Là nhà văn tham chiến trong lựclượng quân đội Sài Gòn, có lẽ Phan Nhật Nam đã trải nghiệm chiến tranh vớitất cả sự nghiệt ngã, cay đắng của một người cầm súng mà không tìm thấyđiểm tựa c
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích ý nghĩa của đề tài 6
4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Cấu trúc luận văn 8
PHẦN NỘI DUNG 9
Chương 1: CÁI NHÌN VỀ CHIẾN TRANH VÀ TINH THẦN PHẢN CHIẾN TRONG VĂN HỌC ĐÔ THỊ MIỀN NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1975 9
1 Những góc nhìn chiến tranh 9
1.1 Khái niệm chiến tranh 9
1.2 Chiến tranh dưới góc độ ý thức hệ 13
1.3 Chiến tranh dưới góc nhìn triết học - văn hóa 18
2 Tinh thần phản chiến trong văn học đô thị miền Nam 23
2.1 Hai quan niệm về phản chiến 23
2.2 Phản chiến – nguồn cảm hứng lớn trong văn học 25
Chương 2: HIỆN THỰC CHIẾN TRANH QUA CÁI NHÌN PHẢN CHIẾN CỦA PHAN NHẬT NAM 30
1 Chiến tranh – sự hủy diệt dã man, tàn bạo nhất 33
1.1 Chiến tranh phủ màu điêu tàn lên mảnh đất quê hương 34
1.2 Chiến tranh – kẻ thù của sự sống 37
2 Chiến tranh – hiện thực trần trụi về người lính 41
2.2 Người lính và sự đổ vỡ về tinh thần 48
Trang 23 Chiến tranh – nỗi bi thảm tột cùng của người dân nơi chiến địa 54
3.1 Những cái chết thành “chuyện thường ngày” 54
3.2 Những chấn thương tinh thần nặng nề 57
Chương 3: TINH THẦN PHẢN CHIẾN VÀ NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CỦA PHAN NHẬT NAM 62
1 Những biểu tượng ám ảnh 62
1.1 Sắc đỏ - biểu tượng của ám ảnh chết chóc 62
1.2 Nước – biểu tượng của sự sống và khát vọng rửa trôi tội lỗi 65
2 Giọng điệu trần thuật 68
2.1 Giọng chán nản chua chát 69
2.2 Giọng xót xa, thương cảm 71
3 Tổ chức hệ thống ngôn từ 74
3.1 Ngôn từ bạo liệt và trần trụi của đời sống chiến tranh 74
3.2 Ngôn ngữ của tâm trạng con người 77
PHẦN KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn học Việt Nam thời kỳ chống Mỹ 1954 – 1975 luôn được xem
là một trong những giai đoạn hào hùng mà bi tráng bậc nhất trong lịch sử vănhọc Người ta đã nói nhiều đến cảm hứng lãng mạn, tính sử thi hay chủ nghĩaanh hùng cách mạng như những đặc điểm nổi bật ở thời kỳ này Tuy nhiên, vìhoàn cảnh cực đoan của lịch sử nên mảng văn học ở vùng tạm chiếm miềnNam thì không có cùng những đặc điểm đó Nhu cầu tái hiện khách quan bứctranh văn học sử đòi hỏi người nghiên cứu hôm nay phải tìm hiểu nghiêm túc
về mảng văn học lâu nay còn ít được chú ý này Chắc chắn có nhiều tác phẩmtầm thường hoặc sai lạc nhưng cũng có không ít tác phẩm có giá trị lâu dài
Đó là những tác phẩm có khả năng cung cấp cho chúng ta tri thức xác thực vềnhững biến cố đương thời và tâm trạng của người trong cuộc Đọc những tácphẩm viết về chiến tranh từ phía “bên kia”, người đọc không thấy ánh hàoquang chiến thắng mà chỉ thấy một bộ mặt chiến tranh tàn nhẫn, khốc liệt.Tâm trạng nào, cách nhìn nào đã vẽ nên hiện thực đầy bi đát đó?
1.2 Với đề tài chiến tranh, Phan Nhật Nam là cái tên gây ấn tượng
mạnh cho nhiều người đọc đương thời Là nhà văn tham chiến trong lựclượng quân đội Sài Gòn, có lẽ Phan Nhật Nam đã trải nghiệm chiến tranh vớitất cả sự nghiệt ngã, cay đắng của một người cầm súng mà không tìm thấyđiểm tựa chính nghĩa Những sự thật đọng lại trong trang viết của ông giúpngười đọc hiểu hơn về một cuộc chiến đau khổ và tàn khốc trong cảm nhậncủa những người lính bên kia chiến tuyến, nhất là tâm sự ăn năn đeo đẳng,làm nên một tinh thần phản chiến mãnh liệt Có thể nói, tinh thần phản chiến
là nơi chứa đựng những yếu tố nhân văn tích cực nhất, là tư tưởng nổi bậtnhất trong sáng tác của Phan Nhật Nam Nó là chiếc cầu nối để hậu thế tiếp
Trang 4cận sự thật và thêm hiểu về những người lính cộng hòa bị cuốn vào cuộcchiến đầy bi kịch với mặc cảm tội lỗi thường xuyên giày vò tâm lý họ.
1.3 Trong một vài năm gần đây, hàng trăm tác giả, dịch giả của văn
học đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 đã được các nhà xuất bản chọnlọc và giới thiệu tác phẩm đến bạn đọc cả nước Tuy mới chỉ là bước đầunhưng việc nghiên cứu khu vực văn học này đang trở thành một đòi hỏi khoahọc cấp thiết vì ngoài ý nghĩa bổ sung cho những khuyết thiếu của bức tranhvăn học sử, nó còn đáp ứng khát vọng hòa giải, hòa hợp dân tộc bằng việc đọchiểu đời sống tâm hồn của hàng triệu đồng bào một thời bị cuốn vào hoàncảnh trớ trêu của lịch sử Một trong những nơi chứa đựng giá trị nhân văn độcđáo của các tác giả ở miền Nam khi ấy là tinh thần phản chiến, lại chưa đượckhảo sát thật sự kĩ lưỡng trong một công trình nghiên cứu nào Chúng tôimạnh dạn lựa chọn một tác giả tiêu biểu trong mảng đề tài chiến tranh để tìmhiểu về tư tưởng này
2 Lịch sử vấn đề
Văn học đô thị miền Nam những năm 1954 – 1975 là một bộ phậnphức tạp nhưng chứa đựng nhiều vấn đề thú vị Sự đa dạng về các khuynhhướng thẩm mĩ và thái độ với hiện thực đã đưa đến những phản ứng khácnhau của người đọc
Trước khi cuộc chiến tranh Việt - Mỹ kết thúc, một số nhà nghiên cứu
ở miền Bắc đã có bài viết phân tích đánh giá tình hình văn nghệ miền Nam
nhưng thường là với cái nhìn phiến diện và rất khắt khe Các tác giả sách Văn hóa văn nghệ miền Nam dưới chế độ Mỹ Ngụy, Lữ Phương trong cuốn Cuộc xâm lăng về văn hóa tư tưởng của đế quốc Mỹ tại miền Nam Việt Nam, Thạch Phương với bài viết Khuynh hướng chống cộng - mũi xung kích của văn học thực dân mới, Nguyễn Huy Khánh với bài Mấy suy nghĩ
về vấn đề nghiên cứu văn học thực dân mới ở miền Nam… đã đứng trên lập
Trang 5trường ý thức hệ để quyết liệt phê phán, phủ nhận sáng tác của các nhà văn ở
“phía bên kia” Họ cho tất cả đều là những tác phẩm suy đồi, ru ngủ nhân dân,như những nọc độc của văn học thực dân kiểu mới
Trần Trọng Đăng Đàn trong công trình “Văn hóa văn nghệ phục vụ chủ nghĩa thực dân mới Mỹ tại Nam Việt Nam 1954 – 1975” đã gọi đó là
những thứ văn học phản động, đồi trụy hóa con người, chạy theo thị hiếuthẩm mĩ tầm thường để kiếm tiền Tác giả mỉa mai khuynh hướng văn học
phản chiến: “Những lúc này, các tác phẩm phản đối chiến tranh – không phải chiến tranh cách mạng mà ngay cả phản đối thứ chiến tranh chung chung, đưa ra một thứ nhân đạo phi tính giai cấp, than thở cho cái “thân phận da vàng”, kêu than trước “nỗi buồn nhược tiểu” [190, 5] Ông dứt khoát phân biệt chủ nghĩa nhân đạo tư sản và chủ nghĩa nhân đạo vô sản, phân ra chiến tranh cách mạng và chiến tranh phản cách mạng Sáng tác của Phan Nhật
Nam đương nhiên bị xếp vào khuynh hướng văn học phản động Ông cho
rằng: “Ta lại thấy trong các thứ tác phẩm “văn học” phục vụ cho chính sách thực dân mới ở miền Nam hai mươi năm ấy nhan nhản những luận điệu, những thủ pháp, những ý, những lời nhằm biến tà thành chính, tô son, vẽ phấn cho bọn ngụy quân, ngụy quyền, bọn cố vấn” thâm độc và khát máu Mỹ; mô tả những tên bắn thuê giết mướn, những tên cướp nước độc ác ấy như là những thần tượng, những “người hùng”, những kẻ hi sinh, “chiến đấu” vì nước vì dân, những kẻ “dũng cảm xả thân” vì “chính nghĩa tự do”,
vì “tinh thần nhân loại”… trong hàng loạt tác phẩm như “Dọc đường số một”, “Dấu binh lửa, “Mùa hè đỏ lửa”… của Phan Nhật Nam” [261,5] Cái
nhìn của Trần Trọng Đăng Đàn tiêu biểu cho các nghiên cứu ở miền Bắctrước năm 1975 về văn học vùng tạm chiếm miền Nam cũng như nghệ thuậtthuộc các ý thức hệ khác với ý thức hệ xã hội chủ nghĩa
Trang 6Trái ngược với quan điểm đó, các cây bút phê bình cùng thời với PhanNhật Nam ở Sài Gòn trước năm 1975 và ở hải ngoại sau 1975 lại bộc lộ ýhướng đề cao khẳng định thái quá Tuy nhiên một số người khi đánh giá mảngvăn học này (nói chung) và sáng tác của Phan Nhật Nam (nói riêng) đã vậndụng thêm những tiêu chí khác Họ có lúc cũng dùng tiêu chí chính trị - ýthức hệ (tất nhiên là phi macxit) để bày tỏ thái độ chống cộng, ca ngợi chủnghĩa quốc gia nhưng họ có chỗ khả thủ khi biết dựa trên tiêu chí nhân văn -
thẩm mĩ Võ Phiến trong “Văn học miền Nam: Tổng quan” đã phân tích khá
khách quan các yếu tố của sinh hoạt văn học (nhà văn, độc giả, xuất bản) vàđặc điểm tình hình văn học 1954-1975 Ông cũng chỉ ra mối quan hệ phức tạpgiữa văn chương với chính trị, tôn giáo và bước đầu khái quát được đặc điểmriêng của từng thể loại như thơ ca tiểu thuyết kịch Trong cuốn sách này, VõPhiến khá công bằng khi nhắc đến Phan Nhật Nam rằng Phan Nhật Nam có
“lối phóng bút hùng hổ như vũ như bão” Ông viết: “Trong năm 1964, Phan Nhật Nam nhiều lần kêu gào thảm thiết (…) Phan Nhật Nam là “lính già” nhưng là “văn sĩ non” Ý tôi muốn nói ông thuộc lớp trẻ Nỗi thất vọng của người trẻ lồng lên dữ dằn” Tác giả công trình còn lý giải mối quan hệ giữa nhà văn họ Phan với thời cuộc: “Phan Nhật Nam, ông là một cơn phẫn nộ, một trận lôi đình ầm ĩ trước những bạo tàn ngoài tiền tuyến, những xáo trộn
vô trách nhiệm ở hậu phương Ông lăn xả vào thời cuộc chính trị, vào chiến trận quân sự, ông văng tục xỉ vả tưng bừng Trái ngược với lớp trẻ mười năm trước, ông dấn thân hết mình, bám sát thời thế” Có thể nói, trong con mắt
của người cầm bút cùng thời, sáng tác của Phan Nhật Nam có hay có dởnhưng không nhạt nhẽo và nhất là tinh thần phản chiến trở thành một đặcđiểm nổi bật để người ta nhận diện gương mặt riêng của ông
Vương Trí Nhàn trong bài trả lời phỏng vấn có tựa đề “Văn học miền Nam 1954 - 1975 theo cách nhìn của Vương Trí Nhàn hôm nay”[30] cũng
Trang 7đề cập đến sáng tác của Phan Nhật Nam Ông cho rằng phần khả thủ, nhân
văn của văn học miền Nam thể hiện ở sự “thông cảm, thấy tất cả những sự phức tạp, cái ghê gớm, cái đa đoan rắc rối của con người, nói chung là chia
sẻ với con người trong trạng thái nhân thế nhiều khi kỳ cục của nó và gợi ý
để mọi người cùng suy nghĩ tiếp về kiếp nhân sinh” Để minh chứng, Vương Trí Nhàn lấy tác phẩm của Phan Nhật Nam làm ví dụ Ông nhận định: “Theo tôi, “Dấu binh lửa” gây ấn tượng mạnh, vì nó cho thấy sự tan vỡ tâm hồn, tan vỡ đời sống tinh thần của một lớp người thanh niên khi vào đời là vào với chiến tranh Từ chỗ là một người đầy nhiệt huyết, muốn biết, muốn hiểu, muốn đóng góp, muốn làm cái gì cho xứ sở, nhân vật xưng tôi ở đây biến thành người không còn là mình nữa, chai lỳ, bất nhẫn, chỉ muốn đập phá”.
