Nghiên cứu về Ngô Lợi có ý nghĩa, mộtmặt hiểu sâu thêm về nhân vật lịch sử, yêu nước có công lao đối với AnGiang; mặt khác có thể hình dung một cách tiếp cận mới đối với tôn giáo vàvăn h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LÊ TÙNG CHÂU
NGÔ LỢI VỚI HOẠT ĐỘNG
YÊU NƯỚC VÀ TÔN GIÁO
Ở HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG THẾ KỶ XIX
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: GS,TS Nguyễn Ngọc Cơ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI TRI ÂN
Được tham dự lớp Cao học khóa 23 tại An Giang, tiếp tục nuôi dưỡng
“tình yêu”với môn khoa học lịch sử, bản thân luôn xác định nhiệm vụ quantrọng nhất là cố gắng học tập, không ngừng trao dồi kiến thức, nắm bắt thậtvững vàng những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh
Trong quá trình công tác và giảng dạy sắp tới, tác giả tiếp tục nghiêncứu, bổ sung thêm những vấn đề thực tiễn liên quan đến đề tài, mong muốnnhỏ nhoi là góp một chút sức lực vào công cuộc xây dựng quê hương, đất
nước ngày càng giàu đẹp Quá trình thực hiện đề tài “Ngô Lợi với các hoạt động yêu nước và tôn giáo ở huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang thế kỷ XIX”
không khỏi có những sai sót, khiếm khuyết; những vấn đề lý luận và thực tiễnchưa đề cập một cách thấu đáo Kính mong thầy cô và các bạn học viên góp ýgiúp cho tác giả nhìn nhận vấn đề hoàn chỉnh hơn Xin chân thành tiếp thu vàtri ân
Xin cám ơn tất cả thầy cô của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đặcbiệt là thầy cô của Khoa Lịch sử đã dạy dỗ em trong thời gian từ tháng 12năm 2013 đến tháng 10 năm 2015 Qua thời gian học tập, em càng tin tưởnghơn nữa tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam, tin tưởng vào sự nghiệpđổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, tin tưởng vào “sức mạnh” của
môn khoa học lịch sử Xin được tri ân Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Cơ,
người Thầy – người đã bỏ ra rất nhiều công sức, không quản khó khăn để dìudắt, giúp đỡ em hoàn thành đề tài này Một lần nữa xin cám ơn!
Học viên thực hiện
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của luận văn 5
6 Bố cục luận văn 6
Chương 1: THỜI THẾ VÀ NGUỒN GỐC XUẤT THÂN CỦA NGÔ LỢI 7
1.1 Bối cảnh lịch sử 7
1.1.1 Bối cảnh đất nước 7
1.1.2 Bối cảnh nơi ra đời và phát triển tôn giáo 12
1.1.3 Dân tộc, tôn giáo và văn hóa 14
1.2 Nguồn gốc và xuất thân của Ngô Lợi 18
* Tiểu kết chương 1 21
Chương 2 NGÔ LỢI VỚI NHỮNG HOẠT ĐỘNG YÊU NƯỚC VÀ TÔN GIÁO 23
2.1 Hoạt động yêu nước 23
2.1.1 Khẩn hoang, lập làng 23
2.1.2 Tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp 25
2.1.3 Giữ gìn, sáng tạo làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc 28
2.1.4 Tầm nhìn chiến lược 31
2.2 Hoạt động tôn giáo 32
2.2.1 Sáng lập đạo Tứ ân Hiếu nghĩa 32
2.2.2 Quá trình truyền bá đạo Tứ ân Hiếu nghĩa 38
* Tiểu kết chương 2 41
Chương 3 VAI TRÒ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NGÔ LỢI TRONG DÒNG CHẢY LỊCH SỬ AN GIANG 43
3.1 Đóng góp của Ngô Lợi đối với lịch sử An Giang 43
3.2 Vị trí của Ngô Lợi trong dòng chảy lịch sử An Giang 45
3.2.1 Tín đồ Tứ ân Hiếu nghĩa thực hiện giáo lý chân truyền 45
3.2.2 Tín đồ Tứ ân Hiếu nghĩa góp phần tích cực những thay đổi trên quê hương Tri Tôn 47
Trang 4* Tiểu kết chương 3 51
KẾT LUẬN 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC 62
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quyển Từ điển Nhân vật Lịch sử Việt Nam xuất bản năm 1999, trang
459, tác giả Nguyễn Quyết Thắng và Nguyễn Bá Thế đã viết như sau: “Ngô
Lợi (Canh Dần 1830 - Canh Dần 1890) Tu sĩ, tổ dòng Tứ Ân Hiếu Nghĩa 1 ở miền núi Thất Sơn, tỉnh An Giang” Bên cạnh đó, Ngô Lợi còn là người yêu
nước, có công khai khẩn đất hoang tại An Giang Nhân vật lịch sử được hậuthế ghi lại vài dòng kiêm tốn nhưng đằng sau cuộc đời hoạt động của ông làpho “tiểu thuyết” đồ sộ về những cống hiến cho dân cho nước
An Giang có nhiều tôn giáo, được các nhà nghiên cứu nhận định “làbảo tàng tôn giáo của Việt Nam”, bao gồm: Phật giáo Việt Nam (Bắc tông,Khất sĩ và Nam tông Khmer), Phật giáo Hoà Hảo, 04 hệ phái Cao đài, Cônggiáo, Hồi giáo (Islam), Tin lành, Tịnh độ cư sỹ Phật hội Việt Nam, Tứ ânHiếu nghĩa và Bửu Sơn Kỳ Hương Nghiên cứu về Ngô Lợi có ý nghĩa, mộtmặt hiểu sâu thêm về nhân vật lịch sử, yêu nước có công lao đối với AnGiang; mặt khác có thể hình dung một cách tiếp cận mới đối với tôn giáo vàvăn hóa tôn giáo Tứ ân Hiếu nghĩa
Mục tiêu được đặt lên hàng đầu của đạo Tứ ân Hiếu nghĩa là đền trả Tứ
ân và yêu cầu đền trả ấy bằng những hành động cụ thể thiết thực Thực chấtnhững yêu cầu này là sự xác định quyền lợi, nghĩa vụ của công dân đối với Tổquốc, với con người, với nhân loại Nó thể hiện mối quan hệ đạo với đời, khơigợi truyền thống tổ tiên, ông bà; khơi gợi truyền thống yêu quê hương, yêuđất nước… Đạo Tứ ân Hiếu nghĩa là nơi hội tụ những người nuôi chí lớntrước, trong và sau phong trào Cần Vương đã gây bao trở lực cho quá trìnhbình định của Pháp trước đây Trong chống Mỹ cứu nước, Bảy Núi là căn cứ
1 Các tài liệu thường sử dụng cụm từ Tứ Ân Hiếu Nghĩa in hoa các từ đầu, Hiến chương Đạo hội Tứ ân Hiếu nghĩa (BanTôn giáo Chính phủ ủy quyền UBND tỉnh An Giang chấp thuận năm 2010), chỉ còn từ Tứ và từ Hiếu là in hoa.
Trang 6địa cách mạng của An Giang Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đã thu hútkhá đông tín đồ của Tứ ân Hiếu nghĩa Cho đến nay, có rất nhiều cá nhân vàtập thể tín đồ được Đảng và Nhà nước phong tặng các danh hiệu cao quý Đócũng là niềm tự hào của những tín đồ Tứ ân Hiếu nghĩa.
Ngô Lợi sáng lập đạo Tứ ân Hiếu nghĩa, được tín đồ suy tôn Đức Bổn
sư Quá trình hình thành và phát triển của Tứ ân Hiếu nghĩa gắn với lịch sử bitráng nhưng hào hùng của dân tộc từ năm 1858 đến ngày nay; vì vậy, cónhiều tài liệu, công trình nghiên cứu, khảo cứu liên quan chưa công bố hoặc
đã công bố nhưng vì lý do lịch sử nên bị gián đoạn… Tuy nhiên, đến hiện naychưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, chi tiết, có hệ thốngdưới góc độ khoa học lịch sử, nhất là tiếp cận từ lịch sử địa phương tỉnh AnGiang
Từ thực tế, yêu cầu khách quan nêu trên, việc nghiên cứu lịch sửdanh nhân địa phương là cần thiết, đây là vấn đề vừa có tính cấp thiết trướcmắt, vừa có tính lâu dài; hy vọng làm sáng tỏ tên thật, năm sinh, năm mất,công lao khai khẩn đất hoang, chống Pháp…góp phần vào việc giáo dụcthế hệ trẻ qua những tiết dạy lịch sử địa phương Vì thế tôi chọn đề tài:
“Ngô Lợi với các hoạt động yêu nước và tôn giáo ở huyện Tri Tôn, tỉnh
An Giang thế kỷ XIX” để làm đề tài Luận văn thạc sĩ chuyên ngành lịch sử
Việt Nam của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngô Lợi và đạo Tứ ân Hiếu nghĩa được nghiên cứu tương đối sớm ởViệt Nam Sau Hiệp định Giơnevơ, lập lại hòa bình ở Đông Dương, các tàiliệu, sách, tạp chí đã có đề cập nhưng chủ yếu là ở phía Nam Sau năm 1975,đặc biệt từ năm 2010, Đạo hội Tứ ân Hiếu nghĩa được Nhà nước công nhận,Ngô Lợi và đạo Tứ ân Hiếu nghĩa càng được nghiên cứu sâu rộng hơn, cụ thể:
Trang 7- Trước hết là các tài liệu đề cập gián tiếp đến Ngô Lợi và đạo Tứ ânHiếu nghĩa
Cuốn Đức Phật Thầy Tây An của Vương Kim - Đào Hưng (Nxb Long
Hoa, Sài Gòn, 1954) bàn sâu về ông Đoàn Minh Huyên, người lập ra đạo BửuSơn Kỳ Hương, có chủ thuyết “tứ đại trọng ân” có so sánh với thuyết “tứ ân”của ông Ngô Lợi;
Tạp chí Đuốc Từ Bi số 2/1965 và Nhận thức Phật giáo Hòa Hảo của
Nguyễn Văn Hầu (Nxb Hương Sen, 1968) bàn về Phật giáo Hòa Hảo cũng đềcập đến thuyết “tứ ân” của đạo Tứ ân Hiếu nghĩa;
Tác phẩm Nửa tháng trong miền Thất Sơn của Nguyễn Văn Hầu (Nxb
Hương Sen, 1971) giới thiệu về các ông đạo, Đức Bổn sư
Các tác phẩm khác như : Lịch sử An Giang của Sơn Nam (Nxb Tổng hợp An Giang, 1988) ; Tìm hiểu An Giang xưa của Võ Thành Phương (Văn nghệ An Giang, 2004) và Địa chí An Giang xuất bản 2013 đã khái quát những
nét cơ bản về thân thế sự nghiệp của nhân vật lịch sử Ngô Lợi…
Có thể nói, các tài liệu nêu trên đã đề cập một vài nét về thân thế củaNgô Lợi, về phong trào yêu nước do ông khởi xướng, về tôn giáo do ông sánglập Tuy nhiên, họ tên, năm sinh của ông và ngày khai đạo vẫn chưa đồng nhất
- Bên cạnh các tài liệu đề cập gián tiếp đến Ngô Lợi và đạo Tứ ân Hiếunghĩa, còn có một số tài liệu đề cập trực tiếp đến ông và tôn giáo do ông sánglập Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như sau:
Tác giả Đinh Văn Hạnh trong Luận án Phó Tiến sĩ khoa học lịch sử
(chuyên ngành dân tộc học) “Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa của người Việt ở Nam
bộ - Việt Nam (1867-1975)” bảo vệ năm 1996 và cuốn sách chuyên khảo Đạo
Tứ Ân Hiếu Nghĩa của người Việt ở Nam bộ (1867-1975), 1999 đã đi sâu vào
nghiên cứu và giới thiệu sự phát triển của đạo Tứ ân Hiếu nghĩa giai đoạn
Trang 81867 - 1975 Tác phẩm cũng đã bước đầu đề cập đến phong trào yêu nước doNgô Lợi lãnh đạo;
Kỷ yếu hội thảo khoa học “Danh nhân Ngô Lợi với việc khẩn hoang
vùng đất An Giang vào cuối thế kỷ XIX” do Hội Khoa học lịch sử An Giang tổ
chức năm 2011 có nhiều bài nghiên cứu công lao của Ngô Lợi đối với việckhẩn hoang
Có thể nói cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâucuộc đời, sự nghiệp và vị trí, ảnh hưởng của Ngô Lợi đối với vùng đất AnGiang
Kế thừa thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả nghiên cứu
một cách hệ thống và toàn diện về Ngô Lợi với các hoạt động yêu nước và
tôn giáo ở huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang thế kỷ XIX.
