông nước” là rất phổ biến

Ngoài ra, cần phải phân biệt giữa văn hóa vùng và bản sắc văn hóa Vănhóa vùng được hiểu là hệ thống giá trị đặc thù do một chủ thể văn hóa thốngnhất sáng tạo và tích lũy trong một thời gian văn hóa đủ dài tại một không

Trang 24

gian văn hóa liên tục, còn bản sắc văn hóa là những giá trị đặc sắc cơ bản củadân tộc được lưu truyền trong lịch sử, là cái tinh hoa bền vững của nó

Trên cơ sở đó, ở đề tài này, từ góc độ ngôn ngữ, cụ thể là lí thuyết trườngnghĩa, chúng tôi xem xét văn hóa núi rừng Tây Nguyên trong 4 điều kiện:

(a) Về không gian, khu vực sinh tồn nhờ núi rừng đủ lớn để cộng đồng

biết đến và thừa nhận

(b) Về chủ thể, cư dân sống bằng núi rừng đủ đông để trở thành một

trong những lực lượng quan trọng không thể xem thường của cộng đồng.(c) Về hoạt động, đóng góp kinh tế - xã hội của việc khai thác và tận

dụng các sản phẩm của núi rừng đủ nhiều để trở thành nguồn sống chính của

cộng đồng

(d) Cuối cùng, thời gian tồn tại của chủ thể ấy trong không gian ấy với

những đóng góp ấy đủ dài để trở thành truyền thống và đi vào tâm thức chung

của cộng đồng

Bốn điều kiện trên khi được kí mã qua ngôn ngữ, chúng sẽ trở thành cácnét nghĩa – những dấu hiệu nổi trội đặc thù để nhận diện đối tượng: Văn hóanúi rừng Tây Nguyên Những dấu hiệu, những nét nghĩa chung này sẽ hút tậphợp những từ ngữ nào đó về một hệ thống Luận văn cần tìm được, chỉ ranhững hệ thống đó, những kiểu phạm trù nghĩa đó

Từ những phân tích trên, chúng tôi xây dựng một định nghĩa có tính chất

tác nghiệp về văn hóa núi rừng Tây Nguyên: Văn hóa núi rừng Tây Nguyên là

hệ thống các giá trị do con người Tây Nguyên sáng tạo ra và tích lũy được trong quá trình tồn tại lấy núi rừng Tây Nguyên làm nguồn sống chính

Chương 2, chương 3 của luận văn có nhiệm vụ làm sáng tỏ nội hàm củakhái niệm văn hóa núi rừng Tây Nguyên Từ kết quả nghiên cứu đó đi đếnkhẳng định chất văn hóa núi rừng Tây Nguyên, nói cách khác là khẳng định

Trang 25

giả thuyết do luận văn xây dựng nên dựa trên quan niệm văn hóa vùng miềncủa nhà ngôn ngữ - văn hóa học Trần Ngọc Thêm

1.3 Tổng quan về vùng đất Tây Nguyên

1.3.1 Vị trí địa lý

Địa danh “Tây Nguyên” có nguồn gốc từ tên gọi vắn tắt của một tổ chứckháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Liên khu V (thuộc Ủy bankháng chiến miền Nam Trung Bộ), ra đời vào năm 1946 Địa danh này được

sử dụng rộng rãi từ giữa thế kỉ XX rồi trở thành tên gọi chính thức cho mộtvùng lãnh thổ đặc thù của Tổ quốc Việt Nam – vùng núi và cao nguyên nằm ởphía tây miền duyên hải Nam Trung Bộ Trong một số tài liệu, vùng lãnh thổnày được nhắc đến dưới một số tên gọi khác, như “Cao nguyên miềnThượng”, “Cao nguyên Trung phần”, “Cao nguyên Nam Trung Bộ”, “Caonguyên Trung tâm”, v.v Khác với địa hình Tây Bắc, chỉ có núi và rừng, địahình ở Tây Nguyên ngoài núi và rừng còn có cao nguyên Chính tính chất caonguyên này đã quy định đến đặc điểm cư trú và hình dáng nhà cửa ởTây Nguyên

Về tổ chức hành chính, hiện nay Tây Nguyên gồm 5 tỉnh, từ Bắc vàoNam là các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng TâyNguyên có tổng diện tích tự nhiên là 54.451,39 km2 (trong đó, tỉnh Kon Tum

có 9.614,50 km2; tỉnh Gia Lai có 15.495,71 km2; tỉnh Đăk Lăk có 13.062,01km2; tỉnh Đăk Nông có 6.514,38 km2; tỉnh Lâm Đồng có 9.764,79 km2)chiếm tỉ lệ 1/6 diện tích tự nhiên của cả nước

1.3.2 Cư dân các dân tộc

Nhiều kết quả nghiên cứu về nhân chủng học đã xác nhận bán đảo ĐôngDương là địa bàn sinh thành của loại hình nhân chủng Indonesien; vào thờiđại đồ đá giữa, những người Indonesien từ bán đảo này đã mở rộng dần địabàn cư trú, di cư đến khắp vùng Đông Nam Á Những phát hiện khảo cổ học