Vương Trí Nhàn còn cho người đọc biết thêm cách nhìn của vài nhà văn nổi
tiếng ở miền Bắc về Phan Nhật Nam: “Tôi nhớ là những nhà văn như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, khi đọc cuốn này đều thấy nể, ngay cách diễn tả, cách viết rất trực tiếp và khả năng sử dụng tiếng Việt trong “Dấu binh lửa” cũng đáng ghi nhận Khoảng 1990-91 xuất hiện “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, đọc “Nỗi buồn chiến tranh” tôi lại nhớ đến “Dấu binh lửa” Nhà tôi lúc đó gần nhà Bảo Ninh, tôi có đưa cho anh xem Khi trả Bảo Ninh có nói với tôi - không biết bây giờ anh có nhớ không, nhưng tôi vẫn nhớ Rằng nếu tôi đọc cuốn này trước thì có lẽ tôi sẽ viết khác đi” Nhà phê bình nhấn mạnh ấn tượng riêng của mình: “Có cảm tưởng rằng đây là một trong những cuốn sách viết về chiến tranh mà bọn tôi không thể quên nổi và ở chỗ đó, nó cho thấy sự cần thiết tức cũng là những đóng góp của Văn học miền Nam, với vai trò ghi nhận được trạng thái nhân thế của con người một thời, tất cả những đau đớn, vật vã của con người trong một hoàn cảnh phi nhân văn và chính từ đó chúng ta có thể giải thích tất cả những biến động trong đời sống
từ sau 75 đến nay”[30] Như vậy, qua đánh giá của Vương Trí Nhàn, tác
Trang 8phẩm của Phan Nhật Nam không chỉ chứa đựng nội dung lịch sử mà còn cógiá trị về nghệ thuật văn chương.
Ngoài ra trên các trang mạng trực tuyến, chúng tôi cũng tìm thấy một
số bài viết về Phan Nhật Nam Các bài viết: Phan Nhật Nam, văn chương và những hệ lụy thời thế của Nguyễn Mạnh Trinh, Ba mươi năm sau đọc lại "Dựa lưng nỗi chết" của Phan Nhật Nam của Liễu Trương, Phan Nhật Nam - Kẻ Phục Hồi Danh Dự Người Chết của Du Tử Lê, Phan Nhật Nam giữa chúng
ta của Lưu Na… chủ yếu khẳng định giá trị các tác phẩm của Phan Nhật Nam Tiêu biểu là bài viết của Lưu Na: “Nhưng những hàng chữ của Phan Nhật Nam mở ra một quê hương nhức nhối, mở ra những mảnh đời vốn hiển nhiên chung quanh mà lại là một bí mật mới được khám phá - người lính, người dân vùng lửa đạn, những nạn nhân trong cuộc phong ba” [24]
Nhìn chung, chủ đề phản chiến trong văn học đô thị miền Nam và trongsáng tác của Phan Nhật Nam đã ít nhiều được chạm đến nhưng chủ yếu lànhững ấn tượng ban đầu, chưa có sự lý giải thấu đáo Luận văn của chúng tôimuốn góp thêm một tiếng nói bổ khuyết chỗ thiếu hụt này qua trường hợpPhan Nhật Nam
3 Mục đích ý nghĩa của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài “Tinh thần phản chiến trong sáng tác của Phan Nhật Nam (Khảo sát qua ba tác phẩm Dấu binh lửa, Mùa hè đỏ lửa và Dựa lưng nỗi chết)”, chúng tôi hi vọng gạn lọc được những giá trị trong văn chương đích
thực của tác giả, đồng thời có thể khu biệt ông với các cây bút cùng đề tàiđương thời
3.2 Ý nghĩa của đề tài
- Về khoa học: chúng tôi mong muốn khẳng định một khuynh hướngcòn chưa được nhìn nhận đúng trong văn học về đề tài chiến tranh ở đô thịmiền Nam và dấu ấn riêng của Phan Nhật Nam ở đề tài này
Trang 9- Về thực tiễn: đề tài góp thêm cứ liệu vào việc nghiên cứu văn học đôthị miền Nam trước 1975 trên định hướng lấp đi những chỗ khuyết thiếu củabức tranh văn học sử Với chủ trương hòa giải, hòa hợp dân tộc, đề tài nàycũng nhằm ghi nhận một phần đời sống, tâm hồn, tình cảm của người dânvùng tạm chiếm miền Nam thời Mỹ - Ngụy.
4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Sáng tác của Phan Nhật Nam nổi bật nhất là tư tưởng phản chiến Ở tácphẩm nào ông cũng cho thấy thái độ chán ghét chiến tranh, sự uể oải, rã rờicủa người lính cộng hòa Tìm hiểu tinh thần phản chiến của Phan Nhật Nam,chúng tôi mong muốn nhận diện và lý giải một trong những đặc điểm khácbiệt của văn chương miền Nam so với văn chương miền Bắc trên cùng một đềtài chiến tranh, ở cùng một giai đoạn lịch sử Đồng thời nhìn nhận lại nhữngđóng góp và hạn chế của Phan Nhật Nam từ điểm nhìn hiện tại khi đã có độgiãn cách thời gian và sự tiếp nhận của công chúng đã được gỡ bỏ nhiều địnhkiến hẹp hòi thời trước
4.2 Phạm vi tư liệu nghiên cứu
Luận văn sẽ đi khảo sát ba tác phẩm tiêu biểu nhất của Phan Nhật Nam,
cụ thể là:
Bút ký “Dấu binh lửa” - 1969
Bút ký “Mùa hè đỏ lửa” - 1972
Tiểu thuyết “Dựa lưng nỗi chết” - 1973
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi phối hợp sử dụng những thao tác nghiêncứu cơ bản sau:
Phương pháp phân tích: Đây là phương pháp cơ bản mà luận văn sử
dụng Người viết đi sâu tìm hiểu từng tác phẩm cụ thể của Phan Nhật Nam để
Trang 10phân tích các chi tiết tiêu biểu Từ đó, có thể tiếp cận được những biểu biểuhiện của tinh thần phản chiến trong sáng tác của nhà văn.
Phương pháp so sánh: xuất phát từ đặc thù đối tượng của luận văn,
chúng tôi sẽ xem xét tinh thần phản chiến trong sáng tác của Phan Nhật Namđặt trong quan hệ so sánh với các tác phẩm cùng viết về chiến tranh để có thểnhìn nhận được những đóng góp và hạn chế của Phan về mảng đề tài này
Phương pháp tổng hợp: với phương pháp này, chúng tôi sẽ có được cái
nhìn toàn diện về sáng tác của Phan Nhật Nam và từ đó rút ra được đặc điểmcủa tinh thần phản chiến trong những tác phẩm đó
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được triển khai theo bachương:
Chương 1: Cái nhìn về chiến tranh và tinh thần phản chiến trong văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975.
Chương 2: Hiện thực chiến tranh qua cái nhìn phản chiến của Phan Nhật Nam.
Chương 3: Tinh thần phản chiến và nghệ thuật biểu hiện của Phan Nhật Nam.
Trang 11PHẦN NỘI DUNG Chương 1:
CÁI NHÌN VỀ CHIẾN TRANH VÀ TINH THẦN PHẢN CHIẾN
TRONG VĂN HỌC ĐÔ THỊ MIỀN NAM
GIAI ĐOẠN 1954 - 1975
1 Những góc nhìn chiến tranh
1.1 Khái niệm chiến tranh
Lịch sử nhân loại đã trải qua không biết bao nhiêu cuộc chiến tranh lớnnhỏ Chiến tranh là một hiện tượng chính trị - xã hội có tính chất lịch sử, là sựtiếp tục của chính trị bằng bạo lực giữa các tập đoàn xã hội trong một nướchoặc giữa các nước hay liên minh các nước Chiến tranh giải quyết bằng vũtrang xung đột do mâu thuẫn giữa các tư tưởng khác nhau
Khái niệm chiến tranh xưa nay vẫn được hiểu là “sự xung đột vũ trang giữa các dân tộc, các quốc gia, các giai cấp, các tập đoàn nhằm thực hiện mục đích chính trị kinh tế nhất định” [174,35] Đặc trưng của chiến tranh là
đấu tranh vũ trang có tổ chức, theo những quy tắc nhất định và thường kếthợp với các hình thức đấu tranh khác (chính trị, kinh tế, ngoại giao )
Nguyên nhân của chiến tranh thường bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa cácgiai cấp, dân tộc, tôn giáo phát triển đến mức gay gắt nhất hoặc do mâu thuẫntrong nội bộ một dân tộc, tôn giáo Những mâu thuẫn này xuất phát từ thamvọng riêng của mỗi bên liên quan Khi những tham vọng này đối chọi nhauđến mức không thể dung hòa thì chiến tranh xảy ra
Chiến tranh không chỉ gây tổn hại về vật chất mà còn tàn phá cả nhữnggiá trị văn hóa tinh thần Tuy nhiên, chiến tranh không chỉ đem đến sự đentối, hoang tàn mà còn có thể hàm chứa sự tiến bộ, khi nó đóng vai trò là độnglực quan trọng của quá trình phát triển, tiến hóa
Trang 12Nhiều nhà tư tưởng lớn trên thế giới đã khẳng định chiến tranh trướchết là quy luật phát triển của xã hội, là một quy luật tiền đề mang đến sự pháttriển chung cho nhân loại, như một hình thức xác lập sự tồn tại của thế giới.
