Qua việc tìm hiểu các sinh hoạt vănhóa dân gian ở các tỉnh miền núi phía Bắc, chúng tôi thấy hát ru có ý nghĩa quantrọng đặc biệt trong đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
BÙI THỊ MINH LAN
DÂN GIAN CỦA ĐỒNG BÀO TÀY, THÁI, MƯỜNG
Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Chuyên ngành: VIỆT NAM HỌC
Mã số : 60.22.01.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN MẠNH TIẾN
HÀ N I - 2014 ỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa đượccông bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Bùi Thị Minh Lan
Trang 3Xin cảm ơn bạn bè, người thân đã luôn luôn giúp đỡ động viên em trong thờigian học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 2014
Tác giả
Bùi Thị Minh Lan
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Nguồn tư liệu 5
7 Đóng góp của đề tài 5
8 Cấu trúc của luận văn 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HÁT RU VÀ HÁT RU TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA DÂN GIAN CỦA ĐỒNG BÀO TÀY, THÁI, MƯỜNG MIỀN NÚI PHÍA BẮC 7
1 Khái quát về hát ru trong đời sống văn hóa dân gian 7
1.1 Khái quát về văn hóa dân gian 7
1.2 Khái niệm về hát ru 8
2 Cơ sở xã hội của sự hình thành hát ru 10
2.1 Cơ sở lao động sản xuất 10
2.2 Cơ sở ngôn ngữ 14
2.3 Đặc điểm xã hội của tộc người 15
3 Môi trường diễn xướng của hát ru Tày, Thái, Mường 20
3.1 Hát ru trong gia đình 20
3.2 Lao động sản xuất 23
3.3 Sinh hoạt văn hóa cộng đồng 25
Tiểu kết chương 1: 27
CHƯƠNG 2: BỨC TRANH HIỆN THỰC MUÔN MÀU TRONG HÁT RU CỦA ĐỒNG BÀO TÀY, THÁI, MƯỜNG Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC 28
1 Nguồn cảm hứng trong hát ru của đồng bào Tày, Thái, Mường 28
Trang 52 Đặc điểm chung về nội dung các bài hát ru Tày, Thái, Mường trong đời sống
văn hóa dân gian 29
2.1 Tình mẫu tử thiêng liêng trong lời ru của đồng bào Tày, Thái, Mường 29
2.2 Tình cảm gia đình, tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước trong lời ru trẻ của đồng bào Tày, Thái, Mường 32
2.3 Hát ru phản ánh cuộc sống lao động của đồng bào Tày, Thái, Mường 35
2.3.1 Bức tranh hoạt động gieo trồng 35
2.3.2 Bức tranh hoạt động chăn nuôi, săn bắt hái lượm 38
2.3.3 Nghề thủ công truyền thống 40
2.4 Hình ảnh đời sống xã hội trong lời ru của đồng bào Tày, Thái, Mường 42
3 Những màu sắc riêng trong các bài hát ru Tày, Thái, Mường 49
3.1 Màu sắc riêng trong điệu hát ru của đồng bào Tày 49
3.2 Màu sắc riêng trong điệu hát ru con của đồng bào Thái 51
3.3 Màu sắc riêng trong điệu hát ru con của đồng bào Mường 54
4 Ý nghĩa của các bài hát ru 59
4.1 Hát ru là mạch nguồn sự sống, nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ 60
4.2 Hát ru là sợi dây kết nối các thế hệ 62
4.3 Hát ru góp phần hình thành ngôn ngữ và tri thức sơ khai về cuộc sống 64
4.4 Hát ru là bài học đạo lí làm người của trẻ thơ 66
Tiểu kết chương 2: 69
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT HÁT RU TRONG SINH HOẠT VĂN HÓA DÂN GIAN CỦA ĐỒNG BÀO TÀY, THÁI, MƯỜNG 70
1 Hát ru là phương thức biểu lộ cảm xúc của thơ ca trữ tình 70
2 Các sắc màu ngôn ngữ của hát ru Tày, Thái, Mường 72
3 Âm điệu trong lời ru Tày, Thái, Mường 79
Tiểu kết chương 3: 81
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 94 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hát ru là một loại hình nghệ thuật dân gian tồn tại lâu đời trong lịch sử vănhóa của dân tộc Hơn nửa thế kỉ qua đã có nhiều công trình sưu tầm văn học dângian đề cập tới hát ru nhưng phần lớn ở các vùng đồng bằng gắn với văn hóa dângian của đồng bào Kinh Riêng mảng hát ru của đồng bào các dân tộc thiểu số chưađược các nhà nghiên cứu khảo sát có hệ thống Qua việc tìm hiểu các sinh hoạt vănhóa dân gian ở các tỉnh miền núi phía Bắc, chúng tôi thấy hát ru có ý nghĩa quantrọng đặc biệt trong đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số, cần phảinghiên cứu và bảo tồn, phát huy những giá trị tinh thần đó
Hát ru là một vẻ đẹp văn hóa, đậm chất trữ tình và là phương tiện hữu hiệu
để diễn tả tâm hồn, tình cảm con người qua nhiều thế hệ của mọi cộng đồng dân tộc.Hát ru là một nếp sống trở thành nhu cầu thường nhật của đồng bào các dân tộcthiểu số và tạo nên bản sắc văn hóa từng khu vực
Theo số liệu của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc UNFPA (2011), Các dân tộc
Việt Nam – Phân tích các chỉ tiêu chính từ cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam 2009 và Tổng cục Thống kê Việt Nam: Người Kinh là tộc người có số
dân đông: 73.594.427 người chiếm 85,7274% số dân cả nước, tiếp sau lần lượt là batộc người Tày, Thái, Mường với số dân cũng khá đông, cụ thể như sau: Cộng đồngTày có 1.626.392 người = 1,8945% dân số cả nước, người Thái có 1.550.423 người
= 1,806%, người Mường có 1.2868.963 người = 1,4782% tổng số dân cư [102:7].Miền núi phía Bắc là một trong những khu vực tập trung nhiều tộc người thiểu sốsinh sống với nhiều giá trị văn hóa đặc sắc nhưng tiêu biểu hơn là văn hóa các dântộc Tày, Thái, Mường
Hát ru của đồng bào các dân tộc thiểu số phía Bắc như: người Tày, ngườiThái, người Mường, … rất phong phú nhưng chưa được nghiên cứu thành các côngtrình khoa học có quy mô như hát ru vùng đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ Những bàihát ru và làn điệu của đồng bào Việt Bắc và Tây Bắc chưa được khái quát hệ thốnghoàn chỉnh trong nền văn hóa dân gian Do một phần những rào cản về ngôn ngữ vàquan niệm chưa đầy đủ về loại hình nghệ thuật này cho nên hoạt động nghiên cứu
Trang 7về hát ru của các dân tộc thiểu số còn mờ nhạt, tất cả mới dừng lại ở một số côngtrình sưu tầm lẻ tẻ và dịch ra tiếng phổ thông Cho nên đây là vấn đề còn bỏ trống,việc đi sâu vào nghiên cứu hát ru miền núi sẽ mang lại nhiều ý nghĩa về chiều sâucủa văn hóa Việt Nam Hát ru cho thấy vẻ đẹp của tâm hồn, tình cảm giàu bản sắcdân tộc.
Hát ru là loại hình nghệ thuật đặc sắc phản ánh truyền thống văn hóa các dântộc gắn liền với đời sống sinh hoạt mỗi cộng đồng từ ngàn đời xưa Việc nghiên cứu
về hát ru sẽ quảng bá được những tinh hoa văn hóa đa dạng của Việt Nam đến bạn
bè quốc tế đồng thời cũng giúp cho các em học sinh hiểu sâu sắc hơn truyền thốngvăn hóa dân tộc
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Hát ru là một loại hình nghệ thuật dân gian được một số nhà nghiên cứu quantâm đến từ trước cách mạng tháng 8/1945 đến nay Ta có thể điểm qua các côngtrình tiêu biểu như sau:
Công trình Những câu hát xanh (1937) của Lâm Tuyền Khách (Lan Khai) in
trên Tạp chí Tao Đàn (Số 8/1939) đã sưu tầm, phiên âm và phiên dịch, giới thiệucác bài ca dân gian của đồng bào Tày trong đó có những bài hát ru bằng đồng dao
Đó là một trong những công trình đầu tiên ở Việt Nam sớm chú ý đến thơ ca dângian của đồng bào dân tộc thiểu số Trong đó có đoạn viết: “Nếu câu thơ đầu tiêncủa nhân loại là một lời cầu nguyện gửi trước đấng Thần Minh thì câu hát đầu tiêncủa nhân loại có lẽ là lời hát ru con, ru em đã thốt ra ở cái miệng tươi xinh của mộtngười mẹ, một người chị khi bồng bế con em” [29:54]
Công trình Thơ ca dân gian Việt Nam của Bùi Văn Nguyên, Đỗ Bình Trị (1969), Nxb Giáo dục, Hà Nội có đề cập tới thể loại hát ru trong dân ca Việt Nam
nhưng mới chỉ tập trung vào dân ca dân tộc Kinh, còn hát ru của các dân tộc thiểu
số chưa được quan tâm đúng mức
Công trình Thi ca bình dân Việt Nam (4 tập) của Nguyễn Tấn Long, Phan
Canh (1969 – 1971), Nxb Sống mới, Sài Gòn có nói tới hát ru trong dân ca đồngbằng Bắc Bộ và Nam Bộ, nhưng còn thiếu dân ca các dân tộc thiểu số ở các tỉnhphía Nam và Tây Nguyên
Trang 8Công trình Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan (1971), Nxb
Khoa học Xã hội cũng nhắc tới thể loại dân ca hát ru, nhưng chỉ ở vùng đồng bằngvới trung du, còn lại các loại hình thơ ca dân gian trong đó có hát ru của đồng bàocác dân tộc thiểu số còn bỏ trống
Công trình Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam, Nxb Đại học
và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội của Võ Quang Nhơn (1983) có đề cập tới dân
ca của đồng bào các dân tộc thiểu số nhưng còn sơ lược Thể loại hát ru chưa đượcngười nghiên cứu quan tâm đầy đủ
Công trình Mẹ hát ru của Nguyễn Hữu Thọ (1987), Nxb Phụ nữ, Hà Nội có
giới thiệu các lời ru truyền thống của đồng bào Kinh, nhưng thiếu mảng hát ru củađồng bào miền núi
Vào những năm cuối thế kỉ XX trở đi, phần thơ ca dân gian trong đó có hát
ru đã được nhiều tác giả đề cập tới ít nhiều trong các công trình nghiên cứu như:
Hoàng Tiến Tựu với công trình Bình giảng ca dao, Nxb Giáo dục (1992); Phạm Thu Yến với bài viết Những thế giới nghệ thuật trong ca dao, Nxb Giáo dục (1998);
Lê Gia với Tâm hồn mẹ Việt Nam, Nxb Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh (1993); Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật với Kho tàng ca dao người Việt, Nxb Văn hóa Thông tin (2001); Đặng Nghiêm Vạn với Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Đà Nẵng (2002); Lư Nhất Vũ, Lê Giang với Hát ru Việt Nam, Nxb Trẻ (2005);
Lệ Vân với công trình Hát ru ba miền, Nxb Phụ nữ (2006)… Các bài viết và các
công trình đã đề cập tới tính chất đa dạng phong phú của thể loại hát ru ở các vùngđồng bằng Bắc – Trung – Nam, nhưng các công trình trên chưa tiến hành giới thiệudiện mạo của loại hình hát ru của mọi cộng đồng dân tộc thiểu số
Những năm gần đây có một số tác giả mở rộng thêm việc tìm hiểu diện mạohát ru của các dân tộc thiểu số, nhưng chưa thành những công trình chuyên biệt