Trang 26

và những thành tựu của nhiều ngành khoa học cho thấy con người đã sinh tụtrên địa bàn Tây Nguyên từ nhiều nghìn năm trước Công nguyên; và có thểnhận thấy rằng, cộng đồng dân cư ở đây sớm được hình thành

Đến nay, các nhà nghiên cứu có ý kiến tương đối thống nhất cho rằngcách đây hơn hai nghìn năm, cư dân Tây Nguyên đã là một cộng đồng đa cấutrúc gồm những nhóm người thuộc ngữ hệ Nam Á và ngữ hệ Nam Đảo Trong

đó, các nhóm người có ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á là: Ba-na, Xơ-đăng,Cơ-ho, M’nông, Giẻ-Triêng, Brâu, Rơ-măm và các nhóm người có ngôn ngữthuộc ngữ hệ Nam Đảo là Gia-rai, Ê-đê, Chu-ru, Ra-glai Về sau, các thànhphần này thường được gọi là cư dân bản địa Tây Nguyên

Trước thế kỉ XVIII, trong cộng đồng cư dân Tây Nguyên, tuyệt đại đa số

là cư dân bản địa Sau thế kỉ XVIII, cư dân Tây Nguyên được bổ sung bởinhững bộ phận thuộc nhiều thành phần dân tộc từ nhiều vùng khác di cư đến.Tuy nhiên, cho đến đầu thế kỉ XIX, dân số trên địa bàn Tây Nguyên cókhoảng 24 vạn người, mật độ dân cư rất thưa thớt, thành phần chủ yếu là cưdân bản địa, dân số phát triển chậm, tăng trưởng tự nhiên là chính

Từ đầu thế kỉ XX, tình hình dân cư Tây Nguyên có nhiều xáo động vàchuyển biến, bởi những tác động của chủ nghĩa thực dân Trong thời gianchuẩn bị làm Cách mạng tháng Tám năm 1945 và đặc biệt là trong 30 nămchiến tranh giải phóng dân tộc, có nhiều khu vực trên địa bàn Tây Nguyênđược xây dựng thành căn cứ kháng chiến, trở thành nơi quy tụ hàng ngàn cán

bộ và chiến sĩ cách mạng Sự hiện diện của những người con ưu tú thuộc cácthành phần dân tộc và từ khắp mọi miền của Tổ quốc đến chiến trường TâyNguyên làm nhiệm vụ đã góp phần đáng kể vào quá trình chuyển biến về chấtlượng và số lượng của cư dân Tây Nguyên Sau ngày miền Nam hoàn toàngiải phóng, tình hình cư dân Tây Nguyên tiếp tục có nhiều biến chuyển trongquá trình khắc phục hậu quả chiến tranh và xây dựng xã hội mới Sự quan tâm

Trang 27

sâu sắc của Đảng và Nhà nước đến việc nâng cao mức sống cho đồng bào cácdân tộc đã giúp cho dân số của cư dân bản địa Tây Nguyên phát triển nhanhhơn trước, tỉ lệ sinh được nâng cao và tỉ lệ tử cũng giảm dần.

Quá trình tăng cơ học kết hợp với tăng tự nhiên đã làm cho dân số TâyNguyên liên tục phát triển Cụ thể, số liệu thống kê về dân số Tây Nguyênqua mấy thập niên gần đây như sau:

- Năm 1976, có 1,2 triệu người

- Năm 1979, có gần 1,5 triệu người

- Năm 1986, có trên 2 triệu người

- Năm 1989, có 2,5 triệu người

- Năm 1993, có 2,8 triệu người

- Năm 1999, có trên 4 triệu người

- Năm 2004, có trên 4,6 triệu người

Từ số liệu trên, có thể thấy những năm cuối thế kỉ XX là thời kì dân sốTây Nguyên có sự gia tăng đột biến Tính trung bình từ năm 1976 đến năm

2004, tốc độ tăng dân số ở Tây Nguyên mỗi năm gần 10%, là tốc độ tăng dân

số cao nhất trong cả nước và trong khu vực Đông Nam Á; trong đó, quá trìnhtăng dân số cơ học là chủ yếu, số nhập cư bởi di dân tự do chiếm tỉ lệ cao.Tương ứng với sự gia tăng dân số, mật độ dân số trung bình trên toàn vùngTây Nguyên cũng tăng theo

Cùng với quá trình gia tăng về dân số, cơ cấu thành phần dân tộc trongdân cư Tây Nguyên cũng có sự chuyển biến nhanh chóng Một bộ phận dân

cư người Việt và các thành phần dân tộc ít người từ nhiều địa phương trên cảnước, đặc biệt là từ miền núi phía bắc đã di cư đến, đưa thành phần dân tộctrong dân cư Tây Nguyên tăng nhanh:

- Năm 1976, có 15 thành phần dân tộc

- Năm 1989, có 37 thành phần dân tộc

Trang 28

- Năm 1999, có 47 thành phần dân tộc.

