1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

VĂN hóa AN GIANG TRONG mối QUAN hệ với văn hóa ấn độ và KHMER từ (THẾ kỷ i XIX)

96 492 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 797,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

An Giang một tỉnh thuộc Nam Bộ, có lịch sửvăn hóa gắn chặt với lịch sử văn hóa Nam Bộ, nghiên cứu lịch sử văn hóa An Giangthời kì cổ trung đại là một mảnh ghép không thể thiếu trong tổng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

MÃ SỐ: 60220313

Nông Nghiệp Việt Nam”

HÀ NỘI 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

VĂN HÓA AN GIANG TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI VĂN HÓA ẤN ĐỘ VÀ

KHMER TỪ (THẾ KỶ I - XIX)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60220313

Người hướng dẫn khoa học PGS.TS ĐINH NGỌC BẢO

HÀ NỘI 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện Các vấn đề và kết quả nghiên cứu trong đề tài chưa được công bố các công trình nghiên cứu khác.

Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

VÕ VĂN SỊNH

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Phòng đào tạo sau Đại học, quý thầy cô khoa Lịch sử, đã tạo điều kiện cho tôi được học tập và nâng cao kiến thức chuyên môn.

Đặc biệt, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy PGS TS Đinh Ngọc Bảo, Thầy đã ân cần, tận tình, chu đáo, quan tâm chỉ bảo, động viên khích lệ tôi rất nhiều trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này.

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu Trường Đại học An Giang, Ban Giám Hiệu Trường Phổ thông Thực hành Sư phạm, đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Thư viện Đại học An Giang, Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch An Giang, Ban quản lí Di tích Óc Eo, Bảo tàng An Giang, Bảo tàng Đồng Tháp, Bảo tàng Kiên Giang, Hội sử học An Giang, đã hỗ trợ rất nhiều cho tôi trong quá trình nghiên cứu, xử lý các nguồn tài liệu thực hiện luận văn.

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ rất nhiệt tình cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, tháng 10/2015 TÁC GIẢ LUẬN VĂN

VÕ VĂN SỊNH

Trang 5

MỤC LỤC

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nam Bộ, vùng đất có tên gọi thân thương trều mến chỉ xuất hiện cáchđây hơn ba thế kỷ, đã trở thành một bộ phận khăng khít không thể thiếu trong

tổng thể toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam như Hồ Chí Minh đã nói: “Nam Bộ là máu

của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi” Tuy nhiên, nhận thức về vùng đất này

thời tiền và sơ sử còn nhiều hạn chế Do khoa học vẫn đang trong quá trình khámphá, tìm lời giải đáp và cũng chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính tổng kết

Vì vậy có nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí xuyên tạc lịch sử vùng đất này vìmục đích chính trị Do đó, việc nghiên cứu lịch sử văn hóa Nam Bộ thời cổ trungđại là một yêu cầu bức thiết hiện nay An Giang một tỉnh thuộc Nam Bộ, có lịch sửvăn hóa gắn chặt với lịch sử văn hóa Nam Bộ, nghiên cứu lịch sử văn hóa An Giangthời kì cổ trung đại là một mảnh ghép không thể thiếu trong tổng thể bức tranh Nam

Bộ thời kì này

Vùng đất Nam Bộ có lịch sử hình thành khá lâu dài và phức tạp, từng tồn tạinhiều cộng đồng người thuộc các nhà nước cổ trung đại Đông Nam Á, trong đóđáng lưu ý là đế chế Phù Nam, Chân Lạp…với nền văn hóa Óc Eo phát triểnrực rỡ Đặc biệt ở An Giang, năm 1944 nhà khảo cổ học người Pháp LouisMalleret đã khai quật phát hiện nhiều di chỉ văn hóa Óc Eo, phản ảnh trình độphát triển cao thời kì này Sau An Giang, Kiên Giang, các nhà khảo cổ học tiếptục phát hiện được di tích của văn hoá Óc Eo trên địa bàn khắp các tỉnh Nam Bộnhư: Cần Thơ, Hậu Giang, Cà Mau, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Đồng Tháp,Long An, Tây Ninh, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh Do đó việc nghiên cứulàm rõ văn hóa Nam Bộ nói chung và An Giang thời kì này nói riêng, là việclàm cần thiết có ý nghĩa khoa học và cả thực tiễn

Khoảng cuối thế kỉ VI đế chế Phù Nam bắt đầu tan rã, Chân Lạp mộttrong số những thuộc quốc của Phù Nam tập trung chủ yếu ở Trung lưu sông

Trang 7

Mê Kông và khu vực phía Bắc Biển Hồ, tộc người chính là Khmer, lấy nôngnghiệp làm kinh tế chính và phát triển nhanh chóng, nhân sự suy yếu của PhùNam đã tấn công chiếm lấy một phần lãnh thổ của đế chế này vào đầu thế kỉVII Cũng bắt đầu từ đây xuất hiện tên gọi “Thủy Chân Lạp” để phân biệt với

“Lục Chân Lạp” tức vùng đất gốc của Chân Lạp Từ thế kỉ IX đến thế kỉ XI(thời kỳ Angkor) Chân Lạp phát triển thành một quốc gia cường thịnh, tạo nênnền văn minh Angkor rực rỡ Sang thế kỉ XVI vương quốc này dần suy yếu,còn vùng Thủy Chân Lạp mất dần sự quản lý Do tác động chiến tranh Trịnh –Nguyễn, nhất sau khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả công chúa Ngọc Vạn làmHoàng hậu cho vua Chey Chettha II, dưới sự bảo hộ của bà, người Việt hiệndiện vùng đất Thủy Chân Lạp ngày càng đông Do đó, nghiên cứu văn hóa AnGiang để thấy những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần mà các tộc người đãchung tay khai phá vun đắp nên An Giang ngày nay Đồng thời, thấy sự giaolưu, tiếp biến văn hóa An Giang không chỉ với Nam bộ mà còn xa hơn với Ấn Độ,Chămpa, Chân Lạp tìm thấy bản sắc độc đáo văn hóa mỗi dân tộc, những nétpha trộn làm nên bản sắc văn hóa riêng của An Giang

An Giang là tỉnh biên giới tận cùng phía Tây Nam của tổ quốc, có bốn tộcngười Việt, Khmer, Chăm, Hoa sinh sống Nhưng việc phân bố dân cư, trình độphát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các huyện, các tộc người nhìn chung chưađồng đều… Do đó việc nghiên cứu làm rõ văn hóa An Giang tức nghiên cứu lịch sửvăn hóa của các tộc người của tỉnh, trong chừng mực nhất định, việc nghiên cứu sẽgóp phần cung cấp và làm sáng tỏ nhiều vấn đề, làm kênh tham khảo trong việchoạch định, triển khai thực hiện chính sách dân tộc, văn hóa tại địa phương, gópphần nâng cao đời sống văn hóa các đồng bào, giữ gìn an ninh quốc phòng, nhất là

ở các địa bàn ven vùng biên giới

Hiện nay, hòa cùng với cả nước, An Giang đang đẩy mạnh công cuộc côngnghiệp hóa, hiện đại hóa Việc phát triển kinh tế phải gắn liền với sự chuyển biếnvăn hóa xã hội Do đó, để quá trình này diễn ra thuận lợi, đòi hỏi phải có sự hoạchđịnh kĩ lưỡng trong chiến lược phát triển của tỉnh Quan trọng phải biết dựa và khai

Trang 8

thác tốt các nguồn lực từ chính địa phương trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm văn hóa,

xã hội, truyền thống, kinh nghiệm, cha ông đúc kết từ trước, chứ không thể vộivàng, hay phủ định sạch trơn những giá trị của tiền nhân mà thay vào đó lạm dụngcông nghệ, khoa học kỉ thuật hiện đại Việc này vừa thiếu khả thi, vừa không đảmbảo thành công Do đó nghiên cứu lịch sử, văn hóa An Giang còn mang tính cấpthiết phục vụ yêu cầu đời sống kinh tế, xã hội của tỉnh nhà

Ngoài ra, nghiên cứu văn hóa An Giang trong mối quan hệ với văn hóa Ấn

Độ và Khmer từ (thế kỷ I đến thế kỷ XIX) có thể làm tài liệu đáp ứng yêu cầu giảngdạy lịch sử địa phương, cũng như tài liệu để học sinh, sinh viên tham khảo Giúpcho thế hệ trẻ có những hiểu biết về truyền thống lịch sử văn hóa đặc sắc của tỉnhnhà, qua đó thấy được trách nhiệm của mình đóng góp vào sự nghiệp xây dựng quêhương, đất nước ngày càng giàu mạnh, bảo tồn và phát huy nền văn hóa đa dạngđậm đà bản sắc

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả thực hiện đề tài “Văn hóa An Giang

trong mối quan hệ với văn hóa Ấn Độ và Khmer từ (thế kỷ I - XIX)”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho đến nay, việc nghiên cứu văn hóa An Giang thu hút khá nhiều nhànghiên cứu, học giả, tác giả trong và ngoài tỉnh quan tâm chú ý Nhưng trên thực tế,hầu hết chỉ dừng lại ở phạm vị một bài tham luận, tạp chí, hay chỉ xuất bản sáchmang tính khái quát, chưa đi sâu mổ xẻ nội dung cụ thể về tiến trình lịch sử - vănhóa của tỉnh Bên cạnh đó, cũng cần thấy rằng An Giang nói riêng và cả khu vựcĐông bằng sông Cửu Long nói chung có lịch sử hình thành và phát triển còn khánon trẻ, văn hóa giữa các địa phương có nhiều nét tương đồng Do đó, bước đầuviệc nghiên cứu chi tiết từng địa phương có những khó khăn nhất định, nên hầu hếtcác công trình nghiên cứu đều mang tính diện rộng chung cho cả vùng Nhưng vớitính chất lịch sử, vị trí chiến lược và tầm quan trọng của địa phương trong mối quan

hệ với khu vực, cũng như đối với tiến trình chung của lịch sử dân tộc, việc nghiêncứu văn hóa An Giang vẫn ghi nhận một số công trình, tác phẩm rất giá trị

Trang 9

Về lịch sử - văn hóa có các tác phẩm: Thất sơn màu nhiệm, Nxb Trẻ (tái bản);

Nửa tháng trong miền Thất Sơn, Nxb Trẻ năm 2000; Diện mạo văn học dân gian

cung cấp những tư liệu về cuộc khẩn hoang lập làng ở vùng đất Nam Bộ nói chung,

An Giang nói riêng vào thế kỷ XVIII – XIX Lịch Sử khẩn hoang miền Nam (1973),

Lịch sử An Giang, Nxb An Giang 1989; Tiếp cận đồng bằng sông Cửu Long, Nxb

Trẻ 2000; Đồng bằng sông Cửu Long, nét sinh hoạt xưa, Nxb TP.HCM 1985; Cá

tính của miền Nam (2000), Nxb Trẻ của tác giả Sơn Nam đã đề cập đến vấn đề đất

đai, thiên nhiên, phong thổ, phong tục, tạp quán của vùng đất Nam bộ và công cuộckhẩn hoang vùng biên giới Tây Nam Từ sau năm 1975, có nhiều công trình nghiêncứu về đồng bằng sông Cửu Long và An Giang, với những vấn đề sâu hơn Tác

phẩm: Những trang về An Giang (1984), của Trần Thanh Phương, đây là quyển

sách địa chí, đã đề cập đến thiên nhiên, con người, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế

An Giang trong các thế kỷ XVIII – XX Văn hóa Óc Eo – những khám phá mới;

Văn hóa vật chất, văn hóa Óc Eo ở đồng bằng sông Nam bộ, của tác giả Đào Linh

Côn; Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam bộ của tác giả Nguyễn Hữu Hiếu; Văn hóa và

cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long của Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm,

Mạc Đường xuất bản năm 1990, đã nghiên cứu về các tộc người đang sinh sống ởđồng bằng sông Cửu Long Các tác giả đã đề cập đến mọi mặt trong sinh hoạt về

mặt kinh tế - xã hội của cư dân đã từng sinh sống ở vùng đất này Tác phẩm: Về dân

tộc ở vùng đồng bằng sông cửu Long, xuất bản năm 1991 đã đề cập khá chi tiết về

sinh hoạt kinh tế của các dân tộc Khmer, Chăm, Hoa đang sinh sống ở Đồng bằng

sông Cửu Long nói chung, vùng đất An Giang nói riêng Góp phần tìm hiểu vùng

đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX của tác giả Huỳnh Lứa xuất bản năm 2000,

đã đề cập đến quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ, khai hoang lập ấp, công cuộcđào kênh, các hoạt động kinh tế ở An Giang trong hai thế kỷ XVIII – XIX Bên

cạnh đó còn có các tác phẩm Đồng bằng sông Cửu Long nghiên cứu và phát triển

do Nguyễn Công Bình chủ biên; Nghề nông Nam Bộ của Trần Xuân Kiêm biên soạn năm 1992; Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam của Vũ Minh Giang chủ biên

