BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘINGUYỄN THU HƯƠNG XÂY DỰNG BỘ TƯ LIỆU HỖ TRỢ DẠY HỌC CÁC BÀI HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG CHƯƠNG TRÌNHTHPT Chuyên ngành: Lí luận và phươn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THU HƯƠNG
XÂY DỰNG BỘ TƯ LIỆU HỖ TRỢ DẠY HỌC
CÁC BÀI HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN
TRONG CHƯƠNG TRÌNHTHPT
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Thị Lan
HÀ NỘI, NĂM 2014
Trang 2là TS Trịnh Thị Lan, người hướng dẫn khoa học trực tiếp.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới
TS Trịnh Thị Lan cùng tập thể các thầy cô trong khoa Ngữ văn đã giúp tôihoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin gởi lời tri ân tới gia đình, bạn bè là những người đãđộng viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua để tôi có thể hoàn thành tốtluận văn này
Hà Nội, ngày 5 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thu Hương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sựhướng dẫn và giúp đỡ của TS Trịnh Thị Lan
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của cá nhân mình trongcông trình này
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 CNTT : Công nghệ thông tin
2 GV : Giáo viên
3 HS : Học sinh
4 Nxb : Nhà xuất bản
5 PPDH : Phương pháp dạy học
6 PTDH : Phương tiện dạy học
7 PGS TS : Phó giáo sư, tiến sĩ
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Giả thuyết khoa học 13
7 Đóng góp của luận văn 13
NỘI DUNG 14
CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG BỘ TƯ LIỆU HỖ TRỢ DẠY HỌC CÁC BÀI HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG CHƯƠNG TRÌNH THPT 14
1.1 Cơ sở lý luận 14
1.1.1 Quá trình dạy học ở nhà trường và vấn đề đổi mới
phương pháp dạy học… 14
1.1.2 Phương tiện dạy học và việc đổi mới phương tiện dạy học 29
1.1.3 Đặc điểm tâm lý và khả năng nhận thức của học sinh THPT 34
1.1.4 Bộ tư liệu hỗ trợ dạy học các bài học văn học dân gian trong
chương trình THPT và vai trò của nó trong quá trình dạy học 37
1.2 Cơ sở thực tiễn 39
1.2.1 Cấu trúc chương trình và sự phân bổ thời lượng cho các bài học
văn học dân gian trong chương trình THPT 39
1.2.2 Vai trò của các bài văn học dân gian đối với sự phát triển
toàn diện của học sinh THPT 42
1.2.3 Thực trạng dạy học văn học dân gian ở trường THPT hiện nay 44
Tiểu kết chương I 50
Trang 6CHƯƠNG II TỔ CHỨC XÂY DỰNG BỘ TƯ LIỆU HỖ TRỢ
DẠY HỌC CÁC BÀI HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN 51
2.1 Một số nguyên tắc cơ bản khi xây dựng Bộ tư liệu hỗ trợ dạy học các bài học văn học dân gian trong chương trình THPT 51
2.1.1 Tư liệu được tập hợp phải phù hợp với chương trình,
nội dung SGK… 51
2.1.2 Tư liệu phải phù hợp với đối tượng học sinh THPT 52
2.1.3 Tư liệu cần đảm bảo tính trực quan, thẩm mĩ 53
2.1.4 Tư liệu phải đảm bảo tính linh hoạt, hiệu quả và hữu dụng 54
2.1.5 Tư liệu phải đảm bảo đặc trưng của môn Ngữ văn 54
2.2 Giới thiệu chung về phần mềm đóng gói Microsoft
Expression Web… 55
2.3 Quy trình xây dựng Bộ tư liệu hỗ trợ dạy học các
bài học văn học dân gian trong chương trình THPT 58
2.3.1 Giai đoạn chuẩn bị 58
2.3.2 Giai đoạn sưu tầm, biên tập, tổ chức tư liệu 64
2.3.3 Giai đoạn chỉnh sửa, đóng gói Bộ tư liệu hỗ trợ dạy học các bài học văn học dân gian trong chương trình THPT bằng phần mềm Microsoft Expression Web 69
2.4 Vận dụng quy trình vào xây dựng bộ tư liệu cho một số bài học văn học dân gian 71
2.4.1 Bộ SGK Ngữ văn 10 cơ bản: Chiến thắng Mtao Mxây 71
2.4.2 Bộ SGK Ngữ văn 10 nâng cao: Tấm Cám, đọc thêm Chử Đồng Tử 76 2.5 Kết quả xây dựng Bộ tư liệu hỗ trợ dạy học các bài học văn học dân gian trong chương trình THPT 84
2.5.1 Giới thiệu sản phẩm Bộ tư liệu hỗ trợ dạy học các bài học văn học dân gian trong chương trình THPT 84
Trang 72.5.2 Hướng dẫn sử dụng bộ tư liệu 85
2.6 Một số định hướng sử dụng tư liệu trong bộ tư liệu vào hoạt động dạy học cụ thể 88
2.6.1 Định hướng chung cho giáo viên và học sinh 88
2.6.2 Định hướng sử dụng tư liệu cho giáo viên 91
2.6.3 Định hướng sử dụng tư liệu cho học sinh 95
Tiểu kết chương II 99
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 101
3.1 Mục đích, nhiệm vụ và nguyên tắc thực nghiệm 101
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 101
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 101
3.1.3 Nguyên tắc thực hiện 101
3.2 Tổ chức thực nghiệm 102
3.2.1 Thời gian thực nghiệm 102
3.2.2 Chọn trường, lớp để thực nghiệm 102
3.2.3 Chọn bài thực nghiệm 103
3.2.4 Nội dung và cách thức tiến hành thực nghiệm 104
3 3 Kết quả thực nghiệm 108
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 110
3.5 Kết luận về việc thực nghiệm 117
Tiểu kết chương III 118
KẾT LUẬN 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Sự cần thiết phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam
Đất nước ổn định về chính trị, thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong
nhiều năm qua, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020 với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, cùng với Chiến lược
và quy hoạch phát triển nhân lực giai đoạn 2011 – 2020 là những tiền đề cơ
bản để thực hiện đổi mới căn bản nền giáo dục Việt Nam
Yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đặc biệt làyêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu và cơ cấu lạinền kinh tế theo hướng chất lượng và hiệu quả đòi hỏi giáo dục phải đáp ứngnhu cầu học đa dạng của người dân, nhanh chóng góp phần tạo ra đội ngũnhân lực chất lượng cao Nếu không đổi mới nền giáo dục thì nhân lực sẽ lànhân tố cản trở cho sự phát triển đất nước
Nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sựphát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và sựcạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dụcphải đổi mới Thực chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh
về nguồn nhân lực và về khoa học và công nghệ Xu hướng chung của thếgiới khi bước vào thế kỉ XXI là các nước tiến hành đổi mới mạnh mẽ hay cảicách nền giáo dục
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế và phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân”.
Trang 9Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục sẽ tạo ra bước chuyển biếnmạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng ngày càng tốthơn yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhu cầu họctập của nhân dân.
1.2 Môn Ngữ văn trong nhà trường đang đứng trước những yêu cầu đổi mới của xã hội
Ngữ văn là một môn khoa học xã hội và nhân văn có nhiệm vụ cungcấp cho học sinh những kiến thức về Tiếng Việt, Văn học và Làm văn MônNgữ văn còn là môn học công cụ hướng tới hình thành và phát triển năng lực
tư duy và ngôn ngữ, cũng là môn học thể hiện rõ chức năng giáo dục thẩm mĩ.Bởi vậy, môn Ngữ văn có vị trí và vai trò quan trọng trong nhà trường vàcuộc sống
Tuy nhiên trong những năm gần đây, trường học đang có hiện tượngmột số lượng không ít học sinh “quay lưng” chán học môn Ngữ văn Điều này
có thể là do yếu tố khách quan như cơ chế thị trường, do nhận thức lệch lạccủa gia đình, của không ít người trong xã hội về vị trí của các môn khoa học
xã hội nói chung, của môn Ngữ văn nói riêng; có thể do những yếu tố chủquan như chương trình, năng lực giáo viên, phương pháp dạy học, những nhucầu mới của học sinh…
PGS.TS Đỗ Ngọc Thống đã cho rằng: Xuất phát từ những yêu cầu củađất nước trong giai đoạn mới với xu thế hiện đại hóa và hội nhập quốc tế,môn Ngữ văn đang đứng trước những yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện Vềchương trình và sách giáo khoa, chương trình sẽ đổi mới theo định hướngphát triển năng lực của học sinh, sẽ đề cao mục tiêu hình thành và phát triểnnăng lực giao tiếp, cụ thể là nghe - nói - đọc - viết sau đó mới phát triển các kĩnăng khác Chương trình dạy học Ngữ văn sẽ được thiết kế theo một thể
Trang 10thống nhất ở tất cả các cấp học nhằm phân chia nội dung và mức độ phù hợpvới học sinh.