Quy mô dân số của các thành phần dân tộc rất chênh lệch nhau, từ kếtquả tổng điều tra dân số năm 1999 còn cho thấy:

- Dân số người Việt chiếm đa số, có: 2.710.621 người;

- Dân số các thành phần dân tộc bản địa có: 1.061.688 người, gồm:

1 Dân số dân tộc Gia-rai: 314.90 người

2 Dân số dân tộc Ê-đê: 249.543 người

3 Dân số dân tộc Ba-na: 155.397 người

4 Dân số dân tộc Cơ-ho: 113.072 người

5 Dân số dân tộc Xơ-đăng: 85.012 người

6 Dân số dân tộc M’nông: 71.060 người

7 Dân số dân tộc Mạ: 30.773 người

8 Dân số dân tộc Giẻ-Triêng: 25.589 người

9 Dân số dân tộc Chu-ru: 14.608 người

10 Dân số dân tộc Ra-glai: 1.090 người

11 Dân số dân tộc Rơ-măm: 338 người

12 Dân số dân tộc Brâu: 298 người

Dân số các thành phần dân tộc ít người đến sau: 287.619 người, gồm

34 thành phần dân tộc, trong đó phần lớn là các thành phần dân tộc có nguyênquán từ các tỉnh miền núi phía bắc Tây Nguyên hiện nay là một vùng cónhiều thành phần dân tộc nhất so với các vùng trong cả nước Đến năm 2004,

cơ cấu thành phần dân tộc trong dân cư Tây Nguyên có:

- Thành phần dân tộc đa số (người Việt) chiếm tỉ lệ 69% dân số

- Các thành phần dân tộc bản địa (12 thành phần dân tộc) chiếm tỉ lệ 24%dân số

- Các thành phần dân tộc ít người nhập cư (34 thành phần dân tộc) chiếm

tỉ lệ 7% dân số

Trang 29

Dân số Tây Nguyên hiện nay thuộc loại dân số trẻ so với các khu vựckhác trên cả nước Nhóm dân cư có độ tuổi từ 12 trở xuống là 35,85% Nhómdân cư có độ tuổi 13 trở lên là 64,15%.

Nhìn chung, tình hình dân cư Tây Nguyên vẫn đang có nhiều biến động

1.3.3 Những nét tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, phong tục

Lịch sử - văn hóa của một vùng đất được bắt đầu từ khi ở đó có conngười cư trú Chúng ta đã có đủ cứ liệu để khẳng định rằng lịch sử - văn hóaTây Nguyên đã trải qua những chặng đường dài hàng nghìn năm từ thời đại

đồ đá đến ngày nay, lưu giữ được những giá trị văn hóa và di sản văn hóatruyền thống của nhiều thành phần dân tộc

Lịch sử - văn hóa Tây Nguyên trước Công nguyên thuộc phạm trù tiền

sử Thời tiền sử của Tây Nguyên được bắt đầu từ rất sớm và đã trải qua hàngnghìn năm trước Công nguyên

Văn hóa tiền sử Tây Nguyên là một bộ phận hữu cơ của không gian vănhóa tiền sử Việt Nam, nằm trong không gian văn hóa tiền sử Đông Dương vàkhông gian văn hóa tiền sử Đông Nam Á

Từ đầu Công nguyên, Tây Nguyên là nơi diễn ra các quá trình hình thànhtộc người và cố kết các thành phần tộc người Quá trình ấy diễn ra lâu dài,dưới nhiều hình thức, chịu những tác động nhất định từ bên ngoài, do quan hệ

và pha trộn các thành phần tộc người, chủng tộc và ngữ hệ từ nhiều vùng trênthế giới đến

Đến thế kỉ XV, cộng đồng cư dân Tây Nguyên đã thể hiện rõ tính đa cấutrúc bởi số lượng thành phần tộc người (thuộc ngữ hệ Nam Á và ngữ hệ NamĐảo, những thành phần tộc người nói ngôn ngữ Nam Đảo phân bố cư trú chủyếu ở các cao nguyên; những thành phần tộc người nói ngôn ngữ Nam Á phân

bố cư trú chủ yếu ở các vùng núi) và những nhóm địa phương của mỗi thànhphần tộc người

Trang 30

Kế thừa và tiếp nối truyền thống nông nghiệp dùng cuốc, cư dân bản địaTây Nguyên sau Công nguyên duy trì lâu dài nền kinh tế tự cung tự cấp, tựtúc và hình thức trao đổi giản đơn Trên cơ sở kinh tế như vậy, đơn vị xã hội

cơ bản của cư dân thuộc phạm trù công xã nguyên thủy, mang những tên gọikhác nhau theo từng ngôn ngữ địa phương Những đại gia đình có nhiều thế

hệ chung sống là tế bào của các đơn vị xã hội cơ bản ấy Hệ thống cấu trúc giađình truyền thống của cư dân bản địa Tây Nguyên có hai loại hình: một loạihình theo thiết chế “djuê” (đậm nét mẫu hệ, duy trì lâu dài ở các thành phầndân tộc thuộc ngữ hệ Nam Đảo) và một loại hình theo thiết chế “mpôl” (chủyếu là phụ hệ, phổ biến ở các thành phần dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á)

