1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

NIỀM TIN của NGƯỜI VIỆT đối với tín NGƯỠNG THỜ CÚNG tổ TIÊN

157 634 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4.1.Đối tượng nghiên cứu Niềm tin đối với tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên của người Việt 5.. Cấu trúc của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

NIỀM TIN CỦA NGƯỜI VIỆT ĐỐI VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN

Chuyên ngành: Tâm lý học chuyên ngành

Mã số: 62.31.80.05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN HỒI LOAN

Hà Nội -2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận án

Trang 3

MỤC LỤC

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

TCTT : Thờ cúng Tổ tiên

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Thờ cúng Tổ tiên là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ xa xưa của lịch sửnhân loại và tồn tại ở nhiều cộng đồng trên thế giới Cho đến nay, tín ngưỡng Thờcúng Tổ tiên vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của nhiều tộcngười Ở nước ta, tín ngưỡng này đã phát triển qua nhiều thời kỳ lịch sử, tồn tại ởnhiều cộng đồng các thành phần dân tộc, đan xen vào thẩm thấu vào hầu hết các tôngiáo hiện có ở Việt Nam

Theo khảo sát, ở Việt Nam hầu như 100% dân cư duy trì phong tục Thờ cúng

Tổ tiên [31, tr 351] Ngoài nhu cầu tâm linh muốn gửi gắm, nhờ cậy vào Tổ tiên khi

ở thế giới trần gian đầy rủi ro, bấp bênh; Thờ cúng Tổ tiên còn biểu hiện của đạo lýlàm người, hướng về cội nguồn của gia đình và dân tộc Thông qua nghi thức Thờcúng Tổ tiên, người Việt gửi gắm tình cảm sâu đậm về đạo lý “ ăn quả nhớ ngườitrồng cây”, và vì “ cây có gốc mới nở cành xanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộngsông sâu”, từ đó củng cố thêm lòng hiếu thảo vốn là giá trị đạo đức truyền thống củangười Việt

Thờ cúng Tổ tiên không chỉ khơi dậy lòng hiếu thảo với bố mẹ, mà còn gópphần hoà thuận với anh em, có trách nhiệm với cộng đồng huyết tộc, làng xóm và

xã hội Trong những dịp giỗ Tết, chạp họ, ma chay anh em, con cháu dù ở gần hay

xa, thân phận mỗi người một khác (giàu nghèo hay sang hèn) cũng cố gắng nhânngày ấy mà về quây quần bên nhau để ôn lại công lao của bố mẹ, ông bà, tổ tiên đã

có công sinh thành và nuôi dưỡng mình Ngoài ra, đây cũng là những dịp này bố

mẹ, anh em, con cháu có dịp hàn huyên, giãi bày tâm sự nhằm giải toả những vướngmắc, mâu thuẫn trong quan hệ thân tộc đã diễn ra trong đời thường

Sau một thời gian bị lắng chìm và thu hẹp, từ khi Đảng và Nhà nước ta chủtrương thực hiện chính sách Đổi mới đất nước, nhất là từ năm 1990 đến nay tínngưỡng Thờ cúng Tổ tiên có cơ hội phục hồi và phát triển mạnh mẽ Hiện tượng tu

bổ mồ mả tổ tiên, nhà thờ họ, chỉnh trang nghĩa trang liệt sĩ, xây dựng đình làng;

Trang 8

mở rộng di tích đền Hùng, cùng với trào lưu trở về nguồn cội qua việc khôi phụctruyền thống viết gia phả, tộc phả,…diễn ra phổ biến trên khắp mọi miền của đấtnước, thu hút sự tham gia của mọi giai tầng, lứa tuổi, nghề nghiệp, người sống trongnước cũng như cộng đồng người Việt xa quê hương, xứ sở

Trước sự khôi phục, phát triển tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên (TCTT) và ảnhhưởng to lớn của tín ngưỡng này trên các mặt của đời sống xã hội, nhiều nhà khoahọc đã công bố các nghiên cứu mới của họ về TCTT trên các diễn đàn khoa họctrong nước và quốc tế Hầu hết các nghiên cứu đều xuất phát từ góc độ triết học,nhân học, tôn giáo học, xã hội học, lịch sử…, rất ít công trình nghiên cứu dưới góc

độ tâm lý học Muốn hiểu được đầy đủ bản chất của tín ngưỡng TCTT của ngườiViệt, nhất thiết cần phải nghiên cứu cả trên góc độ của khoa học tâm lý Bởi lẽ, t ínngưỡng Thờ cúng Tổ tiên phản ánh rất nhiều khía cạnh tâm lý, tình cảm của ngườiViệt như tính cách, nhu cầu, động cơ, tình cảm, giao tiếp ứng xử, triết lý thế giớiquan, nhân sinh quan, niềm tin, … của họ

Niềm tin vào tín ngưỡng TCTT là một trong những khía cạnh tâm lý có vaitrò quan trọng đối với sự tồn tại của tín ngưỡng TCTT trong cộng đồng người Việt,

là nguyên nhân sâu xa khiến cho tín ngưỡng này có sức ảnh hưởng lớn đến đời sốngvăn hóa tinh thần của người Việt trong quá khứ cũng như ở thời điểm hiện tại Vìvậy, nghiên cứu khía cạnh niềm tin của người Việt đối với tín ngưỡng TCTT là cầnthiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn

Xuất phát từ những lý do kể trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu:

“Niềm tin của người Việt đối với tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên”

2 Mục đích nghiên cứu

Luận án nhằm làm rõ thực trạng niềm tin đối với tín ngưỡng Thờ cúng Tổtiên của người Việt Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm phát huy ảnhhưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của niềm tin này đến đời sống của cánhân và cộng đồng

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Hệ thống hóa các vấn đề lí luận liên quan đến vấn đề niềm tin đối với tínngưỡng Thờ cúng Tổ tiên của người Việt

Trang 9

3.2 Tìm hiểu thực trạng niềm tin của người Việt đối với tín ngưỡng Thờcúng Tổ tiên

3.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chếảnh hưởng tiêu cực của niềm tin đối với tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên đến đời sốngcủa cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1.Đối tượng nghiên cứu

Niềm tin đối với tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên của người Việt

5 Giới hạn nghiên cứu

5.1.Về nội dung nghiên cứu:

Tín ngưỡng TCTT phản ánh nhiều khía cạnh trong đời sống tâm lý của ngườiViệt Tuy nhiên, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu khía cạnh niềm tin đối với tínngưỡng này Đây là yếu tố trung tâm, có ý nghĩa quyết định nhất đến sự tồn tại lâudài và bền vững của tín ngưỡng TCTT trong cộng đồng người Việt suốt nhiều thế

kỷ qua cho đến ngày nay

5.2.Về không gian nghiên cứu:

Chúng tôi nghiên cứu tại 3 tỉnh, thành thuộc đồng bằng Bắc Bộ gồm: BắcNinh, Ninh Bình và Hà Nội Đây là 3 tỉnh, thành phố có số người Việt chiếm đa sốtrong cơ cấu dân số, cụ thể ở tỉnh Bắc Ninh người Việt chiếm tuyệt đại đa số99,67%, ở tỉnh Ninh Bình chiếm 98%, ở thành phố Hà Nội chiếm 98,73% Tại mỗitỉnh, thành chúng tôi cũng chỉ nghiên cứu khảo sát tại một xã, phường, thị trấn tiêu biểu

5.3.Về thời gian nghiên cứu:

Trang 10

Đề tài luận án nghiên cứu tín ngưỡng TCTT trong quá khứ với mức độ nhất định để làm rõ hiện tại, nhưng chủ yếu tập trung thời kỳ đổi mới từ năm 1990 đến nay Việc khảo sát để thực hiện đề tài sẽ tiến hành trong 3 năm, từ 2011-2013 Do vậy, kết quả nghiên cứu sẽ phản ánh niềm tin tôn giáo của người dân trong khoảng thời gian này

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1.Những nguyên tắc phương pháp luận nghiên cứu đề tài

6.1.1 Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin

6.1.2 Việc nghiên cứu đề tài luận án theo cách tiếp cận liên ngành (Tâm lý học, Xã hội học, Tôn giáo học)

6.2.Các phương pháp nghiên cứu

(Trình bày chi tiết ở chương II)

Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các nhóm phương pháp sau đây:

6.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

6.2.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, gồm:

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp phỏng vấn sâu

- Phương pháp thảo luận nhóm tập trung

- Phương pháp chuyên gia

6.2.3 Các phương pháp phân tích kết quả nghiên cứu

- Phương pháp phân tích định tính

- Phương pháp phân tích định lượng

7 Giả thuyết khoa học

- Phần lớn người Việt hiện nay có niềm tin đối với tín ngưỡng TCTT, niềmtin đó được biểu hiện trên ba mặt: nhận thức về tín ngưỡng TCTT, xúc cảm tìnhcảm đối với tín ngưỡng TCTT và hành vi thực hành nghi lễ TCTT

Trang 11

- Đối tượng của niềm tin đối với tín ngưỡng TCTT gồm: niềm tin đối vớilinh hồn tổ tiên, niềm tin đối với thế giới khác và niềm tin vào các giá trị đạo đứcchứa đựng trong tín ngưỡng này

- Niềm tin đối với các giá trị đạo đức của tín ngưỡng TCTT đang có xuhướng giảm dần, một số giá trị đạo đức của tín ngưỡng TCTT đã được khẳng địnhtrong xã hội truyền thống bây giờ được ít người tin tưởng, trong khi niềm tin vàolinh hồn tổ tiên và niềm tin vào thế giới khác có phần nổi trội hơn Điều này đã dẫnđến những hành vi mang tính chất mê tín dị đoan như đốt vàng mã, gọi hồn, tìm mộbằng ngoại cảm…

8 Đóng góp mới của luận án

8.1- Về mặt lý luận

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về niềm tin đối với tín ngưỡng TCTT

- Bổ sung một số khái niệm dưới góc độ Tâm lý học như khái niệm niềm tin,tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên, khái niệm niềm tin đối với tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên

9 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các công trình đã công bố của tác giả có liên quan đến đề tài nghiên cứu, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Cở sở lý luận nghiên cứu niềm tin đối với tín ngưỡng Thờ cúng

Tổ tiên

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu về niềm tin của người Việt đối với tín

ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU NIỀM TIN ĐỐI VỚI TÍN

NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN

Trang 12

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

1.1.1.1.Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về vấn đề niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo

Tín ngưỡng, tôn giáo là hiện tượng xã hội đặc biệt, xuất hiện rất sớm tronglịch sử nhân loại với rất nhiều loại hình phong phú, đa dạng Dù hình thức đơn sơ,nguyên thủy hay đã hoàn chỉnh, hiện đại song yếu tố quyết định nhất cho sự tồn tại

và phát triển một tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin của tín đồ đối với tín ngưỡng, tôngiáo ấy Chính vì vậy, vấn đề niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo từ lâu đã là mộttrong những vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học xã hội và nhân văntrên toàn thế giới, đặc biệt là các nhà thần học, nhà triết học, nhà tôn giáo học, nhà

xã hội học và các nhà tâm lý học…Tùy vào góc độ nghiên cứu, vấn đề niềm tin đốivới tín ngưỡng, tôn giáo được khai thác ở những khía cạnh khác nhau

-Nghiên cứu niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo theo các quan điểm ngoài tâm lý học

Các nhà thần học, nhất là các nhà thần học Kitô giáo đã viết nhiều công trình

về niềm tin đối với tôn giáo Có thể kể đến các tác giả như Karl Barth 1968), M.M.Tareev, R.Otto (1869-1937) đều cho rằng niềm tin của tín đồ đối với

(1889-Kitô giáo là niềm tin vào Chúa, tin vào sức mạnh vô biên của Chúa Niềm tin đó bắtnguồn từ sự tự ý thức về sự nhỏ bé, yếu ớt của bản thân và ý thức về sức mạnh củalực lượng siêu nhiên [26, tr 52].Tương tự, những nhà thần học Tin Lành như

