viết, công trình nghiên cứu như: Nghệ thuật xây dựng diễn ngôn tình yêu trongtương quan giữa văn bản tiểu thuyết Tình yêu thời thổ tả với tiểu sử tự truyện của G.G.Marquez10 của tác giả
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-TRỊNH THỊ PHƯỢNG
DIỄN NGÔN TÌNH YÊU TỪ VĂN HỌC TỚI ĐIỆN ẢNH QUA THE
ENGLISH PATIENT VÀ THE READER
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận, Lịch sử và Phê bình Điện ảnh – Truyền hình
Hà Nội -2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-TRỊNH THỊ PHƯỢNG
DIỄN NGÔN TÌNH YÊU TỪ VĂN HỌC TỚI ĐIỆN ẢNH QUA THE
ENGLISH PATIENT VÀ THE READER
chuyên ngành: Lý luận, Lịch sử và Phê bình Điện ảnh – Truyền hình
Mã số: 60.21.02.31
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Xuân Thạch
Hà Nội -2016
Trang 3Poster The English patient (1996) 1
Đạo diễn: Anthony Minghella
Sản xuất: Saul Zaentz
Biên kịch: Anthony Minghella
Nguyên tác: Michael Ondaatje
Diễn viên: Ralph Fiennes, Juliette Binoche, Williem Dafoe, Kristin Scott Thomas…
Giải thưởng: 9 giải Oscar 2 và 11 giải Quả Cầu Vàng
1 Link ảnh: http://www.fullfilmindir.org/ingiliz-hasta-the-english-patient-indir/
2 Oscar lần thứ 69 (1996), The English patient nhận được 12 đề cử và giành 9 giải Oscar, hầu hết là các giải quan trọng: Phim hay nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất, Kịch bản chuyển thể hay nhất, Diễn viên phụ xuất sắc nhất Jullette Binoche, Quay phim xuất sắc, Dựng phim xuất sắc, Nhạc nền xuất sắc, Đạo diễn hình ảnh xuất sắc Link: https://en.wikipedia.org/wiki/The_English_Patient_(film)
Trang 4Poster The reader (2008)3
Đạo diễn: Stephen Daldry
Sản xuất: Anthony Minghella, Sydney Pollachk…
Biên kịch: David Hare
Nguyên tác: Bernhard Schlink
Diễn viên: Kate Winslet, Ralph Fiennes, David Kross, Lena Olin…
Giải thưởng: Giải Oscar và Quả cầu vàng cho nữ diễn viên chính xuất sắc Kate Winlet
3 Link ảnh: http://rajeshnaik.com/the-reader-movie-romantic-drama-in-post-ww-ii-germany/
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 10
5 Cấu trúc của luận văn 10
PHẦN NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11
1.1 Khái niệm diễn ngôn 11
1.2 Vấn đề chuyển thể tác phẩm văn học sang điện ảnh 13
1.3 Khái niệm và biểu tượng tình yêu 17
1.4 Các xu hướng hình thành diễn ngôn tình yêu trong phim điện ảnh 25
1.4.1 Xu hướng lãng mạn hóa (romantic) 25
1.4.2 Xu hướng bi kịch hóa (tragedy) 30
1.4.3 Xu hướng tình dục hóa (erotic) 32
Tiểu kết 35
CHƯƠNG 2: THE ENGLISH PATIENT – KÝ ỨC TÌNH YÊU NHƯ LÀ SỰ HÌNH THÀNH CĂN TÍNH 37
2.1 Cấu trúc tự sự 37
2.2 Từ ký ức tình yêu tới căn tính nhân vật 42
2.3 Bản đồ tình yêu trong chiến tranh 54
Tiểu kết 60
CHƯƠNG 3: THE READER – TÌNH YÊU NHƯ LÀ MÃ VĂN HÓA TRONG HỆ QUY CHIẾU CHÍNH TRỊ 61
3.1 Tình yêu, tri thức và nhục cảm phi chính trị 61
3.2 Tình yêu, tri thức và sự vô minh chính trị 69
3.3 Tình yêu, chính trị và sự cứu rỗi của tri thức 77
Tiểu kết 81
PHẦN KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Khởi thủy, tình yêu đã tồn tại như là bản chất nhân tính, như là sáng tạolớn nhất của con người Tình yêu đem lại cuộc sống và cái chết, kiếp người là hữuhạn nhưng tình yêu có thể là vĩnh cữu Con người ở thời nào, ở không gian nào, làbất cứ ai cũng luôn tìm kiếm tình yêu và khao khát được yêu bởi tình yêu làm hé lộ
“bản nguyên thần thánh trong mỗi chúng ta” (Vladimir Soloviev), là câu trả lời phổ quát nhất cho câu hỏi “con người đã tiến hóa từ đâu?”
1.2 Tình yêu, từ lâu đã trở thành đề tài bất hủ và vô tận của văn hóa nghệ
thuật “Không đề tài nào hấp dẫn bằng đề tài này, vì nó liên quan đến cái sướng cái
khổ của chủng loại, và do đó liên quan đến mọi đề tài khác dính líu đến cái hạnh phúc riêng của cá nhân, cũng như vật thể liên quan đến bình diện phẳng vậy Vì thế cho nên, một vở tuồng lại thiếu chuyện tình tứ thì không thể hấp dẫn, và cũng vì thế
mà đề tài kia không bao giờ nhàm chán, dù được sử dụng hàng ngày” [2, tr.45-46].
Trên thực tế, mỗi tác giả lại có cách miêu tả, định nghĩa, kiến giải về tình yêu riêngtrong các sáng tác của mình, và cách miêu tả đó đánh dấu nhãn quan sáng tạo đặc trưngcho mỗi cá nhân, mỗi khu vực văn hóa và thời đại mà họ sống Những tự sự tình yêu
từ trong thần thoại, huyền thoại dân gian đến các tác phẩm nghệ thuật đương đạiluôn là một dòng chảy liên tục và bất tận Người nghệ sĩ không ngừng tìm kiếm vàsáng tạo nên những biểu tượng tình yêu, diễn ngôn tình yêu mới như một cách đểkhám phá sự phức tạp và mầu nhiệm của con người, để nhìn về cuộc sống và ýnghĩa của cuộc sống Vì lẽ đó, nghiên cứu “diện mạo” của tình yêu thể hiện qua ngônngữ nghệ thuật luôn là một hiện tượng thú vị, đáng quan tâm
1.3 Những mối tình đẹp và “khác lạ” trong các tác phẩm văn học, đặc biệt làtác phẩm kinh điển luôn là nguồn chất liệu quý giá để điện ảnh khai thác và chuyển
thể lên màn ảnh Tiểu thuyết The English patient (1992) của nhà văn Michael Ondaatje và The reader (1995) của nhà văn Bernhard Schlink đều là những tác phẩm kinh điển và đoạt nhiều giải thưởng danh tiếng trên thế giới Tiểu thuyết The
English patient đã giành giải Booker 1992, còn tiểu thuyết The reader giành được
nhiều giải uy tín trên thế giới Khi được chuyển thể lên thành phim cùng tên The
Trang 8English patient (1996) của đạo diễn Anthony Minghella và The reader (2008) của
đạo diễn Stephen Daldry, cả 2 bộ phim cũng giành được những giải thưởng điện
ảnh danh giá Phim The English patient đạt 9 giải Oscar và 11 giải Quả cầu vàng Phim The reader giành được 1 giải Oscar và 1 giải Quả cầu vàng Hai mối tình đặc
biệt ở hai bộ phim đã minh chứng một điều: “Phía sau mỗi tình yêu vĩ đại là mộtcâu chuyện tình vĩ đại” 4
Vì những lí do trên, luận văn của chúng tôi chọn nghiên cứu tình yêu như làdiễn ngôn trong phim điện ảnh
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Nghiên cứu tình yêu từ góc độ diễn ngôn
Tình yêu – một hiện tượng tâm sinh lý từ khi được gọi thành tên, trước tiên
và quan trọng hơn hết là mối quan tâm của các nghệ sĩ và là đề tài sáng tác của vănhóa nghệ thuật Tuy nhiên, tình yêu cũng là đối tượng nghiên cứu của các lĩnh vựckhoa học khác như triết học, tâm lý học, xã hội học, nhân chủng học Chúng takhông thể thống kê hết những danh ngôn, định nghĩa, triết lý về tình yêu của cácdanh nhân hay của tất cả mọi người trên trái đất, mà mỗi phát ngôn về tình yêu đó
cũng có thể hiểu như là diễn ngôn Bởi vì theo Paul Ricoeur “Thiết nghĩ, nói một
cái gì đấy về một cái gì đấy là thuộc tính cơ bản của diễn ngôn và, do đó, là thuộc tính của văn bản như một chuỗi câu văn”5 Trong phần này, do hạn chế về tài liệu
và ngoại ngữ, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát và trình bày một số những công trìnhkhoa học nghiên cứu tình yêu từ góc độ diễn ngôn được đánh giá là bước đột phá,tiên phong đối với lịch sử văn hóa nhân loại
Siêu hình tình yêu, siêu hình sự chết được xem là một kiệt tác triết học của thế
kỷ 19 Tác giả của nó, triết gia người Đức Arthur Schopenhauer, người được xem là
mở đường cho triết học và tâm lý học vô thức ra đời và phát triển ở châu Âu, đã đưa
ra những quan điểm vừa thấm thía buồn đau vừa hài hước về hai vấn đề quan trọng
nhất của con người: tình yêu và cái chết của nhân loại Đối với vấn đề tình yêu, ông
4 Lời tựa phim The Notebook (2004) của đạo diễn Nick Cassavetes
5
HTTP://PHEBINHVANHOC.COM.VN/22-DINH-NGHIA-VE-DIEN-NGON/
Trang 9đặt ra để rồi trả lời, theo cách riêng của mình, những câu hỏi muôn đời ai cũng thắcmắc: điều gì khiến tình yêu tồn tại, sự mê đắm một nhan sắc là sao, khoái lạc ámảnh gì đến con người? Diễn ngôn tình yêu của Arthur Schopenhauer có thể tóm gọn
trong triết lý “đời sống phát sinh ra vấn đề chết và vấn đề yêu, vì yêu là cái mà nhờ
nó đời sống xuất hiện trên thế gian này” [2, tr.8] Đối với ông, “mọi loại tình yêu,
dù cho đượm vẻ thanh khiết cách mấy, cũng đều bắt rễ từ bản năng chủng tính, và chỉ là một bản năng chủng tính được xác định rõ rệt hơn, chuyên biệt hơn, và nói đúng ra, cá biệt hơn” [2, tr.42]
Khảo luận Siêu lý tình yêu (1892 – 1893) của Vladimir Solovyev, một trong ba
người thầy vĩ đại của Tình yêu, Trí tuệ và Niềm tin trong truyền thống tinh thầnNga (cùng với Fyodor Dostoievsky, Fyodor Tyutchev), người đặt nền móng chotriết học tình yêu ở Châu Âu, cho đến nay vẫn là tác phẩm trứ danh nhất, được dịch
ra nhiều thứ tiếng nhất của Solovyev Siêu lý tình yêu tiếp nối một cách trực tiếp và
có ý thức một truyền thống triết luận có lịch sử 25 thế kỷ ở châu Âu
Trong tác phẩm này, Solovyev phê phán, hoàn chỉnh các ý tưởng, quan điểm
về tình yêu của nhiều nhà tư tưởng lớn tại nhiều thời đại khác nhau của nhân loại từPlaton đến LevTolstoy, đến Schopenhauer… Từ đó, ông đã xây dựng được và cung
cấp cho chúng ta một nền tảng nhận thức đặc sắc về tình yêu nam – nữ.