Trang 10

Ngoài ra, một số bài viết trong các kỷ yếu hội thảo khoa học như Nam Bộ và

Nam Trung Bộ những vấn đề lịch sử thế kỷ XVII – XIX do Trường Đại học sư phạm

thành phố Hồ Chí Minh tổ chức; Lịch sử hình thành vùng đất An Giang do Ủy ban

nhân dân tỉnh An Giang, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang và Sở Khoa học Côngnghệ Môi trường tỉnh An Giang phối hợp với Viện khoa học Xã hội tại thành phố

Hồ Chí Minh biên soạn, … các bài viết trên các báo chuyên ngành được công bốthường xuyên có liên quan đến văn hóa, kinh tế - xã hội An Giang Tuy các tácphẩm trình bày khá toàn diện, bao quát các vấn đề lịch sử văn hóa, nhưng đa phầnmang tính khảo cứu trên diện rộng, bên cạnh đó một số tác phẩm trình bày mang tínhchất chung chung cho cả vùng chưa đi sâu, cụ thể từng mảng hay chỉ ra được nétriêng của An Giang

Về khảo cổ học có các tác phẩm như: Nghệ thuật Phật giáo và Hinđu giáo ở

đồng bằng sông Cửu Long trước thế kỷ X xuất bản vào đầu năm 2006 của TS Lê

Thị Liên Đặc biệt là những tác phẩm, những bài nghiên cứu của GS Lương Ninh về

vấn đề Phù Nam như: Vương quốc Phù Nam lịch sử và văn hóa (2005), Nxb Văn hóa thông tin; Đông Nam Á truyền thống và hội nhập (2007); Văn hóa cổ Phù Nam

– văn hóa đồng bằng sông Cửu Long (1999); Vương quốc Phù Nam: những hiểu biết mới – nhận thức mới Có thể khẳng định đây là những công trình nghiên cứu tỉ

mỉ nhất, toàn diện nhất về lịch sử và văn hóa của vương quốc Phù Nam, góp phầnkhôi phục khá đầy đủ diện mạo bức tranh Nam Bộ xưa, đồng thời đưa ra nhiều kếtluận qúy báu, giả thuyết khoa học đặt nền tảng cho việc nghiên cứu vấn đề về sau

Riêng ở An Giang, Ủy ban nhân dân tỉnh cho xuất bản Địa chí An Giangnăm 2003 và mới tái bản 2013 Đây là công trình giới thiệu một cách khái quát vàtoàn diện nhất về lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội của tỉnh Ngày 3/9/2002 UBNDtỉnh An Giang đã ra Chỉ thị số 30/CT-UB về việc sưu tầm, tôn tạo, giữ gìn, phát huycác di tích lịch sử và truyền thống cách mạng ở An Giang và ra Quyết định số 244/QĐ-UB-TC, ngày 21/2/2003 về việc thành lập Tạp chí Văn hoá - Lịch sử An Giang.Tạp chí thu hút đông đảo các tác giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài tỉnh tham giaviết bài, góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề khác nhau xoay quanh lịch sử văn hóa

Trang 11

tỉnh nhà Tuy nhiên, một số bài viết còn mang tính nhận định chủ quan của ngườiviết chưa có nhiều cơ sở khoa học minh chứng Chủ đề của tạp chí khá rộng các bàiviết trình bày tương đối phong phú về các mảng lịch sử, văn hóa…nên chưa tậptrung chuyên sâu một mảng cụ thể.

Với nhiều công trình và tài liệu nghiên cứu trên, góp phần khôi phục khá chitiết diện mạo lịch sử văn hóa Nam Bộ, tuy nhiên với riêng An Giang việc sàng lọcnhững nguồn thông tin trên để dựng lại lịch sử văn hóa An Giang thì gặp không ítkhó khăn, do tính rời rạc và tản mạn của tài liệu Vì vậy, tác giả hy vọng đề tài

“Văn hóa An Giang trong mối quan hệ với văn hóa Ấn Độ và Khmer từ (thế kỷ I đến thế kỷ XIX)” sẽ góp phần giải quyết một phần nào những khó khăn trong việc

tìm hiểu nghiên cứu văn hóa An Giang

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Việc nghiên cứu lịch sử văn hóa An Giang nhằm mục đích:

Làm sáng tỏ những giá trị lịch sử văn hóa lâu đời của An Giang trong tiếntrình lịch sử, những giá trị văn hóa nào khởi phát từ An Giang, những giá trị nào

du nhập bên ngoài, hay do tiếp biến, giao thoa Qua đó thấy được tinh thần sángtạo tuyệt vời của các tộc người từng định cư trên vùng đất tận cùng phía TâyNam tổ quốc

Mặc dù Đồng bằng sông Cửu Long khá rộng lớn với 13 tỉnh thành phố, bêncạnh những giá trị văn hóa đặc thù riêng cho từng tỉnh, cũng phải thừa nhận trênbình diện chung cả Đồng bằng sông Cửu Long khá tương đồng về lịch sử - văn hóa

Do đó nghiên cứu văn hóa An Giang cũng góp phần tìm hiểu lịch sử - văn hóa củakhu vực

An Giang là tỉnh biên giới, có bốn tộc người chính là Kinh, Khmer, Chăm vàHoa Mỗi tộc người khác nhau có những nét văn hóa đặc thù riêng, song song đó cũng

có những sản phẩm lịch sử văn hóa hình thành từ quá trình cộng cư của các cộng đồngtộc người Do đó nghiên cứu văn hóa An Giang cũng chính là nghiên cứu văn hóa củacác tộc người anh em trong tỉnh, làm kênh tham khảo hữu hiệu cho việc đưa ra đường

Trang 12

lối chính sách văn hóa phù hợp, định hướng bảo tồn khai thác có hiệu quả di tích lịch

sử văn hóa trong du lịch, nhằm giới thiệu nhân dân và du khách về địa phương

Hiện nay, An Giang còn lưu giữ khá nhiều di chỉ khảo cổ, hiện vật, công trìnhkiến trúc, đền chùa, rất phong phú Do đó nghiên cứu lịch sử văn hóa An Giang đểthấy được quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa giữa An Giang nói riêng và cả Đồngbằng sông Cửu Long nói chung với các nền văn minh, trung tâm văn hóa lâu đời từ

xa xưa như Ấn Độ

Đối tượng nghiên cứu đề tài: “Văn hóa An Giang trong mối quan hệ với

văn hóa Ấn Độ và Khmer từ (thế kỷ I đến thế kỷ XIX)” chính là văn hóa An Giang

đặt trong mối quan hệ với văn hóa Ấn Độ, Khmer, để thấy được mối giao lưu, tiếpbiến văn hóa qua các thời kì lịch sử từ thế kỉ I đến thế kỉ XIX

Phạm vi nghiên cứu: tìm hiểu văn hóa An Giang trong bối cảnh đã từng tồn

tại nền văn hóa Óc Eo thuộc vương quốc Phù Nam và nhà nước Chân Lạp Đây làvấn đề khá thú vị và hấp dẫn nhưng cũng không kém phần chông gai Do đó, trongquá trình nghiên cứu tôi gặp không ít khó khăn, vì đây là đề tài mang tính khái quáttrên cơ sở nghiên cứu, sàng lọc lịch sử văn hóa chung của cả khu vực, của từng địaphương cụ thể Những giá trị văn hóa phải gắn liền với thực tế Vì vậy, đề tài chỉ tậptrung ở những khía cạnh sau:

Về nội dung: Thứ nhất, chỉ nghiên cứu diện mạo và những dấu ấn văn hóa

Óc Eo, Khmer trên đất An Giang xưa Thứ hai, mối giao lưu ảnh hưởng văn hóa lớn

là Ấn Độ, Khmer qua các lĩnh vực tôn giáo – tín ngưỡng, kiến trúc – điêu khắc vàvăn học – chữ viết

Về không gian: chỉ giới hạn trong phạm vi vùng đất An Giang từng thuộcvương quốc Phù Nam và Chân Lạp

Về thời gian: nghiên cứu văn hóa vùng đất An Giang xưa, giới hạn trongkhoảng thời gian từ thế kỷ I đến thế kỷ XIX

Trang 13

4 Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản và đóng góp của tác giả

Các luận điểm cơ bản

Một, sự phong phú đa dạng văn hóa Nam Bộ nói chung và An Giang nóiriêng là thành quả sự sáng tạo của các tộc người sinh sống trên cùng điạ bàn cư trú.Trong đó, yếu tố văn hóa Việt là chủ đạo, là cảm hứng, làm trung tâm để văn hóacác tộc anh em đan xen hòa quyện

Hai, thực tế đã tồn tại quốc gia Phù Nam từ thế kỷ I-VII, vùng đất An Giangngày nay từng là một phần trong lãnh thổ Phù Nam xưa, với nền văn hóa Óc Eophát triển rực rỡ, với số lượng lớn những di chỉ và hiện vật phong phú thuộc nhiềuchủng loại…Cho thấy sự ảnh hưởng đậm nét văn hóa Ấn Độ trên đất An Giang xưa.Càng củng cố thêm vai trò vị trí quan trọng của di chỉ Óc Eo trong tiến trình lịch sửdân tộc và khu vực

Ba, đã từng tồn tại quốc gia Chân Lạp từ thế kỷ VII-XVI, An Giang là mộtphần trong vùng đất Thủy Chân Lạp Với những diễn tiến theo quy luật lịch sử, sự

ra đời, phát triền và suy yếu… vùng đất An Giang xưa nói riêng và cả Đồng bằngsông Cửu Long đã đón nhận những cư dân mới, nền văn hóa mới có sự xâm nhập,tiếp thu, tiếp biến trên cơ sở quản lý chặt chẽ của tổ chức chính quyền hợp pháp Đó

là nhân tố quan trọng tạo nên sắc thái đa dạng phong phú trong văn hóa An Giangnói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung

Đóng góp mới của tác giả

Đề tài tiếp cận và đặt ra một số hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu lịch sử vănhóa An Giang, đặt trong tổng thể các mối quan hệ Thấy được sự giao lưu, ảnh hưởngcủa văn hóa An Giang trong mối quan hệ với Ấn Độ, Chân Lạp

Đề tài góp phần nào vào việc nghiên cứu lịch sử - văn hóa của vùng đất Nam

bộ trong tiến trình phát triển chung của lịch sử dân tộc Từ đó, ý thức trách nhiệmchung tay vào việc xây dựng, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thốngcủa quê hương, đất nước

Trang 14

Đề tài trở thành tài liệu rất bổ ích cho công tác giảng dạy của bản thân tạitrường Đồng thời phục vụ cho việc tìm hiểu, tham khảo của học sinh, sinh viênquan tâm Góp phần tìm hiểu, bổ sung thêm các tài liệu làm phong phú thêm lịch sửvăn hóa của tỉnh.

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:

+ Phương pháp lịch sử và phương pháp logic, là hai phương pháp nghiên cứu

cơ bản nhất của khoa học lịch sử

+ Phương pháp so sánh (đối chiếu tư liệu)

+ Phương pháp liên ngành (sử dụng những công trình nghiên cứu của cácngành khoa học khác chủ yếu là khảo cổ học, cổ tự học, dân tộc học và văn họcnghệ thuật)

+ Phương pháp điền dã, thực địa: để việc nghiên cứu đạt kết quả tốt hơn, tácgiả đã trực tiếp thực địa tại di tích khảo cổ Óc Eo, Bảo tàng An Giang, Bảo tàngĐồng Tháp, Bảo tàng Kiên Giang, tại các di tích lịch sử văn hóa, các cơ sở tínngưỡng, các công trình tôn giáo trên địa bàn tỉnh An Giang như: Chùa Linh Sơn,chùa Xvayton (Xà Tón), chùa Som Sai, chùa Péang Trao, chùa Svai Tà Son…

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN VỀ AN GIANG 1.1 Lịch sử tên gọi An Giang

Tên gọi An Giang có lịch sử khá phức tạp và xuất hiện chính thức với tưcách một đơn vị hành chính vào năm 1832 Sau khi ra đời, tên gọi An Giang trảiqua nhiều lần thay đổi nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954), và kháng chiến chống Mĩ (1954-1975) Theo nghị quyết 19/NQ của BộChính Trị, tháng 2/1976 tỉnh An Giang chính thức được tái lập trở lại và mangtên gọi cho đến nay

Ý nghĩa tên gọi An Giang có thể hiểu: “Tên gọi An Giang có thể giải nghĩa

là dòng sông an lành, để định cư lâu dài khi mà vua Minh Mạng thực hiện chính sách di dân khẩn hoang lập làng, khuyến khích các cư dân vào vùng đất này khai phá” [67, 13]

