Điều đặc biệt trong DH gắn với thực tiễn là có thể đưa học sinh vào trong các hoạt động tập thể, tạo môi trường cho họ làm quen với giải quyết các vấn đề cuộc sống thực tế khi phải tham
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-aaa -PHẠM THỊ PHƯƠNG
THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
NỘI DUNG KIẾN THỨC “SỰ CHUYỂN THỂ”
Trang 2Hà Nội – 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đỗ Hương Trà, bộ mônPhương pháp giảng dạy khoa vật lí trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội đã tận tìnhhướng dẫn, luôn khuyến khích tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa vật lí vàcác thầy cô trong tổ bộ môn Phương pháp giảng dạy vật lí trường ĐHSP Hà Nội,những người đã dạy dỗ và chỉ bảo cho tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tập vừaqua, đã trang bị cho tôi vốn kiến thức quý báu để tôi có thể thực hiện thành công đềtài này
Tôi xin cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo - Khoa học và cácthầy cô trong Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôitrong thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và giáo viên, học sinh trườngTHPT Uông Bí, trường THPT Công Thành, trường THPT Hồng Đức, THPTNguyễn Tất Thành (Quảng Ninh) đã cộng tác và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trongquá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đãluôn khích lệ, động viên và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Phạm Thị Phương
Trang 5MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
3 Giả thuyết khoa học của đề tài 4
4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4
6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 5
7 Dự kiến đóng góp của đề tài 6
8 Cấu trúc của luận văn gồm các phần sau: 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1 Quan điểm hiện đại về dạy học 7
1.1.1 Bản chất của hoạt động dạy 7
1.1.2 Bản chất của hoạt động học 7
1.1.3 Mối quan hệ giữa dạy và học 7
1.2 Cơ sở lí luận của DH gắn với thực tiễn 7
1.2.1 Khái niệm thực tiễn 7
1.2.2 Dạy học gắn với thực tiễn 8
1.2.3 Vai trò của dạy học gắn với thực tiễn 8
1.2.4 Các biện pháp tổ chức dạy học gắn với thực tiễn 10
1.2.4.1 Sử dụng tình huống thực tiễn 10
1.2.4.2 Các phương tiện dạy học 12
1.2.4.3 Liên hệ kiến thức vật lí qua bài tập định tính hay bài tập câu hỏi lí thuyết mang tính thực tiễn 12
1.2.4.4 Dạy học gắn với thực tiễn thông qua thực hiện các dự án 16
1.3 Dạy học gắn với thực tiễn theo hướng phát triển năng lực 17
1.3.1 Khái niệm năng lực 17
1.3.2 Năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn 18
1.3.3 Các biện pháp phát triển năng lực GQVĐ thực tiễn của học sinh trong dạy học 18
Trang 61.3.4 Dạy học gắn với thực tiễn với phát triển năng lực giải quyết vấn đề 19
1.4.Tổ chức hoạt động học Vật lí ở trường phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của HS 19
1.4.1 Tính tích cực của HS trong học tập 19
1.4.2 Tính tự lực trong hoạt động nhận thức của HS 21
1.4.3 Tính sáng tạo trong hoạt động nhận thức của HS 22
1.4.4 Mối liên hệ giữa tích cực, tực lực và sáng tạo 22
1.45 Dạy học gắn với thực tiễn với việc phát huy tích cực, tự lực và sáng tạo 23
1.5 Thực trạng về vấn đề dạy học có nội dung gắn thực tiễn 23
1.5.1 Thực trạng về vấn đề dạy học có nội dung gắn thực tiễn trên thế giới 23
1.5.2 Thực trạng về vấn đề dạy học có nội dung gắn thực tiễn ở Việt Nam 25
1.5.2.1 Tình hình về vấn đề dạy học có nội dung gắn với thực tiễn hiện nay trong dạy học môn vật lý ở các trường THPT thuộc địa bàn Thành phố Uông Bí - tỉnh Quảng Ninh 25
1.5.1.2 Kết quả điều tra - phân tích kết quả 26
1.5.2.2 Kết quả điều tra HS về vấn đề vận dụng kiến thức vật lý vào thực tế đời sống của HS THPT hiện nay 27
1.6 Kết luận chương 1 27
CHƯƠNG II THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC PHẦN “SỰ CHUYỂN THỂ” – VẬT LÝ 10 GẮN VỚI THỰC TIỄN 28
2.1 Nội dung kiến thức SGK phần sự chuyển thể 28
2.1.1 Nội dung kiến thức ở THCS 28
2.1.2 Nội dung kiến thức SGK Vật lý 10 30
2.1.3 Vị trí và vai trò các kiến thức phần "sự chuyển thể" trong chương trình vật lí THPT 36
2.1.4 Những khó khăn của HS khi học nội dung kiến thức phần “Sự chuyển thể” 37
2.3 Thiết kế tiến trình dạy học phần “Sự chuyển thể” gắn với thực tiễn 39
2.3.1 Các bước cần thực hiện khi thiết kế dạy học Vật lý gắn với thực tiễn 39
2.3.1.1 Mục tiêu dạy học: 39
Trang 72.3.1.2 Xác định một số vấn đề thực tiễn của phần “Sự chuyển thể” 41
2.3.1.3 Xây dựng hệ thống bài tập định tính mang tính thực tiễn và các ứng dụng của kiến thức trong đời sống 42
2.3.1.4 Xác định các phương tiện, thiết bị và tài liệu hỗ trợ giảng dạy 43
2.3.1.5 Dạy học gắn với thực tiễn thông qua thực hiện dự án 44
2.3.2.Sơ đồ logic tiến trình xây dựng kiến thức 72
CHƯƠNG III THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 106
3.1 Mục đích TN 106
3.2 Nội dung TN 106
3.3 Phương pháp TN 106
3.3.1 Chọn trường TN 106
3.3.2 Chọn HS TN 106
3.3.3 Chọn GV dạy TN 107
3.3.4 Phương án TN 107
3.4 Kết quả thực nghiệm 107
3.4.1 Phân tích định lượng 107
3.4.1.1 Kết quả phân tích định lượng các bài KT trong TN: 107
3.4.1.2 Kết quả phân tích định lượng các bài KT sau TN: 110
3.4.2 Phân tích định tính 113
Kết luận chương 3 114
KẾT LUẬN CHUNG 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
PHỤ LỤC 117
Trang 8PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây nền khoa khoa học công nghệ, nền kinh tế trithức phát triển như vũ bão trên thế giới và xu hướng toàn cầu hóa mở ra nhiều triểnvọng phát triển nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức cho mọi quốc gia Hòa nhậptheo xu thế đó thì bất cứ một đất nước nào nếu không bắt kịp nhịp độ phát triển củathế giới sẽ bị tụt hậu Thách thức này đang là một gánh nặng đặt lên đôi vai củangành giáo dục đó là phải đào tạo ra những con người khi vào đời phải có năng lực
tư duy sáng tạo, có năng lực độc lập giải quyết vấn đề, có thái độ tích cực, có nănglực tự học để nâng cao trình độ nhận thức sẵn sàng tham gia lao động sản xuất vàcác hoạt động thực tiễn đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội
Bên cạnh đó, Luật giáo dục cũng đã quy định: “Hoạt động giáo dục phải
được thực hiện theo nguyên lí học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”, “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.
Trong dạy học nói chung và dạy học môn Vật lí với đặc điểm và phươngpháp riêng có vai trò nhất định trong việc giáo dục học sinh Dạy học Vật lí khôngchỉ truyền thụ kiến thức cơ bản mà điều quan trọng hơn là xây dựng cho học sinhtiềm lực, bản lĩnh thể hiện ở phương pháp suy nghĩ và làm việc, trong cách tiếp cận,giải quyết các vấn đề thực tiễn Đồng thời, giúp họ có khả năng phát triển vốn hiểubiết đã có, thấy rõ năng lực sở trường của mình để lựa chọn nghề nghiệp, vươn lêntrong sự nghiệp khoa học thích ứng với sự phát triển của xã hội Kiến thức Vật líđược hình thành, phát triển và ứng dụng vào thực tiễn luôn luôn gắn liền với hoạtđộng tư duy và sáng tạo của con người trong hoàn cảnh xác định Vì vậy việc đổimới PPDH đã đang và sẽ tiếp tục được tiến hành một cách sâu rộng
Tuy vậy, tình hình đổi mới PPDH không phải một sớm một chiều, Bộ trưởngPhạm Vũ Luận cho rằng, cả ba lần cải cách giáo dục đều có mục tiêu và định hướng rõ
Trang 9ràng song không giải quyết được các yếu kém của ngành giáo dục do nặng về đổi mới
chương trình giáo dục mà chưa chú trọng đến đổi mới phương pháp dạy và học
Một trong những xu hướng dạy học ngày nay là gắn dạy học trong nhàtrường với thực tiễn trong môi trường mà người học sống, giáo dục Việt nam cũngkhông nằm ngoài xu hướng này Hình thức DH gắn với thực tiễn sẽ một phần đónggóp hữu hiệu trong việc đổi mới PPDH, kiểu DH này đã được nhiều nước phát triểntrên thế giới áp dụng và đạt kết quả to lớn cho sự phát triển ngành GD nói riêng, sựphát triển khoa học - kỹ thuật nước nhà nói chung như Thụy Sĩ, Mỹ,
Dạy học gắn với bối cảnh thực tế làm tăng hứng thú của người học với cácmôn học trong nhà trường, đặc biệt là các môn khoa học tự nhiên khi mà thực tế dạyhọc cho thấy học sinh ngày càng không mặn mà với các môn học này
Trong xu hướng này, DH gắn với thực tiễn có vai trò đặc biệt quan trọng khi
nó đặt các hoạt động học tập của người học vượt ra “ngoài khuôn khổ” lớp học đểkết nối với thực tế đa dạng của cuộc sống nhằm đem đến cho học sinh ý nghĩa của
việc học Các bài học, không diễn ra tuần tự theo qui định trong chương trình học
đã định sẵn, mà nó gắn trực tiếp với bối cảnh thực tế trong cuộc sống, ở đó người
học sẽ phải thể hiện được các năng lực và các kinh nghiệm sống của mình nhiều
hơn việc ngồi “giải các bài tập” trong lớp học Dạy học gắn với thực tiễn tạo sự liên
kết chặt chẽ giữa các nội dung học trong nhà trường với cuộc sống thực tế của HS bằng cách gắn những vấn đề học trong nhà trường với bối cảnh thực tế nơi học
sinh sống; đưa những vấn đề của cuộc sống thực tế xung quanh HS vào nhà trường
để HS nghiên cứu và tìm các giải pháp phù hợp Với kiểu dạy học này đảm bảo hoạt
động học có giá trị với học sinh và với cộng đồng nơi học sinh đang sống Dạy học
gắn với thực tiễn không nhấn mạnh trọng tâm vào mục đích trang bị kiến thức mới
cho người học, mà là GD hành vi, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, kích thích hứng
thú học tập, tạo điền kiện tăng khả năng tự học, tạo các mối liên kết giữa các kiến thức môn học với nhau và phát triển toàn diện các kĩ năng của người học Điều đặc
biệt trong DH gắn với thực tiễn là có thể đưa học sinh vào trong các hoạt động tập
thể, tạo môi trường cho họ làm quen với giải quyết các vấn đề cuộc sống thực tế khi phải tham gia vào cộng đồng, thuyết phục được cộng đồng đưa ra các quyết định mang tính tập thể đảm bảo lợi ích chung cho họ.
