1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

VẬN DỤNG dạy học hợp tác HƯỚNG dẫn học SINH lớp 11 PHÂN TÍCH TRUYỆN NGẮN “CHỮ NGƯỜI tử tù” của NGUYỄN TUÂN

156 670 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 862,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo mục tiêu giáo dục thế kỉ XXI của tổ chức UNESCO đề ra “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”, chúng ta đã xác định rõ học sinh tới trường không nhữn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

**************

NGUYỄN THỊ NGA

VẬN DỤNG DẠY HỌC HỢP TÁC HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 11 PHÂN TÍCH TRUYỆN NGẮN

“CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” CỦA NGUYỄN TUÂN

Chuyên ngành: LL&PPDH bộ môn Văn

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hương

Hà Nội - 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn với đề tài “Vận dụng dạy học hợp tác hướng

dẫn học sinh lớp 11 phân tích truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân”, tôi đã thường xuyên nhận sự giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện thuận

lợi của các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, các thầy cô trong tổ Phương pháp dạyhọc Ngữ văn và đặc biệt là PGS TS Nguyễn Thị Thanh Hương, người hướngdẫn khoa học trực tiếp

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tớiPGS TS Nguyễn Thị Thanh Hương cùng tập thể các thầy cô trong khoa Ngữvăn đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này

Cuối cùng, tôi xin gởi lời tri ân tới gia đình, bạn bè là những người đãđộng viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua để tôi có thể hoàn thành tốtluận văn này

Hà Nội, ngày 1 tháng 9 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Nga

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Cấu trúc luận văn 10

PHẦN NỘI DUNG 11

Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC HỢP 11

1.1 Dạy học hợp tác – con đường phát triển năng lực của học sinh 11

1.1.1 Khái niệm dạy học hợp tác 11

1.1.2 Những yếu tố cơ bản của DHHT 11

1.1.3 Cấu trúc và hình thức hoạt động trong DHHT 14

1.1.3.1 Cấu trúc Jigsaw của Elliot Aronson 14

1.1.3.2 Cấu trúc Stad của Slavin 16

1.1.3.3 Cấu trúc GI (Group Investigation) – điều tra theo nhóm 17

1.1.3.4 Hình thức cặp đôi và xây dựng kim tự tháp 19

1.1.4 Quy trình tổ chức giờ học theo phương pháp DHHT 20

1.1.4.1 Bước 1: Phân tích thông tin 20

1.1.4.2 Bước 2: Xác định mục tiêu bài học 21

1.1.4.3 Lập kế hoạch dạy học 21

1.1.4.4 Tổ chức giờ học hợp tác 23

1.1.5 Ưu, nhược điểm của DHHT 27

1.1.5.1 Ưu điểm 27

1.1.5.2 Nhược điểm 28

1.2 Dạy học hợp tác trong bộ môn Ngữ văn 29

1.2.1 Yêu cầu với các câu hỏi thảo luận 31

Trang 4

1.2.2 Một số dạng câu hỏi, bài tập thảo luận 32

Chương II: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN

“CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” THEO HƯỚNG DẠY HỌC HỢP 34

2.1 Truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân với những cái mới, cái lạ, cái độc đáo cần được học sinh thảo luận 34

2.1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người 35

2.1.1.1 Con người trước hết phải có thiên lương 35

2.1.1.2 Con người không chỉ có Tài mà phải có Tâm để biết

đồng cảm, sẻ chia 44

2.1.1.3 Sự gặp gỡ kì lạ giữa hai con người kì tài Huấn Cao và quản ngục đem lại tính nhân văn sâu sắc cho tác phẩm 47

2.1.2 Cái mới, cái lạ và cái độc đáo trong nghệ thuật

viết truyện ngắn 51

2.1.2.1 Nghệ thuật tạo tình huống truyện độc đáo tạo nên những đối lập nghệ thuật thể hiện một ngòi bút tài hoa khi tạo ra cảnh cho chữ - một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” khiến câu chuyện mang đầy màu sắc kì ảo 51

2.1.2.2 Nghệ thuật xây dựng thời gian, không gian truyện độc đáo tạo nên chất kì ảo cho câu chuyện 60

2.1.2.3 Xây dựng chi tiết nghệ thuật kì lạ 63

2.1.2.4 Xây dựng nhân vật phi thường 67

2.2 Một số vấn đề đặt ra khi dạy học truyện ngắn “Chữ người tử tù” theo hướng DHHT 70

2.2.1 Thuận lợi 70

2.2.2 Khó khăn 71

2.3 Đề xuất một số biện pháp dạy học “Chữ người tử tù”

theo hướng DHHT 72

Trang 5

2.3.1 Biện pháp 1: Tạo tâm thế học tập cho học sinh 72

2.3.2 Biện pháp 2: GV lựa chọn các vấn đề then chốt để

hướng dẫn các nhóm thảo luận 76

2.3.3 Biện pháp 3: Phát phiếu học tập cho học sinh 79

2.3.4 Biện pháp 4: Giáo viên tổ chức, định hướng phân tích tác phẩm trên cơ sở tổng hợp các biện pháp và phương pháp dạy học 82

2.3.4.1 Cắt nghĩa, chú giải và phân tích 82

2.3.4.2 Kết hợp giảng, bình 84

Chương III: THỰC NGHIỆM 88

3.1 Mục đích thực nghiệm 88

3.2 Nội dung thực nghiệm 89

3.3 Phương pháp thực nghiệm 89

3.4 Thời gian, địa điểm và đối tượng thực nghiệm 90

3.5 Thiết kế giáo án và tổ chức dạy – học thực nghiệm truyện ngắn “Chữ người tử tù” theo hướng dạy học hợp tác 91

3.5.1 Thiết kế giáo án thực nghiệm 91

3.5.3 Đánh giá thực nghiệm 119

3.5.3.1 Tiêu chí đánh giá 119

3.5.3.2 Kết quả thực nghiệm 120

KẾT LUẬN 125

TÀI LIỆU THAM KHẢO 128

PHỤ LỤC 1

Trang 6

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

PPDH: Phương pháp dạy học

PPDHHT: Phương pháp dạy học hợp tácGV: Giáo viên

HS: Học sinh

SGK: Sách giáo khoa

TV: Thành viên

PHT: Phiếu học tập

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Bước sang thế kỉ XXI, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩthuật, con người muốn tồn tại và phát triển phải biết cách liên kết, hợp tác vớinhau Trước những thay đổi lớn lao của đời sống xã hội, ngành giáo dục nướcnhà không thể giữ những quan điểm, cách dạy truyền thống nữa, mà buộcphải tiến hành đổi mới, cải cách một cách mạnh mẽ và toàn diện nhằm đàotạo ra những con người mới đáp ứng được nhu cầu của xã hội Với quan điểm

“lấy học sinh làm trung tâm của quá trình dạy – học”, chúng ta đã có nhữngthay đổi từ mục tiêu, nội dung và đặc biệt là phương pháp dạy học Theo mục

tiêu giáo dục thế kỉ XXI của tổ chức UNESCO đề ra “Học để biết, học để

làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”, chúng ta đã xác định rõ

học sinh tới trường không những chỉ chiếm lĩnh được kiến thức mà còn phảihình thành được các kĩ năng, năng lực sống cần thiết cho bản thân, và mộttrong những năng lực đó là bắt tay hợp tác với người khác để công việc có thểhoàn thành và đạt hiệu quả cao nhất Bởi vậy, trong thời gian gần đâyPPDHHT đã và đang ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm từ các nhà giáodục và sự hưởng ứng thích thú từ phía các em học sinh

Với mục tiêu không chỉ cung cấp kiến thức mà còn trang bị những kĩ năngsống cần thiết cho HS nên việc dạy – học Văn trong thời gian gần đây đã cónhững sự thay đổi tích cực ở mọi phương diện, nhất là về phương pháp giảngdạy Theo cách dạy truyền thống, GV là người đọc tác phẩm, đọc các tài liệuphân tích tác phẩm đó, sau đó, dùng khả năng của mình truyền đạt lại sự hiểubiết của mình về tác phẩm cho HS nghe, ghi chép Cách dạy này có thể giúpngười thầy chủ động hơn về mặt thời gian, nhưng lại khiến HS thụ động tiếpnhận kiến thức, và thường nảy sinh tâm lí chán nản, mệt mỏi, Trước thực tế

Trang 8

đó, môn Ngữ văn buộc phải đổi mới PPDH nhằm khắc phục những nhượcđiểm trên để thực hiện được mục tiêu giáo dục mới và đào tạo được nhữngcon người mới đáp ứng được yêu cầu của xã hội Trong thời gian gần đây,PPDHHT đã và đang được vận dụng nhiều hơn vào việc dạy – học môn Ngữvăn và đã ghi nhận được những dấu hiệu tích cực.

