Chứng minh việc giải mã các tác phẩm văn học dưới góc độ phân tích diễn ngôn đang là hướng đi mới mẻ, là xu hướng có tính hệthống, hiệu quả và phù hợp với xu hướng nghiên cứu chung củ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-o0o -QUÁCH THỊ THANH NHÀN
TIẾP CẬN TÁC PHẨM
“MẢNH TRĂNG CUỐI RỪNG” TỪ GỐC ĐỘ PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
1.1 Những vấn đề chung về phân tích diễn ngôn 7
1.1.1 Khái quát về phân tích diễn ngôn 7
1.1.1.1 Vị trí của phân tích diễn ngôn 7
1.1.1.2 Phân biệt “văn bản” với “diễn ngôn” 8
1.1.1.3 “Phân tích văn bản” với “Phân tích diễn ngôn” 9
1.1.1.4 Khái niệm về diễn ngôn 10
1.1.1.5 Phân tích diễn ngôn 11
1.1.2 Ngữ vực 12
1.1.2.1 Trường diễn ngôn 12
1.1.2.2 Phương thức diễn ngôn 12
1.1.2.3 Không khí chung 13
1.1.3 Liên kết 14
1.1.3.1 Khái niệm liên kết 14
1.1.3.2 Các phương thức liên kết 15
1.1.4 Mạch lạc 20
1.1.4.1 Khái niệm mạch lạc 20
1.1.4.2 Biểu hiện của mạch lạc 21
1.2 Vài nét về tác giả Nguyễn Minh Châu và tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng” 30
Trang 31.2.1 Về tác giả Nguyễn Minh Châu 30
1.2.2 Về tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng” 31
Tiểu kết chương 1 31
Chương 2: TIẾP CẬN TÁC PHẨM “MẢNH TRĂNG 32
CUỐI RỪNG” TỪ GÓC ĐỘ NGỮ VỰC 32
2.1 Trường trong tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng” 32
2.1.1 Các phân cảnh (lớp) trong tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng ” 32
2.1.2 Các trường cụ thể trong diễn ngôn “Mảnh trăng cuối rừng” 33
2.1.2.1 Trường của lớp 1: Cảnh sinh hoạt của cánh lính lái xe 33
2.1.2.2 Trường của lớp 2: Lãm nhận bàn giao công việc từ anh phụ lái
và quyết định cho cô gái đi nhờ xe 35
2.1.2.3 Trường của lớp 3: Cuộc đối thoại giữa Lãm và Nguyệt về việc
đi nhờ xe 36
2.1.2.4 Trường của lớp 4: Chị Tính và việc mai mối cho em trai 38
2.1.2.5 Trường của lớp 5: Cuộc đối thoại giữa Lãm và Nguyệt
trong ca bin 39
2.1.2.6 Trường của lớp 6: Đoạn cầu Đá Xanh đầy trắc trở và nguy hiểm; Lãm xúc động trước hành động đẹp của Nguyệt 40
2.1.2.7 Trường của lớp 7: Lãm kể về chuyện xảy ra ở hạt giao thông
của chị Tính 42
2.1.2.8 Trường lớp 8: Lãm kết thúc câu chuyện của mình với đồng đội khi trăng xuất hiện 43
2.2 Thức trong tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng” 43
2.2.1 Thức của lớp 1 44
2.2.2 Thức của lớp 2 45
2.2.3 Thức của lớp 3 46
2.2.4 Thức của lớp 4 47
2.2.5 Thức của lớp 5 48
Trang 42.2.6 Thức của lớp 6 49
2.2.7 Thức của lớp 7 49
2.2.8 Thức cuả lớp 8 51
2.3 Không khí chung trong tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng” 52
2.3.1 Không khí giữa Lãm và đồng đội 52
2.3.2 Không khí giữa Lãm và đồng chí lái phụ 52
2.3.3 Không khí giữa Lãm và Nguyệt 53
2.3.4 Không khí giữa Lãm và chị Tính 55
Tiểu kết chương 2 55
Chương 3: TIẾP CẬN TÁC PHẨM “ MẢNH TRĂNG CUỐI RỪNG” TỪ GÓC ĐỘ MẠCH LẠC VÀ LIÊN KẾT 57
3.1 Tiếp cận tác phẩm "Mảnh trăng cuối rừng" từ góc độ mạch lạc 57
3.1.1 Mạch lạc thể hiện trong trong tính thống nhất đề tài và chủ đề 57
3.1.1.1 Mạch lạc thể hiện trong tính thống nhất đề tài 58
3.1.1.2 Mạch lạc thể hiện trong tính thống nhất chủ đề 61
3.1.1.3 Mạch lạc biểu hiện trong duy trì đề tài 64
3.1.1.4 Mạch lạc thể hiện trong triển khai đề tài 65
3.1.2 Mạch lạc thể hiện trong trật tự hợp lí logic giữa các câu
trong tác phẩm 66
3.1.2.1 Không gian, thời gian trong tác phẩm mảnh trăng cuối rừng 66
3.1.2.2 Mạch lạc thể hiện trong trật tự giữa các câu phản ánh
nguyên nhân 68
3.1.3 Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ thích hợp giữa các
hành động ngôn ngữ 69
3.2 Tiếp cận tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng” từ góc độ liên kết 79
3.2.1 Phương thức lặp 79
3.2.2 Phương thức thế 83
3.2.2.1 Thế đại từ 83
Trang 53.2.2.2 Thế đồng nghĩa 85
3.2.3 Phương pháp đối 87
3.2.3.1 Đối trái nghĩa 87
3.2.3.2 Đối phủ định 87
3.2.4 Phương thức liên tưởng 88
3.2.4.1 Liên tưởng định lượng 88
3.2.4.2 Liên tưởng định vị 89
3.2.4.3 Liên tưởng định chức 91
3.2.4.4 Liên tưởng nhân quả 91
3.2.5 Phương thức nối 93
3.2.5.1 Kiểu nối bổ trợ 93
3.2.5.2 Kiểu nối nghịch đối 93
3.2.5.3 Kiểu nối chuyên đổi 94
3.2.5.4 Kiểu nguyên nhân: 94
3.2.6 Phép liên kết tuyến tính 95
3.2.7 Phương thức tỉnh lược 99
Tiểu kết chương 3 100
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤC LỤC 110
Trang 61.2 “Mảnh trăng cuối rừng” là một trong những truyện ngắn đặc sắccủa Nguyễn Minh Châu Tác phẩm ca ngợi lý tưởng sống, chiến đấu cao đẹpcủa thế hệ trẻ trong công cuộc đấu tranh, thống nhất đất nước Trước đó, khitiếp cận tác phẩm này, các nhà nghiên cứu chỉ tập trung khai thác theo chiềuhướng phân tích văn học, phê bình văn học, lý luận văn học mà chưa cócông trình nào tìm hiểu tác phẩm thông qua hướng phân tích diễn ngôn Tiếp
cận “Mảnh trăng cuối rừng” theo hướng này, chúng tôi hy vọng sẽ giúp ích
cho việc tìm hiểu tác phẩm có thêm tài liệu tham khảo, đồng thời cũng gópphần cho việc nghiên cứu văn học theo hướng phân tích diễn ngôn trở nênphong phú hơn
Trang 7Chính những lí do trên đã khiến chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài:
“Tiếp cận tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng” nhìn từ góc độ phân tích diễn ngôn” để nghiên cứu Chứng minh việc giải mã các tác phẩm văn học dưới
góc độ phân tích diễn ngôn đang là hướng đi mới mẻ, là xu hướng có tính hệthống, hiệu quả và phù hợp với xu hướng nghiên cứu chung của sự kết hợphài hòa giữa ngôn ngữ và văn học
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Phân tích diễn ngôn được gọi là giai đoạn 2 của “ngữ pháp vănbản”, điều đó chứng tỏ con đường đi theo ngữ pháp câu của “ngữ pháp vănbản” là không thỏa đáng Cần phải có hướng nghiên cứu khả quan hơn về việctiếp cận các đơn vị ngôn ngữ trên câu Phân tích diễn ngôn được giao nhiệm
vụ là cố gắng làm rõ mối quan hệ giữa kết cấu ngôn từ bên trong văn bản vớinhững yếu tố ngoài văn bản Có thể nói, “phân tích diễn ngôn” được sử dụnglần đầu tiên gắn với tên tuổi của Harris, ông đề cập đến vấn đề này trong một
bài viết mang tên Phân tích diễn ngôn vào năm 1952 Tuy nhiên thuật ngữ
này, một mặt còn khá mới mẻ đối với độc giả, mặt khác là sức thuyết phục ởcác luận điểm của bài báo chưa cao Bởi vậy, cho dẫu có cái tên nhan đề đầyhứa hẹn (phân tích diễn ngôn) song nó lại không làm hài lòng giới nghiên cứungôn ngữ và độc giả lúc bấy giờ Vì thế, sự phổ biến của khái niệm diễn ngôn,phân tích diễn ngôn còn rất hạn chế Sau Harris, người có công đưa các kháiniệm này trở nên gần gũi với độc giả hơn phải kể đến Mitchell (1957) và chỉđến năm 1975 thuật ngữ “diễn ngôn” mới được đông đảo bạn đọc tiếp nhậnnhờ hai tác giả J.Sinclair và M.Couthard Họ đã viết chung một cuốn sách
mang tên Về một phân tích diễn ngôn Không những thế, vào năm 1977, tác giả M.Couthard còn đưa ra Một dẫn luận về phân tích diễn ngôn Từ đó đến
nay đã có không ít tài liệu in thành sách có nhan đề chung quanh “phân tíchdiễn ngôn” và “diễn ngôn” mà nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu có phần gầngũi với nhau Khi nói tới các chuyên gia nghiên cứu về phân tích diễn ngôn
Trang 8được biết đến nhiều ở Việt Nam hiện nay phải kể đến những tên tuổi như:G.Brown và G.Yule; S.C.Levinson; D.Nunan; Van Dijk; Fairclough;…Những công trình của họ đã tạo nền tảng lý thuyết quan trọng định hướng cho
sự tiếp cận của các nhà nghiên cứu diễn ngôn sau này