Theo xu thế hiện nay, Bộ Giáo dục sẽ biên soạn sách giáo khoa theohướng mở Thay vì yêu cầu giáo viên, học sinh phải học theo một bộ sáchgiáo khoa, Bộ sẽ cho phép sử dụng nhiều bộ sách, tài liệu khác nhau, miễn là
bộ sách thể hiện, tuân thủ chương trình quốc gia Nội dung và cấu trúc sáchgiáo khoa Ngữ văn sẽ đổi mới theo hướng tăng cường việc nêu vấn đề, hiệntượng, gợi mở cách giải quyết và yêu cầu học sinh vận dụng tìm cách giảiquyết và cách học cho riêng mình
Chuyển từ chương trình tập trung vào mục tiêu nhận thức là chính sangchương trình nhằm phát triển năng lực cho người học, môn học Ngữ văn đanghiện thực hóa mạnh mẽ việc chuyển từ phương pháp giảng văn sang phươngpháp dạy đọc - hiểu, hình thành năng lực tự học, tự đọc cho học sinh Đồngthời, môn Ngữ văn cũng đang tích cực đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kếtquả học tập của học sinh theo hướng dân chủ và khuyến khích sự sáng tạo
1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin là điều cần thiết trong việc dạy học môn Ngữ văn hiện nay
Thế giới hôm nay đang chứng kiến những đổi thay nhanh chóng và lớnlao trong mọi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nhờ những thành tựu củacông nghệ thông tin và truyền thông (Information and CommunicationTechnology - ICT) Công nghệ thông tin và truyền thông đã góp phần quantrọng cho việc tạo ra những nhân tố năng động mới cho quá trình hình thànhnền kinh tế tri thức
Về đổi mới phương pháp dạy học, nghị quyết TW 4 khóa VII và nghị
quyết TW 2 khóa VIII đã nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng những phương pháp tiên tiến và
Trang 11phương tiện vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh” Trong đổi mới giáo dục trung học phổ thông, phương tiện dạy học tiếp tục giữ vai trò quan trọng: “Phương tiện dạy học không dừng lại ở mức minh họa nội dung dạy học mà phải trở thành công cụ nhận thức, là một bộ phận hữu cơ của cả phương pháp và nội dung dạy học”.
Để đem lại niềm yêu thích, say mê của học sinh với môn Ngữ văn hiệnnay, việc dạy học cần có những giờ học sáng tạo, linh hoạt và hiện đại đápứng với mục tiêu đổi mới và phù hợp với thời đại
Việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn theo hướng vậndụng công nghệ thông tin (IT) và các thiết bị dạy học hiện đại đã đem lạikhông khí và tín hiệu đáng mừng cho việc dạy và học Tuy nhiên, cố giáo sư
Phan Trọng Luận từng phân tích: “Văn chương là địa hạt của cảm xúc, của rung động thẩm mĩ Tác phẩm văn chương là sản phẩm độc đáo của cá nhân trong những tâm trạng và cảm hứng rất riêng tư” bởi vậy việc ứng dụng công
nghệ thông tin vào dạy học Ngữ văn cần thận trọng [28, 45] Điều này có thểđược hiểu là giáo viên không được lạm dụng công nghệ thông tin khiến giờhọc trở nên cứng nhắc, máy móc, làm mất đi vẻ đẹp vốn có của môn Ngữ văn
Họ cần nâng cao năng lực chuyên môn và khả năng ứng dụng công nghệthông tin như một dạng công cụ trợ giúp bài giảng Ngữ văn vừa hiện đại vừa
có thể đạt được tốt hơn các giá trị Chân - Thiện - Mĩ
Nếu được vận dụng phù hợp, linh hoạt, có mức độ, đảm bảo tính nghệthuật và tính sư phạm thì phuơng tiện dạy học hiện đại sẽ là công cụ đắc lựcgiúp giáo viên và học sinh đạt mục tiêu bài học Ngữ văn một cách sinh động,hiệu quả Hiện nay, với sự thay đổi mạnh mẽ từ phía người học, nhiều yêu cầuđặt ra đối với năng lực người thầy; trong những năng lực cần thiết ấy, có nănglực ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng phương tiện dạy học hiện đạitrong giờ dạy học
Trang 121.4 Tư liệu dạy học có vai trò quan trọng trong dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học văn học dân gian nói riêng
Trong dạy học hiện đại, mỗi giờ học bao giờ cũng có một nguồn tàinguyên (resources) đi kèm hỗ trợ Theo đó, tư liệu dạy học trở thành mộtphần quan trọng trong nhiều khâu của quá trình dạy học của giáo viên và họcsinh ở trường phổ thông
Trong thực tiễn, tư liệu dạy học rất phong phú và đa dạng Việc lựachọn và sử dụng tư liệu sao cho hợp lí, linh hoạt và sáng tạo không phải làmột việc đơn giản Hơn nữa, tư liệu trong sách giáo khoa và tài liệu thamkhảo đa phần mới dừng lại ở kênh chữ và kênh hình mà chưa có kênh tiếng.Việc đa dạng hóa các kênh thông tin tư liệu một cách chọn lọc và khoa học sẽgóp phần đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
Văn học dân gian là một phần quan trọng trong chương trình Ngữ vănTHPT Học các bài học phần văn học dân gian sẽ giúp cho học sinh lĩnh hộiđược nhiều kiến thức, bồi dưỡng nhân cách và phát triển năng lực Tuy nhiên,thời điểm ra đời của các tác phẩm văn học dân gian có khoảng cách khá xa sovới thời điểm hiện tại của xã hội hiện đại Khoảng cách thời gian và khoảngcách nhận thức cũng tạo nên sự khó khăn khi học sinh tiếp nhận các tác phẩmcủa văn học dân gian Hơn nữa, các bài học văn học dân gian không có trongchương trình thi cử nên khó tránh khỏi tâm lý học sinh chưa thực sự thích thú
và quan tâm sâu sắc Nhằm kích thích sự tìm tòi, khám phá cái hay, cái đẹptrong các bài học phần văn học dân gian trong chương trình THPT thiết nghĩviệc xây dựng bộ tư liệu về phần học này là cần thiết và quan trọng
Bản thân là một người giáo viên yêu thích, ham muốn tìm tòi đối vớicác tác phẩm văn học dân gian, ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại nên tácgiả luận văn luôn mong muốn thu thập, xây dựng một bộ tư liệu hỗ trợ dạyhọc các bài học văn học dân gian Bộ tư liệu hi vọng sẽ góp phần truyền tải
Trang 13cái hay, cái đẹp của văn học dân gian giúp cho học sinh thêm yêu thích phầnvăn học này cùng với một niềm tự hào về chính dân tộc mình.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: Xây dựng bộ tư liệu hỗ trợ dạy học các bài học văn học dân gian trong chương trình THPT
với mục đích cung cấp cho giáo viên nguồn tư liệu đáng tin cậy, hệ thống vàhiện đại để phục vụ cho quá trình dạy học góp phần đổi mới giáo dục và nângcao chất lượng dạy và học trong nhà trường hiện nay
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, người ta đã xuất bản nhiều cuốnsách, tài liệu mang tính chất truyện kể, giải đáp, từ điển bằng tranh… với mụcđích là nguồn tư liệu quý báu cho giáo viên và học sinh có thể tham khảotrong quá trình dạy học ở tất cả các môn khoa học
Cũng như các môn khác, Ngữ văn rất cần các tư liệu cần thiết hỗ trợviệc dạy học Nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục đã sưu tầm và xây dựngnhững bộ sách tư liệu có giá trị
Trước hết, chúng ta phải kể đến bộ sách Tư liệu Ngữ văn gồm ba cuốn:
lớp 10, lớp 11 và lớp 12 với nội dung rất thiết thực Cụ thể:
Cuốn Tư liệu Ngữ văn lớp 10, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, năm
2010 của nhóm tác giả Lã Nhâm Thìn, Bùi Minh Toán (Chủ biên), LêNguyên Cẩn, Đỗ Kim Hồi, Lê Thái Hoa, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Phạm ThuYến
Cuốn Tư liệu Ngữ văn lớp 11, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, năm
2010 của nhóm tác giả Đỗ Kim Hồi, Bùi Minh Toán (Chủ biên), Lê NguyênCẩn, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Nguyễn Thị Ngọc Khanh
Cuốn Tư liệu Ngữ văn lớp 12, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, năm
2010 của nhóm tác giả Lê Nguyên Cẩn, Đỗ Kim Hồi, Nguyễn Thị NgọcKhanh, Nguyễn Thị Nương, Bùi Minh Toán
Trang 14Mỗi cuốn sách về cơ bản gồm ba phần tương đương với ba phân mônVăn học, Tiếng Việt và Làm văn Nội dung tư liệu trong các cuốn sách đảmbảo chương trình mở rộng vừa nâng cao kiến thức cho người học Cuốn sáchcung cấp tư liệu và gợi ý sử dụng tư liệu thông qua những định hướng cơ bản.
