Đã từ lâu các xã ven sông Cầu với tiềm năng đất bãi > 500ha, có nghề truyền thống trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ với các làng truyềnthống như: Vọng Nguyệt, Phù Yên… đã giúp nâng cao đời số
Trang 1DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Bản đồ khu vực nghiên cứu 38
Hình 2.1: 44
Hình 2.2: 51
Hình 2.3: A, Cấu tạo cắt ngang rễ sơ cấp cây dâu mỡ 52
Hình 2.4: A, Cấu tạo cắt ngang lớp biểu bì rễ cây dâu mỡ (X400) 53
Hình 2.5: A, Cấu tạo chi tiết trụ giữa rễ giống cây dâu mỡ (X400) 55
Hình 2.6: A, Cấu tạo cắt ngang rễ thứ cấp giống cây dâu mỡ (X100) 56
Hình 2.7: A, Cấu tạo cắt ngang lớp bần và mô mềm vỏ rễ cây dâu mỡ (X400) 57
Hình 2.8: A, Cấu tạo chi tiết gỗ thứ cấp ở rễ cây dâu mỡ (X400) 59
Hình 2.9: Cấu tạo cắt ngang nốt rễ ở rễ cây dâu lạng 60
Hình 2.10: A, Thân cây dâu mỡ 60
Hình 2.11: Cách sắp xếp lá trên cành của ba giống dâu 62
Hình 2.12: A, Cấu tạo biểu bì nhiều lớp thân sơ cấp cây dâu mỡ (X400) 63
Hình 2.13: A, Cấu tạo cắt ngang một phầnthân sơ cấp cây dâu mỡ (X100) 65
Hình 2.14: A, Cấu tạo cắt ngang một phần thân thứ cấp ở cây dâu mỡ (X100) 66
Hình 2.15: Cấu tạo cắt ngang biểu bì nhiều lớp và mô dày ở thân thứ cấp (X400) 67 Hình 2.16: Cấu tạo chi tiết một phần libe ở thân thứ cấp ba giống dâu nghiên cứu (X400) 68
Hình 2.17: Hình dạng lá ở ba giống dâu nghiên cứu 72
Hình 2.18: Cấu tạo cắt ngang lá của ba giống dâu nghiên cứu (X400) 74
Hình 2.19: Cấu tạo biểu bì trên lá của ba giống dâu nghiên cứu (X400) 76
Hình 2.20: Lỗ khí ở mặt dưới lá của ba giống dâu nghiên cứu (X400) 78
Hình 2.21: Cấu tạo cắt ngang gân chính lá của ba giống dâu nghiên cứu (X400) 80
Hình 2.22: Cấu tạo cắt ngang bó dẫn ở gân bên của lá ba giống dâu nghiên cứu (X400) 82
Hình 2.23: A, B, C Cây dâu trồng ngoài bãi ven sông vào ba thời điểm 84
Trang 2DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Kết quả phân tích mẫu đất lấy tại hai địa điểm nghiên cứu 41 Bảng 2.1: Sự phân bố của rễ cây dâu ở các tầng đất 46 Bảng 2.2: Đường kình lòng mạch gỗ của thân ở ba giống dâu nghiên cứu 69 Bảng 2.3: Tỉ lệ mô mềm ruột so với diện tích mặt cắt ngang thân cây ba giống dâu nghiên cứu 70 Bảng 2.4: So sánh kích thước lá ba giống dâu nghiên cứu 71 Bảng 2.5: So sánh độ dày biểu bì ở ba giống dâu nghiên cứu 73 Bảng 2.6: So sánh số lượng nang thạch/mm 2 trên biểu bì lá của ba giống dâu nghiên cứu 75 Bảng 2.7: So sánh số lượng lỗ khí/mm 2 ỏ mặt dưới lá của ba giống dâu nghiên cứu 77
Bảng 2.8: So sánh độ dày lá (µm) ở ba giống dâu nghiên cứu 79
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tài liệu 2
3 Mục đích của đề tài 33
4 Nội dung nghiên cứu 33
5 Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu 33
Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 38
1.1 Vị trí địa lý 38
1.2 Địa hình 39
1.3 Đặc điểm khí hậu thủy văn 39
1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng 40
Chương 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
2.1 Đặc điểm sinh học, sinh thái của cây dâu 44
2.2 Đặc điểm hình thái, giải phẫu cơ quan sinh dưỡng của ba giống dâu trồng tại thôn Vọng Nguyêt, xã Tam Giang 50
2.2.1 Đặc điểm hình thái, giải phẫu rễ của ba giống dâu 50
2.2.1.1 Cấu tạo sơ cấp của rễ 52
2.2.1.1 Cấu tạo thứ cấp của rễ 56
2.2.2 Đặc điểm hình thái, giải phẫu thân của ba giống dâu nghiên cứu 60
2.2.2.1 Đặc điểm hình thái thân của ba giống dâu nghiên cứu 60
2.2.2.1 Cấu tạo sơ cấp của thân 62
2.2.2.2 Cấu tạo thứ cấp của thân 65
2.2.3 Đặc điểm hình thái, giải phẫu của lá của 3 giống dâu 70
2.2.3.1 Đặc điểm hình thái lá 70
2.2.3.2 Đặc điểm giải phẫu 72
2.4 Kĩ thuật trồng, chăm sóc và khai thác ba giống dâu của của nhân dân thôn Vọng Nguyệt, xã Tam Giang 82
Trang 42.4.1 Thực trạng việc trồng dâu, nuôi tằm của nhân dân thôn Vọng
Nguyệt, xã Tam Giang 82 2.4.2 Kĩ thuật trồng, chăm sóc và khai thác giống dâu mỡ và dâu lạng của nhân dân địa phương trồng tại bãi đất ven sông 84
2.4.2.1 Kĩ thuật trồng, chăm sóc 85
2.4.2.2.Khai thác 87 2.4.3 Kĩ thuật trồng, chăm sóc và khai thác giống dâu ăn quả của nhân dân địa phương trồng tại vườn nhà 87
2.4.3.1 Kĩ thuật trồng và chăm sóc 87
2.4.4 Những hạn chế trong việc trồng, chăm sóc và khai thác ba giống dâu được trồng tại địa phương 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cây dâu có vị trí quan trọng trong đời sống của nhân dân ta Nó khôngnhững có ý nghĩa về mặt tinh thần mà có ý nghĩa trong sản xuất để tạo ra củacải vật chất
Tục lệ xưa, ông cha ta lấy cành dâu tằm làm vòng đeo tay cho trẻ sơ sinh vàtrẻ nhỏ để tránh tà ma, tránh giật mình, tránh khóc dạ đề, khóc đêm, sài đẹn.Trong y học cổ truyền, nhiều bộ phận của cây dâu còn được sử dụng làmthuốc như lá dâu non, vỏ rễ dâu, cành dâu, quả dâu hay cả những cây ký sinhtrên cây dâu cũng được sử dụng
Trong sản xuất, trồng dâu nuôi tằm để sản xuất tơ, dệt lụa là ngành cổtruyền của nhân dân ở các nước Đông Nam Á Từ đây mà ngành dâu tằm pháttriển ra các nước khác có khí hậu ôn hòa hơn Một số nước như Nhật Bản,Trung Quốc, Liên Xô, Triều Tiên… Ngành dâu tằm có vị trí quan trọng trongnền kinh tế quốc dân và được chú ý phát triển
Ở Việt Nam, nghề trồng dâu nuôi tằm là nghề cổ truyền được phát triển
từ đời Hùng Vương… Nước ta có điều kiện thuận lợi cho phát triển trồng dâunuôi tằm từ các vùng đồng bằng đến trung du và miền núi, cây dâu sinhtrưởng mạnh, ra lá hầu như quanh năm, nuôi tằm được nhiều lứa
Từ sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, ngành dâu tằm đã được pháttriển khá rộng trên một số tỉnh trong cả nước và đã góp phần giải quyết cái
“mặc” cho nhân dân và nguồn ngoại tệ cho nền kinh tế quốc dân
Cây dâu có một ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển ngành dâu tằm
tơ vì lá dâu là nguồn thức ăn chủ yếu của con tằm
Huyện Yên phong, tỉnh Bắc Ninh là một huyện ven sông Cầu, diện tích
tự nhiên
Trang 611.119 ha, đất nông nghiệp 7.782 ha Đa số nhân dân sống bằng nghềnông nghiệp, với cây trồng chủ yếu là lúa và hoa màu, diện tích trồng câycông nghiệp thấp Đã từ lâu các xã ven sông Cầu với tiềm năng đất bãi > 500
ha, có nghề truyền thống trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ với các làng truyềnthống như: Vọng Nguyệt, Phù Yên… đã giúp nâng cao đời sống của nhân dânnơi đây Tuy nhiên, nhưng năm gần đây diện tích trồng dâu đang ngày càngthu hẹp, số hộ trồng dâu, nuôi tằm đã giảm nhanh chóng Nghề trồng dâu,nuôi tằm đang mất dần vị trí kinh tế quan trọng
Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của cây dâu không chỉ phục vụtrong nghiên cứu, bổ sung thêm nguồn tài liệu trong giảng dạy mà còn là cơ
sở để giải quyết hiệu quả những vấn đề thực tiến áp dụng vào việc trồng trọt,chăm sóc, khai thác
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề
tài:”Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái, kĩ thuật trồng, chăm sóc và khai thác ba giống dâu chính được trồng tại thôn Vọng Nguyệt, xã Tam giang, huyện Yên phong, tỉnh Bắc Ninh”
2 Tổng quan tài liệu
2.1 Lịch sử nghiên cứu Hình thái – Giải phẫu học thực vật
Trích trong cuốn : Hình thái – Giải phẫu học thực vật của Hoàng Thị Sản và Trần Văn Ba Năm 2004
Hình thái – Giải phẫu học thực vật là khoa học nghiên cứu hình dạng bênngoài và cấu trúc bên trong của cơ thể thực vật Đối tượng của nó là hệ thống
tổ chức của cơ thể từ tế bào cùng các bào quan đến từng loại mô, từng cơquan và toàn bộ cây Các đối tượng đó tạo nên một thể thống nhất hữu cơ, cómối quan hệ chặt chẽ với nhau và với môi trường sống (trang 12)
Về lịch sử nghiên cứu hình thái – giải phẫu thực vật có thể thấy từ khimới hình thành, xã hội loài người đã tiếp xúc với giới Thực vật phong phú ở
Trang 7xung quanh để phục vụ cho nhu cầu ăn, ở, mặc của mình Do đó, vốn hiểubiết về hình thái các loại cây đã được hình thành và ngày một tích lũy lên.Một số tài liệu xưa để lại đã chứng tỏ điều này Ví dụ: trong các sách cổ cuatTrung Quốc như “Hạ tiểu chính” (cách đây hơn 3000 năm) và Kinh thi (cáchđây gần 3000 năm) đã mô tả hình thái và cách sống của nhiều loại cây Mộtpho sách cổ của Ấn Độ “Su-scơ-ru-ta” viết vào thế kỉ XI trước Công nguyên
đã mô tả hình thái 760 loài cây thuốc Đến thế kỉ thứ III, thứ IV trước Côngnguyên bắt đầu có những hiểu biết có tính chất hệ thống về giới Thực vật.Théophráte (371-286 trước CN) đã viết nhiều sách về thực vật như “Lịch
sử thực vật”, “Nghiên cứu về cây cỏ”,… Trong các sách đó, lần đầu tiên đềcập đến dẫn liệu có hệ thống về hình thái, cấu tạo của cơ thể thực vật cùng vớicách sống, cách trồng, cũng như công cụ của nhiều loại cây Ông đã chia câythành các bộ phận rễ, thân, lá, hoa, quả, trong đó 3 bộ phần đầu được xem làthường xuyên, còn hoa, quả là tạm thời; ông cũng chú ý đến sự tạo thànhvòng hàng năm của gỗ
Những hiểu biết ban đầu về đặc điểm hình thái trong thời gian dài (và cả
về sau này) là cơ sở để phân loại cây cối Bởi thế lịch sử phát triển của Hìnhthái – Giải phẫu học Thực vật gắn liền với sự phát triển của Phân loại họcthực vật Ở thế kỉ XVI và XVII, Caesalpine, Rivenus, Tournefort… đã xâydựng các hệ thống phân loại trên cơ sở đặc tính của hạt, phôi và tràng hoa.Năm 1703, John Ray đã phân biệt sự khác nhau giữa cây Một lá mầm và câyHai lá mầm, tách chúng thành hai nhóm phân loại lớn
Sự phát minh ra kính hiển vi của Robert Hook (thế kỉ XVII) đã mở đầucho một giai đoạn mới nghiên cứu cấu trúc bên trong của cơ thể, tức là nghiêncứu về tế bào Các công trình nghiên cứu khác nhau trong lĩnh vực tế bào củanhiều nhà khoa học trên thế giới đã dần dần làm sáng tỏ cấu trúc và chức năngcủa tế bào, dẫn đến hình thành học thuyết về tế bào (1838)
Trang 8Cùng với sự phát triển của kính hiển vi quang học mà một khoa học mớiđược hình thành, nghiên cứu cấu tạo bên trong của cơ thể thực vật, đó là Giảiphẫu thực vật Vào những năm 70 của thế kỉ XVII, các nhà sinh vật họcMalpighi (ngưới Ý) và Grew (ngưới Anh) đã có những nghiên cứu trong lĩnhvực đó và đã công bố công trình mang tên “Giải phẫu thực vật” (1652, Grew;1675-1679, Malpighi), có thể xem là mở đầu cho khoa học Giải phẫu Thựcvật ngày nay.