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là cuộc đời và hoạt động yêunước, tôn giáo của Ngô Lợi trên địa bàn huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang thế kỷXIX
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu:chủ yếu là khu vực tập trung đạo Tứ ân Hiếunghĩa ở địa bàn Tri Tôn là chủ yếu, Tuy nhiên, đạo Tứ ân Hiếu nghĩa cũng cóảnh hưởng ở một số địa phương khác trong và ngoài tỉnh An Giang; do đó,trong khi trình bày, luận văn có thể đề cập đến cả những không gian bênngoài địa bàn huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang
- Thời gian: từ lúc Ngô Lợi sinh ra - năm 1831 đến lúc mất vào năm
1890 cùng một số mốc thời gian sau đó có liên quan
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung giải quyết một số nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Trang 9Một là, bối cảnh lịch sử và nguồn gốc xuất thân của Ngô Lợi;
Hai là, những hoạt động yêu nước và tôn giáo nổi bật của ông Ngô Lợi;
Ba là, vai trò và ảnh hưởng của Ngô Lợi trong lịch sử An Giang cũng
như trong đạo Tứ ân Hiếu nghĩa
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
- Tài liệu lưu trữ ở UBND tỉnh An Giang; Chi cục Văn thư - Lưu trữ,Ban Tôn giáo; Thư viện tỉnh An Giang…; như: báo cáo, quyết định, côngvăn, sách, tạp chí, tài liệu tham khảo…
- Tài liệu thành văn:
+ Chuyên khảo: viết về tôn giáo
+ Tham khảo: địa chí, lịch sử…
Hầu hết các tài liệu nêu trên đều được tác giả thừa hưởng và kế thừa từnhững người đi trước, từ các công trình nghiên cứu…
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháplịch sử và phương pháp logic
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thểnhư: thống kê, tổng hợp, phân tích, đặt nhân vật Ngô Lợi trong không gian vàthời gian cụ thể ở huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang thế kỷ XIX và trong mối liên
hệ tương tác, đặt nhân vật lịch sử trong hoàn cảnh khách quan
5 Đóng góp của luận văn
- Làm rõ hơn những công lao của nhân vật lịch sử Ngô Lợi về yêunước, về tôn giáo; phục vụ cho công tác giáo dục truyền thống
- Làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định chính sách đối với tín đồ
và tôn giáo Tứ ân Hiếu nghĩa
- Tăng cường công tác quản lý tôn giáo
Trang 10- Góp phần hỗ trợ dạy lịch sử địa phương trong chương lịch sử ViệtNam ở bậc trung học phổ thông.
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung luận văn chia làm bachương:
Chương 1: Thời thế và nguồn gốc xuất thân của Ngô Lợi
Chương 2: Ngô Lợi với những hoạt động yêu nước và tôn giáo
Chương 3: Vai trò và ảnh hưởng của Ngô Lợi trong dòng chảy lịch sử
An Giang
Trang 11Chương 1:
THỜI THẾ VÀ NGUỒN GỐC XUẤT THÂN
CỦA NGÔ LỢI 1.1 Bối cảnh lịch sử
1.1.1 Bối cảnh đất nước
Nhà Nguyễn thống nhất được đất nước và đã tạo ra được một số dấu ấntrong lịch sử dân tộc nhưng đến khoảng giữa thế kỉ XIX đã gặp phải nhiềuvấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…
Lịch sử Nam bộ giữa thế kỷ XIX nằm trong bối cảnh lịch sử Việt Nambấy giờ Nhưng ở Nam bộ có những nét đặc trưng tiêu biểu dẫn đến sự ra đờicủa nhiều tôn giáo địa phương, trong đó có đạo Tứ ân Hiếu nghĩa
Với diện tích 67.870 km2, ở vào vị trí trung tâm của khu vực ĐôngNam Á, Nam bộ là địa bàn thuận lợi trong việc nối liền, giao lưu mọi mặtvới các nước láng giềng, lại có dãy đồng bằng rộng lớn, đất đai bằng phẳng,màu mỡ, nhiều cá tôm, [33, 19] Do đó, từ rất sớm, Nam bộ trở thành miềnđất hứa của những người nông dân ra đi mở đất, tìm kế sinh nhai Nhưng vì
là miền đất hoang chưa từng được khai phá nên đến giữa thế kỷ XIX, thiênnhiên nơi đây còn rất khắc nghiệt, lại phải chống chọi với nhiều loại thú dữnhư cá sấu, cọp, muỗi, mồng, rắn rết, và nhiều loại bệnh tật nơi rừngthiêng nước độc
Thành phần dân cư ở Nam bộ phong phú với nhiều tộc người cùngchung sống như Việt, Khmer, Hoa, Chăm Người Hoa, Khmer, Chăm sống rảirác nhiều nơi, tập trung nhiều nhất ở An Giang, Cà Mau, Trà Vinh, KiênGiang, Sóc Trăng, Khi mới tới Nam bộ, thực dân Pháp đã thống kê từ năm
1862 đến năm 1888, số người Việt nơi đây là 1.967.000 người, Khmer có
Trang 12151.367 người, Hoa có 56.000 người và khoảng 13.200 người Chăm (năm1880) [18, 96] Tính riêng đồng bằng sông Cửu Long, năm 1867, số dân là966.479 người2 Tuy các thành phần cư dân này có nguồn gốc địa phươngkhác nhau, phong tục tập quán, phương thức làm ăn, thân phận, tôn giáo khácnhau Nhưng tất cả đều vì mục tiêu chung là đẩy lùi đầm lầy, cây dại, thú dữ
để khai hoang lập làng Mặt khác, hầu hết họ là những lưu dân có cuộc sốngvất vả, bị bức bách phải bỏ xứ mà đi, thất bạị trong cuộc sống… nên khi đếnvùng đất mới, đầy lam sơn chướng khí, họ đã sớm nhận ra rằng muốn chiếnthắng thiên nhiên khắc nghiệt cần phải cố kết với nhau, cưu mang, đùm bọclẫn nhau Ở họ, “chất dân chủ và quan hệ bình đẳng rộng rãi hơn, không phânbiệt người quê gốc với người ngụ cư, không nặng nề giáp họ, phe đẳng màtrọng nghĩa khinh tài, “thấy việc nghĩa không làm là đồ bỏ”, “gặp chuyệnchẳng vừa lòng có thể xuống thuyền bỏ đi nơi khác” Vả lại: “Nơi đây đấtrộng, người ít nên không phải ganh đua, phân biệt giàu nghèo, thoát khỏi sự
gò bó, cứng nhắc của lối sống cũ nên dần dần đã hình thành ở họ khí chấtphóng khoáng, chính trực, đôi lúc ngang tàng”, trở thành “cá tính miềnNam”, “cá tính Nam bộ” hay “đặc tính nông dân Nam bộ” Do đó, đã diễn raquá trình giao thoa văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo giữa các tộc người nơi đây
và tạo thành một sắc thái văn hóa riêng của Nam bộ
Xã hội Việt Nam từ giữa thế kỷ XVIII đã rơi vào bế tắc và khủnghoảng Mất mùa, đói kém, dịch bệnh xảy ra liên miên Đến nửa đầu thế kỷXIX vẫn không thể khắc phục được vấn nạn trên với chính sách cai trị hàkhắc, lạc hậu của triều đình nhà Nguyễn Do sự suy yếu của kinh tế, nhà nướckhông ngừng tăng thuế Ở Nam bộ để thu được nhiều thuế, nhà Nguyễn phải
mở rộng việc lập đồn điền ở các tỉnh Sóc Trăng, An Giang, Điều đó đã đẩyđời sống nhân dân vào cảnh khốn cùng, điêu đứng Người dân không trả nổi
2 Nguyễn Công Bình (Chủ biên, 1995), Đồng bằng sông Cửu Long, Nghiên cứu Phát triển, Nxb Khoa học xã
Trang 13thuế phải bỏ xứ mà đi trở thành người đi tha phương cầu thực
- Kinh tế: Theo thống kê năm 1841, Hà Tiên thiếu gạo, giá tăng hơngấp ba lần; năm l844, Biên Hòa mất mùa; từ năm 1851 đến năm 1865 dịchbệnh, nạn đói hoành hạnh khắp nơi, nhất là các vùng Vĩnh Long, Đồng Tháp
và An Giang Nhiều năm nông dân bỏ hoang ruộng đất vì đại hạn
Nền kinh tế dựa vào sản xuất nông nghiệp, trồng lúa nước là chủ yếunhưng với những chính sách sai lầm, thuế khóa nặng nề… dẫn đến tình trạngnông nghiệp ngày càng sa sút; hệ quả: Ước tính, năm Tự Đức thứ hai (1849)riêng tỉnh Vĩnh Long có hơn 43.000 người chết vì dịch bệnh…
- Bối cảnh chính trị: biên giới Tây Nam thường xuyên bất ổn; mốiquan hệ giữa các vương triều phong kiến trong khu vực phức tạp bao gồm nhàNguyễn, Xiêm, Chân Lạp và Ai Lao Cùng lúc đó, thực dân Pháp lần lượtchiếm Nam Kỳ lục tỉnh của nhà Nguyễn khiến cho dời sống nhân dân ở vùngTây Nam bộ, tỉnh An Giang và huyện Tri Tôn cũng bị ảnh hưởng sâu sắc
Đã thế, bọn quan lại, địa chủ còn ra sức vơ vét, bóc lột nhân dân thậm
tệ, dẫn đến chiến tranh nông dân nổ ra liên miên nhằm tìm một lối thoát chocuộc sống làm cho sự rối ren về xã hội ngày càng trầm trọng Nhưng hầu hếtcác cuộc nổi dậy đều mang tính tự phát, chỉ diễn ra ở một địa phương, vùngmiền, rời rạc nên dễ dàng bị đàn áp dã man như: Khởi nghĩa Lê Văn Khôi(1833 - 1835) ở miền Tây Nam bộ; khởi nghĩa ở Hà Âm, Hà Dương ở KiênGiang (1838 - 1842), khởi nghĩa ở vùng kênh Vĩnh Tế, Thất Sơn (1841); khởinghĩa Lâm Sâm ở Trà Vinh (1842),… Năm 1858, giặc Pháp nổ súng xâmlược nước ta Triều đình nhà Nguyễn bạc nhược, nhượng đất cho giặc, dầndần biến nước ta thành thuộc địa của thực dân Pháp Một cổ hai tròng, đờisống nhân dân đã khốn khổ, trở nên khốn khổ, bế tắc hơn bao giờ hết; nảysinh nhu cầu an ủi về mặt tâm linh