Cuốn Tư liệu Ngữ văn 10 phần văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, năm
2008, của Đoàn Thị Thu Vân (Chủ biên), Nguyễn Thị Ngọc Điệp, Đoàn LêGiang là cuốn sách cung cấp tư liệu để GV, HS đi sâu vào khám phá nhữnggiá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Sách gồm ba phần là văn học dângian, văn học trung đại và văn học nước ngoài Mỗi phần có các đơn vị bàitương ứng các bài trong SGK Ngữ văn 10
Cuốn Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 10 (nâng cao), Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam, năm 2009, của nhóm tác giả Nguyễn Khắc Phi (Chủbiên), Nguyễn Xuân Đức, Nguyễn Bích Hà, Chu Văn Sơn, Nguyễn Hữu Sơn,Lương Duy Trung, Lưu Đức Trung Các tác giả đã phân tích, bình giảng vănbản ở những mức độ nông, sâu khác nhau giúp học sinh nâng cao năng lựcđọc – hiểu văn bản và một số khái niệm cần thiết
Cuốn sách Phân tích tác phẩm văn học dân gian trong nhà trường của
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam của tác giả Bùi Mạnh Nhị (Chủ biên) Đâykhông phải là giáo án, cũng không phải là sách hướng dẫn giảng dạy, học tập,
mà là những gợi ý tìm hiểu, phân tích các vấn đề cơ bản trong các tác phẩm,giúp các bạn giáo viên, các em học sinh hiểu thêm các tác phẩm để từ đó tiếptục mở rộng, đào sâu suy nghĩ, chọn lọc vấn đề, sáng tạo ra những phươngpháp và hình thức giảng dạy, học tập, đọc - hiểu thích hợp trong từng bài
Cuốn sách gồm ba phần:
Phần I: Phân tích tác phẩm văn học dân gian trong chương trình Ngữvăn phổ thông hiện hành
Trang 15Phần II: Phân tích tác phẩm văn học dân gian trong chương trình Trunghọc phổ thông trước đây.
Phần III: Một số bài viết khác của tác giả về văn học dân gian
Cuốn sách Bình giảng truyện dân gian, Nhà xuất bản Giáo dục (2001)
của Hoàng Tiến Tựu là công trình nghiên cứu thuận lợi, khó khăn xung quanhcông việc bình giảng truyện dân gian và bình giảng một số truyện tiêu biểu.Cuốn sách giúp cho giáo viên và học sinh có những định hướng cảm thụ bướcđầu các truyện dân gian tiêu biểu
Cuốn sách gồm hai phần:
Phần I: Xung quanh công việc bình giảng truyện dân gian
Phần II: Bình giảng một số truyện dân gian tiêu biểu
Ở các cuốn sách thiết kế bài học và bài giảng:
Cuốn sách Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10, năm 2009, Nhà xuất bản Hà
Nội của Nguyễn Văn Đường (Chủ biên), đã bám sát chương trình, hệ thốnghóa, cụ thể hóa sách giáo khoa và sách giáo viên thành hệ thống hoạt độngdạy học chi tiết, là một tài liệu khá bổ ích cho giáo viên để tham khảo về phầnvăn học dân gian
Chúng tôi cũng tham khảo một số luận văn của học viên cao học trườngĐại học Sư phạm Hà Nội về sưu tầm sử dụng tài liệu như:
- Sử dụng tài liệu khai thác trên mạng Internet để dạy học lịch sử ở
trường THPT của tác giả Đoàn Thị Kiều Oanh.
- Sưu tầm và sử dụng tư liệu hỗ trợ dạy học chương 2 – Chăn nuôi thủy sản đại cương, Công nghệ 10 THPT của tác giả Nguyễn Tất Thắng.
- Thiết kế sử dựng tư liệu điện tử trong dạy học Hóa học 10 của tác giả
Hoàng Thái Hậu
Trang 16- Xây dựng và sử dụng bộ tư liệu hỗ trợ dạy học Sinh học lớp 10 THPT theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh của tác giả Trần
Khánh Ngọc
- Xây dựng và sử dụng tư liệu điện tử phần Hiđrocacbon góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực trong dạy học hóa học 11 nâng cao ở THPT của tác giả Nguyễn Thị Thu.
- Xây dựng bộ tư liệu hỗ trợ dạy học các bài văn học nước ngoài trong chương trình THPT của tác giả Vũ Hải Ninh.
- Xây dựng bộ tư liệu hỗ trợ dạy học phần Địa lý 10 THPT theo hướng tích cực hóa học tập của học sinh của tác giả Nguyễn Thị Nga.
Có thể thấy đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tư liệu dạyhọc ở THPT nhưng chủ yếu tập chung ở các môn Địa lí, Sinh học, Hóa học,Lịch sử… Riêng môn Ngữ văn đã có luận văn nghiên cứu về vấn đề nàynhưng ở mảng văn học nước ngoài còn phần văn học dân gian Việt Namtrong chương trình THPT vẫn còn để ngỏ
Những thay đổi của cuộc sống đã dẫn đến những thay đổi phù hợp củaviệc dạy học nhằm bắt nhịp với thời đại Rất nhiều giáo viên đã sử dụngnhững phương tiện nghe nhìn, những phim ảnh sinh động cho bài giảng củamình, thậm chí họ cũng đưa giáo án lên mạng Internet để có thể chia sẻ vớimọi người trao đổi với các đồng nghiệp khác Đã có nhiều website phục vụcông tác giảng dạy, trong đó phải kể đến hai trang web cung cấp trực tiếp tưliệu cho tất cả các môn học của tất cả các cấp học trong hệ thống giáo dụcViệt Nam là:
1 Tulieu.violet.vn của Công ty Cổ phần Tin học Bạch Kim.
Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy tư liệu trong đó sắp xếp khá lộn xộn, chưađúng với thẻ quy định, người đưa tư liệu khá tùy tiện nên khó quản lý và tìm
Trang 17kiếm đồng thời các tư liệu này chưa qua kiểm định nên chỉ mang tính thamkhảo tự do.
2 Vnschool.net của Công ty Công nghệ tin học nhà trường.
Trang web này tập trung cung cấp các tư liệu cho môn khoa học tựnhiên ở THPT
Các trang web liên quan tới văn chương nằm rải rác hoặc nếu có thìnguồn tư liệu về văn học dân gian còn khá nghèo nàn
Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học môn Ngữ văn là cầnthiết nếu sử dụng có liều lượng và phù hợp thì chúng ta vẫn bám sát được đặctrưng bộ môn vừa góp phần đổi mới phương pháp dạy học Từ đó, giáo viên
có thể có những bài giảng hay, sinh động và mạch lạc hơn còn học sinh thấy
hứng thú sẽ càng tích cực, chủ động kiến tạo kiến thức cho mình Việc Xây dựng bộ tư liệu hỗ trợ dạy học các bài học văn học dân gian trong chương trình THPT sẽ là một thử nghiệm mới mẻ, góp phần làm phong phú hơn các
tài liệu học tập môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng bộ tư liệu hỗ trợ dạy học phần VHDG trong chương trìnhTHPT, đóng gói sản phẩm và hướng dẫn giáo viên, học sinh sử dụng hiệuquả Bộ tư liệu này sẽ là một công cụ hỗ trợ đắc lực phục vụ quá trình dạy họcphần văn học dân gian, góp phần đổi mới PPDH theo hướng ứng dụng CNTTvào dạy học
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc Xây dựng bộ tư liệu hỗ trợ dạy học các bài học văn học dân gian trong chương trình THPT.