Trong thế kỉ XVIII, nhờ sự phát triển của ngành khoa học Vật lí, Hóahọc… và các hoạt động khác (như hàng hải), người ta đã thu lượm được khánhiều dẫn liệu quan trọng về đời sống và cấu tạo của các loại cây Việcnghiên cứu thực nghiệm không còn bó hẹp trong việc sưu tầm, mô tả nữa, màcác thực nghiệm đã được sử dụng một cách rộng rãi Những thành tựu mới vềnghiên cứu hình thái – giải phẫu đã góp phần đưa Phân loại học đạt những kếtquả to lớn
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã, các ngành công nghiệp sản xuấtđường, giấy sợi, cao su, nhựa, gỗ… đòi hỏi những hiểu biết sâu sắc và chínhxác về các nguồn nguyên liệu thực vật Điều đó cũng thúc đẩy khoa học Thựcvật phát triển và nhiều bộ môn mới được tách ra như: Hình thái – Giải phẫuhọc, Sinh lí học, Sinh hóa học… vào đầu thế kỉ XIX, các nhà khoa học đã tìm
ra mối liên quan giữa cấu trúc và một số chức năng cơ bản trong đời sống củathực vật như quang hợp, hô hấp, tiêu thụ nước Năm 1874, Svendener đã chú
ý đến việc áp dụng chức năng sinh lí khi nghiên cứu giải phẫu thực vật Năm
1884, Haberclan đã phát triển hướng nghiên cứu này trong cuốn sách “Giảiphẫu – Sinh lí thực vật”
Giữa thế kỉ XIX, công trình nghiển cứu về thực vật có hạt củaHoffmeister đã xóa bỏ được ngăn cách giữa thực vật Hạt trần và thực vật Hạtkín Ông cũng đã xác định được quy luật chung cho thực vật trong chu trình
Trang 9sống dưới hình thức xen kẽ thế hệ giữa sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính.Những công trình nghiên cứu về thực vật có bào tử ở giữa thế kỉ XIX có ýnghĩa trọng đại góp phần giải thích sự tiến hóa của giới Thực vật.
Năm 1877, De Barry cho xuất bản cuốn “Giải phẫu so sánh các cơ quansinh dưỡng”, trong đó đã phân biệt các loại mô, túi tiết, mạch, ống nhựa mủ…cách phân biệt của ông tuy còn mang tính nhân tạo nhưng cũng đánh dấu mộtbước tiến bộ trong việc nghiên cứu cấu trúc của cơ thể thực vật
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, việc nghiên cứu cấu tạo tế bào được tiếnhành một cách mạnh mẽ Nhân tế bào đã được phát hiện từ thời Leuvenhook
ở thế kỉ XVII, nhưng những mô tả đầy đủ rõ ràng về nhân tế bào ở những câykhác nhau thì mãi đến năm 1833 mới được R Brawn đề ra Nhà Sinh họcngười Nga Tchitiacov đã phát hiện ra sự phân chia gián tiếp của tế bào Sau
đó Gherasimov tìm được vai trò của nhân tế bào Năm 1898, Navasin đã pháthiện sự thụ tinh kép ở thực vật Hạt kín
Nhờ sự phát minh ra kính hiển vi điện tử, người ta đã nghiên cứu ra cấutrúc siêu hiển vi của tế bào và đã tách việc nghiên cứu tế bào thành một mônkhoa học mới là Tế bào học Vào nửa sau của thế kỉ XX, việc nghiên cứu hìnhthái, giải phẫu thực vật càng được đẩy mạnh và được áp dụng cho các ngànhkhác như Phân loại, Sinh lí, Sinh thái học Thực vật Các kết quả nghiên cứu
đã được tập hợp trong một số sách về giải phẫu thực vật của nhiều tác giả trênthế giới, như “Giải phẫu các họ cây Hai lá mầm và Một lá mầm (1950, 1960,1961) của C.R Metcalfe và L Chalk, “Giải phẫu thực vật” của Esau,…
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu hình thái giải phẫu thực vật còn chưanhiều Trong thời kì thực dân pháp còn đô hộ, chỉ có công trình nghiên cứu vềgiải phẫu gỗ của H Lecomte trong cuốn sách “Các cây gỗ ở Đông Dương” Nguyễn Bá (1974), nghiên cứu hình thái, cấu tạo các cơ quan trong cơthể thực vật nhưng lĩnh vực hình thái thích nghi lại chưa được đề cập nhiều
Trang 10Một số tác giả khác đã quan tâm nghiên cứu giải phẫu một số loài, chihay họ thực vật Hạt kín, đặc biệt đã chú ý đến hướng nghiên cứu giải phẫuthích nghi như Phan Nguyên Hồng (1970, 1991) đã mô tả hình thái, cấu tạogiải phẫu một số cơ quan của các loài cây ngập mặn theo hướng thích nghi(Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Vn).
Hoàng Thị Sản, Phan Nguyên Hồng, Nguyễn Tề Chỉnh (1980) và HoàngThị Sản, Trần Văn Ba (1998) đều đề cập đến đặc điểm cấu tạo, sự phát triểnchung của cơ thể thực vật nhưng cũng chưa đưa ra được dẫn chứng cụ thể vềđặc điểm hình thái, giải phẫu thích nghi của loài
Sau này hướng nghiên cứu giải phẫu thích nghi và nghiên cứu một sốđặc điểm sinh thái của những loài cây ngập mặn được nhiều tác giả khác quantâm đến như Trần Văn Ba (1996) đã nghiên cứu cấu tạo giải phẫu rễ cây ngậpmặn, nghiên cứu về dừa nước; Nguyễn Thị Hồng Liên (2006) nghiên cứu về
sự thích nghi của cơ quan sinh sản một số loài cây ngập mặn Những nghiêncứu về các nhóm thực vật khác cũng được tiến hành như Đỗ Thị Lan Hương(2004) nghiên cứu đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu thích nghi với chứcnăng của một số cây trong ba họ bầu bí, củ nâu, khoai lang; Đỗ Thị LanHương (2012) nghiên cứu đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu một số loàidây leo thân thảo ở miền Bắc Việt Nam; Những nghiên cứu gần đây nhất như
Lê Thị Minh Hằng (2013) nghiên cứu một sô đặc điểm hình thái, giải phẫu
thích nghi của loài cóc vàng (Lumnitzera racemosa Wild.); Lê Thị Phương
Hằng (2014) nghiên cứu đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu thích nghi
của loài bần chua (Sonneratina caseolaris (L.) ENGL.)… những nghiên cứu
này góp phần làm sáng tỏ những vấn đề của khoa học giải phẫu thực vật,đồng thời đã có những ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn
2.2 Những nghiên cứu về cây dâu
Cây dâu vốn là cây hoang dại, sống lưu niên Khi con tằm được conngười thuần hóa và nuôi dưỡng, cây dâu cũng được trồng trọt để cung cấpthức ăn cho tằm và bằng cách chọn lọc tự nhiên hay nhân tạo, cây dâu đã
Trang 11được thay đổi từ trạng thái cây dại thành cây trồng Theo thời gian cây dâuđược con người trồng trọt, chăm sóc và chọn lọc nên đã hình thành nhiềugiống và loài dâu khác nhau.
Cây dâu vừa là cây ôn đới, vừa là cây cận nhiệt đới, nó phá triển rộng rãi
ở nhiều khu vực trên thế giới Điều kiện tự nhiên, nguồn gốc cùng với sự canthiệp của con người nên dâu rất đa dạng, hơn nữa cây dâu là cây giao phấnnên bị lai tạp qua nhiều đời Vì vậy công tác phân loại cây dâu rất phức tạpnhưng cũng rất cần thiết
Linnaeus (1707-1778) người Thụy Điển là một trong những nhà thực vậthọc sớm nhất đã sếp loại cây dâu trong họ Moraceae Vào giữa thế kỷ XVIIILinnaeus cũng là người đầu tiên dùng thuật ngữ tên kép để đặt tên cho cây,với hệ thống này là sự kết hợp của tên chung và tên riêng được dùng làm tên
khoa học của các loại cây cần được đặt tên Chi Morus bao gồm 5 dạng quan trọng mà Linnaeus đã đặt tên: Morus alba Linn, Morus nigra Linn, Morus rilra Linn, Morus tartarica Linn, Morus indica Linn.