Martin Luther (1483-1546), John Calvin (1509-1564), …cũng cho rằng niềm tin

đối với đạo Tin Lành là niềm tin đối với Chúa Trời, tin vào Kinh Thánh

Các nhà triết học duy vật phủ định hoàn toàn sự tồn tại của Thượng đế và các

lực lượng siêu nhiên khác Ngay từ thời cổ đại, Democritus (460 - 370 TCN) đã

cho rằng sở dĩ con người tin vào thần thánh là vì con người đã bất lực trước nhữnghiện tượng khủng khiếp của tự nhiên Vì con người sợ hãi trước sức mạnh của tựnhiên nên họ đã tin vào lực lượng không tồn tại trong thực tế để tìm kiếm sự giúp

đỡ nhằm chế ngự nỗi sợ hãi này Đến thế kỷ 17, nhà triết học duy vật Baruch

Trang 13

Spinoza (1632 - 1677) cũng có cùng quan điểm với Democritus cho rằng khi con

người rơi vào hoàn cảnh khó khăn, bế tắc, không tìm được cách giải quyết thì họ đãtin vào lực lượng thần thánh đầy bí hiểm [26, tr 44-45] Như vậy, theo quan điểmcủa các nhà triết học duy vật, niềm tin đối với thần thánh hay đối với một tínngưỡng, tôn giáo nhất định không phải bắt nguồn từ Thượng đế, lực lượng siêunhiên thần thánh mà có nguồn gốc từ các trạng thái tâm lý của con người, đặc biệt

Từ cách tiếp cận xã hội học, Max Weber (1864-1920) cho rằng niềm tin của

những tín đồ theo đạo Tin Lành là niềm tin vào Chúa Trời Niềm tin vào Chúa Trờiphải được thể hiện ở niềm tin vào chính mình có đủ năng lực vượt qua những khókhăn trong cuộc sống, nỗ lực không ngừng để có cuộc sống tốt hơn trong thế giới

hiện tại Còn nhà xã hội học nổi tiếng người Pháp E.Durkhem (1858-1917) khi

định nghĩa về tôn giáo đã cho rằng tôn giáo là niềm tin của con người đối với cácthực thể tâm linh “Gọi là thực thể tâm linh, cần hiểu rằng đó là những vật có ýthức, có quyền lực cao hơn con người bình thường; sự đánh giá đó phù hợp với linhhồn người chết, thần linh, ma quỉ cũng như với thượng đế” [35, tr 42] Điều đángnói là Durkhem nhấn mạnh đến khía cạnh xã hội của tôn giáo, xem tôn giáo là mộtbiểu trưng của tập thể Ông viết: “Thần của bộ tộc, nguyên lý vật tổ không thể là cái

Trang 14

gì khác ngoài bản thân bộ tộc nhưng đã được chuyển loại và hình dung trong tưởngtượng dưới hình thức của những loài hữu tình như cây cỏ hay súc vật được dùnglàm vật tổ” Durkhem còn khẳng định “không còn nghi ngờ gì nữa là một xã hội có

đủ khả năng để đánh thức trong ý thức của các thành viên một cảm giác về thầnthánh, chỉ duy nhất bằng tác động của nó lên họ; vì xã hội đối với thành viên cũnggiống như một vị chúa tể đối với các tín đồ” [35, tr 64] Điểm gặp nhau giữa MaxWeber và E.Durkheim và các nhà xã hội học khác là ở chỗ nhấn mạnh đến vai tròcủa xã hội đối với sự hình thành và nuôi dưỡng niềm tin đối với tôn giáo, tín ngưỡngcủa con người

Như vậy, qua một số các công trình nghiên cứu trên của các tác giả nướcngoài đã đề cập đến vấn đề nguồn gốc hình thành niềm tin và biểu hiện của niềm tintôn giáo đối với tín ngưỡng, tôn giáo Tuy vậy, niềm tin đối với tôn giáo nguyênthủy, với tín ngưỡng dân gian ít được quan tâm nghiên cứu hơn

-Nghiên cứu niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo theo quan điểm tâm lý học

Nghiên cứu tâm lý học tôn giáo nói chung và nghiên cứu vấn đề niềm tin đốivới tín ngưỡng, tôn giáo từ góc độ khoa học tâm lý học nói riêng là một vấn đềtương đối mới mẻ, xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20

William James (1842-1910) được xem là người sáng lập nền tâm lý học

Mỹ, cũng là một trong những người góp phần đặt nền móng cho tâm lý học tôn giáo

qua tác phẩm Các loại kinh nghiệm tôn giáo (The Varieties of Religious

Experience- A study in Human nature) được xuất bản lần đầu tiên năm 1902 Qua

những dẫn chứng thực tế về kinh nghiệm tôn giáo của các cá nhân trong tác phẩmnày, William James bàn đến tôn giáo cá nhân, kinh nghiệm tôn giáo cá nhân vàniềm tin đối với tôn giáo của cá nhân Theo James, niềm tin tôn giáo của cá nhân là

sự cảm nhận chân lý nguyên thủy mà tự mình cảm giác được, “loại niềm tin trựcgiác phi lý trí này là thứ nằm ở tầng sâu trong con người chúng ta, luận chứng duy

lý chẳng qua chỉ là thứ hiển thị ở bên ngoài” [11, tr 115] Nói cách khác, việc tựmình trải qua kinh nghiệm tôn giáo là luận cứ vững chắc nhất củng cố niềm tin của

cá nhân đối với một tín ngưỡng, tôn giáo nào đó, hơn cả những luận cứ đã được

Trang 15

khoa học và chủ nghĩ duy lý chứng minh Đối với những người đã trải qua kinhnghiệm tôn giáo, cảm giác thực tại về đối tượng thờ phụng của tôn giáo rất chânthực, đáng tin như bất kỳ kinh nghiệm cảm quan trực tiếp nào “Đối với một tín đồtôn giáo mà nói, nếu anh ta lấy trực giác trầm mặc để phản đối những kết luận của

lý trí, quan điểm chủ nghĩa duy lý sẽ vô phương khiến cho họ tin phục và quy y, bởi

vì trực giác của họ đến từ tầng sâu của nhân tính, vượt ra ngoài phạm vi biện luận

mà chủ nghĩa duy lý chiếm hữu…họ có sẵn trong tâm trí cái chủ định: cái mà ta tinnhất định chân thực hơn bất cứ một lý lẽ đanh thép nào của chủ nghĩa duy lý” [11, tr113]

Simund Frued (1856-1939) là người sáng lập ngành Phân tâm học, cũng

được xem là một trong những người khai phá mảnh đất Tâm lý học tôn giáo Trongnghiên cứu Tâm lý học tôn giáo, sự quan tâm của Frued chủ yếu tập trung vàonguồn gốc tâm lý của hiện tượng tôn giáo bằng phương pháp phân tích tinh thần

Trên cơ sở phân tích đời sống nội tâm của con người, Frued đã phủ nhận vaitrò của ý thức, cho rằng ý thức không phải là động lực thúc đẩy và chi phối toàn bộhoạt động của con người mà là “libido” (cái mà sinh ra con người đã có) Libido-ban đầu được Frued sử dụng để chỉ bản năng tính dục, nhưng sau ông coi là nănglượng bản năng của toàn bộ sự sống, đem lại nguồn năng lượng cơ bản cho mọiphương thức hoạt động sống của con người Libido trong đời sống tâm lý của conngười hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn, luôn cố gắng để thực hiện những hammuốn, nhu cầu, khát vọng của mình và né tránh khổ đau Những ham muốn, nhucầu, khát vọng xuất hiện một khi được thỏa mãn sẽ tạo ra khoái cảm ở mức caonhất, làm dịu đi những lo âu, phiền muộn, căng thẳng Mặt khác, theo Frued nguyêntắc thỏa mãn được hiểu là một lối sống bằng cách đáp ứng nhu cầu của cơ thể, chịu

sự chi phối của nhu cầu cơ thể (bản năng sinh học) nên nó thường dẫn con ngườiđến những hành động thiếu suy nghĩ Lối sống này nếu được phổ biến rộng rãi, nó

sẽ dẫn đến cuộc chiến mang tính chất thú vật giữa con người và con người và kếtcục là cái chết theo đúng nghĩa đen của từ này Vì vậy, để có thể cùng tồn tại trongcộng đồng, con người cần phải hạn chế bớt một số nhu cầu và chấp nhận lẫn nhau

Trang 16

Và để hạn chế nhu cầu, con người cần phải có khả năng điều tiết những nhu cầu đóbằng ý thức [78, tr 24] Như vậy, tồn tại song song với nguyên tắc thỏa mãn lànguyên tắc tính thực tại Nguyên tắc này buộc con người phải thích ứng với điềukiện thực tế bên ngoài nên thường không đáp ứng tức thời những đòi hỏi, khát khaocủa bản năng sinh học bằng lý trí, ý thức Lý trí của con người có thể trì hoãn sựhưởng thụ khoái cảm để rồi đền bù nó trong tương lai, hoặc giải tỏa nó qua nhữnggiấc mơ, sự thăng hoa trong nghệ thuật hoặc niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo.

Trong tác phẩm Vật tổ và Cấm kỵ - đóng góp chính của Frued đối với Tâm lý

học tôn giáo, Frued đã phân tích trường hợp Tôtem giáo và những cấm kỵ xungquanh động vật tôtem nhằm chứng minh quan điểm của ông rằng chính niềm tin đốivới tôtem có nguồn gốc từ xung đột nội tâm của con người, mà cụ thể là xung độtgiữa bản năng sinh học mang tính vô thức và ý thức của con người và là kết quả củaviệc ý thức cố gắng hạn chế, kìm hãm sự thỏa mãn khát vọng bản năng

Carl Gustav Jung (1875-1961) là người kế thừa và phát triển Phân tâm học

(còn gọi là Tâm lý học tầng sâu), là người thúc đẩy Phân tâm học và tâm lý học tôngiáo phát triển lên một giai đoạn mới bằng cách phê bình một số quan điểm củaFrued và có nhiều sáng tạo mới Phát hiện của Jung về vô thức tập thể là đóng gópquan trọng nhất của ông đối với tâm lý học tôn giáo Qua việc nghiên cứu mối quan

hệ giữa thần thoại, tôn giáo Phương Đông với hiện tượng vô thức, Jung cho rằng thếgiới vô thức của con người chia là hai loại: vô thức cá nhân và vô thức tập thể Theoông, vô thức cá nhân do các kinh nghiệm cá nhân bị lãng quên hoặc bị áp chế màthành, còn vô thức tập thể do di truyền lại trong kết cấu não người Liên tưởng thầnthoại chủng tộc hoặc ý tưởng thần bí chủng tộc là những mô hình nguyên thủy của

vô thức tập thể mà thần hay Thượng đế là những phương thức biểu đạt cơ bản nhất.Trong quá trình phát triển nhân cách (Jung gọi là quá trình cá tính hóa), kinhnghiệm trực tiếp của tín đồ đối với những cái thần bí mang lại cho con người nhữngcảm thụ phức tạp, chẳng hạn như cảm giác thần bí, cảm giác tôn sùng, cảm giáchoàn mỹ, cảm giác trông cậy, cảm giác siêu việt…khiến cho con người đặt niềm tinđối với tôn giáo

Trang 17

Có thể nhận thấy, dù có quan điểm tương đối mới mẻ so với người thầyFreud, nhưng suy cho cùng Jung vẫn khẳng định niềm tin đối với tín ngưỡng, tôngiáo có nguồn gốc bản năng, di truyền, vô thức Nó vốn tiềm ẩn trong thế giới nộitâm của mỗi cá nhân và dần được hé lộ trong quá trình trưởng thành về mặt nhân cách