Không gian sinh tồn của từng nhóm cư dân bản địa Tây Nguyên đượcphân định thành khu vực cư trú và khu vực sinh tồn Khu vực cư trú là nơiquần tụ của những con người, là điều kiện tự nhiên để gắn kết bền chặt những

cá nhân, làm cơ sở cho quá trình hình thành và phát triển những cộng đồngngười Khu vực sinh tồn là một địa bàn rộng, trong đó có nguồn nước và cácloại đất rừng, là cơ sở đảm bảo cho đời sống của từng con người, cho các sinhhoạt của cộng đồng và cho sự phát triển của từng giống nòi

Cho đến thế kỉ XV, toàn vùng Tây Nguyên chưa có hệ thống hành chính

Tổ chức xã hội của các tộc người được vận hành theo luật tục Luật tục chứađựng nhiều kinh nghiệm, được hình thành từ đời sống hiện thực của cộngđồng Ở đây, trên một ý nghĩa tương đối, cái nền cho luật tục chính là phongtục tập quán dân tộc Mỗi tộc người ở Tây Nguyên đều có luật tục riêng Luậttục ấy được gìn giữ và lưu truyền bằng ngôn ngữ truyền miệng dưới dạng lờinói vần

Luật tục là một hiện tượng văn hóa – xã hội rất đặc sắc của Tây Nguyên.Luật tục là nguyên tắc ứng xử của cộng đồng, cũng hàm chứa những nguyêntắc ứng xử của con người với môi trường và tài nguyên thiên nhiên, thể hiện

Trang 31

một cách nhuần nhuyễn và sâu sắc trong các lĩnh vực của kinh nghiệm truyềnthống Ở đây, luật tục được toàn thể cộng đồng coi là rất linh thiêng, nhữnghành vi trái luật tục sẽ bị thần linh trừng phạt, đối tượng bị trừng phạt là cánhân và cộng đồng Vì vậy, mọi thành viên trong công xã đều phải chấp hànhluật tục một cách tự giác

Cùng với kinh nghiệm truyền thống và luật tục, tín ngưỡng dân giancũng có vai trò thường trực nhất định trong việc điều chỉnh hành vi của cánhân và sinh hoạt cộng đồng Với quan niệm, mọi sự vật, hiện tượng đều cólinh hồn, cư dân bản địa Tây Nguyên tin tưởng rằng trong thế giới tự nhiênmuôn hình muôn vẻ có một thế giới siêu nhiên bao quanh thế giới thực củacon người Trên thực tế, một mặt tín ngưỡng dân gian có vai trò củng cố sựgắn kết cộng đồng, mặt khác nó cũng làm hạn chế tính sáng tạo, năng độngcủa mỗi cá nhân

Sinh sống lâu đời trên một vùng cao nguyên bao la và hùng vĩ, từ trongđời sống hiện thực của các công xã, cư dân bản địa Tây Nguyên đã sáng tạomột kho tàng văn hóa dân gian đồ sộ Kho tàng ấy chứa đựng nhiều loại hìnhvăn học – nghệ thuật, phong phú và đặc sắc Bên cạnh những nét nổi bật củaluật tục và tín ngưỡng đa thần là những hình thức lễ hội, hệ thống ngữ văndân gian, âm nhạc, nghệ thuật tạo hình, kiến trúc mà qua đó, chúng ta có thể

dễ dàng nhận biết và phân biệt vùng văn hóa Tây Nguyên với các vùng vănhóa khác

Lễ hội vốn có từ lâu đời, là sinh hoạt văn hóa tâm linh tiêu biểu và phổbiến của cư dân bản địa Tây Nguyên Lễ hội dân gian Tây Nguyên là sinhhoạt cộng đồng gồm nhiều loại hình nghệ thuật dân gian, xoay quanh ba trụcchính (lễ hội trong chu kì sinh trưởng của cây lúa rẫy, lễ hội trong chu kì mộtvòng đời người, lễ hội liên quan đến vận mệnh của cộng đồng) Ở đây, nhữnghình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần phong phú và sinh động diễn ra trong lễ

Trang 32

hội luôn có tác dụng sâu sắc đến đời sống tâm linh, tư tưởng, tình cảm, tínhcách của từng con người và của mỗi cộng đồng qua nhiều thế hệ

Ngữ văn dân gian luôn có một vị trí xứng đáng trong kho tàng văn học –nghệ thuật Tây Nguyên, biểu hiện ở sự phong phú, đa dạng những huyềnthoại, thần thoại, ca dao, tục ngữ, ngạn ngữ, truyện cười, truyện cổ tích,truyện thơ đặc biệt là sử thi và truyền thuyết

