Trắc nghiệm khách quan là một trong những phương pháp để đánh giákết quả học tập, nó đã được áp dụng nhiều trong giáo dục, và đã thu đượcnhững kết quả khả quan: Làm tăng tính khách quan,
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới:
Các Thầy, Cô khoa Sư phạm kĩ thuật trường Đại học Sư phạm Hà Nội
đã tạo mọi điều kiện cho việc học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, Thầy hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Văn Khôi đã tận tình chỉ
bảo và hướng dẫn tác giả đi từ những bước đầu tiên của luận văn
Ban Giám hiệu trường THCS Tiền An, THCS Đại Đồng, THCS ĐôngTiến, THCS Cách Bi tỉnh Bắc Ninh và các Thầy, Cô đã cộng tác, tạo điều kiện,đóng góp ý kiến cho tác giả trong quá trình nghiên cứu thực tiễn và thựcnghiệm Sư phạm của đề tài thành công
Toàn thể bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, động viên tác giả !
Hà Nội, ngày 03 tháng 10 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Dung
Trang 2DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
TNKQ : Trắc nghiệm khách quanTHCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
BGDĐT : Bộ Giáo dục Đào tạo
Trang 3DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ về các phương pháp kiểm tra – đánh giá 18
Bảng 1.1: Mẫu bảng trọng số 33
Bảng 2.1: Hướng dẫn chương trình môn Công nghệ lớp 8 43
Bảng 2.2: Bảng mục tiêu chương V 46
Bảng 2.3: Bảng mục tiêu chương V 47
Sơ đồ 2-1: Sơ đồ quy trình xây dựng câu TNKQ 48
Bảng 2.4: Bảng mẫu ma trận đề kiểm tra 57
Sơ đồ 2-2: Sơ đồ quy trình sử dụng câu TNKQ 61
Bảng 2.5: Mục tiêu cần đánh giá phần 1 – Vẽ kĩ thuật 64
Bảng 2.6: Bảng trọng số môn Công nghệ lớp 8 67
Bảng 2.7: Bảng trọng số phần 1 - Vẽ kĩ thuật 67
Bảng 2.8: Bảng ma trận đề kiểm tra phần 1 – Vẽ kĩ thuật 84
Bảng 3.2: Độ khó và độ phân biệt của câu TNKQ đề kiểm tra số 1 117
Bảng 3.3 – Độ khó và độ phân biệt của câu TNKQ đề kiểm tra số 2 118
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa hoc 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1: SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG RẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 8 5
1.1 TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 5
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về xây dựng và sử dụng trắc nghiệm khách quan để đánh giá kết quả học tập của học sinh trên thế giới 5
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về xây dựng và sử dụng trắc nghiệm khách quan để đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy môn Công nghệ tại Việt Nam 6
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 8
1.2.1 Trắc nghiệm khách quan 8
1.2.2 Câu trắc nghiệm khách quan 9
1.2.3 Đánh giá kết quả học tập 10
1.2.4 Môn Công nghệ và chương trình môn Công nghệ lớp 8 11
1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN ĐỂ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY MÔN CÔNG NGHỆ 12
Trang 51.3.1 Mục đích, chức năng và các yêu cầu của việc kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học 121.3.2 Tóm tắt các hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập 161.3.3 Đánh giá kết quả học tập bằng trắc nghiệm khách quan 201.4 THỰC TRẠNG VIỆC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN CÔNG NGHỆ Ở TRƯỜNG THCS ĐẠI ĐỒNG VÀ THCS TIỀN AN TỈNH BẮC NINH 351.4.1 Mục đích và phương pháp tìm hiểu thực trạng việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Công nghệ ở trường THCS 351.4.2 Kết quả tìm hiểu thực trạng việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Công nghệ ở trường THCS 361.4.3 Khả năng vận dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong dạy học môn học 37
Kết luận chương 1 40 Chương 2: XÂY DỰNG, SỬ DỤNG CÂU TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 8 42
2.1 GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 8 422.1.1: Mục tiêu môn Công nghệ trong chương trình giáo dục Trung học cơ sở 422.1.2 Chương trình môn Công nghệ lớp 8 422.1.3 Chuẩn kiến thức kĩ năng môn Công nghệ lớp 8 452.2 QUY TRÌNH XÂY DỰNG CÂU TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 8 452.2.1 Bước 1: Xác định các mục tiêu cần đánh giá 45
Trang 62.2.2 Bước 2: Xây dựng bảng trọng số 49
2.2.3 Bước 3: Viết câu trắc nghiệm 50
2.2.4 Bước 4: Thực nghiệm, kiểm định các câu hỏi 53
2.2.5 Bước 5: Hoàn thiện câu trắc nghiệm và lập bộ câu hỏi 55
2.3 QUY TRÌNH SỬ DỤNG CÂU TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 8 55
2.3.1 Bước 1: Chuẩn bị kiểm tra 55
2.3.2 Bước 2: Tổ chức làm bài kiểm tra 62
2.3.3 Bước 3: Chấm bài kiểm tra và xử lý kết quả 62
2.3.4 Bước 4: Rút kinh nghiệm 63
2.4 VẬN DỤNG CÁC QUY TRÌNH TRÊN ĐỂ XÂY DỰNG BỘ CÂU TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN VÀ BỘ ĐỀ KIỂM TRA-ĐÁNH GIÁ MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 8 63
2.4.1 Xây dựng bộ câu trắc nghiệm khách quan 63
2.4.2 Xây dựng đề kiểm tra 84
Kết luận chương 2 108
Chương 3: KIỂM NGHIỆM ĐÁNH GIÁ 109
3.1 MỤC ĐÍCH, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM ĐÁNH GIÁ 109
3.1.1 Mục đích kiểm nghiệm đánh giá 109
3.1.2 Nội dung và phương pháp kiểm nghiệm đánh giá 109
3.2 TIẾN TRÌNH KIỂM NGHIỆM ĐÁNH GIÁ 110
3.2.1 Tiến trình kiểm nghiệm đánh giá bằng phương pháp chuyên gia 110
3.2.2 Tiến trình kiểm nghiệm đánh giá bằng phương pháp TNSP 111
Trang 73.3 KẾT QUẢ KIỂM NGHIỆM ĐÁNH GIÁ 112
3.3.1 Kết quả kiểm nghiệm đánh giá bằng phương pháp chuyên gia 112
3.3.2 Kết quả kiểm nghiệm đánh giá bằng phương pháp TNSP 116
Kết luận chương 3 119
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
PHỤ LỤC 1 124
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Kiểm tra - đánh giá là một khâu quan trọng, chủ yếu để xác định nănglực của người học, điều chỉnh quá trình dạy - học; là động lực để đổi mớiphương pháp dạy học; góp phần nâng cao chất lượng đào tạo con người theomục tiêu giáo dục Đánh giá kết quả học tập của học sinh là một trong nhữngvấn đề được coi trọng trong hoạt động dạy - học Để đáp ứng được mục tiêugiáo dục là đào tạo những con người chủ động, sáng tạo, thích ứng với yêu cầucông nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước cũng như hoà nhập được với khu vực vàthế giới, vấn đề đổi mới kiểm tra đánh giá cần được tiến hành một cách đồng
bộ nhằm xác định giá trị thực kết quả học của học sinh, góp phần tạo ra sựchuyển biến về chất và lượng của quá trình dạy học
Hiện nay công cụ đánh giá kết quả học tập môn Công nghệ chủ yếu
là những bài kiểm tra viết, bài thi tự luận… dẫn đến những hạn chế: Đánhgiá chưa khách quan, chưa chính xác, chưa đo lường được toàn bộ nội dungkiến thức
Vấn đề tìm ra công cụđể nâng cao hiệu quả đánh giá kết quả học tập có
ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượnggiáo dụctại trường THCS
Trắc nghiệm khách quan là một trong những phương pháp để đánh giákết quả học tập, nó đã được áp dụng nhiều trong giáo dục, và đã thu đượcnhững kết quả khả quan: Làm tăng tính khách quan, chính xác, tin cậy tronghoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh, vừa như là phương tiện gópphần cải tiến phương pháp kiểm tra đánh giá, nâng cao chất lượng và hiệu quảcủa quá trình dạy học Nó thể hiện tính ưu việt và khắc phục hạn chế của cácphương pháp đánh giá truyền thống
Trang 9Bộ môn Công nghệ nói chung và môn Công nghệ lớp 8 nói riêng việc
sử dụng trắc nghiệm khách quan vào đánh giá kết quả học tập chưa được quantâm và nghiên cứu nhiều
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Xây
dựng và sử dụng trắc nghiệm khách quan để đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy môn Công nghệ lớp 8”.