Trong quan niệm của Hêraclít (khoảng 535 TCN – 475 TCN), “chiến tranh”
hay “đấu tranh” là một trong các hình ảnh – khái niệm quan trọng nhất Ônggọi chiến tranh là “cha đẻ” và “hoàng đế” của mọi thứ hiện tồn “Chiến tranh”vừa là cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập vừa là sự thống nhất của chúng.Hêraclít còn cho rằng đấu tranh là nguồn gốc của mọi cái đang diễn ra trong
vũ trụ và đó là một mặt trong “sự sống” Mặt kia của “sự sống” ấy là tính hòahợp, tính có trật tự, tính hài hòa Một chỉnh thể thống nhất bao giờ cũng tồntại các mặt đối lập của nó, giống như cái ác bao giờ cũng tồn tại tương quan
với cái thiện, cái chết có mặt đối lập là cái sống và ngược lại… “Khi nói tới chiến tranh hay đấu tranh với tư cách là nguồn gốc của mọi sự vận động và biến đổi, Hêraclít cũng đã nói tới chiến tranh chính nghĩa: "Chiến tranh là phổ biến, chính nghĩa tức là chiến tranh" Theo ông, cái chết vì chiến tranh chính nghĩa là cái chết đáng được tôn vinh: "Thần và người đều tôn sùng những người chết nơi chiến trường", "Cái chết càng vĩ đại thì người chết nhận được phần thưởng càng lớn” [50] Coi chiến tranh như sự đấu tranh giữa
các mặt đối lập, khái niệm chiến tranh của Hêraclít với tư cách là nguồngốc của mọi sự vận động và phát triển trong vũ trụ, không mang ý nghĩatiêu cực
Đọc hai áng sử thi Iliade và Odyssei của Homère, người ta nhận thấyrằng, những nhân vật không phải là những lực sĩ trên đồng ruộng, giỏi khẩnhoang, làm cỏ, cày xới, mà thiên về phô trương sự thiện chiến và nỗ lực chinhphạt các miền đất mới Ở đây, chiến tranh đã trở thành cơ sở tạo dựng và tônvinh những vị thủ lĩnh Họ khẳng định quyền lực của mình bằng cách dấnthân vào những cuộc phiêu lưu bằng máu Có thể nói trong quan niệm thời cổđại, chiến tranh xảy ra là điều bình thường, tất yếu
Trang 13G.W.F.Hegel (1770 - 1831) - nhà triết học duy tâm khách quan, đại
biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức - cũng đã từng bày tỏ quan điểm vềchiến tranh Ông gọi đó là “chiến đấu sống chết” Ông cho rằng, một ý thứcbản ngã được thoả mãn trong một ý thức bản ngã khác khi mà bên này được
bên kia công nhận Để được sự công nhận ấy, hai bên tấn công lẫn nhau “mỗi bên chứng tỏ mình và hai bên chứng tỏ lẫn nhau bằng cách chiến đấu sống chết” [49] Như vậy, cuộc chiến đấu sinh tử vừa là một sự kiện lịch sử, vừa
tồn tại trong ý thức cá nhân như một điều căn bản thiết lập phẩm giá conngười Đó là một quá trình chiến đấu tàn khốc, buổi đầu do nhân dân thị tộcbảo vệ tài sản cộng đồng, sau biến thành chiến tranh giữa các tầng lớp quý tộc
bộ lạc tranh giành của cải và uy tín “Chiến đấu sống chết” là một hiện tượng
xã hội xuất hiện do những mâu thuẫn khách quan phát triển trong phươngthức sản xuất nguyên thủy Chiến tranh vì quyền lợi, vì muốn được côngnhận, vì danh dự của người ta, vậy đã làm người thì phải có chiến tranh Nóitóm lại, trình bày như Hegel, cuộc chiến đấu sống chết như một hình thái thựchiện sự công nhận lẫn nhau, khẳng định ý thức danh dự Chiến tranh đã trởthành một hiện tượng phổ biến để giải quyết mâu thuẫn xã hội và cũng khôngmang ý nghĩa tiêu cực
Sơ qua những quan điểm trên ta thấy, chiến tranh được xem như mộtquy luật trong xã hội cổ xưa, một phần tất yếu của sự phát triển Nó là một tồntại khách quan của lich sử buổi sơ khai
Nhưng đến thời kỳ nhân loại đã văn minh hơn thì chiến tranh không
còn nguyên nội hàm tích cực như trước nữa Theo “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới”, chiến tranh là hình ảnh một tai họa toàn thế giới, một thắng lợi
của vũ lực mù quáng Nhưng cũng có khi “Chiến tranh nhằm mục đích loại trừ cái ác, vãn hồi hòa bình công lý, sự hòa hợp trong vũ trụ xã hội cũng như trong các lĩnh vực tinh thần, nó là biểu hiện tự vệ của sự sống” [1]
Trang 14Khái niệm chiến tranh ở đây không chỉ được hiểu là cuộc chiến đấubằng vũ lực mà sau này, nội hàm khái niệm còn được mở rộng thêm vớinhững ý nghĩa tượng trưng khác Chẳng hạn, nó hàm chứa một ý nghĩa quantrọng: đó là sự tiêu diệt cái ác, tái lập trật tự, yên bình Đó còn là cuộc chiến
nội tại bên trong bản thân mỗi con người “Chiến tranh thần thánh là cuộc chiến mà con người tiến hành ở bên trong bản thân mình Đó là sự đối đầu của bóng tối và ánh sáng ở bên trong con người Sự đối kháng ấy sẽ hoàn kết với cuộc hành trình từ ngu tối tới hiểu biết”[1]
Cuộc chiến nội tâm là cuộc chiến dai dẳng của con người tự mình chiếnđấu với bản ngã, chiến đấu với những đam mê dục vọng của chính mình Ởgóc độ này, đó sẽ là cuộc đấu tranh không ngừng giữa cái thiện và cái áctrong xã hội cũng như bên trong mỗi con người Chiến tranh nội tâm diễn rakhi con người không thỏa hiệp với cái ác, với đam mê, tội lỗi, cho nên cuộcchiến đấu này mang ý nghĩa tự hoàn thiện, tự hướng thiện
Cuộc chiến không ai giết ai và không ai bị giết là một cuộc chiến vềnhận thức, là cuộc chiến tích cực thống nhất sự sống, đi tìm lẽ sống Ở cácnền văn hoá Đông Phương, ta bắt gặp khá nhiều những cuộc chiến kiểu này.Trung Hoa thời cổ đại, có cuộc chiến của những người tu thân luyện đức,đắm mình vào hành trình đi tìm chân lý Nho giáo đề cao nguyên tắc “tuthân”, Phật giáo đưa ra khái niệm “đốn ngộ”, còn Đạo giáo đề ra các phép rènluyện bản thân để tâm tĩnh, tự tại giữa cuộc đời hư ảo Mỗi một tôn giáo đềukhẳng định con người với sự đấu tranh trong sâu thẳm bản ngã Đó mới làcuộc chiến khó khăn và quyết liệt
Cuộc chiến đấu với cái ác là một cuộc chiến khốc liệt, nó là một cuộcchiến không nhượng bộ Ánh sáng và bóng tối, cái xấu và cái ác bên trongmỗi con người là hai điều trái ngược nhau nhưng lại là hai mặt của một thựcthể người Cuộc chiến khởi đi từ việc không thoả hiệp với cái ác, không sống
Trang 15chung với tội lỗi, không tìm tư lợi bất chính Một chiến binh không gậy,không binh khí, chiến đấu bằng ý chí để chiến thắng dục vọng, đó là ngườiquân tử, theo cách gọi của Trung Hoa, người biết sửa mình bằng cách tu thân,người lấy đức để nhuận thân – đó là một con người chân chính Bởi thế ngườixưa đã nói, cái thắng khó nhất là chiến thắng chính bản thân mình Cuộcchiến nơi mỗi người vẫn tiếp diễn cho đến khi nó trút hơi thở cuối cùng
Như vậy, khái niệm chiến tranh mang những nội hàm tương đối khácnhau Có khi chiến tranh là xung đột vũ lực, có khi là cuộc đấu tranh bêntrong để tự hoàn thiện của mỗi con người Cuộc chiến cam go đầy thử thách
cả ở xã hội lẫn trong bản thân mỗi người đều được phản chiếu vào văn họcnghệ thuật Ở đây, chúng tôi chỉ sử dụng khái niệm “chiến tranh” với ý nghĩaphổ biến nhất thời hiện tại: cuộc chiến bằng vũ lực, có vũ trang
1.2 Chiến tranh dưới góc độ ý thức hệ
Theo Tự Điển Tiếng Việt (1991) của Viện Ngôn Ngữ Hà Nội, ý thức hệ được hiểu là “hệ thống tư tưởng và quan điểm thường phản ảnh quyền lợi cơ bản khác nhau của các giai cấp, các tầng lớp xã hội” Theo góc nhìn này,
chiến tranh nảy sinh thực chất do sự đối chọi của các ý thức hệ Mỗi bên cóquan điểm riêng về cuộc chiến tranh mà mình can dự, mang ý chí tiêu diệt ýthức hệ của kẻ đối lập và áp đặt lên kẻ ấy tư tưởng chính trị của mình Mặtkhác, rõ ràng mỗi ý thức hệ gắn với một lợi ích riêng, nên mỗi bên tham chiếnđều có mục đích bảo vệ quyền lợi của mình Các cuộc chiến tranh xâm lược
đa phần khởi đầu từ tham vọng đồng hóa và bóc lột kẻ khác Các cuộc đấutranh tôn giáo, sắc tộc thì nguyên nhân chính thường là tham vọng áp đặtniềm tin của bên này lên bên kia Bởi vậy, căn cứ vào nguyên nhân bùng nổchiến tranh, sẽ có hai phe chính nghĩa và phi nghĩa Cuộc chiến tranh giữaViệt Nam và đế quốc Mỹ những năm 1954 – 1975 là một thí dụ về chiếntranh ý thức hệ
Trang 16Để tiến hành một cuộc chiến tranh, thông thường kẻ chủ mưu sẽ tìmcho mình một điểm tựa chính nghĩa (dù nhiều khi là ngụy tạo, giả danh), lấy
đó làm cơ sở để phát động nhân dân mình và tranh thủ sự đồng tình của cáccộng đồng khác Những kẻ tiến hành một cuộc chiến tranh phi nghĩa bao giờcũng giương cao những chiêu bài đẹp đẽ nhằm huyễn hoặc nhân dân, che giấu
ý đồ thực sự của mình
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ và các nước xã hội chủ nghĩa sốngtrong tình trạng chiến tranh lạnh, đấy là cuộc chiến ý thức hệ - cuộc tranhchấp giữa hai con đường ai thắng ai (tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa).Hiệp định Geneve năm 1954 chính thức đánh dấu sự thất bại của giặc Pháp ởViệt Nam nhưng đế quốc Mỹ lại âm mưu nhảy vào nước ta tiến hành chủnghĩa thực dân mới Thay vì xâm chiếm đất đai, tạo ra thuộc địa để trực tiếpcai trị và khai thác như Pháp đã làm thì Mỹ lại sử dụng những thủ đoạn giántiếp để dựng nên một chính quyền bên ngoài độc lập nhưng bên trong phụthuộc, qua đó thực hiện chính sách xâm lăng của mình Cụ thể, chính quyềnthực dân Mỹ âm mưu chia cắt lâu dải Việt Nam, qua đó “be bờ”, không chochủ nghĩa cộng sản bành trướng xuống Đông Nam Á Chính quyền Ngô ĐìnhDiệm được Mỹ dựng lên, làm tay sai cho Mỹ, ngăn chặn “làn sóng đỏ” Thựcchất, Mỹ đã tiến hành một cuộc xâm lăng toàn diện, hòng biến miền Namthành thuộc địa của Mỹ, dùng Việt Nam làm bàn đạp để bành trướng chủnghĩa đế quốc ở Đông Nam Á Đế quốc Mỹ biện minh cho chuyện chúng canthiệp vào Việt Nam bằng những mục đích cao thượng, chính đáng, mượnchiêu bài khai hóa văn minh, giương cao ngọn cờ “dân chủ” “tự do” để chốnglại chủ nghĩa cộng sản quốc tế Đối với các chính khách thì đây là cuộc chiếntranh giữa hai hệ tư tưởng: chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản Khi Mỹ ồ
ạt đổ quân viễn chinh vào miền Nam, tiến hành các cuộc càn quét đẫm máu,
Trang 17tất cả mọi luận điệu đó đã hoàn toàn bị sụp đổ Mỹ đổ viện trợ và xương máucủa cả lính Mỹ vì quyền lợi chiến lược của mình chứ không vì bảo vệ tự docho nhân dân Miền Nam Chính sách thực dân mới của Mỹ là chính sách báquyền nước lớn, ép mọi nước phải mở cửa để cho Mỹ và các cường quốc tự
do vào khai thác tài nguyên, tự do giao thương, tiêu thụ hàng hóa và sử dụngnhân công Hành động can thiệp khủng khiếp này phơi bày bộ mặt đế quốctàn bạo ở Việt Nam Có thể nói, tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam,
Mỹ đã khuếch trương sức mạnh của chủ nghĩa tư bản, tô vẽ chủ nghĩa tư bảnthành huyền thoại, bất chấp mọi sự phản đối của nhân dân yêu chuộng hòabình trên toàn thế giới Mặc dù giương lên ngọn cờ chống chủ nghĩa xã hộinhưng thực chất sự có mặt của Mỹ tại miền Nam Việt Nam là sự xâm lược cóchủ đích, ngăn cản ý chí độc lập thống nhất của toàn dân tộc Việt Nam.Những hoạt động của Mỹ đã bộc lộ rõ dã tâm của chúng là biến miền Namthành thuộc địa và căn cứ quân sự để mở rộng chiến tranh xâm lược miềnBắc, từng bước đè bẹp phong trào giải phóng dân tộc và ngăn chặn sự pháttriển của chủ nghĩa xã hội ở khu vực Đông Nam Á Bản chất cuộc chiếntranh ý thức hệ đã rõ rang
Trong 21 năm tồn tại của chính quyền Việt Nam Cộng hòa 1975), mọi quốc sách đều do đế quốc Mỹ giật dây chi phối Bởi thế, họ khó
(1954-mà biện minh trước công luận tội làm tay sai ngoại bang, phản bội truyềnthống của cha ông Dần dần, khi Mỹ lộ rõ bộ mặt thật của mình, nhiều ngườilính cộng hòa đang nhận lương Mỹ, đang cầm súng Mỹ để bắn vào đồng bàomình chợt nhận ra điều phi lý: họ đang trở thành tay sai cho ngoại bang, bịngoại bang lợi dụng Điểm tựa chính nghĩa không có hoặc có một cách mơ
hồ, chông chênh sẽ trở thành mối hoài nghi giằng xé tâm hồn để rồi đến mộtlúc nào đó, họ cất lên tiếng nói phản đối chiến tranh Đó là hành trình tư
Trang 18tưởng của rất đông những người cầm súng trong quân lực Việt Nam cộnghòa Điều đó khẳng định thêm sức mạnh chính nghĩa của phía chúng ta,đồng thời cũng lý giải được thất bại tất yếu của kẻ thù trong cuộc chiếntranh ý thức hệ này.