Các quan điểm chính về tình yêu nam nữ của Solovyev là: 1 Ông đề cao tínhcao đẹp của tình yêu nam nữ, không coi đó là ảo giác che đậy nhục dục, một tròchơi của tự nhiên, là ác quỷ đen tối nô dịch loài người, là một dạng tồn tại trong khổđau và cái chết hay duy đạo đức quá như coi tình yêu là phải lấy tình yêu nhân loạilàm trọng, phải khổ hạnh/ vị tha… như tư tưởng của triết gia Schopenhauer, Tolstoyhay một số tôn giáo 2 Tình yêu là bước chuyển phôi mầm tiềm năng mới nhú củacon người giống như đặc tính trí tuệ là phôi mầm của động vật Tình yêu còn có sứmệnh xa hơn, dài hơn mà cái chân chính là chiến thắng đến cùng chủ nghĩa cá nhân,gia tăng giá trị vô tận cho con người, nhân tính phân chia nam – nữ, hữu hạn, hữu tửthành cá thể duy nhất lưỡng tính, tuyệt đối, bất tử 3 Ông cũng không coi hôn nhânhợp pháp, sinh đẻ và nuôi dưỡng con cái là sứ mệnh đích thực của tình yêu say đắm
Trang 10nam – nữ Tình yêu có sứ mệnh không phải là ở thực tế vật chất đó mà sứ mệnh làdẫn dắt con người từ thế giới đó (phi lý tưởng) bước sang thế giới lý tưởng hay cảihóa thế giới phi lý tưởng thành thế giới lý tưởng 4 Tình yêu đi đôi với lý tưởnghóa đối tượng yêu, sùng bái hâm mộ người yêu và làm xuất hiện “phép lạ, hàoquang” quanh người yêu như nhìn thấy chân lý về con người – hình ảnh môi giớigiữa Thượng đế thần thánh và thế giới Tình yêu là phương tiện cho sự nhập thânđến cùng, đến đích trong đời sống cá thể của con người 5 Qua tình yêu, người yêutuyệt đối hóa người ta yêu làm cho hoàn hảo, trọn vẹn, vô bờ vô hạn Tình yêu đòihỏi bất tử của con người cả tinh thần lẫn thể xác 6 Ông đề cao tình yêu nam nữhơn mọi dạng tình yêu khác bởi nó khẳng định và làm giàu vô tận giá trị của từng cáthể con người – trong tiềm năng nó dẫn con người tới sự bất tử Nó vừa là kết quảcủa tiến trình lịch sử của chủng loài hữu hạn vừa là bản chất nhân văn của ngườigắn với giá trị tuyệt đối, vĩnh hằng của Thượng đế [ 28 ]
Solovyev cũng xác định có 5 kiểu biểu hiện của quan hệ nam nữ trong đờisống nhân loại: 1 Cưỡng ép, 2 Tính dục đơn thuần, 3 Tình yêu nhân tính, 4 Tìnhyêu thần tính, 5 Tình yêu thần- nhân tính Trong đó, cấp độ 3, 4, 5 là biểu hiện củatình yêu [ 28 ]
Nhìn chung, triết học tình yêu của Solovyev cho rằng tình yêu, nhất là tình yêuhữu tính, là phương thức chủ yếu để hoàn thiện con người và nhân loại trong tiếntrình lịch sử của nó Tình yêu có khả năng nâng con người lên ngang hàng với thần
thánh Và do đó, đạt được sự bất tử Siêu lý tình yêu của ông đã mở rộng phạm vi
và nhiệm vụ của tình yêu, đưa tình yêu từ lĩnh vực quan hệ cá nhân sang lĩnh vựcquan hệ xã hội, và quan hệ giữa loài người với thiên nhiên, vũ trụ
Bên cạnh những diễn ngôn tình yêu trong triết học, trong lĩnh vực tâm lý và
phân tâm học có công trình nghiên cứu Phân tâm học và tình yêu của hai nhà tâm lý
Trang 11học Sigmunt Freud6 và Erich Fromm7 Trong Ba tiểu luận về lý thuyết tính dục của
mình, Sigmunt Freud đã coi cơ sở của đời sống sinh- tâm lý, thậm chí đời sống tinhthần, xét cho cùng là bản năng tính dục (libido) Tình yêu là xung lực cơ bản củasinh tồn, là cái libido dục năng thúc đẩy mọi sinh thể tự thể hiện qua hành động Vìvậy, tình yêu tự căn bản là một hiện tượng tính dục Năm 1920, Freud cho rằng có
hai bản năng chủ yếu: Eros (thần tình yêu trong thần thoại Hy Lạp) là lực sống
và Thanatos (thần chết) là bản năng chết Theo cách diễn giải của ông, Eros là bản
năng sáng tạo có tổ chức để bảo tồn sự sống và giống loài Eros là tình yêu và sựkhoái cảm8
Không hoàn toàn đồng ý với luận điểm trên của Freud, E.Fromm muốn đi tìmmột cơ sở khác cho đời sống tinh thần của con người, trước hết là trong lĩnh vựctình yêu Lý thuyết về tình yêu theo ông là một cố gắng hợp nhất (mà không phảixóa bỏ bản thân mình) của những cá nhân cảm nhận được sự ly cách của phậnngười Bởi sự hợp nhất với người khác (nhất là người khác giới) cũng là mộtphương thức hợp nhất với toàn thể 9
Như vậy, đọc các công trình nghiên cứu tình yêu của các nhà triết học, phântâm học, chúng ta có cơ hội được tiếp cận và lĩnh hội tình yêu từ nhiều diễn ngônkhác nhau Những quan điểm có khi là ngược chiều vừa giao thoa vừa xung đột vớinhau tạo ra những khám phá bất ngờ và thú vị
2.2 Nghiên cứu diễn ngôn tình yêu trong văn học và điện ảnh ở Việt Nam
Trong giới hạn tài liệu của chúng tôi thì nghiên cứu tình yêu từ góc độ diễnngôn trong văn học và điện ảnh ở Việt Nam vẫn còn rất hạn chế Chỉ có một số bài
6 Sigmund Freud (6.5.1856 – 23.9.1939) là một bác sĩ về thần kinh và tâm lý người Áo Ô ng được công nhận là người đặt nền móng và phát triển lĩnh vực nghiên cứu về phân tâm học Cho đến ngày nay mặc dù lý thuyết về phân tâm học của ông còn gây nhiều tranh cãi và người ta còn đang so sánh hiệu quả của các phương pháp phân tâm học của ông với các phương pháp điều trị khác, nhưng cũng phải thừa nhận rằng ông
là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn trong thế kỷ 20
7 Erich Seligmann Fromm (23.3.1900 – 18.3.1980) là nhà tâm lý học xã hội, nhà phân tâm học, nhà xã hội học, triết gia nhân văn và nhà xã hội học dân chủ người Đức
8
http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/tai_sao_freud_gay_nhieu_tranh_cai.html
9 http://tamlyconnguoi.com/phan-tam-hoc-va-tinh-yeu-sigmund-freud-erich-fromm/
Trang 12viết, công trình nghiên cứu như: Nghệ thuật xây dựng diễn ngôn tình yêu trong
tương quan giữa văn bản tiểu thuyết Tình yêu thời thổ tả với tiểu sử tự truyện của G.G.Marquez10 của tác giả Phan Tuấn Anh; luận văn thạc sĩ Mối quan hệ giữa diễn
ngôn đạo đức và diễn ngôn tình yêu/tình dục trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn
Dữ của Nguyễn Thanh Bình
Bên cạnh đó, nếu tiếp cận diễn ngôn tình yêu trong tương quan với diễn ngôntính dục theo lý thuyết tính dục của Sigmunt Freud: tình yêu tự căn bản là hiệntượng của tính dục, cũng như tìm hiểu và khám phá tình yêu trong mối tương quan
hai mặt với tình dục thì có công trình Diễn ngôn tính dục trong phim Nagisa
Oshima (Khảo sát trường hợp The diary of Shinjuku thief, The Ceremony, In the realm of the sense) của Ngô Thị Thanh [18], là một công trình khoa học hiếm hoi
nghiên cứu diễn ngôn điện ảnh Trong công trình này, khi khảo sát diễn ngôn tínhdục trong phim của đạo diễn người Nhật Bản Nagisa Oshima - một phong cách làmphim táo bạo, lạ lùng, cực đoan, tác giả đã chỉ ra những diễn ngôn khắc khoải về
tính dục (trong mối quan hệ liên đới với chính trị, quyền lực, bạo lực và gia đình),
chất chứa một hệ tư tưởng đối thoại, xung đột, gây hấn với các diễn ngôn khác
2.3 Nghiên cứu diễn ngôn tình yêu từ 2 bộ phim chuyển thể: The English patient và The Reader.
Về tiểu thuyết và phim The English patient, chúng tôi khảo sát được một số bài viết trên các trang báo uy tín quốc tế: The English patient11 của Roger Ebert, nhà
phê bình phim nổi tiếng người Mỹ, nhấn mạnh tới ký ức tình yêu của bệnh nhânngười Anh và gọi mối tình của Almásy và Katharine là “tình yêu định mệnh” Họ
đã tìm thấy nhau trong sa mạc và có những chuỗi ngày tháng lãng mạn tuyệt vời
Tác giả Philip French trong bài điểm phim The English patient đã gọi chuyện tình
yêu của Almásy và Katharine là “câu chuyện tình yêu siêu việt” [29, tr.295] Trên
tờ Variety.com, một tờ báo viết về phim uy tín, tác giả Todd McCarthy trong bài
10 trong-tuong-quan-giua-van-ban-tieu-thuyet-tinh-yeu-thoi-tho-ta-voi-tieu-su-tu-truyen-cua-ggmarquez.html
http://tonvinhvanhoadoc.vn/van-hoc-the-gioi/dong-chay/3130-nghe-thuat-xay-dung-dien-ngon-tinh-yeu-11 http://www.rogerebert.com/reviews/the-english-patient-1996
Trang 13The English patient 12 cho rằng so với tiểu thuyết gốc, bộ phim đã được đạo diễn
Anthony Minghella tập trung chuyển thể mối tình lãng mạn là chính Bởi vậy, bộphim được đẩy theo hướng melodrama chuyện ngoại tình khá thông thường Nhưngmối tình cá nhân trớ trêu này ấn tượng hơn bởi nó liên quan tới các sự kiện lịch sử
sâu rộng Trong bài tiểu luận Bệnh nhân người Anh – Một bi kịch cổ điển của tình
yêu và nghịch lý 13, trên tạp chí Humanitas, tập X, số 1, 1997, tác giả Juliana Geran
Pilon đã phân tích mối tình ngoại hôn đam mê và tội lỗi của Almásy và Katharinetrong sự so sánh với các bi kịch Hy Lạp cổ đại, khi đặt tình yêu bên cạnh phạm trùđạo đức Tác giả khẳng định đây không phải là chủ nghĩa lãng mạn thuần túy, nếuthuật ngữ này dùng để chỉ sự tôn vinh của cảm giác không biết gì về mặt đạo đức
Bộ phim miêu tả niềm đam mê trong tất cả sự đáng sợ, thực tế nguy hiểm của nó
Ở Việt Nam, các bài viết về The English patient chủ yếu giới thiệu về cuốn
tiểu thuyết của nhà văn Michael Ondaatje và tập trung chủ yếu vào câu chuyện tình
yêu của cuốn sách, nhưng chỉ phác qua một cách khái quát Trải nghiệm yêu thương
và mất mát với Bệnh nhân người Anh 14 của Thụy Thụy cho rằng cuốn tiểu thuyết
“Giàu tính kịch nhưng lại mang đậm âm hưởng của một bản tình ca không biêngiới, giữa những con người thuộc mọi chủng tộc, mọi tầng lớp, Bệnh nhân ngườiAnh vượt lên trên cả một câu chuyện tình để biến thành một tiểu thuyết đề tài hậu
chiến đầy nhân văn” Bản hòa ca tình yêu trên nền chiến tranh 15 của Lam Anh cũngkhẳng định đây là “câu chuyện tình yêu cảm động, lấy bối cảnh những năm cuối của
chiến tranh thế giới thứ II ở Italia” Đọc The English patient 16 của Nguyễn Thị Hải
Hà phân tích cụ thể hơn: “Quyển sách này chứa đựng hai chuyện tình, một xảy ratrong quá khứ và một xảy ra trong hiện tại (…) Chuyện tình trong quá khứ là mối
Trang 14tình say đắm, trái ngang và tội lỗi của Almásy và Katharine, xảy ra trong khungcảnh đầy phiêu lưu và rất kỳ bí của sa mạc Sahara và ở Cairo Chuyện tình trongthời hiện tại là tình yêu của y tá Hana và Kip, hai con người bị chai đá vì chiếntranh, diễn ra trong một tòa lâu đài đổ nát của miền Nam nước Italia” Về bộ phim
chuyển thể The English Patien của đạo diễn Anthony Minghella, hầu như không có