2 Mục đích nghiên cứu
Thiết lập quy trình xây dựng và sử dụng câu trắc nghiệm khách quan, từ
đó xây dựng hệ thống các bài trắc nghiệm khách quan và sử dụng chúng nhằmđáp ứng yêu cầu trong việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Công nghệlớp 8, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Công nghệ lớp 8 trườngTHCS tỉnh Bắc Ninh
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Công nghệ lớp 8 trườngTHCS tỉnh Bắc Ninh bằng trắc nghiệm khách quan Cụ thể là:
- Yêu cầu trong việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Công nghệlớp 8
- Câu trắc nghiệm khách quan và bài trắc nghiệm khách quan
- Quy trình xây dựng và sử dụng câu trắc nghiệm khách quan
Trang 104 Giả thuyết khoa hoc
Nếu xây dựng được một hệ thống câu trắc nghiệm khách quan và sửdụng chúng trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Công nghệ lớp 8 theoquy trình đề tài thiết lập thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học tại trườngTHCS
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề xây dựng và sử dụngtrắc nghiệm khách quan đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy mônCông nghệ lớp 8
- Xây dựng, sử dụng câu trắc nghiệm khách quan trong đánh giá kết quảhọc tập môn Công nghệ lớp 8
- Kiểm nghiệm, đánh giá giả thuyết khoa học đã nêu và hoàn thiện các
đề xuất
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các công trình, tác phầm khoa học có liên quan đến nội dungcủa đề tài trên cơ sở đó tiếp thu có chọn lọc các vấn đề đã và đang nghiên cứu
- Phương pháp phân tích lí luận về công tác kiểm tra đánh giá
Có thể coi đây là phương pháp chủ đạo, được sử dụng trong toàn bộ quátrình nghiên cứu, phương pháp này được sử dụng để phân tích các tài liệu vềđổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong dạy học Qua đó thấy được việcđổi mới là một hướng đi đúng Từ kết quả phân tích trên đi đến tổng hợp và rút
ra hệ thống lý thuyết mới phục vụ cho đề tài
- Phương pháp thu thập tài liệu
Việc thu thập tài liệu được thực hiện dựa vào mục đích và nhiệm vụnghiên cứu đề tài Các nguồn tài liệu thu thập gồm sách báo, tạp chí chuyênngành, báo cáo khoa học, đề tài nghiên cứu và những phần mềm ứng dụng dạyhọc có nội dung liên quan
Trang 11- Phương pháp đối chiều so sánh
Đối chiếu tài liệu có liên quan tới đề tài để làm rõ vấn đề cần nghiêncứu
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra quan sát, điều tra tình hình dạy học và công tác kiểm trađánh giá
Phương pháp này nhằm tiếp cận tình hình thực tế, nắm được thực trạngviệc dạy học và kiểm tra đánh giá trong dạy học môn Công nghệ lớp 8 tạitrường THCS Đại Đồng và THCS Tiền An tỉnh Bắc Ninh
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm và phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia được sử dụng nhằm thu thập số liệu thực tiễn
về vấn đề đánh giá chất lượng và hiệu quả khi sử dụng bài trắc nghiệm kháchquan trong đánh giá kết quả học tập môn Công nghệ 8
Thực tế kết quả thực nghiệm là cơ sở để kiểm chứng tính khả thi và tínhhiệu quả của đề tài
6.3 Phương pháp thống kê trong xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để tính toán, tổng hợp kết quảthực nghiệm sư phạm
7 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 3 phần chính:
Phần Mở đầu
Phần Nội dung với 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của xây dựng và sử dụng trắcnghiệm khách quan đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy môn Côngnghệ lớp 8
Chương 2 Xây dựng và sử dụng câu trắc nghiệm khách quan trong đánhgiá kết quả học tập môn Công nghệ lớp 8
Chương 3 Kiểm nghiệm và đánh giá
Trang 12Phần Kết luận và kiến nghị.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 8
1.1 TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về xây dựng và sử dụng trắc nghiệm khách quan để đánh giá kết quả học tập của học sinh trên thế giới
Trắc nghiệm khách quan (TNKQ) được nhiều nhà khoa học giáo dụctrên thế giới chú ý và nghiên cứu từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
Năm 1904 nhà tâm lý học người Pháp – Alfred Binet cùng với cộng sựtrong quá trình nghiên cứu trẻ em tâm thần, đã xây dựng ra bài trắc nghiệm vềchỉ số thông minh
Đầu thế kỉ XX E.Thorm Dike là người đầu tiên dùng TNKQ như mộtphương pháp “khách quan và nhanh chóng” để xác định trình độ của học sinh ởmôn Số học và sau đó là một số môn khác
Hình thức thi TNKQ đã được sử dụng đầu tiên từ những năm 1920 ở Mỹkhi tuyển nhân viên hành chính nhà nước, sau đó dùng trong quân đội Càngngày TNKQ càng được sử dụng nhiều, nhất là trong kiểm tra sơ bộ, sơ tuyểndụng, mức độ cạnh tranh nhiều Hầu hết các cơ sở đào tạo đều áp dụng hìnhthức thi trắc nghiệm và thực hiện thi trên mạng máy tính, điển hình của hệthống này là các cuộc thi tiếng Anh quốc tế như TOFEL, IELTS, TOEIC…
TNKQ không chỉ được phát triển ở Mĩ, Châu Âu mà ở các nước Châu Ácũng rất phát triển Nhật, Thái Lan, Trung Quốc… cũng đã có cơ sở vững chắc
về lĩnh vực này Tại Nhật Bản kì thi “Trắc nghiệm trung tâm Quốc gia tuyểnsinh Đại học (National Center Test for University Amission)” duy trì từ năm
Trang 131990 đến nay, với hình thức đề thi được soạn thảo hoàn toàn theo phương thứcTNKQ Các tổ chức JHEEE (Joint Higher Education Entrance Examination),NEEA (National Education Examination Authority) tại Thái Lan và TrungQuốc đã tổ chức kì thi tuyển sinh chủ yếu bằng TNKQ [18].
Như vậy, ta thấy rõ khoa học về đo lường và TNKQ ra đời và nhanhchóng khẳng định ưu thế, xác định vị trí của mình trong lĩnh vực giáo dục, làmột phương tiện có giá trị trong giáo dục
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về xây dựng và sử dụng trắc nghiệm khách quan để đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy môn Công nghệ tại Việt Nam
TNKQ không còn là vấn đề mới lạ ở Việt Nam Từ năm 1950 học sinh
đã được tiếp xúc với TNKQ qua các cuộc khảo sát khả năng ngoại ngữ do các
tổ chức quốc tế tài trợ Đến năm 1970 trắc nghiệm đã được Bộ giáo dục và cácnhà khoa học giáo dục tiến hành nghiên cứu
Bộ Giáo dục và đào tạo đã có một số hoạt động, bước đầu tổ chức cáccuộc hội thảo trao đổi thông tin về việc đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giátrong quá trình dạy học, chủ yếu là sử dụng phương pháp TNKQ như:
Năm 1986, tại trường Đại học sư phạm Hà Nội diễn ra hội thảo:
“Phương pháp xây dựng hệ thống câu hỏi lựa chọn đa phương án” doJ.P.Herath trình bày và hướng dẫn trong chương trình tài trợ của UNDP(United Nations Development Programme – Chương trình phát triển của Liênhợp quốc)
Năm 1994, Bộ Giáo dục – Đào tào theo hướng đổi mới kiểm tra đánh giáphối hợp với viện Công nghệ hoàng gia Melbourne của Australia tổ chức cáccuộc hội thảo với chủ đề: “Kĩ thuật xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan”tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Huế…
Trang 14Năm 1994 – 1995 với sự giúp đỡ của Liên hiệp quốc, trường Đại họcTổng hợp Hà Nội đã mở các lớp dài hạn bồi dưỡng phương pháp xây dựng câuhỏi trắc nghiệm và việc sử dụng nó vào dạy học.
