Một định nghĩa khác đơn giản hơn, bao quát những ý tưởng mà sinhthái nhân văn đề cập đến là: sinh thái nhân văn là những nghiên cứu mối vềmối quan hệ giữa con người và với thế giới tự nh
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 2
3 MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU, 20
4 TÓM TẮT CÁC LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN 21
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
PHẦN NỘI DUNG 25
CHƯƠNG I MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HỆ TỰ NHIÊN 25
1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 25
1.2 ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU 25
1.2.1.Nhiệt độ 25
1.2.3 Chế độ mưa 27
1.2.4 Gió, bão 27
1.3 CHẾ ĐỘ THUỶ VĂN 28
1.4 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NGẬP MẶN VEN BIỂN 30
1.5 THẢM THỰC VẬT 31
1.5.1 Cây bần chua (Sonneratia caseolaris) 31
1.5.2 Cây trang (Kandelia oborata) 32
1.6 HỆ ĐỘNG VẬT 33
CHƯƠNG II MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HỆ XÃ HỘI 35
2.1 ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ 35
2.2 HỆ THỐNG TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN VÀ THỂ CHẾ XÃ HỘI 38
2.3 CƠ SỞ HẠ TẦNG 39
2.3.1.Giao thông 39
2.3.2 Các công trình khác 40
2.4 CÔNG TÁC Y TẾ 40
Trang 22.5 DÂN SỐ VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH 40
2.6 GIÁO DỤC 41
2.7 HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA 41
2.8 HOẠT ĐỘNG KINH TẾ 42
2.8.1 Nuôi trồng thuỷ sản 42
2.8.2 Nông nghiệp 45
2.8.3 Nghề trồng cói 46
2.8.4 Tiểu thủ công nghiệp 47
2.8.5 Dịch vụ 48
2.8.6 Cơ cấu kinh tế 48
CHƯƠNG III SỰ TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA CON NGƯỜI VÀ RỪNG NGẬP MẶN 50
3.1 TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI LÊN RỪNG NGẬP MẶN 50
3.1.1 Tác động tích cực 50
3.1.2 Tác động tiêu cực 53
3.2 TÁC ĐỘNG CỦA RỪNG NGẬP MẶN LÊN ĐỜI SỐNG
CON NGƯỜI 56
3.2.1 RNM cung cấp nguồn thuỷ sản phong phú 56
3.2.2 RNM có tác dụng phòng hộ 58
3.2.3 RNM góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình 60
3.2.4 RNM là nơi du lịch, giải trí và nghiên cứu khoa học 60
3.3 SỰ TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA CON NGƯỜI VÀ VÙNG RỪNG NGẬP MẶN 61
CHƯƠNG IV ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 63
4.1 GIẢI PHÁP CHUNG 63
4.2 GIẢI PHÁP CỤ THỂ 64
4.2.1 Công tác tuyên truyền 64
Trang 34.2.2 Giải pháp về cơ chế chính sách 65
4.2.3 Giải pháp về khoa học công nghệ: 65
4.2.4 Giải pháp về quản lý, quy hoạch sử dụng đất RNM 66
4.2.5 Giải pháp về đầu tư 67
4.2.6 Cho thuê, giao khoán đất lâm nghiệp 67
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 73
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Rừng ngập mặn (RNM) là hệ sinh thái quan trọng có năng suất sinh họccao ở vùng cửa sông ven biển nhiệt đới Trong việc bảo vệ môi trường, rừngngập mặn được biết đến như là “lá phổi xanh” rất quan trọng đối với cácthành phố Ngoài ra, rừng ngập mặn còn nhiều vai trò quan trọng, có tác dụngphòng hộ trước gió và sóng biển, làm chậm dòng chảy và phát tán rộng nướctriều, hạn chế xâm nhập nước mặn và bảo vệ nước ngầm RNM không những
là nơi cung cấp nhiều lâm sản có giá trị, mà còn là nơi sinh sống và ươnggiống của nhiều loại thủy hải sản, chim nước, chim di cư và một số động vậtcạn như khỉ, cá sấu…
Đối với kinh tế - xã hội, rừng ngập mặn còn được khai thác dưới hìnhthức du lịch sinh thái như rừng ngập mặn Cần Giờ, Xuân Thuỷ - Nam Định…
và còn cung cấp gỗ, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, chất đốt…
Rừng ngập mặn có vai trò hết sức to lớn về sinh thái cũng như về mặtkinh tế nhưng diện tích rừng ngập mặn ngày càng bị thu hẹp, môi trường rừngngày càng bị đe doạ Năm 1943 cả nước có 408.500 ha rừng ngập mặn, đếnnăm 2007 diện tích còn 209.741 ha Như vậy, sau hơn 60 năm, rừng ngậpmặn nước ta đã bị suy giảm gần 1/3 diện tích Bình quân mỗi năm mất khoảng3.105,6ha rừng ngập mặn
Sự thu hẹp về diện tích rừng ngập mặn là do nhiều nguyên nhân khácnhau như: chuyển đổi đất rừng ngập mặn sang sản xuất nông nghiệp, sự huỷdiệt của chất độc hoá học do chiến tranh, quá trình đô thị hoá, người dân tự ýphá rừng làm đầm nuôi tôm, cua… trước tình trạng trên, đòi hòi phải có sựgắn kết giữa hệ sinh thái RNM với phát triển bền vững nhằm duy trì phát huyđược hết những chức năng vốn có của rừng ngập mặn
Trang 5RNM ven biển huyện Kim Sơn được hình thành trên vùng châu thổ rộng
1300 ha của các cửa sông Đáy, sông Càn Nơi đây và toàn bộ vùng đất phíaNam vĩ tuyến 20 của Ninh Bình vinh dự được UNESCO công nhận là vùngđệm và vùng chuyển tiếp của khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng với
hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của RNM Giá trị nổi bật của khuvực được thể hiện ở tính đa dạng sinh học cao, có các hoạt động kiến tạo địachất diễn ra mạnh mẽ tạo thành một môi trường sống của các loài động thựcvật đang bị đe dọa
RNM ven biển huyện Kim Sơn chịu nhiều tác động về mặt tự nhiên cũngnhư xã hội, trong đó có khu vực thuộc xã Kim Hải huyện Kim Sơn tỉnh NinhBình Cho đến nay các nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài nguyênthiên nhiên thường mang tính đơn lẻ, hoặc đứng trên quan điểm xã hội hoặcđứng trên quan điểm sinh thái học Vì vậy việc nghiên cứu mối tác động qualại giữa con người và hệ tự nhiên vùng rừng ngập mặn sẽ kết nối giữa sinhthái học và xã hội học góp phần vào phát triển bền vững vùng rừng ngập mặn
này Với những lý do trên, mà chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “ Nghiên cứu sự tác động qua lại giữa con người và vùng rừng ngập mặn xã Kim Hải, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình”.
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
2.1 Sinh thái nhân văn
Sinh thái học là khoa học nghiên cứu các quần thể, quần xã trong mốitương tác và với môi trường xung quanh Sau khi trở thành một bộ môn khoahọc thực thụ, sinh thái học đang cung cấp những cơ sở khoa học cơ bản nhấtcho sự ra đời và phát triển của các ngành khoa học mới xuất hiện trong nhữngnăm gần đây trong đó có sinh thái nhân văn.Theo A.S.Boughey (1975) thìsinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu về phát triển của xã hội và quần thể
Trang 6người trong mối tác động qua lại với nhau và với toàn bộ môi trường củachúng Một định nghĩa khác đơn giản hơn, bao quát những ý tưởng mà sinhthái nhân văn đề cập đến là: sinh thái nhân văn là những nghiên cứu mối vềmối quan hệ giữa con người và với thế giới tự nhiên mà con người đang sống(Rambo và Sajie,1994) (Trích dẫn từ Nguyễn Hoàng Trí,2001)[19].
Một số tác giả cho rằng những khủng hoảng môi trường gần đây khôngphải luôn luôn là kết quả của sự tác động qua lại trực tiếp hoặc gián tiếp củacác quần thể người với tự nhiên, đôi khi rất phức tạp và không phải lúc nàocũng làm rõ ngay được Xã hội loài người cũng hết sức đa dạng, không thểchỉ thấy một số tác động trong thời gian ngắn mà quy kết xem xét cho cả mộtthời gian dài Sinh thái nhân văn không phải là những nghiên cứu đi giảiquyết làm rõ những vấn đề này mà nó đi sâu tìm hiểu về nguồn gốc, chỉ ranhững mối quan hệ nhân quả nhằm cung cấp những kiến thức tổng hợp hơnnhững vấn đề kĩ thuật để đề ra những giải pháp hợp lý mang tính khoa họckhông chỉ cho thế hệ ngày nay mà cho cả những thế hệ mai sau sống trênhành tinh này
Giá trị của sinh thái nhân văn là ở chỗ, nó giúp con người thấy đượcnhững mối quan hệ không được thừa nhận trước đây giữa con người và môitrường Nó giúp con người nhận thức sâu sắc về vị trí của con người trong thếgiới và suy nghĩ của con người về môi trường của họ
Các hệ sinh thái là những hệ thống thống nhất không thể tách rời JanSmuts là người đầu tiên đưa ra luận điểm “tiếp cận hệ thống” Điều này làm
cơ sở cho các ngành khoa học trong nghiên cứu tổng hợp với yêu cầu nhấtthiết phải nghiên cứu kết hợp cả quần thể, quần xã và hệ sinh thái với sự thamgia của nhiều ngành khoa học khác nhau cả tự nhiên và cả xã hội Quan điểm
hệ thống cho rằng, một hệ thống được đặc trưng bằng các mối tác động qua
Trang 7lại bên trong mỗi thành phần và giữa các thành phần với nhau Các nhà sinhthái học đã đón nhận và phát triển thành kĩ thuật phân tích hệ thống đangđược áp dụng rộng rãi trong các công trình nghiên cứu liên ngành mang tínhtổng hợp cao hiện nay.