bài viết phê bình nào ngoài những bài tóm tắt nội dung phim trên các trang xemphim online
Về tiểu thuyết và phim The reader, chúng tôi khảo sát được một số bài viết trên báo quốc tế và Việt Nam như sau: Trong bài viết The reader, nhà phê bình phim Manohla Dargis của tờ The New York time 17 gọi mối tình của Michael vàHanna trong bộ phim là “một vụ yêu đương khiêu dâm (erotic afair) chuyển hướngsang một tình yêu đích thực Đó cũng là cách gián tiếp để nói về Holocaust và thế
hệ của người Đức trưởng thành sau nạn diệt chủng” Tác giả Đông Nhi trong bài
The reader: những ẩn ức sâu kín tổng hợp theo trang 411mania và Filmink 18 phân
tích từ tình yêu đầu đời trong sáng đầy đam mê của Michael với người đàn bà lớntuổi Hanna đến thời điểm anh biết sự thật về bí mật tội ác của người mình yêu liênquan tới nạn diệt chủng của phát xít Đức để bàn tới những vấn đề khác của đạo đức,
chính trị Tác giả kết luận “The reader đã chạm đến sự yếu đuối, nỗi xấu hổ và cả cách đối diện với chúng trước sự thật” Tác giả Anh Mai trong bài The reader –
học cách tha thứ để yêu thương19 trên trang điện ảnh của báo Vnexpress đã có một
bài giới thiệu và phân tích khá sâu sắc “câu chuyện dị biệt” của Michael và Hanna
Đó là mối tình vượt qua mọi ranh giới về tuổi tác, địa vị xã hội và thời gian để lại ấntượng xúc động trong lòng người xem Từ câu chuyện tình ngang trái này, bộ phimđặt ra những vấn đề lớn lao về mối quan hệ giữa hiện tại và quá khứ, giữa cá nhân
và cộng đồng Ngoài ra, hầu hết các bài viết chủ yếu là tóm tắt nội dung, điểm tin
17 http://www.nytimes.com/2008/12/10/movies/10read.html?_r=0
18 http://tuanvietnam.net/the-reader-nhung-an-uc-sau-kin
19
http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/phim/diem-phim/the-reader-hoc-cach-tha-thu-de-yeu-thuong-2921667.html
Trang 15như: The reader – Từ đọc sách tới phim 20 của Nguyễn Vinh, Xem phim The reader:
Lời bào chữa của trái tim trẻ dại 21 của Phạm Thu Nga, Xem phim The reader và
tìm hiểu quá trình từ tiểu thuyết lên màn ảnh 22 của T.Minh, The reader: chiến
tranh và mặc cảm tội lỗi 23 của Bảo Thạch, Người đọc, câu chuyện tình sử và lịch
sử 24 của Bùi Dũng
Nhìn chung, ở Việt Nam tìm hiểu, nghiên cứu về hai bộ phim chuyển thể The
English patient và The reader có rất nhiều bài viết, bài báo đăng trên các báo mạng,
nhưng hầu hết là những bài điểm phim hay những bài bình luận phim, hầu nhưkhông có tài liệu nghiên cứu hai phim này dưới góc độ tự sự tình yêu hay diễn ngôntình yêu Vì vậy, với đề tài này, chúng tôi mong muốn làm được điều đó
3 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiêm cứu
Trong luận văn, chúng tôi nghiên cứu tình yêu như là diễn ngôn trong phim
điện ảnh thế giới, tập trung cụ thể vào hai bộ phim chuyển thể The English patient (1996) của đạo diễn Anthony Minghella và The reader (2008) của đạo diễn Stephen
Daldry Chúng tôi sẽ tìm hiểu, phân tích và gọi tên diễn ngôn tình yêu sáng tạo vàđặc trưng nhất từ hai bộ phim cũng như ngôn ngữ điện ảnh thể hiện diễn ngôn tìnhyêu đó Ngoài ra, chúng tôi có liên hệ, đối chiếu với văn bản nguồn là hai cuốn tiểu
thuyết The English patient (1992) của nhà văn Michael Ondaatje và The reader
(1995) của nhà văn Bernhard Schlink
3.2 Mục đích nghiên cứu
20 http://tonvinhvanhoadoc.vn/tin-tuc-su-kien/360-do-tin-sach/2-readerr.html
21 http://thanhnien.vn/van-hoa/dien-anh/xem-phim-the-reader-loi-bao-chua-cua-trai-tim-tre-dai-330640.html
22 len-man-anh
http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Giai-tri/487879/xem-phim-the-reader-va-tim-hieu-qua-trinh-tu-tieu-thuyet-23
http://www1.rfi.fr/actuvi/articles/115/article_4317.asp
24 lich-su-60183/
Trang 16http://phunuonline.com.vn/giai-tri/xem-nghe-doc-%E2%80%93-choi/nguoi-doc cau-chuyen-tinh-su-va-Mục đích của chúng tôi khi lựa chọn nghiên cứu đề tài này là:
- Thứ nhất: khẳng định sự tồn tại của tình yêu với tư cách diễn ngôn, tìm hiểucác xu hướng tạo lập tình yêu như là diễn ngôn trong điện ảnh
- Thứ hai: Phân tích, định danh diễn ngôn tình yêu qua hai bộ phim chuyển thể
The English patient (1996) của đạo diễn Anthony Minghella và The reader (2008)
của đạo diễn Stephen Daldry như những quan niệm, những nhận thức sáng tạo mới
mẻ về tình yêu
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Luận văn nghiên cứu sự kiến tạo diễnngôn trên cơ sở kết hợp các diễn ngôn văn học, mỹ học, điện ảnh
- Phương pháp phân tích văn bản và liên văn bản: phương pháp này đượcchúng tôi sử dụng để làm rõ ý nghĩa sự thể hiện tình yêu trong các tác phẩm, đồngthời xem xét chúng trong tương quan với các diễn ngôn khác (phim chuyển thể, cácvăn bản cùng chủ đề ) để thấy được tính chất độc đáo của chúng
- Thao tác phân tích – tổng hợp
- Thao tác so sánh, đối chiếu: được sử dụng trong quá trình so sánh một số vấn
đề của điện ảnh với văn học, của các tác phẩm điện ảnh khác nhau cùng đề tài vàchủ đề
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm các nội dungchính sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: The English patient – Ký ức tình yêu như là sự hình thành căn tính Chương 3: The reader – Tình yêu như là mã văn hóa trong hệ quy chiếu chính trị.
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Khái niệm diễn ngôn
Ngày nay, có thể thấy thuật ngữ diễn ngôn không chỉ được sử dụng trong cácngành nghiên cứu mà còn được sử dụng khá phổ biến trong cuộc sống Dường như
Trang 17mọi phát ngôn của con người đều có thể dễ dàng quy kết thành diễn ngôn Vậy thực
chất Diễn ngôn là gì? Và nếu coi một tác phẩm nghệ thuật, với tư cách là một diễn
ngôn, thì chúng ta có những cách thức, dấu hiệu nào để nhận diện diễn ngôn?
Thuật ngữ Discourse được dịch theo nhiều cách, tùy vào từng lĩnh vực khoa học khác nhau mà có thể gọi là: giải trình ngôn ngữ, diễn ngôn, ngôn bản, ngữ
trình, diễn từ, lời nói Rõ ràng, ngay từ việc dịch thuật ngữ Discourse, đã chứng tỏ
sự khó khăn của việc nắm bắt nội hàm khái niệm Thuật ngữ diễn ngôn được sửdụng trong hầu hết các lĩnh vực: văn học, điện ảnh, hội họa, âm nhạc, chính trị, yhọc Ở mỗi ngành/ lĩnh vực khác nhau, lại có những cách hiểu về diễn ngôn khác
nhau Trong cuốn Discourse, tác giả Sara Mills cho rằng "diễn ngôn là thuật ngữ có
phạm vi nghĩa khả hữu rộng nhất so với bất cứ thuật ngữ nào của lý luận văn học vàvăn hóa”[20] Quan điểm Bakhtin trong tiểu luận Vấn đề các thể loại lời nói, cho
rằng “đối thoại là bản chất của diễn ngôn”, ngoài ra tính chất “chủ thể của diễnngôn” cũng được ông nhấn mạnh Trong các tư tưởng về diễn ngôn, chúng tôi nhậnthấy tư tưởng về diễn ngôn của Foucault là sợi chỉ đỏ không chỉ lý giải toàn bộ sựnghiệp trước tác của ông mà còn là căn cứ khá đầy đủ và hữu ích trong việc lý giảicác diễn ngôn thời đại Foucault cho rằng: “Nếu coi quyền lực và tri thức là hai mốiquan tâm lớn nhất của Foucault thì diễn ngôn là một mắt xích không thể thiếu đểtìm hiểu hai yếu tố này Với Foucault, cả tri thức và quyền lực đều chỉ có thể đượctạo ra, được hiện thực hóa, được vận hành và phân phối bởi và trong diễn ngôn”[20] Foucault tập trung nghiên cứu các điều kiện hoạt động của các diễn ngôn đặc
thù, ông đề cập đến việc coi diễn ngôn ngang với những sự kiện, hành động tạo
nghĩa Do vậy mà Foucault cho rằng cần thiết phải có nghiên cứu về những điều kiện hình thành diễn ngôn Trong bài viết Thế nào là tác giả?, ông thấy không phải
diễn ngôn nào cũng có “chức năng tác giả” Ngược lại, những diễn ngôn hậu hiệnđại chỉ có thể được chấp nhận với điều kiện nó phải có “chức năng tác giả” Khôngthể có một diễn ngôn hiện đại, hậu hiện đại, hay một diễn ngôn đúng nghĩa nếukhông biết tác giả, chủ thể diễn ngôn Vai trò tác giả, đặc điểm phong cách tác giả,
là hướng nghiên cứu quan trọng không chỉ trong văn học mà còn trong điện ảnh
Trang 18Một diễn ngôn phải có tên tác giả để người ta thấy rằng “điều này đã được nói đếnbởi người này”[12]
Soi chiếu một vài diễn ngôn với tư cách là những “đại tự sự” từ những góc độ
lý thuyết mà chúng tôi đã dẫn giải ở trên sẽ thấy diễn ngôn không đơn giản chỉ làtuyển tập các tuyên bố, nhận định nhất thời, giản đơn mà diễn ngôn phải có tính đốithoại (quan điểm Bakhtin), có chủ thể diễn ngôn, có tính quyền lực và tri thức (quanđiểm Foucault)
Ở lĩnh vực khoa học nghệ thuật, diễn ngôn đã trở thành một thuật ngữ quan
trọng trong các công trình nghiên cứu của các trường phái: Phân tích diễn ngôn phê
phán, Chủ nghĩa hậu hiện đại, Chủ nghĩa thuộc địa và hậu thuộc địa, Lý thuyết nữ quyền… Trong cuốn Giáo trình văn học Việt Nam – Ba mươi năm đầu thế kỷ XX,
Phạm Xuân Thạch cho rằng "diễn ngôn là một sản phẩm của một hành vi ngôn ngữ,
nó bắt buộc người nghiên cứu diễn ngôn không chỉ quan tâm đến nội dung của diễnngôn mà cả thái độ của người phát ngôn Như các nghiên cứu về diễn ngôn đãchứng minh, có hai loại thái độ cơ bản: hoặc người phát ngôn đồng nhất diễn ngôncủa mình với chân lí về hiện thực, hoặc anh ta đặt luôn vấn đề về tính xác thực củachính những điều mà anh ta phát biểu" [26, tr.414] Nghiên cứu diễn ngôn trên cơ
sở nền tảng ý thức hệ, người viết đã chỉ ra "những chiến lược tạo nghĩa cơ bản trongdiễn ngôn tự sự, từ kiểu diễn ngôn ý thức hệ, kiểu diễn ngôn có tính phê phán, chođến kiểu diễn ngôn có tính giễu nhại ý thức hệ đã manh nha trong tự sự giai đoạnnày" [26,419]
Từ những dẫn giải trên, có thể thấy hầu hết các tài liệu khoa học tập trung thựchành phân tích cắt nghĩa lý giải diễn ngôn trong ngôn ngữ, văn chương Trong khóaluận này, chúng tôi nghiên cứu diễn ngôn trong tác phẩm điện ảnh Mỗi một lĩnhvực khoa học, hay phạm vi tri thức đều có một mã ngôn ngữ, lớp ngôn ngữ, dạngthức ngôn ngữ khác nhau để diễn đạt biểu hiện diễn ngôn Ngôn ngữ tác phẩm điệnảnh khác với ngôn ngữ tác phẩm văn học, càng khác biệt hơn nữa so với ngôn ngữhình thể trên sân khấu Do vậy, tất yếu sẽ tạo hình thành các lớp diễn ngôn khác
nhau, dẫn đến việc hình thành diễn ngôn và tính chất diễn ngôn một cách khu biệt.