Nhà Tâm lý học người Mỹ James H.Leuba (1867-1946), tác giả của những

tác phẩm nổi tiếng về Tâm lý học tôn giáo những năm đầu thế kỷ 20, đặc biệt quantâm đến hai khía cạnh của niềm tin đối với tôn giáo, đó là: niềm tin đối với thánh

thần và niềm tin vào sự bất tử Trong cuốn Niềm tin đối với Chúa và sự bất tử (The belief in god and immortality) [101] Leuba tập trung tìm hiểm nguồn gốc và đặc

trưng của hai loại niềm tin này Thông qua các tài liệu nhân học, lịch sử Leuba chorằng niềm tin vào thánh thần, vào linh hồn người chết, sự tồn tại sau cái chết và sựbất tử đã xuất hiện từ thời nguyên thủy và niềm tin này vẫn tiếp tục tồn tại cho đếnthời hiện đại Bằng kết quả nghiên cứu điều tra ở nhóm sinh viên các trường caođẳng và các nhà khoa học Mỹ, Leuba đã khẳng định niềm tin vào thánh thần và sựbất tử không chỉ tồn tại ở những con người ngu muội mà còn có ở những người cóhọc thức, có trình độ nhận thức cao trong xã hội Leuba cũng cho rằng niềm tin vàothánh thần và sự bất tử có nguồn gốc xã hội, xuất phát từ nhu cầu giải thích những

bí ẩn trong cuộc sống và vì lợi ích mà những niềm tin này mang lại cho con người

Từ góc độ tâm lý học xã hội, Benjamin Beit và Michael Argyle – tác giả

cuốn Tâm lý học về hành vi tôn giáo, niềm tin tôn giáo và kinh nghiệm tôn giáo [98]

đã đi sâu phân tích ảnh hưởng của niềm tin tôn giáo ở hai cấp độ: cấp độ cá nhân vàcấp độ xã hội; lý giải sự thay đổi niềm tin tôn giáo của con người qua những hiệntượng như cải đạo, bỏ đạo hoặc chuyển đạo

Trong tác phẩm Giới thiệu Tâm lý học và tôn giáo, Michael Argule khẳng

định niềm tin tôn giáo là vấn đề trung tâm của mọi tôn giáo và là yếu tố xác địnhmột cá nhân có là tín đồ tôn giáo hay không Tuy không đưa ra một định nghĩa cụthể về niềm tin tôn giáo, song ông tập trung phân tích các biểu hiện của niềm tin tôngiáo thông qua các nghiên cứu khảo sát của bản thân và các nhà khoa học khác vềniềm tin tôn giáo đối với Chính thống giáo và đạo Tin Lành ở Mỹ và Anh Theo

Trang 18

Michael Argule, biểu hiện niềm tin tôn giáo là niềm tin vào Chúa Trời, niềm tin vàocuộc sống sau khi chết, niềm tin vào Kinh Thánh và niềm tin vào bản chất của conngười Ông còn đưa ra một đặc điểm nổi bật của niềm tin tôn giáo, đó là tính philogic, ông viết: “niềm tin tôn giáo không theo logic giống như trong khoa học về thếgiới …” Niềm tin tôn giáo là niềm tin không thể chứng minh Niềm tin tôn giáođược xác định như thế nào? Rõ ràng là không thể bằng các phương pháp mà các nhàkhoa học thường dùng, nhưng người ta phải có một vài cách xác định chúng Mộttrong những cách đó dường như là thông qua kinh nghiệm [97] Cùng quan điểm

này, một học giả khác là Witgensteint cho rằng việc cố gắng chứng minh niềm tin

tôn giáo sẽ không đem lại hiệu quả vì những chứng cứ được đưa ra thường thiếu vàkhông đủ rõ ràng Cũng trong tác phẩm này, Michael Argule đưa ra cấu trúc tâm lýcủa niềm tin, gồm có 3 yếu tố: nhận thức, xúc cảm và hành vi

Có thể nhận thấy, các nghiên cứu niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo trêngóc độ tâm lý học đã đi sâu phân tích nguồn gốc tâm lý của loại niềm tin này Trảinghiệm về những điều thần bí của cá nhân, bản năng vô thức và ý thức về lợi íchcủa tôn giáo là những yếu tố tâm lý được các nhà khoa học xem là nguồn gốc dẫnđến sự hình thành niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo Ngoài ra, một số nhà khoahọc cũng đã chỉ ra được một số đặc điểm đặc thù của niềm tin đối với tín ngưỡng,tôn giáo như là: tính phi logic, tính phi khoa học…Đây là những nghiên cứu rất cógiá trị đối với khoa học tâm lý học tôn giáo nói chung, và là những gợi ý quý giáđối với chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận án

1.1.1.2.Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, thờ cúng tổ tiên (TCTT) làhiện tượng phổ biến Đến nay, TCTT vẫn còn tồn tại ở nhiều quốc gia, dân tộc Tuyvậy, vị trí và vai trò của nó trong đời sống tinh thần của con người ở mỗi nơi mỗikhác Ở các quốc gia đưa một tôn giáo thành độc tôn, nhất thần thì TCTT có vai trò

mờ nhạt trong đời sống tinh thần của cá nhân và cộng đồng Nhưng ở những quốcgia đa, phiếm thần như ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam…thì TCTT

có vai trò quan trọng, nó tác động không nhỏ tới đời sống tinh thần của toàn xã hội

Trang 19

Tuy nhiên, TCTT ở mỗi quốc gia, dân tộc cũng có những đặc thù riêng, nó phảnánh nhận thức, nhu cầu, nguyện vọng, niềm tin…của con người ở mỗi nước Tìmhiểu TCTT ở mỗi quốc gia, dân tộc này là một trong những cách tiếp cận con ngườihiệu quả Do vậy, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu TCTT ở các nước khácnhau, như: Robert John Smith, Peter Knecht nghiên cứu về TCTT ở Nhật Bản,nghiên cứu TCTT ở Hà Quốc có Roger L Janelli và Dawnhee Yim Janelli, nghiêncứu TCTT ở Trung quốc có Trịnh Hiểu Vân, Trương Trấn Vỹ, Phan Kỳ Húc, AnĐức Minh [45].

Tín ngưỡng TCTT ở nước ta có đặc trưng riêng và rất điển hình về nhiềuphương diện, khiến cho TCTT ở Việt Nam là đề tài nghiên cứu không chỉ hấp dẫnvới người trong nước mà còn thu hút được các học giả nước ngoài, trong số ấy, phải

kể đến linh mục Cadière Ông đã nghiên cứu một cách tỉ mỉ và sâu sắc về TCTT

bằng nhãn quang khoa học chứ không phải bằng nhãn quan của một nhà truyền

giáo Cuốn sách Văn hoá tín ngưỡng gia đình Việt Nam qua nhãn quan học giả

L.Cadière do Đỗ Trinh Huệ biên khảo là tập hợp các nghiên cứu của L.Cadière về

tín ngưỡng, văn hóa Việt Nam, đặc biệt là tín ngưỡng TCTT sâu sắc và chi tiết.Cadière xem TCTT là một hiện tượng văn hóa thể hiện “cái hồn” của dân tộc ViệtNam cần được bảo tồn, gìn giữ Với khả năng quan sát sắc bén mà Cadière đã mô tảchi tiết, rõ rệt về niềm tin của người Việt trong việc TCTT cũng như các nghi lễTCTT [37]

Shin Chi Yong (người Hàn Quốc) đã khái quát về văn hóa và gia đình của

người Việt Nam sinh sống tại Hà Nội và những vùng phụ cận, trong đó chú trọngnghiên cứu sự hòa đồng như một đặc điểm độc đáo, thể hiện bản sắc của người Việttrong việc TCTT [96]

Kate Jellema (đại học Michigan – Mỹ) nghiên cứu tục TCTT của người dân

sống ở vùng châu thổ Sông Hồng trong thời kỳ Đổi mới qua việc nghiên cứu 2trường hợp điển hình ở làng Đình Bảng tỉnh Bắc Ninh Tác giả đã làm sáng tỏ quanniệm, niềm tin của cư dân Bắc Bộ hiện nay về việc TCTT và cách thể hiện niềm tincủa họ Với những tư liệu có được trong 2 năm thực tế tại Việt Nam, tác giả đã

Trang 20

khẳng định rằng tổ tiên đã chết song có ý nghĩa quan trọng trong đời sống củangười dân Việt Nam hiện nay Đối với cá nhân, TCTT giúp cá nhân thỏa mãn nhucầu tâm linh, tiếp tục mối quan hệ giữa người sống và người đã chết Còn với cộngđồng, TCTT góp phần củng cố mối quan hệ xã hội giữa các thành viên trong giađình, họ tộc [13].

Trong cuộc hội thảo quốc tế về TCTT diễn ra tại Đền Hùng, thành phố ViệtTrì tỉnh Phú Thọ tháng 3/2011 có khá nhiều tham luận về tín ngưỡng TCTT ở ViệtNam Có thể kể đến một số nhà nghiên cứu như giáo sư đại học sư phạm Đài Bắc

(Đài Loan) Chung Tông Hiến nghiên cứu về hiện tượng người Việt Nam đưa tổ

tiên Hùng Vương về tận Viêm Đế, Vương Tam Khánh (Đài Loan) có bài Nghiên

cứu TCTT của Việt Nam qua các văn bia chữ Hán, Triệu Minh Long (Trung Quốc)

có bài nghiên cứu so sánh TCTT của nhân dân hai nước Trung - Việt, …[45] Qua

cuộc hội thảo quốc này cho thấy TCTT đang trở thành một hiện tượng được các nhàkhoa học từ khắp nơi trên thế giới quan tâm Tuy nhiên, những tác phẩm này vànhững bài tham luận trong cuộc hội thảo phần lớn đứng trên góc độ Văn hóa học,Dân tộc học, Nhân học, Lịch sử…rất ít các tham luận, tác phẩm nghiên cứu về tínngưỡng TCTT của các nhà tâm lý học Điều này chứng tỏ rằng các nhà tâm lý họctrên thế giới cũng như ở Việt Nam chưa quan tâm đúng mức đến TCTT Chúng tôicho rằng, muốn tìm hiểu đời sống tâm linh, tinh thần của người Việt Nam thì cầnchú ý nghiên cứu những yếu tố tâm lý ẩn chứa trong tín ngưỡng TCTT chứ khôngchỉ dừng lại ở việc nghiên cứu đặc điểm, biểu hiện hay vai trò của nó trong đời sống

xã hội

1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả trong nước

1.1.2.1.Nghiên cứu của các tác giả trong nước về vấn đề niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo

-Nghiên cứu niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo theo các quan điểm ngoài tâm lý học

Đứng ở góc độ thần học Kitô giáo, Nguyễn Sinh đã sử dụng những kiến

thức khoa học hiện đại để luận giải những vấn đề thuộc đức tin Kitô Tác giả việndẫn nhiều chứng cứ khoa học để chứng minh Chúa tồn tại và niềm tin đối với Chúa

Trang 21

là niềm tin đúng đắn Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có rất nhiều người (gồm cả người

có học thức và không có học thức) không có niềm tin đối với Chúa, không tin đạoKitô Theo tác giả, lý do duy nhất khiến người ta không tin Chúa, không có niềm tinđối với đạo là vì họ không muốn tin [69]

Trong cuốn Niềm tin và hy vọng, tác giả Lý Minh Tuấn đã đề cập đến niềm

tin của con người đối với một số tín ngưỡng như niềm tin đối với tín ngưỡng thànhhoàng, tín ngưỡng TCTT, tín ngưỡng thờ thánh sư…và niềm tin đối với một số tôngiáo như niềm tin trong đạo Công giáo, niềm tin trong Đạo giáo, Lão giáo, Phậtgiáo Tuy nhiên, do những vấn đề này được trình bày một cách dàn trải và sơ lượcnên kém sâu sắc, chỉ mang tính gợi mở [86]

Đặng Nghiêm Vạn là một trong số ít nhà nghiên cứu trong nước quan tâm

nghiên cứu niềm tin đối với tôn giáo ở góc độ tôn giáo học Nghiên cứu về niềm tin