Cùng với đó, trong làng văn Việt NamNguyễn Tuân được biết đến là một

cây bút tài năng, độc đáo, một người luôn muốn “mỗi ngày sống, mỗi trang

đời của mình cũng là một trang nghệ thuật ( ) đó là một thái độ thẩm mĩ đặc biệt của ông, riêng ông, đối với cuộc sống” [3; 534], một người luôn khát

khao hướng tới cái Đẹp Con người ấy được giới phê bình dùng những ngôn

từ trang trọng nhất để nhận xét: “Nguyễn Tuân người đi tìm cái đẹp, cái thật” (Nguyễn Đình Thi); “một nhà văn kính trọng và yêu mến cái đẹp” (Thạch Lam); “Nguyễn Tuân, nhà nghệ sĩ ngôn từ đưa cái đẹp thăng hoa” (Hoài

Anh) Với niềm say mê cái Đẹp, con người ấy đã dùng cả cuộc đời mình để

“săn tìm” cái Đẹp từ những cái bình dị, đời thường nhất Chẳng vậy mà khi

sống ở một xã hội Á – Âu lẫn lộn, Tây Tàu nhố nhăng, nhà văn đã chọn cách

di dưỡng tâm hồn mình trong những nét đẹp văn hóa cổ truyền của dân tộcvới những phong tục, nề nếp, cách ăn ở, thú vui chơi vàng son một thời naychỉ còn vang bóng Tìm kiếm, ngợi ca nét đẹp của những thú vui tao nhã, củanhững con người nghệ sĩ của dân tộc, tác giả không chỉ thể hiện tình yêu, sựtiếc nuối với quá khứ vàng son của dân tộc mà quan trọng hơn là khát vọngkhơi dựng lại những nét đẹp cổ truyền quý báu ấy trong thời đại ngày nay Sựsay mê, niềm kiêu hãnh trước những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc

đã được cây bút tài hoa nghệ sĩ bậc thầy ấy thể hiện vô cùng thành công trong

tập “Vang bóng một thời” – một tác phẩm “gần đạt đến độ toàn thiện, toàn

mĩ” (Vũ Ngọc Phan) Có thể nói, trong “Vang bóng một thời”, truyện ngắn

“Chữ người tử tù” được coi là thiên truyện hay nhất, đặc sắc nhất tiêu biểu

Trang 9

cho quan niệm sống, cho đặc trưng phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.Đây cũng chính là một trong những lí do các nhà biên soạn sách giáo khoa lựachọn thiên truyện này để đưa vào chương trình giới thiệu cho học sinh lớp 11.Hơn nữa, bản thân người viết luôn có sự quan tâm đặc biệt, niềm say mê,yêu thích đối với các sáng tác của nhà văn Nguyễn Tuân nói chung, truyện

ngắn “Chữ người tử tù” nói riêng Và với tư cách là một nhà giáo, tôi luôn

mong muốn có thể giúp học sinh của mình thấy được cái hay, cái độc đáo, cáiđặc sắc trong các sáng tác của Nguyễn Tuân, từ đó các em sẽ có thể rút ranhững bài học ứng xử hữu ích cho bản thân mình trong cuộc sống, và có đượccái nhìn đúng đắn, có thái độ trân trọng thích hợp với những di sản văn hóaquý báu của cha ông để lại Xuất phát từ những lí do đó, người viết quyết định

lựa chọn đề tài nghiên cứu: Vận dụng dạy học hợp tác hướng dẫn học sinh

lớp 11 phân tích truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Dạy học hợp tác – một phương pháp dạy học có lịch sử lâu đời

Dạy học hợp tác không phải là một phương pháp dạy học mới xuất hiệntrong thời gian gần đây, mà nó được hình thành từ một tư tưởng dạy học đã có

từ lâu trên thế giới đó là tất cả cùng làm việc, chia sẻ thông tin với nhau để đạtđược mục đích cuối cùng Tư tưởng dạy học tiến bộ này được các nhà giáodục hiện đại xây dựng thành phương pháp và được sử dụng rộng rãi ở Anh và

Mĩ vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX với những tên tuổi như John AmosComenius (1592 – 1670), Colonel Francis Parker (1837 – 1902), đặc biệt làJohn Dewey – một nhà giáo dục vĩ đại, một triết gia xuất sắc ở Mĩ – ngườiđược coi là ghi dấu ấn sâu sắc nhất trong quá trình tìm hiểu và vận dụng dạyhọc hợp tác trong trường học bởi ông quan niệm: “Trong một thế giới bị cuốn

Trang 10

vào cuộc chạy đua điên rồ và thường là tàn nhẫn vì lợi ích vật chất bằng sựcạnh tranh liên tục, thì trường học phải có trách nhiệm bằng nỗ lực có tổ chứcmột cách thông minh và bền bỉ để trên hết phải phát triển ý chí hợp tác và tinhthần biết nhận ra ở mọi cá nhân khác một con người có quyền bình đẳng chia

sẻ những thành quả văn hóa và vật chất của sự sáng tạo tập thể, của nền côngnghiệp, của kỹ năng và tri thức của con người Mục tiêu tối cao về trí tuệ vànhân cách này là có tính tất yếu vì những lí do khác chứ không phải là để bùđắp cho cái tinh thần vô nhân đạo sinh ra từ sự cạnh tranh kinh tế và bóc lột”

và “Một xã hội không đáng hoan nghênh là một xã hội đặt ra bên trong vàbên ngoài nó những rào cản ngăn chặn sự giao tiếp và truyền đạt kinh nghiệmmột cách tự do Một xã hội cho phép mọi thành viên chia sẻ bình đẳng lợi íchcủa nó và điều chỉnh linh hoạt các thiết chế dựa vào mối quan hệ tương giaocủa các hình thái tồn tại liên kết khác nhau, xã hội ấy cho tới nay được gọi làdân chủ Với tính chất như thế, một xã hội phải có một kiểu giáo dục giúp chocác cá nhân có được mối hứng thú riêng tới các quan hệ xã hội và kiểm soát

xã hội, và tạo ra những thói quen tinh thần có thể duy trì những thay đổi xãhội mà không gây nên sự hỗn loạn”

(Nguồn:http://nguvan.hnue.edu.vn/Nghiencuu/Phuongphap/tabid/106/

newstab/271/Default.aspx) Đồng thời, John Dewey đã đưa ra nguyên lý

“tính liên tục” (continuity) và “tính tương tác” (interaction) trong “Lý thuyết kinh nghiệm” (Theory of Experience), phá vỡ hoàn toàn những quan niệm về

giáo dục theo kiểu truyền thống Ông cho rằng trẻ em học được nhiều điềuthông qua giao tiếp, việc học tập sẽ trở nên hứng thú hơn nếu chúng đượctham gia vào các hoạt động cụ thể, nhớ đó mà hình thành “kinh nghiệm” vàtrẻ sẽ biết cách làm việc cùng với nhau để đạt đạt được kết quả chung Xuất

phát từ quan niệm ấy, John Dewey – một trong ba nhà sáng lập ra “Thực

dụng luận” (Pragmatism) – đã đưa các hình thức hoạt động hợp tác học tập

Trang 11

vào trường học, và theo ông giáo dục phải có vai trò dạy cho con người cáchsống, cách làm việc hợp tác với nhau

Cùng với John Dewey, người có ảnh hưởng lớn trong lịch sử DHHT là

Kurt Lewin (1890 – 1947) – một nhà tâm lý học xã hội nổi tiếng với “thuyết

phụ thuộc lẫn nhau trong xã hội” (hay còn gọi là “thuyết tương tác”) Ông

chính là người đưa ra hai yếu tố tạo thành nhóm, đó là: phải có sự phụ thuộclẫn nhau giữa các thành viên, nhóm phải năng động hơn, có tác động tích cựcđến các thành viên và tình trạng căng thẳng giữa các thành viên sẽ là động lựcthúc đẩy hoàn thành mục tiêu Tư tưởng của ông được các thế hệ sau pháttriển mở rộng như Elliot Aronson với cấu trúc Jigsaw và hai anh em nhàJohnson với công trình nghiên cứu chứng minh học hợp tác HS sẽ học hỏiđược nhiều hơn so với cách học truyền thống Những tư tưởng, quan niệmnày tiếp tục được các nhà giáo dục phát triển thành phương pháp DHHT, vàtới năm 1996, lần đầu tiên PPDHHT được chính thức áp dụng cho một sốtrường đại học ở Mỹ Như vậy, có thể thấy, PPDHHT có quá trình hình thành

và phát triển qua một chặng đường dài bởi rất nhiều nhà nghiên cứu giáo dục

và tâm lí trên thế giới

Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo có công trình,bài viết về DHHT nói chung và DHHT trong bộ môn Ngữ văn nói riêng Tiêu

biểu như Nguyễn Hữu Châu với bài viết “Dạy học hợp tác” trên Tạp chí

Thông tin khoa học giáo dục số 114, năm 2005 với quan niệm: hợp tác là

cùng chung sức để đạt được những mục tiêu chung và học hợp tác là việc sửdụng các nhóm nhỏ để HS làm việc cùng nhau nhằm tối đa hóa kết quả học

tập của bản thân mình cũng như người khác Hay như bài viết “Một số trao

đổi về học hợp tác ở trường phổ thông” của Trần Thị Bích Trà trên Tạp chí

Giáo dục số 146 (9/2006) đã chỉ ra một số nội dung chính của DHHT như

Trang 12

khái niệm, nét đặc thù của DHHT, những khó khăn thường gặp khi sử dụngphương pháp này và hướng khắc phục.