Trang 19“Do chỗ con người sử dụng diễn ngôn để kiến tạo nghĩa về thế giới nói chung, thiếtlập nghĩa về một hiện tượng, một vật thể nào đó nói riêng cho nên muốn lý giải diễnngôn cần phải đặt nó trong quan hệ với sự vật, và tìm hiểu cách người ta nhìn sựvật, hiện tượng như thế nào”[12] Đồng thời diễn ngôn điện ảnh còn thể hiện rất rõphong cách, dấu ấn đạo diễn, bản sắc ngôn ngữ điện ảnh (qua sự thể hiện góc quay,
cỡ máy, hình ảnh, âm thanh ) Nghiên cứu diễn ngôn điện ảnh cần phải có sự sosánh phân tích những diễn ngôn và quan hệ “liên văn bản” giữa các diễn ngôn.Diễn ngôn điện ảnh cũng có điểm tương đồng với diễn ngôn văn học Chỉ cóthể được coi là một diễn ngôn khi diễn ngôn ấy phải được “sinh hạ” trong môitrường xã hội, vì vậy nó phải có tính xã hội và tính đối thoại rõ nét Dù diễn ngônmang đậm sắc màu, cảm quan cá nhân của đạo diễn, nhưng diễn ngôn hoàn toànkhông đơn giản chỉ là tư tưởng, những tuyên cáo trong một xã hội lạc loài, không cóthực, diễn ngôn ẩn chứa bên trong bản thể của nó những vấn đề hiện sinh của cuộcsống Do vậy, khi nghiên cứu diễn ngôn một điều quan trọng nữa phải đặt diễn ngôn
ấy vào trong điều kiện xã hội, hoàn cảnh xã hội và các phong trào văn hóa trong lịch
sử loài người
Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu diễn ngôn tình yêu trong điện ảnh
qua sự khảo sát, phân tích hai bộ phim chuyển thể The English patient (1996) của đạo diễn Anthony Minghella và The reader (2008) của đạo diễn Stephen Daldry Từ
đó làm rõ nội dung diễn ngôn, chủ ý của diễn ngôn, địa vị và thái độ của chủ thểdiễn ngôn
1.2 Vấn đề chuyển thể tác phẩm văn học sang điện ảnh
“Lịch sử quan hệ giữa phim ảnh và văn chương là một lịch sử yêu ghét lẫnlộn, đương đầu và phụ thuộc lẫn nhau Từ cuối thế kỷ 19 cho tới nay, hai cách nhìn
và mô tả thế giới này đã nhiều lần khinh thường nhau, cứu rỗi nhau, học hỏi từ nhau
và làm méo mó bản ngã tự phong của nhau” [25, tr.7] Cho tới nay, khái niệmchuyển thể không còn là một thuật ngữ quá mới mẻ Nó có mặt ở khắp các nơi từtrong tác phẩm văn học, điện ảnh, truyện tranh, hội họa, âm nhạc phê bình cho tớicuộc sống bên ngoài Bởi vậy, việc tìm hiểu thuật ngữ chuyển thể nói chung và tìm
Trang 20hiểu những vấn đề trong việc chuyển thể từ tác phẩm văn học sang điện sẽ giúp chongười đọc hiểu rõ được bản chất của vấn đề, từ đó sẽ hiểu được việc các nhà làmphim đã làm như thế nào để xây dựng một bộ phim hay, mới mẻ trên cơ sở tiếpnhận và tái tạo những yếu tố nghệ thuật từ nguyên tác văn học.
Phim chuyển thể là một vấn đề thu hút rất nhiều sự quan tâm của nhiều nhànghiên cứu điện ảnh trong và ngoài nước Trong lịch sử điện ảnh, thuật ngữ chuyểnthể đã trở thành một chủ đề cho nhiều cuộc tranh luận Theo Michel Serceau “nó đãđược sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghệ thuật của phương Tây từ năm 1885, tức
là mười năm trước khi điện ảnh xuất hiện với ý nghĩa ban đầu của nó nhằm để chỉviệc cải biên một tiểu thuyết thành một vở diễn trên sân khấu” [9] Đến những năm
1920, Jacques Feyder cho rằng, chuyển thể là “sự chuyển đổi sang hình ảnh” haycòn gọi là sự dịch (traduction) Tuy nhiên, định nghĩa ban đầu này còn rất chungchung và trừu tượng Chưa thể giúp người đọc hình dung ra và hiểu được bản chấtcủa vấn đề chuyển thể trong điện ảnh Quan niệm chuyển thể của các nhà nghiêncứu đi trước vẫn chưa thực sự làm hài lòng các chuyên gia Vẫn tiếp tục có nhữngquan niệm mới tìm cách đối lập và làm rõ thêm vấn đề chuyển thể trong lịch sử điệnảnh thế giới
Năm 1954, André Bazin đưa ra quan niệm “Chuyển thể có thể và phải là mộtcông việc đạt đến độ tái tạo lại những gì cốt yếu nhất của từ ngữ và của trí tuệ/ tưduy trong văn bản văn học” [9] Xét trên lĩnh vực ngôn ngữ và phong cách trongsáng tạo điện ảnh, quan niệm của Bazin không đề cao việc dịch một tác phẩm hoàntoàn chuẩn xác (mot à mot) cũng như việc dịch tự do giống như “cưỡng bức” tácphẩm văn học gốc Còn nhà nghiên cứu Francois Truffaut khi bàn về quan niệmchuyển thể đã nhấn mạnh việc tránh tìm kiếm những gì tương đương của hình ảnhphim với hình thức của văn học và ngược lại giữ nó ở mức độ gần nhất có thể vớitác phẩm gốc” [9]
Tới năm 1961, Etienne Fuzelleir khi nói đến chuyển thế đã sử dụng hai thuậtngữ : dịch/ diễn đạt và chuyển điệu/ dịch giọng Ông cũng thiết lập mối quan hệtương đương giữa hai thuật ngữ Trong đó, dịch được coi là chuyển thể/ cải biên và
Trang 21cải biên đó là quá trình chuyển điệu từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác.Khái niệm chuyển thể được tìm thấy trong quan niệm của Fuzelleir mang một ýnghĩa kép Có một khoảng trống ở bản thân nội dung của khái niệm, một cách nhìn
“tiêu cực” với việc dịch Ông đã đặt khá nhiều tin tưởng vào tiềm năng của kháiniệm chuyển thể
Ở Pháp, trong từ điển Lý luận và phê bình điện ảnh của Pháp có định nghĩa:
“Chuyển thể trong một khái niệm thiếu rõ ràng và ít lý luận có mục đích chính trong
sự lượng giá Còn trong những trường hợp rõ ràng hơn đó là việc đưa ra, theo đuổi
và phân tích tiến trình của sự chuyển đổi một tiểu thuyết thành kịch bản điện ảnh vàphim: sự chuyển đổi các nhân vật, các địa điểm, các cấu trúc thời gian, thời điểmxảy ra hành động và tiếp theo là kể các sự kiện Quá trình miêu tả mang ý nghĩalượng giá cho phép đánh giá cấp độ trung thành của chuyển thể, được hiểu thôngqua việc thống kê các sự kiện của tác phẩm gốc trên phim [9] Với định này, cácnhà nghiên cứu người Pháp đã tập trung nói tới những yếu tố nào sẽ được chuyểnthể từ văn học sang điện ảnh và cách nhà làm phim sắp xếp lại cái yếu tố đó trongphim Các nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh tới mức độ trung thành với tác phẩmgốc trong quá trình chuyển đổi từ nguyên tác văn học sang tác phẩm điện ảnh Hollywood – kinh đô điện ảnh của thế giới luôn coi chuyển thể là nghệ thuậtcấu trúc lại tác phẩm gốc bằng cách chỉ giữ lại những gì liên quan đến hình ảnh Đốivới nhiều nhà biên kịch ở Hollywood, quan niệm chuyển thể của họ không chỉ dừnglại ở tiểu thuyết mà còn mở rộng sang các thể loại khác có tính văn học, một bàithơ, một bài báo, một tiểu sử, thậm chí chuyển thể một tác phẩm đã được chuyểnthể Quan niệm chuyển thể theo hướng mở rộng này được Fischlin và Fortier tómgọn như sau: “chuyển thể như là một khái niệm có thể mở rộng hoặc rút gọn, cụ thểhơn, chuyển thể bao gồm gần như bất kỳ một hành vi thay đổi nào được thực hiệntrên những tác phẩm văn hóa cụ thể của quá khứ để gọt rũa để vừa vào một quátrình tái sáng tạo văn hóa chung chung” [9]
Thực tế là các tác phẩm văn học, đặc biệt là những tác phẩm kinh điển đãchinh phục nhiều người trên thế giới hay những cuốn sách best-seller bán chạy luôn
Trang 22là nguồn chất liệu hấp dẫn để nền công nghiệp điện ảnh Hollywood hiện thực hóachúng lên màn ảnh Đó là một trong những lựa chọn, có thể nói là công thức thànhcông cho một bộ phim đạt doanh thu lớn về mặt thương mại Theo thống kê, có hơn60% kịch bản phim đã từng được sản xuất là kịch bản chuyển thể [22, tr.19] “Trong
số khoảng 160 cuốn tiểu thuyết đoạt giải Booker kể từ khi giải thưởng này ra đờinăm 1969, có tới 25 cuốn đã được chuyển thành phim điện ảnh hoặc truyền hình”[29, tr.292] Năm 1980, khoảng 30% phim Mĩ được chuyển thể từ các tiểu thuyết,80% các tiểu thuyết bán chạy ở Mĩ được chuyển thể thành phim [29, tr 209]
Trong danh sách giải thưởng của Oscar - giải thưởng điện ảnh danh giá nhấthành tinh, ngay từ những kỳ trao giải đầu tiên (năm 1928 – 1929), bên cạnh giải
Oscar cho Kịch bản gốc hay nhất (Best Writing - Original Screenplay) luôn có hạng mục giải Oscar cho Kịch bản chuyển thể hay nhất (Best Writing - Adapted Screenplay) Trong 81 bộ phim được trao giải Oscar cho Kịch bản chuyển thể hay
nhất từ năm 1928 đến nay, có 50 bộ phim được chuyển thể từ tiểu thuyết, 6 bộ phim
được chuyển thể từ truyện ngắn, 17 phim được chuyển thể từ kịch [9] Những nămgần đây, rất nhiều bộ phim chuyển thể “đình đám” - được công chúng đón nhậnnhiệt tình, thiết lập nên những kỷ lục về doanh thu phòng vé đồng thời được giớiphê bình phim quốc tế đánh giá cao
Hollywood có hẳn công thức làm phim chuyển thể 25 Ngoài chiến lược thỏahiệp giữa tính thương mại và tính nghệ thuật, sự thành công với doanh thu đáng mơước từ những phim chuyển thể của Hollywood còn nằm trong quan niệm và cáchtiếp cận tác phẩm văn học của những nhà làm phim Có thể thấy xu hướng bình dân
và đại chúng hóa những điều lớn lao từ các tượng đài văn học thành những điềugiản dị, gần gũi chính là một trong những điểm then chốt khiến điện ảnh Hollywoodđến gần được với công chúng Cụ thể hơn, bí quyết thành công đầu tiên nằm ở xuhướng chọn đề tài Với tinh thần hướng tới đại chúng, phim của Hollywood nóichung và phim chuyển thể của Hollywood nói riêng chủ yếu khai thác những đề tài
25 2864147.html
Trang 23http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/phim/sau-man-anh/cong-thuc-lam-phim-chuyen-the-cua-hollywood-thu hút số đông khán giả ở mọi tầng lớp và mọi dân tộc Bên cạnh các đề tài “đặcsản” của Hollywood như hành động, tội phạm, kinh dị, siêu anh hùng, khoa học viễntưởng… thì tâm lý tình cảm là một đề tài khai thác chưa bao giờ cạn kiệt, đồng thờicũng là thể loại gần như sớm nhất và được ưu tiên hàng đầu trong nền điện ảnh này
Trường hợp hai bộ phim The English patient và The reader cũng nằm trong công thức phim chuyển thể của Hollywood Tiểu thuyết The English patient của nhà
văn Michael Ondaatje đoạt giải The Booker năm 1992, mặc dù được đánh giá là cuốnsách “khó đọc” nhưng chỉ sau 4 năm, nó đã được chuyển thể lên màn ảnh thành bộphim cùng tên của đạo diễn Anthony Minghella, đạt 9 giải Oscar và trở thành phim
hay nhất trong năm 1996 Còn The reader, một tiểu thuyết mỏng manh chưa đến 200
trang nhưng đã đoạt vô số giải thưởng uy tín ở các nước châu Âu Một dấu hiệu khác
cho thấy cuốn sách sẽ được chuyển thể thành phim đó là trong quá trình viết The
reader, nhà văn Berhard Schlink đã có ý thức viết sao để lôi kéo sự chú ý của
Hollywood để tác phẩm được chuyển thể lên phim [3, tr.5] Rõ ràng, các nhà làmphim Hollywood đã nhìn thấy trong hai tác phẩm những câu chuyện tình yêu ấntượng và khác biệt có thể chinh phục được người xem trên khắp thế giới Không chỉvậy, những mối tình đó được “viết lại” trên phim, với ngôn ngữ đặc trưng của loạihình điện ảnh và phong cách, góc nhìn cá nhân của đạo diễn, đã hình thành và kiếntạo nên những diễn ngôn tình yêu mới mẻ