như: Hát ru các dân tộc: Khái quát về hát ru (CD), H Văn hóa (2005); Hát ru các
dân tộc (Đĩa tiếng), H Văn hóa dân tộc (2007); Hát ru Việt sử thi ngàn năm Thăng Long – Hà Nội của Phạm Thiên Thư, Nxb Thanh niên (2010)… Hát ru đã được lựa
chọn thu băng đĩa nhờ các kĩ thuật công nghệ mới để phổ biến rộng đến bạn đọckhắp nơi
Trang 9Tóm lại: Các công trình trên là kết quả của quá trình sưu tầm nghiên cứu củacác tác giả nhưng chủ yếu tập trung vào các mảng sáng tác dân gian của ngườiKinh Mảng hát ru các dân tộc thiểu số còn thưa vắng Hát ru chưa được xem nhưmột loại hình nghệ thuật độc đáo do đó chưa phát huy hết giá trị vốn có của nó.Hiện nay nhiều bài hát ru đã được sưu tầm và ghi vào đĩa CD, công việc phổ biếnthuận lợi hơn Song nhu cầu tập hợp và nghiên cứu về hát ru theo khu vực hay từngcộng đồng sắc tộc một cách đầy đủ vẫn chưa được các cơ quan chức năng thực hiệnđầy đủ, do đó chưa thấy được vẻ đẹp muôn màu qua loại hình nghệ thuật dân gian
có từ lâu đời của cộng đồng các dân tộc làm nên bản sắc Việt Nam giàu chất trữ tình
và lòng nhân ái
Hi vọng rằng đề tài “Hát ru trong đời sống văn hóa dân gian của đồng bào
Tày, Thái, Mường ở miền núi phía Bắc” sẽ góp thêm một cách nhìn về giá trị văn
hóa của các dân tộc thiểu số trong nền văn hóa Việt Nam đa dạng và thống nhất
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Hát ru có ở mọi dân tộc và có tính qui mô, song trong khuôn khổ của luậnvăn Cao học, chúng tôi chủ trương tập trung vào những tác phẩm hát ru dân giantiêu biểu của các dân tộc thiểu số Tày, Thái, Mường ở miền núi phía Bắc đã xuấtbản mà chúng tôi có điều kiện quan tâm nhiều hơn Qua các tác phẩm này, chúngtôi sẽ khai thác cả nội dung và hình thức diễn xướng để làm nổi bật các giá trị củahát ru trong sinh hoạt của đồng bào miền núi Ngoài ra chúng tôi cũng tiến hànhđiền dã sưu tầm một số bài hát ru và làn điệu của loại hình nghệ thuật này để hoànthiện công trình nghiên cứu Trong quá trình khảo sát khi cần thiết chúng tôi sẽ sosánh, liên hệ với các bài hát ru của đồng bào Kinh ở đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích, đánh giá cả nội dung, hình thức và phương thức diễn xướng cácbài hát ru dân gian trong đời sống của đồng bào các dân tộc Tày, Thái, Mường ở cácvùng núi phía Bắc
Công trình của chúng tôi sẽ cố gắng chỉ ra những giá trị độc đáo mang bảnsắc dân tộc qua lời ru và môi trường hát ru của đồng bào dân tộc thiểu số, giúp bạnđọc hiểu thêm về vẻ đẹp muôn màu của văn hóa Việt Nam trong đó có hát ru – mộtloại hình nghệ thuật có sức sống bền bỉ trong lịch sử dân tộc
Trang 105 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ trương phối hợp nhiều phương phápnghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu văn học dân gian: ngoài việc khảo sát các văn bảnhát ru đã xuất bản, chúng tôi kết hợp tìm hiểu các bài hát ru được lưu truyền trongdân gian và phương thức diễn xướng, phân tích, bình giảng các bài hát ru theo chủ
đề để rút ra ý nghĩa khái quát của hát ru trong đời sống văn hóa dân gian Việt Namnói chung và hát ru của đồng bào Tày, Thái, Mường ở miền núi phía Bắc nói riêng
Phương pháp văn hóa học: nghiên cứu hát ru từ góc nhìn văn hóa để thấymối quan hệ sinh hoạt tinh thần trong lao động sản xuất của cư dân nông nghiệpmiền núi
Phương pháp lịch sử: nghiên cứu quá trình hình thành, tồn tại và phát triểncủa loại hình hát ru trong đời sống văn hóa Việt Nam
Phương pháp so sánh: đối sánh hát ru của đồng bào Tày, Thái, Mường vớihát ru của dân tộc Kinh để tìm ra đặc điểm chung và riêng về nội dung và hình thứccủa các làn điệu bài ca Đồng thời tìm hiểu những điểm riêng biệt trong hát ru của
ba dân tộc Tày, Thái, Mường
Phương pháp liên ngành: sử dụng thích hợp kết quả nghiên cứu của cácngành có liên quan như văn học dân gian và âm nhạc dân gian để làm nổi bật giá trịvăn hóa của hát ru
Phương pháp điền dã dân tộc học: quan sát, ghi chép, phỏng vấn sâu tại địabàn có đồng bào Tày, Thái, Mường sinh sống để khám phá đặc điểm của hát ru
6 Nguồn tư liệu
Trong đề tài có sử dụng các tài liệu đã công bố bao gồm danh mục công trìnhnghiên cứu và sưu tầm của nhiều tác giả Ngoài ra còn có các tài liệu chúng tôi trựctiếp sưu tầm qua quá trình điền dã ở các bản làng có cộng đồng các dân tộc Tày,Thái, Mường
7 Đóng góp của đề tài
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về loại hình hát ru dân gian của đồngbào các dân tộc thiểu số Tày, Thái, Mường ở miền núi phía Bắc góp phần làm nổi
Trang 11rõ bản sắc văn hóa Việt Nam của các cộng đồng sắc tộc Giới thiệu tinh hoa văn hóaViệt Nam qua các bài hát ru tiêu biểu của một số dân tộc thiểu số trong lịch sử vănhóa Việt Nam.
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn củachúng tôi được triển khai thành 3 chương như sau:
Chương 1: Khái quát về hát ru và hát ru trong đời sống văn hóa dân gian củađồng bào Tày, Thái, Mường miền núi phía Bắc
Chương 2: Bức tranh hiện thực của hát ru trong sinh hoạt dân gian của đồngbào Tày, Thái, Mường miền núi phía Bắc
Chương 3: Nghệ thuật hát ru trong đời sống dân gian của đồng bào Tày,Thái, Mường miền núi phía Bắc
Trang 12NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HÁT RU VÀ HÁT RU TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA DÂN GIAN CỦA ĐỒNG BÀO TÀY, THÁI, MƯỜNG MIỀN NÚI PHÍA BẮC
1 Khái quát về hát ru trong đời sống văn hóa dân gian
1.1 Khái quát về văn hóa dân gian
Khi bàn về vấn đề văn hóa dân gian, nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh nêu ýkiến: “Văn hóa dân gian là cội nguồn của văn hóa dân tộc hay còn gọi là văn hóagốc, văn hóa mẹ… Có con người là có văn hóa, có dân tộc là có văn hóa Văn hóa
đó trước nhất là văn hóa dân gian, là văn hóa của quần chúng nhân dân Qua vănhóa dân gian, nhân dân lao động tự biểu hiện mình, tự phản ánh cuộc sống củamình” [33:466] Như vậy văn hóa là một phạm trù ý thức xã hội luôn gắn với sự tồntại của con người, con người có ý thức về nền văn hóa đó, đồng thời văn hóa dângian là cội nguồn của mỗi dân tộc Văn hóa dân gian rất đa dạng và phong phú baogồm: văn học dân gian (cổ tích, thần thoại, ca dao, tục ngữ), nghệ thuật dân gian(kiến trúc, hội họa, âm nhạc dân gian), tri thức dân gian (tri thức về tự nhiên, conngười, y học dân gian, về ứng xử xã hội, lao động sản xuất), tín ngưỡng, phong tục
và lễ hội dân gian Tất cả tạo nên đời sống dân gian muôn màu muôn vẻ bao gồmnhững giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần trong sinh hoạt cộng đồng củanhân dân lao động
Trong các giá trị tiêu biểu nhất của văn hóa dân gian phải kể đến văn học dângian Từ bao đời nay, các dân tộc trên thế giới đều sản sinh ra những sáng tác dựatrên ngôn ngữ của quần chúng nhân dân và lưu truyền từ đời này sang đời khác,vùng này sang vùng khác dưới hình thức truyền miệng Các nhà nghiên cứu đều chonhững lời ca tiếng hát của nhân dân lao động làm ra là nghệ thuật dân gian Khi bàn
về văn học dân gian, người ta thường đề cập đến các khía cạnh như chất liệu ngôn
từ, hình thức diễn xướng, hình tượng nghệ thuật, đối tượng thưởng thức,v.v Dovậy, văn học dân gian chính là các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng, là sảnphẩm của quá trình sáng tác tập thể nhằm mục đích phục vụ các nhu cầu sinh hoạt
khác nhau của đời sống cộng đồng trong đó có hát ru
Trang 131.2 Khái niệm về hát ru
Trong các sáng tác dân gian, ca dao dân ca là một hình thức nghệ thuật độcđáo, phản ánh chân thực thế giới tâm hồn phức điệu của con người Bằng chất trữtình, ca dao dân ca đã đi vào lòng người như một nhu cầu thường nhật Ca dao dân
ca vừa được tạo ra trong quá trình con người quan hệ với môi trường tự nhiên vàmôi trường xã hội lại vừa là chất xúc tác thúc đẩy mọi hoạt động sống của conngười Thực tiễn cho hay, ca dao dân ca là nơi lưu giữ phong tục tập quán, thói quensinh hoạt hằng ngày, tình cảm của cộng đồng Tác giả Phan Đăng Nhật đã khẳng
định trong cuốn Văn học dân gian các dân tộc thiểu số (Trước Cách mạng tháng
Tám năm 1945) rằng: “Nếu kể đến một đời người thì từ lúc nằm nôi, nằm địu đã
được nuôi bằng lời ru, lớn lên chơi đùa trong tiếng hát mười tám đôi mươi làm khènlàm sáo, tỏ tình trong tiếng ca, về già bên mâm rượu hát lời dạy con cháu cho đếnlúc chết, hồn bay theo tiếng nhạc tiễn đưa… thì trong bất kì bước đi của cuộc đời,các dân tộc cũng tắm mình trong thơ ca” [50:107] Như vậy, đối tượng phản ánh của
ca dao là toàn bộ cuộc đời của một con người bắt đầu từ lời ru đưa nôi khi mới lọtlòng đến những bài ca nghi lễ tiễn đưa người đó về thế giới bên kia Vì thế, cáccông trình nghiên cứu đều đề cập đến hát ru như một bộ phận quan trọng của cadao, dân ca Sinh dưỡng trẻ thơ là nhu cầu tự nhiên của con người, do đó hát ruthường xuất hiện trong sinh hoạt ở mọi cộng đồng dân tộc
Tác giả Nguyễn Thị Bích Hà cho rằng: “Trong ca dao, dân ca có một nhómbài ca của người mẹ dành cho con, đó là hát ru” [19:240] Tác giả Võ Quang Nhơncũng khái quát: “Hát ru là một bộ phận dân ca sinh hoạt liên quan đến thế giới củatrẻ con” [52:271] Đồng quan điểm với các nhà nghiên cứu về văn học dân gian nhưTrần Hoàng và Phạm Thu Yến, tác giả Vũ Anh Tuấn cũng đưa ra nhận định về hát
ru như sau: “Hát ru là một biệt loại của ca dao, gắn bó chặt chẽ với đời sống mỗicon người, mỗi gia đình, mỗi dân tộc” [77:199] Nhận định trên cho thấy sự gắn kếtloại hình nghệ thuật hồn nhiên đó với đời người, quan niệm trên còn được phản ánhtrong nội dung giáo trình Văn học dân gian dùng để giảng dạy cho sinh viên ngànhNgữ văn và Việt Nam học