Trang 18- Nghiên cứu nội dung và mục tiêu dạy học cho từng bài học cụ thểphần văn học dân gian trong chương trình THPT để có cơ sở tiến hành cáctìm kiếm và lựa chọn các tư liệu cho phù hợp.
- Tập hợp các tư liệu dạy học có liên quan với các bài học văn học dângian trong chương trình THPT nhằm giúp giáo viên có một nguồn tài nguyênphong phú phục vụ cho việc tìm kiếm, sử dụng cho các bài học văn học dângian
- Xây dựng quy trình hoàn thiện và hướng dẫn sử dụng bộ tư liệu
- Tổ chức khảo sát, thực nghiệm để kiểm tra đánh giá tính khả thi của
bộ tư liệu trong dạy học ở một số trường THPT
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc xây dựng và sử dụng tư liệu thuộc các dạng: kênh chữ, kênh hình,kênh tiếng… hỗ trợ dạy học phần văn học dân gian ở THPT
- Kênh chữ: hệ thống văn bản tư liệu, bài tập tham khảo
- Kênh hình: hệ thống tranh ảnh, ảnh động, phim…
- Kênh tiếng: các file âm thanh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Các văn bản văn học dân gian Việt Nam trong chương trình THPT(bao gồm cả chương trình cơ bản và chương trình nâng cao)
- Các kiến thức, tài liệu có liên quan đến các bài học văn học dân gian
ở THPT qua sách báo, tài liệu tham khảo, qua mạng Internet và các phầnmềm sẵn có
- Các tài liệu về phần mềm sử dụng để đóng gói và khả năng ứng dụng
phần mềm này để thiết kế Bộ tư liệu hỗ trợ dạy học các bài học văn học dân gian trong chương trình THPT.
Trang 195 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu tổng hợp tài liệu
- Với các tài liệu lí luận, chúng tôi nghiên cứu các tác phẩm khoa học,các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài từ đó tiếp thu một cách chọnlọc các vấn đề để phục vụ cho việc hoàn thiện luận văn
- Qua cấu trúc và thời lượng chương trình văn học dân gian trong SGKTHPT, kết hợp với việc phỏng vấn, phát phiếu điều tra đối với giáo viên vàhọc sinh, chúng tôi tìm hiểu thực trạng cụ thể của việc dạy và học, cũng nhưquan niệm, nhu cầu và việc sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại đối vớiphần văn học dân gian
- Khi có kết quả, chúng tôi tiến hành tổng hợp, thu thập và xử lý tàiliệu, tìm ra những nội dung trọng tâm phục vụ đề tài
- Chúng tôi phỏng vấn họ về quan niệm, những thuận lợi và khó khăn
cơ bản về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giờ học Ngữ văn và khảosát nhu cầu về sử dụng phương tiện dạy học hiện đại
- Chúng tôi tiến hành thực nghiệm bằng cách cung cấp đĩa DVD bộ tưliệu cho một số giáo viên các trường THPT Các giáo viên sẽ tham khảo, đánhgiá và phản hồi lại bằng một bảng hỏi của chúng tôi về sự hữu ích, tính hứng
thú và hiệu quả của việc sử dụng các tư liệu trong Bộ tư liệu hỗ trợ dạy học
Trang 20các bài học văn học dân gian trong chương trình THPT Chúng tôi dự giờ,
trao đổi ý kiến với giáo viên, chấm các bài tập của HS Cuối cùng từ kết quảtrên, chúng tôi tiến hành phân tích, đánh giá và điều chỉnh để rút ra những kếtluận cần thiết cho đề tài
6 Giả thuyết khoa học
Tư liệu là nguồn thông tin cần thiết đối với quá trình dạy học của cả
giáo viên và học sinh Việc xây dựng được Bộ tư liệu hỗ trợ dạy học các bài
học văn học dân gian trong chương trình THPT sẽ góp phần nâng cao hiệu
quả dạy học, góp phần đổi mới phương pháp khiến cho giờ dạy học những bàihọc phần văn học dân gian trở nên hấp dẫn hơn, sinh động hơn
7 Đóng góp của luận văn
Chúng tôi không tham vọng đóng góp một công trình mang tính lý thuyếtmới về văn học dân gian Chúng tôi chủ yếu sưu tầm các tư liệu bước đầu hướngdẫn giáo viên và học sinh sử dụng bộ tư liệu phục vụ quá trình dạy học
Chúng tôi hi vọng đây sẽ là một công trình mang tính thực tiễn mới vềvăn học dân gian trong chương trình THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới phươngpháp dạy học Ngữ văn hiện nay
Chúng tôi hi vọng đề tài này sẽ là một tài liệu hữu ích cho đồng nghiệp
hỗ trợ dạy học phần văn học dân gian trong chương trình THPT và mở ra khảnăng nghiên cứu mới cho học sinh trong việc xây dựng tư liệu, tự học, tựđánh giá
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nộidung luận văn gồm các chương sau:
Chương I: Cơ sở khoa học của việc xây dựng Bộ tư liệu hỗ trợ dạy học các bài học văn học dân gian trong chương trình THPT
Trang 21Chương II: Tổ chức xây dựng Bộ tư liệu hỗ trợ dạy học các bài học văn học dân gian trong chương trình THPT
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
NỘI DUNG CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG BỘ TƯ LIỆU
HỖ TRỢ DẠY HỌC CÁC BÀI HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN
TRONG CHƯƠNG TRÌNH THPT 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Quá trình dạy học ở nhà trường và vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
1.1.1.1 Quá trình dạy học ở nhà trường phổ thông
Khái niệm quá trình dạy học
Quá trình được xem xét như một hệ thống toàn vẹn Trong cuốn giáo
trình Giáo dục học, tập 1 của Trần Thị Tuyết Oanh (Chủ biên), tác giả quan niệm: “Quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ bản trong quá trình dạy học – hoạt động học và hoạt động dạy Dạy và học là hai hoạt động tác động và phối hợp với nhau, nếu thiếu một trong hai hoạt động đó thì quá trình dạy học không diễn ra” [37, 134].
Trong đó, “hoạt động dạy của người giáo viên là hoạt động lãnh đạo,
tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của học sinh, giúp học sinh tìm tòi khám phá tri thức, qua đó thực hiện có hiệu quả chức năng học của bản thân Hoạt động học của học sinh là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thu nhận, xử lí và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của mình, qua
đó người học thể hiện mình, biến đổi mình, tự làm phong phú những giá trị của mình” [37, 135].
Trang 22Cần phải thấy rằng: “Quá trình học của người học có thể diễn ra dưới
sự tác động trực tiếp của giáo viên diễn ra trong tiết học, hoặc dưới sự tác động gián tiếp của giáo viên như việc tự học ở nhà của học sinh” [37, 137].
Hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ biện chứng, phối hợpchặt chẽ với nhau, kết quả của hoạt động này phụ thuộc vào hoạt động kia vàngược lại
“Ngoài ra, cùng với sự bùng nổ tri thức cũng diễn ra sự lão hóa tri thức với tốc độ nhanh Do vậy để tránh được lạc hậu, mỗi người cần phải học tập liên tục, học tập suốt đời Vì vậy quá trình dạy học không chỉ dạy cho người học lĩnh hội tri thức cần phải dạy cho họ học cách học một cách sáng tạo” [37, 139].
Tóm lại, “quá trình dạy học là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học” [37, 139]
Bởi vậy, bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáocủa học sinh dưới vai trò chủ đạo của giáo viên
Lôgíc của quá trình dạy học
Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh cũng chỉ ra: “Lôgíc của quá trình dạy học
là trình tự vận động hợp quy luật của quá trình đó, nhằm đảm bảo cho học sinh đi từ trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và phát triển năng lực hoạt động nhận thức, đặc biệt hoạt động trí tuệ tương ứng từ lúc bắt đầu nghiên cứu môn học nào đó, đến trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và trình độ nhận thức, đặc biệt là năng lực trí tuệ, tương ứng với lúc kết thúc môn học” [37, 152].