Ở Việt Nam hai nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã có những công trìnhchuyên sâu về Phân tích diễn ngôn là Trần Ngọc Thêm và Diệp Quang Banmột số công trình của hai ông là: “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” (TrầnNgọc Thêm), “Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản” (Diệp Quang Ban)Tác giả đã đề cập đến phân tích diễn ngôn một cách có hệ thống với các vấn
đề liên quan đến tên gọi, mạch lạc, phân tích và phân loại diễn ngôn cácphương tiện liên kết trong văn bản
Ngoài ra trong thời gian này còn có các công trình nghiên cứu
chuyên sâu là: “Cơ sở ngữ dụng học” của Đỗ Hữu Châu (2005), “Các
phương tiện liên kết và tổ chức văn bản” của Nguyễn Chí Hòa (2006),
“Phân tích diễn ngôn, một số vấn đề lý luận và phương pháp” của Nguyễn
Hòa (2008), “Giao tiếp và giao tiếp giao văn hóa” của Nguyễn Quang (2002), “Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học hôm nay” của
Trần Đình Sử (2013) Tất cả những công trình nghiên cứu phân tích diệnngôn của các nhà ngôn ngữ kể trên xét về phương diện lý luận đều lànhững công trình có giá trị trong công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứutiếng Việt nói chung Song, những công trình nghiên cứu ấy còn nằm trênbình diện rộng Nó chưa đi sâu vào tìm hiểu ý nghĩa và tác dụng của phântích diễn ngôn ở từng tác giả và tác phẩm cụ thể
2.2 Đối với tác giả Nguyễn Minh Châu và tác phẩm “Mảnh Trăng cuốirừng”, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cũng như hàng loạt bài viết đềcập đến
Về những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, luôn để lại cho người đọcmột cái nhìn mới mẻ về những sáng tác văn học hiện đại Những tác phẩm đó
Trang 9luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà nghiên cứu khám phá Trần Đình
Sử có bài “Bến quê, một phong cách trần thuật giàu chất triết lí” bàn đến
những vấn đề liên quan đến nghệ thuật trần thuật của truyện Trịnh Thu Tuyết
trong bài “Một số cốt truyện trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu” đề cập đến nội dung và cấu trúc truyện của các tác phẩm Trong cuốn sách “Phong
cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu”, tác giả đã tiến hành khảo sát toàn bộ
các sáng tác của Nguyễn Minh Châu dưới góc nhìn phong cách học Nhằmtìm hiểu và chứng minh phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu tồn tạitrên các phương diện: tư tưởng nghệ thuật, nhân vật, tình huống và điểm nhìntrần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ trong các sáng tác của nhà văn
Về tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng”, có những công trình và bài viết
sau: Bùi Công Thuấn với Góp thêm một cách hiểu “Mảnh trăng cuối rừng
“của Nguyễn Minh Châu khẳng định vẻ đẹp của tình yêu lứa đôi và lý tưởng
phục vụ tổ quốc Ngoài ra còn có Ánh Tuyết với bài viết : “Nghệ thuật tự sự
của Nguyễn Minh Châu” xoay quanh vấn đề sáng tạo ra tình huống truyện
độc đáo và hấp dẫn Mỗi bài viết là những nhận định, những đánh giá đachiều của tác giả về thiên truyện trên nhiều bình diện khác nhau, chứng minh
sự hấp dẫn của tác phẩm này qua thời gian dài
Tuy có nhiều công trình nghiên cứu về tác phẩm này, nhưng chủ yếunhìn nhận nó thiên về hướng lý luận văn học, phê bình văn học, chưa có côngtrình nào giải mã “Mảnh trăng cuối rừng” theo hướng phân tích diễn ngôn.Chúng tôi mong muốn, thông qua đề tài này nói lên cách tiếp cận hoàn toànmới, dựa trên lý thuyết của bộ môn phân tích diễn ngôn khám phá tác phẩmtrên bình diện chung nhất, giúp cho người đọc nhận thấy việc nghiên cứuchuyên sâu vào tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng” bằng phân tích diễn ngôn làmột vấn đề mới, hấp dẫn và đáng được quan tâm
Trang 103 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích sau: tìm hiểu, giải mãtác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng” bằng con đường phân tích diễn ngôn.Thông qua đó, làm rõ các giá trị về nội dung cũng như nghệ thuật của tácphẩm Đặc biệt, giúp người đọc hiểu hơn về tính chặt chẽ và logic, sự liên kếtgiữa các phát ngôn trong văn bản
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tiếp cận tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng” từ góc độ ngữ vực (trường,thức, không khí chung) để thấy rõ các phân cảnh, các nhân vật, mối quan hệgiữa các nhân vật, các lớp đối thoại hay từng “màn kịch” mà các nhân vậttham gia
Đọc tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng” từ góc độ liên kết để thấy sự gắn
bó chặt chẽ của các câu, các đoạn trong toàn văn bản
Phân tích tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng” từ góc độ mạch lạc để thấymối quan hệ về mặt nội dung giữa các phát ngôn, các đoạn, các phần trongvăn bản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng” được innăm (1984) tại Nxb Văn học, Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng” từ
ba góc độ cơ bản như ngữ vực (trường, thức, không khí chung), liên kết và mạchlạc Có rất nhiều hướng tiếp cận tác phẩm này từ góc độ PTDN nhưng chúng tôichỉ lựa chọn ba vấn đề trên để đảm bảo dung lượng một luận văn thạc sĩ
5 Phương pháp nghiên cứu
Tiếp cận tác phẩm nhìn từ góc độ diễn ngôn đang còn khá mới mẻ vớingười đọc vì thế để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng phương phápnghiên cứu sau :
Trang 11 Phương pháp phân tích diễn ngôn.
Phương pháp phân tích miêu tả ngôn ngữ và phân tích văn học:
Thủ pháp thống kê, phân loại
VI Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận thì luận văn được triển khai thành bachương:
Chương 1: Cơ sở lý luận.
Chương 2: Tiếp cận tác phẩm “Mảnh Trăng Cuối Rừng” từ góc độ
ngữ vực.
Chương 3: Tiếp cận tác phẩm “Mảnh Trăng Cuối Rừng” từ góc độ
mạch lạc và liên kết.
Trang 12Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Những vấn đề chung về phân tích diễn ngôn
Việc nghiên cứu và tìm hiểu cơ sở lý thuyết của bộ môn phân tích diễn
ngôn (Discourse analysis) viết tắt là PTDN, luôn là mục tiêu của các nhà
nghiên cứu tìm hiểu ngôn ngữ Sau đây là những lý luận chung, khái quátnhất của PTDN
1.1.1 Khái quát về phân tích diễn ngôn
1.1.1.1 Vị trí của phân tích diễn ngôn
Người đầu tiên đề cập đến và đưa ra thuật ngữ PTDN là Z.Harris vớitác phẩm “Discourse Analysis” (1952) Người thứ hai được biết đến làMitchell (1957) và người có công truyền bá PTDN cùng với tên gọi của nó làVan Dijk Harris đã quan niệm rằng, văn bản mới thể hiện sự hoạt động củangôn ngữ, chứ không phải câu hay từ như người ta quan niệm và đặc trưngcủa đơn vị này là sự thống nhất nghĩa và chức năng giao tiếp Cho nên cáchtiếp cận diễn ngôn ở giai đoạn này thường được coi là là tiếp cận hình thức vànằm trong khuôn khổ của “các ngữ pháp văn bản” Mitchell thì thiên về cácchức năng xã hội và sử dụng các mẫu diễn ngôn tự nhiên trong xã hội Ngoài
ra nghiên cứu về phân tích diễn ngôn còn có các tác giả như J.Sinclair vàR.Coulthard (1975); M.Stubbs (1983); G.Brown và G.Yule (1983)… Vớicông trình nghiên cứu năm 1983 của Brown và Yule, phân tích diễn ngôn đãthực sự được thừa nhận rộng rãi Những công trình của họ đã tạo cơ sở nềntảng, quan trọng hơn là định hướng cho các nhà nghiên cứu tiếp cận diễnngôn sau này
Ở Việt Nam, PTDN đã được khẳng định thông qua nhiều nghiên cứucủa các tác giả như Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu (1985), Trần Ngọc Thêm(1985), Nguyễn Đức Dân, Cao Xuân Hạo (1991), Diệp Quang Ban (1998),
Trang 13(2009), Nguyễn Thiện Giáp (2000), (2008), Nguyễn Hòa (2005), (2008) Cáctác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề như: chiếu vật và chỉ xuất, lí thuyết hànhđộng ngôn ngữ, lí thuyết hội thoại, ý nghĩa tường minh, ý nghĩa hàm ngôn,ngữ cảnh và ý nghĩa, diễn ngôn và PTDN, diễn ngôn và văn hóa, dụng họcgiao văn hóa.