đối với tôn giáo, tín ngưỡng của ông được thể hiện qua hai tác phẩm: Về tôn giáo

tín ngưỡng Việt Nam hiện nay và Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam Đây là kết quả của hai đợt khảo sát về tình hình đời sống tôn giáo ở Việt Nam

giai đoạn 1992 đến 1994 và giai đoạn 1995 đến 1998 Đối tượng được nghiên cứuchủ yếu là người dân tin theo Kitô giáo và những người tin theo các tín ngưỡng tôngiáo khác nhau mà theo tác giả “đặc điểm nổi bật của nó là vắng bóng niềm tin vàoĐấng Sáng thế như Kitô giáo” [88, tr 224]

Trong cuốn sách Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay trình bày kết quả

nghiên cứu khảo sát đợt 1, tác giả nhận xét về niềm tin đối với đạo Công giáo củagiáo dân là “bộc lộ niềm tin không sâu sắc và sự hiểu biết về giáo lý không chặtchẽ” [88, tr 77] Họ thường trả lời các câu hỏi của nhóm nghiên cứu theo cách suydiễn thông thường của tín ngưỡng TCTT và các tôn giáo, tín ngưỡng khác Phần lớntín đồ Công giáo được hỏi và phỏng vấn vẫn TCTT, có niềm tin đối với tín ngưỡngTCTT và một tỉ lệ không nhỏ giáo dân Công giáo tin vào những điều gắn với truyềnthống, tâm linh người Việt song xa lạ với đạo Công giáo như vấn đề việc xem ngàygiờ khi làm một việc hệ trọng, tin vào số mệnh (chứ không phải do Chúa an bài), tinvào bói toán, tướng số, hầu bóng, tử vi, tin vào ngoại cảm… Về những người không

Trang 22

theo Kitô giáo, Đặng Nghiêm Vạn nhận xét: “tâm linh tôn giáo của bộ phận khôngKitô giáo là bàng bạc” [88, tr 87] Đợt nghiên cứu lần hai, tác giả cũng đưa ra nhậnxét tương tự: “Có thể xem đức tin của họ là bàng bạc, là dàn trải sự hiểu biết vềnhững điều mình tin theo” [89, tr 247].

Vẫn tập trung vào những vấn đề đã được nghiên cứu về niềm tin đối với cáctín ngưỡng tôn giáo của hai đối tượng trên, kết quả điều tra khảo sát lần hai (được

trình bày trong tác phẩm Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam) tác

giả cho rằng biểu hiện niềm tin đối với tôn giáo tín ngưỡng của người Việt Namdường như có mức độ đậm, nhạt khác nhau Giáo dân Kitô giáo đặt niềm tin cả vàođạo chính và đạo Tổ tiên, còn bộ phận người dân không tin theo Kitô giáo lại dàntrải niềm tin vào các tôn giáo khác nhau, “niềm tin của họ quyện vào những lời dạymột cách bình dân những lời của các nhà sáng lập ra các tôn giáo như Phật, Nho,Đạo, cũng như những lời dạy của tổ tiên truyền lại Niềm tin đó lại được thể hiện vàcủng cố bằng những hành vi các tôn giáo khác nhau” [89, tr 244] Dù vậy, theo tácgiả, mối quan tâm hàng đầu của bộ phận không Kitô giáo vẫn là đạo Tổ tiên, ngoài

ra họ còn thờ Phật, thờ Mẫu, thờ thần tài, thổ địa, tổ sư các ngành nghề…

Một số tác giả như Vương Duy Quang, Phan Viết Phong nghiên cứu thực trạng niềm tin đối với đạo Tin Lành Hoàng Minh Đô nghiên cứu niềm tin đối với đạo Tin Lành ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp Viện nghiên cứu tôn giáo nghiên cứu thực trạng niềm tin đối với đạo Công giáo ở một số tỉnh miền

Bắc, Huế và thành phố Hồ Chí Minh

Vậy, các nghiên cứu niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo theo các quanđiểm ngoài tâm lý học chủ yếu mô tả thực trạng niềm tin của người dân đối với đạoKitô Một số ít tác phẩm có đề cập đến niềm tin đối với các tôn giáo, tín ngưỡngkhác nhưng vẫn còn sơ lược Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở trên chưatrình bày một cách có hệ thống về lý luận niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo vàchưa nghiên cứu thực trạng niềm tin của người dân đối với tín ngưỡng TCTT

-Nghiên cứu niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo theo quan điểm tâm lý học

Trang 23

Từ góc độ Tâm lý học, về mặt lý luận mới chỉ có một tác phẩm duy nhất bàn

về niềm tin tôn giáo là cuốn sách Tâm lý học tôn giáo của tác giả Vũ Dũng [17].

Tác phẩm này đã nêu ra những đặc điểm đặc trưng của niềm tin tôn giáo Ngoài ra,

Vũ Dũng cũng nghiên cứu thực tiễn về đặc điểm niềm tin đối với Phật giáo và Kitôgiáo của người dân ở thành phố Hà Nội Kết quả nghiên cứu thực tiễn của ông đãchỉ ra rằng niềm tin tôn giáo không chỉ có ở những tín đồ của các tôn giáo cụ thể màcòn tồn tại ở cả những người không theo tôn giáo nào cả Sau đó, trong khuôn khổcủa Dự án điều tra cơ bản cấp Nhà nước "Những yếu tố tâm lý dân tộc ảnh hưởngđến sự ổn định và phát triển ở Tây Nguyên hiện nay"(2004) [17] và đề tài độc lậpcấp Nhà nước "Những đặc điểm tâm lý cơ bản của cộng đồng người Tây Nguyên,Tây Nam Bộ và ảnh hưởng của chúng đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở khu vựcnày"(2005) [18] Vũ Dũng đã phân tích một số hành vi tôn giáo phản ánh niềm tincủa tín đồ đối với đạo Tin Lành

Vương Thị Kim Oanh nghiên cứu niềm tin đối với đạo Tin Lành của tín đồ

người dân tộc thiểu số ở Gia Lai (2006) Theo tác giả, niềm tin đối với đạo TinLành thể hiện ở niềm tin đối với Đức Chúa Trời, đối với thế giới khác và con người.Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả kết luận tuyệt đại đa số tín đồ người dân tộcthiểu số ở Gia Lai có niềm tin đối với đạo Tin Lành, tuy nhiên niềm tin của họkhông thực sự sâu sắc [63]

Phạm Văn Quyết nghiên cứu ảnh hưởng của niềm tin đối với Thiên chúa

giáo của giáo dân xã Xuân Ngọc thuộc giáo xứ Bùi Chu đến hành vi sinh sản Kếtquả nghiên cứu cho thấy giáo dân có niềm tin tôn giáo cao hơn thì ít tích cực đi thựchiện kế hoạch hóa gia đình, quan niệm về số con cần có trong các gia đình ThiênChúa giáo phụ thuộc vào mức độ niềm tin tôn giáo của họ [64]

Lê Minh Thiện cho rằng niềm tin đối với Công giáo là sự tin tưởng của bản

thân mỗi người vào Chúa, tin vào lời dạy của Chúa, tin vào Kinh Thánh, tin vàogiáo lý “Niềm tin này được thể hiện ở sự tin tưởng vào chính tôn giáo mà họ đangtheo” [76]

Trang 24

Nguyễn Hồi Loan có bài nghiên cứu về Niềm tin về đạo Phật của sinh viên

trường đại học khoa học xã hội và nhân văn [56] Tác giả cho rằng niềm tin đối với

đạo Phật thể hiện qua nhận thức của sinh viên về đạo Phật, về sự tồn tại của Phật,Cõi niết bàn, Địa ngục và qua hành vi thực hành nghi lễ đạo Phật, đặc biệt là hành

vi đi lễ chùa Nguyễn Hồi Loan cũng nghiên cứu niềm tin trong tín ngưỡng TCTT

của người Việt ở huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Niềm tin này thể hiện ở sự nhận

thức của người dân về tầm quan trọng của tín ngưỡng TCTT trong đời sống tinhthần của gia đình, ở quan niệm của người dân về sự tồn tại của tổ tiên, ở nội dungcầu khấn của người dân [57]

Có thể nói, từ góc độ khoa học tâm lý bước đầu đã có những nghiên cứu vềniềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo Qua các công trình nghiên cứu kể trên đã gópphần khắc họa đặc trưng của loại niềm tin này, các biểu hiện của nó qua hành vi cảcon người Đây là những gợi ý có ý nghĩa cho chúng tôi trong quá trình hệ thốnghóa và để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài luận án

1.1.2.2 Nghiên cứu của các tác giả trong nước về tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên

Đào Duy Anh quan niệm TCTT là một tín ngưỡng thể hiện lòng tin, sự sùng

bái của con người đối với linh hồn và tin vào mối quan hệ khăng khít giữa người

sống và linh hồn của người thân đã chết Trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương,

Đào Duy Anh viết: “Mỗi khi gia đình có điều vui, điều buồn, điều mừng, điều sợ thìlinh hồn tổ tiên thường cũng dự một phần Con cháu làm ăn tổ tiên thường phù hộ,khi có việc gì nguy hiểm sắp tới, tổ tiên thường báo mộng để con cháu tìm cách mà

đề phòng Bởi đối với gia đình, linh hồn tổ tiên có quan hệ mật thiết như thế, nêncon cháu phải cúng cấp tổ tiên” [1, tr 207]

Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục xem TCTT là phong tục cổ truyền

“xét cái tục phụng sự tổ tiên của ta rất là thành kính, ấy cũng là một lòng bất vongbản, cũng là một việc nghĩa vụ của người Nhưng cũng nên biết rằng sự cúng cấp là

để tỏ cái lòng thành kính, chứ không phải để mà phụng dưỡng tổ tiên, thì dùng cáchnào cho ngụ được cái lòng ấy cũng đủ” [9, tr 25-26]

Toan Ánh thì coi TCTT là một luật tục Mặc dù mô tả rất kỹ những nghi

thức cầu cúng lễ bái thể hiện quan niệm của người Việt Nam đối với thế giới vô

Trang 25

hình, đối với linh hồn người chết, nhưng Toán Anh vẫn một mực khẳng định: “Việcthờ cúng ấy không phải là một tôn giáo mà là một luật tục” [2, tr 5] “TCTT do lòngthành kính và biết ơn của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, cụ kỵ đã khuất mà thôi”[2, tr 19].