Trang 10Mặt khác, qua tìm hiểu thực tế ở các trường phổ thông, việc đổi mới PPDHchưa thật sự hiệu quả, người học chưa thật hứng thú, chưa hiểu rõ bản chất và ýnghĩa thực tiễn của chúng Nguyên nhân là do GV có thói quen dạy học theo kiểutruyền thống, chưa được trang bị đầy đủ các kiến thức về PPDH theo hướng tíchcực (mới chỉ dừng lại ở phần lí luận), người học còn thụ động trong việc tiếp thu trithức, điều kiện và phương tiện dạy học còn thiếu thốn Vì vậy, để thực hiện việc đổimới PPDH đòi hỏi phải có sự nghiên cứu công phu và mất rất nhiều thời gian Đồngthời nó còn đòi hỏi người GV không chỉ có kiến thức chuyên môn sâu mà còn phải
có hiểu biết rộng, đặc biệt là các kiến thức liên môn, các ứng dụng trong thực tiễn
Mặt khác, những nội dung kiến thức ở chương cuối của chương trình nămhọc thường không được sự quan tâm, đầu tư đúng mức của cả GV và HS vì nókhông nằm trong nội dung ôn thi GV dạy qua loa đại khái, HS thì không chú tâmvào bài học nên khi rời khỏi ghế nhà trường khả năng vận dụng kiến thức Vật lí vàothực tiễn của học sinh còn nhiều hạn chế, khả năng giải thích các hiện tượng trongcuộc sống, môi trường xung quanh còn non yếu; dẫn đến các em không hiểu và biếtđược trách nhiệm của mình trước những vấn đề đó Nội dung kiến thức "Sự chuyểnthể" (Vật lí 10) là một trong số những bài học nằm ở cuối chương trình lớp 10.Thực tế cho thấy nội dung kiến thức này lại rất bổ ích, có nhiều ứng dụng trongnhiều lĩnh vực như khoa học, kỹ thuật, xây dựng, môi trường, biến đổi khí hậu, kỹnăng sống, dân số, sức khỏe sinh sản , nắm vững được kiến thức và tầm quan trọngcủa nội dung này thì HS có thể làm chủ được trước mọi tình huống trong cuộc sống,hiểu và biết được trách nhiệm của mình trước những vấn đề chung của toàn nhânloại, của chính bản thân mình
Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn trên nên tôi chọn đề tài nghiên cứu:
Thiết kế tiến trình dạy học gắn với thực tiễn nội dung kiến thức ”Sự chuyển thể” – Vật lí 10.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu vận dụng Dh gắn với thực tiễn để tổ chức hoạt động DH nộidung kiến thức phần Sự chuyển thể - Vật lí 10
- Để đạt được mục đích trên, các bước sau đây sẽ được thực hiện:
Trang 11+ Nghiên cứu các cơ sở lí luận gắn với thực tiễn để thiết kế tiến trình dạy họcnội dung kiến thức phần “Sự chuyển thể” SGK Vật lí 10 theo hướng phát huy hoạtđộng nhận thức tích cực, tự chủ và sáng tạo của HS trong học tập, phát triển nănglực giải quyết vấn đề thực tiễn, đồng thời nâng cao hiệu quả của việc dạy học, hứngthú học tập cho học sinh.
+ Nghiên cứu thực tiễn dạy học
+ TNSP
3 Giả thuyết khoa học của đề tài
Nếu tổ chức dạy học Vật lí gắn với thực tiễn phần “Sự chuyển thể” thì sẽgóp phần phát triển, rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức khoa học vào thực tiễncủa học sinh, tăng cường tích tích cực, tự chủ trong học tập, gây hứng thú khi họcmôn Vật lí
4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Hoạt động dạy và học kiến thức phần Sự chuyển thể - Vật lí 10
- Các ứng dụng khoa học, kỹ thuật, môi trường, sức khỏe, các hiện tượng tựnhiên về kiến thức Sự chuyển thể
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được các mục đích nghiên cứu ở trên, cần thực hiện các nhiệm vụ cụthể như sau:
- Nghiên cứu các quan điểm DH hiện đại, DH tích cực và làm rõ cơ sở lí luậncủa DH gắn với thực tiễn
- Nghiên cứu lí luận về tâm lí dạy học làm cơ sở cho các biện pháp sư phạmnhằm phát huy tính tích cực, tự chủ và sáng tạo của học sinh Nghiên cứu chươngtrình SGK hiện hành, sách GV và các tài liệu tham khảo liên quan đến nội dụngkiến thức “Sự chuyển thể” để phân tích nội dung khoa học của kiến thức và nhữngkhó khăn của HS khi học những nội dung kiến thức này
- Thiết kế tiến trình DH gắn với thực tiễn nội dung kiến thức “Sự chuyển thể”
- Tìm hiểu thực tế dạy và học môn Vật lí đặc biệt là nội dung kiến thức phần
“Sự chuyển thể”
Trang 12- Vận dụng cơ sở lí luận của DH gắn với thực tiễn tổ chức DH một số nộidụng kiến thức phần “Sự chuyển thể” theo hướng phát huy tính tích cực, tự chủ,sáng tạo của HS.
- Tiến hành TNSP theo nội dung và tiến trình DH đã soạn thảo Phântích kết quả TN thu được để đánh giá tính khả thi của đề tài, sơ bộ đánh giáhiệu quả DH kiến thức phần “Sự chuyển thể” với việc phát huy tính tích cực, tựchủ, sáng tạo của HS trong học tập Từ đó, nhận xét, rút kinh nghiệm, sửa đổi, bổsung và hoàn thiện để có thể vận dụng linh hoạt PP này vào thực tiễn DH các nộidung kiến thức khác trong chương trình Vật lí THPT
6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: nghiên cứu các tài liệu: về các quan điểm,
sự định hướng việc dạy học tích cực cũng như đổi mới phương pháp dạy học, về líluận nói chung và lí luận dạy học môn Vật lí nói riêng; sách giáo khoa, sách giáoviên và các tài liệu khác liên quan
- Phương pháp điều tra, quan sát thực tiễn:
+ Tìm hiểu việc dạy (thông qua phiếu điều tra, nghiên cứu giáo án, dự giờ,phỏng vấn, trao đổi với giáo viên) và việc học (thông qua trao đổi với học sinh,phiếu điều tra cơ bản, phân tích các sản phẩm của học sinh) nhằm sơ bộ đánh giátình hình dạy học nội dung kiến thức phần “Sự chuyển thể”
+ Đề xuất giải pháp giúp giáo viên khắc phục những khó khăn gặp phải khidạy học phần “Sự chuyển thể” và giúp học sinh vượt qua những khó khăn trong khihọc
- Phương pháp thực nghiệm khoa học giáo dục
+ Tiến hành thực nghiệm sư phạm với tiến trình dạy học đã soạn thảo theo kếhoạch
+ Phân tích kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm, đối chiếumục đích nghiên cứu và rút ra kết luận của đề tài
- Phương pháp thống kê toán học:
+ Tổng hợp các dữ liệu điều tra để có những thông tin về thực trạng dạy vàhọc kiến thức phần “Sự chuyển thể” – Vật lí 10
Trang 13+ Tổng hợp, phân tích các dữ liệu thực nghiệm để đánh giá được tính khả thicủa đề tài.
7 Dự kiến đóng góp của đề tài
- Làm sáng rõ cơ sở lí luận về dạy học gắn với thực tiễn trong dạy học Vật lí
- Vận dụng cơ sở lí luận của dạy học gắn với thực tiễn vào thiết kế tiến trìnhdạy học nội dung kiến thức phần “Sự chuyển thể” – Vật lí 10
- Bổ sung tài liệu tham khảo cho các giáo viên THPT và HS trong quá trìnhdạy và học Góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lí ở trường THPT
8 Cấu trúc của luận văn gồm các phần sau:
Ngoài phần mở đầu, kết luận chung, các phụ lục và tài liệu tham khảo, phầnnội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của DH gắn với thực tiễn
Chương 2: Thiết kế tiến trình dạy học gắn với thực tiễn nội dung kiến thức
"Sự chuyển thể" - Vật lí 10 gắn với thực tiễn
Chương 3: TNSP
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Quan điểm hiện đại về dạy học
1.1.1 Bản chất của hoạt động dạy
Có nhiều quan điểm cho rằng: “Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ cácthao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy
và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết,các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được trên cơ sở đó có khả nănggiải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong cuộc sống của mỗi người học
1.1.2 Bản chất của hoạt động học.
Theo tâm lí học, hoạt động nhận thức là hoạt động đặc thù của con ngườiđược điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới,những hành vi và những hoạt động nhất định, những giá trị
Như vậy hoạt động học là nhằm tiếp thu những vấn đề mà hoạt động dạytruyền thụ và biến những vấn đề đó thành những năng lực của bản thân Hoạt độngdạy học chịu sự chi phối, điều khiển của hoạt động dạy và hoạt động dạy cũng chịu
sự tác động trở lại của hoạt động học Nghĩa là, hoạt động dạy và hoạt động học gắn
bó mật thiết với nhau, cùng thực hiện mục đích của hoạt động dạy học: hình thành
và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ
1.1.3 Mối quan hệ giữa dạy và học
Theo quan điểm dạy học hiện đại thì dạy học là giải quyết vấn đề, quá trìnhdạy – học bao gồm “một hệ thống các hành động có mục đích của giáo viên cho họcsinh chiếm lĩnh được nội dung dạy học, đạt được mục tiêu xác định” Trong quátrình dạy học, giáo viên tổ chức định hướng hành động chiếm lĩnh tri thức vật lí củahọc sinh phỏng theo tiến trình của chu trình sáng tạo khoa học
1.2 Cơ sở lí luận của DH gắn với thực tiễn
1.2.1 Khái niệm thực tiễn
“Thực tiễn” là những hoạt động của con người, trước hết là lao động sảnxuất, nhằm tạo điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội
Còn theo phạm trù triết học cho rằng nói đến thực tiễn là nói đến hoạt độngvật chất mang tính lịch sử xã hội của con người nhằm biến đổi tự nhiên và xã hội
Trang 15Nó gắn liền với tính tích cực, năng động sáng tạo của con người, gắn liền với cácnhu cầu, mục đích của con người.
Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng thực tiễn là cơ sở của nhận thức, cơ sở của
sự phát triển những kiến thức khoa học trong quá trình kinh nghiệm xã hội – lịch sử
của loài người Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của lý luận và là tiêu chuẩn
của chân lý; sự hình thành và phát triển của lý luận xuất phát từ thực tiễn, đáp ứngyêu cầu của thực tiễn; lý luận phải được kiểm nghiệm, được bổ sung và phát triểntrong thực tiễn
- Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận khoa học; lý luận đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp cho thực tiễn.
Ở đây chúng ta có thể hiểu “thực tiễn” chính là hoạt động GV và HS, nhữngkiến thức được cụ thể hóa bằng những hiện tượng, vận dụng những kiến thức đượchọc để giải thích hiện tượng, những số liệu mang tính thực tiễn, ứng dụng của kiếnthức để giải quyết các vấn đề thực tiễn, nhằm tạo điều kiện cho HS học tốt môn học,thích thú với môn học
Trong quá trình dạy học, thực tiễn là điều kiện tất yếu để hình thành ở HS kỹnăng và kỹ xảo, thông qua việc tham gia vào hoạt động sáng tạo dưới những hìnhthức vừa sức, HS tiếp thu kinh nghiệm xã hội, góp phần vào sự tiến bộ của xã hội
1.2.2 Dạy học gắn với thực tiễn
- Nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu đi sátthực tiễn, coi trọng việc tổng kết thực tiễn, dạy học phải liên hệ với thực tiễn, họcđôi với hành
- Dạy học gắn với thực tiễn nghĩa là việc dạy học cần được tổ chức theonhững chủ đề phức hợp gần với các tình huống thực của cuộc sống và nghề nghiệp.Quá trình học tập được tổ chức trong một môi trường học tập tạo điều kiện kiến tạotri thức theo cá nhân và trong mối quan hệ xã hội của việc học tập
1.2.3 Vai trò của dạy học gắn với thực tiễn
Với hình thức dạy học gắn thực tiễn có vai trò rất to lớn trong việc hìnhthành cả năng lực và nhân cách của HS Quá trình học tập sẽ giúp HS
- Giải thích được các hiện tượng xung quanh cuộc sống chúng ta
Trang 16- Hiểu rõ hơn các vấn đề, thông tin mang tính thời sự một cách khá hệ thống
về vấn đề đó
- Nội dung dạy học thiết thực với địa phương nơi học sinh sống, người học
có thể đã được thực hiện hoặc trải nghiệm một phần của vấn đề đó; phù hợp với khảnăng của học sinh, nghĩa là khi vận dụng các kiến thức trong nhà trường học sinh cóthể giải quyết được chúng
- Dạy học gắn với thực tiễn giáo dục hành vi, vận dụng kiến thức vào thựctiễn, kích thích hứng thú học tập, tạo điều kiện tăng khả năng tự học, tạo các mốiliên kết giữa các kiến thức môn học với nhau và phát triển toàn diện các kĩ năng củaHS
Ví dụ: Dạy học gắn với thực tiễn thông qua dự án có nhiều điều kiện thuậnlợi trong việc liên kết các kiến thức có được trong nhà trường vào thực tế cuộc sống
- Trong quá trình dạy học gắn với thực tiễn, giáo viên định hướng học sinh
suy nghĩ đến các vấn đề của xã hội, của thực tiễn mà nhân loại đang phải đối mặt,
từ đó đặt ra các tình huống, dự án học tập phù hợp với việc dạy và học đồng thời
cũng phải thể hiện sự cấp bách phải giải quyết vấn đề đó để có thể sống tốt hơn, bềnvững hơn Và trong tất cả các dự án đó, tính thực tiễn của xã hội đã thể hiện rất cao,
ví dụ: trong cùng một tình huống của bài học là: Thể hiện thái độ của bản thân
trước vấn đề ô nhiễm môi trường của địa phương, có nhóm học sinh thể hiện theo
hình thức văn hùng biện; có nhóm học sinh trưng bày một bức tranh phiếm họa; cónhóm học sinh trình chiếu các slide về hậu quả của ô nhiễm môi trường ở địa
phương (các sản phẩm được học sinh chuẩn bị ở nhà theo phương pháp dạy học
dự án); vấn đề tiết kiệm điện, vấn đề sử dụng nguồn năng lượng hóa thạch … Đây
chính là động cơ để học sinh có cơ hội vận dụng kiến thức vào thực tiễn, hình thànhnên ý thức và thái độ tích cực đối với sự phát triển của xã hội
- Dạy học gắn thực tiễn đảm bảo mục tiêu giáo dục nhận thức, hành vi đốivới môi trường tự nhiên và tính hiệu quả kinh tế cao
Ví dụ: Khi dạy kiến thức sự nóng chảy- sự đông đặc, HS có thể nghĩ đến việctái chế các vật liệu đã bị hỏng trong gia đình (sắt vụn, vỏ bia, đồ nhựa, …), chínhsuy nghĩ đó vừa đảm bảo sạch môi trường, vừa có tính hiệu quả kinh tế
- Dạy học gắn với thực tiễn, HS hào hứng và đoàn kết, thúc đẩy bình đẳnggiữa các HS học tập theo nhóm, nam và nữ đều có nhiệm vụ học tập, điều đó thực
Trang 17hiện được mục tiêu "xã hội" của giáo dục như: giáo dục bình đẳng giới, tiêu chí họctập suốt đời, tính công bằng xã hội, liên kết xã hội, phát triển văn hóa bản địa…
Việc tổ chức cho học sinh tranh luận, tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau trên
cơ sở các tiêu chí đã xây dựng đã giúp cho học sinh có được năng lực tự điều chỉnhhành vi, thái độ của mình đối với tập thể, đối với mọi người xung quanh tạo nênmột xã hội học tập thực sự
1.2.4 Các biện pháp tổ chức dạy học gắn với thực tiễn
1.2.4.1 Sử dụng tình huống thực tiễn
1.2.4.1.1 Nguyên tắc thiết kế hệ thống tình huống gắn với thực tiễn trong dạy học Vật lý THPT
- Đảm bảo tính chính xác, khoa học: Kiến thức được đưa vào các tình huống
phải đảm bảo tính chính xác, khoa học
- Đảm bảo tính thực tiễn: Các kiến thức dùng để thiết kế các tình huống phải
gắn liền với thực tiễn cuộc sống và có tính ứng dụng cao
- Đảm bảo tính trọng tâm: Việc đưa ra những tình huống có nội dung ít liên
quan đến bài học sẽ gây tốn thời gian và khiến cho học sinh nhầm tưởng tính quantrọng của vấn đề
- Đảm bảo tính logic, ngắn gọn: Một trong những nguyên tắc quan trọng
trong việc thiết kế tình huống gắn liền với thực tiễn là tính logic và tính ngắn gọncủa tình huống
- Đảm bảo tính giáo dục: việc thiết kế tình huống cũng phải đảm bảo về mặt
nội dung và tư tưởng nhằm giáo dục học sinh có tư tưởng chính trị rõ ràng, có thếgiới quan, nhân sinh quan đúng đắn
- Đảm bảo tính sư phạm: Nguyên tắc đảm bảo tính sư phạm khi thiết kế tình
huống thể hiện ở tính vừa sức và tính phù hợp với tâm sinh lí của học sinh
- Kích thích hứng thú, khả năng sáng tạo của người học: mục đích của dạy học
tình huống nhằm kích thích hứng thú học tập và khả năng sáng tạo của học sinh
1.2.4.1.2 Quy trình thiết kế hệ thống tình huống gắn với thực tiễn trong dạy học Vật lý THPT
* Bước 1: Xác định mục tiêu và nội dung chính của bài học, đó là căn cứ để
thiết kế tình huống Việc xác định đúng mục tiêu cần đạt được của bài học là bước đầu tiên của quá trình thiết kế, có tác dụng định hướng nội dung cho giáo viên
Trang 18* Bước 2: Thiết lập hệ thống câu hỏi cần phải trả lời, thông qua việc trả lời
những câu hỏi dạng này sẽ giúp cho học sinh có được kiến thức cơ bản về nội dungbài học một cách cần thiết nhất Hầu hết các loại câu hỏi có dạng như:
+ Vì sao như thế ? / có tác dụng gì ?/ giải thích thế nào ?
+ Sẽ thế nào nếu… ?
+ Phải thế nào để… ?
- Làm thế nào tạo ra được… trong thực tế ?
* Bước 3: Lựa chọn chính xác vấn đề để xây dựng tình huống, đây là bước
quan trọng trong quá trình thiết kế tình huống Những căn cứ để giáo viên lựa chọnvấn đề như:
- Tính cần thiết và lợi ích mà vấn đề đem lại sau khi giải quyết
- Tính đơn giản hay phức tạp của vấn đề; vấn đề có quá khó hay quá dễ
- Thời gian giải quyết vấn đề bao lâu ?