Thái Duy Tuyên ở cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi

mới” có bài “Dạy học hợp tác nhóm” đã khẳng định việc tổ chức học tập

tập thể, học nhóm rất quan trọng trong giáo dục bởi các em phải biết hợptác với nhau, hợp tác với GV để hoàn thành được nhiệm vụ học tập ngàycàng nặng nề trong điều kiện xã hội ngày nay; cách học tập này sẽ quyếtđịnh sự thành bại của mỗi cá nhân trong xã hội Theo tác giả, hình thức họchợp tác nhóm có đặc trưng chủ yếu là dùng hội thoại, tranh luận để tìm tòi

và phát hiện chân lí

Nói tới DHHT trong bộ môn Ngữ văn, chúng ta phải kể tới “Literature

CirclesnVoice and Choice in Book Clubs and reading Groups” của Harvey

Daniels và các cộng sự thực hiện (Nguyễn Thị Hồng Nam dịch) – cuốn sáchđược coi là tài liệu hữu ích cho việc dạy học tác phẩm văn chương theo hìnhthức hợp tác nhóm Tác gia đã thiết kế ra các Role Sheets để rèn luyện nhiềunăng lực tư duy khác nhau và tạo ra sự phụ thuộc tích cực của các thành viêntrong nhóm học tập Mỗi loại Role Sheets tiêu biểu cho loại tư duy mà ngườihọc thực sự phải làm khi khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm: người phát hiệnnhững điểm sáng thẩm mĩ, người tóm tắt, người làm giàu vốn từ, Hoặc cuốn

“Tổ chức hoạt động hợp tác trong dạy học Ngữ văn” của Nguyễn Thị Hồng

Nam (2002) ở trường Đại học Cần Thơ Trong cuốn sách, tác giả đã nêu ranhững vấn đề liên quan đến dạy học nhóm như: khái niệm, lọai hình nhóm, vaitrò của GV trong thảo luận nhóm, quy trình tổ chức thảo luận nhóm, vai trò củathảo luận nhóm, các dạng bài tập thảo luận nhóm, Không chỉ đưa ra lýthuyết, tác giả còn có những dẫn chứng cụ thể trong thực tế giảng dạy, điều nàylàm cho cuốn sách có giá trị thực tiễn và tính thuyết phục với bạn đọc cao hơn

Trang 13

Như vậy, có thể thấy DHHT là phương pháp có từ lâu, trong thời giangần đây đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, sự vậndụng phổ biến của các nhà giáo không chỉ ở Việt Nam mà trên cả thế giới.Tính ưu việt của phương pháp dạy học tích cực này ngày càng được khẳngđịnh rõ hơn ở chính việc sử dụng rộng rãi của nhiều GV, và sự hứng thú khitham gia của HS.

2.2 Về truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân

Độc giả biết đến Nguyễn Tuân – một con người tài hoa kiêu bạc, một

con người với phong cách “ngông”, một con người luôn tôn thờ cái Đẹp nên

đã dành cả cuộc đời thực cũng như cuộc đời cầm bút để săn tìm cái Đẹp, ngợi

ca cái Đẹp Chẳng vậy mà trong cuốn “Tiếng nói tri âm”, có người viết: Tôi

luận bàn về phép chữ Nguyễn Tuân trong mặc cảm: càng nói càng thiếu song luận gì về Nguyễn Tuân cũng chớ quên văn ông không chỉ là tòa lâu đàichữ nghĩa mà còn là bể thẳm tâm hồn

Các sáng tác của Nguyễn Tuân có sức hút kì lạ với bạn đọc nhiều thế

hệ, bởi đến với tác phẩm của ông dù ở thể loại nào độc giả cũng như đượcđắm mình trong thế giới của cái Đẹp, như được thanh lọc tâm hồn mình Đặc

biệt là với tập “Vang bóng một thời” cụ thể là truyện ngắn “Chữ người tử

tù” của ông đã giành được sự yêu mến đặc biệt của độc giả, của giới nghiên

cứu với rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về chúng Tiêu biểu như:

Tác giả Nguyễn Ngọc Hóa ở bài viết “Cái thật và cái tài hoa trong

Chữ người tử tù” đã nghiên cứu truyện ngắn trên hai bình diện: cái tài hoa và

cái thật Từ đó ông khẳng định cái thật trội hẳn lên và cụ thể hơn cái tấm lòngthực của ông đã hòa quyện trong cái tài hoa của một nghệ sĩ bậc thầy đã tạodựng lên một thiên truyện vừa cổ kính vừa hiện đại, không chỉ thức tỉnh sựsuy ngẫm mà chỉ ra con đường để giữ lấy thiên lương

Trang 14

Tác giả Văn Tâm với bài viết “Về truyện ngắn Chữ người tử tù của

Nguyễn Tuân” đã khai thác truyện ngắn trên phương diện tinh thần dân tộc:

bậc thầy ngôn ngữ dân tộc trong việc miêu tả đầy chất tạo hình và điện ảnhcủa cảnh cho chữ; thái độ luyến tiếc nét đẹp văn hóa cổ truyền đang lụi tàndần – nghệ thuật thư pháp; sự trân trọng tiếng mẹ đẻ qua việc sử dụng rấtnhiều từ cổ

Tác giả Hà Bình Trị gọi Nguyễn Tuân là bậc Thầy chữ Nguyễn Tuân

trong bài “Thầy chữ Nguyễn Tuân” với nghệ thuật vẽ mây nẩy trăng, nghệ

thuật văn xuôi điêu luyện, nhịp điệu và chất nhạc, chất họa trong câu văn.Như vậy, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào hai phươngdiện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

Đặc biệt, chúng ta không thể không nhắc tới bài viết “Kẻ tử tù và

người tù chung thân” của Chu Văn Sơn – một bài viết xuất sắc, làm nổi

bật lên mối quan hệ giữa hai con người vừa là tử thù vừa là tri kỉ ấy, qua

đó tác giả nhấn mạnh tới ý nghĩa lớn lao của cuộc gặp gỡ giữa hai conngười ấy Bài viết được giới nghiên cứu đánh giá rất cao, trở thành tư liệutham khảo cho bất kì người Gv nào muốn dạy tốt, dạy hay truyện ngắnnày của Nguyễn Tuân

Hơn nữa, đối với tình hình nghiên cứu việc giảng dạy các tác phẩm của

Nguyễn Tuân trong nhà trường phổ thông nói chung và truyện ngắn “Chữ

người tử tù” nói riêng, người viết đã khảo sát thấy một số luận văn thuộc

chuyên ngành phương pháp dạy học văn như sau:

- Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học tác phẩm Nguyễn

Tuân ở trường THPT (Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Cúc, Hà Nội, 1998)

Trang 15

- Bồi dưỡng năng lực thẩm văn cho học sinh giỏi văn (trường

Chuyên Vĩnh Phúc) khi học truyện ngắn Nguyễn Tuân (Luận văn Thạc sĩ

của Phan Hồng Hiệp, Hà Nội, 2003)

- Tổ chức đối thoại trong dạy học “Chữ người tử tù” của Nguyễn

Tuân (Luận văn Thạc sĩ của Trần Quốc Khả, 2010)

- Biện pháp khai thác chất trữ tình giàu kịch tính trong “Chữ người

tử tù” của Nguyễn Tuân (Luận văn Thạc sĩ Trần Thị Hải Vân, 2011)

- Những cách thức triển khai tình huống có vấn đề trong dạy học tác

phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân (Luận văn Thạc sĩ Phạm Thị

Quy, 2007)

Như vậy, dựa vào sự khảo sát trên có thể thấy cho đến nay đã có nhiềuluận văn đưa ra các phương pháp để khai thác các vấn đề khác nhau của

truyện ngắn “Chữ người tử tù” nhưng vẫn chưa có công trình nào vận dụng

phương pháp dạy học hợp tác để hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm này

Bởi vậy, người viết quyết định lựa chọn đề tài: Vận dụng dạy học hợp tác

hướng dẫn học sinh lớp 11 phân tích truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu đề tài Vận dụng dạy học hợp tác hướng dẫn học sinh

lớp 11 phân tích truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân chúng

tôi nhằm mục đích tìm hiểu những vấn đề sau:

+ Giới thiệu về phương pháp dạy học hợp tác

+ Vận dụng phương pháp dạy học hợp tác hướng dẫn HS lớp 11 phân

tích truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân

Trang 16

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Nghiên cứu lí luận: PPDHHT và truyện ngắn “Chữ người tử tù” của

Nguyễn Tuân

+ Nghiên cứu thực tiễn: tình hình dạy học truyện ngắn “Chữ người tử

tù” của Nguyễn Tuân ở nhà trường phổ thông

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại

- Phương pháp khảo sát và thống kê

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

- Chương I: Một số vấn đề lí luận về dạy học hợp tác

- Chương II: Một số biện pháp dạy học truyện ngắn “Chữ người tử tù”

theo hướng dạy học hợp tác

- Chương III: Thực nghiệm

Trang 17

PHẦN NỘI DUNG Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC HỢP 1.1 Dạy học hợp tác – con đường phát triển năng lực của học sinh

1.1.1 Khái niệm dạy học hợp tác

Dạy học hợp tác (cooperative learning) không phải là phương pháp dạyhọc mới xuất hiện trong một vài năm trở lại đây mà nó đã có từ lâu và pháttriển mạnh mẽ trong 30 năm gần đây ở các nước có nền giáo dục phát triển.Phương pháp này được gọi với nhiều tên khác nhau: học tập hợp tác, dạy họctheo nhóm, thảo luận nhóm, không phải là một phương pháp hoàn toàn mới

lạ, đó là một tư tưởng dạy học đã xuất hiện từ lâu trên thế giới dựa trên ýtưởng tất cả cùng làm việc, chia sẻ thông tin với nhau để đạt được mục đíchcuối cùng DHHT là phương pháp dạy học ở đó GV tổ chức cho HS hoạtđộng trong các nhóm nhỏ để các em cùng thực hiện một nhiệm vụ nhất địnhtrong một thời gian cụ thể; trong nhóm, dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng, HSkết hợp giữa làm việc cá nhân với làm việc theo cặp, chia sẻ kinh nghiệm vàhợp tác cùng nhau để giải quyết nhiệm vụ được giao

Thông thường, các hoạt động hợp tác này diễn ra ở môi trường cácnhóm có khoảng 4-5 HS, mỗi thành viên trong nhóm sẽ chịu trách nhiệm

về những gì học tập, thu lượm được từ đó giúp các bạn trong nhóm hiểuvấn đề, tạo nên bầu không khí hợp tác, gần gũi, giúp đỡ nhau Như vậy, vớicách dạy – học này, HS muốn thành công thì buộc phải hợp tác với cácthành viên khác, thành công của mỗi cá nhân được thể hiện rõ trong thànhcông của cả nhóm