Ngày nay bộ môn PTDN là một mảnh đất màu mỡ và vô cùng phongphú hứa hẹn một là một lĩnh vực nghiên cứu vô cùng thú vị cho những nhànghiên cứu ngôn ngữ
1.1.1.2 Phân biệt “văn bản” với “diễn ngôn”
Có thể nói diễn ngôn và văn bản là hai khái niệm cơ bản trong lí luận PTDN Thực tế việc phân tích rạch ròi giữa diễn ngôn và văn bản là điều khá khó khăn Nhiều tác giả sử dụng diễn ngôn cũng giống như văn bản, bởi
chúng có thể sử dụng thay thế lẫn nhau, bao hàm nhau Có nhiều quan điểm
phân giới giữa văn bản và diễn ngôn nhưng vẫn có cách hiểu thống nhất về
chúng bởi chúng tập trung ở quan niệm sau:
Theo R.Barthes (1970) cho rằng đối tượng khảo sát được gọi là “diễnngôn” cũng là “văn bản”, nhưng văn bản do ngôn ngữ học nghiên cứu, còndiễn ngôn do “ngôn ngữ học diễn ngôn” nghiên cứu với những nội dungnghiên cứu riêng Ở đây, Barthes đã có tính đến các mục đích giao tiếp (mặt
xã hội) và sự liên thông giữa văn hóa với ngôn ngữ
D.Nunan trong “Dẫn nhập phân tích diễn ngôn” (bản dịch của Hồ
Mỹ Huyền - Trúc Thanh) (1997) thì sử dụng “thuật ngữ văn bản để chỉ bất kìcái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp” Còn “thuật ngữ diễnngôn lại để chỉ việc giải thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh.” [8; 21]
G Brown & G Yule (2002) trong “Phân tích diễn ngôn” xem “vănbản như là một thuật ngữ khoa học để chỉ dữ liệu ngôn từ của một hành vigiao tiếp” Ở một đề mục cụ thể, hai tác giả đã khẳng định: “sự biểu hiện củadiễn ngôn là văn bản.” [5; 22]
Trang 14Theo Nguyễn Hòa (2008), H.G.Widdowson cũng là một tác giả có cáchphân biệt diễn ngôn và văn bản giống với G.Brown & G.Yule và D.Nunan.H.G.Widdowson xem diễn ngôn là một quá trình giao tiếp Kết quả về mặttình huống của quá trình này là sự thay đổi trong sự thể: thông tin đượcchuyển tải, các ý định được làm rõ, và sản phẩm của quá trình này là văn bản.[theo 34; 32]
Từ những quan điểm nêu trên, rõ ràng là trên một phương diện nhấtđịnh, diễn ngôn hay văn bản có thể coi là hai mặt của một sự vật, tuy ngoạidiên của diễn ngôn rộng hơn so với văn bản, bởi lẽ với tư cách là một quátrình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp, nó còn bao hàm cả các yếu tố ngoài ngônngữ như ngữ cảnh tình huống, yếu tố dụng học và các tác động của các chiếnlược văn hóa ở người sử dụng ngôn ngữ Có thể hiểu văn bản như là sản phẩmngôn ngữ ghi nhận lại quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viếttrong một hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể Việc sử dụng hai khái niệm nàythay thế lẫn nhau là một điều dễ hiểu Trong thực tế sử dụng, một số tác giảkhông phân biệt giữa diễn ngôn và văn bản trừ phi muốn nhấn mạnh tới mặthành chức hay mặt hình thức của ngôn ngữ
1.1.1.3 “Phân tích văn bản” với “Phân tích diễn ngôn”
Theo D.Nunan, phân tích văn bản là xem xét các đặc điểm hình thức của văn bản tách rời ngữ cảnh ngoài ngôn ngữ, còn phân tích diễn ngôn sẽ
quan tâm tới mặt chức năng Do vậy, phân tích diễn ngôn có thể đối lập vớiphân tích văn bản Trong thực tế thì khó có thể có sự phân tích giữa hình thức(phân tích văn bản) và tách biệt ra khỏi chức năng của (phân tích diễn ngôn),
và ngược lại [1, trang 34 ]
David Crystal cho rằng: Phân tích diễn ngôn tập trung vào cấu trúc
của ngôn ngữ nói xuất hiện một cách tự nhiên trong các diễn ngôn như lời đàm thoại, phỏng vấn, bình luận và lời nói Phân tích văn bản tập trung vào các cấu trúc của ngôn ngữ viết, trong các văn bản như tiểu luận, thông
Trang 15báo, biển chỉ đường và các chương sách (Dẫn theo Nguyễn Thị Ngọc Minh
[11]) Nhận định này cho thấy đối tượng nghiên cứu của hai bộ môn hoàntoàn khác nhau
Song dường như vẫn không có một ranh giới nào rạch ròi giữa các
phạm trù trên Nguyễn Hòa khẳng định, “Trong thực tế rất khó có thể phân
biệt rạch ròi giữa diễn ngôn và văn bản bởi trong văn bản sẽ có diễn ngôn, trong diễn ngôn sẽ có văn bản đây không phải là hai thực thể biểu hiện của ngôn ngữ hành chính trong bối cảnh giao tiếp xã hội Trong thực tế sử dụng, một số tác giả không phân biệt giữa diễn ngôn và văn bản trừ khi muốn mạnh tới mặt hành chức hay mặt hình thức của ngôn ngữ” [10, tr 33] Như vậy
chúng ta có thể thấy rằng văn bản sẽ bao gồm các yếu tố liên kết, cấu trúc đềthuyết, cấu trúc thông tin, kiểu loại diễn ngôn, cấu trúc diễn ngôn Còn diễnngôn sẽ bao gồm mạch lạc, hành động nói, sử dụng kiến thức trong quá trìnhsản sinh và tìm hiểu diễn ngôn
1.1.1.4 Khái niệm về diễn ngôn
Diễn ngôn là một thuật ngữ của ngôn ngữ học mà ngay từ khi mới ra
đời, bản thân tên gọi ấy đã chứa đựng nhiều cách nhìn với nhiều quan điểmkhác song về lí luận văn học thì còn rất ít Thực tế cho chúng ta thấy rằng đã
có rất nhiều quan niệm của các nhà ngôn ngữ học về thuật ngữ “văn bản” và
“diễn ngôn” Trong cuốn Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản tác giả
Diệp Quang Ban đã trích dẫn nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu về haithuật ngữ này, trong đó chúng ta có thể kể đến một số định nghĩa sau:
Theo Bellert 1971 viết Diễn ngôn là chuỗi liên tục những phát ngôn
s1, s n , trong đó việc lý giải nghĩa của một phát ngôn s i (với 2 < i < n) lệ thuộc vào sự lý giải những phát ngôn trong chuỗi s 1 , s i-1 Nói cách khác,sự giải thuyết tương đương một phát ngôn tham gia diễn ngôn đòi hỏi phải biết ngữ cảnh đi trước [5, trang 199].
Trang 16Crystal ghi nhận: Diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ, (đặc
biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo, lời tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể (Dẫn theo Diệp Quang Ban [3, tr.200]).
Từ những ý kiến trên ta thấy: diễn ngôn là thuật ngữ chỉ sự kiện giaotiếp có mục đích, thống nhất và có mạch lạc, được ghi nhận lại bằng văn bản
1.1.1.5 Phân tích diễn ngôn
Trải qua một quá trình khá dài để đi đến thống nhất tên gọi Phân tíchdiễn ngôn song để có cách hiểu thế nào là phân tích diễn ngôn thì đây hẳn làmột vấn đề còn nhiều trăn trở đối với các nhà nghiên cứu Đã có nhiều cáchnhìn khác nhau về vấn đề này nhưng vẫn chưa thể đưa ra được cách hiểu đầyđủ nhất nội hàm của phân tích diễn ngôn Trong phạm vi của đề tài này,chúng tôi xin trích dẫn một cách hiểu về phân tích diễn ngôn của tác giả DiệpQuang Ban như sau:
PTDN là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn/ văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực (register) mà nội dung hết sức phong phú và đa dạng (gồm các hiện tượng thuộc thể loại và phong cách chức năng, phong cách cá nhân, cho đến các hiện tượng xã hội, văn hóa, dân tộc) [5, 158].