- Có phù hợp với trình độ và tâm sinh lí của học sinh hay không?
- Vấn đề có dễ thiết kế tình huống không…?
* Bước 4: Thu thập dữ liệu để thiết kế tình huống bằng cách tìm kiếm từ các
nguồn như:
- Từ những mẩu chuyện ngắn trong sách báo, tài liệu tham khảo
- Từ các website, các báo điện tử, từ Internet…
- Từ những tin tức, vấn đề, sự kiện nóng hổi đang diễn ra có liên quan đếnbài học
- Từ những tình huống bắt gặp trong cuộc sống hoặc kinh nghiệm bản thân
- Từ những kinh nghiệm dân gian trong ca dao, tục ngữ
- Từ tranh ảnh minh họa, phim ảnh…
* Bước 5: Đánh giá và phân tích dữ liệu Trong quá trình thu thập, khi có
những vấn đề chứa đựng nhiều thông tin liên quan thì giáo viên phải biết lựa chọnnhững thông tin nào là quan trọng Nếu đưa quá nhiều hay quá ít thông tin sẽ gâykhó khăn cho học sinh trong việc xác định trọng tâm của vấn đề Tính chính xác vàtính thực tiễn là những tiêu chí hàng đầu trong việc thiết kế tình huống gắn với thựctiễn Những thông tin mà giáo viên chọn lựa phải đủ thuyết phục và có chất lượng
Trang 19* Bước 6: Lựa chọn hình thức và kĩ thuật thiết kế nhằm khai thác tối đa giá
trị của tình huống đem lại Tùy theo nội dung và điều kiện cụ thể, giáo viên có thểthiết kế tình huống dưới các hình thức sau:
- Mô tả tình huống bằng câu chuyện kể
- Mô tả tình huống thông qua các câu thơ, ca dao, tục ngữ…
- Mô tả tình huống thông qua những đoạn phim ngắn, trích đoạn clip, cácđoạn âm thanh ngắn…
- Mô tả tình huống thông qua các thí nghiệm nhỏ…
- Sử dụng các tranh ảnh, hình ảnh, mẫu vật… làm gia tăng thêm tính chân thực và thực tiễn của tình huống
* Bước 7: Thiết kế tình huống Nhiệm vụ của giáo viên là phác họa được vấn
đề có tính phức tạp nhưng được cấu trúc một cách logic để người học suy nghĩ vàgiải quyết Giáo viên cần đặc biệt chú ý khi đưa ra các chứng cứ hiệu quả để giúpngười học khám phá vấn đề
* Bước 8: Hoàn thiện tình huống, là khâu cuối cùng trong quá trình thiết kế
tình huống Trong quá trình hoàn thiện tình huống, giáo viên có thể tham khảo thêm
ý kiến của đồng nghiệp hay những người có cùng chuyên môn sẽ giúp giáo viên cóthêm kinh nghiệm để thực hiện tốt khâu này Việc chăm chút cho tình huống ở khâutrình bày, chỉnh sửa các lỗi chính tả hoặc các chi tiết chưa hợp lí sẽ làm tăng giá trịcủa tình huống khi sử dụng
1.2.4.2 Các phương tiện dạy học
Khi dạy các môn học, đặc biệt là các môn khoa học tự nhiên, tính trực quan
là tính chất có tính qui luật của quá trình nhận thức khoa học
- Dùng dụng cụ trực quan: tranh ảnh, hình vẽ, các đoạn phim video clip ngắnmang tính thực tiễn giúp làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập
bộ môn, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học, đặc biệt là khả năng quan sát,
tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra những kết luận có độ tin cậy )
1.2.4.3 Liên hệ kiến thức vật lí qua bài tập định tính hay bài tập câu hỏi lí thuyết mang tính thực tiễn
Việc sử dụng cũng như giảng dạy bài tập vật lí trong trường phổ thông hiệnnay thường các GV sử dụng 2 loại bài tập: bài tập định lượng và bài tập định tính
Trang 20* Với loại bài tập định lượng: là bài tập mà muốn giải quyết nó HS vận dụngmột loạt các phép tính toán học để giải bài tập.
VD1: Tính nhiệt lượng cần phải cung cấp để làm nóng chảy hoàn toàn một
cực nước đá có khối lượng 100g ở 0 0C Nhiệt nóng chảy riêng của nước đá là3,4.105 J/kg ?
- Mục đích bài tập: Củng cố công thức tính nhiệt nóng chảy chất rắn:
Q = .m
- Để giải bài tập trên, HS cần:
+ Đọc đề bài, tìm hiểu đề bài
+ Xác lập mối liên hệ: Q = .m
+ Thay các giá trị của m, vào công thức trên, tính toán có đáp án của bài toán.Như vậy, nhiệm vụ của HS đối với các bài tập định lượng là ngồi “giải cácbài tập", chính điều này đã làm cho môn Vật lí trở nên khô khan, "chết" dần, vàthực tế dạy cho thấy học sinh ngày càng không mặn mà với các môn học này
* Trái với bài tập định lượng, bài tập định tính hay bài tập câu hỏi lí thuyết mang tính thực tiễn có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình dạy học vật lí, gây hứng thú cho HS, làm cho môn học trở nên ý nghĩa hơn.
- Đây là loại bài tập mà HS không cần phải tính toán (hay chỉ có các phéptính toán đơn giản), chỉ vận dụng các định luật, định lí, quy luật để giải thích hiệntượng thông qua các lập luận có căn cứ, có logic
Việc sử dụng cũng như giảng dạy bài tập định tính và câu hỏi thực tế trongtrường phổ thông có tác dụng giúp HS hiểu và vận dụng một cách sâu sắc nhữngkiến thức đã học, đồng thời là một trong những phương tiện giúp cho HS phát huytính tích cực, sáng tạo, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng lí thuyết vào thực tiễn,rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức, để giải quyết các vấn đề thực tiễn
Thông qua bài tập vật lí định tính và câu hỏi thực tế HS nắm được quy luậtvận động của thế giới vật chất, nó còn giúp HS hiểu rõ những quy luật, biết phântích và vận dụng những quy luật ấy vào thực tiễn
* Phương pháp giải đối với bài tập định tính
Bước 1: Đọc đề bài Tìm hiểu đề bài
Trên cơ sở phân tích các giả thiết có trong bài, tìm hiểu các hiện tượng vật lí,nếu cần thì xây dựng các sơ đồ hoặc hình vẽ Ghi tóm tắt đầu bài
Trang 21- Bước 2 và bước 3: Phân tích hiện tượng của bài toán để xây dựng chuỗi
lập luận lôgic, từ đó đi đến kết quả (câu trả lời phải tìm).
Trên cơ sở phân tích hiện tượng trong bài, HS phải xây dựng chuỗi lập luậnphân tích - tổng hợp (đây là nét đặc trưng cơ bản đối với việc giải các bài tập địnhtính) mà không cần phải tính toán
Bài tập định tính có thể là các bài tập định tính đơn giản thường gọi là cáccâu hỏi - bài tập Cách giải các bài tập này thường chỉ dựa trên một đinh luật vật lí
và chuỗi suy luận ở đây tương đối đơn giản
VD: Tại sao khi trời mới trở lạnh thì mặt hồ nước hồ ao thường có khói bốc
lên ? Em hãy kể một số hiện tượng tương tự trong thực tế mà em biết ?
Khi giải những bài tập này, trên cơ sở tìm hiểu giả thiết của bài, HS có thểthấy chỉ cần áp dụng kiến thức về hiện tượng sự bay hơi, sự ngưng tụ cho mỗitrường hợp cụ thể
Trong trường hợp giải thích hiện tượng có khói bốc lên của mặt hồ nước hồ
ao khi trời mới trở lạnh, rõ ràng có hiện tượng bay hơi và ngưng tụ, do đó cấu trúccủa chuỗi suy lí phải dựa vào kiến thức về sự bay hơi, sự ngưng tụ để mô tả hiệntượng đó Từ đó HS có thể kể một số hiện tượng về sự bay hơi, sự ngưng tụ xảy raxung quanh cuộc sống của các em: khi trời rét, hơi của ta thở ra trông cũng nhưkhói; mở nồi cơm, nồi canh nóng, hay để bát cơm, bát canh nóng, hơi nước bốc lêngặp không khí lạnh hơn cũng ngưng tụ thành sương mù trông như khói
Các bài tập định tính phức tạp được coi như là tổng hợp hoặc phối hợp nhiềubài tập đơn giản Khi làm những bài tập này phải xây dựng những chuỗi suy lí phứctạp, dài và phải phân tích vài định luật vật lí
- Bước 4: Nhận xét kết quả.
Sau khi đã xây dựng được chuỗi lập luận logic cần phân tích kết quả thuđược theo quan điểm vật lí, phân tích sự phù hợp với giả thiết và thực tiễn
Ví dụ: Chiếc giày trượt băng được gắn một thanh kim loại, bản thanh kim
loại (dao giày) phải như thế nào để các vận động viên có thể trượt nhẹ nhàng và không nguy hiểm trên mặt băng ?
Bước 1: Tìm hiểu đề bài:
- Đế giày trượt băng được gắn một dao giày
Trang 22- Các vận động viên có thể trượt nhẹ nhàng, không nguy hiểm trên mặt băng.
- Hỏi dao giày đó phải như thế nào ?