Năm 1842 nhà thực vật học người Ý – G.Morett đã phân loại cây dâuthành 10 loài Năm 1855 nhà thực vật học người Pháp – N.G.Seringe đã phânloại cây dâu thành 8 loài Vào năm 1973 nhà thực vật học người Pháp khác là
Ed Bureau đã phân loại cây dâu thành 6 loài, 18 thứ và 12 phân giống Vàonăm 1916 nhà thực vật học người Đức C.C.K Schneider phân loại cây dâuthành 3 loài và 7 thứ Năm 1931 nhà thực vật học người Nhật Bản Koizumi
đã phân loại cây dâu thành 30 loài và 10 giống Nhà thực vật học người Nhật
là Horita đã tiếp tục phân loại theo hệ thống của Koizumi đã phân loại câydâu thành 35 loài
Ở Trung Quốc giáo sư ChenRong đã phân loại chi Morus thành 12 loài Trong đó có những loài đã được trồng như: Morus alba Linn, Morus mongodica, Morus acidosa, Morus cathayana, Morus nigra…
Trang 12Theo tập san công tác nông nghiệp FAO 73/1 Horita đã giới thiệu khóaphân loại cho 14 loài của chi Morus ở Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc
Ở Việt Nam công tác phân loại còn sơ sài, chưa có hệ thống, không dựavào khóa phân loại nào, chưa có một nghiên cứu cơ bản nào về cây dâu Sựphân loại chủ yếu dựa vào đặc trưng hình thái, vì thế có nhiều giống khácnhau nhưng có cùng tên gọi hoặc một số giống mang nhiều tên khác nhau.Dâu Việt Nam có thể chia ra thành 5 nhóm: dâu bầu, dâu đa, dâu cỏ, dâu tambội và nhóm dâu nhập nội được thuần hóa
Nghiên cứu về cây dâu ở Việt Nam, đã có một số tác phẩm nghiên cứuđặc điểm sinh học, sinh thái, kĩ thuật trồng và chăm sóc cây dâu hay mô tảđặc điểm hình thái của một số giống dâu trồng ở Việt Nam, làm cơ sở nghiên
cứu, tài liệu giảng dạy và ứng dụng trong nông nghiệp như “Sổ tay trồng dâu nuôi tằm” của Phạm Văn Phan và cộng sự năm 1979; “Trồng dâu” của Bùi Khắc Vư năm 1982; “Kỹ thuật trồng dâu nuôi tằm” của Liên hiệp xí nghiệp dâu tằm tơ Việt Nam năm 1989; “Cây dâu” của Đỗ Thị Châm và Hà Văn Phúc năm 1995; “Giáo trình Dâu tằm – Ong mật” của Nguyễn Văn Long và
cộng sự năm 2004 Tuy nhiên những tác phẩm này chưa nghiên cứu sâu vềđặc điểm cấu tạo giải phẫu cây dâu, đặc biệt chưa định loại cây dâu ở ViệtNam Nghiên cứu về phát triển kinh tế của ngành trồng dâu nuôi tằm được đề
cập đến trong luận văn phó tiến sỹ như “Nghiên cứu một số giải pháp góp phần phát triển ngành trồng dâu nuôi tằm trong hệ thống nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng” của Phạm Văn Vượng năm 1995; hay trong luận văn cao học “Nghiên cứu phát triển trồng dâu nuôi tằm trên địa bàn tình Hà Nam” của Trương Quốc Hưng năm 2006…
Hiện nay Trung tâm nghiên cứu dâu tằm tơ trung ương đã mở ra nhiềuhướng nghiên cứu về cây dâu, chủ yếu là các phương pháp giữ giống, lai tạocho ra những giống dâu mới hiệu quả phục vụ cho việc khai thác lá và đã đạtnhiều thành tựu…
Trang 13Cây dâu không chỉ là loại cây trồng dùng dể khai thác lá làm thức ăn chocon tằm mà nó còn được sử dụng như là vị thuốc dân gian chữa bệnh Trong
“Sổ tay cây thuốc Việt Nam” của Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Chương từ năm
1980 đã viết Vỏ rễ, cành dâu sắc uống chữa ho, phong thấp; lá dâu sắc uống
có thể chữa cảm, ho, mất ngủ; quả ngâm rượu hoặc ngâm đường uống chữathiếu máu; xirô quả chín bôi chữa đau họng, loét mồm, lở lưỡi… Cho đếnngày nay thì có nhiều nghiên cứu về khả năng chữa bệnh của cây dâu gần đây
như“Các hợp chất polyphenol trong thân cây dâu tằm và tác dụng ức chế hình thành nitric oxid (NO) ở tế bào thần kinh đệm được kích hoạt bằng lipopolysaccharid” của Lee WJ và cs năm 2012; “Nghiên cứu so sánh tác dụng chống oxy hóa của các cao chiết methanol từ các phần khác nhau của cây dâu tằm (Morus alba L.)”của Khan MA và cs năm 2013; “Hàm lượng polyphenol và tác dụng chống oxy hóa của lá dâu tằm thu hái ở một số vùng”
của Kim DS và cs năm 2014…
Hiểu được đặc điểm sinh học, sinh lý của cây dâu, người ta còn trồng câydâu để làm cảnh, tạo ra nhiều kiểu dáng, thế bonsai đem lại hiệu quả kinh tế…
2.3 Lịch sử phát triển dâu tằm tơ
2.3.1 Lịch sử phát triển dâu tằm tơ ở Việt Nam
(trích trong cuốn : Lịch sử nông nghiệp Việt Nam NXB Nông nghiệpnăm 1994 Từ trang 75-79 Ban biên tập lịch sử nông nghiệp nông nghiệp)Lịch sử ghi chép người Việt cổ biết trồng dâu chăn tằm ươm tơ cách đâytrên 5000 năm Sách lịch sử Việt Nam viết: “ sau một thời kì (tiền sử) dùng
vỏ cây làm áo đến thời kì trồng gai, đay, trồng dâu, chăn tằm, ươm tơ, dệt vải,dệt lụa Dân cả vùng đất bãi ven sông Đuống ( bây giờ là nhánh chính củasông Hồng) ở miền Thuận Thành (Hà Bắc nay là Bắc Ninh) mang tên bộ lạc
“Dâu” Truyền thuyết cũng nói thời Hùng Vương (hơn 2500 năm trước côngnguyên) dân ta chăm việc nông tang và con tằm là một loài sâu nhiệt đới được
Trang 14tổ tiên ta thuần hóa từ lâu đời Đến thời Âu Lạc, trên những cánh bãi vensông, nghề trồng dâu chăn tằm phát triển, di tích lụa dệt đã tìm thấy ở một sốngôi mộ cổ Đến thế kỷ thứ VII (sau công nguyên) nghề trồng dâu nuôi tằmđặc biệt phát triển, từ Châu Phong (Bắc Hà Tây, Vĩnh Phú) đến Châu Ái(Thanh Hóa) đều nuôi tằm một năm cho tám lứa kén
Vua quan nhà Đường sang đô hộ nước ta đã ca ngợi các loại lụa lĩnh, sa,the, gấm, vóc của người Việt dệt Các loại vải mầu, ráng chiêu, cóc, nhiễuđiều… đã được coi là ‘thượng hạng”, dùng làm cống phẩm cho triều đình nhàĐường (thế kỉ thứ V sau công nguyên) Năm 1040, Lý Thái Tông quyết địnhdùng gấm vóc dệt trong nước để may lễ phục cho vua quan, không mua gấmvóc của nước ngoài nữa
Đến thế kỷ thứ XV-XVII (sau công nguyên), nghề trồng dâu nuôi tằm,kéo tơ dệt lụa phát triển rộng rãi ở Đàng ngoài Số lượng tơ xuất khẩu ở Đàngngoài hàng năm lên tới hàng ngàn tạ Nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ cũngphát triển mạnh ở Đàng trong từ thế kỷ thứ X Năm 1664, cố đạo Alêxăng đơRôt kể lại rằng tơ lụa ở Đàng trong nhiều đến nỗi cạnh tranh được với tơ Tàu
và tơ Nhật và người ta dùng cả tơ để đan lưới đánh cá Nam kỳ trước ngày bịPháp chiếm làm thuộc địa (1854), vốn là một xứ tằm tơ, sản xuất tơ lụa dùngcho nhu cầu địa phương Nhiều làng phố, làng mạc đặt tên là xóm lãnh, xómlụa, xóm cửi… Vĩnh Long ngày xưa là một chợ tơ lớn, ở đó tập trung các sảnphẩm tơ tằm của Sa Đéc và Bến Tre
Thời kì Pháp thuộc (1884-1945) bắt đầu có những cuộc điều tra nghiêncứu về cây dâu, con tằm, và công nghệ ươm tơ, dệt lụa Các cơ quan canhnông đã chọn lọc được hai giống dâu mới: giống dâu Tàu và giống dâu tím, cả
hai đều thuộc chủng Morus alba latifolia cho năng suất và phẩm chất cao hơn
giống dâu địa phương Về kĩ thuật trồng dâu thì Ressencourt ở trại đã có kếtluận về kĩ thuật trồng dâu là trồng thành từng khóm, đốn thấp, khoảng cách
Trang 151m20 x 0m60 cho năng suất lá dâu cao hơn cách trồng dâu rạch hàng củanhân dân địa phương Về con tằm, Sở canh nông Bắc kỳ thí nghiệm nuôi 2giống tằm kén trắng và kén vàng, đều là giống tằm đa hệ Dân ưa thích nuôigiống tằm kén vàng hơn vì tằm khỏe, ít bệnh tật
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chúng ta tiếp quản các cơ sở dâutằm tơ thời Pháp để lại Ở Bắc bộ, 17 tỉnh trồng được khoảng 3800 ha dâu(1994) Các cơ sở nghiên cứu khoa học về dâu tằm tơ gồm có phòng nghiêncứu dâu tằm thuộc Viện khảo cứu nông lâm, các trại thí nghiệm Nhật Tân (HàNội), Giao Thủy (Quảng Nam) Về sản xuất trứng giống sạch bệnh, có các cơ
sở lựa trứng tằm Bắc Giang, Việt Trì, Thái Bình, cùng với các nhà tằm sảnxuất kén giống Âu Lâu (Yên Bái), Thanh Ba (Phú Thọ), La Phù (Phú Thọ),Bến Lường (Lạng Sơn)
Tháng 12 năm 1946, toàn quốc kháng chiến chống Pháp, các cơ sở nóitrên hầu như bị giải tán hết Một số cán bộ công nhân viên chuyên về dâu tằm
đi theo kháng chiến, lên khu vực Việt Bắc tiếp tục hoạt động
Năm 1947 ở an toàn khu Việt Bắc (Sơn Dương, Tuyên Quang) Ty thanhtra tằm tang Bắc bộ được thành lập trong Nha Nông chính thuộc Bộ Canhnông của nước Việt Nam DCCH Các cơ sở mới dâu tằm được thành lập baogồm các nhà tằm Yên Bình (Tuyên Quang), Thổ Khối (Phú Thọ), Phúc Yên,Vĩnh Yên, Thái Nguyên với nhiệm vụ nuôi tằm, sản xuất trứng giống vàhướng dẫn nông dân trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, rút nái Tại nhà tằm YênBình (Tuyên Quang) từ năm 1945 đến 1950 đã tổ chức được 8 khóa huấnluyện cán bộ sơ học tằm tang
Ở vùng tự do liên khu IV, liên khu V, công việc sản xuất trứng tằmgiống và hướng dẫn trồng dâu nuôi tằm được tiếp tục triển khai, mặc dầu bịđịch bao vây tứ phía
Ở vùng địch tạm chiến, phần lớn là vùng đống bằng, vốn là vùng trồngdâu nuôi tằm cổ truyền, thì địch tàn phá và cấm trồng dâu, sợ làm nơi ẩn nấp
Trang 16cho du kịch Do đó, nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ từ lâu đời ở nước ta bịtàn lụi ở vùng địch tạm chiếm.