Tiếp cận hệ thống cũng được áp dụng trong nghiên cứu sinh thái nhânvăn Hệ sinh thái nhân văn bao gồm hệ thống xã hội và hệ sinh thái nôngnghiệp (hệ tự nhiên), trong đó các thành phần của hệ tự nhiên, hệ xã hội liênquan đến nhau bởi các chức năng thông qua dòng năng lượng, vật chất vàthông tin
Mối quan hệ giữa hệ xã hội và hệ sinh thái là mối quan hệ biện chứng màtrong đó sự thay đổi của hệ thống này tiếp tục ảnh hưởng đến cơ cấu và chứcnăng của hệ thống khác Các hệ sinh thái cũng như các hệ xã hội đều khôngphải là những hệ thống kín mà mỗi hệ thống luôn luôn có mối tác động qualại với các hệ thống kế cận và với các hệ thống cao hơn hoặc thấphơn(A.S.Boughey, 1975)[23] Hệ sinh thái và hệ xã hội hướng tới tính thốngnhất theo thời gian mà mỗi thành phần trở nên thích nghi hơn với sự tác động,ảnh hưởng bởi các thành phần khác
Khái niệm sinh thái nhân văn được áp dụng vào một số nghiên cứu ở ViệtNam từ năm 1989, tập trung vào 3 vấn đề cơ bản như sau (Lê Trọng Cúc và
Trang 8Kết quả nghiên cứu hệ sinh thái nông nghiệp trung du miền Bắc Việt Nam
đã chứng minh giá trị của việc áp dụng sinh thái nhân văn trong quá trìnhphân tích, tìm ra những mối quan hệ giữa các yếu tố xã hội và sinh thái (LêTrọng Cúc và cs, 1990)[26] Các yếu tố xã hội như như thể chế, chính sáchảnh hưởng rõ nét đến tài nguyên đất thông qua việc quản lý, sử dụng lại tàinguyên này Khi nguyên cứu sinh thái nhân văn tại các làng trồng lúa nước ởđồng bằng sông Hồng, Việt Nam, các nhà khoa học đã chỉ ra tác động của conngười đến hệ sinh thái: mật độ dân số cao ở vùng này gây áp lực lớn lên hệsinh thái nông nghiệp Hoạt động của con người dẫn đến đa dạng loài, quần
xã, hệ sinh thấp ở vùng này Những người nông dân quen sinh sống ở vùngđồng bằng thâm canh lúa nước, khi chuyển lên định cư ở vùng đồng núi cũngứng dụng một phần nào phương thức canh tác ở vùng đồng bằng gây nên xóimòn trầm trọng, tàn phá thiên nhiên mạnh mẽ hơn, nhanh chóng hơn Trongkhi đó, phương thức canh tác của đồng bào các dân tộc tỏ ra có hiệu quảtrong công việc chống xói mòn đất Tri thức địa phương rất được chú trọngtrong các công trình nghiên cứu sinh thái nhân văn (Phan Thị Anh Đào,1998)[5] Sinh thái nhân văn dần trở thành một hướng mới trong nghiên cứu sinhthái học ở Việt Nam Những kết quả nghiên cứu sinh thái nhân văn bước đầu
đã có đóng góp ban đầu đối với công tác quản lý, quy hoạch, sử dụng hợp lýmột số hệ sinh thái ở nước ta Nó biểu thị mối quan hệ tác động qua lại giữacon người và môi trường Chính vì lẽ đó, chúng tôi đã lấy lý thuyết sinh tháinhân văn để làm cơ sở khoa học khi nghiên cứu luận văn này
2.2 Những nghiên cứu về rừng ngập mặn
2.2.1 Trên thế giới
Đến nay rừng ngập mặn xuất hiện trên 75% bờ biển nhiệt đới và á nhiệtđới trong khoảng từ 30 vĩ tuyến Nam đến 30 vĩ tuyến Bắc rừng ngập mặn
Trang 9có diện tích lớn nhất nằm trong vùng từ 10o vĩ độ Bắc đến 10o vĩ độ Nam(Twilley và cộng sự 1992).
Diện tích rừng ngập mặn trên toàn thế ước tính khoảng 18 triệu ha, phân
bố 82 nước Trong đó, ở khu vực Châu Á, rừng ngập mặn có khoảng 8,4 triệu
ha, chiếm tới 46% tổng diện tích rừng ngập mặn thế giới: riêng 7 nước ĐôngNam Á, diện tích rừng ngập mặn chiếm tới 36% tổng diện tích rừng ngập mặnthế giới (Mark Spalding và cộng sự, 1997), (Trích dẫn từ Tô Văn Vượng,2009)[22]
Từ lâu các ngành khoa học đã nghiên cứu về rừng ngập mặn trên nhiềulĩnh vực khác nhau vì những giá trị to lớn mà rừng ngập mặn mang lại chocon người cũng như cho sinh quyển Trong đó các công trình nghiên cứu chủyếu tập trung vào các vấn đề sau:
+ Nghiên cứu về các nhân tố sinh thái :
Các nhân tố sinh thái có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển củacây ngập mặn Theo V.J.Chapman (1975) có 7 yếu tố sinh thái cơ bản ảnhhưởng đến sự phát triển rừng ngập mặn là: nhiệt độ, thế nền đất bùn, sự bảo
vệ, độ mặn, thuỷ triểu, dòng hải lưu, biển nông [24]
Tổ chức UNESCO (1979) và FAO (1982) khi nghiên cứu về rừng và đấtrừng ngập mặn ở vùng châu Á Thái Bình Dương cho rằng: hệ sinh thái rừngngập mặn trong khu vực này đã và đang bị đe doạ nghiêm trọng bởi nhiềunguyên nhân khác nhau Trong đó nguyên nhân chính là do việc khai thác tàinguyên rừng, đất rừng ngập mặn không hợp lý gây ra các biến đổi tiêu cựcđối với môi trường đất và nước Các tổ chức này đã khuyến cáo các quốc gia
có rừng và đất ngập mặn, cần phải có những biện pháp hữu hiệu để khắc phụctình trạng này bằng các giải pháp như: xây dựng các hệ thống chính sách, vănbản pháp luật về quản lý sử dụng đất, rừng ngập mặn và nghiên cứu các biện
Trang 10pháp kỹ thuật trồng, khoanh nuôi bảo vệ rừng kết hợp với việc xây dựng các
mô hình lâm ngư kết hợp
Theo V.J Chapman (1975)[24], P.B.Tomlinson (1986)[30] cho rằng nhiệt
độ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phân bố rừng ngậpmặn Cây ngập mặn sinh trưởng tốt ở môi trường có nhiệt độ ấm, nhiệt độ củatháng lạnh nhất không dưới 20oC, biên độ nhiệt theo mùa không vượt quá
10oC.Trong các nhân tố khí hậu thì lượng mưa là nhân tố quan trọng với vaitrò cung cấp nguồn nước ngọt cho cây ngập mặn tăng trưởng và phát triển,rừng ngập mặn sinh trưởng tốt nhất ở nơi có lượng mưa đầy đủ
Trong các nhân tố sinh thái thì độ mặn là nhân tố quan trọng nhất ảnhhưởng đến tăng trưởng, tỉ lệ sống, phân bố các loài De Hann (1931) (tríchdẫn từ Aksornkoae, 1993)[23] cho rằng rừng ngập mặn tồn tại, phát triển ởnơi có độ mặn từ 10 – 30 ‰ và các tác giả đã chia thực vật ngập mặn thànhhai nhóm: nhóm phát triển ở độ mặn từ 10 - 30‰ và nhóm phát triển ở độmặn từ 0 - 10‰ [34] Hầu hết các cây ngập mặn đều sinh trưởng tốt ở môitrường nước có độ mặn từ 25 – 50% độ mặn nước biển Khi độ mặn càngcao thì sinh trưởng của cây càng kém, sinh khối của rễ, thân và lá đều thấpdần, lá sớm rụng (Saenger và cộng sự, 1983) (Trích dẫn từ Nguyễn HoàngTrí,1999) [18]