An Giang vốn thuộc đất Tầm Phong Long Theo giải thích của Vương HồngSển, âm “Tầm Phong Long” xuất phát từ "Kom pong luông” của tiếng Khmer, cónghĩa là bến, vũng, sông của vua Theo nhà nghiên cứu Chau Sóc Kha "Kom pong”

hay “Com Pung” hiểu theo nghĩa rộng là nơi có bến nước, có xuồng ghe neo đậu và họp chợ Xem bản đồ Campuchia có rất nhiều địa danh gắn với “Com Pung” Ví

dụ: Cảng Com Pung Som không xa lắm với Đảo Phú Quốc hay Com Pung Thôm,Com Pung Cham nằm trên quốc lộ 6, con đường thủ đô Phnôm Pênh đi thăm đềnAngkor, hay xã đối diện với Vĩnh Hội Đông (huyện An Phú- An Giang) là ComPung Kro Săng (Bến cây Cần Thăng) người địa phương thường gọi là Bung Xăng

Trong quá trình giao tiếp, phát âm giữa hai dân tộc, tiếng Khmer là “Com

Pung” được người Việt đọc biến âm thành “Tầm Phong” Do đó, có thể hiểu nghĩa

từ Tầm Phong Long là tên gọi biến âm từ Com Pung Luong - bến đậu đoàn ghethuyền của vua mỗi chuyến di hành [42,9] An Giang xưa có diện tích rất rộng, “từtỉnh lị (Châu Đốc) qua phía đông đến sông Tiền giáp huyện Kiến Phong tỉnh ĐịnhTường 48 dặm; phía tây đến địa giới 3 huyện Hà Châu, Kiên Giang và Long Xuyên

Trang 16

(tức Cà Mau) tỉnh Hà Tiên 46 dặm; phía nam đến biển 108 dặm; phía bắc đến 2 đồnTiến An và Bình Di giáp địa giới Cao Miên (Campuchia) 42 dặm; phía đông namđến địa giới 2 huyện Vĩnh Bình và Tuân Nghĩa tỉnh Vĩnh Long 196 dặm” [20, 183]

Năm1698, được lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnhvào Nam kinh lược, lập ra hai huyện Phước Long và Tân Bình cho thuộc haidinh Trấn Biên và Phiên Trấn, gọi chung là Gia Định phủ, trên phần đất từ sôngĐồng Nai đến sông Tiền Nhận thấy triều đình Chân Lạp thiếu ổn định, thế lựcchúa Nguyễn đang lên, năm 1708 Mạc Cửu xin dâng vùng đất Hà Tiên nhập vàoĐàng Trong cho chúa Nguyễn và xin được bảo hộ Đến giữa thế kỷ XVIII, dinhPhiên Trấn đến sông Tiền và trấn Hà Tiên đến bờ sông Hậu, vùng đất TầmPhong Long nằm giữa sông Tiền và sông Hậu vẫn còn hoang vắng, chưa thuộcchủ quyền chúa Nguyễn

Năm 1757 triều đình Chân Lạp có biến, Nặc Ong Nguyên mất, chú họ NặcOng Nhuận đang làm giám quốc, xin hiến đất Srok Treang (tức đất Ba Thắc gồmSóc Trăng - Bạc Liêu) và Préah Trapeang (tức đất Trà Vang gồm Trà Vinh-BếnTre) cầu xin chúa Nguyễn phong làm vua Chân Lạp, chúa Nguyễn Phúc Khóat chấpthuận Nhưng sau đó Nặc Ong Nhuận bị con rể là Nặc Hinh giết và cướp ngôi CháuNặc Ong Nhuận là Nặc Ong Tôn cầu cứu Mạc Thiên Tứ trợ giúp tâu với chúaNguyễn xin được phong làm quốc vương Chân Lạp Chúa Nguyễn Phúc Khoát liềncho Thống suất ngũ dinh tại Gia Định Trương Phước Du hợp cùng Mạc Thiên Tứmang quân đánh dẹp Nặc Hinh đưa Nặc Ong Tôn về nước Sau khi thắng lợi NặcOng Tôn đã tạ ơn bằng cách cắt đất Tầm Phong Long dâng cho chúa Nguyễn ChúaNguyễn sai tướng Nguyễn Cư Trinh tiếp quản và lập thành ba đạo: Đông Khẩu (baogồm các huyện Châu Thành, thị xã Sa Đéc, huyện Lai Vung và huyện Lấp Vò củatỉnh Đồng Tháp ngày nay) Tân Châu (bao gồm phần đất của các huyện Chợ Mới,Phú Tân, Phú Châu và Tân Châu của tỉnh An Giang ngày nay) Châu Đốc (bao gồm

phần đất phía tây bắc sông Hậu, chạy dài đến Hà Tiên) Sách Đại Nam nhất thống

chí mục tỉnh An Giang viết An Giang “xưa là đất Tầm Phong Long, năm Đinh Sửu thứ 19 (1757) đời Thế Tông, quốc vương Chân Lạp Nặc Tôn dâng đất này, đặt làm

Trang 17

đạo Châu Đốc, vì đất ấy có nhiều chỗ bỏ hoang, đầu đời Gia Long mộ dân đến ở, gọi là Châu Đốc Tân Cương, đặt quản đạo, lệ vào trấn Vĩnh Thanh” [22, 27]

Sau khi đánh bại vương triều Tây Sơn, năm 1802 nhà Nguyễn chính thứcđược thành lập, Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy hiệu Gia Long, đóng đô Phú Xuân(Huế) Năm 1808 Gia Long đổi Gia Định trấn thành Gia Định thành Gia Địnhthành thống nhất thành thống quản 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, VĩnhThanh và Hà Tiên Tỉnh An Giang lúc ấy thuộc trấn Vĩnh Thanh Đến thời Minhmạng (trị vì 1820-1840), ông đã thực hiện cuộc cải cách hành chính (1831-1832)sâu rộng, tiến hành bãi bỏ Bắc Thành và Gia Định Thành, đổi tên các trấn thànhtỉnh, chia cả nước làm 30 tỉnh và một phủ Thừa Thiên Theo đó, năm 1832 tỉnh AnGiang chính thức ra đời, là một trong sáu tỉnh của Nam kì lục tỉnh

Năm 1858 thực dân Pháp chính thức tấn công Đà Nẵng, xâm lược Việt Nam,ngày 22/7/1867 Pháp chiếm An Giang Dưới ách thống trị của Pháp (1867-1945)năm 1899 Pháp thay đổi địa giới hành chính chia Nam kỳ từ 6 tỉnh thành 19 tỉnh.Trong đó tỉnh An Giang được chia nhỏ thành các tỉnh là: Châu Đốc, LongXuyên (gồm đất phủ Tịnh Biên và phủ Tuy Biên cũ), Cần Thơ, Sa Đéc (gồm đấtphủ Tân Thành cũ), Sóc Trăng (gồm đất phủ Ba Xuyên cũ)

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyênđược giải phóng Ngày 12 tháng 9 năm 1947, theo chỉ thị số 50/CT của Ủy bankháng chiến hành chính Nam Bộ, thay đổi tên gọi tỉnh Châu Đốc và tỉnh LongXuyên, thành lập các tỉnh mới là: Long Châu Tiền và Long Châu Hậu Tỉnh LongChâu Tiền tả ngạn sông Hậu, gồm hai bên sông Tiền, có 5 huyện: Tân Châu, HồngNgự, Chợ Mới, Châu Phú B và Lấp Vò Tỉnh Long Châu Hậu nằm hữu ngạn sôngHậu và có 6 huyện: Tịnh Biên, Tri Tôn, Thốt Nốt, Thoại Sơn, Châu Phú A và ChâuThành và 2 tỉnh lỵ Long Xuyên và Châu Đốc [22, 28]

Tháng 10 năm 1950 tỉnh Long Châu Hậu hợp nhất với tỉnh Hà Tiên thànhtỉnh Long Châu Hà, gồm 8 huyện: Tịnh Biên,Tri Tôn, Châu Phú A, ChâuThành, Thoại Sơn, Thốt Nốt, Giang Châu, Phú Quốc Tháng 6 năm 1951, tỉnh Long

Trang 18

Châu Tiền hợp nhất với tỉnh Sa Đéc thành tỉnh Long Châu Sa, gồm 7 huyện: ChâuThành, Lai Vung, Cao Lãnh, Tân Hồng, Tân Châu, Phú Châu, Chợ Mới Năm 1954,chính quyền Việt Minh đổi tên các tỉnh Long Châu Sa và Long Châu Hà, đồng thờikhôi phục lại các tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc và Hà Tiên như cũ [22, 28]

Sau khi ký Hiệp định Giơnever 7/1954 về việc kết thúc chiến tranh, lập lạihoà bình ở Đông Dương, chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt NamCộng hòa vẫn duy trì tên gọi tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc như thời Phápthuộc Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô ĐìnhDiệm ký Sắc lệnh 143/VN để "thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớncùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam" Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Namthay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập Theo Sắc lệnh này, địa phận ViệtNam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh Lúc này tỉnh Châu Đốc và tỉnhLong Xuyên được sáp nhập để thành lập tỉnh mới có tên là tỉnh An Giang Tỉnh lỵđặt tại Long Xuyên

Ngày 08 tháng 09 năm 1964, Thủ tướng chính quyền mới của Việt NamCộng Hoà ký Sắc lệnh 246/NV, quy định kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1964 táilập tỉnh Châu Đốc trên cơ sở tách đất từ tỉnh An Giang Phần còn lại tương ứngvới tỉnh Long Xuyên trước năm 1956, vẫn gọi là An Giang mãi đến 1975

Về phía chính quyền cách mạng, về cơ bản vẫn sử dụng nguyên hai tên gọitỉnh Châu Đốc và An Giang Năm 1971, Trung ương Cục miền Nam quyết địnhthành lập tỉnh Châu Hà trên cơ sở tách ra từ tỉnh An Giang và tỉnh Rạch Giá TỉnhChâu Hà gồm các huyện: Huệ Đức, Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Thành A, Hà Tiên vàPhú Quốc Tháng 5 năm 1974, chính quyền Cách mạng lại quyết định giải thể cáctỉnh An Giang, Châu Hà và Kiến Phong để tái lập các tỉnh Long Châu Hà, LongChâu Tiền và Sa Đéc

Sau đại thắng mùa Xuân 30//4/2975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, đấtnước thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà Ngày 20 tháng 12 năm 1975, BộChính trị Đảng Cộng sản Việt Nam lại ra Nghị quyết số 19/NQ điều chỉnh lại việc

Trang 19

hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam cho sát với tình hình thực tế, theo đó thành lậptỉnh An Giang trên cơ sở hợp nhất tỉnh An Giang và tỉnh Châu Đốc thời Việt NamCộng hòa, trừ huyện Thốt Nốt giao cho tỉnh Hậu Giang quản lý Tên gọi tỉnh AnGiang được dùng và giữ nguyên cho đến nay

1.2 Điều kiện tự nhiên

An Giang là tỉnh tận cùng phía Tây Nam của tổ quốc, thuộc vùng Đồng bằngsông Cửu Long An Giang có diện tích tự nhiên khoảng 3.506 km2, chiếm 1,03%diện tích cả nước Vị trí tiếp giáp: phía Bắc và Tây Bắc giáp vương quốcCampuchia, có chiều dài đường biên giới 104 km, phía Tây Nam giáp tỉnh KiênGiang đường biên giới 69,789 km, phía Nam giáp tỉnh Cần Thơ đường biên giới44,734 km, Đông giáp tỉnh Đồng Tháp đường biên giới 107,628 km Điểm cực Bắctrên vĩ độ 10057' (xã Khánh An, huyện An Phú), cực Nam trên vĩ độ 10012' (xãThoại Giang, huyện Thoại Sơn), cực tây trên kinh độ 104046' (xã Vĩnh Gia, huyệnTri Tôn), cực Đông trên kinh độ 105035' (xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới).Chiều dài nhất theo hướng Bắc Nam là 86 km và Đông Tây là 87,2 km

An Giang bắt đầu từ chỗ sông Mê Kông bắt đầu chảy vào nước ta được chialàm đôi nhánh sông Tiền, sông Hậu Địa hình giảm dần theo cao độ theo hai hướngchính, từ Bắc xuống Nam, từ Đồng sang Tây Khác với các tỉnh đồng bằng sôngCửu Long, ngoài vùng đồng bằng phù sa rộng lớn, màu mỡ giữa sông Tiền, sôngHậu, và bờ hữu ngạn sông Hậu, địa hình còn xen lẫn nhiều đồi núi thấp phía bờTây sông Hậu còn gọi là vùng Bảy Núi hay Thất Sơn chủ yếu phân bố ở các huyệnTịnh Biên, Tri Tôn Vừa có vùng trũng thấp, cồn, cù lao ở khu vực Tứ giác LongXuyên bao gồm 4 huyện: An Phú, Tân Châu, Phú Tân và Chợ Mới Riêng vùng bánsơn địa dọc bờ Tây sông Hậu đến Vàm Cống