Trang 14Trên cơ sở nhận thức quan điểm nghiên cứu của những người đi trước, chúng
tôi xin đưa ra ý kiến về hát ru như sau: Hát ru là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc
sắc, thuộc bộ phận dân ca sinh hoạt liên quan đến thế giới của trẻ thơ, là những lời hát dân ca dùng để ru trẻ nhỏ và truyền cho trẻ những cung bậc tình cảm từ người lớn
Sự tồn tại của hát ru là một thực tế của lịch sử văn hóa, nhưng mỗi cộng
đồng dân tộc như Tày, Thái, Mường, Dao có tên gọi riêng mang màu sắc dân tộc Trong cuốn Văn hóa các dân tộc thiểu số - Những giá trị đặc sắc, tác giả Phan
Đăng Nhật đã sưu tầm được tên gọi của đồng bào về hát ru như sau: “Dân ca hát ru
được đồng bào Tày Nùng gọi là vén hoặc vén đếch, đồng bào Mường gọi là ru, đồng bào Dao gọi là háo ton hay lồ xây” [51:143] Trong quá trình điền dã tại một
số địa phương miền núi phía Bắc, chúng tôi đã sưu tầm được tên gọi của hát ru củamột số dân tộc, thường được đồng bào sử dụng trong sinh hoạt ru con: người Tàygọi là “đu noọng nòn”, người Thái gọi là “ú noọng” hoặc “ứ lúc nòn”, ngườiMường gọi là “ru ún” Hát ru là một tiểu loại trong dân ca của các tộc người, đượcngười phụ nữ dùng để ru trẻ nhỏ Ngoài ra trong gia đình còn có bà ru cháu, chị ru
em bằng tiếng hát ru
Trong chương trình sách giáo khoa Địa Lí 9 do tác giả Nguyễn Dược làm
tổng chủ biên, các tác giả đã cho biết nội dung khái quát về miền núi phía Bắc nhưsau: “Miền núi phía Bắc (hay còn gọi là vùng Trung du và miền núi Bắc bộ) có tổngdiện tích tự nhiên = 100.965 km2, tổng số dân = 11,5 triệu người, với mật độ dân sốtrung bình = 114 người/km2 Xét về mặt hành chính, vùng này bao gồm 15 tỉnh: HàGiang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Yên Bái, TháiNguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai.Vùng có vị trí như sau: phía Bắc tiếp giáp với ba tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây vàVân Nam (Trung Quốc); phía Tây giáp Lào; phía Nam giáp đồng bằng sông Hồng
và Bắc Trung Bộ; phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ” [10:61,62]
Miền núi phía Bắc là khu vực có địa hình chủ yếu là đồi núi cao, có nhiềuthung lũng và được phân chia thành hai vùng Tây Bắc, Đông Bắc với vùng đệm làViệt Bắc Đây là nơi cư trú của nhiều tộc người thiểu số thuộc các nhóm ngôn ngữkhác nhau như: Việt – Mường, Tày – Thái, Mông – Dao, Môn Khơ me, Tạng Miến
và ngôn ngữ Hán
Trang 152 Cơ sở xã hội của sự hình thành hát ru
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Các dân tộc anh em cư trú trên mảnhđất này đã tạo nên nền văn hóa cộng đồng đa sắc tộc Quá trình lịch sử dựng nước
và giữ nước của dân tộc, cộng đồng các dân tộc anh em đã chung sức đồng lòngđánh đuổi ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập Khối đại đoàn kết ấy được hình thành vànuôi dưỡng nhờ mối quan hệ cội nguồn, sự giao lưu tiếp xúc giữa các giá trị văn hóakhác nhau ở mỗi tộc người Nền văn hóa Việt Nam là sự tổng hòa các giá trị vănhóa của 54 tộc người vừa có tính thống nhất, vừa có tính đa dạng
Cơ sở xã hội của hát ru là tổng thể các nhân tố thiên nhiên, xã hội làm nềntảng cho sự hình thành và phát triển của hát ru Đặc biệt là khu vực trung du miềnnúi, hát ru của đồng bào Tày, Thái, Mường có những nét tương đồng và khác biệt,nhưng đều hình thành từ lâu đời và bắt nguồn từ nhu cầu sinh hoạt của mỗi cộngđồng Từ góc nhìn lịch sử văn hóa, chúng ta có thể tìm thấy những cơ sở xã hộichính sau đây:
2.1 Cơ sở lao động sản xuất
Lao động là phương thức tồn tại của loài người Nhờ lao động, con người đãtạo ra nhiều sản phẩm vật chất và tinh thần, hình thành các quan hệ và tổ chức xãhội Đặc trưng của môi trường sống chi phối, ảnh hưởng đến tập quán sinh sống củatừng tộc người
Ca dao dân ca là sản phẩm được tạo ra trong quá trình con người quan hệ vớimôi trường thiên nhiên và môi trường xã hội Là một bộ phận của ca dao dân ca, cácbài hát ru cũng phản ánh chân thực cuộc sống của đồng bào Tày, Thái, Mường bằngchất liệu ngôn từ và âm điệu đặc trưng của ngôn ngữ từng dân tộc Tày, Thái,Mường, sau dân tộc Kinh là ba tộc người thiểu số có số dân đông hơn các dân tộcanh em khác Địa bàn cư trú chủ yếu của ba tộc người này là các thung lũng và đồinúi thấp trong khu vực miền núi phía Bắc, khác với địa bản cư trú của người Mông,người Dao, người Lô Lô ở vùng núi cao Từ lâu đời, người Tày, người Thái vàngười Mường đã chú trọng đến sản xuất nông nghiệp trồng cấy lúa nước kết hợpvới làm nương rẫy, chăn nuôi gia súc và phát triển các nghề thủ công như đan lát,thêu dệt, đánh cá Chính môi trường thiên nhiên và lao động sản xuất đó đã gợi lên
Trang 16những hình ảnh gần gũi con người là cơ sở cho nội dung phản ánh hiện thực trongnhững bài hát ru.
Một yếu tố quan trọng góp phần hình thành các làn điệu hát ru là tính chất đadạng của hoạt động lao động sản xuất Lắng tai nghe những lời hát cất lên bên cánhvõng hay bên vành nôi ta mới cảm nhận được nỗi nhọc nhằn của người lao động.Cuộc sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên con người phải trải qua nhiều gian truânnhư thiên tai bão lụt, hạn hán trong cuộc kiếm tìm nguồn thức ăn và duy trì sự sống
Qua lời ru của người mẹ người Mường ta thấy hiện lên hình ảnh của môitrường lao động sản xuất biểu hiện cụ thể và sinh động:
Em ngủ lại
Mẹ đi cỏ lúa ngoài rừng [62:308]
Hay: Ngủ đi em à
Mẹ ta đi cấy cạnh đồi bái [62:309]
Ngàn đời nay, cộng đồng Mường gắn bó với nghề nông nghiệp lúa nước.Đặc trưng của vùng miền núi phía Bắc là những cánh đồng ruộng bậc thang trongthung lũng xen kẽ với đồi và rừng Địa hình dốc nghiêng gây khó khăn cho sản xuấtnông nghiệp, đặc biệt là việc chủ động nước tưới Khắc phục tình trạng này, ngườiMường đã tạo ra những bánh xe nước để chuyển nước lên những khu ruộng cao Từlời ru yêu thương, hiện lên vẻ đẹp của sự hi sinh và đức tính cần cù chịu khó củangười mẹ
Ngoài ruộng nước, đồng bào còn canh tác trên nương rẫy, chăn nuôi gia súc
và phát triển các nghề thủ công Sinh dưỡng nuôi con gắn liền với nhịp sống laođộng ở mọi nơi với mọi người:
Bà nhàn rỗi nhuộm vang Mạng (mẹ) nhàn rỗi dệt vải Thím đi hái lá dâu
Bố ra sông sâu đánh cá
Vạ (cô) nhàn rỗi chăn trâu [62:407]
Lúc thời vụ nông nhàn, người phụ nữ Mường thường miệt mài bên khung cửi
để dệt vải Sản phẩm của nghề dệt rất phong phú: vải, váy – quần áo, khăn, chăn,
Trang 17màn, địu…với nhiều họa tiết hoa văn được bàn tay khéo léo của người phụ nữ tạonên Các sản phẩm này dùng trang trí cho cuộc sống, đồng thời cũng là tiêu chuẩnđánh giá tài năng, đức tính của người phụ nữ cũng như sự sung túc của từng giađình Ngược lại, người nam giới với ưu thế là phái mạnh lại ưa vào rừng săn bắnhoặc ra sông suối đánh cá Những công việc không những phải có sức khỏe tốt màcần cả sự nhanh trí, dũng cảm Thành quả của cuộc săn bắt chứng tỏ bản lĩnh, sứcmạnh và vai trò của người đàn ông trong gia đình
Cuộc sống lao động sản xuất của đồng bào Tày cũng có nét tương đồng nhưvậy, nhưng trong từng bài ca hiện lên thật gần gũi và có những nét riêng trong nhịpsinh hoạt gia đình:
Một con đi giặt tã Một con đi nhuộm chỉ Một con rửa bát đũa sớm trưa Một con đi nhóm bếp đợi mẹ Một con loanh quanh chẳng biết làm gì Một con đuổi trâu bò về trại
Trang 18Về địa bàn cư trú cũng như các phương thức sản xuất, phong tục tập quán,đồng bào Thái rất gần gũi với nếp sống của đồng bào Tày cả về ngôn ngữ và phongtục Các từ ngữ trong sinh hoạt có nhiều điểm gần gũi như nhau Do đó lời ru vàđiệu ru của đồng bào Tày và đồng bào Thái có nhiều nét đồng điệu Cũng như đồngbào Tày, trong lời ru của người Thái không phản ánh về các thiết chế xã hội, cũngkhông thiên về miêu tả thuần túy đời sống cộng đồng, những bài hát ru của ngườiThái nhấn mạnh đến công cuộc mưu sinh của cha mẹ Cư trú tập trung ở vùng TâyBắc Việt Nam, người Thái cũng khai phá được những cánh đồng màu mỡ để canhtác, đồng bào có câu truyền khẩu chỉ địa danh canh tác: “Nhất Thanh, nhì Lò, tam
Than, tứ Tấc” Kinh nghiệm trồng lúa nước được đồng bào đúc kết trong thành ngữ
“Mương, phai, lái, lín” – hệ thống thủy lợi dẫn nước tưới tiêu cho các cánh đồng
thung lũng Nhưng đặc biệt hơn với cách chăn nuôi trồng trọt của đồng bào Tày vàMường, đồng bào Thái còn nuôi cá trong ruộng lúa để diệt các loài côn trùng Vìthế hình ảnh mẹ đi ra đồng bắt cá được nhắc đến trong các bài hát ru:
Mẹ đi ruộng lấy cá về con ăn [84:361]
Trang 192.2 Cơ sở ngôn ngữ
Cơ sở quan trọng của việc nghiên cứu văn hóa tộc người nói chung và hát runói riêng là đặc trưng ngôn ngữ Vì ngôn ngữ chính là phương tiện biểu đạt tâm hồntình cảm, là linh hồn của dân tộc nên con người đã sử dụng rất nhiều cách thức đểlưu giữ lại thứ tài sản linh thiêng đó Ca hát là một con đường phổ biến để nuôidưỡng ngôn ngữ cộng đồng Các tộc người ở Việt Nam có nguồn gốc và truyềnthống văn hóa khác nhau, ngôn ngữ sử dụng cũng có sự đa dạng Các tài liệu dântộc học đều chỉ rõ đặc điểm và mối quan hệ của các nhóm ngôn ngữ chính ở ViệtNam Mỗi nhóm ngôn ngữ có mối tương đồng và khác biệt Điều này thể hiện rõ
trong lời ru của đồng bào Tày và Thái Chẳng hạn như các cụm từ “noọng nòn” (em
ngủ), “noọng kin” (em ăn) đều có trong lời ru của hai dân tộc đó Tuy nhiên trong
phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ xin đề cập đến các nhóm ngôn ngữ liênquan đến ba tộc người Tày, Thái, Mường
Người Mường là một trong bốn cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường.