Trong định nghĩa này có ba yếu tố quan trọng nhất :
- Đối tượng khảo sát: tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễnngôn hay văn bản), đó là nói đến các dạng tồn tại của ngôn ngữ được dùnglàm đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: tính đa diện hiện thực của tài liệu ngôn ngữ
đó, tức là xét nghĩa các từ ngữ trong văn bản (diễn ngôn) trong quan hệ giữachúng với nhau (ngữ cảnh trong văn bản), và trong quan hệ với ngữ cảnh bênngoài văn bản
Trang 17- Phương pháp tiếp cận là phân tích (phân tích ngôn ngữ trong sửdụng), tức là lý giải cách sử dụng ngôn ngữ trong thực tế.
Nunan cũng khẳng định: “PTDN liên quan đến việc nghiên cứu ngôn
ngữ trong sử dụng để hiểu được con người có thể giao tiếp với nhau một cách thành công như thế nào cần phải xem xét không những các từ xuất hiện trên mặt giấy mà còn phải xem xét các kiến thức và các kĩ năng của bản thân người sử dụng ngôn ngữ” [, 134]
Trong thực tế rất khó có thể ứng dụng toàn bộ lý thuyết này để nghiêncứu một diễn ngôn cụ thể vì nó quá lớn vì thế nên chúng ta chỉ quan tâm phântích một diễn ngôn nào đó như: ngữ cảnh, ngôn vực, (trường, thức, không khí)mạch lạc, liên kết, hành động ngôn ngữ để cho người đọc có thể tiếp cận tácphẩm thông qua PTDN một cách dễ hiểu nhất
1.1.2 Ngữ vực
Ngữ vực được hiểu là dấu vết ngôn ngữ có khả năng mang nghĩa hoặcmang một giá trị nào đó có thể nhận biết được Theo Diệp Quang Ban, cácyếu tố thuộc ngữ vực gồm: trường diễn ngôn, phương thức diễn ngôn vàkhông khí chung
1.1.2.1 Trường diễn ngôn
Trường diễn ngôn là hoàn cảnh bao quanh diễn ngôn, là sự kiện tổngquát trong đó văn bản hành chức, cùng với tính chủ động và có mục đích củangười nói, người viết; bởi vậy nó bao gồm đề tài, chủ đề (subjet-matter) với
yếu tố trong đó Nói vắn tắt, trường là tính chủ động xã hội được thực hiện
[3, tr.159] Như vậy, trường là nơi gây ra kích thích (hoặc cảm hứng) để conngười chủ động tạo văn bản và là nơi cung cấp đề tài- chủ đề cho văn bản
1.1.2.2 Phương thức diễn ngôn
Thức (mode), là chức năng của văn bản trong sự kiện đó, do vậy baogồm hai kênh của ngôn ngữ nói và viết, ứng khẩu và có chuẩn bị và các thể
loại của nó, thức là vai trò của ngôn ngữ trong tình huống [3, tr.159]
Trang 18Theo cách hiểu này, thức là các cách tạo ngôn ngữ thích hợp với sựkiện cần diễn đạt, chịu sự chi phối của các điều kiện tạo văn bản.
1.1.2.3 Không khí chung
Theo Diệp Quang Ban, không khí chung là các vai xã hội được trìnhdiễn Không khí chung phản ánh mối quan hệ giữa những người tham gia giaotiếp với trạng thái tâm sinh lí của họ, với các kiểu quan hệ giữa họ [3:285-286]
Ngữ vực là đặc điểm của tình huống có liên quan tới văn bản, và chúng
là những phương tiện diễn ngôn
Ta có thể hiểu về các yếu tố của ngữ vực hơn qua ví dụ:
“Con cò chết rũ trên cây
Cò con mở lịch xem ngày làm ma
Cà cuống uống rượu la đà Chim ri ríu rít bò ra lấy phần Chào mào thì đánh trống quân Chim rít cởi trần , vác mò đi rao”
− Trường diễn ngôn:
Trường trong bài ca dao chính là cảnh sinh hoạt thường ngày ở các làng
xã Việt Nam Bài ca dao vẽ ra khung cảnh sống động đó với đôi chút châmbiễm diễu cợt cái tập tục rề rà, lễ lạt, tốn kém ở làng xã Việt Nam Với mụcđích châm chích những kẻ có vai có vế trong làng bao nhiêu thì bài ca dao lạicảm thông với cảnh lận đận, khốn khó của người nông dân lam lũ bấy nhiêu
− Phương thức diễn ngôn :
Phương thức diễn ngôn của bài ca dao là cách thức trần thuật của dângian Trong đó, các nhân vật tham gia trao đổi thông tin thông qua hình thứctương tác thoại không theo qui thức, tức là không có chào hỏi thông thường,không có lời đối thoại như con người Các nhân vật không có sự chuẩn bị đềtàicò mẹ do lao lực chết rũ từ bao giờ Vậy mà con cò con thì phải bày biện
Trang 19nào lễ nghi, số má, ngày giờ mới làm tang lễ trước mở lịch xem ngày làm ma,uống rượu la đà, ríu rít bò ra lấy phần, thì đánh trống quân, vác mò đi rao
Qua đó ta thấy từ cường hào, lý dịch cho đến người dân được dịp ănuống và hăng hái tham gia Đây chính là "việc làng" trong xã hội ngày xưa
− Không khí chung
Không khí ồn ào hỗn loạn, chủ yếu là không khí a dua nhau, hướngđến tranh giành thực phần, không ai quan tâm đến cái chết của cò mẹ Khôngkhí chung là không khí xa cách giữa các nhân vật Cụ thể là sự đối lập về lợiích giữa các loài vật, mà đại biểu là những thế lực bóc lột người nông dânnghèo Giai cấp thống trị chỉ để ý đến những phần lễ lạt mà giai cấp bị trị phảibày biện cho họ, không quan tâm đến đời sống khó khăn của đối phương.Tâm lý chung của đám chức sắc là muốn được lợi về lễ lạt, ăn uống, còn tâm
lý của cò con là phải lo cho đám ma của cò mẹ chu toàn theo tục lệ
Trường – thức – không khí chung tạo nên ngữ cảnh tình huống bên
ngoài diễn ngôn, dựa trên phong cách ngụ ngôn, dùng hình tượng những convật rất gần gũi với đời sống nhà nông để thể hiện một đám ma ở nông thôn.Diễn ngôn miêu tả một góc của đời sống người dân nghèo với những hủ tục,
lề thói rất sinh động Qua đó ta xác định được chủ đề giao tiếp, quan hệ giữanhững người tham gia giao tiếp, các mối quan hệ xã hội giúp chúng ta hiểuđược diễn ngôn ở mức độ nhất định
1.1.3 Liên kết
1.1.3.1 Khái niệm liên kết
Theo Diệp Quang Ban, liên kết xét cụ thể là kiểu quan hệ nghĩa giữa
hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu (hai mệnh đề) theo cách giải thích nghĩa cho nhau Nói rõ hơn, liên kết là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố
ngôn ngữ nằm trong hai câu mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thìphải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở hai câu (mệnh đề) chứa
Trang 20chúng được liên kết với nhau Các kiểu quan hệ nghĩa này làm thành nhữngcấu hình nghĩa của liên kết, hay khuôn hình tạo sinh diễn ngôn.
Theo Trần Ngọc Thêm với công trình Hệ thống liên kết văn bản tiếng
Việt, ông đã đưa ra cái nhìn đầy đủ và hệ thống về liên kết Ông định nghĩa:
Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ các câu trong văn bản
[15, tr.19] Liên kết có hai mặt: liên kết hình thức và liên kết nội dung Ôngquan niệm liên kết là khái niệm thuộc về phạm vi của cấu trúc trong văn bản,được quan tâm và khai thác trên cả hai mặt là hình thức và ý nghĩa
Qua hai quan niệm trên liên kết bao gồm cả nội dung và hình thức làmột mạng lưới các mối liên hệ và quan hệ giữa các câu, các đoạn, các phầntrong mỗi văn bản
1.1.3.2 Các phương thức liên kết
Theo Trần Ngọc Thêm, có 7 phương thức liên kết: phép lặp, phép đối,phép thế, phép nối, phép liên tưởng, phép tuyến tính, phép tỉnh lược Mỗiphương thức liên kết thể hiện một loại ý nghĩa, một chức năng nhất định trongviệc liên kết Như vậy, ý nghĩa chung hay cách thức chung mà các phươngtiện liên kết cùng thể hiện sẽ tạo thành một phương thức liên kết nhất định
a Phép lặp
Phép lặp là một phương thức liên kết thể hiện ở việc lặp lại trong kếtngôn những yếu tố đã có ở chủ ngôn (lặp tố) Phép lặp gồm có các dạng: lặpngữ âm, lặp từ vựng, lặp ngữ pháp
Tùy thuộc vào tính chất của lặp tố mà phép lặp có thể chia thành 3 dạngsau: lặp ngữ âm, lặp từ ngữ và lặp ngữ pháp
+ Lặp ngữ âm: Là một dạng thức của phương thức lặp thực hiện ở việc
sử dụng trong kết ngôn những yếu tố ngữ âm (như âm tiết, số lượng âm tiết,khuôn vần, phụ âm đầu, thanh điệu… ) đã có ở chủ ngôn
Trang 21Ví dụ:
Mẹ bống đi chợ đường trơn
(Ca dao)
+ Lặp từ vựng: Là một dạng thức của phương thức lặp thể hiện ở việc
lặp lại trong kết ngôn những từ hoặc những cụm từ (ngữ) đã có ở chủngôn
Ví dụ:
Cùng trông lại mà cũng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một mầu Lòng chàng ý thiếp cứ sầu hơn ai
(Chinh phụ ngâm - Đoàn Thị Điểm)
+ Lặp ngữ pháp: Là một dạng tức của phương thức lặp thể hiện ởviệc
lặp lại trong kết ngôn cấu trúc của chủ ngôn và có thể lặp lại cả một số hư từ
b Phép đối:
Trang 22Là phương thức liên kết thể hiện ở việc sử dụng trong kết ngôn mộtngữ đoạn (từ hoặc cụm từ) có ý nghĩa đối lập với một ngữ đoạn nào đó có ởchủ ngôn.