Mai Thanh Hải đề cập đến rất nhiều vấn đề xung quanh nghi lễ TCTT như

cách lập bàn thờ, cách cúng lễ, săn sóc phần mộ tổ tiên … trong cuốn TCTT nên

như thế nào [33] Tân Việt [96] và Diệu Bình [7] giới thiệu cho người đọc những

bài văn khấn TCTT theo phong tục cổ truyền trong tất cả các dịp lễ tiết trong năm

Minh Đường hướng dẫn người đọc cách thiết lập, bài trí bàn thờ gia tiên [27] Phước Thuận [80] và Từ Liêm [48] trình bày những nghi lễ cơ bản trong tang chế

của người Việt

Bên cạnh những tác phẩm kể trên, người ta còn nghiên cứu TCTT qua các đềtài nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn, chuyên khảo…

Từ góc độ triết học, luận án tiến sĩ Những khía cạnh triết học trong tín

ngưỡng TCTT của người Việt đồng bằng Bắc Bộ hiện nay, Trần Đăng Sinh tìm hiểu

quan điểm nhân sinh quan và thế giới quan của người Việt trong tín ngưỡng TCTT [71]

Từ góc độ nghiên cứu Tôn giáo học, chuyên đề Vấn đề TCTT của người

Công giáo đồng bằng Bắc Bộ - Việt Nam được thực hiện bởi nhà nghiên cứu Lê

Đức Hạnh mô tả chi tiết quan niệm của người Công giáo xứ đạo Tử Nê, tỉnh Bắc

Ninh về việc TCTT và các nghi lễ TCTT của họ [40]

Ngoài ra còn những bài viết liên quan đến tín ngưỡng Thờ cúng Tổ đã đượccông bố trên các tạp chí khoa học, như: Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Tạp chí Côngtác Tôn giáo, Tạp chí Dân vận, Tạp chí Mặt trận, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, Tạpchí Triết học, Tạp chí Dân tộc học, Tạp chí Tâm lý học … của các tác giả: NguyễnTài Thư, Nguyễn Hữu Vui, Nguyễn Đức Lữ, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn HồiLoan Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau về tínngưỡng, tôn giáo nói chung và tín ngưỡng TCTT của người Việt nói riêng

Nhận xét chung về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

Trang 26

Qua phân tích các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nướccho thấy:

- Vấn đề niềm tin đối với tôn giáo, tín ngưỡng từ lâu đã được các nhà khoahọc nước ngoài quan tâm nghiên cứu Ở nước ta, các nghiên cứu về lĩnh vực nàymới được triển khai trong khoảng 2 thập kỷ gần đây

- Phần lớn các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng TCTT được nghiên cứudưới góc độ triết học, nhân học, tôn giáo học, văn hóa học,…rất ít tác phẩm có giátrị khai thác tín ngưỡng này dưới góc độ Tâm lý học

- Các công trình nghiên cứu về vấn đề niềm tin của con người đối với tínngưỡng, tôn giáo chủ yếu tập trung nghiên cứu vào các tôn giáo độc thần như niềmtin đối với Công giáo, niềm tin đối với Tin Lành, …song có ít nghiên cứu niềm tincủa con người đối với tín ngưỡng dân gian Thiết nghĩ, đối với những quốc gia đadân tộc, đa phiếm thần như ở Việt Nam, không nghiên cứu khía cạnh niềm tin củangười dân đối với các tín ngưỡng dân gian thì khó hiểu rõ bản chất đời sống tâmlinh, tinh thần của người Việt Do vậy, ở Việt Nam cần nhiều hơn nữa các nghiêncứu về niềm tin của người dân đối với tín ngưỡng TCTT, tín ngưỡng Thờ Mẫu, tínngưỡng thờ Thành hoàng,.v.v nhằm góp phần làm sáng tỏ truyền thống văn hóacủa người Việt trong giai đoạn hội nhập hiện nay

Như đã khẳng định TCTT là một tín ngưỡng lâu đời của người Việt, phảnánh rõ nét đời sống tâm linh của con người Việt Nam và có ảnh hưởng mạnh mẽnhất đến đời sống tinh thần của mỗi người nên tín ngưỡng này cần được các nhàtâm lý học quan tâm nghiên cứu, góp phần khắc họa chân dung tâm lý của conngười Việt Nam trong quá khứ cũng như ở hiện tại

Do vậy, kết quả nghiên cứu của luận án bước đầu góp phần làm sáng tỏ mộtphần đời sống tâm linh, đời sống tinh thần của người Việt hiện nay

1.2 Một số khái niệm cơ bản của để tài

1.2.1.Niềm tin

1.2.1.1 Định nghĩa niềm tin

Hiện nay, trên các sách báo và các công trình khoa học đang hiện diện khánhiều các định nghĩa khác nhau và cách giải thích khác nhau về niềm tin Vì là một

Trang 27

khái niệm mà các ngành khoa học thuộc khoa học xã hội - nhân văn đều quan tâm

và đề cập đến nên mỗi ngành sẽ có cách tiếp cận vấn đề niềm tin theo một góc độ riêng

Theo các nhà ngôn ngữ học, “niềm tin là trạng thái tình cảm cụ thể của con

người, đặt hoàn toàn hy vọng vào người nào đó hay cái gì đó cho là đúng sự thực,

là có thật, nghĩa là rất có thể sẽ như vậy, tới mức có thể dựa vào, trông cậy vào”

[96] Đây là một định nghĩa phản ánh ngữ nghĩa của từ về niềm tin nhưng đã giúpngười đọc nhận biết được những biểu hiện cơ bản của niềm tin trong cuộc sống

Từ cách tiếp cận Văn hóa học, Nguyễn Đăng Duy định nghĩa: “Niềm tin là

sự tín nhiệm, khâm phục ở một con người với một con người, một sự việc, một học thuyết, một tôn giáo được thể hiện ra bằng hành động theo một lẽ sống” [23] Cùng

cách định nghĩa này, nhưng xuất phát từ quan điểm tôn giáo, Thích Chân Quang

viết : “Tin là chấp nhận một điều gì đó là đúng sự thật Chúng ta có thể tin vào một

câu chuyện kể, tin nhân cách của một con người, tin một lý thuyết hoặc một giáo điều” [64, tr148] Dù có cách tiếp cận khác nhau, song hai định nghĩa này đều đãchỉ ra được đối tượng của niềm tin Đối tượng mà con người tin có thể là một đốitượng cụ thể, cũng có thể ở dạng trừu tượng nhưng đối với chủ thể của niềm tin thì

nó là sự thật, là chân lý, là đáng tin tưởng

Từ góc độ triết học, Trịnh Đình Bảy cho rằng niềm tin phải được thể hiện

đầy đủ ở bốn phương diện cơ bản: bản thể luận, nhận thức luận, giá trị luận và

thực tiễn luận Xét về phương diện bản thể luận, niềm tin là cái tồn tại khách quan

trong con người, là một nhân tố không thể thiếu được trong hoạt động của conngười Xét về phương diện nhận thức luận, niềm tin luôn gắn liền với tri thức Xét

về phương diện giá trị luận, niềm tin bao giờ cũng có ý nghĩa đối với chủ thể, gắnliền với nhu cầu, lợi ích của chủ thể Xét về phương diện thực tiễn luận, niềm tingiúp con người xác định được mục đích hoạt động và kích thích quá trình thực hiệnmục đích[4] Có thể thấy nội hàm của khái niệm niềm tin mà Trịnh Đình Bảy đưa ra

ba vấn đề tương đối rõ ràng: một là, tính chất khách quan của hiện tượng niềm tin;hai là, cấu trúc của niềm tin; ba là, vai trò của niềm tin trong hoạt động thực tiễn củacon người Niềm tin được hình thành một cách tự nhiên không phụ thuộc vào ý

Trang 28

muốn của ai kể cả chủ thể của niềm tin Niềm tin được hình thành trên cơ sở cánhân nhận thức (thành phần thứ nhất) đối tượng và biểu lộ thái độ, xúc cảm tìnhcảm (thành phần thứ hai) đối với đối tượng phù hợp với nhận thức của họ về đốitượng và phụ thuộc vào sự thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu, mong đợi của họ

về đối tượng của niềm tin Khi niềm tin đã hình thành thì nó tham gia vào quá trìnhđịnh hướng hành động của chủ thể, thúc đẩy tính tích cực hoạt động của chủ thể

Trong lĩnh vực tâm lý học, niềm tin là một trong các phạm trù cơ bản nhất Tâm lý học xem niềm tin là một hiện tượng tâm lý đặc biệt ở con người, có ý nghĩađịnh hướng, thúc đẩy con người hoạt động hướng đến mục tiêu nhất định Điều nàyđược thể hiện rõ qua các định nghĩa về niềm tin của một số nhà tâm lý học hàng đầu

ở nước ta

Dưới góc độ tâm lý học, Nguyễn Ngọc Phú định nghĩa: “Niềm tin là sự hòa

quyện một cách hữu cơ giữa kiến thức (sự hiểu biết), tình cảm, ý chí và mang khuynh hướng sẵn sàng thúc đẩy con người hành động phù hợp với những định hướng, chuẩn mực giá trị của bản thân” [65, tr180] Gần với quan điểm của

Nguyễn Ngọc Phú, tập thể tác giả cuốn giáo trình Tâm lý học đại cương đã được sử

dụng để giảng dạy tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn cũng định nghĩa

niềm tin “là cái kết tinh các quan điểm, tri thức, rung cảm, ý chí đã được con người

thể nghiệm trong hoạt động sống của mình, trở thành chân lý bền vững trong mỗi

cá nhân Niềm tin tạo cho con người nghị lực, ý chí để hành động phù hợp với quan điểm đã chấp nhận” [24, tr 212] Tương tự, các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn

Văn Lũy, Đào Thị Oanh…cho rằng niềm tin là “khái niệm, tri thức, quan điểm,

quan niệm, ý tưởng…được con người trải nghiệm và rung cảm tạo thành định hướng giá trị vững chắc, cấu thành động cơ hoạt động” [58]

Có thể nói, nhiều nhà tâm lý học nước ta xem niềm tin là hiện tượng tâm lý

có liên quan chặt chẽ với định hướng giá trị của cá nhân, là cơ sở tạo thành định

hướng giá trị của cá nhân Gần đây, tập thể các nhà tâm lý biên soạn cuốn Từ điển

thuật ngữ Tâm lý học [14, tr 381].khẳng định rằng niềm tin là “định hướng giá trị

vững chắc, chi phối nhận thức và hành vi của cá nhân”

Trang 29

Qua phân tích một số định nghĩa về niềm tin, chúng tôi đi đến định nghĩa

niềm tin như sau: Niềm tin là một thuộc tính tâm lý được hình thành trên cơ sở

nhận thức và rung cảm của cá nhân đối với một đối tượng nào đó, thể hiện sự chấp nhận một cách vô điều kiện đối với các thông tin liên quan đến đối tượng, khiến cá nhân có ý chí, nghị lực để hành động phù hợp với quan điểm nhận thức và xúc cảm tình cảm của họ đối với đối tượng đó

1.2.1.2 Đặc điểm của niềm tin

a - Niềm tin có tính đối tượng:

Niềm tin của con người luôn hướng tới một hoặc một số đối tượng Đốitượng của niềm tin có thể là một con người cụ thể, một sự kiện, một hiện tượng haymột học thuyết… Đối tượng của niềm tin có thể tồn tại hay không tồn tại trên thực

tế, nhưng đối với người có niềm tin thì đối tượng đó luôn hiện thực, là những biểutượng đẹp đẽ nhất, trong sáng nhất, là viễn cảnh rực rỡ nhất, là những điều đúngđắn, hoàn mỹ, cao quý và tối thượng Đối tượng ấy có sức hấp dẫn kỳ lạ khiến conngười sẵn sàng chịu mọi khốn khó thậm chí hy sinh cả tính mạng vì nó

b - Niềm tin gắn liền với lợi ích, nhu cầu của chủ thể

Người ta không bao giờ tin vào những đối tượng không có khả năng đem lạicho họ những lợi ích nhất định hoặc không có khả năng thoả mãn những nhu cầucủa họ Đối tượng càng mang lại nhiều lợi ích, thoả mãn càng nhiều nhu cầu của cánhân thì chiếm càng nhiều tình cảm của họ, qua đó niềm tin được củng cố ngàycàng thêm sâu sắc

c - Niềm tin có tính mục đích

Khi con người xác định được đối tượng của niềm tin thì dường như hầu hếthoạt động của họ đều nhằm đạt tới những mục đích phù hợp với đối tượng đó Đốitượng của niềm tin trở thành tiêu chuẩn chân lí để hướng dẫn, điều khiển, điềuchỉnh hành vi của con người trong cuộc sống Có thể nói rằng niềm tin là một dạngđịnh hướng giá trị có sức mạnh rất to lớn trong đời sống của cá nhân và cộng đồng

d - Niềm tin có tính ổn định, bền vững:

Niềm tin được hình thành trên cơ sở nhận thức đã được thực tiễn của cá nhânkiểm nghiệm và dựa trên những rung cảm của cá nhân đối với đối tượng được lặp đilặp lại nhiều lần nên niềm tin tương đối ổn định, bền vững

Trang 30

e- Niềm tin luôn được biểu hiện thông qua hành vi của chủ thể

Khi con người đã có niềm tin vào một đối tượng nào đó thì họ thường xemđối tượng là chân lý, là chuẩn mực, là khuôn mẫu định hướng cho hành vi của họtrong hoạt động thực tiễn