Đối với nhân dân Việt Nam yêu nước, lựa chọn chủ nghĩa xã hội, thìđây là cuộc chiến tranh tự vệ nhằm thực hiện các mục tiêu giành độc lập,thống nhất hoàn toàn cho đất nước để xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa.Nhận rõ kẻ thù, tại Hội nghị Trung ương 15 (năm 1959), Đảng đã chỉ rõ: Mỹ -Diệm chẳng những là kẻ thù của nhân dân miền Nam đang bị chúng thống trị
mà còn là kẻ thù của cả dân tộc Việt Nam, của nhân dân miền Bắc đã đượcgiải phóng Âm mưu xâm lược miền Nam và chia cắt đất nước ta của đế quốc
Mỹ và bè lũ tay sai đã một lần nữa bị vạch trần tại Hội nghị Trung ương 6 (từngày 15 đến 18-7-1954): đế quốc Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lậplại hòa bình ở Đông Dương và đang trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dânĐông Dương và nhân dân Việt Nam Đảng kêu gọi thực hiện đường lối cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ởmiền Bắc Mục tiêu chủ yếu trước mắt của cách mạng cả nước là đánh thắnggiặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà để đưa cảnước tiến lên chủ nghĩa xã hội Đó là cuộc chiến cao cả nhằm bảo vệ chủquyền, toàn vẹn lãnh thổ, một cuộc chiến vì chính nghĩa chống lại chủ nghĩathực dân mới mà Mỹ áp đặt tại miền Nam Việt Nam
Cuộc chiến kéo dài suốt hai mươi mốt năm dù mất mát hi sinh, nhưngthắng lợi cuối cùng đã thuộc về chính nghĩa Đế quốc Mỹ và chính quyền taysai thất bại bởi đó là kết cục của kẻ phi nghĩa Chúng ta đã chiến đấu bảo vệ
tổ quốc của mình nên được nhân dân tiến bộ trên thế giới ủng hộ, bầu bạngiúp đỡ và trên hết Việt Nam thắng Mỹ vì Việt Nam có sự đồng lòng giữadân với Đảng, giữa khát vọng yêu nước và lý tưởng chủ nghĩa xã hội Tiến
Trang 19hành chiến tranh với sự đoàn kết đồng lòng của toàn dân tộc, chúng ta đãgiương cao ngọn cờ “không có gì quý hơn độc lập tự do” của Hồ Chủ tịch.Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực của cáchmạng Việt Nam Cuộc chiến mà chúng ta tiến hành là chiến tranh giải phóngdân tộc, vì hòa bình độc lập, khẳng định quyền tự do chính đáng của mộtquốc gia có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Ý thức hệ dẫn dắt cuộc chiếnđấu của chúng ta là ý thức hệ vô sản.
Đối với phe xã hội chủ nghĩa, cuộc đấu tranh giữa nhân dân Việt Nambảo vệ Tổ quốc với đế quốc Mỹ xâm lược đã trở thành “cuộc đụng đầu lịchsử” vô cùng quyết liệt giữa hai lực lượng: cách mạng và phản cách mạng.Trong lịch sử Việt Nam từ xưa đến nay, chiến thắng chủ nghĩa thực dân mớicủa của đế quốc Mỹ đã trở thành niềm tự hào to lớn nhất Nguồn cảm hứngxuyên suốt văn học thời kỳ này là niềm tự hào về những vẻ đẹp bất khuất củacon người mới, của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Song hành với cảmhứng khẳng định, ngợi ca chân lý cách mạng cảm hứng phê phán sự tàn bạo,độc ác của bên phi chính nghĩa Bao nhiêu đau thương Mỹ - Ngụy gây ra chomảnh đất này cũng đã được khắc tạc vào văn học Nền văn học thời chống
Mỹ cứu nước đương nhiên mang đậm dấu ấn ý thức hệ Đó là một nền vănhọc yêu nước, cổ vũ cho cuộc kháng chiến giữ nước
Cuộc chiến này mang tính dân tộc rất cao với khát vọng độc lập vàthống nhất đất nước sục sôi trong trái tim của hàng chục triệu người con đấtViệt Quân đội chúng ta chiến đấu bảo vệ chính nghĩa cho nhân dân nhân dân,điều đó đã trở thành yếu tố quyết định làm nên thắng lợi lẫy lừng Thời đại
“xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” đã làm nên những con người vĩ đại: những
chiến sĩ anh hùng, những bà mẹ anh hùng và có cả những đứa trẻ anh hùng.Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa đã tái hiện và ca ngợi nồng nhiệt vẻ đẹpcủa thời đại “ra ngõ gặp anh hùng” ấy:
Trang 20Ta xé mình ra ngang dọc chiến hào Cho Tổ quốc liền sông núi vạn đời sau
(Chế Lan Viên)
Có thể nói, theo suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, mỗi cuộc chiến tranhxâm lăng của ngoại bang trên mảnh đất này đều là chiến tranh phi nghĩa Đếquốc Mỹ đã tiến hành chiến tranh xâm lược với hình thức, quy mô can thiệp
từ thâm hiểm đến trắng trợn, làm đổ máu biết bao con người vô tội Nhưngtrước sức mạnh không gì ngăn cản nổi của lòng yêu nước và sự quyết tâm củanhân dân ta, đế quốc Mỹ đã phải cúi đầu Văn học cách mạng thời kỳ chống
Mỹ mang trong mình hệ tư tưởng của chủ nghĩa xã hội Một cách khái quátnhất, có thể nói cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước qua lăng kính văn học
là cuộc chiến tranh ý thức hệ
1.3 Chiến tranh dưới góc nhìn triết học - văn hóa
“Chiến tranh” theo nhãn quan triết học và văn hóa có hàm nghĩa rấtphong phú Từ góc độ này, chiến tranh không được xét đoán như những phântích lịch sử - sự kiện mà đặt trọng tâm ở số phận con người và các giá trị vănhóa Do còn nhiều hạn chế về bao quát tư liệu, chúng tôi chỉ xin lược qua một
số khía cạnh của vấn đề mà chúng tôi bước đầu nắm được
Trong chiến tranh, con người trở thành nạn nhân của một thảm họa dođồng loại gây ra, có sức hủy diệt tàn bạo Do đó, các triết gia nổi tiếng đều lên
án chiến tranh như là một tội ác cần bị loại trừ khỏi cuộc sống loài người
Theo quan điểm của I.Kant (1724 – 1804), mỗi quốc gia “quan hệ với một quốc gia khác trong trạng thái tự do tự nhiên và do đó trong một trạng thái chiến tranh không dứt” Chiến tranh là phương tiện để một quốc gia thực
thi quyền hạn của mình đối với các quốc gia khác Lý do để một quốc gia tiếnhành chiến tranh không chỉ bao gồm việc quốc gia khác chủ động vi phạm
như ‘sự gây hấn trước’ mà còn do nước khác hăm dọa gây chiến Quyền hạn
Trang 21của một quốc gia trong lúc lâm chiến là sử dụng bất cứ phương tiện phòng vệ
nào ngoại trừ những phương tiện ‘tước đi quyền công dân của người dân’, và những phương tiện ‘sẽ hủy hoại sự tín nhiệm cần thiết cho việc xác lập một nền hòa bình trường cửu trong tương lai’ Khi tiến hành chiến tranh, nước chủ chiến đó được phép ‘đòi kẻ thù cung ứng quân nhu và các đảm phụ quốc phòng’, nhưng không được cướp bóc nhân dân, vì với Kant nhân dân và nhà
nước không phải là một [55]
I.Kant xem chiến tranh là nguồn gốc của “những tội ác lớn nhất đè nặng lên các quốc gia văn minh” Ông thấy rõ nguy cơ sinh ra từ một cuộc chiến tranh là “sự chuẩn bị không ngừng và thực sự ngày càng tăng cho cuộc chiến tranh trong tương lai” Kant lưu ý con người rằng chiến tranh là sự hao tốn tiền của một cách vô nghĩa lý, rằng mọi “nguồn lực của nhà nước, và toàn
bộ những thành quả của nền văn hóa lẽ ra phải được dùng để tăng tiến văn hóa thì lại được hiến dâng cho mục đích này” Không chỉ thất thiệt tiền của,
xương máu, chiến tranh còn kìm hãm tự do của nhiều quốc gia Ở nhiều nơi
trên thế giới “sự tự do vẫn mang thân phận rất nhọc nhằn” Thương vong
trong mỗi cuộc chiến là điều không đáng có, chiến tranh chỉ mang đến tổn hạicho mỗi bên tham chiến Trực tiếp phê phán chiến tranh như một hành động
vô nghĩa lý, I.Kant đã cho thấy một quan điểm nhân văn sâu sắc Cái nhìn phêphán của I.Kant thực sự đại diện cho ước mong của nhân dân yêu chuộng hòabình trên toàn thế giới
Triết học phương Đông không tách rời các tôn giáo chính thống Hệthống quan điểm về chiến tranh chủ yếu được phát biểu qua các tư tưởng Phậtgiáo Đạo Phật chủ trương không sát sinh nên luôn khuyến cáo con người xalánh chiến tranh Nhà Phật quan niệm nguồn gốc chiến tranh xuất phát từtrong “tâm”, chìa khoá để giải quyết chiến tranh và xung đột cũng được tìmthấy trong “tâm” Con người không thể giải quyết những vấn đề chiến tranh