1.1.2 Những yếu tố cơ bản của DHHT

Từ định nghĩa về DHHT, chúng ta có thể thấy các cá nhân trong nhómcần phải có mục đích chung trên cơ sở tất cả cùng có lợi; quan hệ giữa các

Trang 18

thành viên phải bình đẳng, tin tưởng lẫn nhau và tự nguyện hoạt động; các cánhân phải có tinh thần trách nhiệm cao, cùng chung sức, giúp đỡ và bổ sungcho nhau Như vậy, học hợp tác không chỉ là việc HS ngồi cạnh nhau mà cònphải cùng thảo luận, giúp đỡ nhau, chia sẻ khiến thức, kinh nghiệm chonhau Và để sử dụng thành công PPDHHT thì cần đảm bảo 5 yếu tố:

- Giữa các HS cần có sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực

- Các thành viên trong nhóm phải có sự tương tác trực tiếp

- Mỗi cá nhân đều có trách nhiệm đối với nhiệm vụ chung của nhóm

- Mỗi HS phải có kĩ năng hợp tác nhóm

- HS phải có khả năng đánh giá, điều chỉnh hoạt động nhóm

Yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của DHHT là sự phụ thuộc nhau

một cách tích cực Để có thể xây dựng một bài học hợp tác hiệu quả, GV cần

giúp HS ý thức được cả nhóm sẽ thành công hoặc thất bại, sự thành công củanhóm chỉ đạt được khi mọi thành viên đều thành công Bởi vậy, một học sinh

bao giờ cũng có 2 trách nhiệm: thực hiện nhiệm vụ được giao và giúp đỡ các

thành viên khác hoàn thành nhiệm vụ được giao

Yếu tố thứ hai là sự tương tác trực tiếp (mặt đối mặt) giữa các thành

viên trong nhóm Học hợp tác đòi hỏi HS phải thực sự làm việc cùng nhau,các em sẽ thành công khi biết chia sẻ tài liệu, kiến thức, kinh nghiệm và cùngnhau nỗ lực, phấn đấu, giúp đỡ nhau Việc tương tác trực tiếp có những tácđộng rất tích cực đối với HS: tăng động cơ học tập, tạo ra hứng thú tìm hiểumới; kích thích sự giao tiếp, sự chia sẻ những ý tưởng, cách giải quyết vấn đề;tăng cường các kĩ năng xã hội; khích lệ mọi thành viên trong nhóm tham gia;phát triển tình bạn nhờ sự quan tâm, gắn bó với nhau hơn

Trang 19

Yếu tố thứ ba là trách nhiệm của cá nhân: Nhóm hợp tác được tổ chức

sao cho các thành viên có trách nhiệm với hoạt động của cả nhóm, không trốntránh công việc, mọi thành viên sẽ được phân công thực hiện một vai trò nhấtđịnh và vai trò đó sẽ được thay đổi luân phiên để HS hiểu là không thể dựadẫm vào người khác Do đó, việc hợp tác nhóm còn giúp HS trở nên năngđộng, tự tin hơn

Yếu tố thứ tư là kĩ năng hoạt động hợp tác nhóm: yếu tố này đòi hỏi

HS phải có kĩ năng làm việc trong nhóm chẳng hạn như biết cách hợp tác traođổi thông tin, lắng nghe người khác, trình bày ý kiến, biết cách thảo luận,cách tóm tắt và xử lí thông tin, thậm chí trong những trường hợp cần thiết cònphải biết cách thuyết phục người khác Ngoài cách trao đổi thông dụng bằngngôn ngữ, các thành viên còn phải biết cách truyền tin bằng ngôn ngữ cơ thể:ánh mắt, cử chỉ, sắc mặt, nụ cười, điệu bộ

Yếu tố cuối cùng và không thể thiếu đó chính là khả năng đánh giá,

điều chỉnh hoạt động của nhóm: Đây là kĩ năng đánh giá để rút ra các bài học

kinh nghiệm cho những lần hoạt động sau của nhóm Yếu tố này đòi hỏi cácthành viên trong nhóm tự nhận xét, đánh giá quá trình hoạt động hợp tác củatừng thành viên, đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu của nhóm, khả năngphối hợp giữa các thành viên, từ đó xem xét đến việc giữ nguyên hoặc thayđổi nhóm trong những lần hoạt động tiếp theo Có hai hình thức đánh giá:nhận xét của các thành viên trong nhóm và nhận xét của HS hay GV về:

- Hoạt động giải quyết nhiệm vụ được giao của nhóm

- Kết quả đạt được

- Cần thiết hoặc không cần thiết phải điều chỉnh lại các nhóm dựa trên

cơ sở kết quả đạt được của từng nhóm

Trang 20

1.1.3 Cấu trúc và hình thức hoạt động trong DHHT

Trong DHHT, các nhà nghiên cứu chia thành hai loại nhóm cơ bản đólà: nhóm cố định và nhóm không cố định Nhóm cố định (Formal CooperativeLearning) hay còn gọi là nhóm đề án (Cooperative Student Projects) là loạinhóm mà các thành viên hoạt động cùng nhau trong suốt một thời gian từmột tuần đến vài tuầnvà thậm chí là cả một học kì nếu có nhiệm vụ thực hiệnnhững bài tập lớn, phức tạp, mang tính chất nghiên cứu

Nhóm không cố định (Informal Cooperative Learning) là loại hìnhnhóm gồm những học sinh cùng nhau làm việc từ một vài phút đến một tiếthọc, có thể được thành lập nhiều lần trong một giờ học, số lượng HS trongmỗi nhóm rất linh hoạt: nhóm 2 HS, nhóm 4 – 5 HS, nhóm 6 – 8 HS

1.1.3.1 Cấu trúc Jigsaw của Elliot Aronson

Jigsaw là một hình thức tổ chức học hợp tác đã được Elliot Aronson vàcác đồng nghiệp của ông ở trường Đại học Texas (California) phát triển vàonăm 1970 Theo ông, khi tổ chức hình thức Jigsaw trong lớp học sẽ giúp họcsinh có thể hợp tác với mọi thành viên trong nhóm cũng như trong lớp học vàgiảm thiểu tối đa tình trạng “ăn theo” của nhiều học sinh yếu kém

Về cách thức tổ chức hoạt động nhóm theo cấu trúc Jigsaw:

- Chia nội dung bài học thành các phần

- Chia HS thành từng nhóm tương ứng với các nội dung bài học đã chia

- Chọn một HS làm trưởng nhóm – thường là HS xuất sắc, có tinh thầntrách nhiệm cao

- Mỗi thành viên của nhóm được giao một phần của bài học và có mộtkhoảng thời gian ngắn để hiểu được vấn đề

Trang 21

- Trong một khoảng thời gian xác định, các thành viên cùng chủ đềthảo luận với nhau trong “nhóm chuyên gia”

- Các thành viên trong nhóm chuyên gia trở về nhóm hợp tác, giảng lạicho cả nhóm phần bài của mình, đảm bảo mọi thành viên trong nhóm đềunắm vững nội dung bài học

- Các thành viên làm bài kiểm tra cá nhân, nội dung kiểm tra gồm tất cảcác phần của bài học

- Kết quả kiểm tra là kết quả cá nhân và tính điểm nhóm

Tóm tắt cấu trúc Jigsaw của E Aronson

Bước

làm việc

1.Phâncông công

việc

2.Nhómchuyêngia

3.Nhóm hợptác

4.Cá nhânlàm kiểmtra

5.Điểm cánhân –điểmnhóm

Giảng bài chonhau

Kiểm tra Kết quả

đề củatừngnhómcùngthảo luận

chuyên gia trở

về nhóm hợptác giảng bàicho các TVkhác nghe để

có thể hiểu hếtcác phần củabài học

Cá nhânlàm bài

KT Nộidung baogồm tất cảcác phầncủa bàihọc

Từng TVkhông chỉhiểu kĩphần bàicủa mình

mà cònhiểu nộidung cảbài học

Trang 22

Phần bài

D

Có thể nói, đây là một trong những cấu trúc ưu việt nhất, có hiệu quảnhất trong DHHT bởi nó đề cao được tính tương tác bình đẳng và tầm quantrọng của từng TV trong nhóm và hạn chế được hiện tượng ăn theo, chi phối

và tách nhóm còn tồn tại ở nhiều học sinh, đồng thời khi HS tham gia vàohoạt động học sẽ có nhiều cơ hội học hỏi từ bạn bè và thể hiện vai trò, khảnăng của bản thân trước nhóm Khi vận dụng cấu trúc Jigsaw, với bài kiểm tra

GV có thể sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn, nhờ đó

HS cũng có thể tham gia vào việc tự đánh giá kết quả qua việc chấm chéo bàilàm của nhau

1.1.3.2 Cấu trúc Stad của Slavin

Cấu túc Stad được phát triển bởi Robert Slavin tại trường đại họcHopkins, có thể coi đây là mô hình giản đơn nhất thể hiện cách tiếp cận theohướng DHHT Cấu trúc Stad được tổ chức theo các bước:

Bước 1: GV giới thiệu mục đích bài học

Bước 2: Chia HS thành các nhóm hợp tác với số lượng khoảng 4 – 5 HS/1nhóm

Bước 3: GV giao nhiệm vụ cho từng nhóm

Bước 4: Tổ chức cho HS cùng nhau tìm hiểu nội dung bài học, mỗi TV đềunắm được nội dung bài học một cách tốt nhất

Bước 5: Tiến hành kiểm tra cá nhân lần 1

Bước 6: Tổ chức cho HS chấm chéo bài kiểm tra, sau đó cho HS tự khắc phụcnhững phần kiến thức chưa nắm vững