Căn cứ vào đặc điểm của các phương tiện dùng làm chủ tố và đối tố, cóthể phân loại phép đối thành bốn kiểu: đối trái nghĩa, đối phủ định, đối miêu
tả và đối lâm thời
Ví dụ: đối phủ định
Cứ quan sát kỹ thì rất nản Nhưng tôi chưa nản chỉ vì tin vào ông cụ.
(Nam Cao)Phép đối có tác dụng vừa làm liên kết câu, vừa là biện pháp tu từ, vừalàm cho câu thơ cân đối và có tính nhạc
c Phép thế
Phép thế là phương pháp thay thế từ ngữ ở các câu đi trước bằng các từngữ tương đương của các câu đi sau
Phép thế có hai loại: Thế đồng nghĩa và thế đại từ
+ Thế đồng nghĩa: là cách dùng các từ đồng nghĩa, gần nghĩa để thay
thế, được chia làm 4 loại: thế đồng nghĩa từ điển, thế đồng nghĩa phủ định,thế đồng nghĩa miêu tả, thế đồng nghĩa lâm thời
Người Pháp đổ máu đã nhiều Dân ta hi sinh cũng không ít.
(Hồ Chí Minh)
Đây là phép thế đồng nghĩa phủ định, vì từ nhiều và không ít đồngnghĩa phủ định cho nhau
+ Thế đại từ: dùng đại từ nhân xưng, đại từ thay thế (thế, vậy, như thế,
như vậy,…) hoặc đại từ chỉ định (đó, kia, ấy, mà, này, ) ở câu sau để thaythế cho từ ngữ cho câu đi trước
Trang 23Ví dụ:
Lão Hạc thổi cái mồi rơm, châm đóm
Tôi mời lão hút trước.
e Phép nối
Phép nối là phương thức sử dụng các quan hệ từ, các phó từ, trợ từ, các
từ ngữ chuyển tiếp để nối các câu Gồm có 4 loại: nối bằng quan hệ từ (rồi,
thì, nhưng, bởi, nên, mà, và, song,…) nối bằng phó từ (cũng, chính, còn, cứ, lại, điều, cả,…) nối bằng các từ chuyển tiếp (một là, hai là, tóm lại, cuối cùng, đầu tiên, trước tiên,…) dùng các từ đối lập (trái lại, thế mà, tóm lại, mặt khác,…)
Trang 24Ví dụ:
Đêm ấy tôi chạy nhanh đến như vậy, nhưng lên đến tiền tiêu giao hàng cho kho xong, thì trời đã gần sáng Thế là không kịp quay về rừng săng lẻ giấu xe nữa, đành đánh xe đi giấu ngay ở đấy.
(Mảnh trăng cuối rừng – Nguyễn Minh Châu)
Trong ví dụ trên, tác giả dùng từ thế là để nối giữa các câu Từ cho nên
có tác dụng biểu thị điều sắp xảy ra đối lập với ý mà câu đã nêu ở trước đó.Chỉ quan hệ nghịch đối
Theo tính chất của mối quan hệ giữa chủ tố và liên tố, phép liên tưởng
có thể chia thành bảy kiểu: liên tưởng bao hàm, liên tưởng đồng loại, liên
tưởng định lượng, liên tưởng định vị, liên tưởng định chức, liên tưởng đặctrưng, liên tưởng nhân quả
Ví dụ:
Hai đứa trẻ cũng có bộ mặt giống mẹ con không ai cười.
(Trần Mai Nam)
Trong ví dụ trên, ta có thể liên tưởng đến hai đứa trẻ và ba mẹ con
không ai cười cả đây là kiểu liên tưởng định lượng
Phép liên tưởng là phương thức liên kết có tác dụng làm tăng giá trịnghệ thuật của văn bản, giúp cho mạng lưới chủ đề trong văn bản được nốikết chặt chẽ
g Phép tuyến tính
Trang 25Phép tuyến tính là phương thức liên kết thực hiện ở việc sử dụng trật tựtuyến tính của các câu vào việc liên kết những câu có quan hệ chặt chẽ vớinhau về mặt nội dung.
Ví dụ:
Hắn rút dao xông vào Bá kiến ngồi nhổm dậy Chí Phèo đã văng dao tới rồi.
(Chí Phèo – Nam Cao)
- Phân loại phép tuyến tính
Xét mối quan hệ nội dung giữa các câu, phép tuyến tính có thể quy vềhai kiểu:
+ Liên kết tuyến tính của những câu có quan hệ thời gian
Trang 26Một cách dung dị và rất bao quát, có thể hiểu mạch lạc (coherence) làcái tầm rộng mà ở đó các lời nói được tiếp nhận là có “mắc vào nhau”, chứkhông phải là một tập hợp các câu nói không có liên quan với nhau (D.Nunan, 1993) [15 trang 169]
Mạch lạc là một trong những điều kiện ban đầu hay đặc tính ban đầucủa một văn bản: không có mạch lạc, một văn bản không phải là một văn bảnđích thực (K.Wales, 1994)”
Với cách hiểu trên đây về mạch lạc, có thể thấy: Mạch lạc là sự nối kết
có tính chất hợp lý về mặt nghĩa và mặt chức năng, được trình bày trong quá trình triển khai một văn bản (như một truyện kể, một cuộc thoại, một lời nói hay bài viết…), nhằm tạo ra những sự kiện nối kết với nhau hơn là sự liên kết với câu [3, tr.297]
1.1.4.2 Biểu hiện của mạch lạc
Mạch lạc là một hiện trạng mơ hồ, trừu tượng vì vậy nó là mảnh đấtđang nó đang là một được các nhà nghiên cứu tìm tòi và khám phá Các nhàngôn ngữ học đã không dừng lại ở việc tìm hiểu thế nào là mạch lạc, mà còn
đi sâu khám phá các biểu hiện ở mạch lạc Theo Diệp Quang Ban mạch lạc có
phạm vi biểu hiện khá phong phú, trong cuốn sách “Giao tiếp, diễn ngôn và
cấu tạo văn bản” ông đề cập tới 7 biểu hiện của mạch lạc.
a Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ nghĩa giữa các từ ngữ trong một câu
Mạch lạc được hiểu rõ trong quan hệ nghĩa giữa vật nêu ở chủ ngữ vớiđặc trưng nêu ở vị ngữ và trong quan hệ cú pháp giữa động từ với bổ ngữ Đểchứng minh cho điều này tác giả đã đưa ra ví dụ có tính chất “phản diện”
Ví dụ: “Con chó kêu meo meo”
Xét ví dụ ở câu trên thì câu này đúng ngữ pháp nhưng về mặt ý nghĩalogic không được chấp nhận do mâu thuẫn giữa đặc trưng “kêu” vốn đã đượcgắn cho cái con chó ở phần chủ ngữ “con chó kêu” với âm thanh được dùng
Trang 27để miêu tả con chó ở gần vị ngữ Hai đặc trưng “con chó kêu” “meo meo”không dung hợp được với nhau vì không thể tráo đổi, gán được tiếng kêu củacác loại vật cùng nhau được Trên thực tế, chỉ có những mèo phát ra được âmthanh này Bởi vậy câu này phi mạch lạc.
b Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các đề tài – chủ đề của các câu
Mạch lạc trong quan hệ giữa các đề tài của các câu có thể được thựchiện theo hai cách là duy trì đề tài và triển khai đề tài đồng thời liên quan đếnviệc tạo nên hệ thống đề và hệ thống tin trong mạng mạch
- Duy trì đề tài
Duy trì đề tài là trường hợp vật, việc, hiện tượng nào đó được nhắc lạitrong những câu khác nhau với tư cách là đề tài của câu đó Các từ ngữ diễnđạt đề tài này trong các câu khác nhau có thể chỉ là một và được lặp lại màcũng có thể là những yếu tố có bề ngoài khác nhau, nhưng cũng chỉ về vậtviệc hiện tượng đó Các phương thức thể hiện sự duy trì của đề tài là sử dụng
phép lặp từ vựng, tỉnh lược, phép thế.
Ví dụ:
Cái cò lặn lội bờ ao Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng?
Chú tôi hay tửu hay tăm, Hay nước chè đặc
Hay nằm ngủ trưa Ngày thì ước những ngày mưa Đêm thì ước những đêm thừa trống canh.