Xét một cách khái quát thì lôgíc của quá trình dạy học diễn ra theo cáckhâu cơ bản sau:
- Giáo viên đề xuất vấn đề gây cho HS ý thức nhiệm vụ học tập
Trang 23- Tổ chức điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức mới.
- Tổ chức điều khiển học sinh củng cố tri thức
- Tổ chức điều khiển học sinh rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo
- Tổ chức điều khiển, kiểm tra, đánh giá việc nắm vững tri thức, kĩnăng, kĩ xảo một cách có hệ thống của HS và tổ chức cho họ tự kiểm tra, tựđánh giá
- Phân tích kết quả từng giai đoạn, từng bước nhất định của quá trìnhdạy học
Trong quá trình dạy học, các khâu trên đều phải thực hiện với nhữngmức độ khác nhau Chúng có mối quan hệ mật thiết, tác động, xen kẽ vàonhau Việc phối hợp các khâu đó nhằm đạt mục đích dạy học tốt nhất lại tùythuộc vào năng lực nghiệp vụ sư phạm của mỗi giáo viên
1.1.1.2 Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
Quan niệm về PPDH
Thuật ngữ “phương pháp” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là
“Methodos” có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục
đích Heghen cho rằng: “phương pháp là ý thức về hình thức của sự tự vận động bên trong của nội dung”.
Kairov I A trong cuốn Bách khoa toàn thư sư phạm cho rằng:
“PPDH là cách thức làm việc giữa thầy giáo và học sinh, nhờ đó mà HS nắm vững được kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo, hình thành thế giới quan và phát triển năng lực”.
Trong cuốn Giáo dục học, khái niệm PPDH được hiểu là “cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của GV và HS trong quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của GV nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và các nhiệm vụ dạy học” [37, 204].
Trang 24Quan niệm trước đây cho rằng: PPDH là cách thức hoạt động của GV
để truyền kiến thức, kĩ năng cho HS theo mục tiêu giáo dục nhất định Ở đó,
GV là nhân vật trung tâm, giữ vai trò chủ đạo, còn HS thụ động ghi nhớ vàtiếp thu những điều GV dạy Quan niệm này dẫn đến chỗ đồng nhất PPDH làphương pháp dạy của GV
Hiện nay, cùng với sự đổi mới PPDH thì quan niệm về PPDH cũng có
sự thay đổi khác trước Có thể hiểu, PPDH là tổng hợp cách thức hoạt độngphối hợp thống nhất của GV và HS (trong đó GV đóng vai trò chủ đạo, địnhhướng tổ chức các hoạt động, HS đóng vai trò tích cực, chủ động và sáng tạochiếm lĩnh kiến thức) nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học Bởi vậy, PPDHbao gồm cả phương pháp dạy và phương pháp học Phương pháp dạy là cáchthức GV trình bày tri thức, tổ chức và kiểm tra hoạt động nhận thức và thựctiễn của học sinh nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học Phương pháp học làcách thức hoạt động tiếp thu, phát hiện tri thức, tự kiểm tra, đánh giá của họcsinh nhằm đạt được các nhiệm vụ học tập
Như vậy, PPDH phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, tưduy sáng tạo của HS, phải bồi dưỡng được năng lực tự học của HS, kích thíchđược lòng say mê học tập và ý chí vươn lên của HS nhằm hình thành cho HScác năng lực cần thiết mà xã hội yêu cầu Đặc biệt, Ngữ Văn là môn họckhông những chỉ cung cấp cho HS kiến thức, kĩ năng mà còn phải bồi dưỡng
và hình thành những phẩm chất đáng quý cho các em
Sự cần thiết phải đổi mới về phương pháp dạy học
Đổi mới PPDH xuất phát từ những yêu cầu của cuộc cách mạng khoahọc và công nghệ, cuộc cách mạng xã hội, những yêu cầu của nền kinh tế -chính trị của đất nước và đáp ứng những yêu cầu tất yếu của thời đại
Thế kỷ XXI, với tác động nhanh chóng của những yêu cầu đó, sựnghiệp giáo dục – đào tạo có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia
Trang 25Do đó, giáo dục rất cần có những đổi mới về PPDH nhằm nâng cao chấtlượng và hiệu quả dạy học
Theo hướng đổi mới hiện nay, có thể sơ đồ hóa bốn trụ cột giáo dục của
tổ chức UNESCO theo bốn năng lực như sau:
Đổi mới giáo dục của Việt Nam cũng bám sát những mục tiêu trên
Luật Giáo dục số 38/2005/QH11, điều 28 quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Trước những yêu cầu đổi mới, giáo dục Việt Nam cũng đòi hỏi phải:
“tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục – đào tạo, tăng cường cơ
sở vật chất các trường học” (Nghị quyết TW 2 khóa VIII) Kết luận TW 6 khóa IX (2002) tiếp tục nhấn mạnh: “Đổi mới nội dung, chương trình,
Năng lực
xã hội
Năng lực phương pháp
Năng lực
chuyên môn
Học để khẳng định mình
Học giao tiếp– xã hội
Học tự trải nghiệm, đánh giá
Trang 26phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, tăng cường giáo dục cho học sinh tư duy sáng tạo, năng lực học, tự tu dưỡng, tự tạo việc làm”.
Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu: “Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học”.
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèmtheo quyết định 711/QĐ-TTG ngày 13/6/2012 của Thủ tướng chính phủ chỉ
rõ: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học”.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”; “Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu,
Trang 27định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” Theo
tinh thần đó, các yếu tố của quá trình giáo dục trong nhà trường trung học cầnđược tiếp cận theo hướng đổi mới
Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mớicăn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế xác định: “Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục theo hướng đánh giá năng lực người học; kết hợp đánh giá cả quá trình với đánh giá cuối kì học, cuối năm học theo mô hình các nước có nền giáo dục phát triển”.
Những quan điểm, định hướng trên tạo tiền đề, cơ sở và môi trườngthuận lợi cho việc đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, đổi mới đồng bộphương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực của ngườihọc nói riêng
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú
ý tích cực hóa HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giảiquyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồngthời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việchọc tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giữa GV – HS theo hướng cộng tác có ýnghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tậpnhững tri thức và kĩ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sungcác chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đềphức hợp
Trang 28Công cuộc đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam đã luôn được quantâm chú trọng và được coi là “quốc sách hàng đầu” trong các thời kỳ pháttriển của đất nước Cuộc cách mạng phương pháp trong giáo dục vì thế cónhiều điều kiện thực hiện và cần phải được thực hiện sâu sắc, toàn diện.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Bước sang thế kỷ XXI, xu hướng dạy học hiện đại với sự kết hợpnhững thành tựu công nghệ thông tin đã và đang diễn ra một cách phổ biến.Hiện nay, CNTT và truyền thông ảnh hưởng sâu sắc tới giáo dục và đào tạo
trên mọi khía cạnh, trong đó có cả việc đổi mới PPDH Trong cuốn The Road Ahead, Bill Gates đã khẳng định: “CNTT sẽ làm thay đổi rất lớn việc học của chúng ta (…) Mọi người ở bất cứ nơi đâu sẽ có khả năng tham gia các khóa học tốt nhất được dạy bởi các GV giỏi nhất” Nhờ có CNTT mà giáo dục thực
hiện được các tiêu chí mới: học mọi nơi (anywhere), học mọi lúc (anytime),học suốt đời (lifelong), dạy cho mọi người với mọi trình độ tiếp thu khácnhau, làm thay đổi vai trò của người dạy và người học cũng như đổi mới cáchdạy và học
Trong bài viết “Nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cho
giáo viên THPT” đăng trên tạp chí Giáo dục, tác giả Trần Minh Hùng cho rằng: “Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin đã tạo ra một khối lượng tri thức khổng lồ, vượt qua giới hạn về cả không gian lẫn thời gian, đòi hỏi con người có khả năng thu nhận, xử lý để hiểu biết một cách nhanh chóng
và chính xác Điều đó đòi hỏi việc dạy học trong nhà trường phải thay đổi cách tiếp cận bằng ghi nhớ sang cách tiếp cận bằng khả năng tìm kiếm, thu nhận và xử lí thông tin Như vậy, việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường gắn với công nghệ thông tin như là một tất yếu.