Nhiều tác giả cho rằng đất là nhân tố chính giới hạn sự tăng trưởng vàphân bố cây ngập mặn (Gledhill, 1963; Gilioli và King, 1966; Clark vàHannonn, 1976; S.Aksornkoae và cộng sự, 1985) (Trích dẫn Aksornkoae,1993)[23] Đất rừng ngập mặn là đất phù sa bồi tụ có độ muối cao, thiếu O2,giàu H2S, rừng ngập mặn thấp và cằn cỗi trên các bãi lầy có ít phù sa, nghèochất dinh dưỡng A.Karim và cộng sự cho biết sự phát triển của thực vật ngậpmặn liên quan đến số lượng phù sa lắng đọng và cây đạt chiều cao cực đại ởnơi có lớp đất phù sa dày
Trang 11+ Nghiên cứu về sinh trưởng cây ngập mặn
ở Phangnga (Thái lan) (J Kongsanchai, 1984) nghiên cứu sự tăng trưởngcủa Đước đôi trồng tại vùng khai thác mỏ thiếc ở các giai đoạn 1, 2, 3, 4, 5, 6năm tuổi và cây đạt chiều cao tương ứng là 0,71; 0,74; 1,23; 1,25; 1,27 và1,93m [41]
S Soemodiharjo và cộng sự (1996) nghiên cứu về tăng trưởng chiềucao và đường kính thân của loài Đưng được trồng ở Inđonesia theo các tuổi
6, 11, 14, 18 và cho biết sự tăng trưởng hàng năm tương ứng là 0,7; 0,5;0,6; 0,6cm [30]
+ Nghiên cứu về trồng rừng:
Hiểu rõ vai trò to lớn của rừng ngập mặt đối với kinh tế cũng như khíhậu toàn cầu, vấn đề trồng và phục hồi rừng được chính phủ của nhiềunước quan tâm và ban hành các chính sách về rừng ngập mặn, khuyếnkhích trồng lại rừng
Ở Indonesia trồng 4 loài cây chính đó là Đước đôi (Rhizophora stylosa Griff), Đước vòi, đưng và vẹt dù (Bruguiera gymnorhizan(L.) Lamk) Vẹt dù
được trồng bằng cây con có bầu 3 – 4 tháng tuổi, có 3 – 4 lá và đước đôi,đước vòi, đưng được trồng trực tiếp bằng trụ mầm (Soemodihardjo và cs,1996)(44)
Ở Malaysia, từ năm 1987 – 1992 đã trồng được 4.300ha, loài cây chínhđược trồng ở đây là đước đôi và đưng
Ở Thái Lan, đước đôi và đưng cũng được coi là đối tượng chính để trồngrừng ngập mặn vì cho than tốt, có nhiệt lượng cao Đước đôi được trồng bằnghai phương pháp: bằng trụ mầm và bằng cây con trong túi bầu đạt tỉ lệ sốngtrên 80% (Aksornkoea, 1996) Còn đưng trồng từ trụ mầm có tỷ lệ sống trên94% (S Havannond, 1994)
Trang 12Ấn Độ tập trung gồm 5 loài cây chính: mấm lưỡi đồng (Avicennia offcinalis L.), mấm biển, đước đôi, đưng, bần chua (Sonneratia caseolaris)
cũng bằng hai phương pháp trồng trực tiếp từ trụ mầm và cây con trong cáctúi bầu (có kích thước 4cm x 10cm) Các loài đước đôi, đưng và mấm biểntrồng với mật độ 1,5m x 1,5m
+ Nghiên cứu về phân bố
Các nghiên cứu cho thấy rằng rừng ngập mặn phân bố chủ yếu ở vùng cửasông, ven biển, vùng nước lợ, nước mặn và ảnh hưởng bởi thuỷ triều Châu Á
là nơi có sự đa dạng nhất về số loài cây ngập mặn, với khoảng 70 loài, tiếpđến là châu Phi khoảng 30 loài; châu Mỹ và vùng Caribe khoảng 11 loài Cácloài cây ngập mặn phổ biến ở hầu khắp các vùng sinh thái là các loài thuộc
chi đước (Rhizophora), vẹt (Bruguiera) và trang (Kandelia).
Fran cois Blasco (1983), khi nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến phân
bố và sinh trưởng của các loài cây ngập mặn, cho rằng: ở vùng xích đạo hoặcgần xích đạo, nơi có nhiệt độ không khí trung bình năm 26 – 270C, trongmột năm không có tháng nào nhiệt độ của nước biển ven bờ <20oC, lànhững điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng của rừng ngập mặn Nếu trongnăm có nhiều tháng có nhiệt độ của nước biển < 16oC thì sẽ không xuấthiện rừng ngập mặn
Theo tổ chức UNESCO (1979) và FAO (1982) khi nghiên cứu về rừng vàđất rừng ngập mặn ở vùng Châu Á Thái Bình Dương cho rằng: hệ sinh tháirừng ngập mặn trong khu vực này đã và đang bị đe doạ nghiêm trọng bởinhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó nguyên nhân chính là do việc khaithác tài nguyên rừng và đất rừng ngập mặn không hợp lý gây ra các biến đổitiêu cực đối với môi trường đất và nước Các tổ chức này khuyến cáo cácquốc gia có rừng ngập mặn, cần phải có biện pháp hữu hiệu để khắc phục tình
Trang 13trạng này bằng các giải pháp như: xây dựng các hệ thống chính sách, văn bảnpháp luật về quản lý sử dụng đất, rừng ngập mặn; nghiên cứu các biện pháp
kỹ thuật trồng, khoanh nuôi, chăm sóc và bảo vệ kết hợp xây dựng các môhình lâm ngư kết hợp
+ Nghiên cứu liên quan đến sinh thái nhân văn
Rừng ngập mặn là một hệ sinh thái có năng suất sinh học rất cao Lá câyngập mặn, các loài tảo đã tạo cơ sở cho lưới thức ăn của các loài thuỷ sinh vậttrong hệ sinh thái rừng ngập mặn Nghiên cứu ở một trong những đảo ven bờtại Malaysia, cho thấy có 90% sản phẩm thuỷ sản sinh ra hoặc có nguồn gốc ởvùng rừng ngập mặn và hai thành phần thức ăn chính của quần thể cá là độngvật đáy, mảnh vụn hữu cơ (N.A.Rao, 1987[29]
Vùng rừng ngập mặn là bãi ăn của nhiều loài tôm cá với nguồn thức ăn từmùn bã hữu cơ thực vật, sinh vật phù du và động vật không xương sống nhỏ.Vùng rừng ngập mặn cũng là bãi đẻ cho nhiều loài thuỷ sản có giá trị kinh tếcao như cá chẽm, tôm càng xanh, là nơi phóng trứng của sò huyết(B.F.Clouhg và cs, 1993[26]
Ngoài việc cung cấp thức ăn và bãi đẻ, rừng ngập mặn còn có nhiều chứcnăng sinh thái khác đối với nghề thuỷ sản ven biển như cung cấp nguyên liệulàm dụng cụ đánh bắt, chống tác động của gió, bão Hình thức nuôi bằng lồng
đã phát triển ở nhiều nơi với các đối tượng như cá bống mú, cá chẽm, cua.Nuôi sò huyết được triển khai trên bãi bồi tiếp giáp với rừng ngập mặn Cáchình thức nuôi quảng canh và thâm canh được tiến hành trong các ao, đầm.Hình thức nuôi thâm canh chủ yếu là nuôi tôm sú ở các đầm ao bên tronghoặc vùng tiếp giáp với rừng ngập mặn Việc nuôi tôm sú hấp dẫn khá nhiềungười mặc dù phải đầu tư lớn nhưng cho lợi nhuận cao Tuy nhiên, việc rủi ro
Trang 14của nuôi tôm sú khá lớn, ví dụ như khi có dịch bệnh hay “hiện tượng nở hoa”đột ngột của một số loài tảo (B.F.Clough và cs, 1993[80,5 - 59]).