Bước 2, 3: Xây dựng chuỗi logic để tìm câu trả lời:
Phân tích đầu bài ta thấy:
- Bài tập hỏi điều kiện diện tích của dao giày như thế nào để vận động viên
có thể trượt nhẹ nhàng trên mặt băng Mà vận động viên trượt nhẹ nhàng trên mặt
băng, ta nghĩ rằng băng trơn Băng trơn không phải chỉ vì băng nhẵn và bằng phẳng, mà còn vì nhiệt độ nóng chảy của băng phụ thuộc vào áp suất trên mặt
- Mặt khác, áp suất càng cao thì nước đá nóng chảy ở nhiệt độ càng thấp Khi
áp suất do giày trượt băng ép lên phiến băng thì phiến băng bên dưới sẽ tan ra thànhnước (nhiệt độ nóng chảy nhỏ hơn 00C) và làm giảm ma sát nên ta có trượt trênbăng dễ dàng Khi người vận động viên trượt qua sẽ để lại một rãnh nước Áp suấttrên mặt nước lúc này là áp suất khí quyển nên rảnh nước sẽ đông lại thành băng(nhiệt độ đông đặc là 0oC)
- Để không nguy hiểm đến vận động viên thì việc đóng băng của các rảnhnước phải nhanh chóng Vì vậy người ta gắn vào dày trượt một thanh kim loại mảnh
để rảnh nước xuất hiện nhỏ, mau đóng băng
Trang 231.2.4.4 Dạy học gắn với thực tiễn thông qua thực hiện các dự án
1.2.4.4.1 Khái niệm phương pháp dạy học dự án (DHDA)
DHDA là một PPDH tích cực trong đó GV hướng dẫn HS thực hiện mộtnhiệm vụ học tập phức hợp gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết và thực hành, tự lựclập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả
a Đặc điểm của dạy học dự án:
● Định hướng vào học sinh, thể hiện ở:
Chú ý đến hứng thú của người học, tính tự lực cao: học sinh được trực tiếp
tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp khả năng và hứng thú của cá nhân,khuyến khích tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học.Giáo viên đóng vai trò là người tư vấn, hướng dẫn và giúp đỡ
Người học được cộng tác làm việc, lựa chọn nhiệm vụ phù hợp: Các dự án
được thực hiện theo nhóm, có sự cộng tác và phân công công việc giữa các thànhviên trong nhóm, rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm việc giữa cácthành viên tham gia, giữa giảng viên và học sinh cũng như các lực lượng xã hộitham gia vào dự án
● Định hướng vào thực tiễn
Gắn liền với hoàn cảnh: Chủ đề dự án xuất phát từ tình huống của thực tiễn
nghề nghiệp, đời sống xã hội, phù hợp trình độ người học
Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án gắn việc học tập trong nhà trường với
thực tiễn đời sống xã hội, địa phương
Kết hợp giữa lý thuyết và thực hành;
Dự án mang nội dung tích hợp: Kết hợp kiến thức và kĩ năng của nhiều môn
học hay lĩnh vực khác nhau để giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp
● Định hướng vào sản phẩm:
Các sản phẩm được tạo ra, không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết,
mà còn tạo ra sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sảnphẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu
b Các giai đoạn của dạy học dự án:
● Giai đoạn 1: Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án
Trang 24Giáo viên và học sinh cùng đề xuất, xác định đề tài và mục đích dự án, chú ýliên hệ thực tiễn xã hội và đời sống, chú ý đến hứng thú người học cũng như ý nghĩa
xã hội của đề tài Đề tài dự án cũng có thể do học sinh đề xuất
● Giai đoạn 2: Xác định đề cương, kế hoạch thực hiện
Xác định các công việc cần làm, dự kiến: thời gian, vật liệu, kinh phí,phương pháp tiến hành và phân công cho mỗi thành viên trong nhóm
● Giai đoạn 3: Thực hiện dự án, chú ý đến sản phẩm
Thực hiện phối hợp các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành.Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn
● Giai đoạn 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm
Kết quả thực hiện dự án có thể viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, … và đượcgiới thiệu công bố Sản phẩm có thể là một thành quả vật chất và những kiến thức
mà học sinh thu được
● Giai đoạn 5: Đánh giá dự án
Giáo viên và học sinh đánh giá quá trình thực hiện kết quả cũng như kinhnghiệm đạt được Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếptheo Kết quả dự án có thể được đánh giá từ bên ngoài
Việc đánh giá cũng được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của dạy học dự án
1.2.4.4.2 Tác dụng của dạy học dự án
* Dạy học dự án làm cho nội dung học tập trở nên có ý nghĩa hơn
* Dạy học dự án góp phần đổi mới phương pháp dạy học, thay đổi phương thức đào tạo
* Dạy học dự án tạo ra môi trường thuận lợi cho người học rèn luyện và phát triển
* Dạy học dự án phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học
* Dạy học dự án giúp người học phát triển khả năng giao tiếp
1.3 Dạy học gắn với thực tiễn theo hướng phát triển năng lực
1.3.1 Khái niệm năng lực
a) Khái niệm
Khái niệm năng lực gắn liền với khả năng hành động Năng lực hành động làmột loại năng lực, nhưng khi nói phát triển năng lực người ta cũng hiểu đồng thời là
Trang 25phát triển năng lực hành động Chính vì vậy trong lĩnh vực sư phạm nghề, năng lực
còn được hiểu là: khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động,
giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động.
1.3.2 Năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn
Vấn đề được hiểu như một tình huống, bao gồm các dữ kiện và các yêu cầu
có tính thực tiễn Trong dạy học HS tìm tòi kiến thức mới thì vấn đề phải có tínhthách thức – nhưng không quá khó đối với HS Lúc này nảy sinh mâu thuẫn 2 giữamột bên chủ thể có nhu cầu GQVĐ với một bên là những tri thức, kĩ năng, phươngpháp hiện có của chủ thể chưa đủ để giải quyết Từ đó chủ thể muốn giải quyết, phảikhám phá để tạo ra cho mình hiểu biết về nó và hiểu cách giải quyết tình huống đó.Một vấn đề có thể có nhiều hơn một giải pháp GQVĐ là quá trình gồm các hoạtđộng của người GQVĐ để vượt qua các trở ngại giữa tình trạng đã có với tình trạngđích mong muốn Trong quá trình GQVĐ, các kiến thức, kĩ năng, thái độ, … được
“huy động tham gia”
Năng lực GQVĐ thực tiễn bao gồm: Phát hiện/ xác định rõ vấn đề cần giải quyết; chuyển vấn đề thực tiễn thành dạng có thể khám phá, giải quyết; Thuthập thông tin và phân tích; Đưa ra (các) phương án giải quyết; Chọn phương án tối
ưu và đưa ra ý kiến cá nhân về phương án lựa chọn; Hành động theo phương án đãchọn để giải quyết vấn đề; Khám phá các giải pháp mới mà có thể thực hiện được
và điều chỉnh hành động của mình; Đánh giá cách làm của mình và đề xuất những
cải tiến mong muốn
1.3.3 Các biện pháp phát triển năng lực GQVĐ thực tiễn của học sinh trong dạy học
* Biện pháp 1 Xác lập rõ yêu cầu, nội dung phát triển năng lực GQVĐ thực
tiễn của HS trong chương trình môn học
* Biện pháp 2 Xây dựng các câu hỏi, bài tập, tình huống có nội dung thực
tiễn trong các tài liệu dạy học Các câu hỏi, bài tập, tình huống có thể được thể hiệntrong các hoạt động dạy học khác nhau như nghiên cứu xây dựng kiến thức mới;củng cố, vận dụng kiến thức; ôn tập; hoặc kiểm tra đánh giá
Trang 26* Biện pháp 3 Sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nhằm
tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh; tăng cường sự tham gia hiệu quả củahọc sinh trong giải quyết các vấn đề thực tiễn
1.3.4 Dạy học gắn với thực tiễn với phát triển năng lực giải quyết vấn đề
Dạy học theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn giúp HS :
- Nắm vững kiến thức, liên hệ giữa các kiến thức
- Có khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng vào cuộc sống, công việc
- Có ý thức trách nhiệm đối với gia đình, xã hội; ý thức nâng cao chất lượng,hiệu quả công việc
1.4.Tổ chức hoạt động học Vật lí ở trường phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của HS
1.4.1 Tính tích cực của HS trong học tập
* Khái niệm tính tích cực của HS trong học tập
Tính tích cực học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự cố gắng cao
về nhiều mặt trong học tập (L.V.Rebrova, 1975) Học tập là một trường hợp riêngcủa nhận thức " Một nhận thức đã đực làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới
sự chỉ đạo của GV" (P.N.Erđơnive, 1974) Vì vậy nói tới tích cực học tập thực chất
là nói tới tích cực nhận thức của HS đặc trưng ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ
và nghị lực cao trong quá trình học tập
* Các biểu hiện tính tích cực của học sinh trong học tập
Tính tích cực trong hoạt động nhận thức là trạng thái hoạt động của HS,được đặc trưng bởi khát vọng học tập, sự cố gắng trí tuệ với nghị lực cao trong quátrình nắm vững kiến thức cho chính mình Tính tích cực học tập ở HS biểu hiện ởnhững dấu hiệu:
- Biểu hiện bên ngoài, qua thái độ, hành vi và hứng thú: HS chú ý lắng nghe,
quan sát, theo dõi thầy cô giáo, khao khát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi củagiáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, phát biểu ý kiến của mình trước vấn đềnêu ra, nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ
- Biểu hiện bên trong: những biểu hiện này khó phát hiện hơn, như có tư duy
chuyển biến, có những sáng tạo trong học tập hơn trước, tập trung chú ý vào nhữngvấn đề đang học