1.2.1.3 Phân loại niềm tin

Cũng như việc định nghĩa niềm tin, việc phân loại niềm tin cũng có nhiềucách tùy thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu và dựa trên những tiêu chí khác nhau Một

số tài liệu chia niềm tin thành: niềm tin thông thường, niềm tin khoa học, niềm tintôn giáo Có tài liệu chỉ thừa nhận có hai loại niềm tin, là: niềm tin tôn giáo và niềmtin lý tính hay niềm tin khoa học

Căn cứ vào đối tượng của niềm tin, chúng tôi cho rằng có bao nhiêu đốitượng của niềm tin thì có bấy nhiêu dạng niềm tin Vì vậy, có niềm tin đối với conngười, niềm tin đối với đạo đức xã hội, niềm tin đối với khoa học, niềm tin đối vớitôn giáo, tín ngưỡng…

Đề tài luận án nghiên cứu niềm tin của con người đối với tôn giáo, tínngưỡng, cụ thể là niềm tin đối với tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên

1.2.1.4 Cấu trúc tâm lý của niềm tin

Niềm tin có cấu trúc tâm lý phức tạp, bao gồm trong bản thân nó nhiều thành

tố tâm lý khác nhau, trong đó có 3 thành tố cơ bản, quan trọng nhất, đó là: nhậnthức, xúc cảm tình cảm và hành vi

Nhận thức là yếu tố cơ bản đầu tiên trong cấu trúc của niềm tin Thông quacác quá trình nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, con người dần khám phá ranhững đặc điểm, thuộc tính ngày càng bản chất của sự vật, hiện tượng trong tựnhiên và xã hội Những kiến thức, hiểu biết mà con người tích luỹ được là cơ sở,chất liệu hết sức quan trọng để hình thành niềm tin và củng cố niềm tin của cá nhân.Tuy nhiên, không phải bất cứ tri thức nào được cá nhân tiếp nhận cũng đều biếnthành niềm tin cá nhân và không phải cứ có kiến thức về đối tượng là có niềm tinvào đối tượng đó Trên cơ sở nghiên cứu điều tra và nghiên cứu thực nghiệm,Nguyễn Ngọc Phú đã đi đến kết luận quá trình chuyển hoá kiến thức thành niềm tin

Trang 31

là một quá trình phức tạp, diễn ra theo hai giai đoạn: (1) giai đoạn tri giác tri thức;(2) giai đoạn xử lý, biến đổi và cấu tạo lại tri thức [65, tr 146-147] Ở giai đoạn thứnhất, cá nhân tiếp nhận được bản thân nội dung tri thức được truyền tới Nhưng nếuchỉ dừng lại ở đây, tức là mới chỉ dừng lại ở sự hiểu biết bên ngoài đối tượng thìchưa thể hình thành niềm tin cá nhân Giai đoạn xử lý những thông tin tri thức đãđược tiếp nhận để tìm ra bản chất bên trong của nó, qua đó cấu tạo lại tri thức theocách hiểu mới của bản thân là cơ sở hình thành niềm tin

Trong quá trình cấu tạo lại tri thức, cá nhân bộc lộ thái độ cảm xúc của mìnhđối với đối tượng Chúng ta biết rằng xúc cảm tình cảm luôn gắn liền với nhu cầu,động cơ của cá nhân, vì vậy khi đối tượng có khả năng thoả mãn nhu cầu thì nó trởthành động cơ thúc đẩy cá nhân tiếp tục tìm hiểu đối tượng một cách sâu sắc, kỹcàng và bản chất hơn Trong quá trình khám phá bản chất của đối tượng, những xúccảm đã nảy sinh được củng cố trở thành tình cảm bền vững Như vậy, yếu tố thứ haigóp phần quan trọng trong sự hình thành và phát triển niềm tin cá nhân là xúc cảmtình cảm

Những xúc cảm tình cảm tích cực đối với đối tượng khiến cho những hiểubiết của cá nhân về đối tượng trở thành chân lý Và chính điều đó tạo ra cho cá nhântrạng thái sẵn sàng hành động phù hợp với điều mà họ xem là chân lý

1.2.2 Tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên

1.2.2.1 Tín ngưỡng

Trong đời sống thường ngày, khi đề cập đến tín ngưỡng người ta thường liêntưởng đến những hiện tượng xã hội có tính chất thiêng liêng, thần bí, thể hiện sự tintưởng của con người đối với thế giới vô hình, về cuộc sống sau khi chết, về sự tồntại của linh hồn và sự ảnh hưởng của chúng đến cuộc sống của con người

Trong giới nghiên cứu khoa, tín ngưỡng được hiểu theo hai nghĩa:

Nghĩa thứ nhất, tín ngưỡng là sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng, tin tưởng củacon người vào một đối tượng nào đó

Nghĩa thứ hai, tín ngưỡng là sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng, sự tin tưởng củacon người vào các lực lượng siêu nhiên có tính chất thiêng liêng, huyền bí

Trang 32

Phần đông các nhà khoa học ở nước ta hiểu thuật ngữ “tín ngưỡng” theonghĩa thứ hai của từ này Chẳng hạn, theo Nguyễn Đăng Duy : “tín ngưỡng là niềmtin và sự ngưỡng mộ của con người vào lực lượng siêu nhiên, thần bí,…”[19, tr 21].Phạm Ngọc Quang viết: “Lòng tin, sự ngưỡng vọng của con người vào một lựclượng siêu nhiên nào đó - một lực lượng siêu thực, hư ảo, vô hình là nội hàm cơ bảncủa tín ngưỡng” [59, tr 6] Đặng Nghiêm Vạn cũng khẳng định: “ trong tín ngưỡngphải có yếu tố thiêng liêng liên quan đến một thế giới vô hình, đến những siêu linh

mà chính con người tưởng tượng và sáng tạo ra chúng”[91]

Có thể nói, tín ngưỡng vừa được các nhà khoa học xem như là một hiệntượng tâm lý, vừa được xem như là một hiện tượng xã hội Hiện tượng tín ngưỡngthường gắn với phong tục, tập quán, truyền thống của một cộng đồng người haymột dân tộc nên rất gần gũi với đông đảo quần chúng nhân dân, gắn liền với hoạtđộng văn hóa tâm linh của cộng đồng đó Ở nước ta tồn tại rất nhiều loại hình tínngưỡng khác nhau, tiêu biểu như: tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng ThờMẫu, tín ngưỡng thờ thần, tín ngưỡng thờ thành hoàng,…Các loại hình tín ngưỡngnày có những đặc điểm chung là:

- Hình thành trên cơ sở quan niệm vạn vật hữu linh, cho rằng mọi sự vật,hiện tượng trong thế giới đều có linh hồn Do vậy, đối tượng thờ cúng của tínngưỡng rất phong phú từ hòn đá, gốc cây (“thần cây đa, ma cây gạo”), hòn đất (thờÔng Đống), cái bình vôi (ông Bình Vôi), mây, mưa, sấm, chớp…cho đến con người

- Đối tượng thờ cúng của tín ngưỡng hoặc xuất thân từ hiện thực, được conngười trong cộng đồng tôn vinh, thờ phụng và huyền thoại hóa; hoặc xuất phát từtruyện kể dân gian, thần thoại Chẳng hạn trong tín ngưỡng Thờ cúng Thành hoàng,nhiều vị thành hoàng là những nhân vật lịch sử có lai lịch và sự tích như Bà Trưng,

Bà Triệu, Phùng Hưng, Lý Bí Trong tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên, đối tượngđược thờ cúng càng rõ ràng, cụ thể

- Thế giới thần linh, ma quỷ chưa tách biệt mà thường còn hoà nhập với đờisống con người, trong khá nhiều hình thức tín ngưỡng, chủ thể thờ cúng có thể giaotiếp trực tiếp với đối tượng thờ cúng mà không nhất thiết phải thông qua người

Trang 33

trung gian Thí dụ, trong tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên, người ta xem linh hồn của tổtiên đã chết luôn ở bên cạnh con cháu, trợ giúp con cháu trong cuộc sống đờithường nên mỗi khi gặp khó khăn người ta lại kêu cầu linh hồn tổ tiên giúp đỡ

- Gắn liền với hệ thống các thần thoại, truyền thuyết, thần tích, các di tíchđền miếu, các nghi lễ, phong tục và lễ hội, tạo thành một hệ thống văn hoá vừamang tính vật thể vừa mang tính phi vật thể Tín ngưỡng Thờ cúng Hùng Vươngđiển hình cho đặc điểm này, vừa qua đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóaphi vật thể đại diện cho nhân loại Ngoài ra, tín ngưỡng Thành hoàng, tín ngưỡngthờ Đức Thánh Trần, tín ngưỡng thờ thần…ở nước ta cũng luôn gắn liền với nhữngthần tích, lễ hội, đình miếu

Như vậy, tín ngưỡng là hiện tượng tâm lý - xã hội thể hiện sự tin tưởng của

một cộng đồng người nhất định vào thế giới vô hình, vào lực lượng siêu tự nhiên có khả năng chi phối cuộc sống của họ qua hệ thống lễ nghi thờ cúng

1.2.2.2 Tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên

a Khái niệm tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên

Thờ cúng Tổ tiên chứa đựng trong nó nhiều ý nghĩa nhân văn cao đẹp, nên ởViệt Nam, hầu hết người dân dù theo dân tộc, tôn giáo khác nhau vẫn thực hiện tônvinh tổ tiên Tuy vậy, vẫn đang có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệmThờ cúng Tổ tiên Có ý kiến cho rằng Thờ cúng Tổ tiên là hình thức thể hiện đạo lý

ở đời nên xem TCTT là đạo gốc, đạo nền của người Việt Lương Đức Thiệp viết :

“đạo gốc là Thờ cúng Tổ tiên cùng hai đạo phụ là Đạo Lão và Đạo Phật” [78, tr306] Trần Bạch Đằng cũng cho rằng TCTT, thờ những người có công với dân vớinước “nếu coi đó là đạo thì đó chính là đạo gốc, đạo nền của người Việt Nam” Cóngười quan niệm Thờ cúng Tổ tiên là một tôn giáo Nhà dân tộc học nổi tiếng ngườiNga - X.A Tocarev đã khẳng định: “Sự Thờ cúng Tổ tiên là một hình thức tôn giáo,

từ lâu đã được thừa nhận trong khoa học Vì thế không cần phải chứng minh sự tồntại của nó với tư cách là một hình thức tôn giáo riêng biệt” [84, tr 32] Phủ địnhquan niệm TCTT là một tôn giáo, Toan Ánh viết “ không thể kể là tôn giáo được, vìkhông có giáo chủ cũng như không có giáo điều” [2] Quan điểm của Đảng và Nhà

Trang 34

nước ta là xem TCTT như một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Tại Nghị quyết

số 25-NQ/TW ngày 12/03/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, có ghi:" Giữgìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống Thờ cúng Tổ tiên, tôn vinhnhững người có công với Tổ quốc và nhân dân” Như vậy, TCTT là phong tục,truyền thống, đạo hiếu, tôn giáo hay tín ngưỡng hiện vẫn đang là đề tài mà xem racuộc tranh luận vẫn tiếp diễn mà chưa có hồi kết

Đối tượng thờ cúng của tín ngưỡng TCTT cũng lại là vấn đề còn gây tranhluận trong giới nghiên cứu Trước kia và ngay cả bây giờ có nhiều người quan niệmthờ cúng tổ tiên là thờ cúng cha, ông, cụ, kỵ và những thế hệ tổ tiên có quan hệcùng huyết thống với mình Song cũng có quan niệm mở rộng đối tượng thờcúng của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên, không chỉ thờ những người sinh dưỡng

đã khuất, nghĩa là những người cùng huyết thống, mà thờ cả những người cócông với làng xã, đất nước

Trong quá trình nghiên cứu tín ngưỡng TCTT trong cộng đồng ngườiViệt, nếu lấy mẫu số chung là lòng biết ơn, là ý thức hướng về nguồn cội thì đốitượng thờ cúng của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên không chỉ có tổ tiên huyếtthống mà bao gồm cả tổ tiên tâm linh, được thể hiện ở ba cấp độ chủ yếu: giađình, làng xã, đất nước