1.3 Khái niệm và biểu tượng tình yêu
Tình yêu trong tiếng Hy Lạp cổ là Eros, tiếng Pháp là Amour, tiếng Anh là Love, tiếng Trung Hoa là Ái (愛)
Người Hy Lạp cổ chia tình yêu thành 4 dạng khác nhau Storge là dạng quan
hệ gần gũi của họ hàng hay người thân Eros là dạng tình yêu trai gái, cảm xúc lãng
mạn (khi Freud xuất hiện với học thuyết của mình, chữ này mang thêm nghĩa
erotic- ham muốn tình dục) Agape là dạng tình yêu vô điều kiện, sự ngưỡng mộ
điều gi đó cao hơn bản thân (các giá trị tôn giáo) Phillia là dạng tình bằng hữu, hay
tình yêu tri thức
Trang 24Trong Kinh Thánh, Tụng ca tình yêu là bức thư thứ nhất của sứ đồ Paul thành
Tarsus gửi tín hữu Corinth (1 Corinthians 13, 1-13), là bài hát ca ngợi tình yêu cũng
như cố gắng diễn giải và đưa ra các đặc tính của tình yêu Tụng ca tình yêu đôi khi được gọi là Diễm ca của Tân Ước Theo sứ đồ Paul, quà tặng tình yêu đem lại ý
nghĩa và giá trị cho mọi đức tin Ông cho rằng tình yêu là sự khao khát điều thiện vàhạnh phúc Đó là món quà bất vụ lợi, là sức mạnh chiến thắng sự ích kỷ Trong
Tụng ca tình yêu, sứ đồ Paul dùng từ ảγάπη để chỉ khái niệm tình yêu, một từ với
nguồn gốc không chắc chắn Trong ngôn ngữ tiền Kinh Thánh, từ này hoàn toàn
không được dùng dưới dạng danh từ Nó chỉ được dùng như động từ hay tính từ Ởdạng động từ, nó có nhiều nghĩa (biểu lộ tình thân ái, thuyết phục, âu yếm, khaokhát, thỏa mãn, hài lòng…), nhưng ý nghĩa thông dụng nhất của nó là “biểu lộ tìnhyêu” Ở dạng tính từ nó được dùng trong các trường hợp như “đứa con yêu” để chỉđứa trẻ được yêu nhất trong số các con Dạng danh từ được đưa vào lần đầu tiên
trong bản dịch sách Diễm ca, nơi nó được dùng để chỉ tình yêu, và trong Tân Ước
nó đã trở thành từ cơ bản của khái niệm tình yêu Nhưng từ ảγάπη không có chút
“sức mạnh kỳ diệu” nào của từ ẻρãν (yêu đương), mà nó có cái gì đó thuộc về tình thân ái của φιλεĩν (yêu quý, quý mến) Trong Kinh Thánh ở Hy Lạp nó được dùng
để chỉ tình yêu của Chúa 26
Bởi Kinh Thánh quan niệm về tình yêu như vậy, nên trong Siêu lý tình yêu, triết gia V.Solovew đã dẫn ra rằng: “Theo Tuyệt diệu ca và sách Khải huyền,
“Không phải ngẫu nhiên mà những quan hệ nam nữ không những được gọi là tìnhyêu, mà còn, theo quan niệm chung, biểu thị bản chất tình yêu, là kiểu mẫu và lýtưởng của mọi thứ tình yêu khác” [28, tr.244]
Trong văn hóa truyền thống Trung Hoa, yêu (愛 – ái) là sự kết hợp của chữ
tâm ( 心) và chữ thụ (受) – nghĩa là nhận lấy, đón lấy Chữ tâm đứng chính giữa chữ
thụ, vì vậy mà yêu giống như một bàn tay đang trao tặng trái tim vào một bàn tay
khác Ở đây, yêu được mô tả là tình cảm xuất phát từ tâm hồn, vô tư, không vị kỷ
Như vậy, khởi thủy, Tình yêu là một khái niệm rộng, bao hàm hết các nghĩa yêu thương, mà theo từ điển Wikipedia định nghĩa: “Tình yêu là một loạt các cảm
xúc, trạng thái tâm lý, và thái độ khác nhau dao động từ tình cảm cá nhân đến niềm
26 http://academic.udayton.edu/vernelliarandall/poetry/love.htm
Trang 25vui sướng Tình yêu thường là một cảm xúc thu hút mạnh mẽ và nhu cầu muốnđược ràng buộc gắn bó Nó cũng có thể là một đức tính đại diện cho lòng tốt củacon người, sự nhân từ, và sự thông cảm” 27.
Tuy nhiên, trong 4 dạng thức của tình yêu, người Hy Lạp cổ đã dùng từ Eros
để chỉ một dạng cảm xúc lãng mạn thuộc về quan hệ nam – nữ Trong học thuyết vềnguồn gốc vũ trụ của đạo Orphée cũng cho rằng “khởi thủy thế giới là Đêm và Hư
không Đêm đẻ ra một quả trứng, từ quả trứng ấy nở ra thần Ái tình Eros, trong khi
ấy thì Đất và Trời hình thành từ hai nửa vỏ trứng vỡ Eros, vị thần đẹp nhất giữa
các thần bất tử, có sức làm tê liệt tứ chi, xâm chiếm lồng ngực mọi thần linh và người trần, chế ngự mọi trái tim và trí khôn (…) chàng vừa là con của Aphrodite
Pandemos, nữ thần của nhục dục, thô bạo, vừa là con của Aphrodite Ourania, nữ thần của tình yêu thanh khiết Chàng cũng có thể sinh ra, theo nghĩa tượng trưng, từ
sự giao cấu giữa Poros (Mưu trí) và Pesnia (Bần cùng), bởi vì chàng vừa luôn luônkhông thỏa mãn trong những cuộc săn tìm đối tượng của mình lại vừa đầy mánhkhóe nhằm đạt được mục đích Eros hay được biểu hình hơn cả như một cậu bé hay
một thiếu niên có cánh khỏa thân, bởi vì thần hiện thân cho một dục vọng không
cần đến môi giới và không biết che giấu mình Việc thần Eros là một đứa trẻ tượng
trưng cho sự trẻ trung vĩnh viễn của mọi tình yêu sâu sắc, nhưng đồng thời cũng chomột sự vô trách nhiệm nhất định”28
27https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%ACnh_y%C3%Aau
28 Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, tr.927.
Trang 26Trong luận văn này, khi lựa chọn đề tài Diễn ngôn tình yêu trong phim The
English patient và The reader, chúng tôi đã xác định ý nghĩa và giới hạn của khái
niệm tình yêu, bản chất tình yêu trong dạng thức Tình yêu nam – nữ
29 , https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%ACnh_y%C3%Aau
30 Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, tr.927.
Trang 27Bản chất của tình yêu nam nữ luôn được xem là bí ẩn và khó định nghĩa nhất.Tính chất phức tạp và trừu tượng của dạng tình yêu này đã tạo ra muôn vàn các địnhnghĩa, triết lý, diễn ngôn về tình yêu trong đời sống cũng như trong lĩnh vực vănhóa nghệ thuật “Bất chấp mọi bất hạnh và mọi tồi tệ, chúng ta vẫn luôn tìm kiếmtình yêu và được yêu Trên mặt đất này, tình yêu là cái gần cận nhất với phúc lớncủa những niềm hạnh phúc” (21, tr.127)
Trong bài tiểu luận Tình yêu – lửa hai ngọn, Octavio Paz đã khái quát rằng
“sau hai ngàn năm, ở phương Đông và phương Tây, trí tưởng tượng tạo ra nhữngđôi uyên ương lý tưởng đã kết tinh những ham muốn, những ước mơ, những nỗi hãihùng và những ám ảnh của chúng ta… Là những biểu tượng của tình yêu, nhữngcặp uyên ương này đã biết một niềm hạnh phúc ngoại hạng nhưng cũng là một kếtcục bi thương” [21, tr.127] Mặc dù là huyền thoại Do Thái – Cơ đốc giáo, Adam vàEva chính là cặp uyên ương căn bản “khởi thủy và chung cục của mỗi cặp uyênương” Adam và Eva không chỉ là biểu tượng của tình yêu, ham muốn bản năngtrong tình yêu, mà còn là hình ảnh của thân phận con người, thân phận tình yêu Haingười sống ở Thiên đường, nơi thời gian “vĩnh hằng”, nhưng vì tội lỗi “nếm tráicấm” khi ý thức về giới tính và xác thịt trần trụi của nhau, cả hai đã bị ném vào
“thời gian liên tục, vào sự thay đổi, vào tai biến, vào lao động và vào cái chết” [21,tr.126] Mỗi một cặp uyên ương sau họ, con cháu của họ đã sống lại lịch sử củamình, đau cái nỗi hoài niệm về Thiên đường của tình yêu Từ cặp uyên ương cănbản Adam và Eva, Octavio Paz cho rằng “Sáng tạo lại tình yêu là sáng tạo lại cặpuyên ương nguyên thủy, là sáng tạo ra những người bị trục xuất khỏi Thiên đường,cũng tức là những người đã sáng tạo ra thế giới này và lịch sử của nó” Cùng vớidòng chảy vô tận của thời gian, con người khắp nơi trên trái đất này đã sống, chết,yêu để rồi sáng tạo nên những cặp đôi yêu nhau bất hủ, cùng với nó là những diễnngôn tình yêu đa dạng trong thế giới huyền thoại cũng như trong các tác phẩm vănhóa nghệ thuật Có thể kể ra một số biểu tượng tình yêu bất hủ tiêu biểu trong văn
hóa Hy Lạp như: mối tình thuần khiết, lý tưởng của Tristan và Iseult 31, mối tình
31 Chàng hiệp sĩ Tristan mang sứ mệnh lên đường tới Ireland để ngỏ lời cầu hôn công chúa Iseult cho chú của chàng là vua Mark ở Cornwall Trên đường hộ tống công chúa trở về vương quốc, cả Tristan và Iseult đã uống nhầm một thứ rượu nhiệm màu khiến tình yêu trong họ chớm nở Mặc dù vậy, cả hai đều giữ lòng trung tín với đức vua và không dám đi quá xa trong chuyện tình cảm Khi phát hiện tình cảm của hai người, vua Mark vô cùng tức giận và muốn trừng phạt họ Nhưng hai người đã kịp chạy trốn vào rừng Khi nhà vua vào rừng và nhìn thấy cả hai đang nằm ngủ với một thanh gươm để giữa hai người, ngài vô cùng cảm kích trước
Trang 28chung thủy của Orpheus và Eurydice 32 đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều tácphẩm hội họa, văn học và điện ảnh Ngoài ra, phải kể đến những mối tình thầnthoại, giai thoại bất hủ đã trở thành biểu tượng tình yêu trong văn hóa Phương Đông
như: Layla - Majnun của Ả Rập, Hoàng tử Saleem và nô lệ Anarkali của Ấn Độ,
Ngưu Lang - Chức Nữ, Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài của Trung Hoa…
Mang tính điển hình và phổ quát nhất phải kể đến mối tình Jomeo và Juliet, vốn
là câu chuyện có thật ở nước Italya thời Trung Cổ và thực sự trở thành cặp đôi huyềnthoại trong vở kịch cùng tên của đại văn hào người Anh W.Shakespeare Romeo vàJuliet yêu nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên, nhưng đôi uyên ương thuộc về hai dòng họ
có mối thù truyền kiếp nên không thể đến được với nhau Juliet bị gia đình ép gả chomột quý tộc, nhờ tu sĩ nhà thờ giúp đỡ, nàng đã uống một liều thuốc ngủ giả chếttrong hầm mộ 24 giờ để chờ Romeo đến đưa đi Không ngờ khi Romeo đến, tưởngJuliet chết thật, chàng đã đã uống thuốc độc tự tử theo người yêu Juliet tỉnh dậy vànhìn thấy xác Romeo bên cạnh cũng rút dao tự sát theo Cái chết tang thương của haingười đã thức tỉnh hai dòng họ đi tới hành động xóa bỏ mối thù truyền kiếp
Mối tình lãng mạn và bi kịch của Romeo và Juliet chứa đựng trong đó rấtnhiều diễn ngôn tình yêu: tình yêu bắt đầu từ ánh mắt, tình yêu là tột cùng hạnhphúc và bất hạnh cùng cực, tình yêu đem lại cuộc sống và cái chết, tình yêu hóa giảihận thù, kiếp người hữu hạn nhưng tình yêu là vĩnh cữu… Đó vừa là bản chấttình yêu lãng mạn nhưng trong trắng của họ, và quyết định tha thứ tất cả mọi lỗi lầm Iseult trở lại triều đình, còn Tristan tình nguyện đến xứ Bretagne Tại đây, chàng cưới quận chúa Iseult “bàn tay trắng” bởi tên gọi của nàng gợi nhớ đến tình yêu trong trái tim chàng Nhưng tình yêu dành cho nàng Iseult vẫn không bao giờ nguôi ngoai, chàng không bao giờ gần gũi vợ mình mà chỉ một lòng thương nhớ đến người yêu dấu Trong một lần đấu kiếm, Tristan bị trọng thương Chàng ngầm sai gia nhân đem thuyền rước Iseult đến, bởi chỉ có
sự hiện diện của nàng mới giúp chàng hồi phục Nhưng quận chúa “bàn tay trắng” đã biết được điều này, và tìm cách gạt Tristan rằng Iseult không tới Quá đau buồn, chàng gục xuống và chết… Nàng Iseult cũng gục chết trên xác chàng Sau khi hai người được chôn cất, trên mộ của họ mọc lên hai thân cây đan chặt vào nhau Nếu chặt chúng đi thì cành mới sẽ lại mọc lên to hơn, rậm rạp hơn, và còn bện chặt chẽ hơn nữa.