Sử thi và diễn xướng sử thi khá phổ biến trong sinh hoạt cộng đồng và làmột trong những hiện tượng rất nổi bật trong dòng tự sự dân gian của văn hóaTây Nguyên Nhờ vào phương thức “truyền miệng” mà sử thi được giữ gìn vàtruyền lại cho nhiều thế hệ, trở thành tài sản tinh thần thuộc sở hữu của cảcộng đồng Giá trị của sử thi không chỉ đơn thuần ở lĩnh vực văn học dân gian

mà còn chứa đựng những giá trị âm nhạc, tín ngưỡng tâm linh và diễn xướng Núi rừng Tây Nguyên được mệnh danh là xứ sở của những truyền thuyết

và huyền thoại Truyền thuyết và huyền thoại đã từng được ví như nhữngngọn lửa trường tồn, không ngừng được nuôi dưỡng để tỏa sáng và sưởi ấmtâm linh của những lớp cư dân trên khắp vùng Tây Nguyên qua những thángnăm dài hàng thiên niên kỉ

Đồng thời với sự phát triển của các hình thức lễ hội và các thể loại ngữvăn dân gian, cư dân bản địa Tây Nguyên cũng đã sáng tạo được một nền âmnhạc độc đáo, giàu bản sắc, phục vụ nhu cầu tinh thần trong lao động sảnxuất, trong sinh hoạt tín ngưỡng và biểu cảm tình yêu đối với thiên nhiêncũng như đối với đồng loại

Ở Tây Nguyên, nói chung, mỗi thành phần dân tộc thường có một loạinhạc khí đặc trưng Trong “gia đình nhạc khí cổ truyền Tây Nguyên” cácnhạc cụ gõ phát triển rất phong phú về loại hình cũng như môi trường thểhiện Ở đây, trên một ý nghĩa tương đối, có thể nói tiêu biểu nhất trong cácloại hình nhạc cụ gõ là cồng chiêng và đàn đá Cồng chiêng Tây Nguyên đã

Trang 33

đạt tới trình độ cao về điều chỉnh âm chuẩn và hòa âm tập thể; cồng chiêngthường có mặt trong mọi sinh hoạt cộng đồng, có vị trí đặc biệt trong đời sốngvật chất và tinh thần của con người Ở Tây Nguyên, hầu như có bao nhiêuthành phần dân tộc bản địa thì có bấy nhiêu loại cồng chiêng cổ truyền tiêubiểu Cồng chiêng không chỉ là nhạc khí trong âm nhạc mà còn là đạo cụtrong nghệ thuật trình diễn, nhảy múa, đồng thời là vật thiêng trong tínngưỡng Đầu thế kỉ XXI, giá trị văn hóa của cồng chiêng Tây Nguyên đượctoàn thế giới biết đến và trân trọng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóaLiên Hợp Quốc (UNESCO) đã trao Bằng công nhận “Không gian văn hóacồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thểcủa nhân loại”

Tây Nguyên có một nền nghệ thuật tạo hình và kiến trúc mang sắc tháiriêng, khá đặc sắc, thể hiện trong việc xây dựng và trang trí những ngôi nhàrông ở khu vực Bắc Tây Nguyên, những ngôi nhà dài ở khu vực Trung TâyNguyên và khu vực Nam Tây Nguyên, những trang trí hoa văn trên cơ thể,trên trang phục, trên đồ dùng sinh hoạt Trong quá khứ, các nghệ nhân củamột số thành phần dân tộc Tây Nguyên thường tập trung sáng tạo vào cácngôi nhà mồ, làm nên những quần thể kiến trúc nhà mồ, tượng nhà mồ, trangtrí nhà mồ cùng những bài dân ca, điệu múa, nhạc cụ Tượng nhà mồ ở TâyNguyên rất đa dạng về kiểu loại, đó là những hình khối, những hình trang trí,những tượng gỗ có đường nét “thô phác” Tượng nhà mồ nói riêng và trangtrí nhà mồ nói chung ở Tây Nguyên có những nét khá tương đồng với cư dânbản địa trên nhiều vùng thuộc thuộc Đông Nam Á hải đảo

Trong đời sống của đồng bào các dân tộc bản địa Tây Nguyên, rượu cần

là một đặc sản và thưởng thức rượu cần là một nét đẹp trong sinh hoạt vănhóa cổ truyền Trên một ý nghĩa tương đối, có thể nói rượu cần đối với đồngbào các dân tộc bản địa Tây Nguyên như là “cơi trầu”, “miếng trầu” đối với

Trang 34

cư dân Việt thuở xưa, dùng để “làm đầu câu chuyện” Trong nhiều trường hợpkhác nhau, khi mở ché rượu cần cũng là một nghi thức thông báo với các thầnlinh để dâng lễ và cầu xin; một cách giới thiệu trang trọng và thân tình chomột cuộc hội ngộ; để mở đầu một cuộc họp mặt trao đổi, bàn bạc những vấn

đề liên quan đến đời sống gia đình và công xã; để khắc ghi giao kết tìnhduyên đôi lứa, kết nghĩa bạn bè, v.v

Từ cuối thế kỉ XIX, Tây Nguyên đã thực sự đứng trước họa xâm lăngcủa thực dân Pháp Trong cuộc xâm lược Việt Nam, sau khi thôn tính Nam