Đây là nhóm ngôn ngữ có dân số đông nhất Việt Nam Cư dân tiền Việt Mường lànguồn gốc của nhóm này Quá trình lịch sử đã phân hóa bộ phận dân cư Việt –Mường thành các tộc người Kinh, Mường, Thổ, Chứt; cư trú thành các mường, bản
Họ là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước ở các dải đồng bằng trải dài từ Bắc vàoNam, một bộ phận nhỏ làm lúa nương ở vùng đồi thấp Văn hóa mà họ tạo ra đi liềnvới địa hình và môi trường sống nên được gọi là văn hóa lúa nước hay văn hóa đồngbằng (Văn hóa vùng thấp)
Nhóm ngôn ngữ Tày – Thái: là nhóm cư dân văn hóa thung lũng, cư trú chủ
yếu ở miền núi phía Bắc Việt Nam Thiết chế xã hội là bản, mường nhưng mangđặc điểm của mô hình nhà nước Tám tộc người Tày, Thái, Nùng, Giáy, Lào, Lự,Sán Chay, Bố Y có mối quan hệ ngôn ngữ và văn hóa rất gần gũi Các dân tộc thuộcnhóm Tày – Thái cư trú chủ yếu ở vùng thung lũng, canh tác ruộng nước Văn hóacủa họ là văn hóa thung lũng, khác văn hóa đồng bằng của nhóm người Việt –Mường và khác văn hóa rẻo cao của nhóm người Mông – Dao, Môn – Khơme
Tiến trình lịch sử với các cuộc chiến tranh, thiên tai, bệnh dịch đã làm lan tỏalàn sóng di cư của các tộc người tạo nên một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng
Trang 20Quá trình đó có sự tiếp xúc, tiếp biến các giá trị văn hóa của các tộc người Ngônngữ chính là điều kiện tiên quyết để hình thành xã hội loài người, để trao truyềnkinh nghiệm sống và để giao lưu văn hóa Nhờ ngôn ngữ, con người ở các dòng tộckhác nhau có thể học hỏi, trò chuyện lẫn nhau Vì thế mà tất cả các dân tộc trên thếgiới nói chung và Việt Nam nói riêng đều sản sinh ra những làn điệu hát ru củariêng mình Yêu con không chỉ thể hiện ở việc mang nặng đẻ đau, bú mớm, vỗ vềhàng ngày mà còn biểu hiện nhẹ nhàng qua lời ru của mẹ, của bà, của chị Tiếng hát
ấy giản đơn nhưng lại có sức sống bền lâu mang đến cho người nghe những âm điệungọt ngào, tình cảm thiết tha sâu nặng Dân gian cho rằng rốn là “dấu vết” của thế
hệ trước để lại Điều đó là một thực tế, vì khi còn trong bụng mẹ đứa trẻ cũng nhờnhau thai của mẹ để lớn lên thành hình hài Như vậy ngay từ trong bụng mẹ, bé còncảm nhận được nhịp thở, những cảm xúc tình cảm của mẹ Như vậy, hát ru cũng cóthể coi là dấu hiệu âm thanh tiếng nói đầu đời bởi vì trẻ không thể tự ru mình khimới sinh ra, chỉ có người lớn trong gia đình mới có khả năng hát cho trẻ nghenhững giai điệu có êm ái thấm đẫm tình người đưa trẻ vào giấc ngủ Và những trạngthái cảm xúc, tình cảm được bồi đắp thêm theo nhịp điệu hát ru
2.3 Đặc điểm xã hội của tộc người
Miền núi phía Bắc là địa bàn cư trú đan xen của nhiều nhiều dân tộc thiểu số.Mỗi tộc người đều có tiếng nói riêng, cốt cách riêng phản ánh qua những giá trị vậtchất và tinh thần của mỗi cộng đồng Đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa tinh thần, họsáng tác và lưu truyền những tác phẩm văn học dân gian của riêng mình Nó là sảnphẩm của cuộc sống cộng đồng gắn liền với quá trình lao động, sản xuất, các hìnhthức sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, phong tục tập quán,v.v Trong kho tàng ấy cáctác phẩm văn học đậm đà bản sắc riêng nhưng cũng xuất hiện nhiều yếu tố chung:mô-tip nội dung, thể loại, cách gieo vần, luyến láy do quá trình tương tác, giao lưuvăn hóa giữa các tộc người trong cùng khu vực Về âm điệu lời ru thường theo nhịp2/2 với lời thơ 4 chữ (hoặc 5 chữ) trong các bài hát ru của hai cộng đồng sắc tộcTày Thái đã nói lên điều đó
Hát ru là một thể loại dân ca mà làng quê nào, dân tộc nào cũng có Vì thếhát ru không chỉ có ở tộc người Kinh mà có ở tất cả các dân tộc thiểu số Những
Trang 21sinh hoạt bình thường hàng ngày của con người là mạch nguồn để sản sinh ra cácbài hát ru Trong nền văn hóa dân gian, hát ru là làn điệu dân ca có từ lâu đời gắnliền với quá trình sinh dưỡng trẻ thơ trở thành nếp sống của cộng đồng
Một lời hát ru cất lên bên nôi tưởng chừng đơn giản nhưng khi tách từng câuchữ ta mới thấy được nhiều lớp nghĩa được chi phối bởi nhiều hiện tượng phongphú của đời sống xã hội phản ánh trong bài ca
Trong lời hát ru của người phụ nữ Mường có đoạn:
Lạc tới cửa nhà lang Đực bò vàng đánh trống Đực bò mộng đánh chiêng [84:264]
Ba câu hát chứa đựng ba hình ảnh đặc trưng của xã hội cổ truyền mà tộcngười Mường đã sinh sống: nhà lang (đại diện cho sự phân hóa giai cấp tầng lớptrong xã hội), con bò (phản ánh đặc điểm kinh tế), chiêng và trống (nói lên đời sống
sinh hoạt tinh thần) Theo tác giả Trần Từ trong công trình Người Mường ở Hòa
Bình: “Lang là lãnh chúa ở các vùng có người Mường cư trú (Mường Bi, Mường
Vang, Mường Thàng, Mường Động), là người có quyền hành tối thượng” [80:6]
Tầng lớp lang tức quan lang tồn tại theo hình thức cha truyền con nối trong xã hội xưa, quyền sở hữu tư liệu sản xuất và cai quản con dân Mường nên nhà lang muôn
đời giàu có Sự giàu có của nhà lang được đánh giá bằng số lượng chiêng đồng,trống đồng ở trong nhà Các lãnh chúa phong kiến thường dùng chiêng đồng, trống
đồng để tạo uy quyền, phô trương sự giàu có và quy định là vật cống nạp Cửa nhà
lang ám chỉ nơi quyền quý cao sang theo quan niệm xưa của đồng bào Tuy nhiên,
chiêng trống còn thể hiện sinh hoạt cộng đồng của người Mường Trong vùng, nhà
lang là nơi diễn ra nhiều sinh hoạt lễ tết, hội hè, đình đám Và tiếng chiêng tiếng
trống là phần cốt lõi làm nên tính trang trọng, thiêng liêng của nghi lễ, nghi thức tínngưỡng đồng thời tạo nên không khí rộn ràng trong các sinh hoạt cộng đồng củangười Mường Hình ảnh con bò là minh chứng cho việc thuần dưỡng gia súc để lấysức kéo của người Mường xưa (chi tiết hình bò cũng được khắc họa nhiều trên thântrống đồng Đông Sơn) Trong thơ ca dân gian Tày ở những bài hát ru hình ảnh contrâu, con ngựa được nhắc đến nhiều hơn; với người Mường ngoài con trâu, con bòcũng là con vật thân thuộc
Trang 22Khác với nội dung hiện thực trong các bài hát ru của đồng bào Mường, dấu
ấn của thiết chế xã hội không biểu hiện nhiều trong lời hát ru của người Thái Tuynhiên, khi khảo sát nghiên cứu, chúng tôi cũng muốn viện dẫn một ví dụ về hình
ảnh xã hội của người Thái qua câu hát ru: “Dậy làm tạo, làm quan” [11:245] Theo nghiên cứu của tác giả Trần Từ: “Chế độ Nhà Lang của người Mường lại rất gần
gũi với những nét điển hình của chế độ các tù trưởng Thái ở khu vực Tây Bắc gọi là
chế độ các Phìa và chế độ các Quằng Tày thuở trước ở khu vực Bắc, trên đất Bắc
Bộ Việt Nam” [80:4,5] Trước khi chế độ này tan rã, cư dân Thái đã sống trong xãhội phân chia giai cấp thống trị và bị trị Theo nghiên cứu của tác giả Lê Sĩ Giáo
trong cuốn Kỷ yếu Văn hóa bản làng của các dân tộc Thái HMông ở một số tỉnh
miền núi Tây Bắc và việc phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện hiện nay thì giai cấp thống trị trong xã hội Thái cũng phân chia thành nhiều đẳng cấp
khác nhau từ cao xuống thấp như sau: “Chẩu Mường – người đứng đầu một mường lớn nhất ở vị trí trung tâm là Châu Mường, Phìa – người cai quản các đơn vị tụ cư nhỏ hơn là Mường Phìa, người đứng đầu bản được gọi Tạo khi họ xuất thân từ dòng dõi quý tộc hoặc được gọi Quan đối với những người thuộc dòng họ dân”
[61:21,22]
Ngoài âm điệu ngọt ngào để ru trẻ, trong ca từ của các bài hát ru Thái hay đềcập đến các món ăn truyền thống và ý nghĩa sâu xa hơn là phản ánh niềm tin tínngưỡng của đồng bào:
Đồ xôi chín đi nương Canh gà chín đi ruộng Canh cá chín để nhà bón cho em [50:138]
Từ hạt lúa, đồng bào đã sáng tạo ra nhiều món ăn ngon, trong đó có móncơm lam nổi tiếng Mỗi khi đi làm nương, đồng bào thường mang theo gạo, thịt khô
và muối trắng để ăn Đồng bào đã chọn những đoạn ống nứa hoặc tre bánh tẻ, lấynước suối để nấu cơm lam Sản phẩm tạo ra được gọi là cơm lam (trong tiếng Thái,
“lam” có nghĩa là nướng) Mùi vị của cơm lam rất đặc biệt, trong miếng cơm có vịngọt, thơm dẻo của hạt gạo hòa quện vào mùi thơm của ống nứa non và nước suối.Không chỉ món ăn cổ truyền, là đặc sản của vùng Tây Bắc, cơm lam còn là món ăn
Trang 23linh thiêng gắn liền với văn hóa tộc người và những câu chuyện dân gian NgườiThái tin rằng, ngoài thế giới nhân gian của người sống, vẫn có một thế giới khác tồntại là Mường Trời (Mường Then) – nơi trú ngụ của các vị thần linh tổ tiên và cáclinh hồn Khi xuống nhân gian đầu thai, các linh hồn thường ăn gạo nướng chíntrong các ống nứa Vì thế mà ngay sau khi sinh, người mẹ đã ăn cơm lam để cónhiều sữa, đảm bảo sức khỏe và báo hiệu cho thần linh về sự ra đời của đứa trẻ Dovậy, trong những bài hát ru có nói đến cơm lam, sinh hoạt ẩm thực cũng nhuốmmàu văn hóa tín ngưỡng và phong tục của dân tộc.