Các nhà khoa học giáo dục trong nước cũng đã công bố nhiều công trìnhnghiên cứu lĩnh vực TNKQ trong thời điểm này:
Dương Thiệu Tống (1973), Trắc nghiệm và đo lường thành tích học tập,
Sau nhiều năm thử nghiệm, tháng 7/2006, phương pháp thi TNKQ chínhthức được áp dụng trong kì thi tuyển sinh đại học môn Ngoại ngữ trên phạm vitoàn quốc
Kể từ năm 2007, hình thức thi TNKQ áp dụng trong kì thi tuyển sinh đạihọc cho bốn môn văn hóa: Vật lí, Hóa học, Sinh học và Ngoại ngữ
Trang 15Nghiên cứu về lĩnh vực đánh giá kết quả học tập trong dạy học mônCông nghệ có khá nhiều luận án, luận văn như:
Nguyễn Danh Điệp (2001), Xây dựng và sử dụng bộ câu trắc nghiệm khách quan để đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học môn Xe máy ở Trung tâm giáo dục kĩ thuật tổng hợp – hướng nghiệp, Luận văn Thạc sĩ
khoa học giáo dục, Đại học Sư phạm Hà Nội [10]
Giáp Văn Tới (2004), Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan để kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Kĩ thuật điện ở trường Trung học Công nghiệp II Nam Định, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học Sư phạm Hà
Nội [21]
Bùi Văn Ánh (2007), Xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan để đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học phần Kĩ thuật điện tử môn Công nghệ 12 ở trường THPT Thực hành – ĐHSP,
Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học Sư phạm Hà Nội [2]
Các đề tài nghiên cứu những kĩ thuật cơ bản về đo lường trong giáo dụcbằng trắc nghiệm, đề cập tới các loại câu hỏi trắc nghiệm, ưu điểm và hạn chếcủa chúng, đồng thời các công trình đi sâu nghiên cứu việc xây dựng và sửdụng các câu trắc nghiệm để đánh giá kết quả học tập của học sinh trong mônthuộc chuyên ngành Kĩ thuật công nghiệp
Đối với môn Công nghệ khối Trung học cơ sở, việc đưa TNKQ vào sửdụng chưa được nghiên cứu nhiều Trên cơ sở tham khảo những tài liệu đãnghiên cứu về TNKQ, đề tài tiếp tục tìm hiểu về hình thức TNKQ, xây dựngmột cách hệ thống và đầy đủ hơn về vấn đề: xây dựng và sử dụng câu TNKQtrong dạy học môn Công nghệ lớp 8
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1 Trắc nghiệm khách quan
“Trắc nghiệm khách quan (objective test), là một cụm từ đã xuất hiệntrên thế giới hàng trăm năm nay, theo các nhà nghiên cứu cũng như các nhàthực tiễn thường gọi cụm từ này để chỉ hình thức tổ chức kiểm tra hoặc hình
Trang 16thức tổ chức thi cử, bằng cách cho thí sinh lựa chọn và đánh dấu lên các mẫu tự
để trả lời các câu hỏi trực tiếp hoặc gián tiếp của để thi” [23, Tr 30]
Như vậy, TNKQ cũng là bài kiểm tra viết, việc chấm điểm không phụthuộc chủ quan vào người chấm mà hoàn toàn khách quan Bài kiểm tra đượctính điểm bằng cách đếm số câu mà học sinh đã chọn câu trả lời đúng trong sốnhững câu trả lời đã được cung cấp
Có nhiều cách phân loại TNKQ, hai cách được sử dụng phổ biến nhất là:
- Theo cách chuẩn bị đề trắc nghiệm:
+ Trắc nghiệm tiêu chuẩn hóa: Thường do chuyên gia soạn thảo, thửnghiệm, tu chỉnh, do đó mỗi câu trắc nghiệm được gắn với các chỉ số cho biếtthuộc tính và chất lượng của nó, mỗi đề thi có gắn với một độ tin cậy xác định,ngoài ra có những chỉ dẫn cụ thể về cách triển khai trắc nghiệm và giải thíchkết quả câu trắc nghiệm
+ Trắc nghiệm dùng trong lớp học: Do giáo viên soạn thảo để sử dụngtrong quá trình giảng dạy, có thể chưa được thử nghiệm và tu chỉnh công phu,thường chỉ sử dụng trong các kì kiểm tra với số lượng học sinh không lớn
- Theo mức độ đảm bảo thời gian làm trắc nghiệm:
+ Trắc nghiệm theo tốc độ: Thường hạn chế thời gian, thí sinh phải làmnhanh mới có thể làm hết số câu của đề thi, nhằm đánh giá khả năng làm nhanhcủa thí sinh
+ Trắc nghiệm không theo tốc độ: Thường cung cấp đủ thời gian chophần lớn thí sinh có thể kịp suy nghĩ để hoàn thành hết bài thi [17]
1.2.2 Câu trắc nghiệm khách quan
Là dạng câu hỏi cung cấp một phần hay tất cả các thông tin cần thiết,trong mỗi câu hỏi có kèm theo các câu trả lời sẵn hoặc các phương án tiến hànhđòi hỏi học sinh phải chọn một câu trả lời, một phương án đúng nhất; hay phảiđiền thêm những thông tin nhất định vào câu trả lời [17]
Trang 17Hiện nay, TNKQ có thể chia thành bốn loại chính sau:
- Loại câu điền khuyết
- Loại câu “đúng - sai”
- Loại câu đa phương án
- Loại câu ghép đôi
1.2.3 Đánh giá kết quả học tập
Hiểu một cách tổng quan: “Đánh giá là quá trình hình thành những nhậnđịnh, phán đoán về kết quả của công việc dựa vào sự phân tích những thông tinthu được đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuấtnhững quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chấtlượng và hiệu quả công việc” [13, tr 6]
Theo lý luận dạy học, học tập về bản chất là hoạt động nhận thức củangười học được thực hiện dưới sự tổ chức, điều khiển của nhà sư phạm Mụcđích của hoạt động học tập là tiếp thu nền văn hóa nhân loại và chuyển hóachúng thành năng lực thể chất, năng lực tinh thần của mỗi cá nhân Đối tượngcủa hoạt động học là hệ thống tri thức, kỹ năng, kĩ xảo tương ứng được thể hiện
ở nội dung của môn học, bài học, bằng hệ thống khái niệm khoa học và kháiniệm môn học Do đó kết quả học tập thể hiện chất lượng của quá trình dạyhọc, kết quả học tập đích thực chỉ xuất hiện khi có những biến đổi tích cựctrong nhận thức, hành vi của người học
Kết quả học tập được hiểu là:
- Mức độ mà người học đạt được so với mục tiêu đã xác định
- Là mức độ mà người học đạt được so sánh với những người cùnghọc khác
Như vậy, đánh giá kết quả học tập của học sinh là đánh giá mức độ hoànthành các mục tiêu đề ra cho việc học sau một giai đoạn học tập, các mục tiêunày thể hiện ở từng môn học cụ thể [10]
Trang 181.2.4 Môn Công nghệ và chương trình môn Công nghệ lớp 8
1.2.4.1 Môn Công nghệ
Có thể hiểu một cách tổng quát: “Môn học Công nghệ - bộ môn trongchương trình giáo dục của nhà trường phổ thông ở bậc Tiểu học và Trung học
có nhiệm vụ cung cấp cho người học những kiến thức ban đầu và rèn luyện các
kĩ năng lao động tối thiếu trong cuộc sống tự lập làm cơ sở việc định hướng vàlựa chọn nghề nghiệp về sau.” (Từ điển Giáo dục học, 2002)
Đặc thù của bộ môn Công nghệ là đi theo chương trình của từng khối,lớp với nhiều phân môn khác nhau Cụ thể, ở khối THCS: “môn Công nghệ 8
có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh một số kiến thức kĩ thuật cơ bản, một sốquy trình công nghệ và kĩ năng lao động đơn giản về cơ khí và điện Là mônhọc mang nhiều tính kĩ thuật, tính thực tiễn, gần gũi với đời sống, với nhữngđiều được học, học sinh có thể áp dụng trong đời sống hàng ngày, đồng thờigóp phần hướng nghiệp để lựa chọn hướng đi thích hợp sau khi tốt nghiệpTHCS” [11]
1.2.4.2 Chương trình môn Công nghệ 8
Chương trình môn học là bộ khung xương chính của mọi chương trình
giảng dạy cụ thể trong nhà trường phổ thông Với mỗi môn học/khối lớp có thểtồn tại nhiều Chương trình môn học khác nhau, ví dụ Chương trình Cơ bản,Chương trình nâng cao
Chương trình môn Công nghệ 8 là văn bản cung cấp những thông tin cơ
bản về nội dung kiến thức mà học sinh tiếp thu được khi học môn Công nghệ 8,những yêu cầu, sở pháp lý để giáo viên xây dựng, tổ chức giảng dạy – học tập,đánh giá kết quả học phần…, bất cứ giáo viên nào cũng phải thực hiện đầy đủkhi được phân công giảng dạy
Trang 19Chương trình môn Công nghệ 8 được xây dựng dựa vào yêu cầu về kiếnthức, kỹ năng và thái độ mà học sinh cần đạt được sau khi học xong chươngtrình giáo dục lớp 8.