Bộ (1867), thực dân Pháp tiến lên Tây Nguyên (1883) Đối với thực dânPháp, Tây Nguyên từ lâu đã là mục tiêu quan trọng trong âm mưu chiến lượcxâm chiếm Việt Nam và Đông Dương, vì đây là là một địa bàn có vị trí chiếnlược quan trọng cả về chính trị, kinh tế và quân sự Tuy nhiên, đồng bào cácdân tộc Tây Nguyên vốn có truyền thống thượng võ, tinh thần đoàn kết gắn

bó giữa các cộng đồng và tình yêu tha thiết vùng cao nguyên rừng núi quêhương, nên vào những năm cuối thể kỉ XIX- đầu thế kỉ XX, trên khắp các địabàn Tây Nguyên, ở đâu có sự xuất hiện của quân xâm lược Pháp thì ở đó có

sự kháng cự mãnh liệt của đồng bào các dân tộc, cho dù thực dân Pháp códùng mọi thủ đoạn lừa mị, xảo quyệt hoặc triển khai những cuộc khủng bố,đàn áp đẫm máu đến tột cùng

Tóm lại, có thể thấy kho tàng văn hóa dân gian đồ sộ mà các cộng đồng

cư dân bản địa Tây Nguyên sáng tạo và xây dựng được rất phong phú về loạihình và đặc sắc về nội dung, gắn với sinh hoạt cộng đồng công xã Những sắcthái văn hóa truyền thống ấy luôn thấm đẫm giá trị nhân văn, hóa thân vàokhát vọng sống tự do, độc lập, công bằng và bình đẳng trong mỗi con người,lưu truyền và tiếp nối qua nhiều thế hệ Tất cả những giá trị ấy luôn là nguồnlực tinh thần to lớn tiếp sức cho con người vươn tới đỉnh cao của tinh thầnquật khởi mỗi khi phải đối diện với sự bất công, áp bức, bóc lột làm nên

Trang 35

một Tây Nguyên anh hùng và độc đáo, góp phần không nhỏ vào lịch sử đấutranh của dân tộc và sự phát triển của kinh tế, xã hội hiện nay Những đặcđiểm, giá trị về địa lý, lịch sử của Tây Nguyên chứng tỏ không gian nơi đây

đã hội tụ đầy đủ giá trị của văn hóa núi rừng Tây Nguyên

1.4 Tiểu kết

Ở chương này, chúng tôi đã tìm hiểu được quan niệm về trường nghĩa;định nghĩa về văn hóa, văn hóa vùng miền và một số nét tổng quát về vị tríđịa lý, cư dân và văn hóa Tây Nguyên

Văn hóa là một khái niệm có nội hàm rất rộng Có rất nhiều định nghĩa

về văn hóa, tuy nhiên dù ở phương diện nào cũng không nằm ngoài việc xácđịnh văn hóa là hệ thống giá trị mang tính biểu tượng do con người sáng tạo

và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác với môitrường tự nhiên và xã hội của mình

Gắn liền với văn hóa là khái niệm “văn hóa vùng” Văn hóa vùng đượchiểu là văn hóa của cộng đồng cư dân sinh tồn trên phạm vi một không gian

có sự thống nhất về những đặc trưng văn hóa, nói cách khác, văn hóa vùng làvăn hóa của một vùng văn hóa Dựa trên định nghĩa của Trần Ngọc Thêm vềvăn hóa biển, luận văn đưa ra một định nghĩa có tính chất tác nghiệp về văn

hóa núi rừng Tây Nguyên “Văn hóa núi rừng Tây Nguyên là hệ thống các giá trị do con người Tây Nguyên sáng tạo và tích lũy được trong quá trình tồn tại lấy núi rừng Tây Nguyên làm nguồn sống chính” Văn hóa núi rừng ấy được

biểu hiện qua 4 đặc điểm:

- Về không gian, khu vực sinh tồn nhờ núi rừng đủ lớn để cộng đồng biết

đến và thừa nhận

- Về chủ thể, cư dân sống bằng núi rừng đủ đông để trở thành một trong

những lực lượng quan trọng không thể xem thường của cộng đồng

Trang 36

- Về hoạt động, đóng góp kinh tế - xã hội của việc khai thác và tận dụng

núi rừng đủ nhiều để trở thành nguồn sống chính của cộng đồng

- Cuối cùng, thời gian tồn tại của chủ thể ấy trong không gian ấy với

những đóng góp ấy đủ dài để trở thành truyền thống và đi vào tâm thức chungcủa cộng đồng

Những vấn đề lý thuyết được trình bày trong chương này là cơ sở nềntảng để chúng tôi giải quyết những nhiệm vụ đặt ra trong chương 2 vàchương 3

Trang 37

CHƯƠNG 2 VĂN HÓA NÚI RỪNG TÂY NGUYÊN NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CHỦ THỂ CON NGƯỜI

Mỗi cộng đồng người đều gắn bó với những không gian sống cụ thể.Không gian hay môi trường tự nhiên ấy có ảnh hưởng không nhỏ đến đặcđiểm tính cách của con người, từ đó mà góp phần hình thành nên diện mạovăn hóa Văn học phản ánh đời sống qua những hình tượng cụ thể và thôngqua các hình tượng ấy mà khái quát một vấn đề nhân sinh nào đó Trong quátrình tái hiện đời sống, nhà văn luôn chọn không gian cho nhân vật hoạt động