Bước 7: Kiểm tra cá nhân lần 2

Trang 23

Bước 8: Đánh giá, nhận xét mức độ cố gắng của từng TV, từng nhóm

Cấu trúc Stad đề cao tinh thần hợp tác giữa các TV trong nhóm, tạo cơhội cho HS yếu kém sửa sai kiến thức, nhấn mạnh sự nỗ lực của bản thân TV

có ý nghĩa quan trọng với sự thành công của nhóm Đồng thời, cấu trúc nàycũng hạn chế được tình trạng ỷ lại, ăn theo, chi phối và tách nhóm trong HS.Cấu trúc Stad dễ áp dụng cho các bài kiến thức mới đơn giản – HS có thể tựhọc, hoặc các bài luyện tập, ôn tập – HS có thể tự ôn lại kiến thức nhờ các TVtrong nhóm kiểm tra lại Khi vận dụng trúc Stad, GV có thể đánh giá HS trênnhiều tiêu chí khác nhau, nhưng nền tảng vẫn là dựa trên sự nỗ lực, cố gắngcủa các em, đặc biệt với HS yếu, sự cố gắng của các em sẽ góp phần đáng kểtrong kết quả chung của cả nhóm

1.1.3.3 Cấu trúc GI (Group Investigation) – điều tra theo nhóm

Mô hình này được Herber Thenlen đề xướng, sau đó Sharan và cácđồng sự của ông ở trường đại học Tel Aviv mở rộng và cải tiến Mô hình này

có thể coi là mô hình thu nhỏ của PPDH theo dự án

Khác với 2 mô hình trên, ở mô hình này, HS được tham gia vào việclựa chọn chủ đề học, tự các em thiết lập kế hoạch học tập cũng như cách tiếnhành, giải quyết công việc

Bước 1: Chia nhóm: GV chia lớp học thành các nhóm hỗn tạp, cóđầy đủ các thành phần, số lượng khoảng 4 – 6 HS/1 nhóm để hỗ trợ nhautrong quá trình hoạt động Tuy nhiên, ở một số trường hợp, nhóm đượchình thành từ những HS có cùng sở thích, có cùng mối quan tâm tới mộtchủ đề nhất định

Trang 24

Bước 2: Lựa chọn chủ đề: Nhóm HS có thể tự do lựa chọn chủ đề, tổchức bốc thăm hoặc do GV chỉ định Nhưng cho các nhóm tự lựa chọn đề tài

sẽ khơi gợi hứng thú học tập ở các em nhiều hơn

Bước 3: Lập kế hoạch hoạt động: Nhóm HS lập kế hoạch giải quyếtvấn đề dược giao với những mục tiêu và kế hoạch giải quyết từng giai đoạn

cụ thể GV có thể hướng dẫn HS nếu như nhóm chưa có kĩ năng tổ chứccông việc, hoặc cung cấp cho các nhóm một vài tư liệu hoặc các trang wepcần thiết

Bước 4: Thực hiện kế hoạch: Nhóm hoạt động theo kế hoạch đã đề ra,các thành viên trong nhóm tập hợp, tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khácnhau; sau đó tiến hành phân tích các thông tin đó để có được ý tưởng hay chobài thuyết trình của nhóm Giai đoạn này các thành viên cần thường xuyêntrao đổi với nhau và với GV, nếu gặp khó khăn GV cần tạo điều kiện giúp đỡ

Bước 5: HS báo cáo kết quả: Buổi báo cáo là để thể hiện kết quả quátrình làm việc của cả nhóm, trước khi báo cáo, GV cần xem lại nội dungchính xác, đưa ra những góp ý để nội dung bản báo cáo thuyết phục đượcngười nghe

Bước 6: Đánh giá: đây là giai đoạn cuối, nhưng cũng rất quan trọng

GV cần phải thiết kế và thống nhất với HS các tiêu chí đánh giá với kết quảchung của nhóm và năng lực làm việc của mỗi thành viên

Với cấu trúc GI, HS học được cách tìm hiểu một vấn đề bằng nhiềucách tiếp cận khác nhau như sách, tài liệu, mạng Internet hay kinh nghiệm củacác TV trong nhóm Đồng thời, ngoài việc hình thành và tích lũy được các kĩnăng sống, HS còn làm quen với việc lên kế hoạch và tổ chức công việc của

Trang 25

tập thể sao cho đạt hiệu quả cao nhất Với GV, khi xây dựng tiêu chí đánh giánếu dựa trên sự đề cao tính hợp tác thì sẽ tránh được tình trạng ăn theo, qua

đó HS sẽ rèn được năng lực độc lập làm việc

Trang 26

1.1.3.4 Hình thức cặp đôi và xây dựng kim tự tháp

a) Hình thức cặp đôi

Hình thức cặp đôi được phát triển bởi Tiến sĩ Frank Lyman ở trườngđại học Maryland Đây là kĩ thuật dùng để khuyến khích HS tham gia vào cáchoạt động nhóm, kĩ thuật này rất đơn giản và dễ áp dụng với các bước sau:

Bước 1: GV đưa ra câu hỏi

Bước 2: HS suy nghĩ trong một vài phút để có nhận định riêng củamình về vấn đề GV đưa ra

Bước 3: Hai HS ngồi gần nhau được ghép lại thành một cặp trao đổinhững suy nghĩ của cá nhân và thảo luận để giải quyết vấn đề

Thường GV sẽ gợi ý để HS định hướng nhanh hơn trong mỗi bước hoạtđộng, GV nên đặt thời gian nhất định cho mỗi hoạt động nhóm

Mô hình này thường được áp dụng cho các hoạt động so sánh, tìm điểmgiống và khác nhau giữa 2 hay nhiều vấn đề; tìm điểm ưu và khuyết trong mộtnhận định hay quyết định nào đó; hoặc hỏi – đáp theo một đề tài cụ thể Vớihình thức này, HS rèn được khả năng tư duy nhạy bén trước các câu hỏi của

GV, đồng thời các em có cơ hội chia sẻ suy nghĩ với người khác, thể hiệnđược vai trò của cá nhân trong quyết định chung của nhóm cũng như có thểhọc hỏi được nhiều từ các bạn cùng nhóm

b) Xây dựng kim tự tháp

Đây chính là hình thức mở rộng của nhóm cặp đôi Sau khi thảo luậntheo cặp, 2 cặp sẽ kết hợp lại thành nhóm 4 người tiếp tục trao đổi ý kiến.Các nhóm 4 sẽ họp lại thành nhóm 8, nhóm 16 Cuối cùng, cả lớp sẽ có một

Trang 27

bảng tổng kết các ý kiến hoặc giải pháp tốt nhất để giải quyết một vấn đề nào

đó Nói cách khác, hoạt động nhóm kiểu kim tự tháp là cách tổng hợp ý kiếncủa tập thể lớp học về một vấn đề của bài học

Hình thức học tập này thể hiện tín dân chủ và dựa trên nguyên tắctương hỗ; cách học này giúp HS nhận ra ý kiến tập thể tốt hơn ý kiến cá nhân,các em có thể học được rất nhiều điều từ bạn bè Việc tổ chức lớp học theo

mô hình kim tự tháp phù hợp với các giờ ôn tập khi HS cần nhớ lại các địnhnghĩa, khái niệm, công thức đã học trong một chương

Như vậy, mỗi một mô hình, một cấu trúc trong DHHT lại có những ưu

và nhược điểm riêng vì vậy muốn giờ học hợp tác đạt kết quả cao nhất, GVcần biết vận dụng một cách linh hoạt ưu điểm của các mô hình, và cố gắngkhắc phục hạn chế của chúng Tuy nhiên, trong các cấu trúc trên, cấu trúc cặpđôi và xây dựng kim tự tháp là phù hợp hơn cả với đặc điểm giáo dục ở ViệtNam, vì vậy, bên cạnh việc tận dụng ưu điểm của các cấu trúc nêu trên, ngườiviết sẽ tận dụng tối đa hình thức này

1.1.4 Quy trình tổ chức giờ học theo phương pháp DHHT

Để tổ chức một giờ học theo phương pháp DHHT cần đảm bảo 5 bướcsau:

1.1.4.1 Bước 1: Phân tích thông tin

Để xây dựng một giờ học hứng thú và nâng cao khả năng tự học ở HS,trước tiên GV cần nghiên cứu kĩ các tài liệu có liên quan đến nội dung bàihọc, xác định nội dung tri thức cơ bản, tri thức bổ trợ, những kiến thức thựctế, nhu cầu kiến thức của HS, đồng thời xác định các kiến thức phù hợp vớiPPDH đang sử dụng

Trang 28

1.1.4.2 Bước 2: Xác định mục tiêu bài học

Mục tiêu của bài học cần được xác định rõ ràng và cụ thể ở cả ba lĩnhvực: kiến thức, kĩ năng, thái độ, tư tưởng và tình cảm

- Về kiến thức, mục tiêu này được xây dựng dựa trên các cấp độ: biết,hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá

- Về kĩ năng: kĩ năng văn học; kĩ năng giao tiếp (trao dổi, lắng nghe –chia sẻ, trình bày, tranh luận ); kĩ năng tìm kiếm thông tin; kĩ năng tư duy(phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, hệ thống ); kĩ năng làm việc hợptác Tuy nhiên, cần lưu ý là trong mỗi bài học chỉ đưa ra 2 – 3 mục tiêu kĩnăng cần hình thành hay phát triển cho HS, như vậy mục tiêu giáo dục kĩnăng sống cho HS thông qua bài học mới khả thi