Trang 14Như vậy, bối cảnh chung của xã hội Nam bộ lúc bấy giờ, xuất hiệnmột số quan niệm mới trong các tầng lớp dân cư: một số ít đầu hàng theochân thực dân Pháp mưu lợi cá nhân; một bộ phận không chịu làm nô lệ dựng
cờ khởi nghĩa và đại đa số là những người chạy loạn từ các tỉnh miền Đôngsang các tỉnh miền Tây, rồi chạy vào rừng sâu núi thẳm để lánh nạn Tronghoàn cảnh khốn khó đó, bộ phận này chỉ trông chờ vào phép màu cứu độ choqua “bể khổ”
Thất bại trong kinh tế, thất trận trong đấu tranh vũ trang, khủng hoảngtrong đời sống tinh thần (do không tìm thấy lối thoát), là những lý do khiếnnhững người đồng cảnh ngộ cảm thông nhau hơn, yêu thương, đoàn kết hơn,
và cùng mơ ước một tương lai tốt đẹp Chính thời đỉểm này, sự xuất hiện củacác tôn giáo bản địa với tôn chỉ hành đạo nhập thế, cứu giúp người nghèokhổ, an bang tế thế, cùng với hệ thống giáo lý mang đậm màu sắc dân tộcViệt, lại phù hợp với đời sống tâm linh người Việt ở Nam bộ nên dễ dàngđược chấp nhận và ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng Có nhiều hình thức tôngiáo, với rất nhiều "Ông đạo” xuất hiện, nhưng có ảnh hưởng hơn cả thời bấygiờ là đạo Bửu Sơn Kỳ Hương do ông Đoàn Minh Huyên sáng lập (năm1849) và Tứ ân Hiếu nghĩa do Ngô Lợi phát phái (năm 1867), sau này là cácđạo Cao Đài (1926), Tịnh độ cư sỹ Phật hội Việt Nam (1936), Phật giáo HòaHảo (1939), Thời gian này, sự ra đời của các đạo giáo ở Nam bộ nói chung,
Tứ ân Hiếu nghĩa nói riêng là một phương thuốc hữu hiệu tạo ra sự thăngbằng trong tư tưởng người Việt ở Nam bộ, là một cứu cánh về niềm tin của
họ Trong khi với ý thức hệ Nho giáo, các cuộc kháng chiến chống Pháp của
ta đều thất bại, tinh thần Phật giáo không thể giúp đuổi giặc ngoại xâm, cácđạo sĩ Lão giáo không thể "sái đậu thành binh” (tức biến đậu xanh thành binhlính) giết giặc thì sự ra đời của các tôn giáo Nam bộ với sự kết hợp “tinh hoa”truyền thống (Nho – Lão - Phật, chủ nghĩa yêu nước và tín ngưỡng dân gian)
Trang 15như một phương thuốc nhiệm mầu, là cứu cánh để người ta tin vào một tươnglai sáng lạn Nếu ở miền Bắc nước ta nổi lên với các phong trào Cần Vương(1885 - 1896), Yên Thế (1883 - 1913), thực hiện bởi những chí sĩ yêu nướcchịu ảnh hưởng bởi tư tưởng phong kiến thì, ở miền Nam, sau những thất bạiliên tiếp của các cuộc khởi nghĩa như: Võ Duy Dương ở Đồng Tháp Mười(thất bại tháng 4/1866), Phan Tôn - Phan Liêm ở Bến Tre (thất bại tháng11/1867), Trương Định (thất bại tháng 8/1868), Nguyễn Trung Trực ở RạchGiá (thất bại năm 1868), Trần Văn Thành ở An Giang (thất bại năm 1873).Nguyễn Hữu Huân ở Mỹ Tho (thất bại năm 1875), , chỉ còn cách dựa vào các
tổ chức Hội kín, đặc biệt là các tổ chức tôn giáo nhập thế để xây dựng lựclượng, chờ thời cơ hành động Đạo Tứ ân Hiếu nghĩa ra đời đã quy tụ được rấtđông các sĩ phu yêu nước, chiến sĩ thất trận, anh hùng nghĩa sĩ, nên pháttriển rất nhanh ở vùng đất Nam bộ
Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam vào năm 1858, từng bước chiếm
ba tỉnh miền Đông, ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ Các phong trào yêu nướcchống thực dân Pháp, giành lại đất Nam bộ diễn ra sôi nổi nhưng vẫn lần lượtthất bại.Phương thức chiến đấu dựa vào vũ khí lạnh đã không thể chiếm ưuthế trước hỏa lực, vũ khí hiện đại của thực dân Pháp; hơn bao giờ hết, cần cómột hình thức tập hợp lực lượng và khởi nghĩa vũ trang phù hợp với tình hìnhmới Ông Ngô Lợi đã xuất hiện và thực hiện sứ mệnh của mình với niềm tinsắt đá đến hơi thở cuối cùng
Góp những tài liệu sẵn có, phối kiểm cùng những lời truyền tụng,cuộc đời và sự nghiệp của Ngô Lợi gắn liền với sự hình thành và phát triểncủa Đạo Tứ ân Hiếu nghĩa
Sau cuộc khởi nghĩa ở Bảy Thưa, Đô đốc Nam kỳ là Dupé ký nghị
định ngày 22/4/1873 cấm Đạo Lành hoạt động, nội dung như sau: Những
chức sắc của đạo lành Bửu Sơn Kỳ Hương đều bị truy tố theo luật “Đảng
Trang 16Cựu” Nhưng quan trọng hơn hết là phong trào “Tứ Ân Hiếu Nghĩa” do Ông Ngô Viện còn có tên là Ngô Lợi, hoặc Ông “Năm Thiếp” cầm đầu.
Trong thời gian tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương ở vùng Bảy Thưa - Láng
Linh đang chuẩn bị và thực hiện cuộc khởi nghĩa chống Pháp (1867), do Trần
Văn Thành lãnh đạo, thì ở vùng Châu Đốc (An Giang) dân chúng xôn xao về
một người được giáng thế, truyền đạo cứu đời Người ấy có tên là Ngô Lợi và tôn giáo do Ông truyền dạy, sau này, được gọi là đạo Tứ ân Hiếu nghĩa hoặc đạo Hiếu Nghĩa, theo cách gọi tắt của nông dân Nam bộ.
1.1.2 Bối cảnh nơi ra đời và phát triển tôn giáo
- Lịch sử hình thành vùng đất Tri Tôn:
Thế kỷ XVII, vùng đất Tri Tôn đã thuộc về chúa Nguyễn Năm 1839,vùng đất huyện Tri Tôn ngày nay thuộc huyện Hà Dương, phủ Tĩnh Biên,tỉnh Hà Tiên
Năm 1842, phủ Tĩnh Biên thuộc tỉnh An Giang Năm 1850, vùng đấtnày thuộc huyện Hà Dương, phủ Tuy Biên, tỉnh An Giang
Năm 1876, Tri Tôn thuộc hạt Châu Đốc
Năm 1889, vùng đất này là quận Tri Tôn thuộc tỉnh Châu Đốc
Năm 1857, quận Tri Tôn thuộc tỉnh An Giang gồm 3 tổng với 15 xã là:Tri Tôn, An Tức, Nam Quy, Cô Tô, Ô Lâm thuộc tổng Thành Lễ; Tà Đảnh,Thuyết Nạp, Trác Quan, Tú Tề, Văn Giáo, Vĩnh Trung, Yên Cư thuộc tổngThành Ý; Châu Lăng, Lê Trì, Lương Phi thuộc tổng Thành Ngãi
Năm 1864, quận Tri Tôn thuộc về tỉnh Châu Đốc gồm 12 xã là: An Cư,
An Hảo, An Lạc, An Tức, Cô Tô, Lê Trì, Lương Phi, Ô Lâm, Tri Tôn, Tú Tề,Văn Giáo, Vĩnh Trung
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, quận Tri Tôn thuộc tỉnh Châu Đốc.Năm 1948, Tri Tôn thuộc tỉnh Long Châu Hậu Năm 1950, thuộc tỉnh LongChâu Hà
Trang 17Tháng 7 năm1951, sáp nhập vào huyện Tịnh Biên Sau đó, tháng10/1954, tách thành hai huyện như cũ, Tri Tôn thuộc về tỉnh Châu Đốc Năm
1971, Tri Tôn thuộc tỉnh Châu Hà; năm 1974, thuộc tỉnh Long Châu Hà
Sau năm 1975, huyện Tri Tôn thuộc tỉnh An Giang Huyện Tri Tôn hợpnhất với huyện Tịnh Biên thành một huyện lấy tên là huyện Bảy Núi theoQuyết định 56-CP ngày 11/3/1977 của Hội đồng Chính phủ
Năm 1979, huyện Bảy Núi tách thành hai huyện lấy tên là huyện TriTôn và huyện Tịnh Biên theo Quyết định 300-HĐBT ngày 23/8/1979 của Hộiđồng Bộ trưởng Theo quyết định này, huyện Tri Tôn gồm có các xã AnLạc, An Lập, An Ninh, An Phước, An Thành, Ba Chúc, Cô Tô, Lạc Quới, Núi
Tô, Tân Cương, Tân Tuyến, Vĩnh Gia và thị trấn Tri Tôn (trước là thị trấnBảy Núi)
Năm 2003, thành lập thị trấn Ba Chúc trên cơ sở 2.056 hécta diện tích
tự nhiên và 13.122 người của xã Ba Chúc Đổi tên xã Ba Chúc thành xã VĩnhPhước theo Nghị định 119/2003/NĐ-CP ngày 17/10/ 2003 của Chính phủ
Thế kỷ XIX, quận Tri Tôn có đặc điểm kinh tế - xã hội đặc thù, dân cưthưa thớt, tập trung những nơi thị tứ (gồm 12 xã/71 xã của tỉnh Châu Đốc),đất đai hoang hóa, chủ yếu là phèn chua, rừng rậm (dân gian thường gọi là đấtlâm), địa bàn quận Tri Tôn bao gồm cả khu vực Basăc thuộc tỉnh Cần Đăng
và Tà Keo của Campuchia ngày nay; sản xuất nông nghiệp là chủ yếu vớidiện tích nhỏ lẻ, năng suất và sản lượng thấp (mỗi năm làm một vụ lúa)
- Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên:
Tri Tôn là một huyện miền núi có diện tích lớn nhất 59.763 hécta vàdân cư thưa thớt nhất tỉnh An Giang, dân số 132.635 người, chiếm 5,65% dân
số cả tỉnh; Tri Tôn cách tỉnh lỵ (Long Xuyên) 52 km về phía Tây, cách HàTiên - Kiên Giang 83 km, Châu Đốc 44 km, Lâm Viên - Núi Cấm 7 km PhíaĐông giáp các huyện Châu Thành, Thoại Sơn, phía Bắc giáp huyện Tịnh