Với các công cụ đa phương tiện (multimedia) của máy tính điện tử như văn bản, đồ họa, âm thanh, video clip…, GV sẽ xây dựng được các bài giảng
Trang 29một cách sinh động, hấp dẫn, thu hút sự tập trung chú ý của người học, sử dụng linh hoạt các PPDH theo hướng đề cao tính tích cực, chủ động học tập của HS Những tiện ích đặc biệt của CNTT đã góp phần tích cực làm thay đổi PPDH của người dạy và từ đó là thay đổi phương pháp học của người học” [18, 62]
Đổi mới PPDH có ứng dụng CNTT là phương pháp làm tăng giá trịlượng thông tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn.Thông tin được hiểu càng có giá trị nếu nó gây bất ngờ càng lớn Lượngthông tin càng lớn, càng bất ngờ thì người học sẽ cảm thấy thú vị Với người
GV, họ có thuận lợi trong công việc thiết kế các nội dung bài học để HS tiếpthu dễ dàng bằng nhiều giác quan như nghe, nhìn, thực hành… Do đó, việcđưa máy tính và các ứng dụng tin học khác vào giảng dạy là cần thiết để hiệnđại hóa nền giáo dục nước nhà, đáp ứng những yêu cầu, mục tiêu và nhiêm vụ
mà ngành giáo dục đề ra
Việc ứng dụng CNTT đã và đang phát huy hiệu quả đối với dạy và học
ở nhiều bộ môn, giúp tiết học thêm sinh động hấp dẫn Tùy vào điều kiện vậtchất, trang thiết bị, trình độ của GV và HS mà khả năng ứng dụng CNTTtrong dạy học khác nhau:
- Khai thác và sử dụng những tiện ích của CNTT trong tất cả các khâucủa quá trình dạy học như tìm và biên soạn tài liệu, thiết kế bài giảng, kiểmtra, đánh giá…
- Xây dựng các phương tiện trực quan từ đơn giản đến phức tạp: xâydựng bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh, băng ảnh…
- Thiết kế các phần mềm cho dạy học
- Xây dựng các trang web cho dạy học
Trang 30Như vậy, công nghệ thông tin với tư cách là một phương tiện hỗ trợ choviệc dạy học đang chứng tỏ những ưu thế và hiệu quả trong quá trình dạy học
ở nhà trường hiện nay
1.1.1.3 Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hiện nay
Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển đã nói: “là một trong những môn học có vị trí và tầm quan trọng số một ở nhà trường phổ thông, ngoài chức năng công cụ, môn Ngữ văn còn góp phần rất lớn hình thành và phát triển các năng lực chung cũng như góp phần bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và các phẩm chất cao đẹp của người học Chính vì thế không
có bất cứ nước nào coi nhẹ chương trình môn học này! Tuy vậy, làm thế nào
để môn học Ngữ văn xứng đáng với vị trí và tầm quan trọng của nó, thực sự
là một thách thức lớn mà vai trò quyết định thuộc về các nhà giáo, các tác giả xây dựng chương trình và biên soạn SGK”.
Môn Ngữ văn cũng như những môn học khác trong bối cảnh xã hộimới, với thế hệ học sinh mới càng cần phải thay đổi phương pháp cho phùhợp Nội dung văn học dân gian trong chương trình Ngữ văn cũng cần đượcquan tâm nhất định để tìm ra những biện pháp thích hợp cho việc giảng dạytrong nhà trường phổ thông
Bên cạnh nhiệm vụ phát triển năng lực tạo lập văn bản cho học sinh,môn Ngữ văn hiện nay có nhiệm vụ phát triển năng lực đọc văn, mà rộng hơn
là năng lực tiếp nhận văn bản Nhiệm vụ này đòi hỏi thay đổi phương phápdạy học một cách mạnh mẽ
Tư tưởng quan trọng của chương trình Ngữ văn sau năm 2000 làchuyển từ phương pháp giảng văn sang phương pháp đọc - hiểu văn bản Đó
là một bước tiến quan trọng trong phương pháp dạy học văn ở trường phổthông Theo định hướng này, dạy văn là dạy cho học sinh cách thức khám
Trang 31phá, giải mã tác phẩm, từ đó hình thành năng lực tự học, tự đọc, tự tiếp nhậnvăn học
Theo định hướng đổi mới, phương pháp dạy học trong môn Ngữ vănkhông có sự hạ thấp vai trò của GV mà ngược lại GV chính là người tổ chức,thiết kế, điều hành giờ học Đây là phương pháp hạn chế tối đa lối dạy lýthuyết một chiều, chuyển quá trình thuyết giảng của GV thành những cuộctrao đổi, đàm thoại giữa thầy và trò, giữa HS và HS giúp các em tự tìm hiểu
và đánh giá được mức độ tìm hiểu bài học của mình
Phương pháp dạy học Ngữ văn định hướng lấy học sinh làm trung tâm,phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập GV cần tôn trọnghọc sinh, tránh áp đặt để học sinh tự mình tiếp xúc với văn bản, tự mình suynghĩ, khám phá ra những đặc điểm nổi bật của văn bản Giáo viên là người tổchức, hệ thống các công việc để hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu, khám phá
Trước hết, GV phải biết thiết kế tổ chức HS thực hiện các hoạt độnghọc tập Ngữ văn nhằm phát triển tư duy ngôn ngữ, rèn luyện kĩ năng nghe -nói - đọc - viết, năng lực cảm thụ tác phẩm văn chương Thường xuyên điềuchỉnh các hoạt động học tập của HS, động viên và luôn tạo điều kiện cho các
em tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình tiếp nhận, giải mã
và sản sinh văn bản Song song với đó, GV phải biết sử dụng và hướng dẫn
HS sử dụng các thiết bị đồ dùng và ứng dụng CNTT để khai thác và vậndụng kiến thức Ngữ văn có hiệu quả Bằng mọi cách, GV phải tạo điều kiệncho HS rèn luyện kĩ năng học tập tích cực, chủ động, hình thành thói quenvận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn Trong giảngdạy cần chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng nghe - nói - đọc
- viết mà HS đã có
Về phía HS, chương trình mới đòi hỏi các em luôn tích cực suy nghĩ,chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá và lĩnh hội kiến
Trang 32thức, rèn luyện thái độ và tình cảm đúng đắn Các em có thể mạnh dạn trìnhbày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân trước các vấn đề của môn Văn học,Tiếng Việt và Làm văn Đánh giá và tự đánh giá các quan điểm của bản thân,của nhóm Tích cực sáng tạo trong vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyếtcác tình huống và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn học tập bộ môn HS biết chủđộng trong xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập bộ môn Ngữ văn phù hợpvới năng lực và điều kiện học tập của cá nhân Biết sưu tầm và tìm hiểu cáctài liệu Văn học, Tiếng Việt, Làm văn bằng các hình thức khác nhau Có ýthức sử dụng đồ dùng học tập và các ứng dụng của CNTT để học tập bộ mônNgữ văn có hiệu quả.
Để đảm bảo tính khoa học cho các giờ học Ngữ văn thì sự vận dụng cácPPDH phải thực sự linh hoạt và sáng tạo Đổi mới cách dạy không có nghĩa
là GV phải từ bỏ phương pháp giáo dục truyền thống để độc tôn cải tiếnhoặc áp dụng một cách máy móc những PPDH từ các nước khác Cũngkhông thể hiểu một cách chung chung về đổi mới PPDH là thầy giảng mộtnửa còn một nửa HS tự làm lấy Sự vận dụng các PPDH phải đi từ cái HS đã
có đến cái HS cần có, từ thực tiễn cuộc sống của HS tới kiến thức trong sách
vở và quay trở về phục vụ cuộc sống So với cách dạy truyền thống, sự vậndụng PPDH trong giờ Ngữ văn đã có sự thay đổi cơ bản về chất: từ thôngbáo, tái hiện sang tổ chức cho HS tiếp nhận, cảm thụ; từ dạy học tính chấttĩnh sang tính chất động…
Đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy học Ngữ văn nói riêng
nhằm chú trọng phát triển năng lực của học sinh Tài liệu tập huấn về Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực của học sinh đã nêu: “Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hóa học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của
Trang 33cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giữa giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kĩ năng riêng
lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.”