1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG TRẮC NGHIỆMKHÁCH QUAN ĐỂ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINHTRONG DẠY MÔN CÔNG NGHỆ
1.3.1 Mục đích, chức năng và các yêu cầu của việc kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học
1.3.1.1 Mục đích của việc kiểm tra đánh giá
“Học sinh là đối tượng, là sản phẩm giáo dục đồng thời là chủ thể của
quá trình giáo dục , do đó việc đánh giá học sinh giữ vị trí đắc biệt trong điều
tra đánh giá giáo dục” [13, tr7] Vậy việc kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy
học nhằm mục đích:
- Xác định kết quả học tập, mức độ đạt được về các mục tiêu dạy học,kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh đối chiếu với yêu cầu của chương trình.Tạo điều kiện cho giáo viên nắm vững hơn tình hình học tập, phát hiện nguyênnhân sai sót, giúp học sinh điều chỉnh hoạt động học
- Qua kết quả kiểm tra, học sinh tự đánh giá mức độ đạt được của bảnthân, tạo cơ hội cho học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá Qua đó có phươngpháp tự mình ôn tập, củng cố bổ sung nhằm hoàn thiện học vấn bằng phươngpháp tự học, thúc đẩy việc học tập
- Cung cấp thông tin phản hồi, giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ranhững điểm mạnh điểm yếu của mình, tự điều chỉnh công tác quản lý và hoànthiện hoạt động dạy, nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học
Như vậy, Kiểm tra đánh giá không chỉ nhằm mục đích nhận định thựctrạng và định hướng điều chỉnh hoạt động học của học sinh mà còn tạo điều kiệnnhận định thực trạng và định hướng điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên
Trang 20Trong nhà trường việc đánh giá kết quả học tập của học sinh được thựchiện chủ yếu thông qua việc tổ chức kiểm tra và thi một cách có hệ thống, theonhững quy định chặt chẽ Vì thế kiểm tra và đánh giá là hai việc thường đi liềnnhau tuy rằng không phải mọi việc kiểm tra đều hướng tới mục đích đánh giá.
1.3.1.2 Chức năng của việc kiểm tra đánh giá
a Chức năng đo lường
Phải xác định được mức độ hiểu biết, kĩ năng; phẩm chất trí tuệ của họcsinh so với chuẩn của mục đích dạy học đã định trước Để thực hiện chức năngnày phải:
- Chính xác hóa và lượng hóa được thông số cần đo (hiểu biết, kĩ năng)
- Chọn đơn vị đo (Bảng điểm số hay xếp hạng)
- Xác định độ chính xác, độ nhạy và sự biến đổi của phép đo
b Chức năng thông tin
Kiểm tra - đánh giá cung cấp kết quả học tập của học sinh là cơ sở thựctiễn để giảng viên xác định kết quả giảng dạy, từ đó điều chỉnh và hoàn thiệnnội dung, phương pháp giảng dạy Đồng thời cũng giúp học sinh tự đánh giákết quả học tập để điều chỉnh sự học tập của mình theo yêu cầu của môn học
c Chức năng chọn lọc và phân loại
Thông qua kiểm tra – đánh giá có thể:
- Chọn ra được những kiến thức (kĩ năng) mà học sinh đã nắm vững,chưa nắm vững trong môn học
- Phân loại học sinh ở các mức độ (giỏi, khá, trung bình …), điều này cótác dụng kích thích sự cố gắng học tập của học sinh
1.3.1.3 Những yêu cầu của việc kiểm tra đánh giá
Căn cứ vào các yêu cầu sư phạm đối với việc kiểm tra - đánh giá [12]; căn
cứ theo mục 3 điều 2 Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT – ban hành quy chếđánh giá, xếp loại học sinh Trung học cơ sở và học sinh Trung học phổ thông,
Trang 21khi tiến hành kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh cần đảm bảo cácnguyên tắc sau:
a Đánh giá đảm bảo tính khách quan
Tính khách quan là yêu cầu cơ bản trong đánh giá kết quả học tập củangười học
Việc đánh giá phải sát với hoàn cảnh và điều kiện dạy học Kết quả đánhgiá phải phù hợp với kết quả lĩnh hội tri thức, kĩ năng của học sinh được bộc lộtrung thực Nội dung kiểm tra phải phù hợp với các yêu cầu chung của chươngtrình đề ra Tổ chức thi phải nghiêm minh
Tránh những nhận định chủ quan, áp đặt, thiếu căn cứ của người đánhgiá Tính chủ quan thể hiện đậm nét ở đặc điểm tâm lý, trang thái tâm lý cánhân cũng như nét tính cách, năng lực và phẩm chất của người đánh giá
Tránh đánh giá chung chung về sự tiến bộ của toàn lớp hay một nhómthực hành, một tổ thực tập
Yêu cầu đảm bảo tính khách quan là yêu cầu không thể thiếu được, nóảnh hưởng tới toàn bộ quá trình đánh giá kết quả học tập
b Đánh giá đảm bảo tính công khai
Việc tổ chức đánh giá phải đảm bảo tính công khai Kết quả phải đượccông bố kíp thời để mỗi học sinh có thể tự đánh giá, xếp hạng trong tập thể, đểtập thể học sinh hiểu biết, giúp đỡ lẫn nhau Kết quả kiểm tra, đánh giá phảiđược ghi vào hồ sơ, sổ sách
c Đánh giá đảm bảo tính công bằng
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo rằng những học sinh thực hiện các hoạtđộng học tập với cùng một mức độ và thể hiện cùng một nỗ lực sẽ nhận đượckết quả đánh giá như nhau
d Đánh giá đảm bảo đúng chất lượng
Trang 22Quá trình kiểm tra – đánh giá phải phản ánh đúng thực chất, chất lượng,kết quả học tập của học sinh
Nguyên tắc đảm bảo đúng chất lượng phụ thuộc vào mục đích, nội dung,phương pháp kiểm tra - đánh giá Giáo viên khi ra đề phải chú ý đến sự phùhợp của câu hỏi với việc xác định mức độ đạt được các mục tiêu trong học tập
e Đánh giá đảm bảo tính mục tiêu
Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện cácmục tiêu trong chương trình giáo dục, có nghĩa mục tiêu giáo dục mang đến cáiđích trực tiếp cho quá trình giáo dục và đào tạo, là cơ sở thực tiễn để điều chỉnhquá trình đào tạo
Nếu trong đánh giá kết quả học tập không xác định tính đo được củamục tiêu thì cũng như chọn một công cụ đo lường mà không biết sẽ dùngchúng để đo cái gì
- Số lần kiểm tra phải đủ mức để có thể đánh giá được chính xác
Đảm bảo tính hệ thống trong đánh giá kết quả học tập giúp cho giáo viênthu được những thông tin về mức độ nắm tri thức, kĩ năng của học sinh sau mộtquá trình học tập, biết được mức độ tri thức, kĩ năng của học sinh trong từngthời điểm nhất định của tiến trình học tập Ngoài ra, nó giúp cung cấp định kỳnhững thông tin trực tiếp phản hồi cho giáo viên về kết quả giảng dạy của họ,giúp cho họ điều chỉnh kịp thời cách dạy của mình và cách học cho học sinh,tạo điều kiện kết hợp thống nhất giữa dạy và học