Trang 27- Biểu hiện qua kết quả học tập: HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến
thức, kỹ năng đã học để nhận thức vấn đề mới, kiên trì hoàn thành các bài tập,không nản lòng trước những tình huống khó khăn và đạt kết quả học tập tốt hơn.Đồng thời HS vận d
ụng được các kiến thức đã học vào thực tiễn: giải thích các hiện tượng trongthực tế liên quan đến kiến thức, đề xuất các giải pháp ứng dụng kỹ thuật…
* Các biện pháp phát huy tính tích cực của HS trong học tập
Các biện pháp nâng cao tính tích cực nhận thức của HS trong dạy học cóthể được tóm tắt như sau:
- Nói lên ý nghĩa lí thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đề nghiêncứu
- Nội dung DH phải mới, nhưng không quá xa lạ với HS mà cái mới phải liên
hệ, phát triển cái cũ và có khả năng áp dụng trong tương lai Kiến thức phải có tínhthực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, suy nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận thức củaHS
- Phải dùng các PP đa dạng: phát hiện và giải quyết vấn đề, đàm thoại, thínghiệm, thực hành, so sánh, tổ chức thảo luận và phối hợp chúng với nhau
- Kiến thức phải được trình bày trong dạng động, phát triển và mâu thuẫn vớinhau, tập trung vào những vấn đề then chốt, có lúc diễn ra một cách đột ngột, bất ngờ
- Sử dụng các phương tiện DH hiện đại
- Sử dụng các hình thức tổ chức DH khác nhau: cá nhân, nhóm, tập thể, thamquan, làm việc trong vườn trường, phòng thí nghiệm
- Luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong các tình huống mới
- Thường xuyên kiểm tra đánh giá, khen thưởng và kỉ luật kịp thời, đúng mức
- Kích thích tính tích cực qua thái độ, cách ứng xử giữa GV và HS
- Phát triển kinh nghiệm sống của HS trong học tập qua các phương tiệnthông tin đại chúng và các hoạt động xã hội
- Tạo không khí đạo đức lành mạnh trong lớp, trong trường, tôn vinh sự họcnói chung và biểu dương những HS có thành tích học tập tốt
- Có sự động viên, khen thưởng từ phía gia đình và xã hội
Trang 281.4.2 Tính tự lực trong hoạt động nhận thức của HS
Cơ sở hình thành tính tích cực là tính tự giác, tính tích cực phát triển đến mộtmức độ nào đó thì hình thành tính tự lực Như vậy, tính tự lực chứa đựng trong đó
cả tính tự giác và tính tích cực
* Biện pháp phát huy tính tự lực trong hoạt động nhận thức của HS
Để phát huy được tính tự lực trong hoạt động nhận thức của HS, người GVcần đảm bảo được các điều kiện sau:
- Đảm bảo cho HS có điều kiện tâm lí thuận lợi để tự lực hoạt động:
+ Tạo mâu thuẫn nhận thức, gợi động cơ, hứng thú tìm ra cái mới: GV có thểgợi động cơ hứng thú học tập bằng các tác động bên ngoài như khen thưởng, hứahẹn một viễn cảnh tương lai tốt đẹp
+ Tạo môi trường sư phạm thuận lợi: GV cần biết chờ đợi, động viên, giúp
đỡ và lãnh đạo lớp học sao cho HS mạnh dạn tham gia thảo luận, phát biểu ý kiếnriêng của mình, nêu thắc mắc, lật ngược vấn đề, chứ không phải chờ đợi sự phán xétcủa GV
- Tạo điều kiện thuận lợi cho HS có thể giải quyết thành công những nhiệm
vụ được giao:
+ Lựa chọn một logic nọi dung bài học phù hợp: phân chia bài học thànhnhững vấn đề nhỏ, vừa sức với trình độ xuất phát của HS sao cho họ có thể tự lựcgiải quyết được với sự cố gáng vừa phải
+ Rèn luyện cho HS kỹ năng thực hiện một số thao tác cơ bản bao gồm thaotác chân tay và thao tác tư duy
+ Cho HS làm quen với các phương pháp nhận thức vật lí được sử dụngphổ biến Muốn cho HS làm quen với phương pháp đi tìm chân lí mới trong quátrình học tập, nhất thiết phải dạy cho các em phương pháp nhận thức phổ biến.Trong nhà trường phổ thông hiện nay, những phương pháp nhận thức phổ biến haydùng là: phương pháp thực nghiệm, phương pháp tương tự, phương pháp mô hình,phương pháp thí nghiệm lí tưởng
Như vậy, một trong những biện pháp để phát huy được tính tích cực, tự lựctrong hoạt động nhận thức của HS là cần phải đưa họ vào tình huống có vấn đề và
Trang 29tổ chức cho họ giải quyết vấn đề đó Sau khi giải quyết được vấn đề nhận thức HSthu được kiến thức và đạt được mục tiêu bài học đã đề ra.
1.4.3 Tính sáng tạo trong hoạt động nhận thức của HS
* Khái niệm năng lực sáng tạo
"Sáng tạo là một loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thầnhay vật chất có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị" (Sáng tạo Bách khoatoàn thư Liên Xô Tập 42, trang 54)
Về thực chất sáng tạo không chỉ là một đặc trưng chỉ sự khác biệt giữangười và sinh vật khác mà còn là một đặc trưng chỉ sự khác biệt về sự đóng góp chotiến bộ xã hội, giữa người này và người khác
Quá trình sáng tạo của con người thường bắt đầu từ một ý tưởng mới, bắtnguồn từ tư duy sáng tạo của mỗi con người
Sáng tạo đối với HS thường là HS sáng tạo lại cái mà nhân loại đã biết(nhưng HS chưa biết) đó thật ra là sáng tạo, còn GV đã biết và biết cách làm
* Biện pháp phát huy tính sáng tạo trong hoạt động nhận thức của HS
Để phát huy được tính sáng tạo trong hoạt động nhận thức của HS ngoài việccần phát huy được tính tích cực, tự lực chúng ta cũng cần chú ý tới những điều sau:
- Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới
- Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết
- Xây dựng những loại bài tập bồi dưỡng năng lực sáng tạo
1.4.4 Mối liên hệ giữa tích cực, tực lực và sáng tạo
Trong hoạt động dạy học, HS vừa là đối tượng vừa là chủ thể của quá trìnhdạy học Do đó, chất lượng dạy học phụ thuộc nhiều vào vai trò chủ thể của HStrong quá trình dạy học Vai trò chủ thể được thể hiện ở tính tích cực, tự lực và sángtạo của HS trong việc tìm kiếm kiến thức và vận dụng kiến thức một cách sáng tạovào thực tiễn
- Nhờ tính tích cực trong học tập mà các quá trình tâm lí như tư duy, tưởng
tưởng, tri giác, trí nhớ,… được phát triển cao nhất và góp phần làm cho trí tuệ của
HS được phát triển
- Trong quá trình tự lực tìm kiếm tri thức, người học phải tự làm việc với tài
liệu, tự mày mò tìm kiếm tri thức, tự cọ xát với thực tế buộc người học phải tự động
Trang 30não, tự mình tiến hành tư duy, tượng tưởng, tri giác, trí nhớ, vận dụng ngôn ngữ,thậm chí là cảm xúc, tình cảm của bản thân Và trong quá trình tư duy, người họcphải sử dụng các thao tác tư duy, phân tích – tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa,khái quát hóa, …để giải quyết vấn đề được đặt ra và như vậy làm cho năng lực tưduy của người học phát triển.
- Tính tích cực của HS thì sự cân bằng năng lượng sinh hóa – cơ sở của tưduy – sẽ càng phong phú, và những kiến thức lĩnh hội được lại càng sâu sắc hơn.Chỉ có kích thích sự hoạt động nhận thức của chính HS và nâng cao những cố gắngbản thân các em trong việc nắm vững kiến thức ở tất cả các giai đoạn dạy học thì
HS mới có thể cải thiện được kết quả học tập Sự hoạt động tự lực là phương tiện và
đồng thời là kết quả của sự tự giáo dục
1.4.5 Dạy học gắn với thực tiễn với việc phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo
Nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong tình hình hiện nay, chúng ta đanghướng tới các PPDH tích cực Dạy học gắn thực tiễn cũng là một yêu cầu cần phảiđặt ra đối với cả GV, trong kiểu dạy học gắn với thực tiễn, HS có thể tiếp cận vớicác vấn đề có nội dung rất thực tế mang hơi thở của thời đại, quá trình dạy họckhông còn là dạy các bài học cụ thể để xây dựng kiến thức mới cho HS nữa, màphải hướng tới quá trình lĩnh hội kiến thức mới, và cũng chính là quá trình sử dụngkiến thức mới vào giải quyết vấn đề thực tiễn đích thực đang có trong cuộc sống
1.5 Thực trạng về vấn đề dạy học có nội dung gắn thực tiễn
1.5.1 Thực trạng về vấn đề dạy học có nội dung gắn thực tiễn trên thế giới
* Phần Lan:
- Giáo dục Phần Lan vận hành theo một triết lý (tư tưởng) giáo dục độc đáo,thể hiện ở quan điểm đối với HS và giáo viên: hai chủ thể quan trọng nhấtnày của nhà trường phải được quan tâm và tôn trọng hết mức Nhiệm vụ của giáoviên là làm cho HS hào hứng học tập, say mê hiểu biết, quan tâm tập thể và xã hội
Ưu điểm của chế độ học tập ở Phần Lan là ươm trồng tinh thần hợp tác chứ không
phải là tinh thần cạnh tranh Người Phần Lan không vội vàng bắt lũ trẻ học quá
căng thẳng mà dần dần từng bước gợi mở ở chúng lòng ham học, ham khám phá,
ham sáng tạo chứ không ham thành tích, ham điểm số cao, thứ hạng cao.
Trang 31* Mỹ:
Trong quá trình xây dựng và phát triển của mình, Mỹ đặc biệt quan tâm đếnviệc đầu tư cho giáo dục Với lịch sử của nước Mỹ và nhân dân Mỹ, từ nhiều nguồn
gốc, nhiều nhu cầu, khát vọng khác nhau, thực tế giáo dục Mỹ luôn nhạy cảm với
những điểm yếu và nhận thức được những điểm mạnh của mình để có thể phát triển một tương lai tốt đẹp
- Là đất nước có nền giáo dục phát triển mạnh mẽ và mang tính thực tiễn cao.
* Thụy Sĩ: Nước nhỏ mà không nhỏ
Tài nguyên con người của Thụy
Sĩ được đào tạo ngay từ tấm bé để lớn
lên nắm vững kiến thức khoa học sâu rộng để có thể quyết định chính xác những hướng phát triển kinh tế, phát
huy sở trường của mỗi dân tộc sản xuất
ra những sản phẩm công nghiệp độc
đáo (tính chính xác tỉ mỉ đưa đến những công nghiệp sản xuất đồng hồ.