Hệ thống sông ngòi, kênh, mương chằng chịt với hai con sông lớn SôngTiền, sông Hâu, nguồn nước ngọt quanh năm thuận lợi phát triển nông nghiệp Cóhai mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa, hằng năm khoảng cuối tháng 6 lũ lên và kéodài đến cuối tháng 12 Lũ mang nhiều thiệt hại nhưng đồng thời cũng mang lại

Trang 20

nhiều nguồn lợi về thủy sản và phù sa bồi đắp An Giang có hệ thống giao thôngđường thủy – bộ khá thuận lợi, được nối với mạng lưới giao thông vùng, quốc gia

và thông tuyến với Campuchia bằng hệ thống sông Tiền, sông Hậu, quốc lộ 91

An Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bìnhnăm 27ºC, cao nhất 35ºC - 36ºC vào tháng 4 - 5, thấp nhất từ 20ºC - 21ºC vào tháng

12 và tháng 1 Lượng mưa trung bình 1400 - 1500mm, có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từtháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

Đến năm 2010 đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh gồm: Thành phố LongXuyên, Thành phố Châu Đốc, Thị xã Tân Châu, và 8 huyện gồm: An Phú, ChâuPhú, Châu Thành, Phú Tân, Chợ Mới, Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên Tổng số đơn

vị hành chính cơ sở là 156 gồm: 20 phường, 16 thị trấn, 120 xã Uỷ ban Dân tộcMiền núi của Chính phủ đã công nhận tỉnh có 21 xã vùng núi thuộc 2 huyện Tri Tôn(9 xã) và Tịnh Biên (12 xã) theo Quyết định 42/UBQĐ ngày 23/5/1997 và côngnhận khu vực vùng dân tộc đồng bằng gồm xã Lương An Trà huyện Tri Tôn và 5xã: Đa Phước, Khánh Bình, Quốc Thái, Nhơn Hội, Vĩnh Trường của huyện An Phútheo Quyết định 21/1998/UBQĐ ngày 25/02/1998 Có 17 xã biên giới thuộc 6huyện, thị giáp Campuchia An Giang là tỉnh có khá nhiều di tích lịch sử, văn hoá,danh lam thắng cảnh nổi tiếng

1.3 Kinh tế - xã hội

Vùng đất Nam Bộ nói chung, An Giang nói riêng vốn là một địa bàn đã từng

có nhiều lớp cư dân sinh sống Bằng nhiều tư liệu, thư tịch cổ có thể khẳng địnhkhoảng đầu công nguyên, cư dân Phù Nam chủ yếu là người Môn cổ chính là chủnhân đầu tiên trên vùng đất này Khoảng thế kỷ V-VI, Phù Nam đã mở rộng ảnhhưởng và trở thành một đế chế rộng lớn với nhiều thuộc quốc phân bố ở phía nambán đảo Đông Dương và bán đảo Malaca Vào đầu thế kỷ VII đế chế Phù Nam tan

rã, nước Chân Lạp của người Khmer, vốn là một trong những thuộc quốc của PhùNam đã tấn công đánh chiếm Mặc dù vậy, trong suốt thời gian gần 10 thế kỷ vùngđất Nam Bộ không đựơc cai quản chặt chẽ và gần như bị bỏ hoang

Trang 21

Từ cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, dưới sự bảo hộ của các chúaNguyễn, người Việt đã từng bước Nam tiến khai phá vùng đất này Bên cạnh một

bộ phận thiểu số những cư dân đến từ trước đó, người Việt đã nhành chóng hoàđồng với các cộng đồng cư dân này Song song đó, với những biến động to lớn củanhà nước Champa nửa cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, một luồng dân di cưngười Chăm chạy sang Chân Lạp, do nhiều nguyên nhân khác nhau họ chuyển cư

về địa bàn các tỉnh Nam Bộ trong đó có An Giang Ở Trung Quốc sau khi nhà Minhsụp đổ, một số quan lại, triều thần nhà Minh không thuần phục nhà Thanh “Bài Mãnphục Minh”, đem gia quyến xuôi thuyền xuống phương Nam, được sự chấp thuậncủa các chúa Nguyễn, những nhóm người Hoa này định cư ở Biên Hòa, Gia Định,

Mỹ Tho… dần dần tiến xuống phía Nam khai khẩn Cùng với nhóm của Mạc Cửuđến từ trước ở Hà Tiên tạo nên lượng khá lớn người Hoa ở Nam Bộ Nhưng ngườiViệt với số lượng đông đảo, tổ chức chặt chẽ, đã trở thành cư dân trung tâm, thực sựquản vùng đất này

An Giang được xem là tỉnh cuối cùng trong công cuộc khẩn hoang đất Nam

Bộ của người Việt Mặc dù có lịch sử phát triển tương đối muộn nhưng ở An Giangvẫn hội tụ đủ bốn tộc người Việt, Khmer, Chăm, Hoa sống và định cư như các tỉnhkhác trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Hiện toàn tỉnh có tổng số 2.218.403người, trong đó người Việt chiếm 94,83% dân số toàn tỉnh, người Khmer chiếm3,90%, người Hoa chiếm 0,65%, người Chăm chiếm 0,62%, phân bố không đồngđều giữa các địa bàn trong tỉnh

Người Khmer thường cư trú miền đất cao, chủ yếu quanh các dãy núi và tậphợp thành các phum, sóc – tổ chức xã hội truyền thống của người Khmer Mặc dù

có lịch sử định cư nhiều biến động nhưng về cơ bản người Khmer định cư chủ yếuhai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên ngoài ra còn một bộ phận nhỏ ở Châu Thành vàThoại Sơn, kinh tế chính của họ là nông nghiệp

Người Chăm cư trú tập trung thành các làng mà theo tiếng Chăm gọi làPalay, phân bố dọc theo bờ sông Hậu, tập trung ở các huyện như An Phú, Tân Châu,

Trang 22

Phú Tân, Châu Phú Sau năm 1975 một nhóm người Chăm chuyển cư đến vùngkinh tế mới Vĩnh Hanh thuộc huyện Châu Thành Hoạt động kinh tế chính là nôngnghiệp, buôn bán và các làng nghề thủ công, đặc biệt là dệt

Người Hoa có mặt ở Nam Bộ nói chung, An Giang nói riêng cách naykhoảng ba thế kỷ, nguồn gốc chủ yếu người Hoa ở các tỉnh như: Phúc Kiến(Chương Châu, Phước Châu), Quảng Đông (Triều Châu, Quảng Châu, Huệ Châu),

An Huy Ở An Giang người Hoa định cư chủ yếu ở Long Xuyên, Châu Đốc và rảirác một số trung tâm kinh tế lớn của các huyện An Phú, Tân Châu, Phú Tân, TịnhBiên… Trong quá trình sinh sống họ tập trung theo từng nhóm ngôn ngữ nhưngười Hoa Triều Châu ở Châu Đốc, người Hẹ ở Tịnh Biên, người Phúc kiến ở LongXuyên Hoạt động kinh tế chính buôn bán, nghề thủ công truyền thống, một số ítlàm ruộng, rẫy…

An Giang vừa có núi cao, sông dài, đặc biệt có dãy Thất Sơn hùng vĩ vàhuyến bí, cũng là nơi sản sinh một số tôn giáo bản địa như: Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ

Ân Hiếu Nghĩa, Hòa Hảo… Bên cạnh đó còn tiếp thu, du nhập các tôn giáo khácnhư: đạo Phật, đạo Cao Đài, đạo Thiên Chúa và đạo Tin Lành,

Từ xưa, cư dân An Giang sống bằng nghề làm ruộng, đánh bắt cá, tôm… vàmột số nghề thủ công như dệt, mộc đan lát, nắn nồi, chạm khắc đá Ở vùng cù laođất giồng, nước ngập không đáng kể, việc canh tác tương đối dễ dàng Từ cây lúa,con cá, cư dân tiến dần qua trồng trọt hoa màu, cây ăn trái và phát triển các ngànhnghề thủ công cổ truyền của dân tộc Nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa kháphổ biến, tập trung nhiều nhất ở vùng Tân Châu, Chợ Mới Cho đến đầu thế kỷ XX,lụa Tân Châu đã nổi tiếng một thời vừa bền, vừa đẹp Ở Bảy Núi, Châu Giang(Châu Đốc), đồng bào Khmer, Chăm đã cần cù dệt nên những chiếc “Xà Rong”,khăn đội đầu, khăn choàng tắm, áo,… nhiều màu sặc sỡ

Nghề mộc cũng sớm phát triển trên đất Chợ Mới Ở An Giang và cả miềnTây đều biết đến những người thợ miệt Chợ Thủ (Chợ Mới) qua những sản phẩmthủ công tinh xảo có tính nghệ thuật cao, từ đơn giản đến cầu kỳ, phức tạp

Trang 23

Ở núi Sam, núi Sập do nhu cầu tiêu dùng của xã hội, dần dần hình thànhtầng lớp “thợ” chuyên khai thác đá Ngoài đá xây dựng ra, họ còn làm ra những đồdùng như cối giã gạo, chày đâm tiêu, cối xay bột, mặt bàn… và cả đồ trang sứcbằng đá quý Nghề đan bàng tập trung ở vùng Tịnh Biên, Tri Tôn Với bàn tay khéoléo của người nông dân, từ những cây cỏ ngoài đồng sâu đã biến thành những vậtdụng cần thiết cho gia đình như mái nhà, đệm, giỏ xách… Đặc biệt là cây bàng đãtạo ra chiếc nón kỳ diệu để sau này cùng với cây tầm vông đi vào lịch sử đấu tranhoai hùng của dân tộc, in đậm trong ký ức của người dân vùng đồng bằng châu thổ

Tuy nghề thủ công có phát triển, nhưng kinh tế chính của người dân AnGiang vẫn là cây lúa Những người dân An Giang đầu tiên cũng chỉ biết làm ruộngcấy ở vùng Cù lao, Bảy Núi, còn ở vùng ngập nước thì đánh bắt cá, tôm hoặc trồnghoa màu phụ sinh sống qua ngày Cảnh “phá sơn lâm, đâm hà bá” ngày càng khôngphù hợp với sự gia tăng dân số Bản thân cây lúa cũng bị hạn chế về diện tích gieotrồng, không đối đầu được với mùa nước nổi hàng năm Người dân An Giang trongquá trình lao động cần cù sau này đã tìm cho mình cây lúa nổi đủ sức vươn mình vàtồn tại lên trên mặt nước mênh mông Cây lúa nổi đối với cư dân An Giang là mộtbiểu tượng tuyệt vời về sức sống mãnh liệt trong quá trình mở đất và giữ đất Khôngdừng lại ở đó, trải qua bao thế hệ con người An Giang từng bước chinh phục tựnhiên, cải tạo đất đai biến An Giang trở thành tỉnh đứng đầu cả nước về sản lượnglúa gạo

1.4 Quá trình người Việt khai phá vùng đất An Giang

Người Việt bắt đầu đến vùng đất An Giang từ lúc nào thì cho đến nay chưathấy sử sách ghi chép rõ ràng Tuy nhiên, theo truyền thuyết dân gian và một số vếttích còn lại đến ngày nay thì đã có một số nhóm người Việt gốc miền Trung vào đây

từ rất lâu Nhưng do điều kiện sống khắc nghiệt nên dân cư còn thưa thớt Chỉ khithấy khói vương toả qua cây lá chỗ nào thì mới biết có người ở nơi đó [87] Nhưng

có thể khẳng định họ di chuyển: “với những phương tiện thủy là chủ yếu như

thuyền buồm, ghe bầu những lưu dân người Việt từ phía ngoài Gia Định kẻ trước

Trang 24

người sau lần lượt tiến vào vùng đất mới trong đó có An Giang” [46, 44] Sau khi

chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả công chúa Ngọc Vạn làm Hoàng hậu cho vuaChey Chettha II, dưới sự bảo hộ của bà, người Việt hiện diện vùng đất ThủyChân Lạp (An Giang bấy giờ vẫn nằm trong đất Tầm Phong Long của ThủyChân Lạp), ngày càng đông Năm 1698, được lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu, Thốngsuất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, lập ra hai huyện Phước Long và TânBình cho thuộc hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn, gọi chung là Gia Định phủ, trênphần đất từ sông Đồng Nai đến sông Tiền Nhận thấy triều đình Chân Lạp thiếu ổnđịnh, thế lực chúa Nguyễn đang lên, năm 1708 Mạc Cửu xin dâng vùng đất Hà Tiênnhập vào Đàng Trong cho chúa Nguyễn và xin được bảo hộ Như vậy, có thể thấyngay từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII công cuộc di dân của người Việt vàophía Nam, trong đó có vùng đất An Giang ngàng càng tăng lên cả quy mô và sốlượng Thành phần chủ yếu của di dân người Việt khai phá vùng đất An Giang chủyếu xuất thân từ dân nghèo miền Trung, nhất là dân đất Ngũ Quảng Do chiến tranhloạn lạc, chế độ thuế khóa bóc lột nặng nề, mùa màng thất bát buộc phải tha phươngcầu thực Ngoài ra còn có một ít là quan lại, binh lính cùng gia quyến vào Namtheo lệnh của triều đình