Sau hòa bình lập lại, năm 1957, thành lập phòng dâu tằm trong Việnkhảo cứu trồng trọt Các công việc thu thập, chọn lọc một sô giống dâu vàgiống tằm của các địa phương được tổ chức lại, bước đầu thí nghiệm lai tạogiống tằm ăn lá thầu dầu, lá sắn của Trung Quốc để thử nuôi Năm 1961, côngtác dâu tằm được chuyển về Trại tằm tơ trung ương ở Gia Quất (Gia Lâm-HàNội), thuộc Vụ trồng trọt Bộ Nông nghiệp Trại tiến hành nuôi tập đoàn giốngtằm đa hệ cổ truyền, thí nghiệm lai giống tằm sắn với giống tằm dại, tạo ragiống số 5, nhưng giống này về sau ko giữ được Trại tằm trung ương cũnggiúp Vụ trồng trọt chỉ đạo xây dựng các trại tằm địa phương và khôi phục lạinghề trồng dâu nuôi tằm (nhất là các tỉnh Hà Tây, Thái Bình, Hà Nội, Nghệ
An, Thanh Hóa) Nhờ đó, diện tích trồng dâu (miền bắc) từ chỗ chỉ còn 1600
ha với năng suất bình quân 7 tấn lá/ha năm 1956 tăng lên 2300 ha với năngsuất 12 tấn lá/ha năm 1962
Tháng 11 năm 1963, Phó Thủ tướng triệu tập Hội nghị toàn miền bắcbàn về phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm, và chủ trơng phấn đấu phát triểnnghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ với tốc độ cao nhất, theo đúng tinh thầnnghị quyết hội nghị lần thứ VIII của Ban chấp hành Trung ương Đảng, làmcho “nghề trồng dâu nuôi tằm thiết thực phục vụ công nghiệp dệt, côngnghiệp đánh cá và xuất khẩu”
Bước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước (1965-1975) nghề dâutằm tơ lại một lần nữa gặp nhiều khó khăn hạn chế không phát triển được Saungày giải phóng miền nam (30/4/1975), cả nước chỉ còn khoảng 10000 hadâu, các gia đình nông dân chăn tằm, ươm tơ hằng năm sản xuất được 20 tấn
tơ, nghề dệt trước đây nổi tiếng ở Hà Tây, Quảng Nam… gần như không hoạtđộng nữa, tơ xuất khẩu hàng năm không còn bao nhiêu
Trang 17Chính phủ chủ trương phục hồi và phát triển nghề trồng dâu nuôi tằmtrong cả nước Từ đầu năm 1980, hướng tập trung vào vùng Bảo Lộc (LâmĐồng) nơi có điều kiện thuận lợi để sản xuất trứng giống tằm kén trắng lưỡng
hệ, cho tơ nõn được thi trường thế giới ưa chuộng
Năm 1984, toàn huyện Bảo Lộc đã trồng được 2000 ha dâu, nuôi tằm,sản xuất trứng giống, ươm tơ, thu được 13 tấn tơ để xuất khẩu Đã xây dựng ởBảo Lộc một trung tâm khoa học dâu tằm tơ (hợp tác Việt-Xô) thuộc Liênhiệp dâu tằm tơ Việt Nam Đến năm 1985, trung tâm đã tập hợp được 50giống tằm (10 giống cổ truyền và 40 giống nhập nội), hơn 10 giống dâu, trồngđược 500 ha dâu, có thiết bị cơ giới hóa nghề nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa… Ngành dâu tằm tơ Việt Nam phấn đấu những năm 1990 – 2000 đạt 100 –
200 tấn tơ xuất khẩu với các biện pháp chọn lọc, lai tạo giống dâu mới cónăng suất cao 30 – 35 tấn lá/ha, giống tằm kén trắng lưỡng hệ mới cùng vớicác biện pháp kĩ thuật nuôi trồng tiên tiến, nhằm đạt 100kg tơ nõn xuất khẩutrên mỗi hecta dâu
2.3.2 Lịch sử phát triển dâu tằm tơ ở thôn Vọng Nguyệt, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Người dân Yên Phong sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, song ởmỗi làng quê cũng tạo ra các sản phẩm thủ công nghiệp, vừa để sản xuất vừa
để tiêu dùng trong cuộc sống và làm hàng hóa trao đổi nâng cao đời sống
(trang 144 địa chí yên phong )
Trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa là một trong những nghề thủ côngnghiệp có từ lâu đời ở Yên Phong tập trung chủ yếu ở vùng đất ven sông Cầu:Tam Giang, Yên Trung, Dũng Liệt, Hòa Long, dâu tằm được trồng trongvườn nhà và trồng ngoài bãi đất bồi ven sông
(Diện tích trồng dâu đầu năm 1965: 240 hecta, diện tích này giảm dần, năm1995: 36 hecta, 1996: 31 hecta, 1997: 28 hecta, 1998: 24 hecta (trang 139))
Trang 18Lá dâu là thức ăn chính của con tằm, tùy tuổi tằm mà người ta có thể tháinhỏ lá dâu hoặc cho tằm ăn cả lá, một ngày cho tằm ăn ít nhất 3 lần Vòng đờicủa con tằm ngắn, từ khi trửng nở thành tằm con, rồi đến tằm tuổi 1, tuổi 2,tuổi 3, tằm ăn rỗi, kích thước tằm tăng nhanh đến khi tằm đạt kích thước tối
đa và chuyển sang màu vàng, có “bụng tơ” còn gọi là tằm chín, giai đoàn nàytằm bắt đầu nhả tơ, làm tổ kén Người nuôi bắt tằm chín thả vào né rơm chotằm làm tổ kén, sau 2 ngày có thể thu được kén Trung bình 1 lứa tằm mấtkhoảng 24 – 25 ngày, phụ thuộc nhiều vào thời tiết
Cách ươm tơ: để có thể rút được sợi tơ từ kén, người ươm tơ phải chuẩn
bị bếp lửa, đun nồi nước nóng, cho kén vào nồi, dùng đũa để đảo kén Vớibàn tay khéo léo của người thợ, sợi tơ được từ từ rút ra từ các con kén kết lạivới nhau thành từng mối, các mối tơ được đưa qua hệ thống dòng dọc, móc vàguồng quay để tạo thành các con tơ Để mối tơ dài, đều liên tục và không bịđứt khi hết sợi thì người thợ phải cho kén vào nồi với lượng nhỏ, liên tục vàđảo đều tay Các con tơ khi dày khoảng 250 – 300g thì được đưa ra ngoàiphơi khô Tơ khô được sử dụng để dệt vải Kén khi rút hết sợi sẽ còn lạinhộng và trong quy trình ươm tơ còn tạo ra các sản phẩm phụ khác nữa nhưđầu chồi, giả nhộng, các sản phẩm phụ này đều được thu mua và sử dụng.Như vậy có thể thấy để tạo ra được những mảnh vải lụa tơ tằm phải trảiqua nhiều công đoạn, từ việc trồng dâu → hái lá→ nuôi tằm → ươm tơ → dệtvải, các công đoạn này đều có mối liên kết chặt chẽ với nhau
Thôn Chân Lạc thuộc xã Dũng Liệt là một làng ven sông Cầu Nơi đây
có đền thờ ba vị thủy thần: Thủy tộc Long Quân, Hoàng Hà Đoan Khiết phunhân và Tam Giang công chúa, là ngôi đền cổ nhất huyện Yên Phong Tươngtruyền Thủy tộc Long Quân là con của Lạc Long Quân, một lạc hầu quản lãnhvùng sông Như Nguyệt Hoàng Hà Đoan Khiết là con một vị chúa ở ChânLạc, tương truyền là bà tổ trồng dâu chăn tằm vùng ven sông Cầu Tam Giangcông chúa là con của hai vị và là vợ của vua Hồ Đường
Trang 19Nghề trồng dâu nuôi tằm có từ đầu đời Hùng Vương gắn liền với sự tíchThánh Nương (Hoàng Hà Đoan Khiết) đưa bà lên vị trí “bà Tổ dâu tằm” vùng
ven sông Cầu.(Địa chí Yên Phong, trang 605 – 607)
Chân Lạc có lẽ là nơi có nghề trồng dâu nuối tằm sớm nhất và có thể
từ mảnh đất này, nghề trồng dâu nuôi tằm được mở rộng đến các làng vensông Cầu khác nữa Hiện nay, chỉ còn thôn Vọng Nguyệt, xã Tam Giang làcòn giữ nghề trồng dâu, nuôi tằm và nó đã trở thành nghề truyền thống củanhân dân nơi đây
Về lịch sử hình thành làng nghề Vọng Nguyệt thì không có tài liệu thànhvăn ghi chép cụ thể chỉ tương truyền rằng: Vào thời Lý chống Tống 1077,Vọng Nguyệt có một vị tướng giỏi đó là ông Chu Đình Dự Ông xuất thân làmột thợ rèn, sau thành thuộc tướng của Lý Thường Kiệt Ông được vua Lý gảcông chúa Lý Nguyệt Sinh, trở thành phò mã của nhà Lý Ông đã giúp LýThường Kiệt phá cầu Phù Kiều của Triều Tiết bắc qua sông Như Nguyệt, baovây và diệt gọn gần một van quân Tống ở đồng Bờ Xác Vợ ông, công chúa
Lý Nguyệt Sinh cũng là một tướng giỏi Bà chỉ huy đánh đội thủy binh đánhvào phía Đông Nam trại giặc ở bãi sông Mai Thượng, huyện Hiệp Hòa, tỉnhBắc Giang Nơi bà hy sinh nay vẫn còn mộ, bến sông nơi bà xuất quân gọi là
“Bến Bà” (trang614, 615) Không chỉ là một tướng giỏi, sinh thời bà đã giúp
nhân dân Vọng Nguyệt cải thiện đời sống Khi thấy Vọng Nguyệt có nhiều ưuthế để phát triển một nghề thủ công (diện tích đất bài lớn, dân cư tập trungkhá đông đúc, con người hiền hòa, khéo léo…), bà đã truyền dạy cho nhândân đặc biệt là phụ nữ cách trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa Để nhớ ơncông lao ấy, nhân dân Vọng Nguyệt đã thờ Nguyệt Sinh công chúa và phò mã