Trang 18Biên, phía Tây Bắc giáp Campuchia (với 17,2 km đường biên giới), phía Namgiáp tỉnh Kiên Giang
Địa hình Tri Tôn đa dạng, vừa có đồi núi, vừa có đồng bằng với nhiềukênh mương lớn nhỏ ngang dọc Trên địa bàn huyện có các ngọn núi sau: NúiNam Quy cao 213 m, chu vi 8.875 m, thuộc cụm núi Cấm, ở xã Châu Lăng.Núi Tà Lọt cao 69 m, chu vi 870 m, thuộc cụm núi Cấm, ở xã Châu Lăng NúiDài còn gọi là Ngọa Long Sơn, cao 554 m, chu vi 21.625 m, thuộc cụm núiDài, ở xã Lê Trì Núi Tượng còn gọi là Liên Hoa Sơn, cao 145 m, chu vi3.825 m, thuộc cụm núi Dài, ở thị trấn Ba Chúc Núi Sà Lon, cao 102 m, chu
vi 2.325 m, thuộc cụm núi Dài, ở xã Lương Phi Núi Nước còn gọi là ThủyĐài Sơn, cao 54 m, thuộc cụm núi Dài, ở thị trấn Ba Chúc Núi Cô Tô, còngọi là Phụng Hoàng Sơn, cao 614 m, chu vi 14.375 m, thuộc cụm núi Cô Tô,
xã Cô Tô Núi Tà Pạ, cao 102 m, chu vi 10.225 m, thuộc cụm núi Cô Tô, xã
An Tức, thường gọi là đồi
Tri Tôn có hai loại rừng là: rừng tự nhiên và rừng trồng Khi xưa, vùngđồi núi Tri Tôn chủ yếu là rừng rậm với nhiều loại gỗ quý Đến thế kỷ XVII,nơi đây vẫn còn là vùng đất hoang vu, chưa được khai thác bao nhiêu, rừnghãy còn là rừng nguyên sinh.Lịch sử khai phá thảm thực vật ở đây được ghinhận từ năm 1862 Qua khai thác và chiến tranh, thảm thực vật bị giảm sútnghiêm trọng, cân bằng sinh thái bị phá vỡ Những năm gần đây, huyện tậptrung phát triển rừng trồng, phủ xanh đồi trọc
Vào mùa khô, nhiệt độ ở Tri Tôn thường rất cao, trung bình khoảng 36
- 38oC, khắc nghiệt nhất là vào tháng 4 Đây là thời điểm khó khăn nhất chosản xuất nông nghiệp và đời sống người dân Các khe suối trê núi đều khôcạn, những cánh đồng hoa màu chết cháy, hàng ngàn hộ dân thiếu nước sinhhoạt nghiêm trọng
1.1.3 Dân tộc, tôn giáo và văn hóa
Trang 19- Niên giám thống kê năm 2009, huyện Tri Tôn có 132.635 người, mật
độ dân số 221 người/km2 Thành phần dân tộc bao gồm Kinh, Khmer, Hoa;trong đó người Kinh chiếm đa số
- Tôn giáocủa huyện cũng khá đa dạng, bao gồm: Phật giáo Việt Nam,66.363 tín đồ (45 cơ sở thờ tự; trong đó 37 cơ sở thờ tự của Nam tôngKhmer); Tịnh độ cư sỹ Phật hội Việt Nam, 88 tín đồ (01 cơ sở thờ tự); Caođài Tây Ninh, 1.004 tín đồ (01 cơ sở thờ tự); Công giáo, 354 tín đồ (01 cơ sởthờ tự) và Tứ ân Hiếu nghĩa, 30.600 tín đồ (37 cơ sở thờ tự)
- Các lễ hội lớn trong năm của huyện, gồm:
Lễ hội đua bò, được luân phiên tổ chức hàng năm giữa hai huyện TriTôn và Tịnh Biên ngay vào thời điểm tết Đôn ta (Dolta) của người Khmer tứckhoảng tháng 8-9 âm lịch và đua tranh trong một ngày Nếu như các vùng SócTrăng, Trà Vinh… có đua “ghe Ngo” vì gần sông nước thì ở vùng Bảy Núinhiều núi, đồi có đua bò Đây là một lễ hội mang đậm tính nông nghiệp diễn
ra trên đồng ruộng sau khi đã gặt hái một mùa lúa bội thu Bò là con vật thânthiết với đồng bào Khmer Nam Bộ Đến vùng núi Thất Sơn, có thể dễ dàngbắt gặp hình ảnh hàng chục đôi bò chăm chỉ cày bừa trên những cánh đồnglúa dưới chân núi, hay cần mẫn kéo xe trên đường Ngày trước, vào vụ mùa,
bà con trong phum, sóc thường đến cày ruộng cho chùa và đổi công giúpnhau Các đôi bò kéo bừa được chủ nhân rủ nhau đua trên nền ruộng, có khi
bò kéo lúa trở về nhà, cũng được các chủ bò rủ nhau đua Lễ hội đua bò cónguồn gốc từ đó
Lễ hội đua bò Bảy Núi thường được tổ chức vào dịp đồng bào Khmer
đón lễ Đônta Trước đây, mỗi cuộc đua bò thường được Sư Cả (trụ trì, thườnggọi ông Lục) của ngôi chùa trong vùng đứng ra tổ chức Đôi bò thắng đượcđeo dây cà tha, vòng lục lạc tượng trưng cho chiến thắng Từ năm 1992, chínhquyền hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên luân phiên nhau tổ chức lễ hội Những
Trang 20con bò tham gia thi đấu được lựa chọn qua ba vòng loại từ cơ sở, xã,huyện Bò được lựa chọn đi thi phải là những con mình gân, chân cao, dángdỏng dảnh, được rèn luyện quyết liệt trong nhiều tháng Người ta phải tập cho
bò hiểu được ý chủ, lúc nào chạy nhanh lúc nào chạy chậm, khi nào thì vọtnhanh, lúc nào đạp bừa đôi trước, cách bám đường đua và nghệ thuật chặt cuanhưng vẫn giữ tốc độ, không chạy ra ngoài vòng đua
Trước lễ hội một tháng, đôi bò được chủ nhân chăm sóc với một chế độdinh dưỡng đặc biệt, tắm rửa, lau khô mình bằng những chiếc khăn bông mềmmại, uống nước dừa tươi, nước thốt nốt, ăn cháo hột gà nhằm đảm bảo sự dẻodai trong suốt những chặng đua Người tham gia đua bò không vì lợi nhuận
mà vì thú vui, thường là người có kinh tế khá giả.Sau khi đoạt giải, đôi bòđược chào mua với giá cao rất nhiều lần so với giá trị thực, nhưng thường chủ
bò sẽ không bán Họ giữ bò như tài sản vô giá
Lễ hội đua bò hằng năm thu hút hàng chục ngàn lượt người từ khắp cáctỉnh đồng bằng Sông Cửu Long và nhiều nơi khác đến tham dự
Tết Chol Chnăm Thmây, là lễ tết vào năm mới của người Khmer (mừng
lúa mới hay lễ chịu tuổi) Lễ nhằm vào đầu tháng chét theo Phật lịch phái
nguyên thủy Therevada - tức Phật giáo được tiếp thu nguyên thủy từ PhậtThích ca tu hành và đạt đạo (Phật giáo của người Kinh đa số theo pháiMahayana, vốn đã được cải biên và ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc) Đây làthời gian mùa màng đã thu hoạch xong, rảnh rang tha hồ vui chơi giải trí.Người Khmer đón năm mới với ý nghĩa cũng như bao dân tộc khác
Lễ cúng Trăng - Ok Om Bok, là một nghi lễ độc đáo của đồng
bào Khmer Krom (tên gọi của người dân Campuchia gọi đồng bào Khmer ởvùng đất Thủy Chân Lạp, nay là Nam bộ Việt Nam) Trong quan niệm củangười Khmer thì Mặt Trăng là vị thần bảo vệ mùa màng, bảo vệ tôm cá vàgiúp con người sống hạnh phúc ấm no Lễ cúng Trăng thường được tổ chức
Trang 21vào ngày rằm tháng 10 (âmlịch) để tạ ơn thần Mặt Trăng vào đêm rằm, trướckhi trăng sáng, mọi người sửa soạn các mâm cỗ ở sân nhà hoặc sân chùa Cỗcúng Trăng gồm có cốm, chuối chín, dừa tươi gọt vỏ, sắn Người ta làm lễcúng Trăng khi Trăng đã toả sáng Cùng với lễ cúng người ta thả những chiếcđèn giấy lên trời và thả những chiếc bè chuối có bày lễ vật trôi theo kênhrạch Trong ngày cúng Trăng người Khmer tổ chức nhiều trò vui.
- Ở huyện Tri Tôn có nhiều di tích, danh thắng đặc biệt:
Chùa Svay-ton (Xvayton): Địa danh Tri Tôn được xuất phát từ ngôi
chùa Khmer này Theo lời kể dân gian ngày xưa nơi đây ít người sinh sống,trên những ngọn cây cao có rất nhiều khỉ thường xuống đất níu kéo người.Nên khi xây chùa người dân đã đặt cho ngôi chùa tên là Xvayton (Xvay: Khỉ;Ton: đeo, níu kéo) sau này nói chại là Xà Tón và nay là Tri Tôn Ngôi chùa đã
có lịch sử trên 200 năm, nằm ngay trung tâm của thị trấn Tri Tôn, trong chùacòn lưu giữ được bộ kinh Slấc-rích (kinh viết chữ Pali trên lá buông) rất cógiá trị về văn hóa lịch sử của người Khmer
thuộc xã An Tức Tức Dụp có độ cao 216 m, diện tích trên 2 km² cấu trúc kháđộc đáo rất nhiều hang sâu, động lớn và chằn chịt Là khu căn cứ địa cáchmạng, người Mỹ đã bỏ ra 2 triệu đô la để đổi lấy thất bại với ngọn đồi này.Hiện nay xung quanh khu vực dưới chân đồi đã xây dựng thành khu du lịch
và giải trí khá rộng lớn Các hang động được thiết kế đường đi kiên cố dễdàng tham quan chiến trường xưa Đặt biệt có khu giải trí bắn súng thật (TứcDụp, đúng ra là Tức Chôp: Nước chảy như có phép màu)
Nhà mồ Ba Chúc, cách thị trấn Tri Tôn khoảng 17 km về phía tây nam,
Khu chứng tích được xây dựng nhằm tưởng nhớ 3.157 người dân Ba Chúc bịPol Pot (Khmer Đỏ) thảm sát, giết hại một cách tàn nhẫn dã man trong 11ngày đêm vào năm 1978 Nhà mồ còn đang lưu giữ 1.159 bộ xương cốt trong
Trang 22tủ kính Xung quanh nhà mồ có Chùa Tam Bửu (tổ đình của đạo Tứ ân Hiếunghĩa) và Chùa Phi Lai (nơi vẫn còn để lại những vết máu trong cuộc thảm sátcủa Pol Pot).