Ở huyện Châu Phú, năm 1783 ông Dương Văn Hóa lập ấp Bình Lâm (nay làhai xã Bình Mỹ, Bình Thủy, huyện Châu Phú) Tương truyền khi Nguyễn HữuCảnh vào Nam kinh lược, đã thấy có người Việt ở vùng Bình Mỹ, vùng Châu Đốc

và vùng cù lao Cây Sao (cù lao Ông Chưởng ngày nay.) [87]

Cuối thế kỷ XVIII có dòng họ Lê vốn là dòng họ lớn và phát triển rộng ở ChâuĐốc cho đến nay, kể lại rằng: Ông tổ của dòng họ mình là Lê Văn Chữ, gốc miềnTrung vào Cao Lãnh khai hoang lập nghiệp, được thời gian ngắn thì sang vùng ChâuĐốc định cư, lúc ấy khoảng năm 1784 Dòng họ này đã khai phá vùng đất Long Sơn(nay là xã Long Sơn, huyện Phú Tân), dựng ngôi đình Long Sơn Ngôi đình này đếnnay vẫn còn tồn tại ở xã Long Sơn, trên trần đình có ghi hai chữ “Lê Phủ” Hàng nămvào các ngày mồng 9, 10 và 11 tháng 5 âm lịch là lễ rước sắc thần được long trọng tổchức từ Lê Phủ, để từ đó đưa đến miếu bà Chúa Xứ rồi trở về đình

Trang 25

Khoảng năm 1785-1837 dòng họ Lê Công người gốc Quảng Bình vào VĩnhLong lập nghiệp, sau đó đến Châu Đốc khai hoang khoảng cuối thế kỷ XVIII.Người đầu tiên đến lập làng là ông Lê Công Thoàn (1785-1837) cùng họ hàng giaquyến lập ra ấp Châu Long (nay là thành phố Châu Đốc) Gia phả dòng họ Lê Công

lập năm 1913, trong đó có ghi “Đại Nam Duy Tân thất niên lập phế tích Quý Sửu

niên, Nhị ngoạt, sơ nhị nhứt lập tông chi, Qúy Tỵ nhứt liệt kế, lập phủ hậu phương sao bổn chánh” Tức “ngày mùng 2 tháng 2 năm Quý Sửu đời vua Duy Tân năm

thứ 7 – lập tông chi, ngày Quý Tỵ liệt kế, lập giả phả lưu lại mai sau” Ông Lê CôngThoàn có bảy người con trong đó, ông Lê Công Bích làm đến chức Tổng binh; LêCông Châu chuyên lo lương thực cho dân khai hoang ăn; Lê Công Thành hiến một

số đất của dòng họ cho việc xây dựng chợ,…Với nhiều công lao to lớn trong khaikhẩn dòng họ Lê Công được triều đình cho giữ sắc thần của bậc khai quốc côngthần Nguyễn Hữu Cảnh Hiện con cháu đời thứ 7 gia tộc Lê Công vẫn còn định cưsinh sống ở Châu Đốc Hằng năm vào ngày mồng 10 tháng 5 âm lịch, lễ rước sắcthần được tổ chức trọng thể ở nhà lớn về đình Châu Phú Ngoài ra, còn có gia tộcNguyễn Khắc vốn con cháu danh thần Thoại Ngọc Hầu góp phần không nhỏ trongviệc “trảm thảo khai sơn” ở vùng này

Nhà Nguyễn thành lập công cuộc khai phá đất An Giang của người Việtngày càng xuất tiến mạnh mẽ Với nhiều chính sách thông thoáng, khuyến khíchkhai hoang như tự chọn nơi khá phá, hỗ trợ nông cụ, cho mượn trâu bò, cấp tiền,gạo, miễn thuế ba năm hoặc lâu hơn… công cuộc khai hoang diễn ra sôi nổi, gópphần không nhỏ làm thay đổi diện mạo vùng đất An Giang Một trong những chínhsách mang tầm chiến lược của thời kỳ đầu của nhà Nguyễn ở vùng đất An Giang làviệc đẩy mạnh thiết lập các đồn điền, nhất là các vùng biên giới như Châu Đốc,Vĩnh Tế…Với thành phần nòng cốt là lực lượng binh lính Như lời tâu của Tôn Thất

Phan: “Nay nên cho đóng quân đồn điền, dựng kho thóc ở địa hạt tỉnh ấy (An

Giang), một là dự trú quân lương cho đủ, hai là để giữ việc biên phòng…”.[47,11]

Từ 1817 trở đi công cuộc khai phá đất An Giang diễn ra nhanh và mangbước đột phá lớn, nhờ công rất lớn của trấn thủ Thoại Ngọc Hầu Với tư cách trấn

Trang 26

thủ trấn Vĩnh Thanh, năm 1818 theo lệnh triều đình ông chỉ đạo đào kênh Thoại Hà

từ Đông Xuyên đi Rạch Giá, có chiều dài hơn 40km tạo điều kiện cho dân đến định

cư hai bên bờ cũng như phát triển nông nghiệp Năm 1819 đến 1825 ông tiếp tụclãnh đạo công cuộc đào kênh Vĩnh Tế từ Châu Đốc đến Hà Tiên có chiều dài hơn90km Con kênh này không chỉ nhằm mục đích thoát lũ ra biển Tây, tạo điều kiệngiao thương thuận lợi cho hai vùng Châu Đốc – Hà Tiên, thu hút lưu dân định cưthêm đông đúc mà còn mang ý nghĩa chiến lược về quốc phòng vùng biên giới giápvới Campuchia Ngoài ra Thoại Ngọc Hầu còn cho quân dân đáp lộ Châu Đốc điNúi Sam (Châu Đốc tân lộ kiều hương), đây được xem là bàn đạp để tiến vào khẩnhoang vùng núi phía Tây như Tịnh Biên, Tri Tôn

Một thành phần khác trong công cuộc khai phá đất An Giang của người Việtkhông thế không nhắc đến là tù phạm Dưới thời Minh Mạng và Thiệu Trị, dân tùphạm, lưu đày được chính quyền gom về các vùng viễn xứ, biên cương khai hoanglập làng định cư sinh sống Ở An Giang thành phần này tập trung vùng Châu Đốc,

Vĩnh Tế Về vấn đề này Nguyễn Tri Phương đề xuất: “những tù tội chính quán, ngụ

quán ở 6 tỉnh (từ tội sung quân trở xuống), không kể quan hay dân phạm tội, nếu có người nào ra sức tình nguyện triệu mộ dân, lập làm 1 đội hoặc thôn đều đủ 50 người, thì cho phép lập làng, họ bào nhận cam kết, sẽ được tạm tha, cho đi chiêu

mộ đủ số thì tha tội……” Hay “phàm những tên can tội trộm, cướp vặt và những tên du côn không rõ lai lịch ở 6 tỉnh Nam Kỳ mà tội chỉ mãn đồ (3 năm) trở xuống đều phải cho các bảo tỉnh An Giang sai phái Tên nào xin không muốn lãnh thì lưu lại đồn điền làm lính, tùy tiện để khai khẩn cày cấy Đợi số ruộng khai khẩn được bao nhiêu, cho giữ làm sản nghiệp đời đời…” [17, 264]

Bên cạnh các thành phần lưu dân, di dân, bính lính và tù phạm, nhóm tín đồThiên chúa giáo, Bửu Sơn Kỳ Hương cũng góp công không nhỏ trong khẩn hoangđất An Giang Ngay từ năm 1778 một số giáo dân Thiên chúa giáo đã lánh nạn vàkhai khẩn ở cù lao Giêng (Xã Tấn Mỹ, huyện Chơ Mới ngày nay); Năng Gù (Năng

Gù, huyện Châu Phú ngày nay); Cái Đôi (Xã Hòa Bình, huyện Chợ Mới ngày nay)

Về sau, dưới sự lãnh đạo của giáo chủ Đoàn Minh Quyên tín đồ đạo Bửu Sơn Kỳ

Trang 27

Hương khai phá phần lớn vùng Thất Sơn, Láng Linh, Cái Dầu Về cơ bản khoảnggiữa thế kỷ XIX công cuộc khai phá vùng đất An Giang gần như trọn vẹn toàn lãnhthổ của tỉnh An Giang hiện nay

Công cuộc khẩn hoang đất An Giang là một quá trình lâu dài và kiên trì, làbiểu tượng sự cần cù, ý chí và tinh thần cộng cư hòa bình của bốn tộc người trên đất

An Giang xưa Trong đó, đặc biệt nổi bật lên vai trò quan trọng của nhóm di dân,lưu dân…người Việt Mặc dù đến muộn hơn, nhưng thành quả khai hoang lại nhiềuhơn hết Điều này dần khẳng định vị thế và vài trò trung tâm của nhóm người Việttrong xây dựng và phát triển kinh tế, ổn định chính trị và sinh hoạt văn hóa…bấygiờ và các thế kỷ tiếp theo

Tiểu kết chương 1

An Giang là tỉnh tận cùng phía Tây Nam của tổ quốc, phía Đông và phía Bắcgiáp tỉnh Đồng Tháp, phía Tây Bắc giáp Campuchia có đường biên giới dài gần100km, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông Nam giáp thànhphố Cần Thơ Diện tích tự nhiên của tỉnh là 3.506 km2 , dân số ước tính khoảng hơn2,14 triệu người Sau khi ra đời 1832, tên gọi An Giang trải qua nhiều lần thay đổi,nhất là trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954), và kháng chiến chống Mĩ(1954-1975) Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, theo nghị quyết 19/NQ của

Bộ Chính Trị, tháng 2/1976 tỉnh An Giang chính thức được tái lập trở lại và mangtên gọi cho đến nay Nghĩa hai chữ “An Giang” đã phần nào phản ánh đúng đặcđiểm diện dạo thiên nhiên và đời sống tính cách con người nơi đây

An Giang được xem là nơi dừng chân cuối cùng trong công cuộc khẩn hoangđất Nam Bộ xưa kia Mặc dù có lịch sử phát triển tương đối muộn nhưng ở AnGiang vẫn hội tụ đủ bốn tộc người Việt, Khmer, Chăm, Hoa và may mắn được thiênnhiên ban tặng nhiều danh lam thắng cảnh đẹp và nổi tiếng điển hình là dãy ThấtSơn hùng vĩ Để có được tỉnh An Giang trù phú như ngày nay, đó là một quá trìnhkhai khẩn lâu dài và kiên trì, đầy hiểm nguy và thách thức thể hiện tinh thần nghilực phi thường của cộng đồng bốn tộc người trên đất An Giang, trong đó đặc biệt

Trang 28

nổi bật lên vai trò quan trọng của nhóm người Việt Dù là tỉnh có lịch sử non trẻ hơncác tỉnh trong khu vực thế nhưng An Giang nhanh chóng chiếm giữ những vị tríquán quân trên một số lĩnh vực của quốc gia như: xuất khẩu lúa gạo, nuôi trồng,đánh bắt thủy sản Để có được những thành tích đáng tự hào đó, trước tiên là sựlãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ An Giang với đường lối chính sách và chủ trươngphù hợp, phát huy được tiềm năng và sức mạnh của con người và thiên nhiên ở AnGiang Nhưng sâu xa đằng sau sự vươn lên mạnh mẽ đó là một tiền đề kinh tế xãhội, văn hóa, phong tục tập quán vững chắc mà biết bao thế hệ cha ông đã vunđắp tạo dựng

Trang 29

Chương 2 VĂN HÓA AN GIANG TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI VĂN HÓA ẤN

ĐỘ QUA DI TÍCH ÓC EO

Vùng đất Nam Bộ ngày nay, thời kì cổ trung đại từng là địa bàn tồn tại của hainhà nước Phù Nam (I-VII) và Chân Lạp (VII-XVII), với nền văn hóa Óc Eo phát triểnrực rỡ Tuy nhiên, có nhiều câu hỏi đặt ra chủ nhân của nền văn hóa đó là người PhùNam hay người Khmer Do đó, khi nghiên cứu lịch sử văn hóa An Giang, nhất là có liênquan đến di chỉ văn hóa Óc Eo cần xác định và trả lời rõ cho câu hỏi này Qua các kếtquả nghiên cứu đã xác lập cơ sở khoa học có thể đi đến nhận định rằng chủ nhâncủa Văn hóa Óc Eo là vương quốc Phù Nam với tộc người chính là Môn cổ, nóitiếng Malyo - Polinésien hay Nam Đảo giống với những cư dân Thượng ở TâyNguyên, chứ không phải người Khmer nói ngôn ngữ Nam Á