Trong định hướng phát triển chương trình sau năm 2015, môn Ngữ vănđược coi là môn học công cụ, theo đó, năng lực giao tiếp tiếng Việt và nănglực thưởng thức văn học, cảm thụ thẩm mỹ là các năng lực mang tính đặc thùcủa môn học; ngoài ra, năng lực giao tiếp, năng lực tư duy sáng tạo, năng lựcgiải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực tự quản bản thân (các năng lựcchung) cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các nội dung dạy họccủa môn học
PGS.TS Đỗ Ngọc Thống kết luận về phương pháp dạy học môn Ngữvăn cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ các phuơng pháp giáo dục phát huy tínhtích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo của học sinh như dạy học nêu vấn đề,dạy học kiến tạo, dạy học theo dự án…; chú trọng bồi dưỡng phương pháp tựhọc, chiến lược học tập, khả năng hợp tác vận dụng kiến thức vào thực tiễn.Hình thành phát triển năng lực chung và năng lực chuyên biệt như năng lựcgiao tiếp, năng lực cảm thụ, thưởng thức văn học… Tăng cường và nâng caohiệu quả các PTDH, đặc biệt ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thôngmột cách hợp lý để hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học Tạo điều kiện chohọc sinh tiếp cận nguồn học liệu mở, khai thác thông tin trong môi trườngcông nghệ thông tin đa dạng, phong phú, phát triển năng lực cho học sinh
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn
Cố giáo sư Phan Trọng Luận đã từng trăn trở trong các bài viết của
mình và kết luận: “đối với môn Ngữ văn tiếp cận và ứng dụng công nghệ
Trang 34thông tin chậm hơn, cần có những suy nghĩ chín chắn, thận trọng xuất phát từ đặc thù của bộ môn, đồng thời lại phải đáp ứng được yêu cầu đổi mới, hiện đại hóa phương pháp dạy học trong nhà trường Nếu đem áp dụng một cách ồ ạt, xô bồ, thiếu cơ sở khoa học sẽ làm việc giảng dạy phản tác dụng, nhưng ngược lại nếu bảo thủ, dị ứng với cái mới, với tư tưởng khoa học hiện đại cũng làm cho khoa học giảng dạy khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta tụt hậu so với các nước tiên tiến” [28, 47]
PGS TS Đỗ Ngọc Thống trong bài viết “Ứng dụng công nghệ thông tintrong dạy học Ngữ văn” đã đưa ra một số đề xuất định hướng ứng dụngCNTT vào việc dạy học Ngữ văn như sau:
- “Tiếng Việt và Làm văn có thể ứng dụng được nhiều nhất Các bài học về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, văn bản nghiêng về tính hệ thống, phù hợp với việc trình bày biểu bảng, sơ đồ hóa các nội dung hoặc thêm bớt làm xuất hiện hoặc mất đi các yếu tố khác nhau một cách dễ dàng.
- Văn học (đọc – hiểu) cần hạn chế và thận trọng sử dụng CNTT Chúng tôi cho rằng, trong các bài đọc – hiểu văn bản, phân tích văn bản chỉ nên ứng dụng một phần nào đó (chẳng hạn dùng trong phần giới thiệu tác giả, tác phẩm, giọng đọc của tác giả hoặc nghệ sĩ, một vài hình ảnh minh họa hoặc các tư liệu quý hiếm) giúp học sinh hiểu sâu tác phẩm” [44, 35].
Trong cuốn Chương trình Ngữ Văn trong nhà trường phổ thông Việt Nam, tác giả đã có nhận định: Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy
học cần kết hợp được một cách hài hòa giữa ý tưởng thiết kế nội dung và kỹthuật vi tính Một mặt phải đảm bảo đặc trưng bộ môn, chuyển tải được cácđơn vị kiến thức cơ bản cần thiết; mặt khác cần đảm bảo tính thẩm mĩ, khoa
học và thuận tiện trong việc sử dụng Tác giả chỉ ra một cách cụ thể: “môn Ngữ văn có đặc thù riêng biệt, cần có sự cảm nhận của tâm hồn người dạy và người học Do đó, cần phân định rõ các nội dung của bài giảng, giáo án, từ
Trang 35đó cân nhắc và quyết định ứng dụng công nghệ thông tin vào nội dung gì cho phù hợp và có hiệu quả Do vậy:
- Nội dung nào thiên về cảm nhận tinh tế, tình cảm, cảm xúc, suy nghĩ: mức độ ứng dụng CNTT hạn chế Vì không có công nghệ nào lột tả được hết thế giới tâm hồn tác giả, người dạy, người học Do đó, nếu dùng CNTT quá nhiều dẫn đến áp đặt, thô cứng, khiến người học lười suy nghĩ, cảm nhận và gây tác dụng ngược.
- Nội dung mang tính tổng quan, giới thiệu: như tác giả, tác phẩm, giai đoạn văn học… có thể đẩy mạnh CNTT vì đẩy mạnh này mang tính thời gian
rõ ràng, cụ thể.
- Các nội dung cần bổ trợ bằng CNTT: đó là các nội dung làm rõ hoặc
bổ sung bằng hình ảnh, đoạn phim, kết hợp với giới thiệu các nét văn hóa, nghệ thuật” [45, 381].
Cùng những quan điểm trên nhưng triển khai ở mức độ cụ thể hơn, TS
Trịnh Thị Lan đã khẳng định: “CNTT có thể tham gia vào mọi giai đoạn trong quá trình dạy – học, vấn đề là cần khai thác và sử dụng nó một cách phù hợp và hiệu quả Môn Ngữ văn hoàn toàn có thể tích hợp CNTT vào tất
cả các giai đoạn của quá trình này, giáo viên có thể ứng dụng hoặc tích hợp CNTT vào một phương diện và với một mức độ khác nhau” [31, 31].
Thực tế cho thấy việc bổ sung kênh tiếng, kênh hình vào giảng dạy cácbài văn, đặc biệt với các tác phẩm văn học dân gian là cần thiết Dân gian ta
có câu: “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm” Ở
Ấn Độ, tổng kết quá trình dạy học người ta nói: “Tôi nghe – tôi quên; tôi nhìn – tôi nhớ; tôi làm – tôi hiểu” Vì vậy, hiệu quả của việc sử dụng các
PPDH có ứng dụng CNTT trong dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học vănhọc dân gian nói riêng là khả quan
Trang 36Như vậy, việc ứng dụng CNTT vào dạy học là một trong những hướng
để đổi mới PPDH hiệu quả Tuy nhiên, đối với môn Ngữ văn cần có sự lựachọn phù hợp, tránh những lạm dụng gây phản tác dụng Bởi lẽ, CNTT chỉ làphương tiện, không thể thay thế vai trò hướng dẫn, định hướng của GV Họcần nhận thức rõ điều này để sáng tạo bài giảng phong phú, sinh động, hấpdẫn, khơi dậy hứng thú học tập và khám phá ở học sinh
1.1.2 Phương tiện dạy học và việc đổi mới phương tiện dạy học
1.1.2.1 Phương tiện dạy học
Khái niệm về phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học là thuật ngữ đã xuất hiện từ lâu, được nhiều nhànghiên cứu quan tâm với nhiều quan niệm khác nhau
Đặng Vũ Hoạt quan niệm: “Phương tiện dạy học là một tập hợp nhưng đối tượng vật chất được giáo viên sử dụng với tư cách là những phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS Đối với HS, đó là các nguồn tri thức phong phú, sinh động, là phương tiện giúp các em lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo” [32, 17].
Lotsklinbo cho rằng: “Phương tiện dạy học là tất cả các phương tiện vật chất cần thiết giúp GV hay HS tổ chức và tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình giáo dục và giáo dưỡng ở các cấp học, các môn học để có thể thực hiện được những yêu cầu của chương trình giảng dạy” [48, 9].