Trang 22và xung đột từ bên ngoài nó Chiến tranh tàn sát sự sống nên đồng nghĩa vớitội ác Khi nào còn chiến tranh, nghĩa là con người còn phải gánh chịu đaukhổ, còn giết hại, thù hằn, đấu tố Chiến tranh sẽ không bao giờ chấm dứt nếucon người còn đang tâm giẫm lên mạng sống của đồng loại
Phật giáo không chấp nhận chiến tranh dưới bất cứ hình thức nào, dướibất cứ danh nghĩa gì Với Phật giáo, hoà giải, hòa hợp là giải pháp tốt nhất màcon người nên lựa chọn Khi lấy số phận con người làm hệ quy chiếu, chiếntranh sẽ là thảm họa khủng khiếp nhất cần lên án mạnh mẽ
Mặt khác, trong những suy tư về văn hóa, chiến tranh lại có thể đượcxem như hoàn cảnh để thử thách nhân tính, sức mạnh và tài năng con người.Nhiều tác phẩm nghệ thuật đã sử dụng chiến tranh làm chất liệu để tôn vinhcon người Thời cổ đại, chiến tranh lại là cơ hội để những người anh hùng
khẳng định tài trí và trách nhiệm với cộng đồng Hai thiên trường ca sử thi li-át và Ô-đi-xê của Hô-me đã khắc tạc nên những người anh hùng ở thời kỳ
I-đó không phải với tài năng trong đời sống, với những công việc đời thườngtrên đồng ruộng, khẩn hoang, vỡ đất mà như những con người mưu lược,thiện chiến Cuộc chiến thành Tơ-roa đẫm máu kéo dài ròng rã mười năm gâytổn hại biết bao sinh mạng chính là bối cảnh lý tưởng cho hai người anh hùngHecto và Asin thể hiện sức mạnh, phô diễn tài năng và bản lĩnh Đằng sau câuchuyện về chiến tranh là lời ngợi ca chiến thắng của cộng đồng, ngợi ca sựdũng cảm, hào hiệp của người anh hùng, ngợi ca các thần linh phò trợ Chiếntranh tạo ra và tôn vinh thủ lĩnh Và người thủ lĩnh luôn muốn khẳng địnhquyền lực của mình bằng cách dấn thân vào những cuộc giao tranh đẫm máu
Tam quốc chí của La Quán Trung mô tả đầy nhiệt hứng cuộc giao
tranh giữa ba nước Ngụy, Thục, Ngô Trong tác phẩm có nhiều trận đánh ácliệt, thương vong rất lớn Đây đúng là cuộc tranh tài của hàng trăm danh
tướng, mưu sĩ Tam quốc chí có xu hướng khoa trương phóng đại những kỳ
Trang 23tích của các anh hùng hảo hán nên cũng phóng đại những khó khăn hiểm trở
để thử thách tài năng võ nghệ của họ La Quán Trung không che giấu lậptrường chống Ngụy Tào, phò Thục Hán, nhưng ý đồ dùng chiến tranh để đưatới triết lý về cái lẽ vô thường của cuộc đời, chê trách những ảo tưởng ngôngcuồng gây ra tai họa cho trăm họ, cuối cùng đã được người đọc tiếp nhận quabài thơ khép lại cuộc thư hùng Xích Bích:
Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông?
Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng, Thị phi thành bại theo dòng nước, Sừng sững cơ đồ bỗng tay không.
Khi coi thái độ ứng xử của con người trong chiến tranh là một thước
đo nhân tính, văn học có thể nhìn chiến tranh theo những chiều hướng khácnhau: một mặt qua chiến tranh để phản ánh vẻ đẹp của những anh hùng phòchính nghĩa, mặt khác nhìn chiến tranh như sự hủy diệt nhân tính khi nhữngthời điểm gay go ác liệt khắc nghiệt cuốn trôi lương tâm và lòng nhân ái
Khai thác vẻ đẹp của con người trong chiến đấu, văn học đã dành biếtbao giấy mực ngợi ca, khẳng định phẩm chất của những người anh hùng bảo
vệ chính nghĩa Chiến tranh trở thành một đề tài có sức sống bền bỉ và mãnhliệt trong nền văn học Nga L.Tônxtôi - nhà văn từng có những kiệt tác về đề
tài chiến tranh, đã dự đoán: "Trong một trăm năm tới, chiến tranh vẫn là cảm hứng sáng tạo cho toàn bộ nghệ thuật - từ bi kịch và sử thi cho đến cả những bài thơ tứ tuyệt, trữ tình" [chuyển dẫn, 9] Kiệt tác Chiến tranh và hòa bình
của ông đã làm sống lại chủ nghĩa yêu nước Nga và sức mạnh vô song củanhân dân Nga Dựa trên những biến cố lịch sử đầu thế kỉ XIX, bộ tiểu thuyếtphơi bày sự thối nát trong cuộc sống của giai cấp quý tộc Nga vào các giaiđoạn 1805-1812, 1812-1820 để đối lập với vẻ đẹp ngời sáng của binh lính vàtướng sĩ trên chiến trường Nhân dân chính là những người anh hùng vô danh
Trang 24đã quyết định vận mệnh dân tộc Chiến tranh trở thành chất liệu đắc địa đểtác giả thể hiện những tư tưởng lớn lao về nhân dân và dân tộc, để bài ca vềlòng yêu nước của những anh hùng thời đại vang mãi đến mai sau
Cũng với đề tài chiến tranh, gần một thế kỷ sau L.Tonxtoi, tác phẩm
Thép đã tôi thế đấy của Nikolai A Ostrovsky đã trở thành cuốn sách gối đầu
của nhiều thế hệ thanh niên ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa Thông qua nhânvật Pavel Corsaghin, tác phẩm đã truyền cho thanh niên Việt Nam ngọn lửayêu nước và chất thép cách mạng Chiến tranh là hoàn cảnh để phẩm chấtyêu nước, anh hùng được tỏa sáng Nhìn chung, văn học Nga với mảng đề tàinày đã ghi dấu thành công của nhiều cây đại thụ Đó là M.Sô-lô-khốp với
Sông Đông êm đềm, Số phận con người, là Phadeev với Đội cận vệ thanh niên, là A.Tonxtoi với Tính cách Nga, Con đường đau khổ, là Seraphimovich với Suối thép, v.v…
Tuy nhiên, cái nhìn triết học - văn hóa không chỉ cho thấy chiến tranhnhư nền cảnh cho sự tỏa sáng của những người anh hùng chân chính Bộ mặtđau thương của cuộc chiến hiện lên đầy khốc liệt, những xói mòn nhân tính,những bi kịch trớ trêu… cũng chính là nỗi bận tâm đến nhức nhối của ngườicầm bút Từ cái nhìn ấy, chiến tranh lại trở thành tình huống đặc biệt để thửthách con người khi nó bị dồn vào giữa ranh giới mong manh của sự sống vàcái chết, giữa nhân tính và vô nhân tính Đó chính là cơ sở của tinh thần phảnchiến trong văn học nghệ thuật Nhà triết học Hegel cho rằng cuộc sống xãhội luân chuyển chủ yếu qua hai trạng thái: hòa bình và chiến tranh Khi conngười bị ném vào hoàn cảnh chiến tranh, đó là khi nhân tính bị thử tháchkhốc liệt nhất Văn học chọn đề tài chiến tranh có thể với mục đích tái hiệnlịch sử bằng hình tượng nghệ thuật, cũng có khi chiến tranh chỉ là bối cảnhgiả định, là một tình huống hư cấu để nhà văn khám phá nhân tính theo cáchriêng Chiến tranh luôn phơi lộ nơi tận cùng của tình người và tính người
Trang 25Văn học tìm đến đề tài chiến tranh cũng là đi tìm lời đáp cho câu hỏi: khi bịđẩy vào hoàn cảnh nghiệt ngã nhất, phẩm chất nào vụt sáng và ai là ngườibuông xuôi trước định mệnh để “bị cuốn trôi hết tình người”[25]? Tinh thầnphản chiến trong sáng tác của Phan Nhật Nam được chúng tôi xem xét nhưcách tác giả trả lời những câu hỏi ấy.
2 Tinh thần phản chiến trong văn học đô thị miền Nam
2.1 Hai quan niệm về phản chiến
Chiến tranh là thương vong, mất mát Sự tàn khốc của nó hủy hoại baonhiêu giá trị nhân sinh Ngay cả với người chiến thắng thì cái giá phải trảcũng không bao giờ là nhỏ Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết:
Phải bao máu thấm trong lòng đất Mới ánh hồng lên sắc tự hào
(Xin gửi miền Nam)
Sau Tố Hữu, Nguyễn Duy viết:
Nghĩ cho cùng trong mỗi cuộc chiến tranh Phe nào thắng thì nhân dân đều bại
(Hỏi đá)
Xét từ góc độ bản chất sự sống, lòng căm ghét chiến tranh là nhân tính
tự nhiên
Phản chiến là bày tỏ thái độ không tán thành chiến tranh, không muốn
tham gia chiến tranh Sự không tán thành này xuất phát từ một sự thấu hiểunhững tàn phá của chiến tranh và đồng cảm, chia sẻ với con người đang phảigánh chịu những nỗi mất mát, đau thương trong chiến tranh Phản đối chiếntranh có khi được thể hiện qua hành động cụ thể Trong giai đoạn Mỹ xâmlược Việt Nam, những cuộc biểu tình phản đối chiến tranh diễn ra trên khắpthế giới, thậm chí ngay tại nước Mỹ là một minh chứng cho điều đó Nếuchiến tranh xâm lược phi nghĩa bao giờ cũng gây công phẫn với lương tri
Trang 26nhân loại thì chiến tranh chính nghĩa sẽ nhận được sự đồng tình của đôngđảo nhân dân Cho nên hành động phản chiến có ý nghĩa tích cực hay tiêucực phụ thuộc vào bản chất của bên tham chiến mà người phản đối là mộtthành viên.