Qua ví dụ ta thấy từ hay và từ ước được lặp lại nhằm nhấn mạnh chú
tôi là người nhiều thứ: nghiện rượu, nghiện chè, lại nghiện cả ngủ trưa!Không những thế, chú còn là người rất “giàu ước mơ” - mà toàn mơ để
Trang 28không phải đi làm, để ngủ cho đã mắt Để duy trì đề tài này tác giả đã sử dụngphép lặp từ “hay” “ước”.
- Triển khai đề tài
Triển khai đề tài là trường hợp từ một đề tài nào đó trong một câu liêntưởng đến đề tài nào khác thích hợp trong một câu khác, theo một quan hệnào đó làm cho sự việc được phát triển hơn lên Các đề tài được đưa thêm vàophải có cơ sở nghĩa và cơ sở logic nhất định Cơ sở nghĩa thể hiện ở sự phùhợp về nghĩa của các đề tài mới thêm vào với đề tài đã có và với tình huống
sử dụng nói chung Cơ sở logic các kiểu quan hệ logic thích hợp với số lượng
đề tài được triển khai thỏa mãn tính cần và đủ Triển khai đề tài được thựchiện bằng các phương tiện liên kết thuộc các phép liên kết như phối hợp từngữ, phép so sánh
Ví dụ:
Đến lúc lấy chồng, anh sẽ giúp cho,
Giúp cho một thúng xôi vò Một con lợn béo, một vò rượu tăm, Giúp cho đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi chằm em đeo, Giúp cho quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau.
( Ca dao – Tát nước đầu đình )
“Con lợn béo, vò rượu tăm, đôi chiếu, chăn, chằm, quan tám tiền cheo, quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau” đều là những sính lễ cưới hỏi Chàng
trai muốn mượn lời bài ca dao để tỏ tình với cô gái Câu ca dao giống như lờicầu hôn của chàng trai, chàng trai đã tìm những vật thách cưới là những hìnhảnh rất gần gũi của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ Đề tài được triển khai rấtmạch lạc, từ việc nêu lên việc trả công cho cô gái đến việc đưa ra sính lễ tiến
Trang 29đến hôn nhân Sự phát triển của đề tài nêu trên thành công được là do đónggóp rất lớn của phép liên tưởng.
c Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các phần nêu đặc trưng ở những câu có quan hệ nghĩa với nhau
“Để tạo tính mạch lạc, khi trình bày các sự việc, sự vật, hiện tượng…”,một chuỗi câu nỗi tiếp nhau cũng đòi hỏi phải có cơ sở hợp lí Nếu giữa cácvật và các đặc trưng riêng của từng vật không logic thì sẽ không tạo đượcmạch lạc
Ví dụ:
Bố em là bác sĩ Mẹ em là giáo viên Cô hàng xóm cho mẹ em con gà.
Các câu (1), (2) rất logic với nhau nhưng câu (3) lại là một vấn đề khác,không dung hợp được với đặc trưng nêu những câu trên Đặc điểm “cô hàngxóm” không nói về nghề nghiệp mà nói về cô hàng xóm cho mẹ em con gà
Vì vậy câu (3) không mạch lạc với câu phía trước Qua ví dụ trên ta cũng cóthể khẳng định liên kết bằng từ ngữ chỉ có thể tạo lập mạch lạc giữa các câuvốn mạch lạc với nhau, không phải cứ có liên kết là có mạch lạc Mạch lạcmới là yếu tố quyết định một chuỗi câu thành văn bản
d Mạch lạc biểu hiện trong trật tự hợp lí giữa các câu (hay các mệnh đề)
Giữa các sự việc chứa trong câu hay các mệnh đề nối tiếp nhau trongcác câu đơn nối tiếp nhau, hoặc trong một câu ghép chứa nhiều mệnh đề cóthể có quan hệ thời gian, không gian, quan hệ nguyên nhân, quan hệ lập luận.Việc thay đổi trật tự giữa các câu có quan hệ với nhau như vậy có thể dẫn đếnnhững hậu quả khác nhau, nếu không được phép thêm vào những từ ngữ là rõquan hệ nghĩa logic giữa chúng Trong việc này có mấy hiện tượng thườnggặp và có tính chất tiêu biểu như:
- Trật tự giữa các câu (mệnh đề) diễn đạt quan hệ thời gian
Quan hệ thời gian nói ở đây là quan hệ thời gian vật lí khách quan Ởđây, luận văn chỉ bàn đến quan hệ thời gian vật lý, nó xuất hiện nhiều trong
Trang 30văn bản truyện, mạch lạc thường được xét theo kiểu quan hệ thời gian này.Quan hệ thời gian thường được chia thành những kiểu nhỏ như: thời điểm (làcái lúc mà sự việc diễn ra, với điểm mốc là “bây giờ”, trả lời cho câu hỏi “baogiờ” hay “lúc nào” Thời điểm gồm hai kiểu nhỏ là thời gian nối tiếp và thờigian gián cách.
Những câu có quan hệ thời gian trước - sau với nhau, nếu không dùng
từ ngữ đánh dấu quan hệ đó, thì trật tự bắt buộc là sự việc diễn ra trước phảiđược trình bày trước, sự việc diễn ra sau được trình bày sau Với trường hợpkhông dùng từ ngữ để làm rõ quan hệ thời gian và nếu trật tự của các câu diễnđạt hai sự việc trước - sau không tuân thủ thì có thể xảy ra hai trường hợp.Biến đổi trật tự sẽ tạo ra những câu vô nghĩa và sẽ làm thay đổi vai trò củacác yếu tố trong quan hệ
Ví dụ : (1) “Hôm nay em đi học (2 )Tiết học đầu tiên là môn Văn”.
Hai câu (1), (2) có quan hệ thời gian với nhau Sự việc ở câu (1) diễn ratrước, sự việc ở câu (2) diễn ra sau Nếu biến đổi trật tự của câu trên thành(2), (1) thì câu trở nên vô nghĩa
- Trật tự giữa các câu diễn đạt quan hệ nguyên nhân
Quan hệ nguyên nhân là quan hệ giữa hai sự kiện, hiện tượng Sự kiện,hiện tượng này là nguyên nhân của sự kiện, hiện tượng khác Mạch lạc theoquan hệ nguyên nhân từ góc độ tâm lí học còn có một dạng biểu hiện khác làsuy luận quy kết
Hai sự kiện có quan hệ nguyên nhân phải tuân theo những điều kiệnnhư tính ưu tiên thời gian, tính hiệu lực, tính cần, tính cần và tính đủ Quan hệnguyên nhân giữa các mệnh đề được diễn đạt bằng hai cách: phương tiện tu từ(từ ngữ chỉ quan hệ nguyên nhân) và khuôn hình tu từ (sử dụng khuôn hìnhdiễn đạt nguyên nhân) Các phương tiện tu từ thường gặp trong tiếng Việt là
vì, do, tại, bởi và (cho) nên (chỉ hệ quả) và phương tiện tương tự
Về nguyên tắc, sự việc chỉ nguyên nhân phải đứng trước sự việc là hệquả Do đó, khi không có phương tiện đánh dấu thì sự việc là nguyên nhân
Trang 31phải được trình bày trước sự vật là hệ quả, đó là khuôn hình tu từ chỉ quan hệnguyên nhân phải được trình bày trước sự việc là hệ quả, đó là khuôn hình tu
từ chỉ quan hệ nguyên nhân Nếu trật tự không được tuân thủ, thì có thể xảy ramột trong hai trường hợp một là tạo chuỗi câu vô nghĩa hoặc sẽ thay đổi vaitrò yếu tố trong quan hệ
Ví dụ: (1) “Tôi bị ngã xe.(2) Tôi không đi học được”.
Theo trật tự này “ngã xe” là nguyên nhân dẫn đến hệ quả “tôi không đihọc được” Nếu thay đổi vị trí của câu (2) với câu (1) thì câu sẽ trở nên vônghĩa Quan hệ nguyên nhân - hệ quả của hai câu trên sẽ được rõ hơn khi ta
thêm từ quan hệ: “Vì tôi bị ngã xe nên tôi không đi học được”.
e Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ ngoại chiếu
Mạch lạc có được trong mối quan hệ giữa từ ngữ trong văn bản với tìnhhuống bên ngoài văn bản được gọi là mạch lạc theo quan hệ ngoại chiếu (quychiếu ra bên ngoài văn bản) Tức là quy chiếu các từ trong văn bản với cácvật, việc, hiện tương bên ngoài văn bản Sự quy chiếu trong trường hợp nàygọi là sự chỉ thị Những cách chỉ thị được dùng là:
- Chị thị bằng tên riêng, bằng miêu tả đặc trưng
Đây là cách quy chiếu sử dụng tên riêng, tên chỉ người, miền đất, cơquan, nhãn hiệu… hay miêu tả đặc trưng nổi bật
Ví dụ:
“Buôn Ma Thuột là xứ sở nổi tiếng của cà phê” (Tên riêng)
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.