2.1 An Giang trong thời kỳ vương quốc Phù Nam (thế kỷ I – giữa thế kỷ VII)

Phần lớn các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều nhìn nhận PhùNam dưới nhiều quan điểm rất khác nhau về tên gọi, phạm vi lãnh thổ, tộc ngườichính…E Aymonier cho rằng Phù Nam là một từ gốc Khmer, là Pnôm Pênh vàlãnh thổ Fu Nan (Phù Nam) bao gồm Tchenla (Chân Lạp) mở rộng ra cả ViệtNam, Thái Lan và vùng chung quanh [78,207] Paul Pelliot sau khi trích dịch vàchú giải kỹ các tư liệu thư tịch Trung Hoa kết hợp với các bi ký cổ, phê phánluận điểm của E Aymonier đồng nhất Fu Nan (Phù Nam) với Tchenla (ChânLạp) Ông phân biệt rõ ràng Phù Nam và Chân Lạp là hai nước thuộc hai thời kỳlịch sử khác nhau, chính Chân Lạp là một thuộc quốc của Phù Nam, đã xâmchiếm Phù Nam Ông cho rằng có sự khác biệt về địa bàn cư trú và cư dân, ngônngữ giữa Phù Nam và Chân Lạp Chân Lạp ở phía bắc và Phù Nam ở phía namtrên hạ lưu sông Mêkong [78,208]

G Coedès cũng cho rằng Founan là phiên âm theo phát âm đời Đường từ

b’iu-nâm của tiếng Khmer cổ là bnam, nay là phnom có nghĩa là núi, vua Founan là

"vua núi" theo tiếng sanskrit là "parvatabhỷpâla" hay "ỗailarâja" và tiếng Khmer là

Trang 30

"kurung bnam" Ông cho rằng trung tâm của Phù Nam là hạ lưu sông Mêkông,

nhưng lãnh thổ bao gồm cả Nam Trung Bộ, trung lưu sông Mêkông và phần lớn lưuvực sông Mênam, bán đảo Mã Lai.[82, 68]

Theo Giáo sư Lương Ninh cư dân Phù Nam vốn là cư dân bản địa ở ĐôngNam Á cổ, họ tự gọi mình là tộc người miền núi Họ vốn có rất nhiều bộ lạc, mộttrong những bộ lạc đó đã sống ở vùng Angkor Borei, đã phát triển và lập nên quốcgia đầu tiên, tự gọi mình là Tộc người miền Núi, theo tiếng Phạn là Kirivamsa.Quốc hiệu Phù Nam là do hai sứ nhà Ngô (thời Tam Quốc – Trung Quốc) là KhangThái và Chu Ứng ghi bằng chữ Hán, tuy nhiên đó hoàn toàn không phải là phiên âmcủa Phnom (nghĩa là núi – tiếng Khmer), đó là phiên âm tên tộc người bản địa,Vnam, Bnam, Mnong, Pnong [59,13]

Theo tác giả Lê Xuân Diệm, xét về Hán ngữ thì Phù có nghĩa giúp đỡ, nâng

đỡ Nam: phương Nam Nước Phù Nam có nghĩa nước hay những nước ở phươngNam được sự giúp đỡ, nâng đỡ của Thiên triều nhà Đông Ngô -Trung Quốc Nókhông phải là từ phiên âm của Phnom của tiếng Khmer mà giới khoa học xưa naythường ngộ nhận Cộng đồng cư dân ở châu thổ sông Cửu Long chưa bao giờ tự gọi

là Phù Nam.[79, 267].

Lịch sử hình thành vương quốc Phù Nam thường được biết đến bằng truyền

thuyết phổ biến ghi chép trong sử liệu Trung Quốc: “Nước Phù Nam thuộc man

phía tây biển lớn Ở phía nam quận Nhật Nam, diện tích rộng hơn 3.000 dặm, nước

ấy có một con sông lớn chảy theo hướng tây ra biển Trước đây, nước này có vị nữ vương tên là Liễu Diệp Lại có một người nước Khích tên là Hỗn Điền, một đêm nằm mơ thấy thần cho một cái cung, và bảo anh ta cưỡi thuyền ra biển Sáng ra, Hỗn Điền tới miếu thờ thần, quả nhiên nhặt được cái cung ở dưới gốc cây Anh ta liền cưỡi thuyền đi xuống phía nước Phù Nam Liễu Diệp thấy có thuyền tới, đem quân định tấn công Hỗn Điền từ xa giương cung bắn trúng thuyền, mũi tên xuyên qua một mạn thuyền, trúng vào người ở trong Liễu Diệp sợ hãi, xin hàng Hỗn Điền bèn cưới nàng làm vợ Hỗn Điền ghét tục nước này ở trần, nên bảo nàng lấy vải quấn Hỗn Điền cai trị luôn nước ấy”.[79, 235]

Trang 31

Trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội cuối thời kỳ đồng thau, sơ kỳ đồ sắt,dưới tác động của văn minh Ấn Độ về cả các mặt văn hóa - chính trị - kinh tế -ngoại thương đường biển, khoảng đầu Công nguyên, vùng đất Nam bộ đã bước vàothời kỳ lập quốc Trên vùng đất này đã xuất hiện một quốc gia có tên gọi là Phù

Nam Phù Nam trong thời hưng thịnh của mình đã kiểm soát một vùng đất kéo dài

từ phía nam của Trung bộ Việt Nam, trung lưu sông Mê Kông và một phần lớn châuthổ sông Mê Nam gồm phía bắc bán đảo Mã lai và cả vùng đất ven vịnh Thái Lan

Theo Lê Hương cương vực Phù Nam: “Lãnh thổ Phù Nam choán cả miền nam bán

đảo Đông Dương vùng hạ lưu sông Cửu Long, vùng Đồng Tháp Mười, các đất đai sát bờ biển Thái Lan, vùng bình nguyên sông Mê Nam và bán đảo Mã Lai Trung tâm lãnh thổ ở vùng châu thổ sông Cửu Long” [36, 30]

Nguồn thư tịch cổ có những ghi chép liên hệ đến vùng đất châu thổ sông CửuLong không nhiều mà hầu hết là do các quan chức, các sứ thần Trung Hoa thời xưa

thực hiện Tên gọi Phù Nam xuất hiện đầu tiên trong cuốn Sử ký của Tư Mã Thiên.

Dưới triều Thành Vương nhà Chu (Châu) năm Tân Mão (1109 trước Công nguyên)

có sứ giả nước Việt Thường sang triều cống dâng chim trĩ trắng Vị sứ giả nàykhông biết đường về Chu Công Đán cho 5 xe chỉ nam để dò đường Sứ giả đi qua

xứ Phù Nam, Lâm Ấp về nước đúng một năm Trong đó, những ghi chép của KhangThái, Chu Ứng hai vị quan được Lữ Đại - Thứ sử triều đình nhà Ngô thời TamQuốc (230-280) cử đi sứ đến nước Phù Nam mà địa bàn trung tâm là vùng châu thổsông Cửu Long Khi về nước năm 250, hai vị quan này đã viết một vài cuốn sách vềđất nước này Riêng Khang Thái đã biên soạn “Phù Nam truyện”, “Phù Nam ký”,

“Phù Nam thổ tục”, “Phù Nam thổ tục truyện” Chu Ứng thì viết cuốn “Phù Nam dịvật chí” Trúc Chi - một người đương thời, có viết cuốn “Phù Nam ký” Các sáchnói trên đều đã bị thất lạc từ lâu Người ta chỉ biết chúng nhờ được trích dẫn mộtphần hoặc được soạn lại trong một số thư tịch được biên soạn từ thế kỷ V-VI về sau

Ví như Thủy kinh chú, Thái Bình ngự lãm, Thái Bình hoàn vũ ký, Thông điển, Sử ký

chính nghĩa… Hoặc trong các cuốn sách sử như Lương thư, Nam Tề thư, Tùy thư, Đường thư Ngoài ra, có một nhà sư Trung Hoa, tên Nghĩa Tĩnh từng du hành đến

Trang 32

các nước trong vùng Nam Hải (tức Đông Nam Á ngày nay), từ năm 671-695 cũng

có viết về phong tục, địa lý Phù Nam trong hai cuốn sách Nam Hải ký quy nội pháp

truyện và Đại Đường Tây vực cầu pháp tăng truyện.

Từ nội dung những đoạn trích dẫn hoặc biên soạn về nước cổ Phù Nam trongcác sách kể trên (có niên đại từ thế kỷ thứ V-VI đến thế kỷ thứ X), chúng ta có thểhình dung được phần nào cảnh trí thiên nhiên, môi trường sinh thái của châu thổthời bấy giờ

Trước hết, sách Nam Tề thư có đoạn mô tả: “Nước Phù Nam ở phía Nam xứ

Nhật Nam, trong vịnh lớn phía tây Đại Hải, có một con sông lớn chảy từ hướng tây

và đổ ra biển” [79, 236]

Theo Tấn thư “Phù Nam, cách Lâm Ấp về phía Tây hơn 3000 dặm, giữa

vịnh lớn trong biển, diện tích khoảng 3000 dặm Nước ấy có thành ấp, cung điện, nhà cửa Người nước ấy, da đều xấu đen, búi tóc, khoả thân, chân đất, không trộm cắp, trồng cấy là nghề nghiệp chính, một năm trồng ba năm thu hoạch”.[79, 235]

Theo Lương thư ghi: “Nước Phù Nam ở phía nam quận Nhật Nam, ở giữa

vịnh phía tây biển Cách Nhật Nam khoảng 7.000 dặm, ở phía tây nam Lâm Ấp, cách nước ấy 3.000 dặm Kinh thành nước này cách biển 500 dặm Trong nước có con sông lớn, rộng 10 dặm, chảy theo hướng tây bắc sang phía đông đổ ra biển Diện tích cả nước rộng hơn 3.000 dặm Đất đai nước ấy thấp và bằng phẳng Khí hậu và phong tục gần giống như Lâm Ấp”.[79,240]

Theo Nam sử ghi: “Nước Phù Nam ở phía nam quận Nhật Nam, ở trong một

cái vịnh lớn phía tây biển, cách Nhật Nam 7.000 dặm Ở phía tây nam Lâm Ấp, cách nước ấy hơn 3.000 dặm, kinh thành cách biển 500 dặm Nước ấy có một con sông lớn, rộng 10 dặm, chảy từ phía tây sang phía đông đổ ra biển”.[62,19]

Trong tác phẩm Thông chí của Trịnh Tiều người đời Tống có ghi: “Nước

Phù Nam ở phía nam quận Nhật Nam, ở trong vịnh lớn về phía tây biển Cách Nhật Nam khoảng 7.000 dặm Nằm ở phía tây nam nước Lâm Ấp, cách hơn 3.000 dặm.

Trang 33

Kinh thành nước ấy cách biển 500 dặm, có con sông lớn, rộng tới 10 dặm, chảy từ tây sang đông, đổ ra biển Chu vi nước này rộng 3.000 dặm” [79, 252]

Căn cứ vào ghi chép trong các thư tịch cổ kể trên, các nhà khoa học ngày nayđều đã có sự nhìn nhận chung, thống nhất về vị trí của nước Phù Nam là ở phầnlãnh thổ phía Nam Đông Dương, mạn nam nước Lâm Ấp (Nam Trung Bộ Việt Namngày nay) Trong đó, “vịnh lớn phía Tây Đại Hải” (Biển Đông) chỉ có thể là vịnhThái Lan “Con sông lớn chảy từ hướng tây rồi đổ ra biển” hoặc “con sông lớn, rộng

10 dặm, từ hướng tây bắc chảy về phía đông rồi đổ ra biển” chắc hẳn tương ứng vớidòng chảy của phần hạ lưu sông Mê Kông Và, với đoạn miêu tả “Đất từ trên cao đổxuống và bằng phẳng” hoặc “đất đai thấp trũng, mênh mông, bằng phẳng”, có thểđoán chắc đó là vùng đất một châu thổ rộng lớn mà ngày nay thường quen gọi là

châu thổ sông Cửu Long .[79,18 ].

Từ năm 1937 L Malleret, đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu nhiều di tíchkiến trúc cổ và những di vật có liên quan tại nhiều điểm rải rác trên toàn Nam Bộ, từmiền Đông đến miền Tây, và năm 1944 đã khai quật tại khu di tích Óc Eo và núi BaThê Trong cuộc khai quật này, tác giả nói trên đã tiến hành đào thám sát để tìmhiểu tầng văn hóa, khai quật 5 di tích kiến trúc cổ ở Gò Cây Thị, Gò Óc Eo, GiồngCát và xử lý một số di tích khác trên cánh đồng và trên sườn núi Ba Thê Kết quảnhững khảo sát, khai quật và nghiên cứu của L Malleret đã được công bố trong bộ

L'Archéologie du Delta du Mékong gồm 4 tập, xuất bản từ năm 1959 đến năm 1963.