Hồ Soài So (lúc trước còn gọi là Suối Vàng) và núi Cô Tô, hồ nằm
ngay dưới chân núi Cô Tô cách trung tâm huyện chưa đầy 2 km Đây cũng làđường đi chính lên núi Cô Tô Một nơi khá mát mẻ, yên tĩnh được thiên nhiênban tặng Do hồ nằm cạnh núi nên có thể leo núi thưởng ngoạn phong cảnhhoang sơ đắm mình với những con suối chảy trong xanh mát lạnh Men theotriền núi là những ngôi chùa, ngôi miếu có thể nghỉ ngơi để chinh phục độ caomới Ở khu vực giữa núi có một nơi người dân gọi là Sân Tiên (bàn chânTiên) theo tương truyền ngày xưa có một vị tiên đã in dấu gót giày xuống đây(dấu gót giày khoảng 5 - 6 gang tay) Xung quanh khu vực sân Tiên còn cóbàn cờ và hầm chén
Hồ Tà Pạ nằm ở núi Chưn Num (Tà Pạ) Nó là dấu vết còn sót lại của
khu vực khai thác đất đá đã bị cấm của một vài công ty khai thác trước đây.Đứng trên núi Tà Pạ có thể thấy một cánh đồng to lớn và một Núi Tô hùng vĩtrước mắt, phong cảnh nên thơ hữu tình và một bên là hồ Tà Pạ trong xanh
Hiện nay, huyện Tri Tôn đang phát triển các vùng chuyên canh hoamàu, chế biến nông sản, khai thác đá và các thế mạnh về tài nguyên thiênnhiên khác Đời sống tinh thần của đồng bào rất phong phú với các hoạt độngvăn hoá lễ hội như: Chol Chnăm Thmay, Piat bôdia, Chol casa, Dolta Vớinhững tiềm năng đó, Tri Tôn có nhiều cơ hội phát triển đi lên bền vững Cháo
bò nặn trái chúc (một thứ trái giống như trái chanh nhưng vỏ xù xì, tự mọcnhiều ở miền núi này; khi nặn, thao tác ngược với nặn chanh), bò xào lágiang, bánh bò được làm từ trái thốt nốt, khô bò, gà hấp lá chúc, canh sam-lo,
… là những món ăn ngon của người dân Khmer bản địa lâu đời
1.2 Nguồn gốc và xuất thân của Ngô Lợi
Trang 23Sau năm 1867, Việt Nam tiếp tục mất ba tỉnh Tây Nam bộ nhưngngược lại thái độ yếu hèn của nhà Nguyễn, nhân dân Nam bộ tiếp tục tổ chứccác hoạt động chống thực dân Pháp, lần lượt những phong trào yêu nước xuấthiện và tiếp tục phát triển Phong trào yêu nước của Ngô Lợi - Đạo Tứ ânHiếu nghĩa ra đời đã quy tụ được rất đông các sĩ phu yêu nước, chiến sĩ thấttrận, anh hùng nghĩa sĩ, nên phát triển rất nhanh ở vùng đất Nam Bộ.
Ngô Lợi, sinh tại Quận Mõ Cày (Kiến Hòa) lúc giờ Ngọ, ngày mùng 5tháng 5 năm Tân Mão (1831), nhũ danh là Viện Khi lớn lên có húy danh làLợi [13, 15] nay là xã Trà Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre Về nơi sinh vànăm sinh của ông còn có nhiều điểm chưa thống nhất Có ý kiến cho rằng ôngsinh năm Canh Dần (1830)3, hoặc năm Nhâm Thìn (1832)4 và nơi sinh lại làChâu Đốc (Làng Dội, Mộc Bài)5 Trên thực tế từ trước đến nay, hàng năm tín
đồ đạo Tứ ân Hiếu nghĩa tổ chức lễ kỷ niệm sinh nhật người sáng lập ra tôngiáo của họ là mồng 5 tháng 5 âm lịch và lấy năm 1831 để làm mốc tính tuổi
Và, điều này lại được căn cứ vào lời một bài Kệ trong Kinh Hiếu Nghĩa
(quyển Trung):
Tân Mão niên Ngũ ngoạt,
Sơ ngũ nhật Ngọ thời,
Hạ trưởng thọ thiên ân,
Ngô bổn tôn sở hiệu 6
Từ nhỏ Ngô Lợi đã bị mất bố (tên là Ngô Nhàn, làm nghề thợ mộc;nguyên quán xã Bình An, Định Tường, nay là Cai Lậy, Tiền Giang Khi mangthai ông Ngô Lợi, bố mẹ ông đã về Mỏ Cày), ông sống với mẹ (bà Phạm Thị
3 Nguyễn Văn Hầu (1969), Nhận thức Phật giáo Hòa Hảo, Nxb Hương Sen, Sài Gòn.
4 Huỳnh Ngọc Trảng - Trương Ngọc Tường (1992), Nghìn năm bia miệng, Tập II, Nxb Tp Hồ Chí Minh.
5 Vương Kim - Đào Hưng (1953), Đức Phật Thầy Tây An, Nxb Long Hoa, Sài Gòn.
6 Đức Bổn Sư (1967), Linh sơn hội thượng kinh, Hiếu nghĩa kinh (Quyển Thượng, Trung và Hạ), Nhà in Phật
Đường Tự, Chợ Lớn, Bản dịch Việt ngữ.
Trang 24Xuyên) ở Trà Tân, Mỏ Cày, Bến Tre đến lúc trưởng thành7,8 Trước 20 tuổi,Ngô Lợi làm nghề nông, tự học và thích đọc sách Phật9; đến giai đoạn này,hậu thế vẫn chưa biết rõ tuổi thơ, con người, cá tính của Ngô Lợi nhưng vàonăm 1851, ông viết Bà - La - ni kinh, dài khoảng 223 chữ Hán Đây là mộttrong những cuốn kinh quan trọng, được viết đầu tiên của đạo Tứ ân Hiếunghĩa Cũng cần nói thêm, trước khi viết cuốn kinh này và sau đó, có thể NgôLợi chưa bao giờ là đệ tử học đạo hay tín đồ của Phật Thầy Tây An10, 11, 12.
Nhiều tài liệu cho biết, trước năm 1866, Ngô Lợi đã viết một số sáchkinh, đi rao giảng và khuyên người đời tu niệm nhiều nơi [13, 15 - 16] NgôLợi khuyên mọi người bỏ tư danh, tư lợi, đừng ham công danh phú quý, phảibiết yêu thương đồng bào, nhân loại, có trách nhiệm với đất nước khi bị ngoạixâm giày xéo13 Vào thời gian này bệnh dịch đang hoành hành khắp nơi, thựcdân Pháp đẩy mạnh việc bình định các tỉnh ở Nam bộ Đời sống nhân dân hếtsức bế tắc, điêu linh
Năm 1864, việc thương thuyết hoàn trả ba tỉnh miền Đông Nam bộ
mà triều Nguyễn đã nhượng cho người Pháp trước đó không thu được kếtquả14 Phong trào “tỵ địa” của một bộ phận khá đông sỹ phu và nông dân từmiền Đông sang miền Tây diễn ra mạnh mẽ, gây nên sự xáo trộn xã hội, ảnhhưởng mọi mặt đến đời sống nông dân15 Trong dân gian lưu truyền câu “sấmvãn” về thời cuộc:
7 Hà Tân Dân (1971), Hệ Phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tủ sách sưu khảo sử liệu Phật giáo Bửu Sơn Kỳ
Hương,Sài Gòn.
8 Lược về bốn chữ Bửu – Sơn – Kỳ - Hương, Tài liệu chép tay của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa xã Ba Chúc, lưu
giữ tại nhà cố Trưởng gánh Bùi Văn Lê (An Định, Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang), 22 tờ.
9 Phan Lạc Tuyên (9/1992), Những Đạo giáo ở Nam bộ, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, Kỷ yếu hội
thảo khoa học "Các giáo phái Phật giáo ở miền Nam Việt Nam", Bản quay Ronéo.
10 Vương Kim (1966), Bửu Sơn Kỳ Hương, Nxb Long Hoa, Sài Gòn.
11 Hà Tân Dân (1971), Hệ Phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tủ sách sưu khảo sử liệu Phật giáo Bửu Sơn Kỳ
Hương,Sài Gòn.
12 Vương Kim - Đào Hưng (1953), Đức Phật Thầy Tây An, Nxb Long Hoa, Sài Gòn.
13 Lược về bốn chữ Bửu - Sơn - Kỳ - Hương, Tài liệu chép tay của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa xã Ba Chúc, lưu
giữ tại nhà Trưởng gánh Bùi Văn Lê (An Định, Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang), 22 tờ.
14 Nguyễn Duy Oanh (1994), Quân dân Nam kỳ kháng Pháp, trên mặt trận quân sự và văn chương (1859
-1885), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 25“Hạ ngươn Giáp Tý đầu niên (1864 ?)
Gẫm trong thiên hạ không yên chỗ nào”.
Ngô Lợi bấy giờ vừa khuyên người đời tu niệm, vừa chữa bệnh (dịch)cho mọi người theo phương pháp như trước đây Đoàn Minh Huyên đã làm:cho bệnh nhân uống nước lã, giấy vàng vẽ bùa và có thêm niệm thần chú.Ông đã cứu sống được nhiều người, danh tiếng vang dội khắp nơi, thu húthàng ngàn người tìm đến ông để chữa bệnh và học đạo16
Tháng 5 năm 1867, Ngô Lợi chính thức truyền đạo và dạy nghi thứchành đạo cho nông dân Tương truyền lúc đó ông đã “đi thiếp” nhiều ngày đểgột rửa “bụi trần” và thấu đạt chân lý! Trong kinh Hiếu Nghĩa Ngô Lợi viết:
“Hướng thượng Đinh Mão tuế, Ngũ ngoạt nhật ngọ diên Chuyển ngã thân khứ tục, Thất nhật dạ đê mê Tịch nhiên hồi hoán tỉnh, Giải thoát tẩy trần tâm Giáo nhơn tùng thiện đạo, Khẩu khuyết phổ lưu truyền”17 (tạm dịch là:Trở lại năm Đinh Mão, vào ngày Ngọ tháng 5, ta trở mình lìa tục, hôn mê bảyngày đêm Sau đó bỗng nhiên tỉnh dậy, giải thoát sạch lòng trần Dạy mọi
người theo đạo Thiện và truyền giáo khắp muôn dân).
* Tiểu kết chương 1
So với cả nước, đến giữa thế kỷ XIX, Nam bộ vẫn là vùng đất mới cónhiều nét đặc thù; môi trường thiên nhiên phong phú và đầy huyền bí; vừakhắc nghiệt vừa thuận lợi; cơ cấu dân cư, dân tộc đa dạng, quá trình giao lưuvăn hóa diễn ra mạnh mẽ nhưng không có một tư tưởng chủ đạo hay bị chiphối bởi một tôn giáo cụ thể Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, nhàNguyễn từng bước nhượng bộ, đầu hàng nhưng nhân dân vẫn tiếp tục tổ chứccác phong trào yêu nước Ngô Lợi chứng kiến và hiểu rõ sự thất bại liên tiếpcủa các cuộc khởi nghĩa, sự đàn áp dã man của kẻ xâm lược đã tạo ra tình
16 Vương Kim - Đào Hưng (1953), Đức Phật Thầy Tây An, Nxb Long Hoa, Sài Gòn.
17 Đức Bổn Sư (1967), Linh sơn hội thượng kinh, Hiếu nghĩa kinh (Quyển Thượng, Trung và Hạ), Nhà in
Phật Đường Tự, Chợ Lớn, Bản dịch Việt ngữ.