(Hồ Xuân Hương – Bánh trôi nước) (Miêu tả đặc trưng)
- Chỉ thị nhân xưng
Trang 32Dùng đại từ nhân xưng gồm ba ngôi “tôi, mày, nó”, trong đó “tôi” là
trung tâm của sự chỉ thị, hay cái mốc để chỉ thị
Ví dụ:
Tôi đang bực và lo xe không lấy được hàng hay gặp trở ngại gì, thì
đồng chí lái phụ đánh xe lên, từ dưới chân dốc, đã bóp còi inh ỏi như xe
chữa cháy Mặc tôi gắt, đồng chí lẳng lặng trao phiếu hàng cho tôi, vui vẻ
đặt vào trong cốp gói xôi lạc và một bi đông nước đường Chuyến này,
theo phân công của trung đội, chỉ mình tôi đi Tôi vẫn thường nhận một
mình một đầu xe
(Mảnh trăng cuối rừng – Nguyễn Minh Châu )
- Chỉ thị thời gian
Là quy chiếu sử dụng từ chỉ thời gian như bây giờ, bấy giờ, hôm qua,
ngày mai,… hoặc các từ chỉ thời gian đi kèm với các từ chỉ định như hồi ấy, sau này, hôm ấy,… và điểm mốc là “bây giờ”.
Ví dụ:
Bao giờ chạch đẻ ngọn đa
Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình
Bao giờ cây cải làm đình
Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta.
- Chỉ thị không gian
Là sự liên quan đến xác định vị trí có những đại từ chỉ định như đây,
đó, đấy, kia để chỉ về không gian
Ví dụ:
Anh phải tôn trọng cái điều có trước Trước khi làm chồng em, anh đã
là học trò của ông Phách từ lâu rồi Người thầy giáo ấy đã có công lớn đào
tạo được ra anh hôm nay đấy em ạ !
(Nhớ thầy Song An Hoàng Ngọc Phách, Tạp chí thế giới mới)
Trang 33Tính mạch lạc trong văn bản được thể hiện rõ hơn qua sự quy chiếucác từ ngữ trong văn bản với các vật, các việc, hiện tượng bên ngoài văn bản,nói cách khác phải đặt văn bản trong cả ngữ cảnh có như vậy ta mới hiểu hếtnội dung, ý nghĩa trong văn bản
h Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ lập luận
Trong việc tình bày các ý kiến, người ta có thể từ ý kiến này rút ra ýkiến khác bằng những suy lí Việc đưa những luận cứ (căn cứ để lập luận)nhằm đạt đến một kết luận nào đó (mang tính thuyết phục) được gọi là lậpluận Từ lập luận đó được hiểu theo hai cách một là quá trình thực hiện sự lậpluận hay việc lập luận; hai sản phẩm của quá trình lập luận, tức là chỉ toàn bộcái kiến trúc (construction) gồm các bộ phận cấu thành có quan hệ với nhautheo cách suy lí lập luận tạo ra, đây là cái lập luận
Trong lập luận có ba bộ phận: luận cứ, kết luận (hay luận đề) và quan
Quan hệ lập luận là quan hệ giữa luận cứ và kết luận Một kết luậnđúng phải dựa trên các luận cứ đúng và từ đó rút ra bằng những quan hệ lậpluận đúng
Lập luận cũng có thể thuộc lĩnh vực khoa học, với những luận cứ, kếtluận có tính chất khoa học, được chứng minh chặt chẽ theo kiểu khoa học,
Trang 34hay có tính chất tự nhiên không cần chứng minh Lập luận cũng có thể dùngtrong đời sống hằng ngày.
Có hai loại lập luận khái quát thường gặp khác nhau về cách quan hệ
giưa tiền đề với kết luận, theo đó có hai loại là lập luận trực tiếp và lập luận gián tiếp Lập luận trực tiếp là lập luận trong đó có một hay một số luận cứ đồng hạng, không phân biệt mức độ khái quát, và một kết luận Lập luận gián tiếp là lập luận được tổ chức bắt buộc từ ba mệnh đề, nên cũng gọi là tam đoạn luận hay luận ba đoạn Trong đó có hai mệnh đề luận cứ không ngang nhau về tính khái quát: một luận cứ chỉ “cái chung” làm tiền đề lớn hay đại tiền đề và một mệnh đề kết luận Trong lập luận trục tiếp cũng có thể có hơn một luận cứ, còn trong tam đoạn luận có hai luận cứ là đại tiền đề và tiểu tiền đề.
Ví dụ: “Hôm nay trời mưa, chúng ta không đi chơi công viên nữa.”
Luận cứ : “Hôm nay trời mưa”
Luận cứ : “Hôm nay trời mưa và lạnh”
Kết luận: “Chúng ta không đi chơi công viên nữa”.
Trong một lập luận có nhiều luận cứ, giữa các luận cứ có những quan
hệ xác định và chúng có thể được đánh dấu bằng những quan hệ từ xác định
và nó tạo ra tính mạch lạc cho văn bản
g Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ thích hợp giữa các hành động nói
Hành động nói là hành động được thực hiện trong khi nói như: hànhđộng hỏi, hứa, ra lệnh, cam kết, trả lời, cảm ơn, xin lỗi,… Khi các hành độngnói đi đôi với nhau thì bản thân chúng tạo ra được mạch lạc cho những lờitrao đổi hoặc cho chuỗi của những câu nối tiếp nhau Ví dụ hành động hỏithường kéo theo hành động trả lời, hành động cầu khiến thường kéo theohành động chấp nhận hoặc từ chối… Khi các hành động nói nối tiếp và khớp
Trang 35với nhau thì được gọi là khả năng dung hợp nhau giữa các hành động nói, đâycũng là một biểu hiện của mạch lạc trong chuỗi câu.
Ví dụ:
- Ngày mai cậu đi họp hộ tớ nha (nhờ vả)
- Xin lỗi cậu nha, ngày mai mình có tiết dạy rồi (từ chối)
- Vậy thôi tớ xin nghỉ họp vậy (chấp nhận sự từ chối)
Theo cách phân tích trên ta thấy chúng mạch lạc với nhau Kết luận cáchành động ngôn ngữ tương hợp với nhau sẽ tạo nên mạch lạc
1.2 Vài nét về tác giả Nguyễn Minh Châu và tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng”
1.2.1 Về tác giả Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu sinh ngày 20 – 10 – 1930 mất ngày 23 – 1 – 1989.Quê gốc: làng Thơi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Từ nhỏ,Nguyễn Minh Châu đã được tạo điều kiện học hành khá chu đáo Học ở quêrồi vào Huế, học tiếp đến năm 1945 thi đỗ bằng Thành Chung Những nămđầu cuộc kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Minh Châu tiếp tục học trung họctrong vùng kháng chiến Đầu năm 1950, khi đang là học sinh chuyên khoatrường Huỳnh Thúc Kháng ở Nghệ Tĩnh, Nguyễn Minh Châu tình nguyện vàoquân đội, theo học trường sĩ quan Trần Quốc Tuấn Sau đó, Nguyễn MinhChâu về công tác ở sư đoàn 320 Năm 1961, ông theo học Trường Văn hóaquân đội ở Lạng Sơn Vốn là một sĩ quan tham mưu trong quân đội, NguyễnMinh Châu sống và làm việc trước hết với tư cách là một người lính, nhưnglại là một người lính viết văn Những năm cuối đời, ông còn ấp ủ dự định viếtmột cuốn tiểu thuyết về cuộc chiến ở thành cổ Quảng Trị, rất tiếc nó khôngthể hoàn thành vì ông đã đột ngột ra đi khi đang ở giai đoạn tài năng chínmuồi nhất Ông mất ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại Hà Nội
Trang 361.2.2 Về tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng”
“Mảnh trăng cuối rừng” là truyện ngắn hay nhất của Nguyễn MinhChâu trong những năm chống Mỹ Truyện khá tiêu biểu cho những đặc điểmbút pháp của nhà văn trong giai đoạn trước 1975 và cũng mang những đặcđiểm chung của văn học ta giai đoạn ấy Truyện ngắn này đã được đưa vàonhiều tuyển tập truyện ngắn Việt Nam, đã được nhà nghiên cứu N.I.Nicolin(Nga) giới thiệu trong bài “Cuộc chiến tranh giải phóng và truyện ngắn ViệtNam hiện đại” (Tạp chí các dân tộc Á-Phi, tháng 4 năm 1973). Truyện kể vềtâm hồn trong sáng, tình yêu thủy chung, dũng cảm chiến đấu là phẩm chấtcao đẹp của người con gái Việt Nam trong những năm đánh Mĩ ác liệt
Tiểu kết chương 1
Khi tiếp cận tác phẩm từ góc độ phân tích diễn ngôn, chúng tôi dựa trênnhững quan điểm của Diệp Quang Ban và Trần Ngọc Thêm Trong khuônkhổ chương 1, chúng tôi tập trung nghiên cứu vào các khía cạnhngữ vực, liênkết và mạch lạc, cụ thể là:
Tiếp cận tác phẩm dựa trên quan điểm của Diệp Quang Ban thông qua
lý thuyết về ngữ vực
Tiếp cận tác phẩm dựa trên quan điểm của Trần Ngọc Thêm về liên kết,nhưng chỉ triển khai theo liên kết hình thức với 7 phương thức liên kết, khôngbao gồm liên kết nội dung