Trang 23h Đảm bảo tính toàn diện
Đánh giá phải toàn diện cả về số lượng và chất lượng, kiến thức, kĩ năng,
kĩ xảo, thái độ của từng cá nhân
Tính toàn diện của đánh giá đảm bảo cho các thông tin thu được sẽ đầy
đủ và rõ ràng hơn về mức độ đạt được các mục tiêu của người học Các công
cụ để tiến hành đánh giá có hệ thống rất đa dạng như: Các bài kiểm tra, cácnhiệm vụ được giao, thảo luận nhóm, quan sát để thu thập kết quả …
Các yêu cầu trên được quán triệt đầy đủ trong quá trình đánh giá kết quảhọc tập của học sinh trong từng môn học cụ thể
1.3.2 Tóm tắt các hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập
1.3.2.1 Các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập
a Kiểm tra sơ bộ (khi bắt đầu môn học)
Là hình thức kiểm tra hệ thống kiến thức cơ bản mà học sinh phải nắmđược có liên quan với kiến thức mới Hình thức này, thường được áp dụng chonhững môn học có chương trình đồng tâm hoặc có nội dung được xây dựngtrên cơ sở những nội dung của các môn học khác mà học sinh đã biết
b Kiểm tra thường xuyên
Là hình thức kiểm tra có hệ thống, được người giáo viên tiến hànhthường xuyên như kiểm tra 15 phút, kiểm tra miệng…; là tiến trình thu thậpthông tin về việc học của học sinh một cách liên tục trong lớp học và kết quảcủa nó dùng để theo dõi sự tiến bộ của học sinh trong quá trình giảng dạy Giúpgiáo viên có những biện pháp điều chỉnh kịp thời hoạt động dạy học của mình,cũng như giúp học sinh nhận ra được sự tiến bộ, chưa tiến bộ của bản thân.Thúc đẩy học sinh cố gắng tích cực, làm việc liên tục và có hệ thống từ đó điềuchỉnh và phát triển
c Kiểm tra định kỳ
Trang 24Là hình thức kiểm tra được thực hiện sau khi học sinh học xong mộtchương, một phần của chương trình, hoặc sau một học kì Là phương thức xemxét kết quả học tập của học sinh theo một thời điểm Khối lượng tri thức, kỹnăng, kỹ xảo nằm trong phạm vi kiểm tra là tương đối lớn Mục đích giúp giáoviên, học sinh nắm được kết quả hoạt động sau một thời gian nhất định; giúpgiáo viên đánh giá trình độ nắm bắt của học sinh sau một đơn vị học phần để từ
đó có biện pháp kịp thời bổ khuyết hay điều chỉnh nội dung và phương phápdạy học những phần tiếp theo Hình thức kiểm tra này mang tính đào tạo theotừng giai đoạn
e Kiểm tra học sinh giỏi
Là hình thức kiểm tra để tuyển chọn những học sinh có khả năng khôngnhững nắm vững về kiến thức đã học mà còn biết vận dụng kiến thức đó đểphát triển và thay đổi kiến thức đó lên một bậc cao hơn Hình thức này được ápdụng các kì thi chuyển cấp
1.3.2.1 Các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Có nhiều phương pháp kiểm tra – đánh giá kết quả học sinh khác nhau, cóthể tóm tắt các phương pháp phổ biến đang sử dụng trong nước ta như sơ đồ 1.1
a Phương pháp kiểm tra vấn đáp
Phương pháp này được sử dụng trước khi học bài mới, trong quá trìnhhọc bài mới, sau khi học bài mới, thi hết một chương trình, thi cuối năm học.Giúp học sinh rèn kĩ năng biểu đạt bằng ngôn ngữ nhanh, chính xác Phươngpháp dùng ngôn ngữ để thể hiện khả năng hiểu biết, từ đó đánh giá được kiến
Trang 25thức của học sinh Có tác dụng tốt khi nêu các câu hỏi phát sinh trong một tìnhhuống cần kiểm tra Trắc nghiệm vấn đáp thường được dùng khi tương tác giữangười chấm và người học là quan trọng, chẳng hạn cần xác định thái độ phảnứng khi phỏng vấn… Phương pháp vừa mang tính định tính vừa mang tínhđịnh lượng, có độ chính xác cao, có giá trị đào tạo nhiều mặt: Bổ xung kiếnthức, rèn luyện năng lực tư duy và khả năng diễn giải tức thời
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ về các phương pháp kiểm tra – đánh giá
a Phương pháp kiểm tra vấn đáp
Phương pháp này được sử dụng trước khi học bài mới, trong quá trìnhhọc bài mới, sau khi học bài mới, thi hết một chương trình, thi cuối năm học.Giúp học sinh rèn kĩ năng biểu đạt bằng ngôn ngữ nhanh, chính xác Phươngpháp dùng ngôn ngữ để thể hiện khả năng hiểu biết, từ đó đánh giá được kiến
Bài thi
viết
Tiểu luận Luận văn
Điền khuyết Ghép đôi
Đa phương án Đúng sai
PP quan sát
thường
xuyên
PP quan sát sự trình diễn của HS
CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
PP trắc nghiệm tự
luận
PP trắc nghiệm khách quan
Trang 26thức của học sinh Có tác dụng tốt khi nêu các câu hỏi phát sinh trong một tìnhhuống cần kiểm tra Trắc nghiệm vấn đáp thường được dùng khi tương tác giữangười chấm và người học là quan trọng, chẳng hạn cần xác định thái độ phảnứng khi phỏng vấn… Phương pháp vừa mang tính định tính vừa mang tínhđịnh lượng, có độ chính xác cao, có giá trị đào tạo nhiều mặt: Bổ xung kiếnthức, rèn luyện năng lực tư duy và khả năng diễn giải tức thời
b Phương pháp kiểm tra quan sát
Trong giáo dục được hiểu là phương pháp tri giác có mục đích một hiệntượng sư phạm nào đó, để thu lượm những số liệu, tài liệu, sự kiện cụ thể, đặctrưng cho quá trình diễn biến của hiện tượng
- Phương pháp quan sát thường xuyên: Đây là phương pháp được sửdụng rỗng rãi, có thể tiến hành trong lớp hoặc ngoài lớp, thuận tiện cho việc thuthập thông tin để đánh giá về thái độ, về giá trị của học sinh
- Phương pháp quan sát sự trình diễn của học sinh: Thường dùng trongđánh giá kết quả kiểm tra năng khiếu hoặc kiểm tra thực hành như: Kiểm trathực hành gia công cơ khí, kiểm tra thể dục, âm nhạc, kể chuyện…
c Phương pháp kiểm tra viết
- Phương pháp trắc nghiệm tự luận:
+ Bài thi viết: Phương pháp sử dụng câu hỏi, đòi hỏi học sinh trả lờitheo yêu cầu, chủ đề của câu hỏi Yêu cầu học sinh diễn giải theo một cấutrúc nhất định
+ Bài tiểu luận: John Locke đã viết trong cuốn An EssayConcerning Human Understanding vào năm 1690: “Tiểu luận là một bài viếtthường được thực hiện dựa trên quan điểm cá nhân của tác giả Các bài luận cóthể được thực hiện dưới nhiều hình thức, gồm: bài phê bình, bản tuyên ngônchính trị, các dẫn chứng, bài tranh luận của các học giả, bài quan sát đời sốnghàng ngày, hồi ký của chính tác giả…”
Trang 27Như vậy phương pháp này giúp học sinh rèn luyện khả năng tổng kết vàviết một văn bản có tính chất tổng quan: Nghị luận hoặc báo cáo.