- Về thái độ, tư tưởng, tình cảm: tiếp thu, hưởng ứng, đánh giá, hànhđộng theo giá trị mới, quan điểm mới, có ý thức hợp tác với các thành viêntrong nhóm, tôn trọng thành quả lao động của người khác, có ý thức xây dựngnhóm, không ngừng học hỏi từ bạn bè Để thực hiện được mục tiêu này, GVphải thiết kế được các hoạt động học tập tạo hứng thú cho ngườ học, cung cấpcho HS thêm tư liệu, bổ sung kiến thức để HS nâng cao kĩ năng tự học

1.1.4.3 Lập kế hoạch dạy học

Ở quy trình này giáo viên phải thực hiện được ba bước: chọn nội dunghọc hợp tác; thiết kế các hoạt động học hợp tác và xây dựng được phương ánđánh giá

a) Chọn nội dung học hợp tác

GV cần lưu ý là không phải bất cứ nội dung nào trong bài học cũng cóthể áp dụng PPDHHT hiệu quả PP này nên áp dụng với những kiến thức

Trang 29

mang tính chất ôn tập, hệ thống hóa từng phần; những vấn đề cần ý kiến tậpthể; những vấn đề có liên quan đến thực tiễn; các câu hỏi cần sự phân tích,tổng hợp, xâu chuỗi các kiến thức cũ và mới để có câu trả lời chính xác Tóm lại, những nội dung được lựa chọn để thảo luận không quá dễ cũngkhông quá khó, phải dễ kích thích thảo luận, hợp tác giữa các HS với nhau.b) Thiết kế hoạt động học hợp tác

- Dựa vào nội dung đã chọn, GV đặt ra các mục tiêu cần đạt trên cả bốnmặt: kiến thức, kĩ năng, thái độ và tư tưởng GV thiết kế các hoạt động họchợp tác theo cấu trúc phù hợp thông qua các hình thức như: phiếu học tập, bàitập nhóm, thảo luận

- GV cần phải xây dựng hệ thống câu hỏi logic, phù hợp với trình độcủa HS Tùy từng nội dung bài học mà GV có thể chia ra thành nhiều phầnnhỏ khác nhau có mức độ tương đương nhau Có thể theo hình thức mỗi cánhân chịu trách nhiệm một phần nội dung và nhiệm vụ của nhóm là giải quyếtmột vấn đề mang tính tổng hợp các vấn đề của các thành viên; hoặc GV giaomột đề tài nhỏ cho một nhóm để HS tự phân công công việc cho các thànhviên trong nhóm

- GV cần phải dự kiến được các tình huống xảy ra trong quá trình HShoạt động như: có tranh cãi giữa các thành viên; có nhóm đi lạc hướng hoặccác thành viên không hợp tác với nhau

- Khi thiết kế hoạt động học tập cho HS theo hướng hợp tác, GV cầnlưu ý tới vấn đề chỗ ngồi, sự di chuyển hợp lí của HS trong giờ học, giảm tối

đa sự lộn xộn

c) Xây dựng tiêu chí đánh giá

Trang 30

Nhiệm vụ học tập đặt ra cho các nhóm HS rất đa dạng, phong phú, vìvậy, tùy theo từng cấu trúc hoạt động mà GV xây dựng phương án đánh giáriêng Tuy nhiên, cần phải có các yếu tố sau:

- Đánh giá được mức độ hoạt động của các thành viên để tránh hiệntượng ỷ lại, ăn theo

- Đánh giá được mức độ hợp tác của cả nhóm, có thể bằng hình thứckiểm tra một thành viên bất kì hay cả nhóm để giúp HS thấy được sự cố gắngcủa mỗi cá nhân đều quan trọng trong sự thành công của nhóm

- Đánh giá được sự tiến bộ của mỗi thành viên về mặt kiến thức và kĩnăng hoạt động Cần lưu ý PPDHHT không chỉ được áp dụng trong 1 – 2 tiếthọc mà phải vận dụng thường xuyên, trong thời gian dài, vì vậy, GV phải có

kế hoạch đánh giá sự thay đổi theo hướng tích cực, tiến bộ của HS trong suốtquá trình học

- GV cũng cần tạo điều kiện để HS tham gia vào quá trình tự đánh giálẫn nhau, để các em biết tự điều chỉnh bản thân và nâng cao ý thức học tập

Việc GV thiết kế phương án đánh giá, khen thưởng kịp thời, chính xác,công bằng sẽ tạo được niềm tin, sự hứng thú của HS với môn học và với cácthành viên còn lại của nhóm

1.1.4.4 Tổ chức giờ học hợp tác

Đối với quy trình tổ chức giờ học này, GV cần đảm bảo thực hiện đượccác bước: chia nhóm, giao nhiệm vụ, làm việc nhóm, báo cáo kết quả và nhậnxét, đánh giá

a) Bước 1: Chia nhóm

Trang 31

Việc chia nhóm ngẫu nhiên hay theo chủ định tùy thuộc vào mục đíchcủa việc hoạt động nhóm Có rất nhiều cách chia nhóm khác nhau:

- Nhóm theo khu vực gia đình HS

- Nhóm theo trình độ năng lực HS

- Nhóm theo sở thích bạn bè

- Nhóm theo cấu trúc tổ chức của lớp: tổ, nhóm

- Nhóm theo chỗ ngồi hay nhóm hỗn hợp đủ các thành phần HS: giỏi,khá, trung bình, yếu

Đối với số lượng thành viên của mỗi nhóm, GV căn cứ vào nhiệm vụ

và yêu cầu cần đạt để quyết định cho hợp lý Thời gian hoạt động nhóm cũngảnh hưởng đến việc chia nhóm, nếu thời gian cần cho hoạt động nhóm ngắnthì chọn nhóm nhỏ, ít HS sẽ có hiệu quả hơn nhóm lớn Thông thường, mộtnhóm có từ 2 – 6 HS là có hiệu quả nhất

Sau khi chia nhóm, HS phải chủ động hình thành nhóm và bầu ratrưởng nhóm (có thể do GV chỉ định) có vai trò điều hành nhóm trong suốtthời gian hoạt động của nhóm và một thư kí để ghi chép lại hoạt động củanhóm

b) Bước 2: Giao nhiệm vụ

- GV cần giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng cho các nhóm Việc lựa chọnhỏi mở hay đóng tùy thuộc vào nội dung yêu cầu và thường được sử dụngtheo hình thức phiếu học tập để HS hiểu và nắm rõ nhiệm vụ GV cũng cầnlưu ý hướng dẫn HS cách thực hiện, cách hợp tác giữa các thành viên trongnhóm và có thể cung cấp thêm tài liệu cho HS nếu cần thiết

Trang 32

- GV cần quy định rõ thời gian hoàn thành nhiệm vụ đủ để HS dichuyển và thảo luận, đồng thời, HS chủ động phân bố thời gian phù hợp vớicông việc.

- GV cũng cần thống nhất cách đánh giá, chấm điểm cá nhân vànhóm cho HS nắm rõ, tránh được sự lười nhác, ỷ lại của một số thành viênlười biếng

c) Bước 3: Làm việc trong nhóm

Căn cứ vào từng cấu trúc hoạt động hợp tác mà GV hay nhóm trưởngphân việc cụ thể cho từng thành viên của mình Nếu nhiệm vụ của nhóm đượcchia thành các mảng nhỏ thì mỗi thành viên cần phải nỗ lực hoàn thành phầnviệc của mình Khi thời gian làm việc cá nhân kết thúc, sẽ chuyển nhanh sangphần làm việc trong nhóm đó là thảo luận, chia sẻ thông tin, kiến thức để giảiquyết vấn đề Nếu nhiệm vụ nhóm là một vấn đề không cần chia nhỏ vàkhông có thời gian cá nhân làm việc riêng thì GV tổ chức cho HS trực tiếptiến hành trao đổi, thảo luận; lúc này nhóm trưởng có vai trò đôn đốc, hướngdẫn cũng như tạo dược môi trường làm việc thân thiện cho cả nhóm, thư kí cónhiệm vụ ghi chép tất cả ý tưởng của các thành viên trong nhóm

Tóm lại, dù diễn ra dưới hình thức nào thì công việc của các thành viêntrong nhóm là thu thập tin tức, tìm kiếm thông tin, tài liệu để hiểu được vấn

đề, sau đó chia sẻ với các thành viên còn lại, cuối cùng nhóm phải tổng hợp

và lựa chọn những ý kiến phù hợp để giải quyết vấn đề

d) Bước 4: Báo cáo kết quả làm việc

GV cần phải tổ chức tốt khâu báo cáo kết quả làm việc của các nhómbởi sau khi nghe báo cáo, các thành viên trong lớp phải nắm được nội dungkiến thức của bài học Gv có thể tổ chức cho HS báo cáo bằng nhiều cách:

Trang 33

- Đại diện từng nhóm trình bày kết quả làm việc của nhóm

- Chia bảng ra làm nhiều phần, các nhóm cùng lên viết kết quả thảoluận

- Các nhóm treo hoặc dán bảng phụ có ghi kết quả thảo luận của nhóm

GV phải quan sát, nhắc nhở các thành viên khác chú ý lắng nghe

e) Bước 5: Đánh giá, rút kinh nghiệm

Đây là công đoạn cuối trong giờ học, nhưng có tác động rất lớn đến

HS Gv đánh giá kết quả làm việc của các cá nhân và nhóm theo tiêu chí đãthống nhất từ trước hoặc tổ chức cho HS tự đánh giá lẫn nhau GV phải có sựkhen ngợi, khích lệ kịp thời đối với những nhóm làm việc tích cực, có hiệuquả, kịp thời phê bình những thành viên chưa có thái độ học tập đúng đắn

Sau khi có kết quả kiểm tra, GV cần tiến hành rút kinh nghiệm về cácmặt:

- Mục tiêu đặt ra đã hoàn thành chưa? Nếu chưa đạt thì do nguyên nhânnào

- Trong quá trình hoạt động hợp tác HS có vấn đề gì bất cập không?