Sự chọn lựa ấy phụ thuộc vào ý đồ biểu hiện của nhà văn, đồng thời cũng phụthuộc vào môi trường trực tiếp

Đối với người Tây Nguyên, môi trường sống của họ là núi rừng Rừng làbản nguyên của sự sống nên rừng cũng là cội nguồn của văn hóa nơi đây Nếukhông hiểu rừng núi thì không hiểu gì về Tây Nguyên, con người Tây Nguyêncũng như văn hóa Tây Nguyên

Trong chương này, chúng tôi vận dụng lý thuyết trường nghĩa để làmsáng tỏ nội hàm của khái niệm văn hóa núi rừng Tây Nguyên ở hai phươngdiện: con người trong hoạt động gắn kết với núi rừng và con người với những biểu tượng tâm linh gắn kết với núi rừng Nói cách khác, chúng tôi sẽ sử dụngphương pháp phân tích thành tố và phương pháp phân tích diễn ngôn để chỉ ranét nghĩa có tính hệ thống và nét nghĩa bị lây nhiễm bởi ngữ cảnh Những nétnghĩa này, một mặt phản ánh tính cấu trúc của ngôn ngữ, mặt khác chúngphản ánh dấu hiệu đặc thù của giá trị văn hóa núi rừng Tây Nguyên Vì thế,

có thể nói những phương diện biểu hiện của chất núi rừng Tây Nguyên chính

là nét nghĩa nổi trội, nét nghĩa điển hình của một hệ thống trường nghĩanào đó

Trang 38

Dưới đây là bảng số liệu chúng tôi khảo sát được:

Văn hóa núi rừng Tây Nguyên

Con người với hoạt động chinh phục

thiên nhiên để xây dựng buôn làng

2.1 Trường nghĩa con người trong hoạt động gắn kết với núi rừng

và chất núi rừng văn hóa Tây Nguyên

2.1.1 Tiểu trường con người trong hoạt động săn bắn và chất núi rừng văn hóa Tây Nguyên

Nhà thám hiểm Maitre trong tác phẩm “Rừng người Thượng” đã viết

“khắp mọi nơi người ta trưng bày những bộ phận khác nhau của thú rừng đã được phơi khô: xà nhà nào cũng có xương đầu của lợn lòi và hươu, bên cạnh

Trang 39

những mảnh da, chân và sừng tê giác” [45, 12] Những vật này cùng với rất

nhiều nỏ, ống đựng tên và những mũi giáo đã cho phép ông kết luận TâyNguyên là quê hương của một cộng đồng những người đi săn

Khảo sát 52 tác phẩm, chúng tôi nhận thấy có 49 biểu thức ngôn ngữthường xuyên xuất hiện để miêu tả hoạt động săn bắn của chủ thể con ngườiTây Nguyên Chúng được chia thành 5 tiểu trường nghĩa:

a Địa điểm săn bắn

Bao gồm các từ ngữ: rừng, rừng rậm, rừng sâu, rừng non, đồi, núi,…

Các biểu thức ngôn ngữ trên có nét nghĩa chung: chỉ một khoảng đất ởtrên cao có cây cối, đất đá, thường là nơi heo hút, hiểm trở và gắn liền vớikhông gian núi rừng

Những biểu thức ngôn ngữ trên thường xuất hiện trong các câu văn như

“Chúng ta đi vào rừng rậm, đi vào trong rừng sâu Chỗ nào hươu, nai chưa quen hơi người, chuột, sóc chưa biết ăn lúa thì ta đến nơi đó” [57, 45] “Núi nối núi, rừng giáp rừng, những đồi nhấp nhô, núi cao có gió thoáng mát Ở nơi đó, nhìn thấy con hoẵng đứng nghiêng nghiêng, đàn hươu nhi nhúc, con mang đầy rừng non, quanh gốc cây knia” [57, 155]

Như vậy, những nơi mà chủ thể con người Tây Nguyên đến săn bắn lànhững khu rừng rậm, rừng sâu, rừng nguyên sinh hoặc đồi núi hiểm trở, là nơicon thú không nhận ra hơi người, nơi rừng thưa thoáng gió, gai cỏ tranh đâmnát bàn chân, gai mây đâm nát bàn tay Tất cả những địa điểm trên đều gắnvới không gian núi rừng

Trang 40

phụ từ chỉ lượng và là số lượng nhiều, không xác định (đoàn, một trăm, hai trăm, một nghìn, hai nghìn, tốp) Chính nét nghĩa này đã hướng chúng ta

đến một đặc điểm trong đời sống của chủ thể người Tây Nguyên đó là: chủthể người Tây Nguyên sinh sống, định cư thành một cộng đồng và các hoạtđộng trong đời sống chủ thể người Tây Nguyên không mang tính cá nhân

mà mang tính tập thể

Những biểu thức ngôn ngữ trên thường xuất hiện trong các câu văn như

“Một trăm, hai trăm người đi trước, một nghìn, hai nghìn người đi sau còn Đăm Săn cưỡi ngựa đi giữa” [57, 197] “Ơ bọn trẻ, các con có nghe thấy tiếng con gì kêu không? Các con đừng nói quá lời vì chúng ta đang ở trong rừng thiêng nước độc” [57, 123] “Đoàn người đi như đàn mối bay, đông như đàn kiến Đến nơi mọi người đi tìm chặt cây kbla để làm ná, làm tên Đến chiều, mặt trời xuống gần đỉnh núi tên đã làm xong” [57, 85].