Tác giả Hà Văn Tấn đã nhận định: “Trước hết, chúng ta có thể nhận ra rằng

thành thị Óc Eo không phải đã mọc lên trên một vùng hoang vắng không dân cư,

mà khu vực này đã là một điểm tụ cư từ rất sớm, ít ra là từ hậu kỳ đá mới hay sơ kỳ thời đại kim khí Những chiếc rìu hay bôn bằng đá, có vai hoặc tứ giác, tìm thấy ở

Óc Eo và các địa điểm như Đá Nổi, Núi Sập đã cho biết điều đó” [79,40]

Theo tác giả Lương Ninh đánh giá về vai trò Óc Eo trong vương quốc Phù

Nam: “một thành thị cổ, một trung tâm thương mại quốc tế có trình độ phát triển

kinh tế, văn hoá và giao lưu vào hàng cao nhất thế giới trong 5 - 6 thế kỷ đầu Công nguyên ”.[79, 128]

Trang 34

Như vậy, thông qua các nguồn sử liệu thư tịch Trung Quốc đã có thể khẳngđịnh sự tồn tại của vương quốc Phù Nam ở vùng đất tương ứng với vùng đất Nam

bộ Tuy nhiên, trong một thời gian dài nền văn minh cổ đại của cư dân Nam bộ chỉđược biết đến qua các thư tịch cổ Đến năm 1944, nhà khảo cổ học người PhápMalleret tiến hành khai quật di chỉ Óc Eo đã phát hiện nhiều di tích kiến trúc vàhiện vật quý chứng minh chính là di tích vật chất của Phù Nam vì niên đại của các

di chỉ thuộc văn hóa Óc Eo phù hợp với thời kỳ tồn tại của quốc gia Phù Nam đượcphản ánh trong các sử liệu chữ viết Sau đó những phát hiện khảo cổ đã mở rộng địabàn phân bố của nền văn hóa này, trải rộng hầu như trên khắp địa phận khu vựcđồng bằng sông Cửu Long từ các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Long An, Đồng Tháp

…cho thấy nền văn hóa này có quan hệ giao lưu rộng rãi với thế giới bên ngoài, dấutích vật chất cho thấy sự liên hệ khá mật thiết với Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Á…trong đó đặc biệt là văn hóa Ấn Độ Với các dấu vết được ghi nhận có diện phân bốrộng có địa tầng khá phức tạp Độ dày của các lớp cư trú cho thấy sự tồn tại lâu dàicủa các di chỉ này Óc Eo – An Giang được xem là trung tâm của cả nền văn hóa Óc

Eo, do đó những dấu ấn văn hóa này chắc chắn được ảnh hưởng, hay tiếp biến ở cácgiai đoạn tiếp sau trên vùng đất An Giang xưa

2.2 Ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ đến văn hóa An Giang qua Di tích Óc Eo (thế

kỷ I đến giữa thế kỷ VII)

2.2.1 Quá trình ảnh hưởng

Văn hóa Ấn Độ ảnh hưởng đến Đông Nam Á nói chung và Phù Nam nóiriêng được thuận lợi trước hết là gần gũi về mặt địa lý, điều kiện hình thành nền vănhóa tương đối giống nhau trên cơ sở nông nghiệp lúa nước,… Đến những thế kỷđầu Công nguyên, một số tuyến thương mại ở châu Á đã được thiết lập “Các tuyếnthương mại đó đã kết tụ hệ thống trao đổi còn nhiều tách biệt ở Đông Nam Á, đưachúng hội nhập với mạng lưới rộng lớn khởi đầu từ Tây Âu, qua Địa Trung Hải,vùng vịnh Ba Tư, Biển Đỏ rồi đến Ấn Độ, Đông Nam Á và Trung Quốc” [79, 96].Lần đầu tiên trong lịch sử, một hệ thống kinh tế thế giới đã được thiết lập Nhu cầu

Trang 35

hàng hoá từ phương Đông đặc biệt là tơ lụa của Trung Quốc và hương liệu Ấn Độ,Đông Nam Á là những món hàng rất hấp dẫn đối với trung tâm kinh tế Địa TrungHải Nhu cầu đó đã là động lực cho sự hình thành tuyến hải thương giữa Ấn Độ vớiTrung Quốc, dĩ nhiên phải đi qua Phù Nam Những hàng hoá đến và đi từ Phù Namtới Trung Quốc được trung chuyển qua hệ thống cảng ven biển đến Lâm Ấp PhùNam giữ vai trò như trạm trung chuyển, cầu nối giao thương trong hệ thống đó

Từ đầu Công nguyên đến thế kỷ V, con đường mậu dịch trên biển nối liền

Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương men theo ven biển từ Trung Hoa qua ven biểnChămpa, Phù Nam, bán đảo Mã Lai rồi chuyển bộ qua eo Kra gọi là Takola và tiếptục con đường ven biển qua các nước Nam Á đến Tây Á và từ đó nối với thế giớiĐịa Trung Hải Phù Nam nằm trên vị trí cực kỳ thuận lợi của hải trình Đông - Tâynày Đế chế Phù Nam lại khống chế và kiểm soát toàn bộ con đường buôn bán venbiển qua bán đảo Mã Lai, bao gồm lưu vực sông Mêkông, sông Mênam và bán đảo

Mã Lai Đô thị - cảng Ba Thê - Óc Eo sớm trở thành trung tâm mậu dịch quốc tếcủa Phù Nam và cả vùng Đông Nam Á lục địa Trung tâm này không những là nơigiao dịch, mua bán giữa Phù Nam với nước ngoài mà còn là địa điểm dừng chân đểlấy nước và mua sắm lương thực, thực phẩm của các con thuyền trên hải trìnhthương mại quốc tế.[78,214]

Những sự tiếp xúc đầu tiên giữa Ấn Độ và Đông Nam Á có nguồn gốc từthời tiền sử Thư tịch cổ của Khang Thái, Nghĩa Tĩnh, Trịnh Hòa, Chu Đạt Quan vàMarco Polo với tư cách là những nhà buôn bán, truyền đạo hay lo công việc nhànước… Họ đã ghi chép và để lại nhiều tài liệu quý cho chúng ta nghiên cứu vềĐông Nam Á Người Trung Quốc thời xưa gọi khu vực này là Nam Dương (chỉnhững nước nằm ở vùng đất phía Nam Trung Quốc), Nhật Bản gọi là Nam Yo(Nam Dương), người Arab gọi là Waq Waq Zabag, người Ấn Độ gọi làSuvanabhumi (Đất Vàng) Trong Thế chiến 2, Lord Mountbatten (Bộ Tư lệnh tốicao của Anh ở Đông Nam Á) đã gọi vùng đất này là Southeast-Asia “Cùng với khuvực Tây Á và Trung Quốc thì Đông Nam Á chính là điểm dừng chân của cácthương nhân và các nhà truyền giáo Ấn Độ Vị trí địa lý đặc thù đã khiến Đông

Trang 36

Nam Á trở thành “ống thông gió” hay “ngã tư đường” quan trọng Nằm án ngữtrên con đường hàng hải nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, Đông Nam

Á từ lâu vẫn được coi là hành lang, là cầu nối hay trạm trung chuyển giữa Ấn

Độ, Tây Á và Địa Trung Hải với Trung Quốc, Nhật Bản”.[63, 145] Chiếm giữ vịtrí có thể xem là “mặt tiền” của Đông Nam Á, Phù Nam, dĩ nhiên trở thành trungtâm kinh tế, thương cảng sầm uất, cũng là nơi hội tụ văn hóa đặc sắc của nhiều cưdân khác nhau

Nằm giữa hai “thế giới” Trung Hoa và Ấn Độ, cùng với sự trưởng thành củanhững nhân tố nội sinh, Đông Nam Á cũng sớm tiếp nhận nhiều ảnh hưởng của cácnền văn minh bên ngoài Cho đến nay, vẫn chưa thể khẳng định một cách chính xácnhững người Ấn Độ đầu tiên đến Đông Nam Á thời gian nào nhưng một số nhànghiên cứu cho rằng vào khoảng thế kỷ thứ II hoặc I trước Công nguyên họ đã đến

đây để tìm kiếm “Các đảo vàng”(Islands of Gold) Với tư cách là một trong những

nhà nước đầu tiên xuất hiện ở Đông Nam Á, Phù Nam đã sớm có mối quan hệ mậtthiết với các thương nhân và nhà truyền giáo Ấn Độ, Trung Hoa [78, 289]

Văn hóa Ấn Độ là một nền văn hóa lớn, đã phát triển cao từ trước Côngnguyên và có sức sống mãnh liệt, cùng với thời gian đã lan tỏa đến một vùng rộnglớn của thế giới, trong đó Đông Nam Á là khu vực chịu ảnh hưởng sâu đậm nhất.Đông Nam Á bao gồm cả lục địa và hải đảo, do vị trí đặc biệt của nó, nằm trên conđường biển thông thương giữa phương Đông và phương Tây, giữa hai nền văn minhlớn của thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ, “nên ngay từ những năm đầu Côngnguyên, hai nền văn hóa này đã phát huy ảnh hưởng của mình đến vùng đất này”.Theo Hall – một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về Đông Nam Á, thì đồngbằng sông Cửu Long của miền Nam Việt Nam là một trong ba vùng đất của ĐôngNam Á chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ sớm nhất, cùng với miền Trung ViệtNam và bán đảo Mã Lai [12,82]

Trong “Các nhà nước Ấn Độ hóa” năm 1947 của G Coedes, ông cho rằng sựtruyền bá văn hóa Ấn Độ đến Đông Nam Á là kết quả của việc Ấn Độ tăng cường

Trang 37

buôn bán với Đông Nam Á vào đầu công nguyên Ông ủng hộ lý thuyết về sự di cư

ồ ạt của những người trốn chạy khỏi Ấn Độ, nhưng lại cho rằng các khu vực định

cư thương mại của người Ấn đã xuất hiện tại các cảng ở Đông Nam Á, tại các cảngnày nhiều phần tử có văn hóa cao hơn, các thầy tu, giới tri thức những người có khảnăng truyền bá nền văn hóa Ấn Độ đã tới được Đông Nam Á một cách thuận lợi.Ngoài ra ông còn cho rằng mục đích đến Đông Nam Á của người Ấn Độ là vàng.Sang thập niên 50 của tếh kỷ XX, Van Leur bác bỏ quan điểm của G Coedes khicho rằng thương mại và thương gia là nhân tố phổ biến văn hóa, Van Leur cho rằngphần lớn các thương nhân là những nhóm xã hội hạ lưu và các thủy thủ thường lànhững nô lệ Do đó những người này không thể quản lý học thuật nghi thức hành lễ,thụ phong ma lực thần diệu, truyền bá học thuật, kiến thức và hiểu biết thành vănmang tính duy lý quan liêu Ông không phủ nhận vai trò của thương mại nhưngnhấn mạnh vai trò của Brahman trong những công việc trên [80, 458]

Nhưng khác với văn hóa Trung Quốc, văn hóa Ấn Độ du nhập vào khu vựcĐông Nam Á bằng con đường hòa bình nên dễ dàng được cư dân bản địa tiếp thunhanh chóng và từng bước bản địa hóa những yếu tố mới lạ phù hợp Bên cạnh haitôn giáo lớn là đạo Hinđu và đạo Phật, một số yếu tố khác của văn hóa Ấn Độ cũngđược du nhập theo và dần dần ảnh hưởng sâu đậm trong nhiều lĩnh vực: ngôn ngữ,chữ viết, văn học, nghệ thuật, kiến trúc - điêu khắc và cả những tập tục Ấn Độ…Bằng sự sáng tạo của mình cư dân Đông Nam Á nói chung và Phù Nam nói riêng đãdựa vào nét văn hóa Ấn Độ để cải biên thành văn hóa của chính mình, điều này thểhiện một cách rõ nét qua chữ viết, kiến trúc…

Là một cảng thị lớn của Đông Nam Á đồng thời là thương cảng quốc tế,

Óc Eo có đủ những điều kiện cần thiết để trở thành một trung tâm kinh tế, vănhoá lớn với một hệ thống cảng thị sầm uất Như vậy, Óc Eo nói riêng và cả vùngđất An Giang xưa dĩ nhiên cũng không nằm ngoài sự tác động của những yếu tốvăn hóa ảnh hưởng từ bên ngoài vào Do đó những thành tựu của văn hóa Ấn Độ

cả về vật chất lẫn tinh thần đã lưu lại dấu ấn khá đậm nét trên vùng đất An Giangđương thời thể hiện ở các hoạt động tôn giáo - tín ngưỡng, ở các công trình kiến