Chính phủ Thụy Sĩ chú ý đặc biệt nhất đến cái nền của giáo dục: đó là giáo
dục phổ thông (GDPT) Chương trình chủ yếu dạy học sinh biết cách sống trong xã
hội, trong thiên nhiên nơi mình cư trú, vì thế học sinh bắt đầu mới vào lớp 1 mà đã được cho đi dã ngoại nơi gần nhà nhất; lên lớp 3 đi lên vùng trượt tuyết
* Nhật Bản:
Các trẻ em Nhật bản được chú trọng chăm sóc sức khỏe và giáo dục thể chấtmột cách tốt nhất; các hoạt động lễ hội, thể thao, âm nhạc, tạo hình, xếp giấy …được tổ
chức theo mùa Đặc biệt trẻ em Nhật bản được giáo dục tính tự giác, tự lập, tính kiên
trì và kỹ năng sống từ rất sớm và được rèn luyện một cách bài bản và thường xuyên
với cơ sở vật chất khang trang, hiện đại và đầy đủ, một đội ngũ GVMN chuyên nghiệptrình độ cao và trong tình yêu thương và quan tâm của mọi người
Hệ thống giáo dục của Nhật có tính ưu việt rõ rệt, kết hợp phương tiện dạy
học hiện đại với phương pháp giảng dạy đổi mới đề cao tính tương tác, gắn liền thực tiễn, thể hiện qua việc tăng cường nâng cao dân trí, tạo nên lực lượng lao
động tay nghề cao, được trả lương hậu
Trang 321.5.2 Thực trạng về vấn đề dạy học có nội dung gắn thực tiễn ở Việt Nam
- Vấn đề cải cách giáo dục nói chung và đổi mới phương pháp dạy học nóiriêng được nhìn nhận và phân tích dưới nhiều góc độ, nhưng đều thống nhất ở mộtđiểm: năng lực thực tế của sinh viên hiện còn thấp so với yêu cầu của xã hội, nênhàng năm, hàng vạn HS, SV ra trường chưa tìm được việc làm thích hợp Điều đóphản ánh một thực tế là nền giáo dục Việt Nam còn mang nặng tính lý thuyết, xa rờithực tế cuộc sống kết quả là, một số lớn sinh viên học xong đại học nhưng chưa
có “nghề”, không có khả năng hội nhập, không hiểu mình cần làm cái gì, làm nhưthế nào
1.5.2.1 Tình hình về vấn đề dạy học có nội dung gắn với thực tiễn hiện nay trong dạy học môn vật lý ở các trường THPT thuộc địa bàn Thành phố Uông
Bí - tỉnh Quảng Ninh
Thành phố Uông Bí tâm điểm vùng tam giác động lực phát triển của miềnBắc là Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, có vị trí chiến lược quan trọng về pháttriển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng của khu vực phía tây tỉnh Quảng Ninh, là
đô thị chuyên ngành công nghiệp năng lượng trong vùng duyên hải Bắc Bộ
Vì vậy, để đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trên, bên cạnh việc giáo dục
tư tưởng đạo đức, pháp luật cho HS, các nhà trường cần phát triển trí tuệ, khả năngsáng tạo và năng lực thực hành, biết phát hiện và giải quyết hợp lý những vấn đềnảy sinh trong thực tiễn
- Mục đích điều tra
+ Thực trạng dạy học vật lí gắn với thực tiễn của GV, đồng thời tìm hiểuviệc sử dụng các hình thức dạy học vật lí gắn với thực tiễn tại các trường THPThiện nay
+ Thực trạng về vấn đề vận dụng kiến thức Vật lí vào trong đời sống của HS.+ Rút ra kết luận cần thiết và tìm hiểu những biện pháp dạy học vật lí gắn vớithực tiễn hiện nay
- Đối tượng điều tra
+ Nhằm tạo cơ sở thực tiễn cho đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạngVật lí ở một số trường THPT trên địa bàn thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh trong
Trang 33năm học 2013- 2014: THPT Hồng Đức, THPT Nguyễn Tất Thành, THPT Hoàng VănThụ , THPT Công Thành, THPT Uông Bí.
+ Đối tượng điều tra: chúng tôi tiến hành điều tra 30 GV hiện đang trực tiếpgiảng dạy môn Vật lí ở cả 5 trường THPT tại Thành phố Uông Bí, Quảng Ninh và 2lớp HS (tổng số 92 HS) đang học lớp 10 ở 2 trường trên địa bàn Thành phố Uông Bí(THPT Công Thành, THPT Uông Bí)
+ Phương pháp tiến hành: Phỏng vấn và phát phiếu điều tra trực tiếp, dự giờ
1.5.1.2 Kết quả điều tra - phân tích kết quả
Trên cơ sở nghiên cứu mục tiêu, quan điểm xây dựng chương trình, cấu trúcnội dung chương trình Vật lí, định hướng đổi mới phương pháp dạy học và cơ sở líluận của việc dạy học gắn với thực tiễn, chúng tôi đã thiết kế phiếu điều tra (xemPhụ lục 1 Bảng 1.1) kết hợp với trực tiếp dự giờ, trao đổi ý kiến với GV nhằm điềutra về các vấn đề sau và kết quả điều tra thu được:
Dựa vào kết quả thu được ta nhận thấy
- Việc dạy học gắn với thực tiễn còn ít GV quan tâm, còn coi nhẹ thực hành,
vận dụng kiến thức; phương pháp giáo dục còn lạc hậu, nhiều bất cập Quá trình dạy học còn thiếu gắn kết với tình hình thực tiễn, cuộc sống xung quanh nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh
- GV không nắm được bản chất cũng như quy trình sử dụng kiến thức có nộidung thực tế Chưa giải quyết các tình huống có vấn đề trong thực tiễn và hiện naytrong môn vật lý thường gặp phải mâu thuẫn giữa lý thuyết và thực tiễn ( xem Phụlục 1 Bảng 1.2)
Dựa vào kết quả chúng tôi nhận xét như sau:
- Đa số các GV chủ yếu sử dụng và chú trọng vào vấn đề dạy kiến thứctrong SGK cho xong chứ chưa chú trọng vận dụng kiến thức thực tế lồng ghép vàotrong tiến trình dạy học, bài kiểm tra
- Hầu như các GV cho rằng họ gặp khó khăn nhiều hoặc rất nhiều về vấn đềtài liệu, trong quá trình điều tra chúng tôi cũng có trao đổi với một số GV, đối vớinhững GV trẻ thì họ cảm thấy thật khó khăn vì mới vào nghề, tài liệu chưa có Tuyhiện nay họ có thể bổ sung từ các phương; tiện thông tin đại chúng, nhưng đối vớiviệc tìm một quyển sách đối với GV là khó; còn đối với GV lâu năm phần đông GV
nữ tuy có kinh nghiệm giảng dạy nhưng trình độ tin học, internet, các phương pháp dạy
Trang 34học mới (dạy học dự án) rất hạn chế, lối dạy học truyền thống trong tư tưởng họ khóthay đổi nên ít nhiều đã ảnh hưởng đến yêu cầu đặt ra của ngành giáo dục hiện tại.
1.5.2.2 Kết quả điều tra HS về vấn đề vận dụng kiến thức vật lý vào thực
tế đời sống của HS THPT hiện nay
- Mục tiêu khảo sát: kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức và khả năng vận dụng
kiến thức vật lý vào thực tế đời sống của HS THPT hiện nay.
- Kết quả điều tra khảo sát của chúng tôi thu được như sau: (bảng 1.3 - phụlục 1)
Qua điều tra để HS, có kết quả:
+ Có 60 % HS có thể nắm được kiến thức vật lí, nhưng không vận dụngđược kiến thức để giải thích được các hiện tượng cũng như giải quyết được các vấn
đề liên quan bài học vào thực tế
+ Có 65% HS không có hứng thú, tích cực học tập trong giờ học với cáchdạy hiện tại của thầy (cô) trên lớp
+ Có 68% HS không thấy được tầm quan trọng của kiến thức phần "Sựchuyển thể" - Vật lí 10
+ Trong khi đó có 83% HS rất hứng thú với các giờ học có gắn liền nội dungkiến thức bài học với những tình huống, bài tập mang tính thực tiễn, những dự ángắn liền với cuộc sống hàng ngày mà giáo viên yêu cầu thực hiện
1.6 Kết luận chương 1
Dạy học gắn với thực tiễn nhằm đưa thực tiễn vào trong quá trình dạy học, ởđây GV không những hướng dẫn cho HS tìm kiến thức, xử lí thông tin mà cònhướng dẫn HS, cho HS thấy được tầm quan trọng của kiến thức cũng như nhữngứng dụng của kiến thức trong cuộc sống quanh ta, tạo cơ hội cho các em học tậpthoải mái, phát huy tính tích cực, tự lực, khả năng sáng tạo nhằm giải quyết tốtnhững vấn đề cuộc sống thực tiễn đặt ra
Trang 35CHƯƠNG II THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC PHẦN “SỰ CHUYỂN THỂ” – VẬT LÝ 10 GẮN VỚI THỰC TIỄN
2.1 Nội dung kiến thức SGK phần sự chuyển thể
2.1.1 Nội dung kiến thức ở THCS
Chương
trình Vật lý
ở THCS
Nội dung
Lớp 6 1 Sự nóng chảy – Sự đông đặc
- Sự nóng chảy là quá trình chuyển từ thể rắn sang thể lỏng Sự đông đặc
là quá trình chuyển từ thể lỏng sang thể rắn
- Mỗi chất rắn kết tinh nóng chảy (đông đặc) ở một nhiệt độ xác định gọi
là nhiệt độ nóng chảy (đông đặc) Trong thời gian nóng chảy (đông đặc) nhiệt độ của chất không thay đổi
2 Sự bay hơi – Sự ngưng tụ
- Sự bay hơi là quá trình chuyển từ thể lỏng sang thể hơi (khí) xảy ra trênmặt thoáng chất lỏng ở nhiệt độ bất kì Sự ngưng tụ là quá trình chuyển từthể hơi sang thể lỏng Sự bay hơi xảy ra ở nhiệt độ bất kì và luôn kèm theo sự ngưng tụ
- Tốc độ bay hơi phụ thuộc vào nhiệt độ, gió và diện tích mặt thoáng của chất lỏng
để nhận biết sự chuyển thể qua lại giữa ba thể: rắn, lỏng và khí xảy ra khi
có sự thay đổi về nhiệt độ và áp suất bên ngoài
* ỨNG DỤNG:
Trang 361 Sự nóng chảy – Đông đặc
+ Dùng trong các ngành công nghiệp đúc mà chủ yếu là công nghệ đúc kim loại: đúc tượng, đúc chuông, đúc trống, đúc hoa văn – trang trí, đúc
nữ trang, …
2 Sự bay hơi - Sự ngưng tụ
Sản xuất muối từ nước biển; giải thích tạo thành mây, sương mù, mưa, tuyết, ; sự bay hơi của Âmônic, frêôn, , được ứng dụng trong kĩ thuật lạnh; biện pháp muốn khu nhà ở mát vào mùa hè oi bức thì cần trồng nhiều cây xanh xung quanh nhà, giữ cho các sông hồ trong sạch; biện pháp lảm giảm sự bốc hơi từ cây xanh là phạt bớt lá, …
Q = m.c.t
Trong đó:
Q: Nhiệt lượng cần cung cấp cho một khối lượng chất lỏng m để làm thayđổi nhiệt độ từ t1 đến t2 (J)
m: Khối lượng của vật (kg)
t: Độ tăng nhiệt độ của vật (oC hoặc K)
c: Nhiệt dung riêng của chất làm vật (J/kg.K)
Nhiệt được truyền từ vật có nhiệt độ cao hơn sang vật có nhiệt độ thấp hơn cho tới khi nhiệt độ của hai vật bằng nhau ta có phương trình cân bằng nhiệt:
Qtỏa ra = Qthu vào
Những kiến thức đơn giản này tạo nền tảng ban đầu giúp cho HS tiếp thu sâu sắc nội dung kiến thức phần “Sự chuyển thể” của SGK Vật lý 10
2.1.2 Nội dung kiến thức SGK Vật lý 10
Trang 37Ở chương trình THPT, Vật lý 10 HS được nghiên cứu sâu thêm về mặt địnhtính cũng như mặt định lượng những vấn đề đã học ở lớp dưới, đồng thời được tiếp cận với nhiều khái niệm mới của nội dung kiến thức phần “Sự chuyển thể” Đặc biệt
là HS tích lũy vốn kiến thức cho việc vận dụng chúng vào trong thực tế đời sống và
kỹ thuật Các khái niệm, hiện tượng rất gần gũi trong đời sống được HS nghi ngờ sẽmột phần làm sáng tỏ
Nội dung kiến thức phần “Sự chuyển thể” của SGK Vật lý 10.