+ Luận văn: Phương pháp này cho kết quả đào tạo giống như tiểu luận,nhưng khối lượng kiến thức diễn giải đòi hỏi nhiều và cao hơn Là dạng trắcnghiệm dùng những câu hỏi mở đòi hỏi học sinh tự xây dựng câu trả lời
Dạng này được xem là trắc nghiệm chủ quan vì việc đánh giá, cho điểm
có thể tùy thuộc rất nhiều vào chủ quan người chấm
Phương pháp này có thể đo được khả năng suy luận như: Sắp xếp ýtưởng, so sánh, phân tích… Có thể kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh vềcác vấn đề, lĩnh vực, sự kiện một cách hữu hiệu
- Trắc nghiệm khách quan: Là phương pháp sử dụng hệ thống các câuhỏi có kèm theo những câu trả lời sẵn Hệ thống câu hỏi này cung cấp cho họcsinh một phần hoặc tất cả thông tin nhưng yêu cầu học sinh lựa chọn một câutrả lời đúng hoặc câu trả lời tốt nhất hay điền thêm nội dung đúng
Có nhiều loại câu hỏi trắc quan: Câu đúng – sai, câu đa phương án, câuđiền khuyết, câu ghép đôi
1.3.3 Đánh giá kết quả học tập bằng trắc nghiệm khách quan
1.3.3.1 Phân loại câu trắc nghiệm khách quan
a Câu ghép đôi (matching items)
Đòi hỏi học sinh phải ghép đúng từng cặp nhóm từ ở hai cột với nhausao cho phù hợp về ý nghĩa Loại câu này thường bao gồm hai dãy thông tingọi là các câu dẫn và các câu đáp Hai dãy thông tin này có số câu có thể khôngbằng nhau vì khi số câu bằng nhau thì hai thông tin cuối cùng sẽ mặc nhiênđược ghép với nhau mà không phải lựa chọn Mỗi câu nhận định hay một từ ởdãy thứ nhất được kết hợp với một câu hay một cụm từ ở dãy thứ hai để trởthành một nhận định đúng
- Ưu điểm:
Trang 28+ Câu ghép đôi dễ viết, thích hợp với học sinh cấp THCS Có thểdùng để đo các mức năng lực khác nhau, thường được xem như công cụhữu hiệu nhất trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức hay lậpcác mối tương quan.
+ Yếu tố may rủi giảm
- Nhược điểm:
Soạn câu ghép đôi để đo mức kiến thức cao đòi hỏi nhiều công phu Nếu
số câu trong các cột nhiều, học sinh sẽ mất nhiều thời gian đọc nội dung mỗicột trước khi ghép
- Những nguyên tắc khi xây dựng dạng câu ghép đôi
+ Trong mỗi cột ít nhất là 6 câu và nhiều nhất là 12 câu Số câu chọn lựatrong cột trả lời nên nhiều hơn số câu trong cột hỏi để giảm yếu tố may rủi
+ Phải xác định rõ tiêu chuẩn để ghép một câu của cột trả lời và câu hỏitương ứng Phải nói rõ mỗi câu trả lời chỉ được sử dụng một lần hay được sửdụng nhiều lần
+ Các câu hỏi nên có tính chất đồng nhất hoặc liên hệ nhau Sắp xếp cáccâu trong các cột theo một thứ tự hợp lý nào đó
b Câu điền khuyết (Supply items)
Loại câu này thường là một nhận định được viết dưới dạng một hìnhthức mệnh đề không đầy đủ hay một câu hỏi Học sinh phải nghĩ ra một nộidung thích hợp để điền vào chỗ trống
Câu điền khuyết có ưu điểm hơn các loại câu hỏi trắc nghiệm kháchquan khác ở chỗ đòi hỏi học sinh phải tìm kiếm câu trả lời đúng hơn là nhận racâu trả lời đúng từ những thông tin đã cho
- Ưu điểm:
+ Học sinh không có cơ hội đoán mò, mà phải nhớ ra, nghĩ ra, tự tìm racâu trả lời
Trang 29+ Rất thích hợp cho việc đánh giá mức độ hiểu biết của học sinh về cácnguyên lí, giải thích các dữ liệu, diễn đạt ý kiến và thái độ Giúp học sinh luyệntrí nhớ khi học, suy luận hay áp dụng vào các phương pháp khác.
- Nhược điểm:
+ Khi soạn loại câu này thường dễ mắc sai lầm là người soạn thườngtrích nguyên văn các câu từ sách giáo khoa Ngoài ra loại câu hỏi này thườngchỉ giới hạn vào chi tiết nhỏ, khi chấm bài mất nhiều thời gian
+ Khi sử dụng câu điền khuyết không áp dụng được các phương tiệnhiện đại trong kiểm tra đánh giá
- Những nguyên tắc khi xây dụng dạng câu điền khuyết:
+ Lời chỉ dẫn phải rõ ràng, tránh lấy nguyên văn các câu từ sách, tránhkhuyến khích học sinh thụ động, chỉ học thuộc lòng
+ Các khoảng trống nên có chiều dài bằng nhau để học sinh không đoán
mò, nên để trống những dữ liệu quan trọng nhưng không quá nhiều
c Câu đúng sai (yes, no questions)
Là câu đưa ra một nhận định Học sinh phải lựa chọn một trong haiphương án trả lời để khẳng định nhận định đó đúng hay sai
Loại câu đúng – sai cũng có thể là câu hỏi trực tiếp được trả lời là đúnghay sai Đôi khi chúng có thể được nhóm lại dưới cùng một câu dẫn Cácphương án trả lời là thích hợp để gợi nhớ lại kiến thức và một khối lượng kiếnthức đáng kể có thể được kiểm tra một cách nhanh chóng
Loại câu đúng sai chỉ thích hợp cho việc kiểm tra những kiến thức sựkiện, định nghĩa, công thức… Chúng thường chỉ đòi hỏi trí nhớ, ít kích thíchsuy nghĩ, khả năng phân biết học sinh giỏi và học sinh yếu rất thấp
- Ưu điểm:
+ Đây là loại câu đơn giản nhất để trắc nghiệm kiến thức về những
sự kiện
Trang 30+ Có thể quan sát được nhiều mảng của học sinh.
- Nhược điểm:
+ Xác suất đúng – sai là 50% nên có thể đoán mò vì vậy độ tin cậy thấp,
dễ tạo điều kiện cho học sinh đoán mò hơn là hiểu
+ Khó dùng để phát hiện ra yếu điểm của học sinh, ít phù hợp với đốitượng học sinh khá, giỏi
- Những nguyên tắc khi xây dựng câu đúng – sai
+ Câu nên hỏi những nội dung quan trọng, nội dung có giá trị khôngphải là những chi tiết vụn vặt, không quan trọng
+ Câu nên trắc nghiệm khả năng lý giải, chứ không chỉ là trắc nghiệm trínhớ Càng không nên chép lại những câu trong tài liệu giảng dạy, tránh họcsinh học thuộc lòng máy móc
+ Trong một câu chỉ có một vấn đề trọng tâm hoặc một ý trọng tâm,không thể xuất hiện hai ý hoặc nửa câu đúng, nửa câu sai
+ Tránh sử dụng những từ ngữ có tính giới hạn đặc thù mang tính ám thị.+ Tránh những nội dung, đề tài chưa thống nhất
d Câu nhiều lựa chọn (Multiple choise questions)
Là câu trắc nghiệm có hai phần, phần đầu đưa ra một nhận định, cungcấp thông tin cần thiết … được gọi là phần dẫn, phần sau có nhiều phương ántrả lời Trong các phương án trả lời chỉ có duy nhất một phương án đúng, cácphương án khác được đưa vào có tác dụng gây nhiễu Học sinh phải chọn câutrả lời đúng trong các câu trả lời có sẵn đó
Mỗi loại trắc nghiệm ở trên đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định,không có loại câu hỏi nào là ưu thế hay hạn chế nhất mà phải xem xét chúngtrong từng nội dung, kiến thức cụ thể
Trang 31- Ưu điểm:
+ Câu có nhiều phương án trả lời cho mỗi câu hỏi, giáo viên có thể dùngloại câu hỏi này để kiểm tra – đánh giá những mục tiêu dạy học khác nhaunhư : Xác định mối tương quan nhân quả, nhận biết các điều sai lầm, ghép cáckết quả hay các điều quan sát được với nhau, định nghĩa các khái niệm, tìmnguyên nhân của một số sự kiện, nhận biết điểm tương đồng hay khác biệt giữahai hay nhiều vật, xác định nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ những sự kiện,xác định thứ tự hay cách sắp đặt giữa nhiều vật, xét đoán vấn đề đang đượctranh luận dưới nhiều quan điểm