đô úy Thượng hầu Chu Đình Dự tại nhà riêng của họ, ngày nay trở thành đềnVọng Nguyệt, được nhà nước công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia
Trang 20Làng nghề Vọng Nguyệt phát triển theo sự thăng trầm hay những biến cốlịch sử của đất nước Trải qua nhiều triều đại phong kiến, nghề ươm tơ VọngNguyệt vẫn luôn phát triển và gìn giữ được truyền thống làng nghề của mình.Như sách Phong thổ Kinh Bắc thời Lê, Bắc Ninh Phong Thổ tạp ký, Đại Namnhất thống chí đều có ghi chép hàng chục nghề tinh xảo mà sản phẩm (sảnphẩm tơ tằm Vọng Nguyệt là một ví dụ) được nhân dân trong vùng, trongnước ưa dùng
Từ 1884, nước ta từ một nước phong kiến độc lập tự chủ trở thành nướcthuộc địa nửa phong kiến Đến 1887, chính quyền thực dân đặt ách cai trị trêntoàn lãnh thổ nước ta Thực dân Pháp càng đẩy mạnh quá trình khai thácthuộc địa Thông qua bộ máy cai trị ở nông thôn, bọn thực dân phong kiến rasức bóc lột nông dân Được Pháp dung dưỡng, địa chủ phong kiến đã tướcđoạt ruộng đất của nông dân Không chỉ bị tước đoạt ruộng đất, nông dân còn
bị bóc lột bằng sưu cao, thuế nặng, với những thứ thuế vô lý như thuế thân,thuế muối, thuế chợ, thuế rượu… Rất nhiều người dân không chịu được cảnhsưu thuế đã rơi vào cảnh túng quẫn Không ngoại lệ, nghề thủ công truyềnthống trồng dâu nuôi tằm của làng Vọng Nguyệt cũng chịu tác động mạnh mẽ
từ sức ép của chính sách sưu cao, thuế nặng và chính sách bần cùng hóa củathực dân Pháp Trong giai đoạn này, nghề trồng dâu, nuôi tằm không có khảnăng để phát triển, thậm chí bị mai một
Sau khi giành được chính quyền, ngay năm đầu của cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp xâm lược lần hai (1945), tuy còn khó khăn, thiếu thốn,Vọng Nguyệt vẫn duy trì và phát triển làng nghề thủ công truyền thống- trồngdâu, nuôi tằm, ươm tơ của mình, phục vụ đời sống sản xuất và đành giặc giữnước Trước tháng 9 năm 1948, làng Vọng Nguyệt thuộc đơn vị xã VọngNguyệt, tổng Nội Trà đã tổ chức được Hợp tác xã ươm tơ, cùng với Hợp tác
xã Đại Lâm để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm ươm tơ
Trang 21Hưởng ứng công cuộc cải cách ruộng đất- khôi phục kinh tế 1957), chi bộ Vọng Nguyệt cũng đã đạt được nhiều thành tựu trong công cuộccải cách, theo thống kê, thôn có 16 địa chủ, 110 hộ trung nông và 87 hộ cốnông Nhiều ruộng đất của địa chủ đã được tịch thu, chia cho những hộ nôngdân nghèo Với công cuộc cải cách và cuộc vận động sửa sai kịp thời đã đemlại cho nông nghiệp của làng những khởi sắc mới và kéo theo đó là nhữngthay đổi của tiểu thủ công nghiệp mà cụ thể là nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm
(1954-tơ truyền thống
Năm 1958, Vọng Nguyệt đã thành lập được Hợp tác xã của riêngmình và bắt đầu xây dựng các tổ đổi công trong nông nghiệp và tiểu thủcông nghiệp
Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch 3 năm 1958- 1960, tiểu thủ côngnghiệp nói chung và nghề ươm tơ nói riêng được đầu tư khôi phục nhằm mởrộng và phát triển
Từ 1960- 1965, nhờ nỗ lực của nhân dân làng Vọng Nguyệt, đặc biệt làcủa các hộ gia đình làm nghề, HTX Vọng Nguyệt nhiều năm liền được tỉnh
Hà Bắc chọn làm HTX điểm; Trong thời kỳ này, nhiều hội nghị về vấn đềnuôi tằm, ươm tơ cũng được tổ chức bên cạnh các hội nghị đầu bờ về thủy lợi,cấy lấn úng, làm phân xanh…
Đến giai đoạn 1965- 1975, tính chất khốc liệt của chiến tranh chống Mĩxâm lược, nghề ươm tơ Vọng Nguyệt lại có bước đi xuống, làng nghề rơi vàotình trạng mai một, thậm chí có nguy cơ mất nghề
Như vậy, so với thời phong kiến, nghề ươm tơ Vọng Nguyệt trong thời
kỳ hai cuộc trường chinh của dân tộc đã mai một đi rất nhiều
Đến thời kỳ đổi mới (1976- 1986), tiểu thủ công nghiệp xã Tam Giangnói chung và nghề ươm tơ làng Vọng Nguyệt nói riêng có điều kiện phát triểntrong khuôn khổ sự bao cấp, quản lý của Hợp tác xã
Trang 22Năm 1984, HTX may mặc huyện Yên Phong ra đời mà nguyên liệu (tơ
và các sản phẩm về tơ) cung cấp cho sản xuất của HTX này chủ yếu từ làngnghề ươm tơ Vọng Nguyệt Trong thời kỳ này, tình hình sản xuất tơ củalàng có nhiều điểm đáng chú ý, dưới sự quản lý tập trung của HTX VọngNguyệt, làng có 3 tổ chuyên môn: tổ bãi làm dâu, tổ nuôi tằm, tổ kéo tơ.Các tổ vận hành theo hình thức đổi công, tổ bãi làm dâu cung cấp dâu cho
tổ nuôi tằm, tổ nuôi tằm cung cấp kén cho tổ kéo tơ, sau đó tổ kéo tơ nộp tơ
và các sản phẩm từ tơ cho HTX để phục vụ cho việc buôn bán hoặc traođổi HTX ươm tơ Vọng Nguyệt trong giai đoạn này có sự liên kết với Trạitằm Chóa (Chân Lạc, Dũng Liệt) để thu mua nguyên liệu đồng thời traođổi, học hỏi kinh nghiệm trồng dâu, nuôi tằm Trong thời bao cấp, các sảnphẩm từ nghề ươm tơ Vọng Nguyệt chủ yếu được dùng để trao đổi, tơthường được dùng để đổi lấy vải: 1kg đổi được 4 mét vải, giá trị tươngđương khoảng 1600 đồng (giá 1982), ngoài đổi lấy vải, người ta còn dùng
tơ đổi lấy lân, đạm để phục vụ sản xuất nông nghiệp
Bên cạnh sự đầu tư phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp, thươngnghiệp mà chủ yếu là nội thương của xã, huyện thời kỳ này cũng được chútrọng phát triển Hệ thống chợ được xây dựng nhiều hơn, giao thông đi lạicũng thuận lợi cho việc buôn bán, giao thương Chính vì vậy, các sản phẩm từnghề ươm tơ như tơ, nhộng, gốc rũ…được đem ra các chợ để bán vào cácngày chợ phiên như: chợ Chờ (Thị trấn Chờ ngày nay) ngày mùng 2 hàngtháng, chợ Bầu (Bắc Giang) vào ngày mùng 3 hàng tháng, mùng 4 bán ở chợGiàu (chợ Cẩm), đặc biệt chủ yếu bán ở chợ Chờ
Đến 1986, trước nhiều thay đổi của tình hình thế giới và trong nước, nềnkinh tế tập trung, quan liêu bao cấp nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảngnghiêm trọng Đại hội Đảng lần thứ VI được tổ chức, đại hội đã đề ra đườnglối đổi mới toàn diện nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng và
Trang 23tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội Nghị quyết Đại hội VI được Đảng bộ thônVọng Nguyệt triển khai nhanh chóng Trong thời kỳ này, cơ chế hoạt độngcủa các ngành kinh tế đã chuyển sang hình thức hạch toán kinh doanhXHCN thay vì hình thức bao cấp trước đây Cơ chế này hoàn toàn phù hợptrong giai đoạn mới, tạo điều kiện thúc đẩy nghề ươm tơ Vọng Nguyệt khôiphục và phát triển đi lên Chính sách khoán 10 được đưa ra để thay thế chochính sách khoán 100 giai đoạn trước, áp dụng việc chia ruộng theo hộ vàtheo nhân khẩu Các hình thức tổ đổi công: tổ bãi làm dâu, tổ nuôi tằm, tổkéo tơ dần dần tan rã, thay thế vào đó là các hộ gia đình chuyên môn hóamột khâu trong quá trình sản xuất tơ như có gia đình chuyên trồng dâu, giađình nuôi tằm, gia đình kéo kén…thậm chí có gia đình chuyên đi thu mua tơhoặc các sản phẩm phụ như kén phế, đầu chồi, gốc rũ đem bán…Diện tíchbãi trồng dâu của làng được đem đấu thầu…Chính nhờ những hình thức sảnxuất mới này, nghề ươm tơ làng Vọng Nguyệt có động lực để phát triển hơnnữa, làng nghề được khôi phục hơn so với giai đoạn trước.Vì vậy, có thểkhẳng định đây là giai đoạn tiền đề cho sự phát triển của làng nghề ươm tơVọng Nguyệt trong giai đoạn tiếp sau.