Rừng ngập mặn có tác dụng làm giảm xói lở bờ biển, do hệ thống rễ pháttriển mạnh làm giảm tác động của gió, xoáy lốc, bão Mặc dù chưa có nhữngminh chứng về mặt định lượng, nhưng những chứng cớ gián tiếp có khuynhhướng hỗ trợ những kết luận này (L.S.Hamilton và S.C.Snedaker,1984);B.F.Clough và cs, 1993) Ngoài ra rừng ngập mặn còn là nơi bảo tồn đa dạngsinh học, giáo dục, giải trí (R.Kenchington, 1996); (C.P.Howe,1991) (Tríchdẫn từ Phan Thị Anh Đào, 1998)[5]
Thời gian gần đây, sự gia tăng dân số và xu thế phát triển kinh tế ở cácvùng ven biển đã gây hiện tựơng khai thác quá mức, xuống cấp, mất rừngngập mặn ở nhiều nơi trên thế giới Những năm gần đây có nhiều nghiên cứutập trung vào sự tác động của các hoạt động của con người lên vùng rừngngập mặn Việc sử dụng rừng ngập mặn hiện nay thường mang tính đơn lẻ vàphá huỷ môi trường trong quá trình khai thác để có được thu hoạch ở mức độcao hơn so với khả năng tái sinh của thiên nhiên
Hình thức chuyển đổi mục đích sử dụng rừng ngập mặn phổ biến là làm
ao, đầm nuôi tôm, cá Phát triển đô thị, cảng, khai thác mỏ và công nghiệp đãgây mất rừng việc chặt phá rừng ngập mặn bất hợp pháp cũng là nguyênnhân của sự xuống cấp rừng ngập mặn trong nhiều năm qua( B.F.Clough và
cs, 1993 [26]; S.Aksornkoae, 1989)[69]
Ô nhiễm nước là một trong những ảnh hưởng trực tiếp đến rừng ngập mặn
do các hoạt động của con người Ô nhiễm xảy ra ở những vùng rừng ngậpmặn gần các đô thị quan trọng ở Philippine Tại Fiji, một vùng rừng ngập mặn
đã được sử dụng làm nơi xử lý nước thải ban đầu, dẫn đến hiện tượng tích bẩntại đây và hiện tượng san hô chết ở vùng kế cận (Theo trích dẫn của Phan ThịAnh Đào, 1998)[5]
Trang 15Hệ sinh thái rừng ngập mặn có khả năng khôi phục cao khi bị thiệt hại ởmức vẫn còn nguồn giống và sự cung cấp nước được đảm bảo Những kết quả
đã đạt được trong việc nghiên cứu phục hồi rừng ngập mặn trên thế giới đãđược nhiều nhà khoa học công bố vào năm 1988 (C.Field (esd.),1998) Ngườidân địa phương, các cộng đồng người dân ven biển tham gia tích cực vào các
dự án khôi phục rừng ngập mặn Tuy nhiên, hầu hết các dự án này đều nằmtrong các chương trình do tổ chức phi chính phủ đảm nhiệm nên có một sốhạn chế nhất định về mặt hành chính, chính sách
Ở mỗi nước có những quy định khác nhau về quản lý, khai thác đối vớitừng loại rừng Rừng Matang với diện tích 40.711 ha ở Malaysia được coi làvùng rừng ngập mặn được quản lý tốt nhất trên thế giới Về mặt hành chính,các cán bộ lâm nghiệp huyện ở đây trực tiếp quản lý rừng ngập mặn này.Rừng ngập mặn Matang được tỉa thưa 2 lần vào năm cây được 15 và 20 tuổi,chu kì khai thác là 30 năm
P.Kunstadter cho rằng nghiên cứu các vấn đề kinh tế xã hội trong vùngrừng ngập mặn rất khó khăn Giữa các hệ sinh thái và các hệ kinh tế xã hộikhông có ranh giới So với hệ sinh thái, các thông tin về hệ kinh tế xã hội íthơn và hầu hết liên quan đến lĩnh vực kinh tế Những công trình nghiên cứukinh tế xã hội vùng rừng ngập mặn hầu hết chỉ tập trung vào việc sử dụngrừng ngập mặn, nguyên nhân, hậu quả của việc mất rừng ngập mặn dưới tácđộng của các hoạt động kinh tế Riêng nghiên cứu của S.Aksornkoae và csnăm 1984[23] tại các làng Had Sai Khao, Ko Lao thuộc tỉnh Ranong, TháiLan đã đề cập đến hầu hết các khía cạnh khác nhau của tình hình kinh tế- xãhội như di dân, học vấn, lao động, các hình thức khai thác tài nguyên, kinh tế
hộ gia đình Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ mô tả và nêu ramột số vấn đề kinh tế - xã hội cần phải giải quyết, chứ chưa phân tích đượcnhững mối quan hệ qua lại giữa các khía cạnh kinh tế - xã hội, cũng như mốitương quan của chúng với các thành phần của hệ sinh thái
Trang 162.2.2 Tại Việt Nam
Việt Nam có bờ biển kéo dài 3.260km với khí hậu nhiệt đới gió mùa làđiều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây ngập mặn hầu hếtcác loài cây ngập mặn phân bố chủ yếu ở vùng ven biển và ở từng khu vực cónhững đặc trưng riêng về địa hình, địa mạo nên có sự sai khác về số lượng,thành phần loài cây ngập mặn Nghiên cứu của Phan Nguyên Hồng (1987)cho thấy ở vùng rừng ngập mặn ở Việt Nam chia thành 4 khu lớn bao gồm:
- Khu vực 1: ven biển Đông Bắc từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Đồ Sơn(Hải Phòng)
- Khu vực 2: ven biển đồng bằng Bắc Bộ từ Đồ Sơn đến Lạch Trường(Thanh Hoá)
- Khu vực 3: ven biển miền Trung kéo dài từ Lạch Trường tới Vũng Tàu
- Khu vực 4: ven biển Nam Bộ từ Vũng Tàu tới Hà Tiên
Và trong mỗi vùng chia ra các tiểu vùng (Phan Nguyên Hồng, 1999)[10]
+ Nghiên cứu về phân loại, phân bố
Vũ Văn Cương là người đầu tiên có công trình nghiên cứu một cách hệthống về rừng ngập mặn ở Việt Nam trong trong luận án tiến sĩ của mình(1964) về các quần xã thực vật ở rừng Sát thuộc vùng Sài Gòn – Vũng Tàu.Tác giả đã chia thực vật ở đây thành 2 nhóm: nhóm thực vật nước mặn vànhóm thực vật nước lợ
Phùng Trung Ngân và Châu Quang Hiền (1987) đã đề cập đến 7 kiểuthảm thực vật ngập mặn ở Việt Nam: Rừng Mấm hoặc Bần đơn thuần, rừngĐước đơn thuần, rừng Dừa đước, rừng hỗn hợp vùng triều trung bình, rừngVẹt – Gía vùng đất cao, rừng Chà là – ráng đại và trảng thoái hoá [12]
Trang 17Nguyễn Hoàng Trí (1999)[18], Phan Nguyên Hồng và cộng sự (1999)[10] cho rằng đưng không có ở miền Bắc Việt Nam, chỉ có ở ven biển miềnTrung và Nam Bộ Quần xã đưng tiên phong ở phía tây bán đảo Cam Ranh,gặp ở phía trong quần xã mấm trắng, bần trắng trên đất ngập triều trung bình.Cóc trắng gặp ở cả ba miền, trên vùng đất cao ngập triều không thườngxuyên, nền đất tương đối chặt Vẹt đen không có ở miền Bắc, gặp ở vùngnước lợ ở miền Nam Trang phân bố từ Bắc vào Nam, chịu được biên độ nhiệtkhá khắc nghiệt, hiện trồng nhiều ở miền Bắc.
Ở Việt Nam khoảng 73% tổng diện tích đất ngập mặn ven biển tập trung ởmiền Nam Việt Nam (từ đèo Hải Vân tới mũi Cà Mau) với diện tích rừngngập mặn chiếm khoảng 70% diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam
+ Nghiên cứu các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến phân bố, sinh trưởng
rừng ngập mặn:
Theo Thái Văn Trừng (1998)[21] có 3 nhóm nhân tố sinh thái phát sinhrừng ngập mặn: thứ nhất là tính chất lý hoá của đất, thứ hai là cường độ vàthời gian ngập của thuỷ triều, thứ ba là độ mặn của nước
Phan Nguyên Hồng đã đề cập đến vấn đề phân bố, sinh thái, sinh lý sinhkhối… rừng ngập mặn trong luận án tiến sỹ khoa học “sinh thái thảm thực vậtrừng ngập mặn Việt Nam” (1991[8])
-Số loài cây ngập mặn ở miền Bắc Việt Nam ít hơn và có kích thước cây
bé nhiều hơn ở miền Nam vì có nhiệt độ thấp trong mùa đông
-Vùng ít mưa, số lượng loài và kích thước cây giảm
-Khi điều kiện khí hậu và đất không có sự khác biệt lớn thì vùng có chế
độ bán nhật triều cây sinh trưởng tốt hơn vùng có chế độ nhật triều
Trang 18-Độ mặn là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sựsinh trưởng, tỷ lệ sống của các loài và phân bố của thảm thực vật loại rừngnày phát triển tốt ở nơi có nồng độ muối trong nước từ 10 – 25 ‰.
-Trong các nhân tố sinh thái thì khí hậu, thuỷ triều, độ mặn và đất đóngvai trò quyết định sự sinh trưởng và phân bố của thảm thực vật rừng ngậpmặn Các nhân tố khác góp phần tích cực trong việc phát triển hay hạn chếkiểu thảm thực vật này
Nguyễn Mỹ Hằng và Phan Nguyên Hồng (1995) đã tìm hiểu về ảnhhưởng nhiệt độ thấp đến sinh trưởng của Trang, đâng, đước đôi, đưng ởmiền Bắc Việt Nam Kết quả thí nghiệm cho thấy đưng và đước đôi sinhtrưởng bình thường vào mùa hè và mùa thu, nhưng đến mùa đông (nhiệt độ
< 11oC) thì loài này chết đi; trong khi đó trang và đang vẫn vượt qua mùađông giá rét [6]
Thí nghiệm về quang hợp trên đước đôi ở Cần Giờ ở thành phố Hồ ChíMinh, Phan Nguyên Hồng và cộng sự cho thấy khi nhiệt độ không khí lên đến
42oC thì quá trình quang hợp bị đình trệ
Mai Sỹ Tuấn (1995) đã nghiên cứu phản ứng sinh lý, sinh thái của mấmbiển con trồng thí nghiệm ở các độ mặn khác nhau trong nhà kính cho thấytrong điều kiện thí nghiệm ở độ mặn nước biển 25‰ thì mấm biển có sinhtrưởng về đường kính và chiều cao giảm dần khi độ mặn nước biển tăng lên.Cây mọc ở môi trường không có muối thì tỷ lệ sinh trưởng thấp nhất Quátrình quang hợp tỷ lệ nghịch với độ mặn của môi trường: độ mặn càng cao thìquang hợp càng giảm nhưng cây ngập mặn vẫn duy trì năng suất quang hợpdương ở các độ mặn thí nghiệm kể cả ở 150% độ mặn nước biển
Trang 19+ Nghiên cứu về sinh khối năng suất lượng rơi:
Công trình nghiên cứu đầu tiên về sinh trưởng và sinh khối rừng ngậpmặn ở Việt Nam đó là luận án phó tiến sỹ của Nguyễn Hoàng Trí (1986)[17].Tác giả nghiên cứu về sinh khối và năng suất quần xã rừng đước đôi: rừnggià, rừng tái sinh tự nhiên và rừng trồng 7 năm tuổi ở Cà Mau
Nguyễn Hoàng Trí (1986) là người đầu tiên nghiên cứu về năng suấtlượng rơi của rừng Đước đôi tại huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau Tác giả xácđịnh lượng rơi của rừng Đước đôi là khá cao 2,673g/m2/ha, trong đó lượngrơi của lá chiếm tỷ lệ cao nhất (79,71%) và lượng rơi vào mùa khô cao hơnmùa mưa [17]
+Nghiên cứu về đất rừng ngập mặn:
Theo Ngô Đình Quế (2003) và cộng sự cho rằng: chất hữu cơ là một trongnhững nhân tố quyết định đến sinh trưởng của rừng ngập mặn, nếu hàm lượngchất hữu cơ trong đất ngập mặn thấp hơn 1% thì sinh trưởng xấu, nhưng nếuquá cao, lớn hơn 15% thì cũng kìm hãm sinh trưởng của 5 cây và cũng có thểlàm cây trồng bị chết do môi trường đất bị ô nhiễm [13]
Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học về đất ngập mặn ở ViệtNam thì nước ta gồm các loại đất ngập mặn chính là:
-Đất ngập mặn không có phèn tiềm tàng
-Đất ngập mặn phèn tiềm tàng
- Đất ngập mặn than bùn phèn tiềm tàng
Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã tiến hành xây dựng bản đồ đất
ở đồng bằng sông Cửu Long với tỷ lệ 1/250.000 và đã phân chia đất ngậpmặn thành 3 đơn vị chính là:
Trang 20- Đất ngập mặn phần lớn dưới rừng ngập mặn (Gleyic – Salic –Fluvisols)
- Đất phèn tiềm tàng nông dưới rừng ngập mặn Fluvisols, Sulfidic material 0-50cm)
- Đất phèn tiềm tàng sâu dưới rừng ngập mặn (Salic-Proto-Thionic-Fluvisols, Sulfidic material >50cm)
(Salic-Proto-Thionic-+ Nghiên cứu liên quan đến sinh thái nhân văn:
Trước cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ 2 (1962 – 1971), ViệtNam có khoảng 400.000ha rừng ngập mặn Có nhiều nhà khoa Việt Nam
và thế giới đã tiến hành những nghiên cứu về hệ sinh thái rừng ngập mặn ởViệt Nam
Cây ngập mặn Việt Nam có nhiều công dụng Có khoảng 30 loài cây cho
gỗ, củi và 14 loài cây cho tannin Lá của 24 loài cây ngập mặn được dùng làmphân xanh và khoảng 21 loài cây ngập mặn có tác dụng làm thuốc chữa bệnh.Nhiều loài cây ngập mặn cho mật hoa, người dân có thể tiến hành nuôi ongtrên quy mô nhỏ và vừa Dừa nước cung cấp cho người dân một lượng nhựa
để nấu đường, cồn và một lượng lá đáng kể để lợp nhà, làm vách (PhanNguyên Hồng và cs, 1988 [7]; Trần Văn Ba (1996)[1]
Rừng ngập mặn cung cấp nơi ở, thức ăn cho một số loài chim di trú Rừngngập mặn còn là nơi bảo tồn nguồn gen của một số loài động vật trên cạn.Ngoài ra, rừng ngập mặn có chức năng sinh thái giúp điều hào khí hậu, hạnchế xói lở, bảo vệ làng cá Đặc biệt đối với các làng xã ven biển Bắc Bộ vàBắc Trung Bộ Việt Nam, hệ sinh thái rừng ngập mặn góp phần đáng kể vàoviệc bảo vệ đê biển (Phan Nguyên Hồng và cs, 1988[7], 1999[10])
Một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy rừng ngậpmặn là nơi nuôi dưỡng chính cho ấu trùng của một số loài thuỷ sản có giá trị
Trang 21(Phan Nguyên Hồng, 1997) Vũ Trung Tạng (1994)[15] đã đưa ra mô hìnhmối quan hệ dinh dưỡng của thuỷ sinh vật một cách cụ thể hơn trong rừngngập mặn trên cơ sở xích thức ăn phế liệu Phạm Đình Trọng (1996)[20] đãđưa ra mô hình biểu diễn sự tham gia của động vật đáy vào chuỗi thức ăn phếliệu với vai trò là vật tiêu thụ bậc một Lượng rơi từ cây ngập mặn tham giavào xích thức ăn phế liệu này đã được nhiều nhà khoa học Việt Nam nghiêncứu (Phan Nguyên Hồng, 1991[8]; Nguyễn Hoàng Trí, 1986[17].
Rừng ngập mặn Việt Nam đã bị suy thoái do nhiều nguyên nhân Trongcuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ 2 có khoảng 40% diện tích rừng ngậpmặn bị phá huỷ Đến những năm 80, rừng ngập mặn Việt Nam tiếp tục bị pháhuỷ do phong trào nuôi tôm phát triển mạnh Không chỉ có diện tích rừngngập mặn bị giảm mà trữ lượng tôm, cá ở các vùng rừng ngập mặn và vùngven bờ cũng bị suy giảm trong những năm gần đây
Các đề tài nghiên cứu về nuôi trồng thuỷ sản, ảnh hưởng của nó đến môitrường, xây dựng các mô hình lâm – ngư kết hợp, kĩ thuật nuôi thuỷ sản trongvùng rừng ngập mặn được chú trọng Nhà nước, các tổ chức phi chính phủ đãquan tâm hộ trợ vốn cho các hoạt động nghiên cứu cũng như sản xuất (PhanNguyên Hồng và cs, 1995)[9]
Ngoài việc phá rừng làm đầm nuôi tôm, còn có những hoạt động gây suygiảm, thoái hoá hệ sinh thái rừng ngập mặn như: khai thác quá mức, chuyểnđổi rừng ngập mặn thành đất sản xuất nông nghiệp, làm đồng muối, khai tháckhoáng sản, đô thị hoá, mở rộng cảng, ô nhiễm môi trường
Công tác phục hồi rừng ngập mặn đã được chính quyền các cấp, các nhàkhoa học và các tổ chức phi chính phủ quan tâm và đầu tư có hiệu quả Vaitrò của các chính sách, sự đầu của Chính phủ và các tổ chức phi chính phủcũng như sự tham gia của người dân địa phương trong công tác phục hồi và
Trang 22bảo vệ rừng ngập mặn đóng vai trò then chốt (Nguyễn Đình Cương,1995[14]; Trịnh Thị Thu Hương, 1997; Lê Diên Dực, 1997, Phan NguyênHồng và cs, 1999; Phan Nguyên Hồng, Trần Văn Ba, 1995) Các vấn đề kỹthuật trong công tác trồng rừng cũng được chứ trọng nghiên cứu nhằm nângcao hiệu quả khôi phục rừng (Trần Văn Ba, Phan Nguyên Hồng, 1994; LêXuân Tuấn, 1999) Rừng ngập mặn được trồng lại nâng cao hiệu quả khảnăng phục hồi của hệ sinh thái đối với cảnh quan và sự đa dạng chức năng củavùng ven biển và như vậy nó nâng cao khả năng phục hồi về mặt xã hội(Nguyễn Hoàng Trí và cs, 1999).
Trong các đề tài nghiên cứu cơ bản, các dự án đầu tư, phát triển, thẩmđịnh dự án, một số khía cạnh kinh tế xã hội được các nhà khoa học đề cậpđến nhất là trong những năm gần đây Trong các công trình thì nghiên cứucủa Phan Nguyên Hồng về tình hình kinh tế xã hội tại vùng rừng ngập mặnthuộc huyện Ngọc Hiển, Cà Mau tương đối toàn diện (1997) Nghiên cứu này
đã đề cập đến hầu hết các khía cạnh liên quan đến tình hình kinh tế xã hội nhưnhân khẩu, hình thức di cư, nghề nghiệp, buôn bán, nông nghiệp, lao độngthời vụ, tình hình học vấn, chăm sóc sức khoẻ, tục lệ, quản lý hành chính,điều kiện kinh tế, sự giảm sút tài nguyên rừng ngập mặn và nguyên nhân của
nó Nghiên cứu cũng phân tích một số tiến bộ ban đầu của những phươngthức nuôi tôm dựa trên các mô hình lâm – ngư kết hợp Tuy nhiên, nghiên cứunày cũng chưa phân tích được các mối tương quan của các yếu tố sinh thái,cũng như xã hội
Phan Thị Anh Đào là người đầu tiên có công trình nghiên cứu sinh tháinhân văn tại một vùng rừng ngập mặn ở Việt Nam trong luận án tiến sỹ
“Nghiên cứu sinh thái nhân văn vùng rừng ngập mặn xã Tam Thôn Hiệp, huyện Cần giờ, thành phố Hồ Chí Minh” Trong công trình của mình, tác giả
đã phân tích các đặc điểm của hệ tự nhiên và hệ xã hội, nghiên cứu sự tương
Trang 23tác giữa các thành phần của hệ sinh thái nhân văn khu vực xã Tam Thôn Hiệpthông qua các dòng năng lượng, vật chất và thông tin, phân tích động thái của
hệ sinh thái nhân văn trong giai đoạn 1978-1998
Từ các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới và ở ViệtNam, có thể nhận thấy rừng ngập mặn có vai trò rất to lớn đối với phát triểnkinh tế xã hội và phòng hộ ven biển quốc gia Trong những năm gần đây,rừng ngập mặn bị suy giảm nghiêm trọng và hiện đang đứng trước những áplực lớn về phát triển kinh tế - gia tăng dân số Các nghiên cứu tổng thể về cácvấn đề kinh tế - xã hội vùng rừng ngập mặn nói chung, cũng như việc kết nốigiữa hệ sinh thái và hệ xã hội trong các nghiên cứu về công tác quản lý và sửdụng các hệ sinh thái còn rất hạn chế
Trên cơ sở phân tích các tài liệu, luận văn này quan tâm đến việc xemxét một cách tổng thể về hệ tự nhiên và hệ xã hội, mối quan hệ tác độngqua lại giữa hệ tự nhiên và xã hội của vùng rừng ngập mặn xã Kim Hảihuyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình từ đó đưa ra các giải pháp trong công tácquản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên để rừng ngặp mặn phát triển xứngvới tầm giá trị của nó
3 MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU,
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn đánh giá các điều kiện sinh thái, kinh tế - xã hội, phân tích tácđộng qua lại giữa các thành phần hệ tự nhiên và hệ xã hội vùng rừng ngậpmặn xã Kim Hải huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình làm cơ sở đề xuất giảipháp, giải quyết các vấn đề trong công tác quản lý và sử dụng hợp lý tàinguyên
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Vùng rừng ngập mặn ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
Trang 24- Xã Kim Hải huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Sự tác động qua lại giữa con người và vùng rừng ngập mặn
4 TÓM TẮT CÁC LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN
Luận văn nghiên cứu các nội dung:
- Nghiên cứu một số đặc điểm của hệ tự nhiên vùng rừng ngập mặn
xã Kim Hải, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
- Nghiên cứu một số đặc điểm của hệ xã hội xã Kim Hải, huyện KimSơn, tỉnh Ninh Bình
- Nghiên cứu sự tác động qua lại giữa con người và vùng rừng ngậpmặn
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển bền vững rừng ngập mặn
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Lý thuyết sinh thái nhân văn được sử dụng làm cơ sở phương pháp luậntrong luận văn này Các số liệu được thu thập và điều tra chủ yếu dựa trên cơ
sở của các phương pháp: đánh giá nhanh nông thôn (Rural rapid appraisal),đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân
5.1 Thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp
5.1.1 Thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp về hệ tự nhiên
Tiến hành thu thập các tài liệu có liên quan về:
- Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn, địa hình, thổ nhưỡng
- Số liệu thống kê, tài liệu về diện tích, thành phần loài, tăng trưởng củarừng ngập mặn
Trang 25- Các tài liệu nghiên cứu về thành phần loài và biến động số lượng củakhu hệ thuỷ sinh và khu hệ động vật cạn.