Với chiến tranh phi nghĩa thì tinh thần phản chiến là tiếng nói củalương tâm và lòng nhân ái, chối từ mọi toan tính chính trị bắt con người tànsát lẫn nhau để mưu cầu lợi ích cho một nhóm những kẻ chủ chiến Phản đốichiến tranh phi nghĩa là làm theo mệnh lệnh của trái tim thương đời, thươngngười mà người nghệ sĩ dành cho quê hương, dân tộc một cách trung thực vàcan đảm nhất Phê phán chiến tranh từ góc độ đó, văn học đã tìm được tiếngnói đồng cảm với hàng triệu trái tim người bao giờ cũng khao khát hòa bình
Người lính ở mỗi bên chiến tuyến đều có sứ mệnh bảo vệ ý thức hệ màmình phục vụ Tinh thần phản chiến với anh ta sẽ là một hình thức “phản ýthức hệ” Nó làm suy yếu với phe này và có lợi cho phe kia
Mặt khác, giới hạn ở phạm vi một bên tham chiến, thái độ phản đốichiến tranh khi người lính đang cầm súng bảo vệ lợi ích của phe mình tất yếu
là hành vi bị phê phán Phản chiến khi ấy đồng nghĩa với việc chối bỏ tráchnhiệm, hèn nhát, ích kỷ Những kẻ đào ngũ hay tự gây thương tích để rời bỏcuộc chiến đấu chung đều mang ý thức phản chiến như thế Đó là sự quaylưng lại với đồng đội, tự đặt mình đối lập với chiến tuyến của mình Khi ấy,tinh thần phản chiến này mang ý nghĩa tiêu cực, đáng lên án Đương nhiên,hành vi phản chiến đó lại được phía bên kia khuyến khích Những người línhtrong quân lực Việt Nam cộng hòa nhận ra bản chất trắng trợn của đế quốc
Mỹ và tính chất tay sai của chính quyền ngụy Sài Gòn, họ phản đối thứ chiếntranh gây dựng trên máu xương của nhân dân mình, họ căm ghét những cuộctàn sát đẫm máu mà họ phải can dự Ý thức đó là sự chống lại lợi ích của độiquân mà họ phụng sự Đối với chúng ta, đó là thái độ đáng khuyến khích bởi
Trang 27sự hối lỗi, ăn năn của họ thể hiện lương tâm, lòng nhân ái mà họ vẫn còn giữđược Ra đời giữa lòng cuộc chiến, văn học miền Nam giai đoạn 1954 – 1975gắn liền với hoàn cảnh chiến tranh chia cắt đất nước, với nỗi đau bị ngoạibang thống trị Đó là lý do vì sao tiếng nói phản chiến đã tràn ngập trong thơcủa Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, văn xuôi Ngụy Ngữ, Vũ Hạnh, NguyễnThị Thụy Vũ, Phan Nhật Nam… và tràn sang nhạc Trịnh Công Sơn Vớichúng ta, những người cất lên tiếng nói phản chiến như thế là những ngườican đảm và đáng trân trọng.
2.2 Phản chiến – nguồn cảm hứng lớn trong văn học
Chiến tranh là một đề tài lớn, có bề dày, bề dài trong tiến trình văn họcthế giới Nhu cầu khám phá lịch sử và con người thúc đẩy người viết tìm đến
đề tài chiến tranh như một lẽ tất yếu Tính cách bất thường của chiến tranhkích thích sự tìm tòi, sáng tạo của nhiều nghệ sĩ
Thời cổ xưa, tuy con người chưa ý thức nhiều về vấn đề nhân tính,nhưng đã nhiều khi nhìn chiến tranh với thái độ không đồng tình Thần thoại
Hy Lạp tập hợp huyền thoại về các vị thần Ở đó có thần Dớt ngự trị trênđỉnh Ô–lem–pơ cai quản nhân gian Trong mười hai vị thần giúp sức chothần Dớt, Aret là thần chiến tranh, hay chính xác hơn là thần của những kẻcuồng loạn hiếu chiến thích sự chém giết đổ máu, thần luôn gây sự để tạonên xích mích, xung đột trong thế giới các vị thần Thần Aret có diện mạokhôi ngô nhưng bản tính rất tàn bạo Thần thường được miêu tả cầm mộtngọn giáo dính máu đỏ tươi, chiếc ngai của thần trên đỉnh Ô-lem-pơ đượcbọc kín bằng da người Tuy chiến tranh tồn tại như một phần không thể thiếucủa đời sống xã hội cổ xưa nhưng thần Aret không được Dớt và Hera cũngnhư các vị thần khác yêu quý bởi chẳng có ai thích chiến tranh cả Như vậy,thông qua thế giới thần linh, con người thời cổ đại đã thể hiện ý thức phảnđối, chán ghét chiến tranh
Trang 28Thi thánh Đỗ Phủ - nhà thơ tiêu biểu nhất cho khuynh hướng hiện thựcthời Đường - đã không ít lần bày tỏ thái độ phê phán chiến tranh phi nghĩa.Ông kết án lòng tham của vua như là nguyên nhân cơ bản dẫn đến nỗi khổcủa muôn dân Thơ ông bày tỏ sự xót thương đối với hàng vạn dân đen con
đỏ đang bị dìm trong máu lửa chiến tranh với những cảnh tang thương tộinghiệp “Binh xa hành” điển hình hoá cao độ cuộc đời người lính, cảnh giađình binh lính tiễn đưa chồng con ra đi hết sức thảm thương, bi phẫn:
Gia nương thê tử tẩu tương tống, Trần ai bất kiến Hàm Dương kiều
Khiên y đốn túc lan đạo khốc, Khốc thanh trực thướng can vân tiêu.
(dịch thơ: Cha mẹ vợ con chạy theo tiễn
Bụi mù chẳng thấy cầu Hàm Dương Níu áo, dậm chân, chặng đường khóc Tiếng khóc xông lên thẳng chín tầng)
Niềm xúc động sâu xa đối với những thân phận người bị chia lìa ly tán
ấy ẩn chứa tinh thần chống chiến tranh mãnh liệt của nhà thơ Trung Hoalừng danh thời phong kiến
E.Hemingway là một trong những nhà văn hiện đại quan tâm nhiềuđến đề tài chiến tranh từ mối bận tâm tới số phận con người Rất nhiều tác
phẩm của ông như Giã từ vũ khí, Chuông nguyện hồn ai… lấy chiến tranh làm bối cảnh để khám phá nhân cách Giã từ vũ khí là câu chuyện về người
lính Frederic Henry trong Chiến tranh thế giới thứ nhất - một con người khắc
kỷ, kiên cường chống chọi lại hiểm nguy và khổ ải, giữ vững niềm tin giữabao bủa vây khủng khiếp của chiến tranh Tác giả dành cảm tình cho loại lính
bé nhỏ, tầm thường Các phản ứng của con người trước cái chết (lòng canđảm hay tính hèn nhát) đã được khắc họa nổi bật nhờ tình huống chiến tranh
Trang 29Qua đó nhà văn đã nhìn thấy sự tàn phá, sự đau đớn không có giới hạn Đểvượt qua trạng thái sống kinh khủng như vậy, con người phải hành độngbằng danh dự, lòng can đảm, sự chịu đựng, ý thức phẩm cách Chiến tranh
trong Giã từ vũ khí đã phơi bày sự tan vỡ hạnh phúc, tình yêu của con người
qua những tình huống nghiệt ngã vô cảm, tàn ác
Trong văn học Việt Nam, cảm hứng phê phán chiến tranh cũng sớmđược thể hiện trong nhiều tác phẩm Ngay từ thời trung đại, các sáng tác của
Nguyễn Du (Văn chiêu hồn), Nguyễn Dữ (Chuyện người con gái Nam Xương) , Nguyễn Bỉnh Khiêm (Cảm hứng, Quá Hữu Giang II) hay Đặng Trần Côn (Chinh phụ ngâm khúc)… đã tô đậm nỗi khổ sở bất hạnh của con
người do chiến tranh phi nghĩa Cảm hứng phê phán nổi bật đã cho thấy tinhthần nhân văn sâu sắc, tư tưởng nhân đạo cao cả của các tác giả này.Điểm gặp gỡ giữa những nhà văn Việt Nam và đa số nhà văn trên thếgiới là đều mong muốn cất lên tiếng nói bảo vệ bình yên cho những phậndân đen con đỏ
Hoàn cảnh lịch sử đặc biệt giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nướcphân lập văn học miền Nam và miền Bắc trước hết ở đề tài chiến tranh.Ởmiền Bắc và bộ phận văn học cách mạng miền Nam, hầu như không có chủ
đề phản chiến, chúng ta ngợi ca cuộc chiến tranh chính nghĩa với tất cả vẻđẹp hào hùng của những con người chân chính xả thân vì đất nước, vì nhândân Nhưng trong văn học vùng bị tạm chiếm miền Nam những năm 1954-
1975, tiếng nói phản đối chiến tranh lại rất sắc nét, cho thấy nỗi hoài nghihoang mang của lòng người Nhiều tác phẩm văn xuôi của Vũ Hạnh, LêVĩnh Hòa, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nhã Ca, Phan Nhật Nam, Dương NghiễmMậu…, thơ của Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Trần Vàng Sao… đềumang tinh thần phê phán chiến tranh mạnh mẽ
Trang 30Nguyên Sa trong tác phẩm “Vài ngày làm việc ở chung sự vụ” đã kể
về một đơn vị có nhiệm vụ chôn cất tử sĩ Những người lính ngã xuống nàyđược gọi lóng là "hàng", "hàng về nhiều", "hàng về ít" Nhà văn gây ấntượng không thể quên với người đọc về khung cảnh lạ lung đến quái đản:
“tất cả đắm trong một môi trường cướp giật, chửi bới, đánh lộn, lừa lọc, "nặc mùi tử khí" của những người sống, bên cạnh những "đống thịt bầy nhầy, những đầu không dính vào thân thể" của những xác chết nín thinh, không sân
si, không ghen tuông, lừa đảo, hận thù Một tác phẩm mạnh, tàn nhẫn, cay độc và vô cùng nhân bản, chống chiến tranh dưới một dạng thức lạ lùng mà văn chương Việt Nam, trải nhiều cuộc nội chiến tương tàn, chưa có một tác phẩm nào ói máu như vậy” [19]
Hay trong truyện ngắn “Con thú tật nguyền”, Ngụy Ngữ tái hiện lại
cảnh tượng tang thương khi chứng kiến cái chết của người đồng đội: “Bình chết một mình trước pháo đài, thân thể nát bét, chân tay đứt ra vung vãi trộn với những tay chân khác Năm thằng tìm được sáu cánh tay Buổi sáng tôi vào nhặt nhạnh thu góp, xếp vào quan tài” Và khi cái lý tưởng “ra đi vì đời” sụp đổ giữa hiện thực khốc liệt, ông phải thốt lên đau đớn: “Chúng ta là những con thú tật nguyền khốn đốn mang vết thương về, lặng lẽ liếm vết máu mình, nằm chết”
Những con người bị cuốn vào trong lòng cuộc chiến ấy có lẽ đều đã ítnhất một lần vỡ mộng, đau xót khi nhận ra tính chất lừa mị của những luậnđiệu, chiêu bài tốt đẹp mà bè lũ Mỹ - Ngụy tuyên truyền Họ quay lại phêphán cuộc chiến tranh mà chính họ vừa là nạn nhân vừa là chứng nhân Đặcbiệt, Phan Nhật Nam, một người lính phía “bên kia”, luôn mang tâm trạnghoài nghi chán nản đến tột cùng trước cuộc chiến tranh vô nghĩa lý mà ôngđang phụng sự, đã viết văn với cảm hứng phản chiến đầy bi phẫn
Trang 31Phản đối một cuộc chiến phi nhân phi nghĩa phản bội con người là cáinhìn nhân văn đáng được ghi nhận, khi nó cất lên từ những người đứng ởchiến tuyến thù địch với chúng ta Nó tiết lộ rằng, họ đang khủng hoảng niềmtin, bất mãn với chính quyền mà họ phục vụ, họ thừa nhận đang lầm lẫn khichọn phục vụ chính quyền đó.