+ Độ tin cậy cao, khả năng đoán mò hay may rủi ít hơn so với các loạicâu hỏi trắc nghiệm khách quan khác Học sinh buộc phải xét đoán, phân biết
rõ ràng trước khi trả lời
+ Có thể dùng để đo những mức tư duy khác nhau như : Khả năng nhớ,
áp dụng các nguyên lý, định luật, tổng quát hóa rất hữu hiệu
- Nhược điểm
+ Loại câu này khó soạn vì phải tìm câu trả lời đúng nhất, trong khi cáccâu, các phương án còn lại gọi là câu nhiễu thì cũng có vẻ hợp lý Thêm vào đócác câu hỏi phải đo được các mục tiêu ở mức năng lực nhận thức cao hơn mứcbiết, nhớ
+ Câu trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn có thể không đo được khảnăng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo
- Những nguyên tắc khi xây dựng dạng câu nhiều lựa chọn
+ Các câu trả lời đúng nhất phải được đặt ở các vị trí khác nhau số lầntương đương ở mỗi vị trí Vị trí các câu trả lời để chọn lựa nên được sắp xếptheo một thứ tự ngẫu nhiên
+ Câu dẫn phải có nội dung ngắn gọn, diễn đạt rõ ràng vấn đề hay mangchọn ý nghĩa
Trang 32+ Các câu trả lời trong các phương án cho sẵn phải đồng nhất với nhau.Tính đồng nhất có thể dựa trên ý nghĩa, độ dài, hoặc cùng là động từ, danh từ
+ Nên có 4 hoặc 5 phương án trả lời cho mỗi câu hỏi Nếu số phương án
ít hơn thì yếu tố may rủi tăng lên Ngược lại, nếu có quá nhiều phương án thìgiáo viên khó tìm được câu nhiễu hay và học sinh mất nhiều thời gian để đọccâu trả lời
+ Nên ít hay tránh dùng thể phủ định trong câu hỏi
1.3.3.2 Những yếu tố đặc trưng dánh giá chất lượng câu hỏi và đề trắc nghiệm khách quan
a) Yếu tố đặc trưng đánh giá chất lượng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Để đánh giá chất lượng từng câu hỏi trắc nghiệm hoặc của đề TNKQngười ta thường dùng một số đại lượng đặc trưng sau:
Khi chọn lựa các câu trắc nghiệm theo độ khó người ta thường phải loạinhững câu quá khó (không ai làm đúng) hoặc quá dễ (ai cũng làm đúng) Mộtbài trắc nghiệm tốt khi có nhiều câu ở độ khó trung bình
(ii) Độ phân biệt:
Trang 33Khi ra một câu hoặc một bài trắc nghiệm cho một nhóm thí sinh nào đó,người ta thường muốn phân biệt trong nhóm ấy những người có năng lực khácnhau như: giỏi, khá, trung bình, kém… Khả năng của câu trắc nghiệm thựchiện sự phân biệt ấy được gọi là có độ phân biệt Muốn cho câu hỏi có độ phânbiệt, thì phản ứng của nhóm thí sinh giỏi và nhóm thí sinh kém đối với câu hỏi
đó hiển nhiên phải khác nhau
Tập hợp thí sinh tham gia trả lời câu hỏi, dựa vào tổng điểm thô của thísinh ta phân thành 2 nhóm, một nhóm gồm những học sinh giỏi đạt điểm cao từtrên xuống, còn một nhóm gồm những học sinh kém đạt điểm kém từ dưới lên.Gọi C là số thí sinh làm đúng câu hỏi thuộc nhóm giỏi , T là số thí sinh làmđúng câu hỏi thuộc nhóm kém, S là lượng thí sinh trong 1 nhóm, độ phân biệt(D) của câu hỏi được tính theo công thức sau:
b)Các yếu tố đặc trưng đánh giá chất lượng của đề trắc nghiệm
Hai đặc trưng quan trọng để đánh giá chất lượng của đề trắc nghiệm là:
độ tin cậy và độ giá trị của đề trắc nghiệm
(i) Độ tin cậy
Trắc nghiệm là một phép đo: Dùng thước đo là bài trắc nghiệm để đolường một năng lực nào đó của thí sinh Độ tin cậy của bài trắc nghiệm chính làđại lượng biểu thị mức độ chính xác của phép đo nhờ bài trắc nghiệm
Trang 34Theo lý thuyết đánh giá, có bốn phương pháp cơ bản để đánh giá độ tincậy của phép đo [20]
+ Nhóm phương pháp đánh giá mức độ “kiên định” về điểm số giữa hai
lần đo:
Để đánh giá độ tin cậy của trắc nghiệm người ta thường so sánh tươngquan điểm giữa hai lần đo của cùng một bài trắc nghiệm trên cùng một đốitượng Một bài trắc nghiệm có độ tin cậy phải có tính ổn định, tức là có sựtương quan chặt giữa hai lần đo
+ Nhóm phương pháp sử dụng form thay thế tương đương:
Trong cùng một trắc nghiêm, sử dụng hai form tương đương có hìnhthức, câu chữ khác nhau nhưng có nội dung giống nhau hoặc tương đương và
có những đặc tính thống kê như nhau hoặc tương đương Tương quan điểm sốgiữa lần đo thứ nhất (ứng với form A) và lần đo thứ hai (ứng với form B) đượcxem là hệ số tin cậy của trắc nghiệm Phương pháp này rất tốn kém và khó thiết
kế một trắc nghiệm có nhiều form hoàn toàn tương đương
+ Nhóm phương pháp phân đôi số item của trắc nghiệm:
Thường dùng để đánh giá độ tin cậy của một bài trắc nghiệm khi takhông có điều kiện đo trắc nghiệm hai lần trên cùng một đối tượng và cũngkhông thiết kế được các trắc nghiệm tương đương, là phương pháp phân đôi sốitem của trắc nghiệm thành hai phần (thường chia theo số chẵn và số lẻ) rồi sosánh tương quan điểm giữa hai nửa trắc nhiệm Đây gọi là phương pháp tính độtin cậy phân đôi trắc nghiệm Về lý thuyết, hai nửa trắc nghiệm có thể đượcxem là hai form tương đương của cùng một trắc nghiệm Do vậy tương quanđiểm số của hai nửa này được xem là hệ số tin cậy của trắc nghiệm
+ Nhóm phương pháp đánh giá độ phù hợp của từng item:
Thường dùng để đánh giá độ tin cậy của trắc nghiệm là các phương phápđánh giá độ phù hợp của từng item sử dụng mô hình hệ số tương quan alpha
Trang 35(Cronbach’s oeficient Alpha) Mô hình này đánh giá độ tin cậy của phép đodựa trên sự tính toán phương sai của từng item trong toàn phép đo và tínhtương quan điểm của từng item với điểm của tổng các item còn lại của phép đo.Phương pháp này thích hợp với các loại trắc nghiệm được thiết kế với điểm sốtheo thang định khoảng hay thang tỷ lệ
(ii) Độ giá trị của đề trắc nghiệm
Yêu cầu quan trọng nhất của bài trắc nghiệm với tư cách là một phép đolường trong giáo dục là nó đo được cái cần đo Phép đo bởi bài trắc nghiệm đạtđược mục tiêu đó là phép đo có giá trị Nói cách khác, độ giá trị của bài trắcnghiệm là đại lượng biểu thị mức độ đạt được mục tiêu đề ra cho phép đo nhờbài trắc nghiệm
Để bài trắc nghiệm có độ giá trị cao, cần xác định tỉ mỉ mục tiêu cần đoqua bài trắc nghiệm và bám sát mục tiêu đó trong quá trình xây dựng ngânhàng câu hỏi trắc nghiệm cũng như tổ chức triển khai kỳ thi Nếu thực hiệnkhông đúng thì sẽ có khả năng kết quả của phép đo sẽ phản ánh một cái gì khácchứ không phải cái mà chúng ta muốn đo nhờ bài trắc nghiệm
Một trong những phương pháp xác định độ giá trị của kỳ thi là tính xemkết quả của kỳ thi đó trên một nhóm thí sinh có tương quan chặt chẽ tới kết quảhọc tập ở bậc cao hơn của nhóm thí sinh đó hay không?