Đặc trưng của văn học dân gian là tính truyền miệng và nhiều dị bản Từ âmđiệu của bài hát xưa, người hát có thể thêm, bớt ca từ cho phù hợp với hoàn cảnh cụ
thể Trong công trình Văn hóa dân gian làng bản Nầng do tác giả Hoàng Tuấn Cư nghiên cứu sưu tầm, xã hội Tày cổ truyền được phản ánh sâu sắc qua lời ru trẻ “Ứ
noọng nòn”:
Có chín con cánh vàng Một con chuyên chơi rông trong bản Một con sang mường khác kháo chuyện Một con xuống nhà Hiến làm quan Một con đi cầu loan làm Then Một con thì nhảy thác chèo thuyền Một con chuyên cày bừa nuôi mẹ Một con thì lười biếng
Một con thì nằm ngửa chờ cháo Một con thì trốn bố đi chơi hội [7:295,296]
Một xã hội muôn màu muôn vẻ của một cộng đồng dân tộc được phản ánhtrong lời hát ru xưa Ta thấy có sự phân chia tầng lớp rất rõ rệt, ngoài hai tầng lớp
chính là quan: “Một con xuống nhà Hiến làm quan” và dân: “Một con thì nhảy
thác chèo thuyền”, “Một con chuyên cày bừa nuôi mẹ”, còn có bộ phận chức dịch
giúp việc cho quan: “Một con sang mường khác kháo chuyện”, “Một con đi cầu
loan làm then” Đoạn lời ca cũng kể về nghề nghiệp đặc trưng của xã hội Tày cổ
truyền: “làm quan”, “làm then”, “chèo thuyền”, “cày bừa” Tổ chức xã hội cổ
Trang 24truyền của người Tày là mường bản Đứng đầu cai trị vùng mường là Quằng Theo
lí giải của tác giả Trần Từ: “Người Tày – tộc nói một phương ngữ Thái ở khu vựcBắc trên đất Bắc Bộ, cũng từng có một chế độ tù trưởng riêng, trong đó những
người cầm đầu được gọi là Quằng” [80:5] Dưới Quằng là chức Tàn chủ yếu phụ trách việc nghi lễ cúng bái cho Quằng Hai chức quan này đều giao cho những
người thuộc dòng dõi quý tộc theo thế tục cha truyền con nối phổ biến ở châu ĐạiMan xứ Tuyên Quang xưa Cư dân Tày sớm phát triển nền nông nghiệp lúa nướckết hợp với hoạt động săn bắt hái lượm (đặc biệt là nghề đánh cá) Chân dung củacon người cũng được người hát nhấn mạnh với sắc thái khác nhau trong lời hát: có
tiếng chê bai những người “lười biếng” không chịu làm ăn và ngược lại, có lời ngợi khen những con người cần mẫn, chăm chỉ: “Một con nhảy thác chèo thuyền”, “Một
con chuyên cày bừa nuôi mẹ” Đức tính yêu lao động, cần cù chịu khó qua lời ca
được truyền dạy từ đời này sang đời khác vừa để duy trì sự sống của bản thân và giađình, vừa thể hiện sức mạnh của mường bản Cũng giống như nhiều tộc người thiểu
số anh em, người Tày rất coi trọng nghi lễ vì đó là bản sắc văn hóa, là phương tiện
để con người thông linh với các vị thần, tạ ơn và cầu xin sự ban ơn, chở che phù hộ
Những sinh hoạt văn hóa đặc sắc như “làm Then”, “chơi hội” được tổ chức hằng
năm đáp ứng nhu cầu tâm linh của của cộng đồng Lời hát cũng muốn chuyển tải
nội dung sự trường tồn của con người qua hình ảnh các thế hệ: “chuyên chơi rông
trong bản” là hiện thân của những đứa trẻ hồn nhiên, khỏe mạnh cùng với thế hệ
thanh niên: “Một con chuyên cày bừa nuôi mẹ” Hình ảnh đứa trẻ thơ chờ đón sự chăm sóc của cha mẹ: “Một con thì nằm ngửa chờ cháo” Trong bài ca hiện lên
sinh động những con người ở những vị thế và công việc khác nhau trong gia đình vàcộng đồng tạo nên mối giao hòa của cuộc sống
Căn cứ vào thiên chức về giới ta có thể thấy, hát ru là những bài hát dân ca
do người phụ nữ sáng tác và diễn xướng, mục đích chính là ru trẻ ngủ ngon nhưngtrong quá trình sáng tác và diễn xướng, người hát đã mượn điệu ru để kể về nhịpsống thường nhật, về cảnh vật không gian vừa để giãi bày nỗi lòng, vừa khuyên nhủ
Trang 25trẻ những lẽ sống tốt đẹp, hướng tới mơ ước tương lai Do đó trong lời ru, không chỉ
có ngôn ngữ mà còn phản ánh tâm hồn nhiều sắc điệu
3 Môi trường diễn xướng của hát ru Tày, Thái, Mường
Theo tác giả Phan Đăng Nhật: “Văn học dân gian cổ truyền của các dân tộcnảy sinh và phát triển trong các sinh hoạt cụ thể của đời sống các dân tộc và là một
bộ phận không thể tách rời của các hoạt động cụ thể đó” [50:14] Như vậy, đặctrưng của văn học dân gian không chỉ phản ánh trung thực cuộc sống của bản làng
mà còn gắn bó chặt chẽ với đời sống lao động, sinh hoạt thường ngày của các dântộc Hát ru là một bộ phận của văn học dân gian, nó không chỉ hiện diện trong môitrường gia đình mà còn phản ánh những nề nếp văn hóa của cộng đồng thông quacác hoạt động lao động sản xuất và sinh hoạt nghệ thuật
3.1 Hát ru trong gia đình
Căn cứ vào thực tiễn sinh tồn của xã hội, có thể xem hát ru là bài ca ra đờisớm nhất thuộc chủ đề sinh hoạt gia đình gắn liền với đời sống của mỗi con ngườitrong cộng đồng Ca hát chính là bản tính của con người Lời ca tiếng hát giống nhưnguồn sức mạnh át đi những nhiêu khê của cuộc sống, động viên con người cố gắngvượt lên trên mọi hoàn cảnh khó khăn, gian khổ Trong nền văn hóa dân gian củacác tộc người, hiện tượng ca hát nuôi con hình thành một cách tự nhiên và trở thànhnhu cầu thiết thực trong đời sống Thơ ca dân gian và đặc biệt là hát ru từ bao đờinay đã thực sự trở thành một bộ phận của cuộc sống tinh thần các dân tộc
Gia đình là nơi đầu tiên cất lên những tiếng ru ngọt ngào, tha thiết Trong bài
viết Những bài hát ru con Việt Nam dưới góc độ kí hiệu học, tác giả Hoàng Trinh đã
nhận xét như sau: “Một trong những tình thương nguyên thủy lớn nhất, cao quýnhất, vị tha nhất của loài người là tình mẹ thương con và nói cho rộng hơn là tình bàthương cháu, tình chị thương em, tình người thương trẻ” [69:25] Khi mới lọt lòngtrẻ ăn ngủ không theo quy luật và rất cần bàn tay chăm sóc của mẹ Cùng dòng sữangọt ngào, lời ru nhẹ nhàng tha thiết của mẹ đã truyền cho con trẻ tình cảm gắn bócủa gia đình
Trong các bài hát ru thường bao chứa hai nội dung: nỗi nhọc nhằn và sự hisinh thầm lặng của mẹ; niềm hi vọng mẹ gửi gắm trong con
Trang 26Người Mường quan niệm rằng đông con nhiều cháu mới có phúc Vì vậy,đồng bào rất cẩn trọng trong việc sinh nở và nuôi dưỡng con thơ Trong ngày đứa
trẻ chào đời, gia đình làm cơm ăn mừng và mời thầy mo đến cúng trừ mọi điều xấu
làm hại đến hai mẹ con Sau tuần ở cữ, anh em họ hàng và bà con mới đến thăm vàtặng quà cho trẻ Từ những năm tháng đầu đời, trẻ em Mường đã sống trong tìnhyêu thương che chở của người thân trong gia đình và cộng đồng Đặc quyền đó thểhiện qua những bài hát ru của mẹ:
Ú ù là hay Hãy ngủ đi con, hãy ngủ đi nào Ngủ đi cho cha quý, mẹ yêu Ngủ ngoan cho dì chiều, cô thương
Ú ù la hay [99]
Và: Ngủ ngày cho bố quý mẹ yêu
Chớ làm điều chi bố mắng Lời mắng em chớ lấy làm vè [62:401]
Lời hát nhẹ nhàng ngân lên bên nôi trẻ thơ Bài hát ru diễn tả tình cảm củagia đình dành cho con trẻ Mọi sức mạnh của con người đều bắt nguồn từ tình cảm
gia đình, đặc biệt là tình mẫu tử Lời nựng con ngủ ngoan để “cha quý, mẹ yêu”, để
“dì chiều, cô thương” không chỉ đơn thuần dỗ con nín khóc mà sâu xa hơn là bài
học về cách ứng xử với mọi người Ấn tượng người con mang theo suốt cuộc đờikhông chỉ là lời ru êm ái mà còn là lời khuyên nhủ ngọt ngào theo ước vọng củangười ru thể hiện trong lời ru
“Ứ noọng nòn” là bài hát ru cổ xưa của người Tày Người Tày thường sửdụng điệu hát này trong các sinh hoạt liên quan đến trẻ nhỏ Theo nghiên cứu của
tác giả Hoàng Tuấn Cư trong công trình Lễ đầy tháng của người Tày ở Bắc Kạn (xã
Nam Cường, huyện Chợ Đồn): “Trong lễ đầy tháng (của trẻ) của người Tày thường
có nghi lễ mắc võng (hoặc nôi), thầy pụt sẽ yểm bùa vào chiếc võng, với hàm ý đuổi
hết những tà ma, những điều xấu xa hay làm trẻ giật mình, khóc thét khi ngủ; cầu
mong cho trẻ ngủ ngoan, khỏe mạnh, lớn nhanh Thầy pụt làm xong, bà nội mới đỡ
Trang 27trẻ nằm vào võng” [8:291] Sau đó bên nội, bên ngoại thay nhau đưa võng và hát rutrẻ theo làn điệu “Ứ noọng nòn” truyền thống:
Ứ … em ngủ say Ngủ ngon thêm ngủ say Ngủ để mẹ đi rẫy lấy dưa Ngủ đợi cha đi ruộng bắt muỗm [8:293]
Hay: Trẻ em được bú thì ngoan
Đặt vào nôi là ngủ Ngủ khi nào gà sống thiến gáy thì hãy dậy Ngủ say ơ ngủ say [7:296]
Từ giai điệu cổ, người hát có thể thêm lời để diễn tả tình cảm của mình dànhcho trẻ nhỏ Cộng đồng Tày đều coi trọng sự sinh sôi nảy nở, họ luôn dành cho contrẻ những tình cảm đặc biệt bằng những lời ru đằm thắm nhất ngay ở điệu dạo đầu
Có những lời ru hóm hỉnh, ngộ nghĩnh, hài hước vui tươi nhưng cũng cónhững lời ru mang tính răn đe Đó là cách đùa vui của người lớn khi đứa trẻ chưa ýthức được hiện thực cuộc sống để đạt được hiệu quả trong khi ru con ngủ
Hát ru là loại hình nghệ thuật hình thành từ dân dã, đảm nhận chức năng thựchành sinh hoạt Các bài hát ru đều xuất phát từ tâm hồn, tình cảm và khát vọng củangười mẹ, người chị được cất lên thành giai điệu để ru trẻ ngủ Để trẻ thơ đi vào
giấc ngủ, âm điệu của lời ca phải nhẹ nhàng và thường bắt đầu bằng tiếng đưa hơi ú
ù la hay, da hới, hỡi da, ử hở noọng nòn Trẻ còn nhỏ, chưa thể hiểu được ý nghĩa
của lời hát mà chỉ nhờ vào âm điệu của người hát để ngủ, còn phần lời dành cho sựcảm nhận của người hát
Lời ru ngọt ngào của bà, của mẹ, của chị đã thấm đẫm tuổi thơ con nhữngtình cảm thiêng liêng, đó là tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình, tình
Trang 28yêu thương giữa con người với con người Khúc hát ru đầu đời là hành trang để convững bước vào ngưỡng cửa cuộc đời
3.2 Lao động sản xuất
Lời ru không chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình mà được những người phụ
nữ địu con cất lên trên không gian nương rẫy Mặc dù cuộc sống mưu sinh có gianlao vất vả, nhưng người nông dân luôn lấy lời ca, tiếng hát để tự động viên mìnhnhư nhận định của tác giả Phan Đăng Nhật: “Văn học dân gian có mặt trong bất kìhình thức làm lụng nào của các dân tộc: khi làm ruộng, làm nương, khi bắt cá, đuổichim, quay xa, dệt vải, đi đường… Và nếu coi ru là một công việc thì ở đây khôngthể thiếu vắng tiếng hát” [50:11]
Địu con là tập quán của người phụ nữ miền núi từ bao đời nay Đối vớingười Tày và người Thái, chiếc địu gắn thân hình mẹ với con, nó còn là phươngtiện biểu hiện tình cảm của cha mẹ dành cho con, là phần thưởng của ông bà, cô dìdành cho cháu, giống như sợi dây nối kết tình thân
Do môi trường lao động trên nương rẫy, người phụ nữ vùng cao vừa phảimưu sinh kiếm sống, vừa làm vừa hát ru con trên lưng Trẻ em miền núi đã quen vớiviệc ngủ trên lưng mẹ và đó thành nếp sống bao đời Người hát hoàn toàn tự do lựachọn lời ca để ru trẻ khi đi làm nương Đó thường là những làn điệu gần gũi thânquen được xướng lên:
A ơi, ngủ đi con, ngủ đi chớ!