Tiếp cận tác phẩm dựa trên quan điểm của Diệp Quang Ban về mạch
lạc với 7 biểu hiện của mạch lạc
Trang 37Chương 2: TIẾP CẬN TÁC PHẨM “MẢNH TRĂNG
CUỐI RỪNG” TỪ GÓC ĐỘ NGỮ VỰC
Như đã trình bày ở trên, để giải mã một tác phẩm văn học theo hướngPTDN cần chú trọng đến ba phương diện là ngữ vực, liên kết và mạch lạctrong diễn ngôn Ở chương này, chúng tôi tiến hành tiếp cận“ Mảnh trăngcuối rừng” trên bình diện ngữ vực, giải mã những hiện tượng thuộc ba khíacạnh: trường, thức và không khí chung của tác phẩm
2.1 Trường trong tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng”
2.1.1 Các phân cảnh (lớp) trong tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng ”
“Mảnh trăng cuối rừng” là câu chuyện được thể hiện bằng hình thứcđối thoại tâm tình giữa Lãm và đồng đội Hơn nữa cách thức trần thuật này,còn có tác dụng gắn kết các sự kiện tưởng như rời rạc lại với nhau, tạo chocác diễn ngôn tính đa nghĩa nên trường của tác phẩm này khá đa dạng Để dễdàng tiếp cận tác phẩm, có thể phân ra các lớp
Lớp 1: Cảnh sinh hoạt của cánh lính lái xe
Lớp 2: Lãm nhận bàn giao công việc từ anh phụ lái và quyết định cho
cô gái đi nhờ xe
Lớp 3: Cuộc đối thoại giữa Lãm và Nguyệt về việc đi nhờ xe
Lớp 4: Chị Tính và việc mai mối cho em trai
Lớp 5: Cuộc đối thoại giữa Lãm và Nguyệt trong ca bin
Lớp 6: Đoạn cầu Đá Xanh đầy trắc trở và nguy hiểm, Lãm xúc độngtrước hành động đẹp của Nguyệt
Lớp 7: Lãm kể về chuyện xảy ra ở hạt giao thông của chị Tính
Lớp 8: Lãm kết thúc câu chuyện của mình với đồng đội khi trăng xuấthiện
Việc phân chia các lớp sự việc như trên giúp ta khảo sát các khía cạnhcủa tác phẩm được thuận tiện và dễ dàng hơn
Trang 382.1.2 Các trường cụ thể trong diễn ngôn “Mảnh trăng cuối rừng”
Môi trường diễn ra câu chuyện của các nhân vật có thể được phân rathành các trường rộng hoặc trường hẹp, và có các trường nhỏ nằm trong đó,chẳng hạn:
Trường rộng: Đất nước Việt Nam trong những năm chiến tranh chống
Mỹ đầy ác liệt và gian khổ Cuộc kháng chiến của dân tộc ta tuy chịu nhiều
hy sinh mất mát, nhưng trên hết là tinh thần đoàn kết toàn dân, toàn quân(cũng như tình đồng chí, tình yêu đôi lứa) hòa quyện với nhau tạo nên tìnhdân tộc đằm thắm Mọi người cùng kề vai sát cánh với nhau, kết thành tinhthần mạnh mẽ để chiến đấu giải phóng đất nước
Trường hẹp: Chiến trường miền Nam Việt Nam đầy nguy hiểm, trắc
trở trước sự tấn công ác liệt của quân thù Tuy vậy, những người lính lái xe,những thanh niên của hạt giao thông không hề sợ hãi trước sự tàn ác của địch,quyết chiến đấu đến cùng để giành độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam Họchấp nhận hy sinh thanh xuân, thậm chí là sinh mạng của bản thân cho sựnghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
2.1.2.1 Trường của lớp 1: Cảnh sinh hoạt của cánh lính lái xe
Cảnh sinh hoạt của cánh lính lái xe được tác giả kể lại sinh động.Giữa không gian vắng lặng của khu rừng, những chiến sĩ lái xe sau nhữngngày dài rong ruổi trên các nẻo đường ngồi quây quần bên nhau nói kểchuyện tâm tình Đề tài của cuộc nói chuyện là lời kể về những con người,những trận đánh hay những mối tình trong cuộc chiến Họ tranh nhau kể
về những câu chuyện mình tận mắt chứng kiến, hay họ là nhân vật chínhtrong câu chuyện đó
Trong ngữ cảnh rộng, cánh lính lái xe là lực lượng quan trọng trongthời chiến, họ đảm đương trọng trách vận chuyện hàng hóa quân dụng, quânkhí, thuốc men… Hoàn cảnh của cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ, vật chất
vô cùng thiếu thốn nhưng họ vẫn lạc quan vẫn vui vẻ Cuộc sống của người
Trang 39lính trong chiến tranh không phải là chăn êm nệm ấm, là nhà cao cửa rộng mà
là khó khăn bộn bề, đầy nguy hiểm Nếu không có những giây phút sẻ chiatâm tình với nhau thì làm sao họ có thể vượt qua những khó khăn, thử thách
ấy Đó chính là sức mạnh của tình đồng chí, đồng đội Đã có những lời ca nóilên điều đó:
“Ngủ hầm, ngủ võng, ngủ bưng gối đầu tay ngủ cầm chừng mỗi đêm
có người ngủ thế thành quen
đã nghe sợi tóc bạc trên tay mình”
(Lời ru đồng đội)Ngoài việc chia sẻ những khó khăn, thiếu thốn, đồng đội còn là nguồnđộng viên họ những khi xa gia đình Sau những phút “sục sôi bom lửa chiếntrường” và đối đầu với quân giặc, người lính lại có những phút giây yên tĩnh.Họ trở về cái lán rừng để kể cho đồng đội nghe những hình ảnh trên dọcđường trải qua bom đạn kẻ thù như thế nào,đó chính là tinh thần lạc quan củangười lính giúp cho người chiến sĩ vượt qua những thiếu thốn trong cuộcsống Chiến thắng nằm ở niềm tin ấy, ở tinh thần không chùn bước cùngnhững mong muốn độc lập tương lai
Như vậy, thông qua trường của lớp 1, tác giả đã làm rõ đời sống củacánh lính lái xe:
+ Thường phải rong ruổi trên các nẻo của chiến trường
+ Những con người có nhiệt huyết với công việc
+ Thiếu thốn thông tin, chỉ biết tâm sự với nhau
Họ cùng nhau kề vai, góp sức mình cho cuộc chiến Trong mọi hànhtrình, không phút giây nào họ lơi lỏng cảnh giác với sự tấn công của kẻ thù.Họ chỉ có thể thả lỏng tinh thần khi đã hoàn thành nhiệm vụ, trở về những cănlán nhỏ trong rừng để nghỉ ngơi Chính sự cô đơn trên các tuyến đường đãthôi thúc họ khi trở về phải trao đổi thông tin với nhau, tâm sự, giãi bày với
Trang 40nhau những chuyện đã bắt gặp trong chiến trường Họ kể cho nhau nghenhững câu chuyện về người, về đời mình.
Nhìn bao quát hơn, đời sống của các nhân vật cũng là hoàn cảnh chungcủa hàng triệu người lính Việt Nam trên khắp các mặt trận Đó là cuộc chiếnđấu gian khổ, trường kỳ của quân và dân ta ở chiến trường miền Nam Hìnhảnh đôi chim trống mái tìm nhau khắc khoải tha thiết ở đầu câu chuyện, đếncuối đã tìm được nhau gợi lên cảm giác ấm áp của một niềm tin bất diệt vềtình yêu và sự sống
2.1.2.2 Trường của lớp 2: Lãm nhận bàn giao công việc từ anh phụ lái và quyết định cho cô gái đi nhờ xe
Lớp 2 là câu chuyện Lãm chờ anh phụ lái đến bàn giao công việc vàquyết định cho một cô gái đi nhờ xe Đề tài của câu chuyện xoay quanh côngviệc chuyên chở hàng của hai người lính, nhưng lần này lộ trình của Lãm đã
có sự đổi khác, kèm theo đó là lời phân bua của anh phụ lái về nguyên nhânđến muộn bởi sự việc cho một cô gái đi nhờ xe
Xét trong ngữ cảnh tình huống lúc bấy giờ, việc đi nhờ xe của bất kì aitrên những chuyến xe lăn bánh trên những tuyến đường đầy bom đạn chực trờoanh tạc đều là chuyện hết sức nguy hiểm Vậy mà người đi nhờ lại là một côgái, là điều kiêng kị lớn nhất của cánh lái xe Xét trong ngữ cảnh truyềnthống, người xưa thường quan niệm “nam nữ thụ thụ bất thân”, trai gái phảitách riêng ra không đứng chung, ngồi chung Việc đi nhờ xe giữa chiếntrường ác liệt khiến Lãm không hài lòng Bởi Lãm không thể đảm bảo an toàncho chính mình cũng như người khác Vả lại, anh lái phụ đã đến muộn, làmLãm phải đợi khá lâu Mà trong bất cứ công việc, ngành nghề nào, đều rất cần
sự chấp hành nghiêm túc về mặt thời gian, huống là công việc quân cơ thìcàng cần phải đúng giờ giấc Do vậy, khi anh lái phụ báo lại rằng cậu ấy chophép một cô gái đi nhờ, Lãm đã rất bực mình và phật ý vì cậu chàng đã đếnmuộn mà còn dám tự tiện quyết định việc ấy Mặc dù vậy, Lãm cũng không