Với chủ thể con người Tây Nguyên, hoạt động đi rừng săn bắn là một dịp

để các trai tráng trong buôn thể hiện tài năng, bản lĩnh đồng thời cũng cóthêm nguồn thực phẩm cho dân làng nên bao giờ cũng rộn ràng, huyên náonhư đi hội Điều này cho thấy chủ thể con người Tây Nguyên sinh sống ở núirừng đủ đông để trở thành một trong những lực lượng quan trọng không thểxem thường của cộng đồng Đây chính là chất núi rừng trong văn hóa TâyNguyên

c Phương tiện săn bắn

Bao gồm các từ ngữ: giàn săn, tên, dao, cung tên, ná, giáo, mác, rựa, vụ, chinh chiêng, trống, mõ, đuốc, chó săn,…

Các biểu thức ngôn ngữ trên có nét nghĩa chung là các phương tiện sănbắn gắn với không gian núi rừng Tuy nhiên, bên cạnh những phương tiện săn

bắn mang tính thông dụng (tên, giáo, mác, đuốc…), phổ biến, có ở khắp vùng

Ngày đăng: 02/04/2017, 09:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu (1999), Các bình diện của từ và từ Tiếng Việt, NXBKHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXBKHXH
Năm: 1999
2. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng , NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1998
3. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2002), Đại cương ngôn ngữ học (tập 1), NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học (tập 1)
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2002
4. Đỗ Hữu Châu (1982), “Ngữ nghĩa học hướng hệ thống và ngữ nghĩa học hướng hoạt động”, Tạp chí Ngôn ngữ số 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học hướng hệ thống và ngữ nghĩa họchướng hoạt động”, "Tạp chí Ngôn ngữ số 2
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1982
5. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1999
8. Hữu Đạt (2000), Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXBVăn hóa thông tin
Năm: 2000
9. Mai Ngọc Chừ (chủ biên), Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán (2007), Nhập môn ngôn ngữ học, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ (chủ biên), Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2007
10. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hóa học, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 1997
11. Chu Xuân Diên (2002), Cơ sở văn hóa Việt Nam , NXB ĐHQG Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: NXB ĐHQG Tp.HồChí Minh
Năm: 2002
12. Jacques Dournes (2003), Miền đất huyền ảo, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miền đất huyền ảo
Tác giả: Jacques Dournes
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2003
13. Linh Nga Niê K’ Đăm (2002), Văn hóa dân gian Tây Nguyên, Hội văn học nghệ thuật Đăk Lăk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Tây Nguyên
Tác giả: Linh Nga Niê K’ Đăm
Năm: 2002
14. Lê Tâm, Linh Nga Niê K’ Đăm (1996), Một số nét đặc trưng của phong tục các dân tộc Tây Nguyên, NXB Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nét đặc trưng của phongtục các dân tộc Tây Nguyên
Tác giả: Lê Tâm, Linh Nga Niê K’ Đăm
Nhà XB: NXB Văn hóa Hà Nội
Năm: 1996
15. Hữu Đạt (2001), Phong cách học Tiếng Việt hiện đại, NXB ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học Tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 2001
16. Phạm Văn Đồng (1983), Tổ quốc ta nhân dân ta và người nghệ sĩ, NXB Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ quốc ta nhân dân ta và người nghệ sĩ
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: NXBVăn học Hà Nội
Năm: 1983
17. Jean Chevalier Alain Gheerbranht (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB Đà Nẵng, Trường viết văn Nguyễn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóathế giới
Tác giả: Jean Chevalier Alain Gheerbranht
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2002
18. Nguyễn Thị Ngân Hoa (2005), Sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam, Luận văn Tiến sĩ Ngữ văn – Viện Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượngtrang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Ngân Hoa
Năm: 2005
19. Đỗ Kim Hồi (1997), ‘‘Rừng xà nu một con đường lí giải’’, Văn học và tuổi trẻ, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học vàtuổi trẻ
Tác giả: Đỗ Kim Hồi
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1997
20. Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngân Hoa (2003), Phân tích ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích ngôn ngữ trongtác phẩm văn học
Tác giả: Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngân Hoa
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2003
22. Nguyễn Văn Khang (1999), Ngôn ngữ học xã hội những vấn đề cơ bản, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học xã hội những vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1999
23. Nguyễn Lai (1996), Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học
Tác giả: Nguyễn Lai
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w