5.1.2 Thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp về hệ xã hội
Tiến hành thu thập các tài liệu có liên quan về :
- Số liệu thống kê về tình hình kinh tế - xã hội của xã Kim Hải, huyệnKim Sơn
- Các tài liệu có liên quan đến tình hình hình kinh tế - xã hội, lịch sử hìnhthành và phát triển xã Kim Hải, huyện Kim Sơn
- Các số liệu, báo cáo có liên quan đến công tác phục hồi, bảo vệ và quản
lý rừng ngập mặn huyện Kim Sơn
- Các tài liệu, văn bản pháp luật , dưới luật có liên quan đến tình hìnhphát triển kinh tế xã hội, khôi phục và quản lý tài nguyên vùng rừng ngậpmặn
5.2 Điều tra khảo sát trên thực địa
5.2.1 Điều tra, khảo sát hệ tự nhiên
Chúng tôi đã tiến hành điều tra số loài cây ngập mặn, các quần xã rừngngập mặn thường gặp, các loài thường được đánh bắt tại xã Kim Hải với sựgiúp đỡ của các chuyên gia Đồng thời tiến hành điều tra về tài nguyên sinhvật thuỷ sinh, động vật trên cạn và thẩm định những tài liệu có liên quan
5.2.2 Điều tra hộ gia đình và các vấn đề cơ bản của hệ xã hội
Trên cơ sở phân tích sơ bộ các số liệu, tài liệu thứ cấp cơ bản đã thu nhậpđược về tình hình kinh tế xã Kim Hải nói riêng và huyện Kim Sơn nói chung,chúng tôi tiến hành khảo sát có tính thăm dò phù hợp với từng mục đíchnghiên cứu vấn đề
- Phỏng vấn hộ gia đình
Trang 26- Phỏng vấn các cán bộ xã, cán bộ huyện về các vấn đề cơ bản trong quátrình phát triển kinh tế và quản lý tài nguyên thiên nhiên
- Tiến hành phỏng vấn sâu những người dân lâu năm, người có kinhnghiệm ở xã về các vấn đề có liên quan đến các hoạt động đánh bắt, nuôitrồng thuỷ sản
Trang 27Hình 1 Bản đồ rừng ngập mặn ven biển Kim Sơn
Trang 28PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HỆ TỰ NHIÊN
1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Xã Kim Hải nằm phía Tây Nam của huyện Kim Sơn, có vị trí địa lý:
- Phía Bắc giáp đê Bình Minh I
- Phía Nam giáp đê Bình Minh II
- Phía Đông giáp đường trục Bình Minh III
- Phía Tây giáp sông Càn
1.2 ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU
Xã Kim Hải nói riêng và huyện Kim Sơn nói chung nằm trong hệ khí hậunhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh ít mưa, mùa hè nắng nóng và mưa nhiều
1.2.1.Nhiệt độ
- Nhiệt độ trung bình năm từ 23,5 C
- Nhiệt Tháng nóng nhất có nhiệt độ trung bình 29,2 C
- Tháng lạnh nhất có nhiệt độ trung bình 16,9 C
- Tổng nhiệt độ năm trên 8.500 C
- Những tháng có nhiệt độ trung bình trên 23 C bắt đầu từ tháng 4 đếntháng 10
Vùng bãi bồi có nhiệt độ trung bình tương đối cao, chênh lệch nhiệt độgiữa các mùa và các thời điểm khác nhau trong một mùa dao động từ 10oCđến 25oC Với đặc trưng nhiệt độ như vậy là điều kiện rất tốt để hệ sinh thái
Trang 29nhiệt đới phát triển, đồng nghĩa với khu vực có tiềm năng rất lớn để thâmcanh các loại cây trồng nhiệt đới và nuôi trồng thuỷ sản.
Bảng1 Nhiệt độ các tháng trong năm
TB Nă m
TB( o C) 16,
9
17, 2
19, 7
23, 3
27, 3
28, 6
29, 2
28, 5
27, 3
24, 7
21, 5
17, 8
23, 5 Max( o
C)
32,
4
33, 3
36, 6
37, 5
39, 2
39, 0
39, 3
37, 9
35, 4
33, 3
31, 4
30, 0
35, 4 Min( o
10, 1
13, 0
17, 7
19, 1
21, 6
21, 9
16, 8
14, 8
10,
6 5,8
13, 6
(Nguồn: Báo cáo tổng kết dự án điều tra cơ bản đánh giá tổng thể tiềm năng đất đai vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn và đề xuất giải pháp quản
lý, mô hình sử dụng đất đai hợp lý hiệu quả)
1.2.2.Độ ẩm
Độ ẩm trung bình năm khoảng 85%, trong các tháng đều đạt trên 80%.Mặc dù vậy chênh lệch độ ẩm trung bình giữa các tháng trong năm không lớn(tháng cao nhất 91,0%, tháng thấp nhất 80%) Độ ẩm cao tác động đến môitrường của khu vực tương đối khắc nghiệt với sức khoẻ của con người và hệđộng vật trong vùng
Trang 30Độ ẩm không khí thường cao từ tháng 2 đến tháng 4 và một số thời điểmvào mùa mưa nên trong thời gian này tầm nhìn hạn chế, gây khó khăn choviệc lưu thông trên biển và các hoạt động sản xuất, đánh bắt cá của ngư dânđịa phương.
1.2.3 Chế độ mưa
Nằm tại khu vực giáp ranh giữa Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ nên tỉnh NinhBình luôn chịu tác động của các cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào haikhu vực này, do vậy lượng mưa trên địa bàn tỉnh cao hơn các khu vực kháccủa cùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Phân tích lượng mưa thống kê nhiều nămcho thấy một số đặc trưng sau:
- Lượng mưa lớn nhất 3024mm/năm (1994)
- Lượng mưa nhỏ nhất 1100mm/năm (1957)
- Lượng mưa trung bình 1920mm/năm
- Số ngày có mưa trong năm từ 125 – 135 ngày/ năm
Lượng mưa thường phân bố không đồng đều giữa các tháng trong năm.Mùa mưa (từ tháng 5 ÷ 10) lượng mưa chiếm 75 ÷ 80% lượng mưa cảnăm.Mưa lớn nhất trong năm thường xảy ra do ảnh hưởng của bão và áp thấpnhiệt đới, có những năm thời tiết bất thường gây mưa lớn (năm 1985) kết hợpvới thuỷ triều lên cao ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dântrong khu vực mùa đông lượng mưa chiếm khoảng 10 ÷ 20% tổng lượng mưa
cả năm, chủ yếu là dạng mưa nhỏ, mưa phùn
1.2.4 Gió, bão
Trong vùng, chế độ đặc trưng theo mùa:
Trang 31- Thời gian từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau thường xuất hiện gió mùađông bắc hướng gió phổ biến là Đông, Bắc và Đông Bắc, trong đó, hướnggió đông có tần suất lớn hơn cả, khoảng 33% (tháng 11) và 53,6% (tháng 2).