32 Orpheus là một trong 9 thi sĩ lừng danh của Hy Lạp cổ đại, nổi tiếng với giọng ca và tiếng đàn lia Tình
yêu của Orpheus dành cho người vợ Eurydice đã viết nên câu chuyện tình bất hủ Chuyện kể rằng, trong một lần dạo chơi trong rừng, Eurydice đã bị Aristaeus rượt đuổi và bị rắn cắn chết Đau lòng trước cái chết của nàng, Orpheus đã tìm đường xuống địa ngục, vượt qua những bóng ma và âm hồn, và đến cầu xin trước mặt
âm vương Pluto và hoàng hậu Persephone Tiếng đàn của Orpheus đã làm âm gian cảm động, Pluto và Persephone sau đó đồng ý cho phép Eurydice trở lại dương gian, nhưng với một điều kiện: Trước khi cả hai lên đến dương thế, Orpheus phải tuyệt đối giữ tim lặng và không được ngoái lại nhìn vợ đang đi phía sau Hành trình trở lại dương gian dài đằng đẵng, nhưng sau một thời gian lâu, Orpheus không nghe thấy tiếng bước chân và hơi thở của Eurydice nữa, chàng lo lắng quay đầu nhìn lại Chàng chỉ còn thấy hình ảnh nàng Eurydice lùi nhanh về phía địa phủ rồi biến mất Orpheus vội quay lại nhưng người lái đò âm gian không cho phép chàng đi tiếp, dù chàng phải quỳ ở đó suốt 7 ngày 7 đêm Trở lại dương gian, tình yêu dành cho vợ vẫn chưa thể nguôi ngoai Cho đến lúc chết, cây đàn lia của chàng vẫn vang lên tiếng hát tha thiết, yêu thương.
Trang 29nguyên thủy của tình yêu căn bản, vừa là sự lý tưởng hóa, bất tử hóa của một tình
yêu thần thánh Bởi vậy, tình yêu của Romeo và Juliet được xem là câu chuyện tình
của mọi thời đại, trở thành biểu tượng tình yêu có sức sống vĩnh hằng và luôn hiệnhữu trong ý niệm về tình yêu
Từ khi ra đời, Jomeo và Juliet đã trở thành nguồn cảm hứng và ảnh hưởng rất
lớn cho nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác Trong hội họa có rất nhiều tác phẩm nổitiếng lấy đôi uyên ương này làm đề tài Trong điện ảnh, có hai bộ phim chuyển thểcùng tên năm 1968 của đạo diễn Franco Zeffirelli và năm 1996 của đạo diễn BazLuhrmann Một cuộc nghiên cứu thử nghiệm gần đây của trang web Lovefilm.comvới 1.000 người tình nguyện, gồm cả hai giới với số lượng cân bằng Các tìnhnguyện viên được cho xem các trích đoạn tình cảm tiêu biểu từ nhiều bộ phim, mỗitrích đoạn dài khoảng 10 phút Trong khi xem, mỗi người đều được đặt máy đo nhịptim và huyết áp Kết quả cho thấy trích đoạn phim lấy được nhiều nước mắt thươngcảm của khán giả nhất (có gần 20% tăng nhịp tim khi xem) là cảnh Romeo và Julietchết theo nhau trong bộ phim của đạo diễn Baz Luhrmann sản xuất năm 1996, với
sự tham gia của cặp diễn viên Leonardo DiCaprio và Claire Danes33 Ca khúc A
time for us, thường được gọi một cách gần gũi là bài Romeo và Juliet - là bài hát
được viết riêng cho bộ phim Romeo và Juliet, ngay sau khi bộ phim ra mắt vào năm
1968, đã nhanh chóng trở thành bài hát “tình yêu nhất” của giới trẻ Ngay đến cảban công nhà Juliet, một bối cảnh hư cấu trong bộ phim, mà theo truyền thuyết là ởthành phố Verona nước Ý, nơi đôi tình nhân đã lén lút gặp nhau trong đêm, cũng đãtrở thành một địa đểm du lịch huyền thoại 34
33 cua-moi-thoi-dai.html
http://tranngocthem.name.vn/gioi-thieu-thu-gian-kinh-nghiem/thu-gian/65-romeo-va-juliet-chuyen-tinh-34 cua-moi-thoi-dai.html
Trang 30http://tranngocthem.name.vn/gioi-thieu-thu-gian-kinh-nghiem/thu-gian/65-romeo-va-juliet-chuyen-tinh-Ban công nhà Juliet – tranh của họa sĩ Frank Dicksee (1853-1928)
Trang 311.4 Các xu hướng hình thành diễn ngôn tình yêu trong phim điện ảnh
1.4.1 Xu hướng lãng mạn hóa (romantic)
Thuật ngữ romantic (lãng mạn) lần đầu xuất hiện vào thế kỷ XVIII , bắt đầu từ thuật ngữ tiếng Anh romancelike, có nghĩa là giống với nhân vật kỳ lạ trong những
tác phẩm thể loại romance thời trung cổ (medieval romance) Đây là một thể loạiphổ biến, dưới hình thức thơ hoặc văn xuôi, liên quan đến truyền thuyết, hiện tượngsiêu nhiên hay những chủ đề tình cảm với các nhân vật yêu đương si mê Sau này,
thuật ngữ romance được dùng để chỉ những câu chuyện liên quan đặc biệt đến các
hiệp sĩ, tinh thần thượng võ, tình yêu cao quý [11] Chủ nghĩa lãng mạn trong vănhọc là một trào lưu có mặt ở hầu hết các nước châu Âu, nước Mỹ và khu vực Mỹ Latinh Trào lưu này phát triển khoảng từ năm 1750 tới 1870 Điểm nổi bật của vănhọc lãng mạn là sự đề cao trí tưởng tượng và tính chủ quan trong quá trình tiếpcận, thể hiện và lý tưởng hóa tình yêu Bởi vậy, chủ nghĩa lãng mạn còn được gọi là
chủ nghĩa tình cảm Biélinski trong bài Văn học Nga, năm 1841, định nghĩa: "Chủ
nghĩa lãng mạn, đó là thế giới nội tâm của con người, thế giới của tâm hồn và trái tim" Có thể nhìn qua những nét chính thể hiện trong những tác phẩm lãng mạn để
nhận ra rằng chủ nghĩa lãng mạn là thứ nghệ thuật ở đó nổi trội chất trữ tình Đốilập với hiện thực là lãng mạn, đối lập với tự sự là trữ tình Trữ tình là kết quả củaviệc biểu hiện cảm xúc, tâm trạng chủ quan của con người, do phản ánh ước mơ vàkhát vọng của con người nên thường vươn lên trên thực tại Hai phạm trù nghệ thuậtnày tuy khác nhau nhưng thường đi đôi với nhau Trữ tình chính là sự mở rộng chủnghĩa cá nhân, thể hiện ở những hiện tượng cảm tính như tình cảm, cảm xúc về tìnhyêu, hi vọng, tuyệt vọng, hận thù, thiện cảm, ưu phiền
Tình yêu là đề tài quan trọng và chủ yếu dòng văn học lãng mạn Từ khi rađời, dòng văn học lãng mạn luôn có một sức sống mạnh mẽ và bền bỉ trong lòngđộc giả, là sự lựa chọn gần như hàng đầu của độc giả đại chúng35 Từ những thiên
35 Năm 2013, theo ước tính của Hiệp hội Các nhà văn Lãng mạn Mỹ (RWA), tổng doanh số bán sách tiểu thuyết lãng mạn trên toàn cầu là 1,08 tỉ USD, chiếm 13% trong tổng lượng tiêu thụ dòng sách tiểu thuyết dành cho người lớn trong cùng năm đó Năm 2015, chỉ tính riêng ở Anh đã bán được 39,8 triệu bản cứng các cuốn sách thuộc thể loại lãng mạn và khiêu dâm với trị giá lên tới gần 257 triệu USD Đây là thể loại có nhiều hình thức hoạt động sáng tạo nhất trong việc xuất bản độc lập và tự xuất bản Trong những cuốn e-
Trang 32tình sử kinh điển bất hủ như: Romeo và Juliet của W.Shakespeare, Gone with the
wind của Margaret Mitchell, Jane Eyre của Charlotte Bronte, Wuthering heights của
Emily Bronte, The thorn birds của Colleen McCulough, Pride and prejudice của Jane Austen, Love in the time of cholere của G.G.Marquez, Doctor Zhivago của
Boris Pastemak… vốn hầu hết được xếp vào danh sách những cuốn tiểu thuyết lãngmạn hay nhất mọi thời đại, cho đến các câu chuyện tình best seller bán chạy trên thế
giới như: The bridges of Madison của R.J.Waller, Love story của Erich Segal, One
day của David Nicholls, Legends of the fall của Jim Harrison, The notebook, Fifty shader của E.L.James, A walk to remember của “ông hoàng tiểu thuyết tình cảm”
Nicholas Sparks… đã tạo cơ sở cho sự hình thành thể loại phim tình cảm lãng mạntrong điện ảnh Tất cả những tác phẩm văn học mà chúng tôi liệt kê trên đã đượcchuyển thể lên phim, và hầu hết cũng trở thành những bộ phim tình cảm lãng mạnthành công về doanh thu thương mại cùng với các giải thưởng điện ảnh danh giátrên thế giới
Phim lãng mạn là một thể loại chủ đạo và ưa thích của điện ảnh trên toàn thếgiới nói chung và điện ảnh Hollywood nói riêng Đó là các câu chuyện tình, hoặcnhững mối quan hệ của con tim tập trung vào những đam mê, tình cảm lãng mạn(thường là nam – nữ), và lộ trình mối tình của họ sẽ phát triển theo thời gian hoặctiến tới hôn nhân Các phim lãng mạn lấy chuyện tình hoặc việc tìm kiếm tình yêulàm trọng tâm chính cho cốt truyện Phim lãng mạn thường khám phá những chủ đềquan trọng như tình yêu từ cái nhìn đầu tiên, mối tình đầu, tình yêu không được đáplại, tình yêu ám ảnh, tình yêu ủy mị, tình yêu tinh thần, tình yêu bị ngăn cấm, tìnhyêu nhục dục và đam mê, tình yêu hi sinh, tình yêu lợi dụng và phá hoại…
book đầu tiên cũng có tên của những cuốn tiểu thuyết lãng mạn Theo công ty phân tích dữ liệu e-book Jellybooks, độc giả của thể loại này có xu hướng đọc sách lãng mạn trên smartphone nhiều gấp đôi so với thể
loại tiểu thuyết văn chương hay so với các độc giả của dòng sách phi hư cấu (Sức sống âm thầm của dòng
sách lãng mạn, Quỳnh Ca dịch theo Economist)
Nguồn: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=9791&CategoryID=41
Trang 33Những bộ phim từ buổi đầu tiên của nền điện ảnh câm đã kết hợp yếu tố hiện
thực với sự lãng mạn, trí tưởng tượng Bộ phim dài 20 giây của Thomas Edison The
may irwin kiss hay The kiss (1896) nổi tiếng vì là phim đầu tiên ghi lại nụ hôn của
một đôi vợ chồng Intolerance (1916) của đạo diễn D.W.Griffith với phụ đề “Cuộc
đấu tranh của tình yêu qua mọi thời đại” kể về mối tình đơn phương giữa cô sơn nữ