*Tiểu kết
Có thể nói, chiến tranh từ xưa đến nay đã trở thành một phần của lịch
sử nhân loại Cách nhìn về chiến tranh có sự thay đổi theo thời gian và lậptrường Nếu như xa xưa, chiến tranh được coi là một phần tất yếu của sự pháttriển xã hội, là thước đo phẩm chất, tài năng của người anh hùng, là điều kiệntiền đề của sự phát triển thì càng về sau, khi chứng kiến hậu quả nặng nề củachiến tranh, cảm hứng phê phán bắt đầu hình thành và trở thành cảm hứng nổibật Tinh thần phản chiến trở thành thước đo sức mạnh của mỗi bên thamchiến, thành “chứng chỉ” của khát vọng hòa bình chính đáng hay thànhphương tiện để nhà văn thiết lập một tiêu chí nhân văn – thẩm mĩ
Trang 32Chương 2 HIỆN THỰC CHIẾN TRANH QUA CÁI NHÌN PHẢN CHIẾN CỦA PHAN NHẬT NAM
* Phan Nhật Nam – đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp
Trong những năm cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, với đa số côngchúng yêu nghệ thuật ở phía Nam, nếu như Trịnh Công Sơn, Phạm Thế Mỹ,Trầm Tử Thiêng… là những cái tên sáng chói của âm nhạc phản chiến, thìtrong văn chương, một trong số những cây bút gây ấn tượng nhất là PhanNhật Nam
Phan Nhật Nam tên thật là Phan Ngọc Khuê, sinh năm 1943 tại Huế.Quê hương ở Nại Cửu, Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
Cuộc đời Phan Nhật Nam có nhiều sóng gió biến động Trong một bàiviết đăng trên www.saigongate.com, nhà văn đã tâm sự rằng: cha ông là PhanVăn Trình, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương Năm ông 9 tuổi, người cha
ấy để lại vợ trẻ và hai đứa con thơ, lên đường tập kết Mẹ Phan Nhật Namcũng bởi quá vất vả vì cuộc sống mưu sinh và áp lực tâm lý, đã qua đời sau đó
ít lâu Ông từ đó lãnh vai trò “quyền huynh thế phụ” lo cho mình và chăm chođứa em Năm 20 tuổi, Phan Nhật Nam vào học trường Võ Bị Quốc gia Đà Lạtkhóa 18, tốt nghiệp trở thành sĩ quan Binh chủng nhảy dù của quân lực ViệtNam cộng hòa với cấp bậc Trung úy Trở thành người lính như một địnhmệnh của thế hệ, ông đã oằn người trong những cơn bão lửa, đã vào sinh ra tử
ở những mặt trận khác nhau Rồi ông cầm bút như một chứng nhân lịch sử đểghi lại trải nghiệm kinh hoàng, đau xót, bi thương của con người khi bị cuốnvào vòng xoáy khốc liệt của chiến tranh
Trang 33Dấu binh lửa (1969) là bút ký đầu tay khi tác giả vừa tròn hai mươi
sáu tuổi, bước vào đời là bước vào chiến tranh, chứng kiến tình trạng conngười bị vụn vỡ về tinh thần, bị tha hóa, chai lì về cảm xúc
Sau Dấu binh lửa, năm 1970, ông tiếp tục viết tập bút ký Dọc đường
số một Đến năm 1972, tập bút ký thứ ba mang tên Mùa hè đỏ lửa được ra
đời và đã trở thành tác phẩm nổi bật trong văn học đô thị miền Nam, đượcchính quyền thời đó trao giải thưởng (1973) Tiếp tục khẳng định sở trường
về ký, tập Tù binh và hòa bình năm 1974, thấm đẫm nỗi bi thương nhưng
vẫn được nhiều người đọc yêu thích
Ở thể loại tiểu thuyết, Phan Nhật Nam có hai tác phẩm là Ải trần gian (1970) và Dựa lưng nỗi chết (1973) Sự thật về chiến tranh ở phía chiến
tuyến đối lập với cách mạng được ông trình bày qua tâm trạng bi đát của conngười bị ném vào những thời khắc khốc liệt đến phi lý Sau chiến dịch Hồ ChíMinh lịch sử tháng 4 năm 1975, Phan Nhật Nam bị đi tập trung cải tạo, sau 14năm (1975-1989) mới được thả nhưng bị quản chế tại gia ở Lái Thiêu, BìnhDương Năm 1993, Phan Nhật Nam qua Mỹ định cư và vẫn tiếp tục viết văn
Ông đã cho xuất bản các tác phẩm như: Những chuyện cần được kể lại, Đường trường xa xăm, Đêm tận Thất Thanh, Mùa đông giữ lửa v.v
Tác phẩm của Phan Nhật Nam trước năm 1975 nhìn chung đều tậptrung khai thác bối cảnh chiến tranh với những cuộc hành quân, những trậnchiến đấu ác liệt, cam go thời kỳ Việt Nam hóa chiến tranh, qua đó soi chiếuthân phận người lính quân lực Việt Nam cộng hòa Ông phản ánh cuộc chiếntranh chủ yếu từ cái nhìn phản chiến Bản thân tác giả đã tham gia vào tấnkịch lịch sử như một vai phản diện vì dù gì anh ta cũng không thể chối cãiviệc mình có đồng minh là kẻ ngoại bang đang xâm lược đất đai của tổ tiênông bà Anh ta có thể không tán thành cộng sản nhưng lý tưởng mà anh ta bảo
vệ lại không đủ thuyết phục lương tâm mình để nó không cắn rứt vì cảm giác
Trang 34phản bội Tổ quốc Và tất yếu anh ta sẽ nhận ra chiến tranh là vô nghĩa lý.Mang tâm thế đó, tác phẩm của Phan Nhật Nam giúp hậu thế hiểu và phầnnào cảm thông sự ăn năn, hối lỗi của những con người “bị lịch sử chọn” làphải chấp nhận sai lầm có tính định mệnh Những người như Phan Nhật Nam
rõ ràng có lý lịch chính trị phức tạp, đã từng bị kết án về mặt ý thức hệ.Nhưng trong tư cách một nhà văn, một nghệ sĩ, họ cần được nghiên cứu bằngcái nhìn uyển chuyển hơn Chắc chắn, thế giới nghệ thuật của những ngườinhư Phan Nhật Nam sẽ là một thế giới không đơn giản, thuần nhất, có bộphận bị chi phối bởi nhãn quan chính trị sai trái, có bộ phận lại là sự chiếnthắng của trái tim nghệ sĩ vẫn luôn theo đuổi những giá trị nhân văn, thẩm mĩđích thực Theo chúng tôi, chính tinh thần phản chiến của Phan Nhật Nam với
tư cách người lính “phía bên kia” đã cho thấy điểm tựa nhân văn tích cực ởnhững tác phẩm nổi tiếng thời đó của ông
Trong Dấu binh lửa, ông tâm sự: “Tôi đi lính chỉ với một ý nghĩ: Đi
cho cùng quê hương và chấm dứt chiến tranh bằng cách góp mặt” Và ngay
cả sau này, trả lời phỏng vấn với phóng viên đài RFA, khi được hỏi sau 30năm chiến tranh, những người cựu chiến binh có nên quên đi quá khứ hận thù,
ông bày tỏ: “Ngay cả chữ nghĩa mà chúng tôi viết rằng các anh em toàn thể Việt Nam ngay ở trên chiến trường, chúng tôi không hề có một điều hận thù đối với cả chính thể ở miền Bắc, chứ đừng có nói là người lính ở miền Bắc Tại vì chúng tôi hiểu hơn ai hết rằng người lính kia và chúng tôi là nạn nhân của một tai họa vô lường gọi là chiến tranh Việt Nam”[22] Tâm sự ấy giúp
người đọc hiểu một điều rằng sâu xa tự bản thể mình, Phan Nhật Nam viếtchẳng phải vì say mê một mục đích chính trị nào mà chủ yếu được dẫn dắt bởitiếng nói của nỗi buồn đau và lòng nhân ái Có thể nói, tư tưởng phản chiếnvới cái nhìn bi phẫn, chán nản của một thế hệ lính cộng hòa như Phan NhậtNam đã cho thấy được bản chất cuộc chiến tranh của phía đối nghịch với
Trang 35chúng ta Cầm súng tham chiến nhưng họ không tìm ra nổi điểm tựa tinh thần
đủ để họ tin rằng họ có chính nghĩa Bởi thế, chiến tranh trong cảm nhận của
họ chỉ còn là thế giới kinh hoàng của chết choc, cay đắng, trái khoáy
1 Chiến tranh – sự hủy diệt dã man, tàn bạo nhất
Chiến tranh và hủy diệt là hai mệnh đề song hành với nhau Có nhữngngười lính anh hùng được xây dựng với niềm vinh quang chiến thắng khi đấutranh vì chính nghĩa Nhưng cũng có những kẻ cầm súng không có được niềm
tự hào ấy Và với họ, hiện thực chiến tranh, đơn giản và chân thực nhất, làmột hiện thực đầy chết chóc, hủy diệt hiện hình qua những số phận bất hạnh
và trạng thái tâm hồn hoang mang, bi đát Dấu ấn chiến tranh, ở môi trườngtiền tuyến hay hậu phương cũng đều chạm khắc lên số phận con người
Ở phía chúng ta, con đường ra trận giống như một ngày hội lớn của cả
dân tộc mà Phạm Tiến Duật từng ca ngợi: “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”
(Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây), hay như Tố Hữu đã viết: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Theo chân Bác).
Đó là cảm xúc dạt dào phấn khởi mà Chính Hữu ghi lại trong “Đường ra mặt trận”:
Những buổi vui sao, cả nước lên đường Xao xuyến bờ tre từng hồi trống giục Xóm dưới làng trên, con trai con gái Xôi nắm cơm đùm ríu rít theo nhau Súng nhỏ súng to chiến trường chật chội Tiếng cười hăm hở đầy sông đầy cầu.