- Thời gian từ tháng 7 đến tháng 8 thường xuất hiện gió mùa Tây Nam.Hướng gió phổ biến là hướng Nam, tần suất xuất hiện là 20% (tháng 8) đến37% (tháng 7)
Vận tốc gió trung bình năm đạt khoảng 0,9 đến 3,3m/s và thay đổi theomùa (theo hướng gió) Tốc độ gió có ảnh hưởng lớn đến tàu bè đi lại và cáchoạt động sản xuất, đánh bắt thuỷ sản của nhân dân địa phương
Bão thường xảy ra từ tháng 7 – 9 uy hiếp đê biển, ảnh hưởng đến câytrồng và vật nuôi, đời sống của nhân dân trong vùng
1.3 CHẾ ĐỘ THUỶ VĂN
Phía Tây xã Kim Hải giáp với sông Càn Sông bắt nguồn từ Bỉm SơnThanh Hoá, chảy qua Hà Trung Nga Sơn rùi trở thành ranh giới tự nhiêncủa Kim Sơn – Ninh Bình và Nga Sơn – Thanh Hoá từ xã Định Hoá qua xãVăn Hải, Kim Mỹ, Kim Hải rồi đổ ra biển Đoạn chảy qua vùng nghiên cứucủa sông tống càn dài khoảng 9km đây là con sông nhỏ, hẹp dòng chảychậm Lưu lượng về mùa mưa khoảng 2500m3/s và màu khô khoảng1200m3/s Sông Tống Càn chảy dọc vùng đồng bằng Hà Trung, Nga SơnThanh Hoá hướng tây – đông rồi mới đổ ra biển nên lượng phù sa hàngnăm tải ra biển không nhiều Tuy nhiên cũng góp phần tăng lượng bồi tụcho khu vực bãi bồi ven biển
Hoạt động thuỷ triều tại vùng nghiên cứu cũng mang đặc điểm chung củavùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ thuộc chế độ nhật triều không đều Mỗitháng có 22 – 25 ngày nhật triều và từ 5 – 6 ngày bán nhật triều Những ngày
Trang 32triều lớn trong tháng biên độ thuỷ triều dao động từ 2 – 4m, còn những ngàytriều thấp biên độ thuỷ triều dao động từ 1 – 2m.
Độ mặn nước biển trong năm có sự thay đổi theo mùa Mùa hè – thu (mùamưa), lượng nước đổ ra biển nhiều nên độ mặn dao động trong khoảng từ 9 –20‰ Mùa đông – xuân (mùa khô), lượng nước đổ ra biển ít nên độ mặn daođộng trong khoảng 18 – 28 ‰
Trang 331.4 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NGẬP MẶN VEN BIỂN
Đất RNM ven biển huyện Kim Sơn, nằm trên địa bàn hành chính của 3xã: Kim Đông, Kim Hải, Kim Trung
Tổng diện tích đất RNM huyện Kim Sơn là 1.208,03ha chiếm 5,7% diệntích đất tự nhiên toàn huyện
Diện tích đất rừng và RNM được giao cho ba đơn vị tổ chức quản lý: banquản lý rừng phòng hộ huyện Kim Sơn, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Ninh Bình vàHội chữ thập đỏ tỉnh Ninh Bình
(Nguồn: Dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển
Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đến năm 2020)
Kết quả bảng cho thấy hội chữ thập đỏ được giao quản lý diện tích đấtRNM nhiều nhất là 477,03ha, sau đó là Ban quản lý rừng phòng hộ huyệnKim Sơn là 423,26ha, ít nhất là Ban chỉ huy quân sự tỉnh Ninh Bình là307,64ha
Trang 34Diện tích đất có rừng 503,2 ha chiếm 41,65% diện tích đất lâm nghiệp.RNM ở đây được trồng chủ yếu từ năm 1998 đến nay và trồng bằng các loàicây: bần chua, trang, sậy nên cơ cấu loài cây và cấu trúc rừng còn đơn giản.
Do vậy khả năng phòng hộ chắn sóng lấn biển còn nhiều hạn chế
Diện tích đất chưa có rừng là rất lớn (704,83ha) chiếm 58,35% Nhữngdiện tích này tuy là đất lâm nghiệp nhưng khả năng trồng rừng gập rất nhiềukhó khăn, do độ ngập triều còn sâu và thời gian ngập triều dài dẫn đến độthành thục đất chưa ổn định Trong những năm gần đây được sự quan tâm củacác cấp các ngành, các tổ chức phi chính phủ đầu tư cho việc phát triển rừng,hàng năm Kim Sơn tiến hành trồng từ 100 – 200 ha rừng, nhưng diện tích đấtchưa có rừng vẫn chiếm tỉ lệ cao Vì trong quá trình phát triển rừng có nhiềunguyên nhân là cho rừng bị mất: bất lợi của thời tiết, sâu bệnh phá hoại (rừngsau khi trồng thường bị cua, còng và đặc biệt là con hà phá hại), người dânsống gần rừng tác động xấu lên rừng…
1.5 THẢM THỰC VẬT
Rừng ngập mặn Kim Sơn nói chung và rừng ngập mặn thuộc khu vực xãKim Hải nói riêng từ trước đến nay có sự xuất hiện của 2 loài cây ngập mặn:cây bần chua, cây trang Do cơ cấu loài cây đơn giản nên tổ thành và cấu trúcrừng phòng hộ cũng đơn giản Cây bần chua và cây trang được đánh giá làcây trồng phù hợp với điều kiện lập địa vùng bãi bồi ven biển Kim Sơn
1.5.1 Cây bần chua (Sonneratia caseolaris)
Là cây gỗ cao 10 – 15m, loài cây tiên phong ở vùng kênh rạch ven sôngnước lợ cây phân nhiều cành, tán rộng, rễ hô hấp hình chông phát triển, lanrộng quanh gốc thoe hình phóng xạ
Lá hình bầu dục, lá non dài, cuống lá mầu đỏ nhạt lá rụng vào mùa đônglạnh
Trang 35Cây ra hoa vào tháng 3 – 4, hoa mọc đơn độc ở đầu cành hay nách lá, nụ
có hình trứng màu lục nhạt hoa lưỡng tính, đối xứng toả tròn, 6 lá đài hợp lại
ở gốc, màu lục ở ngoài, màu tím hồng ở mặt trong thuộc loại đài đồng trưởng,nhị nhiều, đầu nhuỵ hơi tròn, vòi nhuỵ dài
Quả mọng, hình cầu dẹt, đường kính 4 – 5cm, vỏ nhẵn, đài đồng trưởng,chia thuỳ trải dài trên gốc quả Quả có hình tròn ở phần đầu, vỏ quả dày, chứanhiều hạt
Gỗ thường dung làm bột giấy, củi, hoa nuôi ong, quả dùng nấu canh chua,
hệ rễ phát triển bám chắc vào bùn Vì vậy, cây được trồng ở những bãi bồimới hình thành để ổn định đất, chắn sóng, bảo vệ đê sông, đê biển
1.5.2 Cây trang (Kandelia oborata)
Là cây gỗ cao 4 – 8m, thích nghi với loại đất bùn xốp và bùn pha cát, mọcchủ yếu ở nơi thuỷ triều cao hoặc thuỷ triều trung bình, ưa độ mặn nước biển
từ 20 - 34‰,chịu được thời tiết khắc nghiệt Gốc rộng hình thành bạnh gốc
Lá mọc đối hình thuôn dài, chóp lá có mũi nhọn, cụm hoa hình tán hoa cóđĩa mật Quả có hình quả lê nhỏ khi còn non, trơn màu nâu vàng
Cây ra hoa vào tháng 5- 6, là cây thuộc họ đước nên có hiện tượng sinhcon trên cây mẹ, hạt của loài cây cây này nảy mầm ngay sau khi chín và cóthời gian nghỉ ngay trên cây mẹ, toạ ra cây con nối liền với quả, mà phầnphát triển ngoài quả gọi là trụ dưới lá trụ mầm( gọi tắt là trụ mầm) Trụmầm có cấu tạo giải phẫu của một cây con, dạng thuôn, phần bụng phình tosau nhọn dần
Gỗ thường dùng làm củi, làm các dụng cụ sản xuất muối, hoa nuôi onglấy mật, hệ rễ phát triển bám chắc vào bùn
Trang 36Trụ mầm và vỏ cây có thể khai thác tannin làm chất nhuộm công nghiệp,
lá cây làm thức ăn chăn nuôi gia súc, ủ phân xanh giầu đạm
Ngoài ra, còn có sự xuất hiện của các loài như sậy (Phragmites australis) ,
cỏ ngạn, rau muống biển(Ipomoea pes-caprae), cỏ sước…
Thực vật nổi cũng rất đa dạng ở vùng cửa sông Càn Qua số liệu điều tracủa trung tâm sinh thái học và tài nguyên sinh vật cho thấy có 44 giống thuộc
4 ngành: tảo khuê (Bacilariophyta); tảo giáp (Pyrrophyta); tảo lam(Cyanophyta) và tảo lục (Chlorophyta), đặc biệt những thực vật ưa mặn xuấthiện nhiều ở cửa sông Càn
1.6 HỆ ĐỘNG VẬT
Trong rừng ngập mặn có 9 loài lưỡng cư và 21 loài bò sát, xuất hiện một
số loài cò, vạc (Nycticorax), cò thìa (Platalea), mòng két (Anas crecca)…
Có một số loài động vật quý hiếm cần được bảo tồn như sâm cầm (Fulica atra), diệc xám (Ardea cinerea rectirostris Gould), bìm bịp lớn (centropus sinensis intermedius).