Trang 38

trúc - điêu khắc, các vật dụng sinh hoạt hằng ngày… Theo thời gian những yếu

tố văn hóa này dần bị mai một phai nhạt, cho đến nay hầu như chỉ còn lưu lại ởnhững phế tích cổ, những hiện vật khai quật khảo cổ và cả ở những câu chuyệndân gian được lưu giữ trong dân chúng….Tuy nhiên điều đó không có nghĩa làtrên vùng đất An Giang hiện nay không còn nét đặc trưng văn hóa Ấn Độ thôngqua những di chỉ văn hóa Óc Eo

Độ Trong Phát hiện Ấn Độ, Nehru chỉ ra rằng những người Ấn Độ sau khi vượt

qua hàng rào núi cao, biển rộng, không chỉ mang theo tư tưởng mà còn mang theonghệ thuật, ngôn ngữ, văn học và thiết chế chính trị để rồi từ đó, họ đã cùng với dânbản địa xây dựng các quốc gia “Ấn Độ hóa”, và để lại những dấu ấn không thể phainhạt trong quá trình giao thoa với văn hóa Đông Nam Á (có thể hiểu trung tâm làPhù Nam) trên nhiều phương diện như: ngôn ngữ, tôn giáo, văn học, thiết chế nhànước….An Giang với nền văn hóa Óc Eo rực rỡ là một minh chứng cho ảnh hưởngvăn hóa Ấn Độ, ở vùng đất này

2.2.2.1 Tôn giáo

Trước khi tôn giáo được du nhập từ Ấn Độ đến Phù Nam, quốc gia này thờthiên thần Bằng chứng là cư dân Phù Nam có tục chôn người chết, những phát hiệnkhảo cổ mộ chum tìm thấy ở Óc Eo có niên đại khoảng thế kỷ I-II sau công nguyên,tức trước khi tôn giáo Ấn Độ ảnh hưởng mạnh Sau khi Hinđu, Phật giáo từ Ấn Độ

du nhập vào, tục chôn người chết của người Phù Nam dần ít phổ biến thay vào đó là

Trang 39

hình thức hỏa táng, điều này cho thấy họ đã chịu ảnh hưởng rõ nét Hinđu giáo từ Ấn

Độ Theo Lương thư chép “Phong tục thờ thiên thần, lấy đồng đúc tượng, tượng

hai mặt bốn tay, bốn mặt tám tat ay bồng đứa bé, chim, hình Mặt Trăng, Mặt Trời”

[59, 21] Hay nhà sư Nghĩa Tĩnh đến Phù Nam khoảng 671-695 cũng đã ghi chép

lại: “Ở Phù Nam thuở xưa, người xưa tôn thờ rất nhiều Thần thánh Kế đó Phật

giáo được truyền bá và lan truyền khắp nơi” [82, 42] Trước khi Phật giáo du nhập

thì Hinđu giáo (còn được gọi là Bà La Môn giáo) đã được truyền đến Phù Nam

* Hinđu giáo

Hinđu giáo (còn được gọi là Bà La Môn giáo) là tôn giáo được ra đời từ rất

xa xưa ở Ấn Độ nhưng khi đến Phù Nam thì chỉ còn ba vị thần chủ yếu là Brama,Siva,Vishnu Ngay từ khi cư dân Ấn Độ đầu tiên bắt đầu di cư sang Đông Nam Áthì các vị tu sĩ Ba la môn đã đi theo và khi đến nơi thì đã truyền bá tôn giáo này củamình cho người dân khu vực Các thủ lĩnh thị tộc, bộ lạc Đông Nam Á đã nhanhchóng tiếp thu và ứng dụng việc củng cố chính quyền, người dân cũng tiếp thu đểgiúp cho cuộc sống của họ được sung túc, vui vẻ hơn Vào buổi đầu khi vào ĐôngNam Á, các tu sĩ Ba la môn và các thủ lĩnh địa phương đã đóng một vai trò quantrọng trong việc thể chế hóa tín ngưỡng, tổ chức nhà nước và xã hội ở Đông Nam

Á, nhiều tu sĩ Ba la môn đã được vua chúa nơi đây trọng dụng và được cử vào nắmnhững chức vụ cao trong chính quyền Để tỏ lòng biết ơn cho sự ưu đãi đó, nhiềutăng lữ Ba la môn ban phước lành cho các Vua bản địa trở thành dòng dõi của cáctriều đại Mặt Trăng, Mặt Trời như bên Ấn Độ hoặc dòng dõi của những bậc thánhhiền có liên quan đến các thần Các tu sĩ Ba la môn thực hiện các nghi thức Ấn Độgiáo để tôn phong các Vua bản địa, giúp vua cai trị tốt thông qua các điều phán bảo

mà mình đưa ra và xây dựng triều đình theo kiểu của vương triều Ấn Độ Ngoài ra,các tu sĩ Ba la môn còn dựng tượng các thần, đổi tên cho phù hợp đồng thời đặt racác lễ cúng thần, phong tục của người Ấn Độ áp dụng vào Đông Nam Á Phù Nammột trong những quốc gia ra đời sớm và hùng mạnh bậc nhất ở Đông Nam Á,không nằm ngoài quá trình truyền bá và ảnh hưởng của Hinđu giáo, thậm chí có thểxem trung tâm tôn giáo rực rỡ

Trang 40

Những phát hiện khảo cổ ở vùng chân núi Ba Thê, suốt dọc theo sườnphía đông, đã ghi nhận ít nhất là 14 gò nổi có vết tích kiến trúc gạch đá dạng xâydựng đền đài Ðồng thời, trên những gò nổi đó, người ta còn tìm thấy nhữngtượng thần Brahma, Vishnu, Siva, Surya, Harihara, Linga, Mukhalinga, Yoni,Nandin, một số tượng Phật kích cỡ khác nhau Trong đó, vùng sườn phía đôngbắc của núi Ba Thê được xem là cụm di tích tôn giáo, vì là nơi khai quật đượcnhiều loại tượng thần Bà La Môn giáo nhất Ðặc biệt tìm thấy một tượng thầnVishnu khổng lồ, cao tới 3 mét.

Quanh khu vực của chùa Linh Sơn ngày nay, hiện còn lộ ra những phần đoạnthành, đoạn tường gạch, chạy dài từ sườn núi xuống chân núi, lan rộng ra đến mặtruộng, những loại nền lát gạch còn chìm dưới lòng đất sâu Các kiến trúc được xâydựng với quy mô lớn, có nhiều vết tích về tường thành dài và khá dày, có nhiều nềngạch rộng cùng với nhiều chân tảng lớn, nhiều phiến đá có đục chạm trang trí khátinh vi Ngoài ra trên bề mặt cánh đồng, trong những hố khai quật hay thám sát,người ta đã tìm ra những vết tích của các lớp cu trú cổ, những cọc nhà sàn, nhữngđường nước cổ Từ các chi tiết trên có thể khẳng định đây là những công trìnhmang dáng vóc của Hinđu giáo, bởi vật liệu xây dựng gỗ, đá là nguyên vật liệu của

cư dân bản địa quen dùng từ thời tiền sử, còn gạch là vật liệu mới do tiếp thu kỹthuật cuả Ấn Độ từ đầu Công nguyên Bên cạnh đó, các di chỉ nền móng được pháthiện ở An Giang cho đến nay đều có điểm chung là bình đồ hình vuông, nền móngdày đến hơn 1m xây bằng gạch, đất sét và đá sỏi để có thể chịu lực cuả công trình

đồ sộ bên trên Trong lòng khối kiến trúc vững chắc đều có một hộc hình vuông,được chứa đầy cát, dùng để làm "nơi thoát hồn" theo kiểu Hinđu giáo

Với số lượng tượng thần lớn và nhiều di chỉ nền móng các đền đài đồ sộ, gópphần minh chứng cho sự tiếp thu Hinđu giáo của cư dân Óc Eo ở vùng đất AnGiang xưa Có thể khẳng định đây chính là một trung tâm tôn giáo lớn của PhùNam, với Hinđu giáo là chủ đạo

* Phật giáo

Ngày đăng: 02/04/2017, 08:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan An (1987), “Văn hóa Khơme trong bối cảnh đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Dân tộc học (số 2), tr 48-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Khơme trong bối cảnh đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Phan An
Nhà XB: Tạp chí Dân tộc học
Năm: 1987
2. Đào Duy Anh (1992), Hán Việt tự điển, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào Duy Anh (1992), "Hán Việt tự điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1992
5. Đặng Việt Bích (2005), “Thờ mẫu - Tín ngưỡng truyền thống bản địa Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học số 1/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Việt Bích (2005), “Thờ mẫu - Tín ngưỡng truyền thống bản địa ViệtNam”", Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Đặng Việt Bích
Năm: 2005
6. Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường (1990), Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long. Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1990
7. Borri, Christophoro (Hồng Nhuệ, Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị dịch), 1998, Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Đàng Trong năm 1621
Tác giả: Borri, Christophoro
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
8. Trần Văn Bổn, Một số lễ tục dân gian người Khmer Đồng bằng song Cửu Long, Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số lễ tục dân gian người Khmer Đồng bằng song Cửu Long
Tác giả: Trần Văn Bổn
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
9. Nguyễn Khắc Cảnh (1998), Phum sóc Khmer ở Đồng bằng song Cửu Long, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phum sóc Khmer ở Đồng bằng song Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Khắc Cảnh
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1998
10. Đào Linh Côn (1998), Văn hóa vật chất, văn hóa Óc Eo ở đồng bằng Nam bộ, Tư liệu Viện Khoa học Xã hội TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa vật chất, văn hóa Óc Eo ở đồng bằng Nam bộ
Tác giả: Đào Linh Côn
Nhà XB: Tư liệu Viện Khoa học Xã hội TP. Hồ Chí Minh
Năm: 1998
11. Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Minh Ngọc (2005), Tôn giáo – Tín ngưỡng của các cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo – Tín ngưỡng của các cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Minh Ngọc
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2005
12. D. Hall (1981), A History of South East Asia, N.Y – Đã có bản dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: A History of South East Asia
Tác giả: D. Hall
Nhà XB: N.Y
Năm: 1981
13. Lê Xuân Diệm, Võ Sĩ Khải (1977), “Khảo cổ học với việc nghiên cứu Phù Nam”, Những phát hiện mới về Khảo cổ học, Nxb TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiện mới về Khảo cổ học
Tác giả: Lê Xuân Diệm, Võ Sĩ Khải
Nhà XB: Nxb TP. Hồ Chí Minh
Năm: 1977
14. Lê Xuân Diệm (1978), “Khái quát những phát hiện mới của khảo cổ học ở miền Nam”, Những phát hiện mới về khảo cổ học, Nxb TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiện mới về khảo cổ học
Tác giả: Lê Xuân Diệm
Nhà XB: Nxb TP. Hồ Chí Minh
Năm: 1978
15. Lê Xuân Diệm (1984), “Vài nét về con đường phát triển kinh tế - văn hóa trong buổi đầu lịch sử của đồng bằng sông Cửu Long”, Mấy đặc điểm văn hóa đồng sông Cửu Long, Viện Văn hóa xuất bản, tr 40-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy đặc điểm văn hóa đồng sông Cửu Long
Tác giả: Lê Xuân Diệm
Nhà XB: Viện Văn hóa xuất bản
Năm: 1984
16. Lê Xuân Diệm (1993), “Mấy đặc điểm của sinh hoạt lễ hội cổ truyền của người Việt Nam ở Nam bộ”, Tạp chí Văn hóa dân gian số 2 (42) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Xuân Diệm (1993), “Mấy đặc điểm của sinh hoạt lễ hội cổ truyền củangười Việt Nam ở Nam bộ”, "Tạp chí Văn hóa dân gian
Tác giả: Lê Xuân Diệm
Năm: 1993
17. Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải (1995), Văn hóa Óc Eo – Những khám phá mới, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải (1995), "Văn hóa Óc Eo – Nhữngkhám phá mới
Tác giả: Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1995
18. Phạm Đức Dương (2012), Lịch sử văn hóa Đông Nam Á, Nxb Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn hóa Đông Nam Á
Tác giả: Phạm Đức Dương
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2012
19. Nguyễn Đình Đầu (1994), Tổng kết nghiên cứu địa bạ Nam Kỳ lục tỉnh, Nxb TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Đầu (1994), "Tổng kết nghiên cứu địa bạ Nam Kỳ lục tỉnh
Tác giả: Nguyễn Đình Đầu
Nhà XB: NxbTP. Hồ Chí Minh
Năm: 1994
20. Đại Nam nhất thống chí (Nguyễn Tạo dịch) (1992) – phần Lục tỉnh Nam Việt (tập Hạ), Nxb Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Tạo dịch) (1992)" – phần Lục tỉnh Nam Việt(tập Hạ)
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
23. Lê Quý Đôn (1977), Phủ biên tạp lục, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Quý Đôn (1977), "Phủ biên tạp lục
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1977
24. Trịnh Hoài Đức (2006), Gia Định thành thông chí, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trịnh Hoài Đức (2006), "Gia Định thành thông chí
Tác giả: Trịnh Hoài Đức
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w