Trang 26trạng khủng hoảng tâm lý nặng nề Trong cái nhìn tâm linh của người nôngdân Nam bộ, đó là “dấu hiệu” của thời “mạt pháp”, “hạ ngươn”, báo hiệungày tận thế Mọi người đều trông chờ vào sức mạnh “siêu linh” để cứu vớtcuộc đời trần thế trong khi các tôn giáo lớn chưa có điều kiện gây ảnhhưởng lớn ở Nam bộ Đúc rút kinh nghiệm của các cuộc khởi nghĩa trước
đó, Ngô Lợi đã chuẩn bị và tổ chức phong trào yêu nước dưới hình thức tôngiáo Bối cảnh lịch sử hết sức đặc biệt là điều kiện vô cùng thuận lợi tạocác yếu tố xã hội cho tôn giáo bản địa nói chung và đạo Tứ ân Hiếu nghĩa(cá nhân Ngô Lợi xuất hiện với nhiều “hào quang” mang tính huyền bí) nóiriêng ra đời và phát triển
Có thể khẳng định, Ông Ngô Lợi sinh ngày 05 tháng 5 năm Tân Mão(1831) tại Mỏ Cày, Bến Tre; mất ngày 13 tháng 5 năm Canh Dần (1890) vàchính thức khai sinh đạo Tứ ân Hiếu nghĩa ngày 05 tháng 5 năm Đinh Mão(1867) Ông không lập gia đình vì đã có một đại gia đình là những tín đồ đạo
Tứ ân Hiếu nghĩa, tín đồ yêu thương và kính trọng nên đã bảo vệ cho ôngthoát được nhiều lần truy bắt của thực dân Pháp Xuất thân từ nông dân, sớm
có tinh thần yêu nước nên Ngô Lợi luôn nung nấu ý chí kháng chiến, giảiphóng dân tộc đến cuối cuộc dời Do hoàn cảnh, Ngô Lợi không được họcnhiều nhưng ông đã cố gắng tự học và viết sách - kinh, ban đầu khuyên ngườiđời tu niệm nhưng trước cảnh nước mất nhà tan ông đã dần xây dựng chủthuyết “đền trả Tứ ân” nhằm mục tiêu cổ vũ lòng yêu nước thương nòi củanhân dân, qua đó tập hợp lực lượng kháng chiến dưới hình thức một tổ chứctôn giáo
Trang 27Chương 2:
NGÔ LỢI VỚI NHỮNG HOẠT ĐỘNG YÊU NƯỚC VÀ TÔN GIÁO 2.1 Hoạt động yêu nước
1876 đến năm 1889, ông và tín đồ đã lần lượt xây dựng các thôn: An Định(1876), An Hòa (1882), An Thành (1883), An Lập (1887) và ba thôn lánggiềng gồm: Vĩnh Gia, Vĩnh Lạc, Vĩnh Quới
- Thôn An Định, thành lập năm 1876, nay thuộc thị trấn Ba Chúc Đình
An Định - chùa Phi Lai và Mộc Hương (1877), chùa Tam Bửu (1882), ThanhLương Tự (1879), miếu Mã Châu Thờ Bà Cố Hỹ (1880), miếu Sơn Thần(1880), chùa Long Châu (1884), chùa Linh Bửu (hay còn gọi là chùa núiNước (1884), miếu Tú Dương (1884), miếu Vạn Ban (1885), miếu Bồng Lai(1882), Hội Đông Tự (1890), và miếu Phương Gia (1889)
- Thôn An Hòa, thành lập năm 1882, nay thuộc thị trấn Ba Chúc Chùa
Phổ Đà (tháng 2 năm 1882), miếu Bà Hỏa (tháng 2 năm Mậu Tý, 1888), MộcHương (1889), chùa Tam Bửu (1889), miếu Kim Tra, Mộc Tra (1889), đình
Trang 28An Hòạ (1882), Bửu Linh Tự (1884), Linh Miếu Tự (hay còn gọi là miếu Bà
Cố - 1888)
- Thôn An Thành, thành lập năm 1883, nay thuộc xã Lương Phi huyện
Tri Tôn Đình An Thành (trước Châu Linh Tự, 1383), Châu Linh Tự (1882),Mộc Hương (phía sau Châu Linh Tự, 1883), Tam Bửu Điện (1916), miếu SơnThần (1883), miếu Cửu Thiên (1883), miếu Cửu Phẩm(1888) và chùa Liên
Kỳ (1897)
- Thôn An Lập, thành lập năm 1887, nay thuộc thị trấn Ba Chúc và một
phần của xã Lê Trì Vạn Linh Tự (1890), Tam Bửu Tự (1890), đình An Lập(1889), Mộc Hương (1891), (4 ngôi chùa, đình, Mộc Hương này hiện cùngnằm trong một khuôn viên thuộc Khóm An Hòa B, thị trấn Ba Chúc rộng8.925 m2), Long An Tự (Ba Chúc - 1916), Tam Bửu Điện (Ba Chúc - 1916),miếu Long An (ấp An Thạch, xã Lê Trì, huyện Tri Tôn- 1912)
Trong bốn thôn đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đều có các ngôi “tiền đình, hậutự” gọi là Tam Bửu Tự Trong mỗi thôn lại hình thành nên các “Gánh” Tứ ânHiếu nghĩa, mỗi Gánh có một Tam Bửu gia
Để che mắt thực dân Pháp, bảo vệ an toàn cho thôn An Định, Ngô Lợichủ trương lập trại ruộng và tạo ra một khu làng có xin phép chính quyền thựcdân Bên ngoài, dân làng vẫn sinh hoạt, làm ăn bình thường như canh tácruộng rẫy, khai phá đất đai… khiến cho chủ tỉnh Châu Đốc bấy giờ không tỏ
ra nghi ngại Sau khi thực địa, y đánh giá: làng này rất xinh đẹp, ruộng rẫyphát triển xanh tươi, hơn 150 ngôi nhà được dựng lên khá khang trang, dânchúng nơi đây khá cởi mở, đóng thuế đầy đủ…tỏ thái độ hài lòng và còn coi
đó là sự thành công trong địa hạt cai trị của mình; vì vậy y mạnh dạn báo cáolên Giám đốc Nội an ở Sài Gòn nên hợp thức hóa quy chế làng này…
Bốn thôn đạo ấy tọa lạc trên thung lũng ẩn sau núi Tượng và núi Dàihiểm trở nên chẳng bao lâu đã quy tụ được khá đông những nghĩa quân từngtham gia phong trào chống Pháp của Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Võ
Trang 29Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân, Quản cơ Trần Văn Thành…về đây nuôi chíyêu nước, chung tay vì mục tiêu giải phóng dân tộc.
Công việc khai hoang, ổn định cuộc sống, tổ chức sinh hoạt đều mangtính cộng đồng, tương trợ Ban ngày dân làng đi khai hoang, làm việc tập thể,đêm về thì lễ bái, nghe giảng đạo pháp…Sản phẩm làm ra được chia đều chomọi nhà theo nhu cầu Bên cạnh đó, Ông và các đệ tử còn tìm ra giống lúa
“Tàu lụ”, áp dụng kỹ thuật thích hợp…làm cho vùng đất này trở nên trù phú,xinh tươi Chưa đầy 14 năm (1876-1890), Ngô Lợi và những người theo Ông
đã khai hoang hơn 12.000 hécta18 thung lũng nằm giữa núi Cấm và núi Dài;sau này, tín đồ Tứ ân Hiếu nghĩa đã khai hoang tổng cộng gần 30.000 hécta
Do “mối đạo” là nơi tụ tập nghĩa quân và những người yêu nước nênthực dân Pháp đã nhiều lần đem quân tiến đánh bốn thôn trên và tìm bắt NgôLợi Chúng càn quét gom dân, buộc nhiều người phải hồi hương về bản quán.Biến cố ấy đã làm cho sự phát triển của đạo bị chi phối ít nhiều Một số “ÔngTrò”, “Ông Gánh” đã rời khỏi Thất Sơn về các địa phương khác làm ăn, dựngchùa truyền đạo, tạo nên những biến đổi của Tứ ân Hiếu nghĩa ở các vùngkhác như: nhóm Giang Thành (Vĩnh Điều, Hà Tiên); nhóm Thạnh Hưng (Cái
Bè, Tiền Giang); nhóm Mỹ Tú (Sóc Trăng); nhóm Cầu Kè (Châu Thành, TràVinh); nhóm Năm Căn (Cà Mau); đặc biệt là nhóm Núi Nứa (Long Sơn, BàRịa - Vũng Tàu)
Trang 30nhận tín đồ với giáo thuyết “học Phật tu nhân, báo đáp tứ ân, hành xử theothập nhị giáo điều”.
Sau khi các cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Võ Duy Dương,Nguyễn Hữu Huân, … thất bại, bấy giờ “ngọn cờ tôn giáo” chính là một sựlựa chọn, là một thứ vũ khí tinh thần để người dân mất nước đối mặt với kẻxâm lược hùng mạnh hơn mình Bên cạnh khám chữa bệnh, Ông đã khéo vậndụng yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo để tập hợp lực lượng; tạo ra mô hình độc đáokết hợp nhiều yếu tố với mục đích cao cả là giải phóng dân tộc, giải phóngcon người khỏi bể khổ, trầm luân
Năm 1878, Ngô Lợi tổ chức hai lễ đại trai đàn, kéo dài ba đêm liền vừacầu siêu cho những vong linh “vị quốc vong thân” vừa khơi dậy ngọn lửa yêunước cho những người tham dự
- Lần thứ nhất vào ngày 16/02/1878, quy tụ hơn 200 người;
- Lần thứ hai vào ngày 30/4/1878, tổ chức phong Lãnh binh cho ông
Võ Văn Khả, Phó Lãnh binh cho Lê Văn Ong để chuẩn bị khởi nghĩa lần thứnhất ở Mỹ Tho
Lực lượng tham gia khởi nghĩa do Ngô Lợi lãnh đạo, ngoài số người ởChâu Đốc, Long Xuyên, còn lại phần lớn từ khắp lục tỉnh, đông đảo nhất là từvùng Chợ Lớn Song song quá trình tập hợp, Ngô Lợi còn “huấn luyện” họtrở thành đội ngũ tín đồ trung kiên; chính họ là những người chiến đấu, bảo
vệ, che chở cho ông thoát hiểm nhiều lần đến tận khi mất (viên tịch)
Đến năm 1890, Ngô Lợi mất tại núi Tượng Đạo Tứ ân Hiếu nghĩakhông có người kế vị, các mối đạo đều do Ông Trò, Ông Gánh phụ trách (lúcbấy giờ chỉ có 06 Gánh) Thời gian sau, do không có người lãnh đạo, cùng với
sự truy lùng, kiểm soát gắt gao của thực dân Pháp, đạo Tứ ân Hiếu nghĩa chiathành 02 hệ thống: Một hệ thống tiếp tục duy trì và phát triển ở 04 thôn đạothuộc Thị trấn Ba Chúc và các xã Lương Phi, Lê Trì, Vĩnh Gia, Lạc Quới
Trang 31thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang gọi là các Gánh nội thôn Hệ thống thứhai do các Ông Gánh đi truyền đạo khắp nơi, hệ thống này gọi là ngoại thôn,tập trung ở các tỉnh như: Kiên Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang, ĐồngTháp, Trà Vinh, Cần Thơ, Bà Rịa - Vũng Tàu
2.1.2.2 Liên kết với lực lượng kháng chiến Campuchia
Năm 1885, Ngô Lợi liên kết với nghĩa quân Campuchia chống Phápdọc kinh Vĩnh Tế, biên giới Tịnh Biên Từ năm 1885 đến 1888, thực dânPháp nhiều lần càn quét, đốt phá làng An Định (thân bằng Tứ ân Hiếu nghĩagọi những lần càn quét này là đạo nạn, tổng cộng có 07 lần đạo nạn) Sự liênkết kháng chiến thể hiện cụ thể như sau:
Năm 1885, lực lượng của Ngô Lợi phối hợp với nghĩa quân của Hoàngthân Si-Vatha (Campuchia), nổi dậy đánh chiếm hai bờ kinh Vĩnh Tế và làmchủ Tịnh Biên; tháng 4/1885, lực lượng của Ông hỗ trợ nghĩa quân Si-Vathatấn công tỉnh Treang và Takeo; tháng 5/1885, Ngô Lợi liên quân đánh chiếmĐồn Phú Thạnh ở biên giới
Đội quân này có lúc lên đến 400 người, tấn công tỉnh lỵ Hà Tiên, gâycho thực dân Pháp nhiều thiệt hại…đến tháng 5/1887, thực dân Pháp pháthiện nguy cơ, chúng đã tấn công vào làng An Định nhằm tiêu diệt lực lượngkháng chiến và cắt đứt sự liên kết gây nguy hiểm cho chính quyền cai trị
Nhà văn Sơn Nam đã nhận xét: “Đức Bổn sư áp dụng sát với hoàn cảnhmiền Nam với phong trào Cần Vương, liên kết với người Campuchia Đây làthái độ sang tạo nhập thế, gần như vô điều kiện…”
2.1.2.3 Phát động khởi nghĩa, chuẩn bị kháng chiến
Năm 1878, Ngô Lợi về chùa Hiếu Nghĩa, xã Hòa Khánh, tổng PhongHòa (Cái Bè), Tiền Giang, tổ chức lễ chay quy tụ 2.000 người, thực chất làcúng tế những nghĩa sĩ đã hy sinh Trong quá trình thuyết pháp, ông kêu gọimọi người hưởng ứng nổi lên chống giặc Lang sa (gọi tắt từ Phú Lang sa,phiên âm Hán - Việt) cướp nước, giành độc lập Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại
Trang 32nhưng đã để lại nhiều bài học quý báu cho công cuộc chuẩn bị kháng chiếnsau này.