Ở cấp độ gia đình, người Việt thường thờ cúng những bậc kỵ, cụ, ông bà, bố

mẹ (Cao, tằng, tổ, khảo; cao, tằng, tổ tỷ - những từ được dùng phổ biến trong việcthờ cúng gia tiên của người Việt) đã qua đời cho đến ông tổ dòng họ xét theo hệthống gia tộc phụ hệ Nguyên tắc cơ bản của hệ thống này là truyền thừa theo dòngcha và ưu tiên dòng đích (chính thất, trưởng nam con chính thất) Những vị tổ tiên

từ 5 đời trở lên hòa vào các bậc tổ tiên nói chung, được thờ tự chung trong nhà thờchi họ hoặc nhà thờ dòng họ

Ở cấp độ làng xã, thờ những ông tổ nghề , người có công khai phá vùng đấtmới, dựng làng, lập ấp, đánh giặc cứu dân…được dân làng tôn vinh, thờ phụng làthành hoàng

Ở cấp độ quốc gia, người Việt thờ Vua Hùng là tổ tiên chung của cả dân tộc

Trang 35

Đối với người Việt, từ xa xưa ba cộng đồng: gia đình, làng xã, đất nước luôngắn bó chặt chẽ với nhau Trong tâm thức sâu thẳm của người Việt, khó mà táchbiệt gia đình-làng xã-đất nước, “mất nước thì nhà tan”, “trả thù nhà” luôn gắn với

“đền nợ nước” Vì vậy, thờ cúng tổ tiên gia đình, làng xã, đất nước không táchrời nhau Trong gia đình thờ cúng ông bà tổ tiên, ở làng xã thờ thành hoàng,phạm vi quốc gia thờ Vua Hùng Tuy nhiên trong khuôn khổ đề tài luận án,chúng tôi tập trung nghiên cứu niềm tin của người Việt đối với tín ngưỡng TCTT ởcấp độ gia đình

Từ việc phân tích bản chất của tín ngưỡng TCTT ở trên và dựa trên khái

niệm Tín ngưỡng, chúng tôi định nghĩa tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên như sau: Tín

ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên là một hiện tượng tâm lý-xã hội thể hiện niềm tin của con người đối với linh hồn tổ tiên qua hệ thống lễ nghi thờ cúng.

b Đặc điểm của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên

Người ta quan niệm ban thờ là nơi “ở”, nơi “trú ngụ” của linh hồn người đãkhuất, nơi họ thường xuyên lui tới, có thể chứng kiến mọi sự kiện, biến cố diễn ra

Trang 36

trong gia đình, tộc họ và có thể giúp đỡ con cháu trong những trường hợp cần thiết.

Do đó, mỗi khi có sự kiện đặc biệt nào xảy ra trong gia đình, người Việt lại làm lễbáo cáo với tổ tiên hoặc cầu xin sự giúp đỡ của tổ tiên Mặt khác, trước bàn thờ tổtiên, con cháu sẽ cố gắng ứng xử cho phù hợp với chuẩn mực và với “mong muốn”của tổ tiên Đấy là không gian thiêng của cả gia đình Khi gia đình mở rộng thì nhàthờ họ trở thành không gian thiêng với kiến trúc và đồ thờ tự qúy giá hơn nhiều Một không gian linh thiêng khác liên quan đến Thờ cúng Tổ tiên là mồ mả.Trong tâm thức của người Việt, mồ mả là ngôi nhà của tổ tiên, là nơi trú ngụ chínhcủa linh hồn, cũng là nơi lưu giữ thi hài người quá cố.Vì vậy, người Việt có tục cảitáng, xem việc cải táng là sự “xây nhà mới” cho linh hồn cha mẹ, tổ tiên

Mồ mả của tổ tiên là nơi hết sức linh thiêng và có ý nghĩa đặc biệt quan trọngtrong đời sống tâm linh của mỗi người Việt Đụng chạm đến không gian thiêng đó

là đụng đến chỗ nhạy cảm nhất trong tâm thức của người Việt Từ việc phản ứngcủa người dân trước hiện tượng “đào mồ cuốc mả” hay “giữ như giữ mộ tổ” hoặccâu “sống vì mồ vì mả, không ai vì cả bát cơm”cho đến chuyện làm mộ giả của cácông hoàng, bà chúa …cho thấy mồ mả có quan hệ đến sự thịnh suy của gia tộc và làvấn đề tâm linh nhạy cảm đến mức nào

Vu Lan của Phật giáo, Tết Trung Thu ngày rằm tháng tám, Tết Trùng Cửu ngàymồng 9 tháng 9 âm lịch, tết Trùng Thập ngày mồng 10 tháng 10 âm lịch (còn gọi là

lễ cúng cơm mới) và ngày Tết tiễn Táo quân 23 tháng chạp Ngày Sóc (mồng 1 âmlịch), Vọng (rằm/ 15 âm lịch) hàng tháng, các gia đình người Việt dù tin hay khôngtin theo đạo Phật vẫn thường làm lễ cúng gia tiên

Trang 37

Việc TCTT cũng có thể diễn ra vào những thời điểm trong gia đình có chuyệnvui buồn như: thi cử, đỗ đạt, sinh nở, đi xa, cưới vợ, gả chồng, làm nhà mới,…concháu cũng cầu cúng tổ tiên, cầu mong sự phù giúp của tổ tiên Điều này cho thấyquan niệm của người Việt rằng người thân tuy đã chết nhưng linh hồn họ vẫn tồn tại

và vẫn thường xuyên lui tới gia đình, chứng kiến mọi diễn biến cuộc sống của concháu, vẫn động viên, giúp đỡ người thân lúc khó khăn, hoạn nạn để cùng chua vui,cộng khổ cùng gia quyến

Có thể nhận thấy, trong quan niệm của người Việt linh hồn tổ tiên tham giavào hầu hết các sự kiện trong cuộc sống của con cháu, như một thành viên đích thựccủa gia đình, vẫn hiện tồn trong cuộc sống cùng con cháu

*Về nghi lễ thờ cúng Tổ tiên

Nghi lễ là khía cạnh vô cùng quan trọng để hình thành và củng cố đức tin tôngiáo, niềm tin vào những điều siêu nhiên, huyền diệu trong các tín ngưỡng Ý thứcđược vai trò của nghi lễ thờ cúng đối với việc phát triển tín đồ nên bất kỳ tôn giáonào cũng ra sức xây dựng một hệ thống nghi lễ riêng cho mình, bởi nghi lễ càng chitiết, càng chặt chẽ thì quan hệ của tín đồ với tôn giáo càng chặt chẽ, niềm tin tôngiáo của họ càng sâu sắc

Hệ thống nghi lễ của các tín ngưỡng thường thiếu chặt chẽ so với tôn giáo, vì:

nó được hình thành một cách tự phát trong dân gian, được lưu truyền chủ yếu thôngqua truyền khẩu và bắt chước lẫn nhau, không có tổ chức đứng ra để thống nhấtnghi lễ … nên nó ít nhiều biến động, thay đổi theo từng thời kỳ lịch sử, từng khônggian văn hóa Thờ cúng Tổ tiên là một tín ngưỡng dân gian nên nó cũng không nằmngoài quy luật đó Tuy nhiên, Thờ cúng Tổ tiên còn là một truyền thống văn hóa tốtđẹp của dân tộc Việt Nam, được lưu truyền liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác,gắn liền với đời sống sinh hoạt hoạt hàng ngày của nhân dân, được các triều đạiphong kiến trước kia và Nhà nước ta hiện nay ủng hộ nên các nghi lễ thờ cúngtương đối ổn định và khá đồng nhất

Trong thực hành nghi lễ TCTT, người ta rất chú ý đến hai yếu tố: lễ vật dângcúng cho linh hồn tổ tiên và nội dung lời cầu khấn

Trang 38

- Về lễ vật dâng cúng tổ tiên

Vì người Việt quan niệm linh hồn tổ tiên có một “cuộc sống” ở “bên kia thếgiới”, cũng có những nhu cầu giống như con người ở thế giời hiện hữu nên họ dângcúng lễ vật cho Tổ tiên Tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên không quy định rõ ràng, chặtchẽ về lễ vật dâng cúng, mà tùy tâm, tùy gia cảnh và khả năng tài chính của mỗi giađình Nếu con cháu có điều kiện thì bày nhiều đồ cúng lễ như: xôi chè, oản chuối,

cỗ mặn, vàng mã…, còn nếu gia đình nào còn khó khăn, thiếu thốn chỉ cần nénhương và chén nước đạm bạc miễn là “lễ bạc lòng thành” Điều này phản ánh quanniệm của người Việt xem linh hồn tổ tiên là một thành viên thực tế của gia đình,cùng chia sẻ vinh hoa phú quý cũng như khó khăn, bần hàn với con cháu

- Về nội dung cầu khấn

Nội dung cầu khấn tổ tiên tùy thuộc vào thời gian thờ cúng, không gian thờcúng và lý do thờ cúng

Do ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo, sau khi người thân mới quan đời concháu thường cầu cho linh hồn tổ tiên được siêu thoát, an lành ở “thế giới bên kia” Trong các trường hợp khác, nội dung cầu cúng thường bày tỏ sự kính trọng,biết ơn đối với tổ tiên và cầu xin tổ tiên “phù hộ” cho bản thân và các thành viêntrong gia đình được bình an, mạnh khỏe, hạnh phúc…, đôi khi con cháu còn cầu xinlinh hồn tổ tiên giúp đỡ để được giàu có, thành đạt

Ngoài ra, khi sa cơ lỡ vận, lầm đường lạc lối trong đời sống thường nhật, ngườiViệt cũng kính báo gia tiên mong sao được tổ tiên phù hộ, độ trì và lượng thứ

Nhìn chung, trong lễ cúng gia tiên, người Việt không chỉ cầu mong tổ tiên phù

hộ độ trì mà còn cầu Trời, khấn Phật cho toàn gia an khang, thịnh vượng

1.2.3 Niềm tin của người Việt đối với tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên

1.2.3.1 Đôi nét về người Việt

Người Việt, còn gọi là người Kinh, được hình thành tại khu vực miền Bắcnước ta và miền nam Trung Quốc Tổ tiên của người Việt là người Lạc Việt Nhà sử

học Đào Duy Anh đã căn cứ vào Hậu Hán thư mà khẳng định rằng người Lạc Việt

là nguồn gốc trực tiếp của người Việt Họ đến miền Bắc Việt Nam từ miền bờ biển

Trang 39

Giang Nam từ khoảng thế kỷ thứ IX đến thế kỷ thứ IV trước công nguyên Trải quahàng ngàn năm lịch sử, người Lạc Việt đã hòa chủng với nhiều tộc người khác, baogồm cả những tộc người thổ trước, những tộc người mới di cư đến và tộc ngườiHán Đào Duy Anh viết: “có thể chắc chắn rằng ở các thế kỷ đầu sau công nguyên,

tổ tiên chúng ta ở miền Bắc Việt Nam đã gồm những thành phần nhân chủng phứctạp: trên cơ sở Lạc Việt, yếu tố Anh Đô Nê Di thổ trước và yếu tố Mông Cổ đến tựphương Bắc đã bị hấp thu và đồng hóa” Đi kèm với sự hợp chủng là sự hợp nhất vềmặt văn hóa của các chủng người này, dần dần tạo nên bản sắc văn hóa riêng củangười Việt

Ngày nay, tộc người Việt là dân tộc lớn nhất trên lãnh thổ Việt Nam, chiếmtrên 80% dân số cả nước Họ không chỉ sống ở miền Bắc Việt Nam mà đã có mặt ởtất cả các tỉnh, thành trên cả nước Ngoài ra, còn có hàng triệu người Việt đang sinhsống và định cư ở nước ngoài