Động vật thuỷ sinh ở khu vực này có nhóm chân mái chèo (Copepoda),nhóm râu ngành (Cladocera), nhóm lưỡng túc (Ampipoda), trùng bánh xe(Potatoria) tôm bột và cá bột Trong đó có 2 nhóm Copepoda và Cladoceraxuất hiện nhiều nhưng Copepoda là nhóm quan trọng nhất vì có số lượng cao
và có ưu thế về khả năng thích nghi theo điều kiện thời tiết
Tài nguyên thuỷ sản vùng bãi bồi Kim Sơn khá phong phú và đa dạng doảnh hưởng của sông Đáy và sông Càn cũng như ảnh hưởng từ thuỷ triều biểnĐông đến độ mặn trong nước của vùng mà mức độ phân bố nguồn lợi thuỷsản trong vùng có khác nhau:
Trang 37+ Tôm rảo (Metapenaeus ensis), tôm riu , cá quả (channa argus), cá diếc, lươn (Monopterus albus)… phân bố tự nhiên ở các rạch có rong đuôi chó dày,
tập trung chủ yếu ở khu vực phía Đông vùng bãi bồi phía trong đê MB1, cácloài thuỷ sản này có thể chịu được độ mặn tới 2‰
+ Tôm he phân bố chủ yếu ở phía Tây xã Kim Trung, phía Đông xã KimHải nhưng mật độ rất thấp Môi trường nước cần cho sự sống của tôm he phải
có độ mặn lớn hơn 3‰
+ Cua rèm: sống trong vùng nước có độ mặn từ 3,2‰ – 9,5‰ Điều kiệntốt nhất là trong vùng có độ mặn >5‰
+ Cá bớp (Rachycentron canadum): sống chủ yếu ở vùng bãi bồi phù sa,
môi trường sống chủ yếu là hang trong bùn nhão
Vùng nghiên cứu còn có các loại nhuyễn thể hai mảnh như ngao (thuộc họ
Veneridae), vọp(Geloina coaxans) có trữ lượng khá lớn.
Kiến trong rừng ngập mặn sống trên môi trường thích hợp là các thân cây
đổ, cành lá khô… một số loài như Oecophylla smaragdina trên các cây trang,
bần chua Vào mùa ra hoa kiến là loài động vật tham gia tích cực trong quátrình thụ phấn cho cây Trong rừng ngập mặn có nhiều loài ong trong đó cócác loài ong lấy mật (Apis), việc nuôi ong lấy mật khá phát triển trong vùng.Đặc điểm điều kiện tự nhiên của xã Kim Hải tạo điều kiện tương đốithuận lợi cho các loài sinh vật phát triển, tuy nhiên các loài cây rừng ngậpmặn còn đơn giản chỉ có trang, bần chua và sậy vì thế khả năng phòng hộ cònhạn chế Vùng rừng ngập mặn có nhiều loài thuỷ sinh vật như tôm, cua,ngao… có giá trị kinh tế, tạo điều kiện tiềm năng cho các hoạt động ngưnghiệp Có một số loài động vật quý hiếm cần được bảo vệ
Trang 38CHƯƠNG II MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HỆ XÃ HỘI
2.1 ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ
Kim Hải là một trong 3 xã ven biển của huyện Kim Sơn, được thành lập
từ việc quai đê lấn biển Bình Minh II
Quá trình hình thành huyện Kim Sơn
Tháng 2 năm Kỷ Sửu (1829), Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ được hỗtrợ của nhà nước phong kiến đã tiến hành công cuộc khẩn hoang vùng bãibiển trù phú này Chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã chiêu tập được 1.260dân đinh hầu hết từ Nam Định sang, một phần Yên Mô, Yên Khánh xuống.Với công cụ lao động hết sức thô sơ, bằng mồ hôi và sức lực của cong người
là chủ yếu nhưng dưới sự lãnh đạo tài tình của Nguyễn Công Trứ đã thành lập
ra một huyện mới (Kim Sơn) vào cuối năm 1829 gồm 7 tổng (Chất Thành,Hồi Thuần, Quy Hậu, Hướng Đạo, Tự Tân, Tuy Lộc, Lai Thành) với 14.600mẫu ruộng
Nối tiếp truyền thống chinh phục thiên nhiên, lấn biển, lập làng, từ khithành lập đến nay huyện Kim Sơn đã qua 7 lần tổ chức quai đê lấn biển, đãđưa diện tích tự nhiên lên gấp 4 lần so với lúc mới thành lập Hàng trămkilomet sông, đê được đào đắp có ý nghĩa to lớn trong việc cải tạo ruộngđồng, mở đất lập làng, vừa tạo cảnh quan đẹp mắt hiếm có của một huyệnven biển
Các đơn vị hành chính của huyện cũng tăng dần cùng với mỗi lần quai đê,lấn biển Cuối năm 1829, có 7 tổng 60 lý, ấp trại, đến năm 1912 thành lậpthêm 5 làng mới Năm 1948, huyện chia thành 4 tiểu khu với 25 xã Ngày27/4/1977, theo quyết định số 125/CP của Hội đồng Chính phủ, 9 xã phíaNam huyện Yên Khánh sáp nhập vào huyện Kim Sơn, đồng thời xã Khánh
Trang 39Hồng (Yên Khánh) sáp nhập vào xã Yên Mật thành xã Kim Yên, xã ChấtBình sát nhập với xã Hồi Ninh thành xã Kim Bình và xã Kiến Trung sát nhậpvới xã Trì Chính thành xã Kim Chính Như vậy huyện Kim Sơn lúc này gồm
29 xã và 1 thị trấn Năm 1986, thành lập xã Kim Hải, năm 1987 thành lập thịtrấn Bình Minh, năm 1993 thành lập xã Kim Trung Đến tháng 7/1994 thựchiện nghị định số 59/CP của Chính phủ, 9 xã phía Nam huyện Yên Khánhtách khỏi huyện Kim Sơn, đồng thời tách xã Kim Bình thành xã Chất Bình và
xã Hồi Ninh, xã Yên Mật tách khỏi xã Kim Yên, lúc này huyện Kim Sơn có
24 xã và 2 thị trấn Đến năm 1998, thực hiện Nghị định số 88/NĐ-CP củaChính phủ, xã Kim Đông được thành lập Như vậy đến năm 2011, qua nhiềulần biến đổi, huyện Kim Sơn gồm 25 xã và 2 thị trấn
Quá trình hình thành xã Kim Hải
Vùng ven biển huyện Kim Sơn là cửa ngõ tiền tiêu, có vị trí chiến lượcquan trọng, vì vậy việc quai đê lấn biển không chỉ phục vụ việc mở mangdiện tích mà còn mở ra ở đây một vành đai an ninh biên giới lâu dài trong quátrình bảo vệ Tổ quốc Từ nhân thức trên, ngay trong những năm sau khángchiến chống Pháp thắng lợi, Tỉnh uỷ Ninh Bình, Uỷ ban hành chính tỉnh NinhBình, Bộ Quốc phòng đã thống nhất quyết định giao cho Cục Hậu cần Quankhu III làm chủ đầu tư tiến hành quai đê lấn biển
Năm 1959, đê Bình Minh I hoàn thành, tạo nên một vùng bãi bồi rộng lớnvới diện tích 823ha, nằm giữa 2 con sông, sông Đáy ở phía Đông và sông Càn
ở phía Tây Để bảo vệ và tăng tốc độ bồi đắp của phù sa Năm 1960, dưới sựchỉ đạo của Uỷ ban nhân dân huyện, hàng vạn cây chắn sóng đã được trồng,sau nhiều năm một dải rừng phòng hộ trải dài từ sông Càn đến sông Đáy dàitrên 14km như một bức tường thành gồm sú, vẹt, bần, sậy, chỗ hẹp nhất500m, chỗ rộng nhất 1500m
Trang 40Với thuỷ triều vùng Bắc Bộ, ngày lên xuống một lần theo chu kì khôngthay đổi, cộng với nhiêt độ phù hợp khu vực bãi bồi chính là nơi trú ngụ đadạng thuỷ sản và thu hút nhiều người dân ở các nơi đến khai thác.
Để khai thác vùng đất rộng lớn đầy tiềm năng phía ngoài đê Bình Minh I,năm 1980, Nhà nước tiến hành quai đê Bình Minh II, lần này là do quân khu 3tổng chỉ huy, có sự tham gia của quân đoàn I, Sư đoàn 68 Tư lệnh Công binh
và Ban chỉ huy quân sự tỉnh Hà Nam Ninh
Ngày 18/12/1980, chiến dịch ra quân đắp đê Bình Minh II chính thứcđược thực hiện Với hình thức đắp 9 đường trục tiến ra biển và đắp 2 đầu lại,với tuyến đê dài 14,7km và cho đến năm 1986 mới khép kín được 2 đầu đê
Để khai thác vùng bãi bồi giàu có nguồn lợi thuỷ sản này, dưới sự chỉ đạo củaHuyện uỷ, sự chỉ đạo của uỷ ban nhân dân huyện, năm 1980, Ban kinh tế mớihuyện Kim Sơn tổ chức vận động xã viên các hợp tác xã nông nghiệp trongtoàn huyện ra trồng cói bãi, khai thác bãi bồi, điểm quy hoạch của ban là từCống C10 đến sông Càn
Hưởng ứng cuộc vận động của Uỷ ban nhân dân huyện Kim Sơn, các hợptác xã Tây Bắc, Đông Hải xã Văn Hải, hợp tác xã Nam Thành, Bắc Thành xãLai Thành, hợp tác xã Tuy Định, Hoá Lộc xã Định Hoá, hợp tác xã Kim Tân
xã Kim Tân, hợp tác xã Đồng Phong, hợp tác xã Cồn Thoi xã Cồn Thoi, hợptác xã Mỹ Hải, hợp tác xã Tân Khẩn xã Kim Mỹ đã cử một bộ phận xã viên ratrồng cói Ban kinh tế mới làm trụ sở trên diên tích quai đê lấn biển (bưu điệnvăn hoá xã Kim Hải và nhà văn hoá xóm 2 ngày nay), xã viên các hợp tác xãlàm lều tạm trên mái đê Bình Minh I Với sự quan tâm sát sao và khuyếnkhích kịp thời của Ban kinh tế mới, cùng với các hợp tác xã đã làm tốt côngtác tuyên truyền, động viên nên xã viên ra khai thác bãi bồi ngày càng đông,lều lán ở tạm làm kín sườn trong và ngoài đê Bình Minh I