chuyển thể Nhiệt chuyển thể là nhiệt lượng mà vật thu vào hay
tỏa ra trong quá trình chuyển thể
2 Sự nóng chảy – Sự đông đặc
- Sự nóng chảy là quá trình chuyển từ thể rắn sang thể lỏng Sựđông đặc là quá trình chuyển từ thể lỏng sang thể rắn
- Dưới áp suất ngoài xác định, mỗi chất rắn kết tinh nóng chảy(đông đặc) ở một nhiệt độ xác định gọi là nhiệt độ nóng chảy hayđiểm nóng chảy (nhiệt độ đông đặc hay điểm đông đặc) Trongsuốt quá trình nóng chảy (đông đặc), nhiệt độ của chất không thayđổi
- Đối với chất rắn kết tinh khi chuyển thể có sự biến đổi thể tíchriêng, thể tích riêng ở thể rắn nhỏ hơn ở thể lỏng Trừ trường hợpcủa nước, thể tích riêng ở thể rắn lớn hơn ở thể lỏng (hay khốilượng của nước đá nhỏ hơn khối lượng riêng của nước)
- Nhiệt lượng mà chất rắn kết tinh thu vào khi nóng chảy (tỏa rakhi đông đặc) gọi là nhiệt nóng chảy
Q = .m
Trang 38Trong đó:
Q: Nhiệt nóng chảy của vật (J)
m: Khối lượng của vật (kg)
: Nhiệt nóng chảy riêng của chất làm vật (J/kg)
- Khi được đun nóng, chất rắn vô định hình mềm dần rồi chuyểnthành lỏng Chất rắn vô định hình không có nhiệt độ nóng chảyxác định Trong quá trình nóng chảy, nhiệt độ của chất vô địnhhình tăng liên tục
3 Sự hóa hơi – Sự ngưng tụ
- Sự hóa hơi là quá trình chuyển từ thể lỏng sang thể khí (hơi) Sựngưng tụ là quá trình chuyển từ thể hơi sang thể lỏng Sự hóa hơixảy ra dưới hai hình thức là: bay hơi và sôi
- Nhiệt lượng mà khối chất lỏng thu vào trong quá trình hóa hơi ởmột nhiệt độ xác định gọi là nhiệt hóa hơi:
Q = L.m
Trong đó:
Q: Nhiệt hóa hơi của khối chất lỏng(J)
m: Khối lượng của phần chất lỏng biến thành hơi (kg)
L: Nhiệt hóa hơi riêng của chất lỏng (J/kg)
- Sự bay hơi là sự hóa hơi xảy ra trên mặt thoáng của chất lỏng.Nhiệt độ càng cao, gió càng mạnh, diện tích mặt thoáng của chấtlỏng càng lớn thì tốc độ bay hơi càng lớn và ngược lại
+ Tốc độ bay hơi phụ thuộc vào nhiệt độ, gió, diện tích mặtthoáng của chất lỏng và bản chất của chất lỏng Nhiệt độ càngcao, gió càng mạnh, diện tích mặt thoáng của chất lỏng càng lớnthì tốc độ bay hơi càng lớn và ngược lại, các chất lỏng có bản chấtkhác nhau thì tốc độ bay hơi khác nhau
+ Khi khối chất lỏng bay hơi thì nó sẽ nhận nhiệt từ các vật tiếpxúc với nó và làm lạnh chúng Cho nên nhiệt độ của khối chấtlỏng sẽ giảm đi khi bay hơi
Trang 39- Sự sôi là quá trình hóa hơi xảy ra không chỉ ở mặt thoáng khốichất lỏng mà còn từ trong lòng khối lỏng ở một nhiệt độ xác định + Dưới áp suất ngoài xác định, mỗi chất lỏng sôi ở một nhiệt độxác định gọi là nhiệt độ sôi (điểm sôi) Trong suốt quá trình sôi,nhiệt độ của chất lỏng không thay đổi Tại nhiệt độ đó, áp suất hơibão hòa của chất lỏng không thay đổi Tại nhiệt độ đó, áp suất hơibão hòa của chất lỏng bằng áp suất ngoài tác dụng lên mặt thoángkhối chất lỏng.
+ Nhiệt độ sôi của chất lỏng phụ thuộc vào bản chất của chấtlỏng và áp suất của chất khí trên mặt thoáng: áp suất của chất khícàng lớn thì nhiệt độ sôi của chất lỏng càng cao Ngược lại, ápsuất của chất khí càng nhỏ, nhiệt độ sôi của chất lỏng càng thấp.Điều này giải thích được tại sao ở trên núi cao người ta không thểluộc chín trứng trong nước sôi
- Có hai cách làm ngưng tụ hơi nước: làm lạnh và nén đẳng nhiệt.Khi ngưng tụ, hơi tỏa ra nhiệt lượng đúng bằng nhiệt hóa hơi
- Hơi khô và hơi bão hòa
+ Khi tốc độ bay hơi lớn hơn tốc độ ngưng tụ, áp suất hơi tăngdần và hơi trên mặt thoáng là hơi khô Hơi khô tuân theo định luậtBôi lơ – Mariốt
+ Khi tốc độ bay hơi bằng tốc độ ngưng tụ, hơi trên mặt thoáng làhơi bão hòa có áp suất đạt giá trị cực đại gọi là áp suất hơi bãohòa
+ Áp suất hơi bão hòa không phụ thuộc vào thể tích hơi và khôngtuân theo định luật Bôi lơ – Mariốt, nó chỉ phụ thuộc vào bản chất
và nhiệt độ của chất lỏng Khi nhiệt độ tăng thì áp suất hơi bãohòa tăng
+ Khi áp suất hơi bão hòa bằng áp suất ngoài tác dụng lên mặtthoáng chất lỏng thì chất lỏng sôi
+ Đối với mỗi chất, tồn tại một nhiệt độ gọi là nhiệt độ tới hạncủa mỗi chất, thì chất đó chỉ tồn tại ở thể khí và không thể hóa
Trang 40lỏng khí đó bằng cách nén.
+ Muốn biến đổi hơi khô thành hơi bão hòa (ngược lại), ta phảităng tốc độ ngưng tụ và giảm tốc độ bay hơi để một phần hơichuyển thành chất lỏng bằng cách tăng áp suất (nén đẳng nhiệt)hoặc giảm nhiệt độ đến thấp hơn nhiệt độ tới hạn
Nóng chảy Hóa hơi
Thu nhiệt: Thu nhiệt:
Q = .m Q = L.m
*ỨNG DỤNG:
1 Sự nóng chảy – Đông đặc
+ Sử dụng tính chất đặc biệt của muối là khi hòa tan thành dung
dịch muối thì nó có nhiệt độ đông đặc thấp hơn so với nhiệt độđông đặc của nước nguyên chất nên được ứng dụng trong việc cầnlàm lạnh hoặc đông đặc nhanh các thực phẩm đồ uống hàng ngày(bia, nước đóng chai, sinh tố, yogurt, … ) bằng muối và nước đáđồng thời muối còn được ứng dụng vào việc làm tuyết tan nhanhhơn trên các đường cao tốc hay trên các vỉa hè ở những nước cótuyết rơi bằng cách rắc muối lên nó
+ Dùng trong các ngành công nghiệp đúc mà chủ yếu là côngnghệ đúc kim loại: đúc tượng, đúc chuông, đúc trống, đúc hoa văn– trang trí, đúc nữ trang, …
2 Sự bay hơi- Sự ngưng tụ
+ Trong kỹ thuật người ta đã dựa vào đặc điểm nhiệt độ của khốichất lỏng sẽ giảm đi khi bay hơi để thiết kế được các dụng cụ sửdụng năng lượng mặt trời
+ Làm cho khí hậu điều hòa nhờ sự bay hơi của nước từ các biển,
RẮN LỎNG KHÍ
(HƠI)