Giai đoạn 1989- 2005, làng nghề ươm tơ Vọng Nguyệt có nhiều chuyểnbiến quan trọng Đây được coi là thời kỳ “hưng thịnh” trong quá trình pháttriển của làng nghề
“Dầu ai buôn Sở bán Tần Không bằng Vọng Nguyệt chuyên cần ươm tơ”
(địa chí yên phong, trg 31)
Năm 1989, toàn bộ thôn Vọng Nguyệt được sử rộng rãi mạng lưới điệnquốc gia Đây được coi là sự kiện mang tính bước ngoặt không chỉ đối với đờisống xã hội của nhân dân trong làng mà còn có tác động to lớn đến sự pháttriển của làng nghề ươm tơ truyền thống Vọng Nguyệt Bằng chứng là, với
Trang 24việc toàn thôn có điện, các cơ sở ươm tơ đã mạnh dạn đẩy mạnh sản xuất, đầu
tư vốn, đặc biệt là trang bị máy móc, mua máy ươm tơ, đổi mới kĩ thuật…Việc đầu tư sử dụng máy ươm tơ trong sản xuất, làng nghề Vọng Nguyệt đãbước sang thời kì sản xuất cơ giới, bên cạnh việc duy trì hình thức ươm tơ thủcông
Năm 1994, cả làng có 250 hộ/ 700 hộ trong làng làm nghề ươm tơ, chếbiến được 30- 35 tấn tơ mỗi năm, doanh thu 3- 4 tỷ đồng
Sang năm 1995, Hội dâu tằm tơ được thành lập do ông Ngô Văn Thựclàm Hội trưởng Hội gồm 300 hội viên, được lập ra với mục đích cùng nhautrao đổi kinh nghiệm làm nghề, đặc biệt giúp đỡ các hội viên trong việc vayvốn để duy trì, phát triển và mở rộng sản xuất Bên cạnh Hội Dâu tằm tơ, làngcòn thành lập Phường Kén (tổ chức của những người chuyên mua kén hoặcnhững người nuôi tằm), họ lập ra Phường kén với mục đích tạo nguồn nguyênliệu ổn định cung cấp cho sản xuất trong làng, đồng thời tạo cơ sở uy tínnhằm giữ mối thu mua kén ở các địa phương, các tỉnh khác như Vĩnh Phúc,Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam
Đến năm 2002, Tổ hợp sản xuất tơ tằm Vọng Nguyệt không còn đáp ứng
đủ cho nhu cầu trong vùng, trong nước và cho xuất khẩu đã phát triển thành
Xí nghiệp Tơ tằm Vọng Nguyệt, tiếp tục cải tiến kĩ thuật, trang bị máy móc,đổi mới phương thức sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sảnphẩm…Xí nghiệp được xây dựng gồm 2 khu: xưởng ươm và xưởng dệt, mỗixưởng đều rộng 1000m2 Trang thiết bị được tiếp tục đầu tư, 20 máy ươm tơbán tự động được bổ sung, xưởng có 1 lò hơi có tác dụng cho khâu phơi sấysản phẩm, 16 máy dệt phục vụ cho việc sản xuất vải, lụa…Lần đầu tiên, côngnghệ dệt tiên tiến được đưa vào sản xuất tại làng ươm tơ
Việc đưa công nghệ mới máy dệt kiếm vào dệt lụa tơ tằm tại VọngNguyệt không chỉ tạo ra các sản phẩm chất lượng cao mà còn có uy tín cho
Trang 25làng nghề Vọng Nguyệt, kích thích phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm, gópphần chuyển dịch cơ cấu cây trồng, giải quyết việc làm, tăng thêm thu nhậpcho bà con nông dân
Cũng trong năm 2002, Doanh nghiệp tư nhân Việt Hoa được thành lậpbởi ông Ngô Quý Nguyên, tại địa bàn bãi Hàn Bún, giáp sông Cầu Đây làdoanh nghiệp liên kết, hợp tác với Trung Quốc, và đầu ra cho sản phẩm chủyếu là thị trường Trung Quốc Ban đầu, doanh nghiệp chuyên thu mua tơ củalàng và các tỉnh khác như Vĩnh Phúc, Nam Định, Hà Nam, thậm chí cả khuvực miền Nam…để phục vụ sản xuất vải lụa, nhưng sau đó, doanh nghiệpchuyển sang thu mua phế liệu tơ tằm như giả nhộng, đầu chồi, gốc rũ, thậmchí cả kén phế…các vật phẩm này chủ yếu được tẩy trắng rồi đem sang TrungQuốc tiêu thụ
Đến 2004, gần 80% số hộ trong làng đều làm nghề ươm tơ hoặc liênquan, số hộ nuôi tằm đã lên tới 300 hộ, 120 hộ trồng dâu theo hướng chuyênmôn hóa, 300 hộ ươm tơ với 450 máy ươm tơ mini và máy kéo tơ thủ công,tạo công ăn việc làm thường xuyên cho người lao động trong làng và cáclàng- xã lân cận…
Từ 2006 trở đi, nghề ươm tơ Vọng Nguyệt không còn giữ được thờikỳ“hưng thịnh” của mình Dưới tác động của yếu tố thị thường, đặc biệt là khiTrung Quốc sử dụng sản phẩm từ tơ hóa học với đặc tính đẹp, tiện, giá thànhrẻ hơn so với sản phẩm hoàn toàn bằng tơ tằm để cạnh tranh do vậy mà hànghóa sản xuất ra thiếu thị trường tiêu thụ, việc sản xuất bị đình trệ
Năm 2008, toàn thế giới rơi vào khủng hoảng kinh tế- tài chính, đầu racho sản phẩm tơ tằm cũng bị hạn chế Thị trường tiêu thụ chủ yếu của làngnghề là Thái Lan thì giai đoạn này thường xuyên bất ổn về chính trị…đây làđiều bất lợi cho sản xuất tơ tằm làng Vọng Nguyệt Không giải quyết đượcnhu cầu thị trường và biến động của thời cuộc, Xí nghiệp tơ tằm Vọng Nguyệt
Trang 26đã giải thể, một số hộ gia đình làm tơ hay nuôi tằm chuyển sang hình thứckinh doanh khác như làm mộc hay những công việc có tính chất thời vụ…số
hộ làm nghề trong giai đoạn này chỉ còn khoảng hơn 100 hộ
Thêm vào đó, do quá trình công nghiệp hóa về nông thôn một cách ồ ạt,các khu công nghiệp mọc lên rất nhiều ở Yên Phong, lượng khí thải từ sảnxuất công nghiệp thải ra môi trường không khí ngày càng nhiều, chình điềunày ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng lá dâu- nguyên liệu chủ yếu cho tằm
ăn Chất lượng của tằm kém thì sản lượng và chất lượng kén không đảmbảo… Hơn nữa, với sự phát triển lớn mạnh của các khu công nghiệp trên địabàn đã thu hút một lượng lớn lực lượng lao động trẻ với công việc ổn định,thu nhập khá Vì vậy, số lao động tham gia sản xuất trồng dâu, nuôi tằm, ươm
tơ giảm mạnh Trong khi với một quy trình trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ đòi
hỏi tận dụng nguồn lao động tối đa trong hộ gia đình và “Nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng” để thấy được sự vất vả của nghề.
Tuy vậy, nhưng sức sống của một làng nghề truyền thống không bao giờmất, đến 2010, các hộ sản xuất tơ Vọng Nguyệt đã tìm tòi thị trường, họchuyển sang một hình thức kinh doanh khác vẫn trên cơ sở nền tảng của nghềnuôi tằm, ươm tơ Kén tằm nuôi được hoặc thu mua được ở các vùng lân cận,bên cạnh việc ươm tơ phục vụ cho thị trường tơ lụa, người sản xuất cắt kén đểlấy nhộng tằm đem bán Đặc điểm của hình thức này là nhộng vẫn còn sống(vì không phải qua nước nóng như hình thức kéo lấy tơ là chủ yếu như trước)nên đảm bảo được dinh dưỡng của nhộng, kén sau khi được cắt để lấy nhộngvẫn được thu mua để rút sợi Việc tập trung vào sản phẩm nhộng cắt này cũngđem lại hiệu quả kinh tế cao, không kén độ tuổi lao động, nhanh thu hồi vốn,góp phần duy trì làng nghề truyền thống
Trang 272.4 Kĩ thuật trồng, chăm sóc và khai thác cây dâu
2.4.1 Đối với ruộng dâu trồng năm thứ nhất
+ Đất trồng dâu phải thoát nước, không bị ngập úng lâu ngày
+ Không nên trồng dâu ở khu vực có các ống khói nhà máy, hoá chấtđộc
+ Nên quy hoạch vùng dâu riêng, không xen kẽ với các loại cây trồngkhác như lúa, rau mầu, thuốc lá… Vì khi sử dụng hoá chất, thuốc trừ sâu chocây trồng đó có thể ảnh hưởng đến lá dâu nuôi tằm
- Thiết kế ruộng dâu
Dâu là cây lâu năm, một lần trồng sau khoảng 15 - 20 năm mới phảitrồng lại Do vậy tính toán thiết kế ruộng dâu để thuận tiện cho việc chăm sóc,thu hoạch như: Phân lô, hệ thống mương tưới tiêu, đường nội đồng…
++Trồng dâu bằng hom thì rạch đào sâu 40cm,rộng40cm
Khi đào lớp đất trên mặt để sang một bên, lớp đất dưới để sang một bên
- Bón lót:
Trang 28- Đối với dâu trồng mới cần thiết phải bón lót phân trước khitrồng.
Lượng phân bón cụ thể:
++ Phân hữu cơ 25 - 30 tấn/ha
++ Phân vô cơ: Lân 800kg, kali 270kg/ha
Sau khi rải phân hữu cơ xuống rãnh, rải tiếp phân lân và kali, sau đó lấpđất trở lại rãnh, lớp đất mặt cho xuống trước, lớp đất phía dưới cho xuống sau
b) Trồng dâu và chăm sóc cây dâu sau trồng
Trồng dâu bằng cây con gieo từ hạt:
- Thời vụ: có thể kéo dài quanh năm
+ Đối với các tỉnh vùng đồng bằng, ở vùng đất bãi ven sông bị ảnhhưởng của nước lũ thì thời vụ trồng vào tháng 11-12 hoặc sau khi đã hết lũ.+ Đối với các tỉnh miền Trung thường bị ảnh hưởng của bão lũ từ tháng9-11, nên thời vụ trồng từ cuối tháng 11
+ Đối với các tỉnh miền núi phía Bắc và cao nguyên Lâm Đồng thời vụtrồng tốt nhất vào đầu mùa mưa
- Kỹ thuật gieo ươm cây giống dâu:
Chọn đất làm vườn ươm: Đất giàu mùn, pH: 6-7, thoát nước tốt, gầnnguồn nước tưới, không có bóng cây cao, vật kiến trúc che khuất
Làm đất vườn ươm:
+ Cầy bừa trước 1 tháng, san phẳng, dọn sạch cỏ,
+ Lên luống:Mặt luống rộng 1,2-1,5m; rãnh 0,2m; sâu 0,15m
+ Bón phân hữu cơ hoai mục, trộn đều, lượng bón 500-700 kg/1.000 m2.Chuẩn bị hạt để gieo:
+ Lượng hạt: 0,8-1,0 kg/1.000m2
+ Hạt dâu xuất khỏi kho cần phơi trong nắng nhẹ 5-6 giờ để hạt nảymầm đều
Trang 29+ Nếu gieo vào vụ xuân và thu nhiệt độ thấp (<20ºC) cần ngâm ủ hạttrước khi gieo.