Và cả trong những trang văn của Nguyễn Thi (Những đứa con trong gia đình, Người mẹ cầm súng), Anh Đức (Hòn đất), Nguyễn Minh Châu (Dấu chân người lính), v.v… con người đều mang một lòng yêu nước sâu sắc, ý
thức trách nhiệm với Tổ quốc, một niềm say mê chiến đấu và lý tưởng cao
Trang 36đẹp Văn chương nghệ thuật thời kỳ chống Mỹ chính là nơi hội tụ vẻ đẹp củachủ nghĩa anh hùng cách mạng với cảm hứng sử thi và tinh thần lãng mạn.Trong khi đó, “phía bên kia” lại không thể có được cái hào khí ấy Mặc cảmbán nước, mặc cảm lầm lạc đã in dấu vào văn học đô thị miền Nam Nhữngsáng tác của Phan Nhật Nam cũng viết về cuộc chiến ấy nhưng với tâm trạng
rã rời, đau đớn khác hẳn
Tỏ ra căm ghét chiến tranh đến cực độ, ông nói: “Chiến tranh lớn dần như một thứ quái thai được mùa, như tế bào ung thư ngon trớn, chiến tranh lớn như sinh vật quái dị ở hành tinh khác đến đây nẩy nở theo cùng chiều
rộng của không gian” (Mùa hè đỏ lửa) Ông chỉ nhìn thấy mất mát, hủy diệt
và đau thương trong mỗi khoảnh khắc chiến tranh
1.1 Chiến tranh phủ màu điêu tàn lên mảnh đất quê hương
Ông nhắc đến những vẻ đẹp yên bình trong quá khứ như niềm khát
vọng muôn thuở về hòa bình của nhân loại: “Nhớ bài chính tả của mười hai năm trước — Đồng lúa mới Tôi đến một vùng quê, kề bên trận địa, cánh đồng loáng nước nằm dài vắng bóng người nông phu cần mẫn, nhìn vào thôn xóm không một bóng người, khóm tre xơ xác, mái tranh im lìm Sáng mai thức dậy, đố ai biết có những gì thay đổi, cánh đồng vắng vẻ ngày hôm qua
nay đã xanh rì ngọn mạ ” (Dấu binh lửa)
Chiến tranh đã đẩy cảnh bình yên thôn xóm vào vòng khói lửa, gương
mặt người dân là vẻ “chịu đựng nỗi kiên nhẫn của những người nông phu, đêm trở về trên cánh đồng vắng, cắm những cây mạ xanh trong lòng đất còn
mùi thuốc súng” Trong bút ký “Mùa hè đỏ lửa”, Phan Nhật Nam viết về
những mảnh đất ông từng đi qua, từng gắn bó giờ đổi thay ngỡ ngàng, không
phải trù phú hơn lên mà là tàn tạ, điêu linh Đây là mảnh đất An Lộc: “Trên diện tích bé nhỏ nầy, lại nhỏ hơn nữa của những ngày “tử thủ”, khi thành phố “co” lại với khoảng 900 thước bề dài còn lại Một ô vuông cây số hứng
Trang 37chịu gần 60 ngàn quả đạn, đạn đại bác bắn tập trung từ mười vị trí trở lên trong 100 ngày vây khốn” Đó là hiện thực khốc liệt, chỉ có quyền uy của bom đạn mới được khẳng định: “Đêm xuống thật nhanh trong rừng, rừng cũng chỉ
là chữ để gọi tên một vùng cây, vì ở đây rừng chỉ còn những thân cây cháy đen tua tủa dựng lên trời với cành khô không lá Cây ngổn ngang và rừng điêu tàn Bom đánh xuống cháy một xóm nhà vốn là sự thường trong chiến tranh, nhưng đốt cháy hẳn một cánh rừng bao la thì chỉ có ở Việt Nam Nơi thiên nhiên biến dạng bởi lửa đỏ” Ông cảm thấy bất lực trước những điều phi
lý đang diễn ra, thấy niềm tin vào lý tưởng vụn vỡ Cảnh hoang tàn gieo vào
lòng ông nỗi đau bất lực trước định mệnh tăm tối gây ra: “Quê hương gắng chịu tai ương của nhân loại Quê hương nguy khốn, ngặt nghèo Quê hương lửa dậy và Bình Long hừng hực tro bay Nơi sự sống không còn mặt đất” Lúc
này, Phan Nhật Nam hầu như đã quên đây là cuộc chiến ý thức hệ để chỉ còn
cảm nhận chiến tranh như một thứ tai ương ghê sợ của loài người “An Lộc co quắp, vật vã, tan thành mảnh, phất phới bay như tờ giấy xé nát được tung lên giữa trời lộng gió” Ngồi trên phi cơ đến các chiến trường để lấy tin, đưa tin,
anh lính - phóng viên Phan Nhật Nam xót xa nhìn cảnh quê hương bị tàn phá:
“Máy bay dọc theo biển để thấy rừng dương ở Nam Ô xơ xác, trơ rụi.Ôi khu rừng thơ mộng của ta mười bốn năm trước thế này sao Rừng không còn, chỉ còn khu vườn dương liễu cằn cỗi, bờ cát vàng dốc đứng nay cũng thấp xuống tan hoang Không còn gì nữa, quả thật không còn gì nữa, như tuổi thanh xuân đã mờ khuất đi” Trong cách diễn tả của nhà văn, mọi vấn đề của chiến
tranh hình như đều được quy chiếu về khát vọng hòa bình Ông không nóiđến lý tưởng chính trị, đến quan hệ đối kháng địch – ta Hiện lên dướingòi bút của tác giả chỉ có hình ảnh tan hoang của quê nhà do sức tàn phácủa chiến tranh
Trang 38Mùa hè đỏ lửa năm 1972 là ký ức không thể nào quên về miền đấtQuảng Trị thấm đầy máu và nước mắt Mùa hè khốc liệt ấy đã khiến cho mỗitấc đất ở đây đều phủ đầy xác người, sự sống biến mất sau những đống đổ nát.
“Tất cả tàn khốc chất ngất chiến tranh đã ào xuống trên Quảng Trị” Một
người lính hiếu chiến nhất định không để cho tâm trạng mình u uất, không cấtlời thở than thống thiết đến thế
Bút ký “Dấu binh lửa” ra đời khi nhà văn vừa bước chân vào cuộc
chiến Những tưởng khi ấy, hi vọng và khát vọng vẫn còn thì cái nhìn của ông
sẽ mang những cảm xúc khác Nhưng không, đọc tác phẩm, vẫn thấy hiển
hiện nỗi đau nghẹn ngào, tiếc xót: “Tôi ham mê đùa giỡn cùng sóng nước, giữa khung trời xa tít không biên giới với luồng gió có hương ngát từ khoảng không trên ngọn hải đăng ở Đà Nẵng.(…)Tôi sống, lớn lên, yêu đời, yêu quê hương từ đó.(…) Đà Lạt nét đẹp não nùng, tưởng chừng như một nốt nhạc ngân hoài không dứt” Đó là tình yêu thành thật và tự nhiên của một người
con đối với quê hương Bởi thế mà càng đau buồn, rời rã hơn khi chứng kiến
sự phũ phàng của chiến tranh: “Trời xám, cỏ xám, con sóng nhỏ, cánh buồm phiền, đàn chim mệt mỏi Đây là cảnh gần tàn, đời sắp đóng, trời đất âm u
để sửa soạn cho lần đổ nát ( ) Đây mới là khuôn mặt thật của quê hương Tôi nghĩ vậy Câm nín, u uất, nặng trĩu buồn rầu Quê hương ta, khuôn mặt thật chắc là đây”.
Người lính cộng hòa bất đắc dĩ làm tay sai cho đế quốc, không phải lúcnào cũng mang bộ mặt lạnh lẽo của kẻ xâm lăng Anh ta muốn gào to, muốn
nức nở trước định mệnh mù quáng: “Huế ơi! Quê Hương! Tôi muốn khóc hôm ấy Tôi muốn khóc biết bao nhiêu ” Phan Nhật Nam là một người lính
viết văn, trong những sáng tác đầu tay ông lại lựa chọn thể loại bút ký Quảthực, đó chính là thể loại chân thực hơn hết để ghi lại toàn bộ hình ảnh thật,cảm xúc thật của con người trong cuộc chiến
Trang 39“Quân vào làng, làng thật nghèo, hoang vu, cát xám, gai xương rồng, luống bắp cằn cỗi Sao cái đất của quê hương tôi tội nghiệp và thảm hại đến như vậy” Những tâm sự chân thành ấy là tấm lòng của một đứa con với đất
mẹ quê hương Chiến tranh đem lại hạnh phúc cho ai khi quê hương trở nêntang thương, tàn tạ đến thế? Chứng kiến cảnh quê hương điêu tàn, Phan NhậtNam thấy mình như một kẻ tội đồ, một đứa con bất hiếu với tổ tiên khi đang
tàn phá mảnh đất quê hương mình: “Sáng hôm nay, tôi cũng đang đi đốt quê hương Sáng hôm nay tôi cũng đang là tên lính viễn chinh trên phần đất mà
tổ tiên đã bằng một nỗ lực phi thường gây dựng nên từ bờ cát, đồng ruộng phèn chua Quê hương đẹp đẽ huyền thoại như chuyện đời xưa Này đây chiếc đầm xanh ngắt mờ mờ sương khói Ôi! Tôi đi đốt quê hương tiền nhân, tôi đi cắt mạch máu tổ tiên, tôi tàn hại cuồng khoái trên thân thể đã tan hoang vì bom đạn của một giải đất nghèo tên gọi là Thừa Thiên!!” Lời sám
hối cất lên từ một con người mơ hồ nhận ra bước đường đời sai lầm nhưngvẫn khát khao cuộc sống bình yên cho Tổ quốc Những dòng văn ấy là sự xácđịnh rõ ràng bi kịch tinh thần của Phan Nhật Nam khi sự chán ghét chiếntranh đã lên tới cùng cực
“Chiến tranh đồng nghĩa với phá vỡ tận gốc rễ” Viết về mảnh đất
quằn quại trong đau thương chiến trận với tất cả nỗi bi phẫn như thế, tinh thầnphản chiến làm cho bức tranh quê hương điêu tàn càng thêm thống thiết
1.2 Chiến tranh – kẻ thù của sự sống
Có người đã gọi chiến tranh là “thị trường xương máu” Quả thực, với
những “hạng buôn máu tươi và thuốc súng” (Tổ quốc – Dư Thị Hoàn) thì chiếntranh là ván bài kinh tế béo bở Và trong cuộc chiến ấy, có một quy luật
ngầm: “Lấy cái chết của phe dịch để làm an toàn cho phe mình, luật của
chiến tranh quả là tàn khốc” (Dấu binh lửa) Trong tâm thế của một người
lính chiến đấu mà Phan Nhật Nam lại đinh ninh rằng: “Vẫn biết rằng đi chiến
Trang 40trận là mất mát Không chết trước thì chết sau” (Mùa hè đỏ lửa) Niềm tin
này đã rút cạn mọi động lực chiến đấu Người lính cộng hòa chỉ còn lại nỗi
ám ảnh về cái chết Phan Nhật Nam đã viết về biết bao nhiêu cái chết Cáichết nào cũng gợi sự phi lý, bi thương Phải chăng với ông, người lính cộnghòa cầm súng chỉ để tiến vào cõi chết?
Tác phẩm “Dựa lưng nỗi chết”, ngay từ nhan đề đã nhấn mạnh nỗi sợ
hãi khôn nguôi ấy Câu chuyện xoay quanh cuộc sống của ba người lính nhảydù: Thuấn, Lạc và Minh Mỗi người một số phận, một hoàn cảnh, bất đắc dĩphải có mặt trong quân ngũ Họ đã chứng kiến biết bao đồng đội ngã xuống.Chương hai cuốn sách dành để tái hiện một trận đánh ác liệt Người lính ngụykhông phải đang thể hiện dũng khí của những anh hùng xả thân vì nghĩa lớn
mà chỉ là những con người nhỏ nhoi, hoảng loạn “chạy trên nghĩa địa, trên người chết, để tạo nên số người chết mới” Hạ sĩ Hùng trong đại đội của Minh, 21 tuổi, người vẫn cầu kinh mỗi tối, người vẫn khen: “Người Việt Nam
“nền” có con mắt thiệt đẹp Thượng sĩ hi”, chỉ sau trận chiến ấy thôi, con mắt
“vô tội ngọt ngào” chỉ “còn lại tảng tối mênh mông như mặt biển khi trăng lặn vào mây đen” Tử thần đã gọi tên anh ta Giữa cảnh “đạn đi đầy trong bầu trời, những tiếng rít xé gió kinh khiếp sát vào cạnh mang tai”, cái chết không
còn làm chấn động lòng người Đó còn là cái chết của gã binh nhất mang máy
truyền tin: “Gã binh nhất mang máy truyền tin ngã nhào xuống, viên đạn xuyên qua lớp thịt trần trụi tiếp tục phá chiếc máy một lỗ lớn Hai thứ kim khí chạm nhau không thành tiếng động vì được lót lớp thịt người(…) Một loạt đạn khác bay đến, những lỗ đạn tốt tươi tênh hênh trên than áo ngụy trang Minh nghe được tiếng động của viên đạn đi qua than thể người lính” Đó
cũng là thế giới của cõi chết mà người đồng đội của Thuấn vừa bước vào:
“Trái mìn nổ Phương ngã vào Thuấn áo quần bị xé nát, máu chảy ra từ những lỗ thủng đẫm ướt lồng ngực khoẻ mạnh phơn phớt lông tơ Phương hai