Trang 34

- Kết quả hợp tác của HS có phản ánh đúng sự thật không?

- Cần nhận xét về hoạt động chung của nhóm; mức độ hoàn thành côngviệc của các thành viên; mức độ hợp tác giữa các thành viên trong nhóm

- GV cho HS thấy các kĩ năng được hình thành trong từng giai đoạnhoạt động và cho HS tự đánh giá các kĩ năng đó của bản thân đạt đến mức độnào

- GV cần nghe phản hồi từ phía HS về những cảm xúc, thuận lợi cũngnhư khó khăn khi tham gia bài học với PPDHHT như vậy

1.1.5 Ưu, nhược điểm của DHHT

1.1.5.1 Ưu điểm

Như đã nói trong thời gian gần đây, PPDHHT đang ngày càng đượcvận dụng phổ biến hơn trong dạy học ở nước ta Thực tế cho thấy PP dạy –học này có nhiều ưu điểm vượt trội:

- Tạo ra thành công trong học tập, HS đạt được thành tích tốt về họcvấn: Việc trao đổi nhóm trong hợp tác nhóm làm tăng khả năng khám phá,phát hiện vấn đề và phát triển các thao tác tư duy trong quá trình nhận thứccủa HS ở mức độ cao Trong quá trình hợp tác nhóm, luôn nảy sinh sự mâuthuẫn giữa các tư tưởng, quan điểm, cơ sở lí luận hay những thông tin tiếpnhận được của các thành viên trong nhóm Sự trao đổi giữa các thành viênkhiến thông tin xuất hiện nhiều lần, được nói ra, giải thích, nhờ vậy màthông tin lưu giữ trong trí nhớ lâu hơn

- Tăng cường khả năng tư duy phê phán: bởi nhiệm vụ của mỗi HS làtìm kiếm, kiểm tra, đánh giá thông tin một cách hợp lý sau đó lập kế hoạch và

Trang 35

giải quyết vấn đề Có thể thấy học hợp tác nâng cao tần số thực hành các thaotác tư duy cao hơn nhiều so với các phương pháp khác.

- Phát triển các kĩ năng giao tiếp và các kĩ năng xã hội khác: các kĩnăng này được hình thành và phát triển khi HS tham gia vào các hoạt độngthảo luận bởi khi đó các em phải biết cách trình bày, bảo vệ ý kiến cá nhân,biết cách lắng nghe người khác Ngoài ra, khi làm việc nhóm, HS có cơ hội

để phát triển năng lực quản lí, lãnh đạo để đưa ra các quyết định cần thiết

- Tác động tới ý thức học tập của HS: khi tham gia các nhóm hợp tác,

HS cần phải tìm kiếm thông tin, tri thức, điều đó tác động tích cực đến sựnhận thức trình độ kiến thức của cá nhân, từ đó HS có nhu cầu hoàn thiệnkiến thức của bản thân bằng nhiều cách khác nhau

- Tạo tâm lí thoải mái cho HS trong giờ học: tạo ra bầu không khí thânthiện, hòa nhập, người học sẽ cảm giác hứng thú hơn, tăng sức chịu đựng, làmviệc lâu mệt mỏi hơn

- Giúp HS dễ hòa nhập xã hội: trong quá trình hợp tác với các thànhviên trong nhóm, HS ý thức được vai trò, tầm quan trọng của việc hợp tác vớingười khác, đồng thời giúp các em biết sống hòa đồng, thân thiện, quan tâmtới mọi người xung quanh Những yếu tố này là thuận lợi để các em có thểhòa nhập với xã hội dễ dàng hơn

Trang 36

- DHHT không thích hợp với những bài học có nôi dung đơn giản,không cần thiết phải huy động trí tuệ của tập thể

- DHHT không phù hợp với lớp học có sĩ số quá đông vì GV sẽ khóbao quát được hoạt động của mọi HS

- PPDHHT đòi hỏi người GV phải có kiến thức sâu rộng và năng lựcgiao tiếp tốt, bởi người dạy sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn khi thiếu kiến thứcchuyên môn hoặc ít kinh nghiệm tổ chức các hoạt động tập thể

- Nếu GV không tổ chức, điều khiển tốt sẽ xảy ra tình trạng một vài cánhân khá giỏi lấn át vai trò của các thành viên còn lại; có thành viên ỷ lạikhông chịu làm việc hoặc giờ học hợp tác chỉ mang tính chất hình thức, HSkhông thực sự tham gia vào quá trình hợp tác với các thành viên khác để hìnhthành kiến thức cho bản thân

Mặc dù còn những tồn tại nhất định, nhưng nếu vận dụng thành côngPPDHHT sẽ tạo ra một môi trường giáo dục thân thiện, các cơ hội học tậpbình đẳng, HS không chỉ có kiến thức bài học mà còn có thêm các kĩ năngsống hữu ích, GV có thể đạt được mục tiêu giáo dục (truyền thụ kiến thức)đồng thời phát hiện và phát huy được nhiều hơn tiềm năng của HS Do đó,người GV cần có những biện pháp phù hợp để khắc phục hạn chế, phát huytối đa ưu điểm của PP dạy học này để góp phần nâng cao chất lượng nền giáodục nước nhà

1.2 Dạy học hợp tác trong bộ môn Ngữ văn

Theo quan niệm dạy học truyền thống, khi dạy học nhất là các môn xãhội, đặc biệt là ở bộ môn Ngữ văn, người GV đóng vai trò chủ chốt, họ sẽphải cố gắng truyền thụ tất cả hiểu biết của mình về tác phẩm đó cho HS,còn HS thì lắng nghe Tuy nhiên, với quan điểm đổi mới dạy học “lấy học

Trang 37

sinh làm trung tâm của quá trình dạy – học” buộc GV phải thay đổiphương pháp dạy học, thay đổi hình thức tổ chức dạy học, bởi cách dạyhọc truyền thống không còn phù hợp nữa Học hợp tác là một trong nhữngphương pháp có thể phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của họcsinh và phù hợp với xu thế của thời đại nên trong thời gian gần đây được

GV vận dụng khá phổ biến không chỉ ở các môn tự nhiên mà còn ở cácmôn xã hội, tiêu biểu là môn Ngữ văn

Trong thực tế, có không ít người hiểu chưa đúng về phương pháp họchợp tác – một phương pháp có thể áp dụng cho tất cả các môn học và các cấphọc – họ cho rằng nếu sử dụng hình thức tổ chức dạy học này GV sẽ rất

“nhàn” bởi không phải nói nhiều như cách dạy truyền thống Song, trong thực

tế để có thể tổ chức một giờ học hợp tác hiệu quả thì người GV cần phải nỗlực rất nhiều Trước hết, họ phải linh hoạt, sáng tạo trong việc thiết kế các bàitập, các tình huống học tập để HS tham gia giải quyết; nếu tình huống quákhó, HS sẽ chán nản, muốn bỏ cuộc, nếu tình huống quá dễ thì sẽ tạo cảmgiác nhàm chán, các em không muốn tham gia, hoặc nếu tình huống không cókhả năng khơi gợi sự hứng thú của các em thì giờ học đó cũng sẽ thất bại Đểlàm tốt điều này, đòi hỏi người GV không chỉ nắm vững kiến thức chuyênmôn, còn phải có khả năng sáng tạo, có hiểu biết với đối tượng giáo dục Thứ hai, để giờ học thành công, GV phải biết điều tiết không khí lớp học,khuyến khích các em tích cực, chủ động hợp tác với các thành viên trongnhóm để hình thành kiến thức, kĩ năng cho bản thân, để làm được điều nàyđòi hỏi GV phải có khả năng và kinh nghiệm trong việc tổ chức, điều khiểncác hoạt động ngoại khóa cho HS Thứ ba, trong quá trình HS thảo luận, GVkhông ngồi chơi mà phải bao quát được tình hình của các nhóm, khuyếnkhích, động viên các em tích cực thảo luận, cần hướng dẫn khi có nhóm HS đi

Trang 38

không chỉ dựa trên kết quả đạt được mà quan trọng hơn cả là phải đánh giáđược sự nỗ lực, sự tiến bộ của HS trong mỗi nhóm Có thể thấy, để tổ chứcđược giờ học hợp tác thành công đòi hỏi người GV cần phải nỗ lực rất nhiều,đặc biệt với bộ môn Ngữ văn càng yêu cầu cao hơn Với đặc thù bộ môn, khi

sử dụng PPDHHT trong giờ Ngữ văn, đòi hỏi người GV phải xây dựng được

hệ thống các bài tập thảo luận hợp lý nhằm khuyến khích được HS tích cựctham gia thảo luận Với lý do trên, chúng tôi sẽ tập trung vào trình bày việcthiết kế các bài tập thảo luận trong giờ học Ngữ văn

1.2.1 Yêu cầu với các câu hỏi thảo luận

Trước hết về mặt nội dung, câu hỏi thảo luận đưa ra phải liên quan đếnnội dung bài học, chẳng hạn như tình huống có vấn đề, có độ khó nhất địnhbuộc các thành viên trong nhóm phải tư duy, tìm câu trả lời để hình thànhkiến thức cho mình Do tổ chức trên lớp, có quy định thời gian học cụ thể, nêncâu hỏi thảo luận đưa ra không nên quá khó, có thể mất nhiều thời gian hoặctạo tâm lý chán nản cho HS; nếu có tình huống hay, cần nhiều thời gian tưduy, phân tích, GV có thể cho các nhóm về nhà nghiên cứu, tiết học sau sẽtrình bày kết quả trước lớp GV cũng không nên đưa ra các câu hỏi quá dễ vàđáp án đã có sẵn trong SGK nên HS không cần tư duy cũng có câu trả lời.Điều này dễ dẫn tới cảm giác nhàm chán cho các em Câu hỏi đưa ra phảixoáy sâu vào trọng tâm bài học, tránh đưa ra những câu hỏi quá vụn vặt, lẻ tẻ,