Phương pháp gieo: Có 2 cách gieo:
+ Gieo rạch
+ Gieo vãi
Khi gieo trộn thêm đất bột hoặc cát khô vào hạt để gieo cho đều
Chăm sóc vườn ươm: Rắc thuốc VIBAM phòng trừ kiến tha hạt, tướinước đủ ẩm, phòng trừ sâu bệnh, dặm tỉa, bón phân
Thu hoạch cây giống:
+ Sau gieo 50-60 ngày cây con cao khoảng 0,4m, đường kính thân cách
cổ rễ 3 cm đạt 0,3 cm trở lên có thể thu cây con để trồng
+ Trước khi thu cây con 15 ngày dừng bón phân bón
+ Trước khi nhổ phải tưới đẫm nước
+ Cây con được cắt bỏ phần ngọn chừa lại 20-30 cm phần thân, cắt bỏphần rễ quá dài
Vận chuyển cây giống:
+ Nếu phải chuyển đi xa nên vận chuyển lúc trời mát, đến nơi phải rảicây thành một lớp
+ Nếu chưa trồng ngay phải bảo quản nơi râm mát, phủ một lớp rơm rạlên trên, tưới nước giữ ẩm
- Mật độ trồng
Mât độ trồng: hàng cách hàng 1,0-1,2 m, cây cách cây 0,2- 0,3 m(khoảng 5-6 vạn cây/ha)
Cách tính số lượng cây cần chuẩn bị để trồng như sau:
Số cây / đơn vị diện tích =
Trang 30- Kỹ thuật trồng dâu cây:
+ Đặt cây dâu con xuống hố hoặc rãnh, giữ cho bộ rễ thẳng, không bịcuộn lại, lấp đất hết phần cổ rễ, nén chặt xung quanh
+ Vun đất luống dâu cao hơn mặt ruộng 10-15 cm để khi mưa không bịđọng nước gốc dâu
- Chăm sóc ruộng dâu sau trồng
+ Tưới nước, thoát nước:
Tưới nước: Sau khi trồng xong phải tưới nước cho chặt gốc, giữ đủ ẩmcho cây để nhanh phục hồi bộ rễ Với dâu cây trồng vào vụ hè nếu không tướinước sẽ giảm tỉ lệ sống, khả năng hồi phục sau trồng chậm
Thoát nước: Nếu gặp mưa lớn kéo dài gây ngập úng ruộng dâu phảithoát nước kịp thời Nếu để ruộng dâu ngập nước kéo dài cây dâu sẽ bị héo lá,vàng úa và chết
+ Trồng dặm:
Khi trồng cần dự trữ lượng cây từ 5-7% để trồng dặm
Sau trồng 15-20 ngày dâu sẽ nảy mầm, kiểm tra phát hiện trồng dặmnhững cây bị chết, khuyết để đảm bảo mật độ
+ Làm cỏ:
Ruộng dâu mới trồng sinh trưởng chậm, cỏ dại cạnh tranh ánh sáng, thức
ăn với cây dâu và là nơi cho sâu bệnh phát sinh Vì vậy cần làm cỏ kịp thời,kết hợp làm cỏ và xới xáo để giữ ẩm, tạo thông thoáng cho đất
Trồng dâu bằng hom
- Thời vụ trồng:
Thời vụ trồng tốt nhất vào trung tuần tháng 12 đến tháng 1 năm sau Vìđây là thời điểm cây dâu bước vào ngủ đông, nên hom dâu giống có chấtlượng tốt nhất, sau khi trồng xong có mưa xuân thì rất thuận tiện cho hom dâunảy chồi, tỉ lệ sống cao
Trang 31hố trồng 2 hom thì số hom giống cần để trồng tăng gấp đôi
- Xử lý hom giống trước khi trồng
++ Loại bỏ cành có nguồn mầm bệnh, rệp, phần ngọn và gốc
++ Chặt hom thành từng đoạn 15 - 20cm, có ít nhất 2 - 3 mắt /hom Xếp
bó hom phần gốc cùng một phía, phần ngọn cùng một phía
++ Khi chặt tránh làm dập, xước hom
++ Bảo quản hom nơi râm mát, giữ ẩm
có thể chặt hom dài 30cm (Thích hợp với vùng đất bãi ven sông với những hộ
có điều kiện thâm canh và lao động)
- Chăm sóc ruộng dâu sau trồng
+ Tưới nước và tiêu nước cho ruộng dâu
Tưới nước: Đối với dâu sau khi trồng xong nếu khô hạn thì phải tướinước để bảo đảm đủ ẩm cho hom ra rễ nhanh
Thoát nước: Sau khi trồng nếu gặp mưa lớn kéo dài gây ngập úng, ruộngdâu phải tiêu nước kịp thời Nếu để ruộng dâu ngập nước kéo dài hom dâu sẽ
bị thối và không nảy mầm được
Trang 32+ Trồng dặm
Sau trồng khoảng 30 - 45 ngày khi hom dâu đã nảy mầm khoảng trên50% thì kiểm tra để loại bỏ những hom bị hỏng trồng dặm kịp thời để đảmbảo mật độ
+ Làm cỏ
Ruộng dâu mới trồng sinh trưởng chậm, cỏ dại cạnh tranh ánh sáng, thức
ăn với cây dâu và là nơi cho sâu bệnh phát sinh Vì vậy cần làm cỏ kịp thời,kết hợp làm cỏ và xới xáo để giữ ẩm, tạo thông thoáng cho đất
- Phòng trừ sâu bệnh sau trồng
Cây dâu ở giai đoạn sau trồng bị nhiều loại sâu bệnh phá hoại như: dế,sâu dóm, sâu cuốn lá, sâu khoang, sâu xám, rệp, xén tóc… và một số bệnh donấm, vi khuẩn phá hoại.Vì vậy cần thường xuyên kiểm tra, phát hiện sớm đểphòng trừ kịp thời
c) Thu hoạch lá
Đối với ruộng dâu trồng mới sau 6 - 7 tháng có thể thu hoạch lá chonuôi tằm Tuy nhiên, việc thu hoạch khai thác lá ở ruộng dâu mới trồng dựavào nguyên tắc “Khai thác là phụ, bồi dưỡng là chính”
Trang 33Khi cây dâu sinh trưởng đạt chiều cao 1m trở lên có thể khai thác 30 40% lượng lá có trên cây Tuyệt đối không khai thác lá khi cây còn nhỏ.
-2.4.2 Đối với ruộng dâu từ năm thứ 2 trở đi
a) Đốn dâu
- Đốn tạo hình
+ Mục đích: Để tăng số mầm/cây, từ đó tăng năng suất lá
+ Thời vụ đốn: Đốn tạo hình cần tiến hành vào vụ đông khi cây dâu đãsinh trưởng được 8 - 12 tháng
+ Phương pháp đốn: Đốn cách mặt đất từ 15 - 20cm, vết đốn hơi vát,tránh làm dập nát, xước vết đốn làm ảnh hưởng đến nảy mầm và sâu bệnh dễxâm nhập Không nên đốn dâu khi trời đang mưa
Sau khi đốn đến vụ xuân trên thân chính sẽ nẩy một số mầm Khi mầmdâu cao 20 - 30cm tiến hành tỉa định mầm Mỗi gốc chỉ để lại 2 - 3 mầmkhoẻ Từ vụ đông năm thứ 3 trở đi đốn cách vết đốn cũ 3 - 4cm
- Đốn hàng năm để thu hoạch lá
+ Đốn đông: Thời điểm đốn trước, sau đông chí một tuần là thích hợp.Cây dâu ít bị ảnh hưởng đến sinh lý, nhưng cây dâu lại cho lá nhiều vào vụ
hè, không thuận tiện cho nuôi tằm
+ Đốn hè: Để dâu lưu không đốn sát vào vụ đông mà chỉ phớt phần ngọn
20 - 30cm Sang vụ xuân lấy lá nuôi tằm xuân Đến cuối tháng 4, đầu tháng 5đốn hè
b) Làm cỏ và cày bừa ruộng dâu:
- Làm cỏ
Có thể sử dụng thuốc trừ cỏ để tiết kiệm lao động
Đối với cây dâu có thể dùng thuốc trừ cỏ LYPHOXIM 41SL
Trang 34Đây là loại thuốc trừ cỏ không chọn lọc, lưu dẫn, diệt cỏ hậu nảy mầm,diệt được nhiều loại cỏ, an toàn với môi trường và người sử dụng, không lưutồn trong đất
Sau khi phun thuốc 24 giờ cỏ bắt đầu ngừng sinh trưởng, không còn khảnăng cạnh tranh nước và dinh dưỡng với cây trồng
- Cày bừa ruộng dâu:
Tiến hành sau khi đã đốn dâu, làm cỏ xong
Độ sâu cày 15-20cm, sát gốc dâu, sau đó dùng cuốc cuốc xung quanhgốc dâu
Mục đích: để làm cho đất thoáng, tăng khả năng giữ nước đồng thời phơigốc dâu để tiêu diệt các nguồn sâu bệnh qua đông ở dưới gốc dâu
c) Bón phân cho dâu
- Bón phân hữu cơ
Bón phân hữu cơ ngoài tác dụng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây dâu
nó còn làm cho đất tơi xốp
Lượng bón: thông thường bón 25 - 30 tấn/ha/năm
Thời điểm bón: Bón một lần vào tháng 12 sau khi đã cày, cuốc phơi gốcdâu, kết hợp phân vô cơ lần 1, sau đó vun đất lại gốc dâu
- Bón phân vô cơ
Loại phân: Dùng phân NPK chuyên dùng cho cây dâu
Số lần bón: 5 - 6 lần/năm vào các tháng 1,3,5,7,9 và 10
Liều lượng bón:
+ Tuỳ loại đất, tập quán thâm canh, mật độ trồng mà lượng phân bón cókhác nhau + Thường bón 1800 - 2000kg phân đa yếu tố N-P-K chuyên dùngcho dâu 1ha/năm
Phương pháp bón: Có thể bón theo hốc hoặc rạch Cuốc đất sâu 15 cm,cách gốc 20cm, rải phân sau đó lấp kín lại để tránh bị rửa trôi khi gặp mưa to
Trang 35Ngoài ra có thể sử dụng phương pháp bón phân qua lá để tăng chấtlượng lá dâu, nhất là ở vụ thu Tuy nhiên khi sử dụng phân phun qua lá cầnchú ý phun vào lúc trời mát, không phun lúc trời sắp mưa.