Khi di cư đến các khu vực khác, người Việt chẳng những hòa chung dòngmáu với các dân tộc bản địa mà còn tiếp biến văn hóa với nền văn hóa của họ Dovậy, đời sống văn hóa, tín ngưỡng, tâm lý của họ ở mỗi vùng đều có đặc trưng riêngbên cạnh những nét chung của cả tộc người

Có thể điểm qua đôi nét về đời sống xã hội văn hóa, tín ngưỡng, tâm lýchung của tộc người Việt như sau:

Về đời sống xã hội, gia đình đóng vai trò quan trọng Trong xã hội truyềnthống, gia đình được coi như một cá thể trong cơ cấu làng xã, cũng là đối tượngchịu liên đới trách nhiệm trước pháp luật của nhà nước phong kiến Khi một người

đỗ đạt thì toàn thể gia đình đều được hưởng chung vinh dự với người đó Chẳnghạn, một người làm quan thì triều đình còn phong tước cho cha mẹ hoặc phong ấmcho con cháu của người đó Ngược lại, khi một thành viên trong gia đình bị tội thì

cả gia đình cũng bị vạ lây Ngày nay, việc liên đới trách nhiệm giữa cá nhân và giađình trước pháp luật không còn nữa nhưng quan niệm kiểu như “một người làmquan cả họ được nhờ” vẫn còn rất đậm nét trong tâm lý của người Việt

Trong gia đình người Việt, cha mẹ có trách nhiệm tương đối lớn đối với concái “Người cha có trách nhiệm, bổn phận chu cấp gia đình, bảo vệ, dạy dỗ con cái,nuôi dưỡng lòng thiện cho con trẻ và hướng dẫn con làm điều thiện khi chúng khôn

Trang 40

lớn, nêu gương sáng bằng những hành động gương mẫu của bản thân” Người mẹvới đức tính nổi bật là lòng hy sinh vô hạn đối với chồng con, có trách nhiệm quánxuyến mọi việc trong gia đình Vì những điều đó mà con cái phải biết ơn, kính trọngcha mẹ, phải vâng lời cha mẹ và phải phụng dưỡng cha mẹ lúc còn sống cũng nhưsau khi chết

Về đời sống tín ngưỡng, tâm linh của người Việt, không khó để nhận thấyngười Việt có đời sống tín ngưỡng, tâm linh hết sức đa dạng Họ thờ rất nhiều loạithần linh, từ nhiên thần, nhân thần đến thiên thần Sở dĩ như vậy là bởi tâm linhngười Việt cho rằng mọi vật dù là động vật, cỏ cây, hoa lá, hòn đá, gốc cây… đều

có linh hồn Do vậy, họ đã linh hóa mọi vật trong vũ trụ “tạo nên một mê cungtrong đó các vị thần linh cùng chung sống với người trần”

Theo quan niệm của người Việt, vũ trụ là thống nhất nhưng có thể tạm chialàm hai loại: thế giới hữu hình là thế giới vật chất mà con người đang tồn tại vớinhững sự vật xung quanh và thế giới siêu hình (hay vô hình) là thế giới của thầnlinh, ma quỷ và linh hồn người đã chết Hai thế giới này vừa tương phản nhau, vừađan xen chuyển hóa lẫn nhau Trong tín ngưỡng tâm linh của người Việt, có sự giaocảm giữa hai thế giới này, giữa người đang sống với người đã chết qua những kênhthông tin liên lạc có tính chất huyền bí Việc truyền tin có thể thực hiện trực tiếpqua việc báo mộng hoặc điềm báo, cũng có thể gián tiếp thông qua một số ngườiđược cho là có khả năng đặc biệt, tiếp xúc được với linh hồn người đã chết

Người Việt không xem cái chết là dấu chấm hết mà xem sự kiện này nhưmột dấu gạch nối, là sự tiếp tục một cuộc sống khác ở thế giới bên kia Người ta coicái chết đơn giản chỉ là buộc phải đi theo tổ tiên đã khuất của đại gia đình, sau mộtcuộc đời trần thế tương đối dài Khi một con người chết đi, chỉ có phần xác tiêu tan,còn phần hồn vẫn tồn tại, vẫn sống bên cạnh người sống Chính quan điểm này là

cơ sở của tín ngưỡng TCTT của người Việt Vì tin rằng các vị tổ tiên vẫn hiện diệnthường xuyên bên con cháu nên người ta phụng thờ, phục vụ tổ tiên như khi họ cònđang sống

Trong thực tế, người Việt ứng xử với linh hồn tổ tiên, đặc biệt là linh hồncha mẹ, như thể họ còn tại thế Trước mọi sự kiện diễn ra trong gia đình, người Việt

Ngày đăng: 02/04/2017, 09:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2010), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2010
21. Nguyễn Bá Đạt (2005), Tìm hiểu phương pháp nghiên cứu trường hợp trong khoa học xã hội và tâm lý học, Tạp chí Tâm lý học, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Nguyễn Bá Đạt
Năm: 2005
22. Trần Bạch Đằng (1999), “Tín ngưỡng và mê tín”, Vấn đề tôn giáo – tư tưởng và chính sách xã hội, Nxb Thanh niên, tr.32-33.23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng và mê tín”," Vấn đề tôn giáo – tư tưởngvà chính sách xã hội
Tác giả: Trần Bạch Đằng
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1999
24. Trần Thị Minh Đức chủ biên (1995), Tâm lý học xã hội, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội
Tác giả: Trần Thị Minh Đức chủ biên
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1995
25. Trần Thị Minh Đức chủ biên (1996), Tâm lý học đại cương, Nxb giáo dục, Hà Nội.26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Trần Thị Minh Đức chủ biên
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1996
27. Minh Đường (2010), Phương pháp đặt bàn thờ cúng của người Việt, Nxb Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp đặt bàn thờ cúng của người Việt
Tác giả: Minh Đường
Nhà XB: NxbThời đại
Năm: 2010
28. Erich From(2012), Phân tâm học và tôn giáo, Nxb từ điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học và tôn giáo
Tác giả: Erich From
Nhà XB: Nxb từ điển bách khoa
Năm: 2012
29. S. Freud, C.Jung, E.Fromm, R.Assagioli(2002), Phân tâm học và văn hóa tâm linh, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học và văn hóatâm linh
Tác giả: S. Freud, C.Jung, E.Fromm, R.Assagioli
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2002
30. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam , Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1980
31. Vân Hạnh (2009), Văn hóa dòng họ, Nxb Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dòng họ
Tác giả: Vân Hạnh
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2009
32. Cấn Hữu Hải (2000), Ảnh hưởng của truyền thống gia đình đến định hướng giá trị của con cái hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Cấn Hữu Hải
Năm: 2000
33. Mai Thanh Hải (2005), Thờ cúng tổ tiên nên như thế nào, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thờ cúng tổ tiên nên như thế nào
Tác giả: Mai Thanh Hải
Nhà XB: Nxb Văn hóathông tin
Năm: 2005
34. Lê Như Hoa (2001), Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam
Tác giả: Lê Như Hoa
Nhà XB: Nxb Văn hóa thôngtin
Năm: 2001
35. Hội đồng Lý luận Trung ương(2004), Lẽ phải của chúng ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lẽ phải của chúng ta
Tác giả: Hội đồng Lý luận Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 2004
36. Hội khoa học Lịch sử Việt Nam (2006), Những vấn đề nhân học tôn giáo, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề nhân học tôn giáo
Tác giả: Hội khoa học Lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2006
37. Đỗ Trinh Huệ (2004), Leopold Michel Cadière với văn hóa tín ngưỡng người Việt, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo
Tác giả: Đỗ Trinh Huệ
Năm: 2004
39. Hoàng Thu Hương(2006), Động cơ đi lễ chùa của người dân đô thị hiện nay, Tạp chí Tâm lý học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Hoàng Thu Hương
Năm: 2006
40. Trần Đình Hượu (1994), Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến hiện đại từ truyền thống
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1994
41. Nguyễn Thừa Hỷ (2011), Văn hóa Việt Nam truyền thống - một góc nhìn, Nxb Thông tin và truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam truyền thống - một góc nhìn
Tác giả: Nguyễn Thừa Hỷ
Nhà XB: Nxb Thông tin và truyền thông
Năm: 2011
42. Nguyễn Văn Huyên (2005),Văn Minh Việt Nam, Nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Minh Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Nhà XB: Nxb Hội Nhà Văn
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Đặc điểm nhân khẩu-xã hội của khách thể nghiên cứu - NIỀM TIN của NGƯỜI VIỆT  đối với tín NGƯỠNG THỜ CÚNG tổ TIÊN
Bảng 2.1 Đặc điểm nhân khẩu-xã hội của khách thể nghiên cứu (Trang 65)
Bảng 3.1: Mức độ thường xuyên thờ cúng tổ tiên (%) - NIỀM TIN của NGƯỜI VIỆT  đối với tín NGƯỠNG THỜ CÚNG tổ TIÊN
Bảng 3.1 Mức độ thường xuyên thờ cúng tổ tiên (%) (Trang 70)
Bảng 3.3: Tương quan giữa trình độ học vấn của người trả lời với mức độ - NIỀM TIN của NGƯỜI VIỆT  đối với tín NGƯỠNG THỜ CÚNG tổ TIÊN
Bảng 3.3 Tương quan giữa trình độ học vấn của người trả lời với mức độ (Trang 78)
Bảng 3.5: Tương quan giữa nghề nghiệp của người trả lời với niềm tin linh hồn tổ tiên có khả năng nghe hiểu được những lời cầu nguyện của con cháu (%) - NIỀM TIN của NGƯỜI VIỆT  đối với tín NGƯỠNG THỜ CÚNG tổ TIÊN
Bảng 3.5 Tương quan giữa nghề nghiệp của người trả lời với niềm tin linh hồn tổ tiên có khả năng nghe hiểu được những lời cầu nguyện của con cháu (%) (Trang 85)
Bảng 3.6: Tương quan giữa tuổi của người trả lời với niềm tin linh hồn tổ tiên có - NIỀM TIN của NGƯỜI VIỆT  đối với tín NGƯỠNG THỜ CÚNG tổ TIÊN
Bảng 3.6 Tương quan giữa tuổi của người trả lời với niềm tin linh hồn tổ tiên có (Trang 86)
Bảng 3.7: Tương quan giữa nghề nghiệp của người trả lời với niềm tin vào linh hồn - NIỀM TIN của NGƯỜI VIỆT  đối với tín NGƯỠNG THỜ CÚNG tổ TIÊN
Bảng 3.7 Tương quan giữa nghề nghiệp của người trả lời với niềm tin vào linh hồn (Trang 87)
Bảng 3.10: Tương quan giữa mức sống với niềm tin vào hiện tượng “báo mộng”, - NIỀM TIN của NGƯỜI VIỆT  đối với tín NGƯỠNG THỜ CÚNG tổ TIÊN
Bảng 3.10 Tương quan giữa mức sống với niềm tin vào hiện tượng “báo mộng”, (Trang 108)
Bảng 3.11: Tương quan giữa mức độ thành đạt của bản thân và gia đình với niềm - NIỀM TIN của NGƯỜI VIỆT  đối với tín NGƯỠNG THỜ CÚNG tổ TIÊN
Bảng 3.11 Tương quan giữa mức độ thành đạt của bản thân và gia đình với niềm (Trang 108)
Bảng 3.12: Tương quan giữa tôn giáo của người trả lời với niềm tin vào hiện tượng - NIỀM TIN của NGƯỜI VIỆT  đối với tín NGƯỠNG THỜ CÚNG tổ TIÊN
Bảng 3.12 Tương quan giữa tôn giáo của người trả lời với niềm tin vào hiện tượng (Trang 109)
Bảng 3.14: Mong đợi từ thờ cúng tổ tiên (%) - NIỀM TIN của NGƯỜI VIỆT  đối với tín NGƯỠNG THỜ CÚNG tổ TIÊN
Bảng 3.14 Mong đợi từ thờ cúng tổ tiên (%) (Trang 121)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w