khoác da thú với chàng hoàng tử Babylon Sadie Thompson (1928) của đạo diễn Raoul Walsh là bản phim chuyển thể đầu tiên từ tiểu thuyết kinh điển của Somerset
Maugham về một cô gái điếm và một nhà truyền giáo đức hạnh trên một hòn đảonhiệt đới
Năm 2002, AFI (Viện hàn lâm phim Mỹ) đã lựa chọn 100 phim tình cảm hay
nhất thế kỷ từ danh sách 400 phim được đề cử Theo AFI, 100 phim này là “những
câu chuyện điện ảnh phức tạp về trái tim và đã trở thành một phần không thể thiếutrong lịch sử điện ảnh Mỹ”36
Trong biểu tượng là một cậu bé có đôi cánh khỏa thân và cầm cung tên, tìnhyêu như là diễn ngôn của trí tưởng tượng và sự lãng mạn bay bổng Chúng tathường cho rằng bàn luận về tình yêu là một sự lãng mạn Bởi vậy xu hướng lãngmạn hóa tình yêu trong phim tình cảm là một tất yếu, từ đó mà chúng ta thường gọi
là phim tình cảm lãng mạn hay có cách nói “tình yêu là phải lãng mạn”, “lãng mạn
như phim” Theo quy luật của cảm xúc, con người luôn mong muốn và khao khát
có được một mối tình đẹp, lãng mạn, nếu có gặp trắc trở, khó khăn thì cuối cùngnhững người yêu nhau cũng đến được với nhau Nhưng trong cuộc sống hiện thực,phần lớn khát vọng đó không diễn ra Bởi vậy chúng ta có nhu cầu được nhìn thấykhát vọng đó ở một hình thức khác, ảo ảnh khác Phim lãng mạn ra đời thỏa mãn
“tầm đón đợi” của khán giả, vừa là lối thoát vừa là khát vọng mơ ước của ngườixem về những mối tình đẹp, gần như không có thực ngoài đời
Xu hướng lãng mạn hóa tình yêu trong phim, tiêu biểu nhất là nền công nghiệpđiện ảnh Hollywood được thể hiện qua những công thức đặc trưng đạt tới trình độ
36 https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_100_phim_t%C3%ACnh_c%E1%BA%A3m_c%E1%BB
%A7a_Vi%E1%BB%87n_phim_M%E1%BB%B9
Trang 34chuẩn mực và kinh điển Dấu hiệu đầu tiên mà người xem từ mong đợi đến quy ước
cho những bộ phim tình yêu được thể hiện ở cái kết happy anding (vốn đã trở thành
thuật ngữ trong công thức và cấu trúc làm phim của Hollywood) Cụ thể là ngườixem muốn nhìn thấy một nụ hôn say đắm hay một đám cưới hạnh phúc ở cuối phimsau khi các cặp đôi uyên ương đã trải qua rất nhiều sóng gió để đến được bên nhau.Tuy nhiên, công thức tạo ra “chất lãng mạn” được thể hiện mạnh mẽ và sinh động
nhất thông qua motip tình cảm quen thuộc như: Hoàng tử - Lọ Lem, Tình yêu sét
đánh, Mối tình đầu…, điển hình nhất là thuật ngữ Tristan và Romeo và Juliet đã trở
thành hai trong tám mẫu truyện cơ bản, phổ biến nhất để các nhà biên kịchHollywood xây dựng nên một cốt truyện tình lãng mạn chinh phục khán giả
Tristan là những chuyện tình tay ba (hai người yêu một người, hoặc một người yêu
hai người), chàng yêu nàng nhưng không may một trong hai người hoặc cả hai đều
đã đính ước [22, tr.90] Casablanca, The bridges of Madison, Titanic, In the mood
for love… là những bộ phim tiêu biểu cho những biến thể mới của biểu tượng Tristan trong tình yêu, nói về những mối tình ngoại hôn, tình tay ba éo le ngang trái,
đều xếp hạng trong 100 phim tình cảm hay nhất thế kỉ do Viện hàn lâm phim Mỹ bình chọn Thuật ngữ Romeo và Juliet đã trở thành mẫu truyện tình yêu ngang trái
căn bản, đơn giản hơn nó là sự khái quát hóa của một cốt truyện tình: “Chàng gặpnàng, chàng mất nàng, chàng đi tìm/hay không đi tìm nàng – là vế nào cũng được”
[22, tr.90] (West side story, When Harry met Sally, Tge Graduate, Sleepless in
Seattle, Nothing hill, Titanic, Shakespeare in love, Wall – E, The constant, Gardener, Kiss kiss bang bang…)
Để có được một bộ phim tình yêu lãng mạn chinh phục và đáp ứng đúng “tầmđón đợi” của khán giả đại chúng, các nhà làm phim Hollywood đặc biệt quan tâmtới việc sáng tạo ra những cặp đôi yêu nhau ấn tượng, mới mẻ, mang tính thời đại,vừa gần gũi quen thuộc vừa được lý tưởng hóa, khiến người xem phải mơ ước Haingười yêu nhau và không dễ dàng đến được với nhau Tình yêu giữa họ phải đượcđặt vào những thử thách éo le, trắc trở vô cùng phong phú và đa dạng để họ có cơhội thể hiện được tình yêu mãnh liệt cũng như đấu tranh để giành được tình yêu
Trang 35đích thức Đó là cuộc tình thăng trầm theo thời đại của Scarlett kiêu hãnh và Rhett
Butler hào hoa trong Gone with the wind; mối tình khác biệt về đẳng cấp giầu
-nghèo giữa nàng Rose quý tộc và chàng Jack bình dân trên con tàu huyền thoại
Titanic trong phim Titanic; tình yêu vượt qua ranh giới giữa sống và chết giữa oan hồn Sam và người vợ sắp cưới Molly trong Ghost; chuyện tình cổ tích thời hiện đại giữa cô gái điếm và một thương gia giàu có trong Pretty women; tình yêu đồng tính
bị ngăn cấm của hai chàng cao bồi trong Brokeback moutain, tình yêu giả tưởng của một cô gái và ma cà rồng trong Twillight…
Bên cạnh đó, yếu tố lãng mạn của các phim tình yêu còn được tìm kiếm vàkhai thác thông qua những yếu tố khác của tự sự và tính mỹ học Các yếu tố tự sự
đó là: không gian tình yêu lý tưởng và khác biệt (The English patient, The love,
Titanic, Brokeback moutain, In the mood for love, happy toghether, The hole…);
những chi tiết, tình huống lãng mạn, ấn tượng (ví dụ: anh chàng si tình Noah trong
The notebook ngày nào cũng viết một lá thư cho người yêu dù không bao giờ nhận
được hồi âm; Tô Lệ Chân và Châu Mộ Văn tập diễn cảnh tình yêu trong In the
mood for love, cô gái điếm đóng vai bạn gái bạn gái của thương gia trong Pretty women….); những câu nói, câu thoại về tình yêu ý nghĩa, chạm tới trái tim người
xem (ví dụ: “Love means never having to say you are sorry” – yêu là không bao giờ phải nói lời hối hận, trong phim Love story ; “Love is like the wind, you can ’ t see it but you can feel it” – tình yêu như một cơn gió, bạn không thể thấy nhưng bạn
luôn có thể cảm nhận được” trong phim A walk to remember…) Về tính mỹ học đó
là vẻ đẹp của hình thức thông qua những đặc trưng của ngôn ngữ điện ảnh như:cảnh quay, ánh sáng, âm nhạc, hình thể và diễn xuất của diễn viên
Tất cả những dấu hiệu, công thức nhằm tạo nên chất lãng mạn trong những bộphim tình yêu không chỉ nhằm tới mục đích tạo ra tính giải trí, đáp ứng thị hiếu củakhán giả đại chúng, mà xu hướng lãng mạn hóa đã góp phần tạo nên tính mỹ học,khát vọng lý tưởng hóa, đẹp hóa tình yêu trên phim ảnh
1.4.2 Xu hướng bi kịch hóa (tragedy)
Trang 36Trong Thi pháp học của mình, Arixtot định nghĩa “bi kịch là sự mô phỏng một
hành động quan trọng và trọn vẹn có một quy mô nhất định, bằng hành động, chứ
không phải bằng câu chuyện kể, bi kịch, qua cách (khêu gợi lên – N.D) sự xót
thương và sợ hãi, thực hiện sự thanh lọc các cảm xúc đó” [1, tr.35] Trong các lý
thuyết về bi kịch và cái bi, nhất là của Heghen các định nghĩa đều cách này cách
khác gắn với các khái niệm định mệnh”, số phận – những cái chết như toàn bộ cuộc đời con người, hoặc gắn với khái niệm tội lỗi của nhân vật bi kịch đã vi phạm một
điều luật tối cao nào đó và phải bị trừng phạt [10, tr.161]
Mở đầu cho bài tiểu luận Tình yêu – hai ngọn lửa, một diễn ngôn tình yêu sâu
sắc của Octavio Paz, ông đã viết: “Như mọi sáng tạo lớn của con người, tình yêu làhành động kép: vừa là tột cùng hạnh phúc vừa là bất hạnh cùng cực… Ngôn ngữdân gian, ở mọi thời và ở mọi nơi, luôn luôn phong phú trong các cách diễn đạt chấtthông tục của người đang yêu: tình yêu là một vết thương, một vết thương khôngkín miệng” [21, tr.118] “Mọi tình yêu thảy đều bất hạnh, và tất thảy đều là cái tổmong manh của hai sinh vật có cuộc đời ngắn ngủi đã biết rằng mình sẽ chết Từ
đam mê (pasion) có nghĩa là đau khổ và mở rộng ra nó còn ám chỉ tình cảm yêu
đương Tình yêu là nỗi đau khổ, là lòng phiền muộn bởi vì nó là sự thiếu vắng và làham muốn được sở hữu cái mà chúng ta ham muốn mà lại không có” [21, tr.120] Kiến giải từ bản chất và quy luật của tình yêu trong cuộc sống, chúng ta nhận
ra bi kịch hay cảm hứng bi kịch là xu hướng tất yếu và hiện hữu trong các tác phẩmnghệ thuật nói chung và điện ảnh nói riêng Thực chất, xu hướng bi kịch hóa trongtình yêu cũng là một trong những chủ đề chính của chủ nghĩa lãng mạn Vănchương lãng mạn bắt nguồn từ nỗi đau thương sầu muộn trong mối tình đơn phươngtuyệt vọng dẫn tới cái chết bi thảm của chàng Werther của văn hào J.W.VonGoethe Một số nhà Thơ Mới ở Việt Nam theo trào lưu lãng mạn phương Tây đã
định nghĩa “Yêu là chết ở trong lòng một ít, vì mấy khi yêu mà chắc được yêu” (Yêu
- Xuân Diệu), “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở, đời mất vui khi đã vẹn câu thề” (Hồ
Zếch) Bởi vậy, có thể nói, trong ý niệm về tình yêu, con người đã nghĩ tới những gì
gọi là đau khổ, bất hạnh, bi thảm Tình yêu là cái Đẹp và cái Bi là một phần của cái
Trang 37Đẹp đó Thực tế đã chứng minh chúng ta xót thương và sợ hãi khi nghe/đọc/xem