d) Thu hoạch lá dâu
Thu hoạch lá dâu đúng kỹ thuật, đúng lúc có tác dụng làm tăng sảnlượng và chất lượng lá dâu
- Phương pháp thu hoạch:
Ở nước ta phương pháp hái lá là chủ yếu, dâu được hái từng lá một, cóthể hái phiến lá chừa lại cuống hoặc hái lá cả cuống Nếu hái cả cuống thìnăng suất lao động cao hơn hái chừa cuống Sau khi hái lá cần tỉa bỏ cànhbên để thúc đẩy mầm đỉnh phát triển Sau đó nếu mầm bên được phát triểnthành cành cấp 2 thì lá cũng được hái như phương thức trên Phương thức nàyrất thích hợp cho nuôi tằm: lá non để nuôi tằm con, lá thành thục để nuôi tằmlớn và thu hoạch được nhiều lứa trong năm Chú ý khi hái lá tránh làm xướcthân cây, gẫy cành sẽ ảnh hưởng đến năng suất lứa sau, sâu bệnh dễ xâm nhậpqua vết xước
- Phương pháp bảo quản lá dâu
Lá dâu có hàm lượng nước và chất dinh dưỡng cao, giá trị thức ăn lớnnên tằm ăn khỏe và cho năng suất tơ kén cao, phẩm chất tơ kén tốt Songtrong thực tế không thể đáp ứng lá dâu tươi, hái bữa nào cho tằm ăn ngay bữa
ấy mà bao giờ cũng phải qua thời gian bảo quản nhất định Trong thời gianbảo quản, lá dâu vẫn tiếp tục hô hấp làm tiêu hao các chất dinh dưỡng trong
lá, kết quả là hàm lượng nước và các chất dinh dưỡng trong lá dâu bị hao hụt,phẩm chất lá dâu bị giảm sút làm ảnh hưởng đến kết quả nuôi tằm Do vậycần phải có phương pháp bảo quản tốt để đảm bảo lá dâu tươi, giữ được phẩm
chất lá (cây dâu, tr 116)
Trang 36Chất lượng lá dâu trong bảo quản phụ thuộc vào thời gian và phươngpháp bảo quản Phòng bảo quản lá dâu phải đảm bảo vệ sinh, thoáng mát.Phương pháp bảo quản đơn giản nhất là lá dâu khi thu hái về phải được tung,đảo đều cho hết nóng, có thể dùng bình bơm xịt nước tăng độ ẩm cho lá Sau
đó, lá được để theo luống hoặc đống, không xếp dày quá tránh lá dâu bị nóng,nhanh ôi hỏng, không để mỏng quá để tránh lá dâu bị héo, chiều cao mỗiluống khoảng 30 – 40 cm, phía dưới trải bạt không thấm nước, phía trên phủvải ẩm
e) Phòng trừ sâu bệnh hại
Cũng như các cây trồng khác, cây dâu bị nhiều loại sâu bệnh phá hoại,làm giảm năng suất, chất lượng lá Nếu bị nặng có thể làm cây bị chết, lá dâukhông sử dụng được Để phòng trừ có hiệu quả sự phát sinh và lây lan củacác loại sâu bệnh hại cây dâu, đảm bảo nâng cao sản lượng, an toàn cho việcnuôi tằm, cần nắm vững quy luật phát sinh, phát triển của từng loại sâu bệnh
mà áp dụng các biện pháp hữu hiệu để phòng trừ kịp thời
Một số bệnh chính hại cây dâu: bệnh bạc thau, bệnh gỉ sắt, bệnh mề gà, bệnh xoăn lá Sâu hại cây dâu: sâu cuốn lá, rệp vảy ốc, rệp phấn.
Biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu, bệnh hại dâu
- Chọn giống chống chịu sâu bệnh
- Không sử dụng hom giống có bệnh để trồng
- Chăm sóc cây dâu đúng quy trình kỹ thuật
- Bón phân đủ lượng, bón NPK cân đối
- Thu hoạch kịp thời đúng lứa
- Đốn dâu đúng thời vụ
- Làm tốt công tác vệ sinh đồng ruộng, tiêu huỷ triệt để tàn dư gây
bệnh
Trang 37- Phát hiện kịp thời khi có sâu, bệnh và có biện pháp phòng, trị thích
hợp
- Sử dụng thuốc hoá học phải đúng, phù hợp cho từng loại sâu bệnh.
Chú ý: Sử dụng thuốc hoá học phải bảo đảm đúng thời gian cách ly 12
-15 ngày sau khi phun thuốc mới hái lá cho tằm ăn
Trích “Kĩ thuật trồng, thâm canh cây dâu” – Tài liệu tập huấn, Trung tâmnghiên cứu dâu tằm tơ trung ương, viện khoa học nông nghiệp Việt Nam,2012
3 Mục đích của đề tài
- Phân tích đặc điểm sinh học, sinh thái của 3 giống dâu trồng tại địaphương ngoài việc để phục vụ trong nghiên cứu còn làm rõ được đặc điểmcủa ba giống dâu trồng trong điều kiện sinh thái của địa phương
- Nghiên cứu, điểu tra kĩ thuật trồng, chăm sóc và khai thác ba giống dâutrên tại địa phương từ đó đánh giá được khả năng áp dụng tiến bộ kĩ thuậttrồng dâu của nhân dân trong sản xuất và có hướng đề xuất, tư vấn cho nhândân về kĩ thuật, cách chăm sóc và khai thác cây dâu nhằm đem lại hiệu quảkinh tế
4 Nội dung nghiên cứu
4.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
4.2 Đặc điểm hình thái, giải phẫu cơ quan sinh dưỡng của ba giống dâu trồng tại thôn Vọng Nguyêt, xã Tam Giang
- Đặc điểm hình thái, giải phẫu của rễ
- Đặc điểm hình thái, giải phẫu của thân
- Đặc điểm hình thái, giải phẫu của lá
4.3 Đặc điểm hình thái, cấu tạo cơ quan sinh sản của ba giống dâu trồng tại thôn Vọng Nguyệt, xã Tam Giang
- Đặc điểm hình thái, cấu tạo của hoa
Trang 38- Đặc điểm hình thái, cấu tạo của quả, hạt.
4.4 Điều tra, quan sát kĩ thuật trồng, chăm sóc và khai thác ba giống dâu được trồng tại thôn Vọng Nguyệt, xã Tam Giang
5 Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Vị trí phân loại cây dâu trong giới thực vật
Cây dâu thuộc ngành Hạt kín (Angiospermatophyta)
Lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae)
Phân lớp Sau sau (Hamamelididae)
Bộ Gai (Urticales)
Họ Dâu tằm (Moraceae)
Chi Dâu tằm (Morus)
Công tác định loại loài dâu ở Việt Nam còn sơ sài, không dựa vào khóaphân loại nào Sự phân loại chủ yếu dựa vào đặc trưng hình thái, vì thế cónhiều giống khác nhau nhưng có cùng tên gọi hoặc một số giống mang nhiềutên khác nhau Ba giống dâu nghiên cứu được trồng tại thôn Vọng Nguyệt, xãTam Giang có tên địa phương là: dâu mỡ, dâu lạng và dâu ăn quả Tuy nhiên,dựa trên sự nghiên cứu của Tiến sĩ Bùi Thị Thu Hà thì ba giống dâu này thuộc
hai loài khác nhau Giống dâu mỡ (Morus alba L.) và giống dâu lạng, dâu ăn quả (Morus nigra L.)
5.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 9 năm 2015
5.3 Địa điểm nghiên cứu
Vùng bãi bồi ven sông Cầu thuộc thôn Vọng Nguyệt, xã Tam Giang, huyện Yên phong, tỉnh Bắc Ninh Vườn nhà dân cũng trong địa bàn xã
5.4 Phương pháp nghiên cứu
5.4.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên
Trang 39- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
- Quan sát, mô tả các đặc điểm hình thái của các cơ quan sinh dưỡng và cơquan sinh sản ba giống dâu nghiên cứu
- Đo kích thước các cơ quan: kích thước lá (chiều dài, chiều rộng, độ dàicuống lá), kích thước thân, kích thước hoa, quả
- Chụp ảnh hình thái mẫu nghiên cứu, khu vực nghiên cứu
- Quan sát, theo dõi cách trồng, chăm sóc và khai thác ba giống dâu nghiêncứu của người dân
5.4.2 Phương pháp thu mẫu
- Thu mẫu các cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản của ba giống dâunghiên cứu Đối với lá, thu loại lá bánh tẻ; đối với thân, rễ thu mẫu ở cùng vịtrí tương đồng nhau của ba giống dâu nghiên cứu
- Bảo quản mẫu: mẫu tươi được rửa sạch, ngâm mẫu trong dung dịch cồn35– 40o
5.4.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
5.4.3.1 Phương pháp làm tiêu bản giải phẫu tạm thời
Cắt mẫu bằng dao lam cắt tay để quan sát cấu trúc cơ quan cần nghiêncứu Sử dụng trắc vi thị kính và trắc vi vật kính để xác định kích thước tế bào
và mẫu vật cần đo Quan sát và rút ra kết luận
- Lá: lá bánh tẻ, cắt mẫu ở vị trí giữa lá
- Thân: cắt ngang thân, cành ở các vị trí khác nhau, gồm thân sơ cấp (vịtrí thân non) và thân thứ cấp
- Rễ: cắt ngang rễ ở các vị trí rễ khác nhau, gồm rễ sơ cấp (đầu rễ) và rễthứ cấp
5.4.3.2 Phương pháp nhuộm kép
- Cắt ngang mẫu
Trang 40- Ngâm mẫu trong nước Javen khoảng 15 - 20 phút để tẩy sạch nội chấtcủa tế bào
- Rửa sạch mẫu bằng nước cất 2 – 3 lần
- Tiếp tục ngâm mẫu trong dung dịch axit axetic 30% trong 5 phút đểloại dung dịch tẩy
- Rửa sạch mẫu bằng nước cất 2 – 3 lần
- Nhuộm mẫu lần 1 trong dung dịch carmine từ 20 – 30 phút
- Rủa sạch mẫu bằng nước
- Nhuộm mẫu lần 2 trong dung dịch xanh metylen 1% từ 30 giây đến 1 –
2 phút
- Lại rửa bằng nước cất
- Đưa lên kính quan sát ở các bội giác khác nhau và chụp ảnh
5.4.3.3 Phương pháp tách biểu bì lá
- Cắt mẫu thành những mảnh nhỏ kích thước khoảng (2 x 2)cm
- Cho các lát cắt vào ống nghiệm có dung dịch axit HNO3 đặc
- Dùng kẹp gỗ kẹp ống nghiệm và hơ nhẹ trên ngọn lửa đèn cồn Khithấy dung dịch sôi, lấy mẫu ra và rửa với nước
- Dùng 2 kim mũi mác tách 2 lớp biểu bì
- Cọ hết phần thịt lá bị axit phân hủy
- Quan sát biểu bì trên kính hiển vi, chụp ảnh
5.4.3.4 Phương pháp đo các thành phần cấu tạo:
Dùng thước đo thị kính và vật kính để đo
5.4.4 Phương pháp phỏng vấn cộng đồng
- Chọn người phỏng vấn: chọn những người đang chăm sóc và nhữngngười có kinh nghiệm và đây là nghề mang tính chất truyền thống