Bài học sâu sắc nhất đối với các phong trào yêu nước đã bị thất bại, làvấn đề căn cứ kháng chiến Rút kinh nghiệm, Ngô Lợi đã cho khảo sát, xâydựng căn cứ và tích lũy lực lượng ở Ba Chúc, âm thầm rèn luyện khí giới, tậpluyện nghĩa quân, bí mật bố phòng thôn An Định, liên kết với nghĩa quânCampuchia…; thực tế chứng minh: nhiều lần thực dân Pháp tổ chức lực lượnghùng hậu, có nội gián chỉ điểm tấn công, bố ráp vào căn cứ nhưng không thểtiêu diệt được phong trào
Việc tổ chức Gánh (lúc đầu có 06 Gánh), vừa là đơn vị sản xuất, vừa làđơn vị chiến đấu, giải quyết được bài toán lực lượng tín đồ có nhiều thànhphần: xuất thân từ các phong trào yêu nước, các dân tộc…Lực lượng cácGánh đã thực hiện nhiều cuộc tấn công quy mô vào các đồn bốt, cứ điểmquan trọng, gây nhiều thiệt hại cho chính quyền cai trị của thực dân Pháp
2.1.3 Giữ gìn, sáng tạo làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc
Bề bộn với công cuộc khai hoang, lập làng, chuẩn bị kháng chiếnnhưng Ngô Lợi vẫn không quên xây dựng thiết chế dân cư cũng như văn hóa
ở mỗi làng được hình thành Lực lượng khai hoang, kháng chiến được quy tụ
từ nhiều nhóm dân, sắc dân khác nhau, nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh rất lớntrong bối cảnh thiên nhiên khắc nghiệt, quân thù rình rập… Bên cạnh, trịbệnh, bốc thuốc, Ngô Lợi linh hoạt cho xây dựng cơ sở thờ tự
Cấu trúc cơ sở thờ tự phần lớn mang ảnh hưởng của tín ngưỡng, phongtục tập quán, kết hợp với một đạo Phật đã được địa phương hóa và bình dânhóa, để người dân có thể dễ dàng tin theo Mỗi ngôi chùa đều được xây dựngtheo mô hình “tiền miếu hậu tự”, đồng thời các ngày lễ cúng trong năm tạiđây đều là những ngày cúng lễ quan trọng trong tín ngưỡng của cư dân ngườiViệt Chùa Tứ ân Hiếu nghĩa là danh từ phổ biến chỉ nơi thờ tự các đối tượng
Trang 33của đạo Tứ ân Hiếu nghĩa Chùa Tứ ân Hiếu nghĩa không dành cho một số tín
đồ có chức sắc thoát ly gia đình tới ở và tu đạo (khác hẳn với chùa Phật giáo).Nhìn chung, về hình dáng, kiểu thức bố trí, chùa Tứ ân Hiếu nghĩa chịu ảnhhưởng của phái tu tiên và những ý tưởng của Lão - Trang Chùa thường dựng
theo kiểu “Bát quái” hoặc “Tứ tượng”, mái thẳng, ít nhiều chịu ảnh hưởng từ
việc xây cất nơi thờ tự của Phật giáo Tiểu thừa cũng như lối kiến trúc chùamiếu của người Hoa sống trên cùng một địa bàn Chùa Tứ ân Hiếu nghĩa gần
gũi với điện thờ hơn là nơi tu hành Các đối tượng thờ cúng đa dạng, phong
phú, vừa thể hiện nội dung tam giáo Phật-Thánh-Tiên, vừa mang các yếu tốcủa tín ngưỡng dân gian Tổ chức sinh hoạt của chùa có nhiều nét đặc biệt
Bên cạnh đó, Ông sáng tạo mô hình tổ chức, Ông Trò thường ở bênThầy phát huy ý tưởng sáng tạo; Ông Gánh, trông nom tín đồ để lao động sảnxuất, tập luyện quân sự…
Miếu, là đền thờ có cấu trúc kiểu nhà thờ tứ tượng chủ yếu thờ ThiênThần và Địa Thần… Là nơi thờ cúng các đối tượng tín ngưỡng của làng Đìnhmiếu không phải là nét riêng của bất cứ tôn giáo nào Tuy nhiên, đối với cáclàng đạo Tứ ân Hiếu nghĩa ở Thất Sơn, một số đối tượng tôn thờ của đạo,nghi thức cúng lễ, sinh hoạt của đình, miếu đã hòa nhập và trở thành một bộphận trong hoạt động tôn giáo, do các Trưởng Gánh thực hiện Bàn thờ củađình, miếu cũng cấu trúc tiền nghi, hậu tợ và bài trí như ở chùa Trong quátrình khai hoang lập làng, Đức Bổn sư đã cho dựng bốn ngôi đình ở bốn làng
mới theo lối tiền đình hậu tự Bởi vậy, sinh hoạt chùa - đình gắn bó chặt chẽ
với nhau Đình có kiến trúc tương tự chùa Cả bốn ngôi đình đều thờ
chung Tứ vị linh thần So với sự thờ phụng của đình Nam Bộ với vài ba chục
đối tượng thuộc nhiều nhóm, đình các làng đạo Tứ ân Hiếu nghĩa có đối
tượng thờ ít hơn, không có đối tượng thờ thuộc tín ngưỡng dân gian Tứ vị
linh thần không phải là đối tượng phổ biến của đình Nam Bộ Bàn thờ Trăm quan đằng cựu đề cao anh hùng nghĩa sỹ vì nước là một nét đặc biệt Cách bài
Trang 34trí bàn thờ của đình cũng ảnh hưởng bởi kiểu bài trí bàn thờ Tứ ân Hiếunghĩa, giản dị, không có ngai, long vị Các làng đạo Tứ ân Hiếu nghĩa vùng
Thất Sơn có rất nhiều miếu, kiến trúc theo lối Tứ tượng Mỗi miếu thờ một
đối tượng chính nhất định bên cạnh nhiều đối tượng khác giống nhau - từ têngọi đến cách bài trí bàn thờ Sân miếu thờ Mộc trụ thần quan, Chánh Đứcthiên la thần và Thổ trạch Long Thần Chính điện thờ: Tiền hiền, Hậu hiền,Trăm quan đằng cựu, Tả ban, Hữu ban và các đối tượng thờ chính của mỗimiếu như: Bà Cố Hỹ, Sơn thần ngũ nhạc, Quang nhạc tôn thần, Vạn bangNgũ hành, Tiên sư, Bà Chúa xứ v.v Các đối tượng được thờ trong miếucũng là một số đối tượng thờ của chùa, đình Những vị “Chánh thần” củamiếu thuộc tín ngưỡng dân gian Điểm đặc biệt của miếu các làng đạo Tứ ânHiếu nghĩa là sự có mặt của bàn thờ Trăm quan đằng cựu và cách bài trí bànthờ và đối tượng thờ giống nhau ở tất cả các miếu
Làng có Tam Bửu Tự, Gánh có Tam Bửu Gia có nghĩa là Phủ thờ là
cách sắp xếp của Đức Bổn sư Tam Bửu gia là phủ thờ của gánh đạo Tứ ân
Hiếu nghĩa, thường được xây dựng gần nhà Trưởng Gánh hoặc vùng đất có
nhiều gia đình thuộc dòng họ Trưởng Gánh cư trú Tam Bửu gia làm theo
kiểu nhà “bánh ít”, thường lợp lá, vách đất Tam Bửu gia có các bàn thờ:Chánh đức thiên la thần, Thổ trạch long thần (ở sân), Tả mạng thần, Hữumạng quan (ở cửa), bàn thờ chư vị, Tây phương cực lạc, Đức Bổn Sư, Cửu
huyền thất tổ bên nội, bên ngoại của dòng họ Trưởng Gánh; Cửu huyền thất
tổ bên nội, ngoại của bá tánh trong Gánh, bàn thờ Thánh (ở nhà trước), bàn thờ Tam giáo hỏa lầu (ở nhà sau) Thực chất Tam Bửu gia là nhà thờ họ của
dòng tộc Trưởng Gánh, tổ chức, sinh hoạt theo tinh thần Tứ ân Hiếu nghĩa Vì
vậy, nó là nét độc đáo trong quan hệ làng - họ - tôn giáo Ở Việt Nam tồn tạinhiều tôn giáo, có những tôn giáo cả làng, cả họ tin theo nhưng chưa thấy cótôn giáo nào xâm nhập và chi phối sâu sắc vào quan hệ dòng tộc, làng xóm
Trang 35như đạo Tứ ân Hiếu nghĩa, mà trong trường hợp này biểu hiện cụ thể nhất ởTam Bửu gia.