Ngủ cho mẹ đi nương chân núi đá Ngủ cho mẹ đi ruộng cạnh bản.
Mẹ đi nương lấy trứng về nuôi con
Mẹ đi ruộng lấy cá về con ăn
Mẹ đi lấy quả sổ về cho con [84:361]
Công việc đi nương, đi ruộng của mẹ diễn ra quanh năm Khi thươngnghiệp chưa phát triển thì ngoài việc cấy cày, người Thái còn tìm nguồn sốngbằng việc đánh bắt và hái lượm Họ tận dụng những sản vật sẵn có trong tự nhiên
để làm thức ăn Giữa không gian mênh mông của nương đồi, hình ảnh người mẹ
và tâm hồn trẻ thơ đọng lại trong những tiếng ru à à ơi êm đềm Tiếng ru làm dịu
Trang 29tâm hồn trẻ thơ nhờ giai điệu ngọt ngào của ca từ vần nhịp hòa vào nét suy nghĩthơ ngây Lời ru là tiếng lòng của người mẹ, là lời an ủi động viên mẹ vượt quanhững nhọc nhằn khó khăn Lời ru dạo đầu bằng những tiếng đưa hơi nhưng lạikết thúc theo nhiều chiều hướng khác nhau Con ngủ ngoan rồi mẹ lại lặng lẽ điđường, lặng lẽ phát nương làm rẫy.
Đồng ruộng nương rẫy là mảnh đất mưu sinh của các tộc người thiểu số miềnnúi, trong đó có người Tày Mỗi khi vào mùa, cả bản cùng nhau địu trẻ, địu con điphát cỏ, thu hoạch hay địu hạt giống lên nương để gieo trồng Những ngày trên lưng
mẹ, bé cảm nhận được nhịp lao động của mẹ từng giây từng phút Theo nhịp lưngđung đưa, mẹ hát ru trẻ ngủ, gieo vào con nguồn sống và những ước mơ Nguồnsống đó là tình yêu lao động, tình yêu thương cha mẹ:
Mẹ vào ruộng hái dưa
Bố sang ruộng lấy cá
Ra nương rẫy trồng cà Bắt cào cào ăn lúa [16:120]
Hát ru trong gia đình vẫn là chủ đạo nhưng hát ru trên nương đã làm cho lời
ca tha thiết biết nhường nào Khi nằm trong địu, trẻ say sưa theo lời ru của mẹ Nhưvậy, tiếng ru trên nương rẫy trong lời kể lời hát cứ thấm dần vào hồn con trẻ Cứnhư vậy, mùa này qua mùa khác bé lớn dần lên cùng năm tháng Những cảm nhậncủa tâm hồn trẻ thơ về cuộc sống cũng dần dần chân thực hơn Lòng biết ơn, kínhtrọng cha mẹ trở nên sâu đậm hơn khi từng ngày, từng tháng trẻ được sống với thếgiới xung quanh Hình ảnh mẹ cha ngày đêm miệt mài trên ruộng đồng, đồi nươngcũng khắc sâu trong tâm hồn con tình yêu lao động, tình thương con người Đó là lẽsống làm người
Tuy sống tập trung nhiều ở vùng thấp, vùng thung lũng nhưng người Mườngvẫn canh tác trên những quả đồi thấp, nương thấp Hoàn cảnh sống đó tạo cho người
mẹ địu con đi lao động và lại xuất hiện tiếng ru trên nương Giữa bộn bề cuộc sống,lời ru trong trẻo vang lên như tấm lòng bao la, thánh thiện của mẹ Răn dạy connhững điều hay lẽ phải, người mẹ Mường cũng thấy tự hào về vẻ đẹp của bảnmường Do môi trường sống và không gian lao động gần đồng bằng và vùng núi
Trang 30thấp rộng hơn, cho nên cảm quan của lời ru cũng phóng xa tầm mắt hơn, trong lời
ru ngoài hình ảnh bao la của quê hương còn có hình bóng của lễ hội dân gian:
Ú ù la hay Lắng nghe lời mẹ con ơi Núi sông ruộng đồng trời mây Cuộc đời bao la yêu thương đón chào con đó Dựng xây quê hương bản mường tươi đẹp mãi Cho tiếng ca tiếng cồng ngân xa [99]
Qua lời ru, mẹ gửi gắm vào đó ước mong và hi vọng vào tương lai Nuôi dạycon khôn lớn khỏe mạnh, góp công góp sức xây dựng quê hương giàu đẹp
3.3 Sinh hoạt văn hóa cộng đồng
Việt Nam xưa vốn là một quốc gia nông nghiệp, lao động sản xuất mang tínhchất mùa vụ và phụ thuộc vào thiên nhiên Do điều kiện tự nhiên như vậy nhu cầutinh thần của con người cũng nảy sinh muôn mặt trong đó có ý thức về tâm linh, đó
là những lễ hội dân gian cầu nắng cầu mưa, phản ánh tinh thần của dân tộc rấtphong phú và đa dạng Ngoài các lễ hội được tổ chức hằng năm, tại quy mô làngbản cũng diễn ra các hoạt động văn hóa văn nghệ đặc sắc để động viên tinh thần củacộng đồng, thực hành, lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống và trao truyền chothế hệ trẻ Các tiết mục được biểu diễn đều là những sáng tác dân gian, lời ca mộcmạc giản dị, ngắn gọn, xúc tích, dễ hiểu, dễ nhớ; nội dung bao chứa tính nhân vănsâu sắc ca ngợi quê hương đất nước làng bản, ca ngợi tình đoàn kết gắn bó cộngđồng và đặc biệt là tình yêu thương con trẻ thông qua các bài hát ru Trong đó cóhát ru, điệu ru thiết tha da diết cất lên từ trái tim của người mẹ, người bà một đời rucon ru cháu Âm điệu của từng lời ru là tâm sự của người phụ nữ, những ngườimang trong mình vẻ đẹp dịu dàng, khéo léo, đảm đang, một đời tần tảo hết mình hisinh cho gia đình cũng được sống dậy trong tâm thức cộng đồng
Như vậy cùng là lời ru trẻ ngủ, ở ba cộng đồng dân tộc đều có những nétchung đó là tiếng lòng người mẹ, người chị, người bà cất lên êm ái thiết tha để ru trẻvào giấc ngủ Nhưng do môi trường sống và ngôn ngữ, phong tục tập quán mỗi
Trang 31cộng đồng sắc tộc đã tạo nên những sắc màu sinh động khác nhau tạo lên vẻ đẹpmuôn màu của hát ru
Ngày nay, khi điều kiện sống thay đổi, thành tựu khoa học công nghệ thôngtin đã nâng cao chất lượng cuộc sống Nhu cầu hưởng thụ tinh thần của con ngườicũng thay đổi, các loại hình âm nhạc đáp ứng đầy đủ cho mọi tầng lớp trong xã hội.Thực trạng này dẫn đến thái độ thờ ơ với giá trị tinh thần mà hát ru mang lại Thế hệtrẻ ngày nay có quan niệm nuôi con theo khoa học, thậm chí “thai giáo” bằng nhạckhông lời, nhưng ít ai thấy được mặt trái của nó đó là mối liên hệ trực tiếp của tìnhmẫu tử dẫn tới mối quan hệ giữa con người với con người ngày càng xa cách, nhiềusinh hoạt hồn nhiên mất đi Do đó hát ru ngày càng trở nên mờ nhạt trong nền vănhóa hiện đại, nhất là nơi đô thị và đang lan rộng đến mọi miền quê Cuộc sống hiệnđại, gấp gáp đã lấy hết thời gian của người mẹ Lâu ngày không bồi đắp nên “bảnnăng” hát ru của người mẹ cũng mờ nhạt, xa lạ dần với những hình ảnh thân quen:cánh đồng, nương đồi, dòng sông, vầng trăng, các con vật quen thuộc và tình cảmyêu thương dành cho trẻ qua lời ru muôn thuở Có người quan niệm, ngày naykhông cần thiết phải hát ru theo thói quen của dân gian, mà chỉ cần tạo thói quen ănngủ đúng giờ Như vậy, trí thông minh của trẻ thơ có thể được phát huy nhưng phầncảm xúc thì thiếu hụt Nếu con người lớn lên sống khô khan không cảm xúc thìchẳng khác nào các sinh vật tự nhiên? Ngoài ra chưa kể đến việc lạm dụng hát ru,hay hát ru bị “sân khấu hóa”, nhằm thay thế hát ru tự nhiên bằng các phương tiện kĩthuật Điều đó không sát với nhu cầu sinh hoạt thường nhật của việc sinh dưỡng trẻthơ Gần đây, hát ru đã được các tổ chức văn hóa trong nước quan tâm đến công tácbảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc Tại Hà Nội, “Ngày hội Gia đình Việt Nam”được tổ chức ngày 28 tháng 6 hàng năm với sự góp mặt của nhiều gia đình vànhững làn điệu hát ru con Thành phố Hồ Chí Minh cũng là nơi tổ chức thành côngLiên hoan Hát ru, nhận được sự quan tâm, ủng hộ của nhiều tổ chức và cá nhân.Mục đích, nội dung của các cuộc giao lưu này nhằm gợi nhớ lại âm hưởng trữ tìnhcùng những giá trị văn hóa truyền thống chứa đựng trong lời hát ru
Qua đó người ta đã nhìn ra hạn chế, khi hát ru đã mang tính chất sân khấuhóa, nó sẽ bị đánh đồng với nghệ thuật sân khấu Tính hấp dẫn của lời ru là chất liệu
Trang 32dân ca và cảm xúc hồn nhiên sẽ mất đi Khi người ta mua băng đĩa ghi âm nhữngbài hát ru để thay mẹ ru con thì cái mà trẻ nghe được là lời dân ca hát trên nền nhạchiện đại, tiếng hát từ một người xa lạ chứ không phải tiếng ru của chính mẹ mình.Trước thực trạng hát ru hiện nay, nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian Tô Ngọc Thanh
có nhiều trăn trở và nêu ra ý kiến: “Nên để hát ru sống với chức năng ban đầu, chứkhông nên mang lên sân khấu cho nghệ sĩ biểu diễn” [87:2] Điều đó cho ta thấytầm nhìn sâu rộng về một loại hình nghệ thuật dân gian cần có môi trường sốngthích hợp trong lịch sử, điều đó cũng như việc trả màu xanh cho cây cối, trả tiếngtim ca về với đại ngàn
Tiểu kết chương 1:
Trong đời sống văn hóa dân gian, hát ru là bộ phận sinh hoạt tinh thần cómối quan hệ mật thiết với các yếu tố cấu thành đời sống văn hóa xã hội Hát ru đượcđịnh hình từ dấu mốc đầu tiên của đời người Những hình ảnh thân thuộc của giađình, làng quê đi vào lời hát một cách tự nhiên và đọng lại trong tâm hồn mỗi conngười từ thời thơ ấu Lời ru là tiếng hát yêu thương của bà, của mẹ, của chị dànhcho trẻ thơ Trong ca từ ngọt ngào đó có tâm sự buồn vui cuộc đời, có nỗi nhọcnhằn của mẹ và cả những ước mơ khát vọng ươm mầm cho con Hát ru con có mộtsức mạnh vô hình gắn kết tình mẫu tử thiêng liêng, gắn kết mối quan hệ huyết thốngtrong gia đình Môi trường diễn xuớng chủ yếu của hát ru là không gian gia đìnhnhưng có những lời ru ngân vang cả nương đồi, rừng núi, ruộng vườn Không gianmênh mông rộng lớn đã hòa vào lời ru thiết tha của mẹ càng làm cho ta cảm nhậnsâu sắc tình yêu thương bao la vô bờ bến của mẹ, nỗi lòng của những người suốt đờitảo tần nuôi con và mong con khôn lớn Ru con là nghệ thuật sử dụng ca từ mộcmạc, giản dị nhưng tạo nên sức sống bền bỉ muôn đời
Trang 33Chương 2 BỨC TRANH HIỆN THỰC MUÔN MÀU TRONG HÁT RU
CỦA ĐỒNG BÀO TÀY, THÁI, MƯỜNG MIỀN NÚI PHÍA BẮC
1 Nguồn cảm hứng trong hát ru của đồng bào Tày, Thái, Mường
Là một loại hình dân ca độc đáo gắn bó với hoạt động nuôi dưỡng trẻ thơ, hát
ru là những bài ca êm ái dùng để ru trẻ ngủ Nhưng trong đó còn kết tinh tâm hồn,tình cảm và khát vọng của con người thông qua tiếng hát Trong lời ru đó cũng thểhiện bao cung bậc tâm hồn, tình cảm và khát vọng khác nhau Qua khối lượng 54bài hát ru tập hợp được của 3 dân tộc Tày, Thái, Mường miền núi phía Bắc chochúng ta thấy hiện thực phản ánh trong lời ru thật phong phú, đa sắc điệu Trongquá trình khảo sát điền dã, sưu tầm và nghiên cứu, chúng tôi đã tiếp cận được 16 bàihát ru Tày, 24 bài hát ru Thái và 14 bài hát ru Mường Để có một cái nhìn bao quát
và cụ thể hát ru trong đời sống văn hóa dân gian của đồng bào Tày, Thái, Mường ởmiền núi phía Bắc, chúng tôi đã tiến hành phân loại các bài hát ru theo các chủ đềtrong từng bài hát cho thấy: có bài hát ru cảm hứng bao trùm là tình mẫu tử; có bàihát ru là hình ảnh của những tri thức chăn nuôi trồng trọt dân gian; có bài hát ru làhình ảnh sống động của sinh hoạt làng bản quê hương; có bài ca là tình cảm giađình, tình yêu thiên nhiên đất nước; có bài hát ru là tiếng ca cất cao đạo lí làmngười; có bài hát ru lại như muốn gửi hồn mình vào cõi linh thiêng; có những lời rulại chứa đựng lời than thân trách phận cho một kiếp người; có bài ca mang cả nhữnghình ảnh hài hước hoặc răn đe… Nhưng tất cả đều thể hiện nỗi niềm yêu thươngnồng thắm, vui buồn, mơ ước, các trạng thái tâm hồn phức điệu của tấm lòng người
mẹ Việt Nam, cho dù đó là người mẹ Tày, Thái hay người mẹ Mường cũng vậy Tất
cả những cảm hứng, những giai điệu, những sắc màu khác nhau của cuộc sống laođộng, sản xuất, sinh hoạt gia đình, làng bản quê hương đều hiện lên sống động quacác chủ đề và làn điệu hát ru, tập trung ở những nguồn cảm hứng mà chúng tôi xinđược phân loại như sau:
Trang 342 Tri thức sản xuất (Trồng trọt, chăn nuôi,
4 Tình cảm gia đình, thiên nhiên, quê
hương đất nước
03 bài 02 bài 05 bài
5 Giáo dục đạo lí làm người 02 bài 04 bài 02 bài
6 Gần gũi đồng dao với trò chơi dân gian 01 bài
7 Bài hát có tính chất răn đe 01 bài 04 bài 01 bài
9 Lời than thân của người phụ nữ 01 bài 01 bài 02 bài
2 Đặc điểm chung về nội dung các bài hát ru Tày, Thái, Mường trong đời sống văn hóa dân gian
Hát ru là loại hình thơ ca dân gian có vị trí đặc biệt trong sinh hoạt cộngđồng các dân tộc mang màu sắc lịch sử văn hóa xã hội Hát ru mang màu sắc vùngmiền, màu sắc văn hóa tộc người phản ánh sinh hoạt xã hội, hoạt động lao động sảnxuất và tình cảm của con người có tính chất trao truyền thế hệ Đó là những bài cabình dị, hồn nhiên dễ hát dễ nhớ mang âm hưởng trữ tình dịu êm, đằm thắm ấm áptình người thể hiện qua lời mẹ ru con, chị ru em
2.1 Tình mẫu tử thiêng liêng trong lời ru của đồng bào Tày, Thái, Mường
Trong công trình Tuyển tập Lan Khai (2010) có đề cập tới ý kiến của nhà
nghiên cứu Lâm Tuyền Khách về hát ru như sau: “Câu hát nhân loại bắt đầu từ lời
ru, thơ và lời ru bắt nguồn từ tình cảm do cái dây thân ái gia đình và nhất là tìnhthâm mẫu tử mà phát sinh” [67:55] Như vậy, hát ru có thể xem là tiếng ca đầu đờicho mỗi con người, đó là kí ức thiêng liêng cao cả Mỗi khi lời ru cất lên, trẻ thơđều cảm nhận được tình yêu tha thiết của mẹ Trong bất kì làn điệu hát ru con, tìnhmẫu tử luôn là nội dung chính được diễn tả bằng nhiều hình ảnh sinh động, ý nghĩa:
Con ơi ngủ ngon Ngủ yên đẫy giấc
Mẹ đi đến tối mới về
Mẹ đi đồng xa lấy cá
Mẹ đi rừng già hái quả [84:385]
Trang 35Người mẹ có bao nhiêu việc phải làm cho con và cho gia đình Mượn lời hát
ru để mọi người cảm nhận được tấm lòng, nỗi lo toan và khát vọng thầm lặng củamình Trong gia đình người Tày, người phụ nữ ít phải làm những công việc nặngnhư nam giới, nhưng lại là những việc “không tên” trong nhà, thời gian lao động từsáng sớm đến tối khuya Ở một số vùng, người phụ nữ Tày cũng tham gia vào việcdựng nhà, đắp mương phai và đi cày Lời ca diễn tả lại công việc thường ngày mẹlàm Qua câu hát, hiện lên bóng dáng tảo tần với biết bao nỗi vất vả, cực nhọc lằnlên lưng của mẹ Cả cuộc đời mẹ chỉ biết cần mẫn làm việc và lặng lẽ hi sinh chocon Hạnh phúc của mẹ chỉ đơn giản là được nhìn ngắm con thơ ngủ say cùng giấc
mơ êm đềm của tuổi thơ Con ngủ ngoan rồi, mẹ lại vội vàng “đi đồng xa lấy cá”,
“đi rừng già hái quả” Mẹ mong con:
Ngủ ngoan ơi ngủ ngoan Ngủ khi nào mẹ đi xa hãy thức Ngủ đợi mẹ đi làm sẽ về [50:296]
Xuất phát từ tình mẫu tử, lời nói yêu thương hòa cùng giai điệu đưa con thơvào giấc ngủ yên bình Ngay từ lời ru, mẹ đã gieo vào tiềm thức non nớt của con kí
ức tuổi thơ thật đẹp Những bậc thang nhà sàn là nơi chiều chiều con ngồi đón mẹ đi
làm về Mong mẹ về để được gặp mẹ vì “Mẹ đi đến tối mới về”, được mẹ cho quà – những thức quà của đồng quê giản dị mà quý giá vô cùng: con cá, con muỗm, con
chim; được mẹ âu yếm vỗ về ru ngủ trong vòng tay ấm áp: “Ở nhà bé ngóng chờ
mẹ về/ Mẹ ru em bú xong/ Bé yên ngủ” [16:12] Niềm hạnh phúc của mẹ là khi con
ê a tập nói, là những bước chập chững đầu tiên mẹ dìu dắt con đi Lời ru cũng làtình mẹ theo con suốt năm tháng cuộc đời Trong lời ru ấy, có lòng mẹ yêu con, cólời răn dạy con biết yêu lao động
Mẹ luôn là người dõi theo từng bước chân con đi Từ lúc lọt lòng, mẹ luôn ởbên chăm sóc vỗ về, lo cho con từng bữa ăn giấc ngủ, đến khi lớn khôn mẹ lại lànguồn động lực nâng con dậy sau mỗi lần vấp ngã Người phụ nữ nào cũng đã từngtrải cuộc đời làm mẹ, nỗi vất vả khi con ốm đau, những đêm thức trắng Nỗi lòngcủa người mẹ Thái thể hiện bằng sự hi sinh thầm lặng:
Trang 36Chập tối thay hai tã
Gà gáy tã phơi đầy hai sào Đêm khuya thắp nến sáng cùng sao Sương dâng đầy trời thức cùng mẹ [11:278]
Biết bao con người đã lớn lên từ nỗi nhọc nhằn của mẹ Những giọt mồ hôi,nước mắt mẹ giấu vào trong lòng dành cho nụ cười và tình yêu thương Phụ nữ Tháitham gia vào các công đoạn của sản xuất nông nghiệp ở trên nương, ngoài ruộng để
cấy cày, trồng lúa: “Mế đi nương đến tối/ Mế đi cấy sẽ về”, “Mế đi nương hái trái/
Mế đi cấy bắt niềng niễng” [84:359] Bên cạnh công việc sản xuất, người mẹ còn
đảm đương trách nhiệm thu vén gia đình Lời hát ru làm với đi nỗi nhớ con da diếtcháy trong tim, làm dịu đi cái nắng gắt giữa trưa hè, làm ấm lòng mẹ mỗi chiều
đông lạnh:“Nhớ sáng mẹ lên nương/ Mẹ nhớ thương/ Mẹ nhớ con”[16:76]
Giữa không gian yên bình của bản làng người Mường ven đồi ven suối, tiếnghát ru của người mẹ khe khẽ vang lên:
Đong đưa bông lọ trên nương voóng chờ Sương đêm còn đọng long lanh lời thương
Mẹ ngồi trước voóng nghe gà gáy sáng
Ru con năm tháng mỏi mòn, con ơi [100]
Với những người con đất Mường, mỗi khi nghe giai điệu của bài hát rutruyền miệng “Lời ru đất Mường”, trong tim họ trào lên miền cảm xúc bâng khuâng
da diết trong nỗi nhớ về mẹ Tình mẫu tử nồng thắm còn thể hiện trong tiếng gọicon dịu ngọt, thiết tha:
Ủn yêu ơi, hỡi ủn hỡi Yên tâm nằm ngủ em ngủ ngoan
Em thương ơi hãy ngủ ngon Ngủ cho lâu ủn yêu ơi [101]
Tình yêu thương bao la đầy vơi theo nhịp câu hát Thức cùng với nhữngbông lúa trên nương, cùng giọt sương đêm, cùng tiếng gà gáy sáng cất lên trongbản, lời hát ru đã cho con giấc ngủ bình yên Sự hi sinh của mẹ chảy dài theo dòngthời gian vô tận:
Trang 37Cầu ngọn nắng chớ làm suối khát Cầu ngọn gió chớ làm ngã cây Trời đã sáng con đừng khóc nữa Làm đứt mất lời ru của mẹ.