Còn tác giả Vũ Trọng Rỹ lại quan niệm: “Phương tiện dạy học là thuật ngữ chỉ một đối tượng vật chất hoặc một tập hợp đối tượng vật chất mà người
GV sử dụng với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của
HS, còn đối với HS thì đó là nguồn tri thức, là phương tiện giúp HS lĩnh hội các khái niệm, định luật, thuyết khoa học, hình thành ở họ các kĩ năng, kĩ xảo đảm bảo việc thực hiện mục tiêu giáo dục” [48, 9].
Trang 37Thái Duy Tuyên cho rằng: “Phương tiện dạy học là những công cụ mà thầy giáo và học sinh sử dụng trong quá trình dạy học nhằm đạt mục đích dạy học” [48, 9].
Phan Trọng Ngọ quan niệm: “PTDH là toàn bộ sự vật, hiện tượng trong thế giới tham gia vào quá trình dạy học, đóng vai trò là công cụ hay điều kiện để giáo viên và học sinh sử dụng làm khâu trung gian tác động vào đối tượng dạy học PTDH có chức năng khơi dậy, dẫn truyền và làm tăng sức mạnh tác động của người dạy và người học đến đối tượng dạy học” [48, 19].
Tác giả Vũ Hải Ninh chỉ ra rằng: “PTDH là những phương tiện vật chất cần thiết được sử dụng trong quá trình dạy học, bao gồm các đồ dùng dạy học, các trang thiết bị kĩ thuật dùng trong dạy học và các thiết bị hỗ trợ khác giúp cho GV và HS tổ chức tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình dạy học nhằm đạt mục đích dạy học” [36, 24].
Phân loại các phương tiện dạy học
PTDH rất đa dạng và phong phú nên việc phân loại chúng cũng rấtphức tạp Có nhiều tác giả đã đưa ra các cách phân loại về PTDH và mỗi cáchđều có những điểm riêng
Theo tác giả Tô Xuân Giáp, PTDH gồm có:
PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
PHƯƠNG TIỆN KĨ THUẬT
PHƯƠNG TIỆN MÔ TẢ
PHƯƠNG TIỆN ĐỂ TÁI TẠO
TÀI LIỆU
TRỰC QUAN
PHƯƠNG TIỆN PHẢN ÁNH
Máy chiếu, Sách giáo
Dụng cụ
Mô hình, Mẫu vật,
Trang 38Còn trong cuốn Phương tiện dạy học, một số vấn đề lý luận và thực tiễn (2011), TS Đặng Thu Thủy (Chủ biên) đã mô tả cấu trúc hệ thống PTDH
trong nhà trường qua sơ đồ sau đây:
PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
Tư liệu dạy học là một phương tiện cần thiết trong QTDH
Tư liệu dạy học là hệ thống thông tin được sử dụng trong quá trình dạyhọc bao gồm những tư liệu chứa đựng nội dung học tập được thể hiện dướidạng phương tiện trực quan (tranh ảnh, mẫu vật, phim video, âm thanh) hoặcdưới dạng ngôn ngữ chữ viết Giáo viên có thể sử dụng những tư liệu đó để tổchức quá trình dạy học và học sinh cũng có thể sử dụng những tư liệu đó để tựtìm tòi, phát hiện tri thức mới Trong quá trình dạy học, tùy theo môn học, nội
PHƯƠNG TIỆN ỨNG DỤNG CNTT VÀ PHƯƠNG TIỆN
TRUYỀN
PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC SGK VÀ CÁC TÀI LIỆU
IN KHÁC
CÁC PT SỬ DỤNG MÁY TÍNH ẢNH
MÔ HÌNH DỤNG CỤ
VẬT LIỆU
Mạng Internet
Phần mềm
- Tivi
- Radio
- Điện thoại
- Máy vi tính
- Máy photo
- Máy in
- Máy ảnh
- Máy chiếu
- Máy scan
MÁY MÓC
- Hóa chất
- Mẫu vật
- Phim các loại
- Bản trong
- Băng ghi âm
- Đĩa CD
- Mô hình
- Dụng cụ
đo đạc, tính toán
- Sa bàn
Trang 39dung bài học và mục tiêu cụ thể mà giáo viên có thể sử dụng các tư liệu dạyhọc khác nhau để tổ chức các hoạt động học tập của học sinh; đa dạng các tưliệu học tập là một việc làm cần thiết Mặt khác, học sinh lĩnh hội các tri thứcmới từ nhiều mặt, nhiều kênh càng có hiểu biết phong phú và hiệu quả hơn
Trong dạy học Ngữ văn nói chung, dạy học phần văn học dân gian nóiriêng, nguồn thông tin rất đa dạng, phong phú Những thông tin này có thểphục vụ làm tư liệu hõ trợ cho việc dạy học
Vai trò của tư liệu trong việc hỗ trợ dạy học các bài văn học dân gian trong chương trình THPT
Tư liệu là nguồn tri thức làm sáng tỏ nội dung sách giáo khoa Nó làphương tiện làm rõ hơn những nội dung khái quát trong sách giáo khoa Tưliệu còn là nguyên liệu để tạo công cụ giúp học sinh hoàn thành nhiệm vụ trídục được nêu trong chương trình, đồng thời có tác dụng nâng cao sự hiểu biếtcho học sinh
Tư liệu tạo sự hứng thú học tập cho học sinh giúp học sinh lĩnh hội tốtbài học Từ đó học sinh sẽ tích cực, chủ động học tập, tự học và tự nhận thức
Để tạo sự hứng thú đó cho học sinh, giáo viên cần cung cấp thông tin hấp dẫn,mới mẻ, trực quan và sinh động
Bên cạnh đó, tư liệu còn góp phần đổi mới phương pháp dạy học: dạyhọc lấy học sinh là trung tâm (Learner-centered), dạy học hướng tới hìnhthành năng lực cho học sinh và giờ học có thể ứng dụng công nghệ phù hợp.Phương tiện dạy học nói chung và tư liệu dạy học văn học dân gian nói riêngphải gắn liền với PPDH, có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng, hiệu quả củahoạt động dạy học
Tư liệu dạy học khi được cấu trúc hợp lý sẽ tiện sử dụng cho cả giáoviên và học sinh Bộ tư liệu có thể rất phong phú về nội dung, kiểu dạngnhưng nếu được chọn lọc, sắp xếp, điều chỉnh sẽ là một công cụ nhận thức
Trang 40đắc lực hỗ trợ cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học Đồng thời,
tư liệu dạy học có thể góp mặt ở các khâu trong quá trình dạy học như mở bài,dạy kiến thức mới, củng cố, kiểm tra đánh giá… Cần lưu ý rằng tùy từng mụctiêu dạy học mà giáo viên có thể xem xét đưa tư liệu vào sử dụng cho hợp lý
và hiệu quả, tránh xô bồ, trình diễn
Môn Ngữ văn rất cần các tư liệu hỗ trợ việc dạy học Việc thu thập, sửdụng tư liệu thích hợp sẽ góp phần tạo nên những bài học Ngữ văn sâu sắc vềnội dung, hấp dẫn về hình thức Đặc biệt dạy học ngoại khóa môn Ngữ văn,việc sử dụng tư liệu sẽ đem đến nhiều phản hồi tích cực
Vì vậy, Bộ tư liệu hỗ trợ dạy học các bài học văn học dân gian trong chương trình THPT hi vọng sẽ là một trong những PTDH hữu ích sử dụng
trong quá trình dạy học môn Ngữ văn nói chung và dạy học phần văn học dângian nói riêng
Bộ tư liệu với kho thông tin phong phú trên nhiều kênh tiếp nhận sẽ tạođiều kiện thuận lợi cho giáo viên đổi mới phương pháp, tích cực ứng dụngcông nghệ thông tin vào giảng dạy, nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và họchiện nay Bộ tư liệu giúp giáo viên nâng cao kiến thức và năng lực nghiệp vụcủa mình
Bộ tư liệu sẽ cung cấp những tư liệu tốt nhất để giáo viên có thể thiết kếcác bài giảng văn học dân gian theo hướng trực quan, sáng tạo Việc thiết kếbài học hay, hợp lý và chất lượng còn đòi hỏi ít nhiều ở năng lực của giáo viên
Tích lũy tư liệu là quá trình lâu dài vì thế bộ tư liệu để dạng mở, không
cố định, bất biến mà có thể được bổ sung, thay đổi và cập nhật cho phù hợpvới yêu cầu mới, hoàn cảnh mới của hoạt động dạy học