2.1.4 Tầm nhìn chiến lược
Ngô Lợi quyết định chọn vùng đất Thất Sơn làm căn cứ, chứng tỏ tầmnhìn chiến lược lâu dài; bởi vì, ở đây ông có thể quy tụ lực lượng, luyện tậpquân sự, lao động sản xuất, tích trữ lương thực Từ đây, nghĩa quân có thể cơđộng tấn công khắp nơi, có thể phân tán nhiều nơi khi có biến, có thể liên kếtvới các phong trào kháng chiến khác, nhất là với lực lượng kháng chiếnCampuchia
Quá trình hình thành, tồn tại, phát triển của phong trào đã chứng minhcho tầm nhìn đó Tuy chưa thành công nhưng sự tồn tại và phát triển của tôngiáo mà Ngô Lợi sáng lập đã minh chứng hùng hồn cho tầm nhìn vượt thờiđại của ông
Sau khi khởi nghĩa ở Mỹ Tho thất bại, ông phát hiện sự chênh lệch tolớn giữa lực lượng của giặc Pháp và các phong trào kháng chiến (kể cả củatriều đình nhà Nguyễn), đó là trang bị vũ khí: nóng và lạnh Lực lượng của
ta, có tinh thần yêu nước, có đội ngũ đông đảo nhưng đứng trước hỏa lựchùng hậu của địch thì kết cục vẫn rơi vào thất bại Để thắng lợi, việc xâydựng lực lượng không thể chỉ được thực hiện một sớm một chiều Từ đó, đãhình thành tư tưởng chiến lược xây dựng lực lượng nhiều Gánh; vừa là đơn
vị chiến đấu, vừa là đơn vị sản xuất Tỷ dụ trong chiến đấu, nếu có thất thếthì có thể mất nhiều đơn vị nhưng chỉ cần một đơn vị còn tồn tại thì phongtrào, tinh thần của Ông vẫn được duy trì Thực tế sau năm 1890, phong tràokháng chiến do Ngô Lợi lãnh đạo dần tan rã nhưng tinh thần yêu nước củaông vẫn âm ỉ trong tín đồ
Trang 36Mặc dù nhà Nguyễn đã sớm xác lập chủ quyền với vùng đất Nam bộnhưng cư dân vẫn còn thưa thớt, thiết chế xã hội, văn hóa chưa được xâydựng xét ở góc độ chiều sâu; một số vùng vẫn chưa có dấu chân người, nhất
là vùng núi Cấm đến núi Dài Trong vòng 14 năm (1876-1890), Ngô Lợi vànhững người theo ông đã khai phá, xây dựng được thiết chế xã hội, văn hóatheo tinh thần tôn giáo mà ông sáng lập và một khu vực trù phú, rộng lớn…góp phần vào công cuộc ghi dấu ấn sâu sắc của người Việt ở Nam bộ qua cáchình thức: làng, đình, chùa, miếu…
2.2 Hoạt động tôn giáo
2.2.1 Sáng lập đạo Tứ ân Hiếu nghĩa
2.2.1.1 Sự ra đời
Có thể khẳng định năm 1867, là mốc ra đời của tôn giáo do Ngô Lợisáng lập, xét trên khía cạnh có giáo lý, có nghi thức hành đạo và có thu nhậntín đồ Tất nhiên, việc chọn mốc ra đời (hay “khai đạo”) của một tôn giáogần như bao giờ cũng chỉ mang ý nghĩa tương đối, bởi còn phụ thuộc vàonhiều yếu tố và quan điểm chọn lựa Có thể lấy thời điểm giữa năm 1867(cũng là lúc Thiếu tướng Pháp De Lagrandière kéo binh đánh chiếm luôn batỉnh miền Tây Nam bộ), làm mốc ra đời của đạo Tứ ân Hiếu nghĩa dựa vàocác tiêu chí: người sáng lập đạo đã có thu nhận tín đồ, dạy cho họ nghi thứcthờ phượng hành lễ trên căn bản một hệ thống giáo lý riêng Và, đây cũng là
thời điểm được tín đồ của đạo này xưa nay thừa nhận, các học giả quan tâm
tìm hiểu Tứ ân Hiếu nghĩa đã nghiên cứu, công bố Sau cuộc khởi nghĩa ở MỹTho thất bại, Ngô Lợi bí mật đến Núi Tượng (Châu Đốc, An Giang) lập căn
cứ chiêu mộ nghĩa binh, lấy thuyết “Hội Long Hoa” và giáo lý “Tứ Ân HiếuNghĩa” để che mắt giặc…
Quá trình phát triển của đạo Tứ ân Hiếu nghĩa có thể xác định từ năm
1877 tức mười năm sau khi thành lập với việc xác lập hệ thống đức tin, tôn
Trang 37chỉ hệ thống giáo lý, hình thức truyền đạo và cơ cấu tổ chức Sự phát triển củamột tôn giáo thường được xác định qua hai khía cạnh: một là, khả năng mởrộng địa bàn ảnh hưởng và gia tăng đáng kể số lượng tín đồ; hai là, nângcao,phát triển lý, cơ cấu tổ chức, Ở cả hai mặt này, đạo Tứ ân Hiếu nghĩa cónhững hạn chế nhất định do thực dân Pháp không ngừng ngăn cấmvà đàn ápnhưng đạo Tứ ân HIếu nghĩa vẫn tồn tại và phát triển.
2.2.1.2 Nội dung giáo lý, giáo luật, giáo lễ
Bên cạnh hệ thống kinh sách truyền giảng đạo lý, nghi thức thờ cúng,đạo Tứ ân Hiếu nghĩa còn có hệ thống Sấm vãn (còn gọi Sấm giảng) đượccác cao đồ (ông Trò, ông Gánh) sáng tác để cụ thể hoá những lời dạy củaĐức Bổn sư Ngô Lợi Được viết bằng thể thơ lục bát, ngũ ngôn, thất ngônnhằm phục vụ những bài cúng dường và khuyên răn người đời tu nhân, tíchđức nên Sấm vãn được truyền miệng rộng rãi và dễ dàng bám sâu vào tiềmthức của tín đồ
Nguyên lý hành đạo của Tứ ân Hiếu nghĩa là lấy Tu nhân - học Phậtlàm nền tảng Trong đó, tu nhân nghĩa là phải trao dồi đạo đức làm người,sống tốt với người sống và người đã khuất, sống có ích cho quê hương, đất
Trang 38nước, nhân loại… Theo Ngô Lợi, tu nhân còn phải thực hiện Tứ ân là: Ân tổ
tiên, cha mẹ; Ân đất nước; Ân Tam bảo; Ân đồng bào nhân loại.
- Ân tổ tiên, cha mẹ: Cha mẹ là người có công sinh thành dưỡng dục ta,
vì vậy đền đáp công lao trời biển ấy mới xứng đáng là đạo làm người Đồngthời phải biết ơn ông bà, tổ tiên là thế hệ đã sinh thành ra cha mẹ Để đền đápcông ơn tổ tiên, cha mẹ ta phải làm những điều tốt đẹp, làm vui lòng cha mẹ,tránh những điều xấu ảnh hưởng đến tổ tiên, ông bà Bên cạnh đó, ta phải biếtchăm lo cúng giỗ tổ đường Chính xuất phát từ việc phải báo hiếu cha mẹ,ông bà nên đạo Tứ ân Hiếu nghĩa không chủ trương ly gia cắt ái để đi tu
- Ân đất nước: Đạo Tứ ân Hiếu nghĩa cho rằng tổ tiên, cha mẹ và chúng
ta, ai cũng có quê hương đất nước - nơi chôn nhau cắt rốn và nuôi dưỡng mỗichúng ta Vì vậy, phải có bổn phận bảo vệ quê hương, đất nước mỗi khi cógiặc ngoại xâm, xây dựng quê hương giàu mạnh
- Ân tam bảo: Phải đền ơn tam bảo gồm Phật, Pháp, Tăng bằng cách
noi theo những lời Phật dạy, truyền bá đến mọi người để loại trừ lòng hammuốn hẹp hòi, cùng hướng tới chân, thiện, mỹ
- Ân đồng bào, nhân loại: Phải biết sống với đồng bào bằng tình huynh
đệ vì đó là những người cùng màu da, cùng chung cảnh ngộ, cùng chia sẻbuồn, vui Ngoài ra, mỗi chúng ta còn chung sống với nhân loại trên trái đất,
vì vậy không được phân biệt màu da, chủng tộc, phải sống trong hoà bình
Như vậy, tu nhân trong đạo Tứ ân Hiếu nghĩa rất gần gũi với quan niệm
“tu nhân tích đức” của ngời Việt Nam Tu nhân, với nội dung chủ yếu là thựchiện tứ đại trọng ân của tín đồ Tứ ân Hiếu nghĩa là hòa nhập vào cuộc sốngthực tại để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống chứ không phải vì kiếp sau
Việc đề cao giá trị Tứ ân của đạo Tứ ân Hiếu nghĩa không nhằm vàomục đích giải thoát hay “đắc quả” mà nhằm vào những nhu cầu thực tiễn của
Trang 39cuộc sống đòi hỏi ở đạo lý làm người sống ở đời và hướng vào cuộc sốngnhập thế Chính điều này đã đáp ứng được yêu cầu của hoàn cảnh lịch sử cụthể lúc bấy giờ Đồng thời, giáo lý Tứ ân Hiếu nghĩa cũng bao hàm nhiều nộidung phù hợp với bản sắc văn hóa và tiêu chuẩn đạo đức của người Nam Bộ.
Về học Phật, được hiểu là học những điều Phật dạy và làm theonhững điều Phật làm Học Phật là hệ quả của tu nhân, là tiêu chuẩn cao hơncủa đạo làm người, là tiêu chuẩn lớn, là điều kiện để được dự hội Long Hoatrong ngày tận thế Đó là thực hiện 12 điều mà Đức Bổn sư rèn dạy (ThậpNhị lệ sự)
Học Phật của Tứ ân Hiếu nghĩa còn có nghĩa là phải biết tránh nhữngđiều tối tăm, dốt nát, nhận rõ con đường đạt tới toàn chân, toàn mỹ
Thủ tục gia nhập đạo Tứ ân Hiếu nghĩa là phải được thọ giáo thông quachính ông Ngô Lợi (hoặc ông Trò, ông Gánh) và được thực hiện trong ba dịplớn của một năm: lễ Thượng Nguyên (rằm tháng Giêng), lễ Trung Nguyên(rằm tháng Bảy); lễ Hạ Nguyên (rằm tháng Mười) Sau lễ nhập đạo thìTrưởng Gánh phát cho tín đồ mới một bộ “lòng phái” gồm: Lòng phái, Thế
độ, Thái kiệt, Tiên sinh, Trần điều Sau 3 năm nhập đạo thì tín đồ được nhậnthêm “bùa đời”
Ngoài tu nhân - học Phật, ông Ngô Lợi còn dạy cho các tín đồ về cácphương pháp ấn khuyết, thần chú và rèn luyện tinh, khí, thần Trong sách Tứ
ân Hiếu nghĩa, người ta thấy có sự minh họa bàn tay ấn chú với nhiều câu ấnchú Đây chính là ảnh hưởng của phái Mật Tông trong Tứ ân Hiếu nghĩa
- Giáo luật, “Thập nhị lệ sự” được xem là giáo luật của đạo, bao gồm:
+ Kính Thiên Địa: kính trời đất;
+ Lễ Thần minh: cúng lễ các vị thần;
+ Phụng Tổ tiên: thờ phụng ông bà đã khuất;
+ Hiếu song thân: sống hiếu thảo với cha mẹ;