Giọt mồ hôi rơi Giọt nước mắt rơi Bao nỗi nhọc nhằn Đọng thành câu hát [100]
Giữa dòng đời đục trong, giữa muôn vàn khó khăn của cuộc sống, con ngườiluôn tìm được nguồn sống từ tình yêu thương chân thành Tình yêu con là sức mạnhgiúp mẹ vượt lên mọi thử thách để khẳng định bản lĩnh và ý chí Tiếng con khóc,giọt mồ hôi, giọt nước mắt cùng bao nỗi nhọc nhằn kết đọng thành lời hát ru conthiết tha Càng nghe ta càng thấy kính trọng và vô cùng biết ơn những người đã nuôidưỡng và hi sinh cả cuộc đời vì con vì cháu của các bậc sinh thành
2.2 Tình cảm gia đình, tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước trong lời ru trẻ của đồng bào Tày, Thái, Mường
Trong công trình Văn học dân gian Việt Nam (2002) do tác giả Đinh Gia Khánh chủ biên có đoạn viết: “Dân ca sinh hoạt chủ yếu thể hiện những cảm nghĩ,
tình cảm chủ quan của người hát trong mối quan hệ trực tiếp thân thuộc giữa ngườihát với đối tượng mình đối thoại Hoặc đấy là các bà mẹ, các người chị hát nhữnglời tâm sự, dặn dò, dạy dỗ con cái, em út của họ qua lời hát ru Hoặc là trẻ em vuichơi đùa nghịch với bạn bè của mình qua những lời hát đồng dao” [30:699] Nhữngnăm tháng đầu đời của con cứ êm đềm trôi theo lời hát ru của bà, của mẹ, của chị.Vừa chuyển tải tình mẫu tử sâu sắc, lời hát ru còn có ý nghĩa giáo dục tình yêu giađình và yêu quê hương cho trẻ thơ từ những ngày tháng đầu tiên của cuộc đời
Tình cảm gia đình thể hiện trong vòng tay yêu thương của ông bà, cha mẹdành cho trẻ thơ cùng hình ảnh của chiếc nôi, chiếc võng hay chiếc địu mà ông bàtặng cháu trong lễ mừng sinh nhật hay lễ cúng đầy tháng Và đặc biệt là lời ru yêuthương của ông bà dành tặng cho cháu:
Trang 38Hôm nay ngày đủ tháng của em Nội ngoại ở bốn phương về đủ Nội cùng ngoại đến thăm Ông bà nội có quần áo hoa Ông bà ngoại có địu tã đến cho Còn có cả võng về ru em ngủ Ứ… em ngủ say [8:294]
Còn là niềm vui mừng của cả gia đình khi bé thơ chào đời:
Cô thím bà reo vui [26:154]
Là lời yêu thương của cha mẹ dành tặng cho con:
Nín đi em ngủ ngoan Nhớ sáng mẹ lên nương
Mẹ nhớ thương
Mẹ nhớ con Nín đi con ngủ ngoan Tháng năm mẹ yêu con Ngủ ngoan nào lắng nghe Nghe lời mẹ ru trẻ [16:163]
Tình cảm gia đình là nguồn động lực thúc đẩy mỗi con người trong cuộcsống Gia đình là chiếc nôi êm ái, là tổ ấm để con người trưởng thành bằng tình yêuthương Con lớn lên trong vòng tay nâng niu vỗ về của cha mẹ, những cử chỉ âuyếm của ông bà Bằng những lời ru hết sức mộc mạc chan chứa tình cảm chânthành, đạo đức ứng xử và lối sống nhân nghĩa đã thấm đẫm vào tâm thức của contrẻ Sức mạnh của lời ru là sức mạnh mềm nuôi dưỡng tâm hồn con trẻ
Trang 39Tình yêu quê hương trong lời ru trẻ thường bắt nguồn từ tình yêu thiênnhiên Công cuộc mưu sinh của đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắcluôn gắn liền với thiên nhiên Trong câu hát dân gian của các tộc người, một thếgiới tự nhiên hiện lên vô cùng phong phú, đa dạng, tràn đầy sự sống qua hình ảnhrừng già, ruộng nước, đồi nương, muông thú, nắng, mưa, gió, bão, v.v…
Thiên nhiên là môi trường sống, là nơi cung cấp cho con người nguồn sống.Trong con mắt của người Tày, người Thái, người Mường thiên nhiên luôn là bàntay bao bọc chở che con người Trong lời ru, hình ảnh về thiên nhiên được nhắc đếnrất nhiều với lòng trân trọng và biết ơn của người hát Những cánh rừng già cho con
người củi đốt để đun nấu và sưởi ấm: “Đi nương lấy củi về” [11:246], cho con người tìm kiếm nguồn thức ăn để phụ nữ đi hái quả ngọt: “Mẹ đi rừng già hái quả” [84:385], đi hái rau: “Hái rau muồng rau mẹ” [62:407], để người đàn ông đi săn bắn: “Anh đây có ná bắn chim/ Bắn con chim diều hâu hót” [84:264], “Bố săn
muông cho em ăn thịt” [62:401] Rừng còn ban tặng con người vẻ đẹp hoang dại
của những loài hoa để mẹ hái về cho con chơi: “Mẹ đi cỏ lúa ngoài rừng/ Lấy bông
hoa bừng đỏ/ Lấy hoa vỏ xanh xanh/ Lấy hoa chiềng thẫm thẫm/ Lấy đám hoa tai vàng” [62:397,398], “Mẹ đi rừng/ Lấy trái bông bừng cho em chơi/ Lấy quả nhội cho em ăn/ Lấy vòng ngắn cho em đeo cổ/ Lấy hạt ngọc để em đeo chân tay”
[62:401] Ruộng nương đã cho con người nguồn lương thực quý là sản phẩm kết
tinh của trời đất: “Mẹ bận làm cỏ ruộng trăm bề/ Mùa thu thóc đầy hè nếp tẻ” [84:382], cung cấp nguồn thức ăn bổ dưỡng: “Mẹ ra đồng bắt cá/ Mẹ đi ruộng lấy
luốm” [84:381], “Mẹ vào ruộng hái dưa/ Bố sang ruộng lấy cá/ Ra nương rẫy trồng cà/ Bắt cào cào ăn lúa” [16:120] Dòng suối cho con người nước uống,
nước sinh hoạt gia đình và nước sản xuất Khung cảnh thơ mộng bên dòng suối tô
điểm thêm cho bản làng vẻ đẹp lung linh, tươi mới: “Bản làng em lưng sườn núi/
Có con suối nhỏ uốn lượn quanh/ In bóng nhà, quê hương em… Bản làng em có dòng suối mát/ Hoa bông trăng soi mình bên suối” [101] Thấm đẫm lời ru là tình
cảm gắn bó với thiên nhiên, nơi đã tạo dựng nguồn sống cho cộng đồng dân cư từngàn đời nay Để duy trì nguồn sống, đồng bào miền núi luôn có cách ứng xử thânthiện và hài hòa với thiên nhiên Hòa cùng thiên nhiên, tôn trọng và bảo vệ thiên
Trang 40nhiên, gắn liền cuộc sống của cộng đồng cùng thiên nhiên là ý thức chung củacộng đồng Biểu hiện cao nhất là nghi lễ cúng rừng đầu nguồn, các nghi lễ cầumùa Thông qua các nghi lễ, phong tục này nhằm giáo dục thế hệ trẻ tình yêu thiênnhiên và ý thức bảo vệ môi trường sống xung quanh và gìn giữ những giá trị vănhóa truyền thống của dân tộc
Từ tình yêu gia đình, tình yêu thiên nhiên, người hát đã gieo vào trẻ thơ tìnhyêu quê hương Hình ảnh thiên nhiên thơ mộng chính là hình ảnh quê hương giàuđẹp, nơi có những con người giàu lòng yêu thương Qua câu hát ru đầu đời, ngườilớn (người hát ru) muốn khơi dậy lòng yêu thiên nhiên ở con trẻ, từ đó làm giàu cóthêm tình cảm gắn bó với quê hương làng bản Đó là nơi đời đời, kiếp kiếp tổ tiênsinh cơ lập nghiệp, hình thành những nét văn hóa truyền thống đáng tự hào; là nơi
bé tìm thấy sự yêu thương, chở che, đùm bọc của người thân trong gia đình và cảcộng đồng; là nơi bé chập chững những bước đi đầu tiên và bi bô tiếng gọi mẹ; lànơi bé được cùng bạn bè chơi đùa ê a những câu hát đồng dao quen thuộc và là nơicất giữ biết bao kỉ niệm tuổi thơ êm đềm
2.3 Hát ru phản ánh chân dung cuộc sống lao động của đồng bào Tày, Thái, Mường
2.3.1 Bức tranh hoạt động gieo trồng
Từ ngàn đời nay, các tộc người Tày, Thái, Mường là chủ nhân của các vùng
thung lũng Nhà nghiên cứu Trần Từ đã trình bày trong công trình Người Mường ở
Hòa Bình như sau: “Tôi xin nói rằng, cũng như các Phìa Thái và các Quằng Tày,
các Lang Mường xác lập vị trí chủ nhân xã hội của họ chủ yếu trên cơ sở những đặc
quyền mà họ đã dành được đối với ruộng nước trong các thung lũng chân núi, trongkhi đất dành cho nương rẫy trên các sườn thấp họ ít quan tâm hơn nhiều” [80:5] Cưdân nơi đây có truyền thống khai thác tài nguyên đất đai thành ruộng để canh tác lúanước Kĩ thuật trồng lúa nước của đồng bào đạt trình độ cao hơn so với các tộc
người cứ trú trên vùng núi cao, với hệ thống mương, phai, lái, lín, cọn của người Tày, Thái và những bánh xe nước của người Mường Các hình ảnh đó đã đi vào thơ
ca hồn nhiên từ bao đời nay