một câu chuyện tình bi thảm, bởi nó liên hệ tới những ký ức và sự trải nghiệm tình
yêu của mỗi cá nhân, nhưng chúng ta lại ám ảnh và không thể quên được chúng, nó tạo nên một khoái cảm Đẹp và Buồn Những biểu tượng tình yêu bất hủ mà chúng
tôi đã kể ở trên đều là những mối tình đẹp nhưng có kết cục bi thảm, bi đát vớinhững cái chết của một hoặc cả hai người yêu nhau Những câu chuyện tình buồn
với cảm hứng bi kịch đôi khi có sức sống và khả năng thanh lọc tâm hồn hơn những
câu chuyện tình được lý tưởng hóa
Trong thể loại phim tình cảm, bên cạnh xu hướng lãng mạn hóa về tình yêu thì
xu hướng bi kịch hóa là một lựa chọn vừa mang tính mỹ học vừa đáp ứng thị hiếucủa người xem Ở Hollywood, cũng như các thể loại khác, cấu trúc của phim tình
cảm được công thức hóa thành 3 hồi để hình thành nên cốt truyện mẫu (gốc): Hai
người gặp gỡ và yêu nhau – Họ trải qua những thử thách kịch tính - Cuối cùng họ
có được cái kết happy and (xu hướng lãng mạn hóa) hoặc kết bi (xu hướng bi kịch hóa) Từ công thức đó, để có thể biến hóa nên “muôn hình vạn trạng” các chuyện
tình hấp dẫn và mới mẻ khác nhau, thì những thử thách kịch tính (mà trong khái
niệm của kịch bản được gọi là vật cản) sẽ phải rất đa dạng và phong phú Đó là
những biến cố cản trở, xung đột, khủng hoảng, mâu thuẫn về: giàu nghèo, tôn giáo,địa vị xã hội hoặc chủng tộc, bệnh tật, chia rẽ gia đình, những ràng buộc tâm lý, sựkhác nhau về lối sống quan niệm định kiến, những căng thẳng của cuộc sốngthường nhật, những cám dỗ, sự phản bội… tất cả đều có thể thành nguy cơ theo cáccấp độ khác nhau đe dọa, phá vỡ sự gắn bó và đạt tới tình yêu của đôi uyên ương
Có thể kể ra những bộ phim điển hình sau: cái tôi và sự kiêu hãnh quá lớn cùng
những bi kịch đời thường giết chết tình yêu trong Gone with the Wind; chiến tranh
và sự xáo trộn của thời cuộc giết chết tình yêu trong Casablanca, The English
Patient; bổn phận và trách nhiệm giết chết tình yêu trong The Bridges of Madison County; thảm họa giết chết tình trong Titanic; lời nói dối thơ ngây giết chết tình
trong Atonement; định kiến xã hội giết chết tình trong Brokeback Mountain, Carol,
Trang 38In the Mood for Love; sự vỡ mộng giết chết tình trong Revolutionary Road; sự lãng
quên giết chết tình trong Eternal Sunshine of the Spotless Mind…
Những bộ phim kể trên đều không có kết thúc bằng happy ending theo xu hướng lãng mạn hóa Bên cạnh đó, cái chết là biểu hiện cao nhất của xu hướng bi kịch hóa tình yêu Mối tình của Jomeo và Juliet và cái chết bi thảm của hai người là
nguyên mẫu gốc, biểu tượng cho diễn ngôn “tình yêu đem lại cuộc sống và cái chết;
tất thảy đều phụ thuộc vào những người tình” [21, tr.122] Trong Siêu lý tình yêu,
triết gia V.Soloview đã nói “Tình yêu mãnh liệt đặc biệt thường đa số là bất hạnh,
mà tình yêu bất hạnh rất hay đẩy đến tự sát dưới hình thức này hay hình thức kia”
[28, tr.236] Cái chết minh chứng cho tình yêu đích thực (Romeo và Juliet…); cái chết chia rẽ tình yêu lãng mạn (Love story, Ghost, the English Patient, Brokeback
Mountain, Titanic, Sweet november…); cái chết là sự bế tắc cùng cực trong tình yêu
(Anna Karenina… ); cái chết là phép thử của tình yêu (Amour) và trên hết, cái chết bất tử hóa tình yêu (Jomeo và Juliet)
1.4.3 Xu hướng tình dục hóa (erotic)
Bản chất của tình yêu nam nữ không chỉ thăng hoa về mặt cảm xúc, mà còn có
sự hấp dẫn nhau về mặt thể xác “Theo truyền thống, tình yêu là một tạo tác khôngthể dừng của tâm hồn và thể xác; giữa chúng, theo cách mở một chiếc quạt giấy,bừng nở một loạt tình cảm và cảm xúc đi từ tính dục đến thẳng tình cảm thiêngliêng, từ sự thân ái đến tình dục” [21, tr.122] Vậy nên, đề cập tới tình yêu trong mốitương quan hai mặt với tình dục là vấn đề nhân văn và nhân bản Tuy nhiên, xuhướng tình dục hóa trong phim tình cảm, tức là làm phim về tình yêu mà đề cập tới
tình dục thể hiện qua các cảnh sex, cảnh nóng có một quá trình lịch sử hình thành
phức tạp theo dòng chảy lịch sử và xu thế thời đại
Trước thế chiến II, những hình ảnh hôn nhau trên phim bị coi là cấm kị Năm
1953, hình ảnh của hai ngôi sao Burt Lancaster và Deborah Kerr nằm hôn nhau trên
bãi biển Hawaii được chọn làm poster của bộ phim From Here to Eternity của đạo
diễn Fred Zinnemann đã từng là đề tài tranh luận sôi nổi Cuối thập niên 60 và đầu
70, khi cuộc cách mạng giải phóng tình dục (sexual wave) hay nữ quyền diễn ra rầm
Trang 39rộ ở Âu-Mỹ, những bộ phim đề cập đến tình dục hay những cảnh nóng bỏng đãđược giới kiểm duyệt nương tay rất nhiều so với trước37 Điển hình là bộ phim Last
tango in Paris (1972) một bộ phim đặt dấu mốc về những hình ảnh sex trên màn
ảnh của đạo diễn Ý Bernardo Bertolucci Trong phim, nam diễn viên kỳ cựu MarlonBrando (gần 50 tuổi) và cô đào Pháp Maria Schneider (mới 19 tuổi) đã quay nhữngcảnh sex cực kỳ táo bạo với nhiều cảnh Maria khoả thân 100% Điều gì khiếnnhững cảnh phim đó không bị cắt bỏ và còn được nhiều nhà phê bình khen ngợi(phim được 2 đề cử Oscar cho đạo diễn và nam diễn viên chính xuất sắc nhất)? Đơngiản bởi bộ phim thuyết phục cao về mặt câu chuyện, kể về cuộc tình phiêu lưu đầy
ân ái của Paul, một người đàn ông trung niên Mỹ bí ẩn (vợ tự sát) và cô gái trẻ xinhđẹp người Pháp Jeanne sắp lấy chồng Họ gặp nhau, ân ái với nhau mà không cầnbiết đến thế giới xung quanh, đến quá khứ của nhau và thậm chí không cần biết đếnnhau Nhưng bên trong họ, đặc biệt là Paul với sự trống rỗng của nội tâm, vẫn là
sự giằng xé của bản ngã và sự vong thân Và cuối cùng, mối quan hệ đó dẫn họ đếnmột bi kịch không lối thoát với cái kết để lại nhiều nỗi ám ảnh cho người xem
Thể loại phim Erotic (khiêu dâm) là một dòng phim luôn tốn nhiều giấy mực
nhấ của giới phê bình và luôn gây được sự tò mò phấn khích ở người xem Khác với
loại phim Pornography (phim khiêu dâm thuần túy, hay còn có các tên gọi nôm na
khác là phim con heo, phim cấp 3) chỉ đơn thuần thỏa mãn nhu cầu nhục dục, Erotic
là phim có yếu tố và xu hướng tình dục thuộc dòng phim chính thống, các yếu tốkhiêu dâm trong đó được sử dụng và thể hiện qua ngôn ngữ điện ảnh một cách nghệthuật Do đó, nhiều bộ phim Erotic được đánh giá ở mức kiệt tác, là những bộ phimtạo được sức ảnh hưởng vượt tầm thời đại và đoạt rất nhiều giải thưởng điện ảnhcao quý (Oscar, Cành cọ vàng, Sư tử vàng, Gấu vàng…)
Điện ảnh thập niên 70 đã chứng kiến một cú đột phá về phim Erotic với In the
Realm of the Senses (1976) của đạo diễn Nhật Bản Nagisa Oshima Mối tình cuồng
nhiệt, đắm say của ông chủ Kichizo Ishida và cô hầu Sada Abe không được thể hiện
37 http://dep.com.vn/Mix-Match/Chuyen-khong-co-gi-ma-am-i/2367.dep
Trang 40qua đời sống tình cảm - tâm lý mà chúng ta vẫn thường xem thấy trên các bộ phimtình yêu, mà nó được trình hiện qua những cảnh làm tình được quay rất trần trụichiếm tới hơn nửa bộ phim Họ yêu nhau và làm tình tới chết trong “vương quốcnhục cảm” của mình Điều đó khiến nhiều người xem choáng váng và bộ phim đã bịcấm chiếu ở nhiều nước trên thế giới 38 Điều đáng nói là bộ phim này dựa theo mộtcâu chuyện có thật xảy ra trước chiến tranh ở Nhật, như một lời cảnh báo về sựbăng hoại giá trị đạo đức và sự lạm dụng tình dục Đạo diễn Nagisa Oshima đã sửdụng sex để diễn đạt và kiến tạo nên diễn ngôn tình yêu trong tương quan với diễnngôn tính dục trong hoàn cảnh xã hội, chính trị cụ thể
Sau thập niên 70, Erotic trở thành một thể loại - một dòng phim khá phổ biếncủa điện ảnh phương Tây và dần trở thành một xu hướng thời đại trong điện ảnhHollywood Tất nhiên để được công nhận và đạt đến mức nghệ thuật thì những bộphim của thể loại này phải chuyển tải được những thông điệp xã hội, ý đồ tư tưởng
chứ không chỉ là những cảnh sex thuần tuý Trong bộ phim Lolita (1962), Eyes
Wide Shut, đạo diễn Stanley Kubrick đề cập tình dục như một sự biến thái của con
người trong xã hội hiện đại và lý giải chúng dưới góc độ phân tâm học Tình dục –ngọn nguồn của đam mê xác thịt và tội lỗi trong tình yêu được thể hiện qua các bộ
phim: Dreamers của Bernardo Bertolucci, Nine onhalf weeks, Sự quyến rũ chết
người, Bội phản của Adrian Lyne; The piano teacher của Michael Haneke (đoạt 3
giải tại Cannes 2002), Intimacy của Patrice Chéreau (giải Sư tử vàng tại Venice 2001), Antichrist của Lars von trier, Lust, caution của Lý An, Love của Gaspar
Noe… Tình dục – sự thăng hoa của cảm xúc, khi tình yêu được tình dục dẫn lối
được thể hiện qua các bộ phim: 37 độ 2 buổi sáng của Jean Jacques Beineix, The
love của J.J Annaud, Blue is warmest colour của Abdellatif Kechiche (Cành cọ
vàng 2013), 9 Songs của Michael Winterbottom, Brokeback Mountain của Lý An
(Oscar cho giải đạo diễn 2005)…
38 1908041.html