để khi HS giải quyết được câu hỏi đó thì cũng lĩnh hội được nội dung chínhcủa bài Hơn nữa, GV cần lựa chọn những câu hỏi có thể kích thích khả năng

tư duy của các em, nhất là những câu hỏi có liên hệ với thực tế, hoặc nhữngcâu hỏi mà ở đó các em có thể trình bày quan niệm sống, thái độ, tình cảm

của bản thân mình Chẳng hạn, khi dạy truyện cổ tích “Tấm Cám”, GV có

thể đưa ra một số câu hỏi như: “Với hai dị bản khác nhau về hành động của

Trang 39

cô Tấm và cái chết của mẹ con mụ dì ghẻ, em đồng tình với cách kết thúcnào? Tại sao?” Hay “Hành động của người dì ghẻ đã đem lại cho em những

suy nghĩ gì” Với truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh

Châu, GV có thể nêu câu hỏi: “Từ câu trả lời của người đàn bà trước tòa, em

có suy nghĩ gì về vấn đề công lí và hiện thực?”; “Nếu là nhân vật Phùng, khiđược nghe tâm sự của người đàn bà, em sẽ hành động như thế nào?”

Về mặt hình thức, các câu hỏi thảo luận phải ngắn gọn, súc tích, dễhiểu, tập trung vào vấn đề trọng tâm tránh lối diễn đạt dài dòng có thể khiến

HS bị nhầm lẫn nội dung chính Hình thức các bài tập phải đa dạng, GV cóthể yêu cầu các em thảo luận một câu hỏi, hoặc vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệgiữa các nhân vật, sơ đồ tổng kết tác phẩm, hay thu thập các câu ca dao, câu

đố, vở chèo phổ biến ở địa phương để giới thiệu về văn hóa dân gian nơimình sinh sống Chính hình thức các câu hỏi, bài tập đa dạng nên cách HStrình bày đáp án cũng không thể gò bó trong một cách duy nhất, GV có thểlựa chọn linh hoạt giữa các cách như đứng tại chỗ trình bày, đứng trước lớpthuyết trình, điền vào sơ đồ, trình bày trên bảng, hay tổ chức cho HS diễn,đóng kịch tại lớp

Như vậy, để có thể đáp ứng được các yêu cầu về việc thiết kế câu hỏi,bài tập thảo luận phù hợp trong giờ học hợp tác, GV cần phải xác định đúngnội dung trọng tâm bài học, những kiến thức, kĩ năng HS cần hình thành đượcsau giờ học và phải nắm được khả năng của HS lớp mình dạy Trên những cơ

sở đó, GV tiến hành xây dựng câu hỏi cho từng bài học, từng lớp học mới cóthể đạt hiệu quả cao

1.2.2 Một số dạng câu hỏi, bài tập thảo luận

Trong giáo trình “Tổ chức dạy học hợp tác trong dạy học Ngữ văn”,

TS Nguyễn Thị Hồng Nam đã chia thành ba dạng bài tập chính [10; 21, 22]:

Trang 40

Thứ nhất, các bài tập định hướng bài học: GV có thể yêu cầu HS đọcbài ở nhà, ghi lại những câu hỏi, những thắc mắc của mình, khi lên lớp, nhữngcâu hỏi đó sẽ được đưa ra thảo luận; hoặc cho các nhóm chuẩn bị từng vấn đề

cụ thể về tác phẩm, HS sẽ lên thuyết trình về vấn đề đó; hay yêu cầu HS sơutầm các tài liệu có liên quan đến bài học sắp tới

Thứ hai, các bài tập giúp HS khám phá kiến thức mới: GV có thể sửdụng rất nhiều dạng bài tập như yêu cầu HS so sánh, phân tích, tổng hợp mộtvấn đề nào đó trong tác phẩm; hoặc yêu cầu các em viết các bài, đoạn ngắn,sau đó cho HS kiểm tra chéo nhau; GV đưa ra các đoạn văn, bài văn có lỗisai, yêu cầu các em tìm và chữa cho đúng

Thứ ba, dạng bài ôn tập, củng cố kiến thức: GV có thể yêu cầu HS tómtắt lại nội dung chính của bài học hay phần học bằng một số hình thức nhưviết, vẽ sơ đồ, lập bảng thống kê phân loại ; hoặc sau một bài học GV lậpnhóm gồm 2 HS, trong đó 1 HS đưa ra câu hỏi có liên quan đến bài học, 1 HS

sẽ trả lời

Với những dạng bài tập phong phú như vậy, GV sẽ căn cứ vào yêu cầucủa bài, đặc điểm cụ thể của từng phân môn, tình hình học tập của HS để cónhững lựa chọn phù hợp để giờ học hợp tác được thành công

Ngày đăng: 02/04/2017, 09:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đức Ân (1996), Một số vấn đề về dạy học giảng văn, ĐHQG TPHCM, Trường ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về dạy học giảng văn
Tác giả: Nguyễn Đức Ân
Nhà XB: ĐHQG TPHCM
Năm: 1996
2. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1995
3. Nguyễn Lăng Bình (chủ biên) (2010), Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học (Dự án Việt – Bỉ), NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực – Một sốphương pháp và kĩ thuật dạy học
Tác giả: Nguyễn Lăng Bình (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2010
4. Bộ giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 11 (tập 1), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11 (tập 1)
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
5. Bộ giáo dục và Đào tạo (2007), Sách giáo viên Ngữ văn 11 (tập 1), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn 11 (tập 1)
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
6. Bộ giáo dục và Đào tạo (2008), Ngữ văn 11 nâng cao (tập 1), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11 nâng cao (tập 1)
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
7. Bộ giáo dục và Đào tạo (2008), Sách giáo viên Ngữ văn 11 (tập 1), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn 11 (tập 1)
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
8. Bộ giáo dục và Đào tạo (2010), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn 11
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
9. Nguyễn Hữu Châu (2005), “Dạy học hợp tác”, Tạp chí Thông tin khoa học giáo dục (114), tr.2-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hợp tác
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: Tạp chí Thông tin khoa học giáo dục
Năm: 2005
10. Nguyễn Viết Chữ (2010), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chươngtrong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
11. Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier (2012), Lý luận dạy học hiện đại, Postdam (Đức) – Hà Nội (Việt Nam) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier
Nhà XB: Postdam (Đức)
Năm: 2012
12. Ngô Thị Thu Dung (2001), “Mô hình tổ chức giờ học theo nhóm trong giờ học trên lớp”, Tạp chí giáo dục (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tổ chức giờ học theo nhóm trong giờhọc trên lớp”, "Tạp chí giáo dục
Tác giả: Ngô Thị Thu Dung
Năm: 2001
13. Ngô Thị Thu Dung (2002), “Một số vấn đề lí luận về kĩ năng học theo nhóm của học sinh”, Tạp chí giáo dục (46), tr 9-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lí luận về kĩ năng học theonhóm của học sinh”, "Tạp chí giáo dục
Tác giả: Ngô Thị Thu Dung
Năm: 2002
14. Hà Văn Đức (1991), “Nguyễn Tuân và cái đẹp”, Tạp chí khoa học số 5, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Tuân và cái đẹp”, "Tạp chí khoa học
Tác giả: Hà Văn Đức
Năm: 1991
15. Trần Thị Bích Hà (2006), “Một số trao đổi về học hợp tác ở trường Phổ thông”, Tạp chí giáo dục (146), tr 20-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số trao đổi về học hợp tác ở trường Phổ thông
Tác giả: Trần Thị Bích Hà
Nhà XB: Tạp chí giáo dục
Năm: 2006
16. Lê bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từđiển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
17. Trần Bá Hoành (2002), “Những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực”, Tạp chí giáo dục (32), tr 26-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc trưng của phương pháp dạy học tíchcực”, "Tạp chí giáo dục
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 2002
18. Trần bá Hoành (2007), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa
Tác giả: Trần bá Hoành
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2007
19. Nguyễn Thanh Hùng (2008), Đọc – hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc – hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2008
20. Nguyễn Thanh Hùng (2010), Đọc và tiếp nhận văn chương, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc và tiếp nhận văn chương
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB Giáodục
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê điểm cụ thể của 4 lớp 11A1, 11A2, 11A3 và 11A5 - VẬN DỤNG dạy học hợp tác HƯỚNG dẫn học SINH lớp 11 PHÂN TÍCH TRUYỆN NGẮN “CHỮ NGƯỜI tử tù” của NGUYỄN TUÂN
Bảng th ống kê điểm cụ thể của 4 lớp 11A1, 11A2, 11A3 và 11A5 (Trang 127)
Bảng tổng hợp điểm giữa lớp thực nghiệm và đối chứng - VẬN DỤNG dạy học hợp tác HƯỚNG dẫn học SINH lớp 11 PHÂN TÍCH TRUYỆN NGẮN “CHỮ NGƯỜI tử tù” của NGUYỄN TUÂN
Bảng t ổng hợp điểm giữa lớp thực nghiệm và đối chứng (Trang 128)
Sơ đồ mối quan hệ giữa GV và HS trong thảo luận nhóm - VẬN DỤNG dạy học hợp tác HƯỚNG dẫn học SINH lớp 11 PHÂN TÍCH TRUYỆN NGẮN “CHỮ NGƯỜI tử tù” của NGUYỄN TUÂN
Sơ đồ m ối quan hệ giữa GV và HS trong thảo luận nhóm (Trang 132)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w