Độ giá trị của bài trắc nghiệm thường được phân loại thành các loạisau đây:
+ Độ giá trị tiên đoán: một bài trắc nghiệm dùng để xét tuyển thường cógiá trị tiên đoán, tức là điểm số của nó tương đối tốt với một bài trắc nghiệmđánh giá hoặc các tiêu chí để đánh giá theo mục tiêu
+ Độ giá trị tiêu chuẩn: là những so sánh tương quan của trắc nghiệm vớimột trắc nghiệm chuẩn tương đương đã có sẵn
Trang 36+ Độ giá trị cấu trúc: liên quan đến các loại trí năng và mức kỹ năng cần
đo theo các mục tiêu cụ thể của môn học
+ Độ giá trị nội dung: phản ánh đầy đủ các mục tiêu xác định cho mônhọc, bao trùm đầy đủ nội dung của môn học Để xác định độ giá trị về nội dungkhông chỉ dựa vào các tính toán thống kê như độ giá trị tiên đoán, mà phảiphân tích tỷ mỷ bài trắc nghiệm đối chiếu với mục tiêu và nội dung môn học[14], [17]
1.3.3.3 Ưu và nhược điểm của phương pháp trắc nghiệm khách quan
- Ưu điểm nội bật nhất của phương pháp TNKQ là tính khách quan Đề
có sẵn đáp án cụ thể, việc chấm bài hoàn toàn khách quan, chính xác, khôngphụ thuộc chủ quan vào người chấm, nhất là chấm bằng máy
- Tăng tính thuận tiện cho việc kiểm tra – đánh giá kết quả học tập củahọc sinh
+ Tổ chức kiểm tra gọn nhẹ, không nặng nề, căng thẳng về tâm lý
+ Việc chấm bài không mất nhiều thời gian và chính xác
- Có ảnh hưởng tích cực đến thái độ đến thái độ học tập và ý thức làmbài kiểm tra của học sinh như:
Trang 37+ Nội dung đề thi bao quát nội dung cơ bản của một môn học, mộtchương trình học, do đó sẽ giảm được học tủ, học lệch của học sinh trong quátrình học và ôn tập.
+ Đề thi có số lượng nhiều câu hỏi, nội dung phù hợp các mục tiêu đãđược xác định, đòi hỏi học sinh phải học tập thực sự, hiểu thực sự, đồng thờiphải huy động vốn tri thức giải quyết linh hoạt các nhiệm vụ của thực tiễn giáodục, do đó khó có điều kiện gian lận trong khi làm bài
- Có thể áp dụng được công nghệ mới trong việc nâng cao chất lượng kìthi, hạn chế tiêu cực trong chấm bài và giúp phân tích kết quả thi
b Nhược điểm
- Cấu tạo đề gồm nhiều câu hỏi, việc tạo lên mỗi câu hỏi đòi hỏi sự chínhxác và khéo léo, do đó để hình thành một đề thi TNKQ cần nhiều thời gian, nêncho thử nghiệm trước khi đưa ra áp dụng đại trà
- Đề thi TNKQ không đánh giá được khả năng diễn đạt, đặc biệt là diễnđạt tư duy hình tượng của học sinh
- Sử dụng TNKQ không thể đánh giá được lĩnh vực nhỏ một cáchsâu sắc
Qua những điều đã tìm hiểu có thể thấy rằng cần nắm vững bản chất vàcông nghệ triển khai cụ thể phương pháp để có thể sử dụng phương pháp đúnglúc, đúng chỗ Trong nội dung bài kiểm tra nên sử dụng nhiều phương phápkhác nhau Sử dụng TNKQ phối hợp cùng với các phương pháp kiểm tra –đánh giá khác trên cùng một bài kiểm tra hay một bài thi… sẽ mang lại nhiềuhiệu quả và phát huy hết được các mặt mạnh của từng phương pháp
1.3.3.4 Quy trình xây dựng câu trắc nghiệm khách quan
Theo tài liệu hướng dẫn viết câu trắc nghiệm của IIEP [25] đưa ra quytrình viết, lựa chọn câu trắc nghiệm rất phức tạp gồm các bước sau:
- Xây dựng bảng thiết kế của bài trắc nghiệm
Trang 38- Xây dựng ma trận chi tiết cấu trúc bài trắc nghiệm: Nội dung, thangmức độ năng lực nhận thức.
- Xác định hình thức trình bày và các lời chỉ dẫn trong bài trắc nghiệm
- Xác định loại hình và định dạng câu hỏi trắc nghiệm phù hợp với mụctiêu cụ thể của việc kiểm tra
- Viết hoặc thu thập các câu trắc nghiệm theo yêu cầu đã xác định
- Phản biện, điều chỉnh những câu trắc nghiệm đã viết/chọn bằngphương pháp chuyên gia
- Biên tập ngôn ngữ
- Chuẩn bị lên khuôn bài trắc nghiệm hoàn chỉnh
- Thử nghiệm câu trắc nghiệm
- Phân tích kết quả thử nghiệm
- Biên tập chính thức dựa trên kết quả thử nghiệm
- Đánh giá chất chượng bài trắc nghiệm sau khi sử dụng
- Tập huấn cho giáo viên
Dựa trên cơ sở lý luận của quy trình kiểm tra – đánh giá kết quả học tậpnói chung, qua nghiên cứu các tài liệu về lý luận TNKQ, các đề tài về vấn đềxây dựng và sử dụng câu TNKQ [2], [10], [21], để đảm báo tính thực tiễn đề tàinày đề xuất quy trình gồm các bước sau:
a Bước 1: Xác định các mục tiêu cần đánh giá
Mục đích của bước này là xác định đúng đắn các mục tiêu làm cơ sở choviệc xây dựng câu trắc nghiệm Khi biên soạn câu hỏi cần căn cứ vào mục tiêu,yêu cầu cụ thể của việc kiểm tra, căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng củachương trình và thực tế học tập của học sinh để xây dựng mục tiêu đánh giácho phù hợp gồm:
Trang 39Thứ bậc
LOẠI MỤC TIÊU
Mục tiêu kiến thức (nhận thức)
Mục tiêu kỹ năng (hành động)
Mục tiêu thái độ (tình cảm)
1
Biết, nhận biết, nhớ: Kể
tên, liệt kê, mô tả, phát
biểu, tái hiện lại được
đối tượng.
Bắt chước, làm theo: Lặp lại
được hành động qua quan sát, hướng dẫn trực tiếp.
Định hướng, tiếp nhận:
Chú ý, quan tâm có chủ định đến đối tượng.
2
Hiểu, thông hiểu: Hiểu,
giải thích, minh hoạ, nhận
biết, phán đoán về đối
tượng bằng ngôn ngữ của
Tổ chức, Chuyển hoá:
chấp nhận giá trị, đưa nó vào hệ thống giá trị của bản thân, bảo vệ.
5
Tổng hợp: Tóm tắt, kết
luận, giải quyết, hình
thành nên đối tượng hoàn
chỉnh.
Thành thạo, kĩ xảo: Chuyển
tiếp linh hoạt các hành động, giảm thiểu sự tham gia của ý thức, tự động hoá.
b Bước 2: Phân tích nội dung để xây dựng bảng trọng số
* Phân tích nội dung môn học:
Việc phân tích nội dung môn học gồm 4 công việc chính:
+ Tìm những ý tưởng chính yếu của môn học Ví dụ: các nguyên lý, cácmối liên hệ, các điều khái quát hóa…
+ Lựa chọn từ, nhóm từ, kí hiệu mà học sinh phải giải nghĩa được Họcsinh cần hiểu rõ khái niệm và mỗi liên hệ giữa các khái niệm
Trang 40+ Phân loại thông tin trình bày trong môn học thành 2 hạng: hạng thôngtin nhằm mục đích giải nghĩa hay minh họa và những khái niệm quan trọng củamôn học.
+ Lựa chọn một số thông tin và ý tưởng đòi hỏi học sinh phải có khảnăng ứng dụng những điều đã biết để giải quyết trong những tình huống mới
* Xây dựng bảng trọng số
Bảng 1.1: Mẫu bảng trọng số Thứ
Trọng số (%)
c Bước 3: Viết câu trắc nghiệm
Lựa chọn dạng câu hỏi trắc nghiệm ứng với mỗi nội dung kiến thức saocho phù hợp với mục tiêu đề ra
Phải đảm bảo các nguyên tắc chung khi viết câu TNKQ
d Bước 4: Thực nghiệm, kiểm định các câu hỏi
- Sau khi soạn xong các câu trắc nghiệm cần lấy ý kiến của các chuyêngia bộ môn, mục đích phát hiện ra những câu chưa đảm bảo về mặt kiến thức…nhằm chỉnh lý, hoàn thiện câu trắc nghiệm
- Tiến hành thử nghiệm trên lớp