Xác định tầm quan trọng của Âm nhạc trong việc phát triển thẩm mĩ vàhoàn thiện nhân cách con người, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa môn Âmnhạc vào giảng dạy trong các nhà trường phổ thông.
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐẶNG VĂN THUẤN
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
ÂM NHẠC Ở TRƯỜNG CĐSP HƯNG YÊN
Chuyên ngành: QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Mã số: 60140114
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ NGỌC THANH
HÀ NỘI, NĂM 2014
Trang 2CHÚ THÍCH NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CĐSP : Cao đẳng sư phạm
CSVC – TBDH : Cơ sở vật chất – Thiết bị dạy họcĐVHT : Đơn vị học trình
GDÂN : Giáo dục âm nhạc
GD&ĐT : Giáo dục đào tạo
Trang 3MỤC LỤC
HÀ NỘI, NĂM 2014 1
Phát huy được tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo của người học, tăng khả năng làm việc theo nhóm, tự học, tự nghiên cứu, tạo được hứng thú trong việc học của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo 82 Tạo động lực cho đội ngũ giáo viên tự bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, có khả năng đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học 82
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Trong sự phát triển của mỗi quốc gia, giáo dục luôn đóng một vai tròhết sức quan trọng và là nhân tố quyết định đến sự phát triển của đất nước đó.Nhận thức được vai trò to lớn của giáo dục trong sự nghiệp phát triển đấtnước, Đảng ta đã xác định phát triển Giáo dục và Đào tạo là "Quốc sách hàngđầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển"
Trong giai đoạn hiện nay các cuộc cách mạng khoa học - công nghệphát triển với những bước tiến nhảy vọt, đưa thế giới từ kỉ nguyên côngnghiệp sang kỉ nguyên công nghệ thông tin và kinh tế trí thức Khoa học côngnghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế- xã hội, mà nền tảngcủa sự phát triển đó chính là nhờ giáo dục - đào tạo
Đại hội lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam (tháng 4 năm 2001) đãchỉ rõ: ‘‘Phát triển giáo dục – đào tạo là một trong những động lực quan trọngthúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huynguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tếnhanh và bền vững"
Đại hội lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam (tháng 4 năm 2006)khẳng định " Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu,chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chếquản lí để tạo được chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nướcnhà, tiếp cận với trình độ giáo dục của khu vực và thế giới; khắc phục cáchđổi mới chắp vá, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu kế hoạch đồng bộ Xây dựngnền giáo dục của dân, do dân và vì dân; bảo đảm công bằng về cơ hội học tập
cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời".
Đại hội lần thứ XI của Đảng (tháng 4 năm 2011) tiếp tục nhấn mạnh:
“Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục,
Trang 5đào tạo Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phươngpháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàndiện, đặc biệt coi trọng giáo dục lí tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cáchmạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành, tác phongcông nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về sốlượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng Đề cao trách nhiệm của gia đình và xãhội phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong giáo dục thế hệ trẻ Tiếp tục pháttriển và nâng cấp cơ sở vật chất - kĩ thuật cho các cơ sở giáo dục, đào tạo.Đầu tư hợp lí, có hiệu quả xây dựng một số cơ sở giáo dục, đào tạo đạt trình
độ quốc tế ”
Nghị quyết Hội nghị TƯ 8 khóa XI ngày 4/11/2013 đã nêu bật quanđiểm: " Đổi mới căn bản công tác quản lí giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ,thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục,đào tạo; coi trọng quản lí chất lượng"
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, các trường đại học, cao đẳng đóngvai trò quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội, chất lượngđào tạo nguồn nhân lực lại phụ thuộc nhiều vào chất lượng đội ngũ giảngviên Nếu không có đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, mạnh về chất lượng,đồng bộ về cơ cấu với trình độ chuyên môn cao, năng lực sư phạm giỏi thìkhông thể nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng đào tạo
Đổi mới phương pháp dạy và học trong các nhà trường theo hướng hiệnđại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năngcủa người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.Quản lí nhà trường thì trọng tâm vẫn là quản lí hoạt động dạy và học, giữ vịtrí quan trọng chi phối các hoạt động khác Đối với giảng viên, chất lượng dạyhọc là thước đo năng lực của người thày nói chung và năng lực nhà quản línói riêng
Trang 6Trong nhà trường phổ thông, giáo dục Âm nhạc là con đường cơ bản đểgiáo dục thẩm mĩ cho học sinh, góp phần đào tạo con người mới phát triểntoàn diện, có đạo đức trong sáng, tâm hồn phong phú, lành mạnh Giáo dục
Âm nhạc trong nhà trường đã, đang và ngày càng được coi trọng đúng mức
Âm nhạc với vẻ đẹp của nó sẽ giúp chúng ta vươn tới những giá trị cao đẹpcủa cuộc sống Đặc biệt với học sinh Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở,
Âm nhạc càng có vai trò to lớn trong việc giáo dục tư tưởng, đạo đức, thẩm
mĩ, góp phần hình thành và phát triển nhân cách các em
Xác định tầm quan trọng của Âm nhạc trong việc phát triển thẩm mĩ vàhoàn thiện nhân cách con người, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa môn Âmnhạc vào giảng dạy trong các nhà trường phổ thông Môn Âm nhạc đã trởthành môn học độc lập trong các nhà trường Mầm non, Tiểu học và Trunghọc cơ sở
Trường CĐSP Hưng Yên là nơi đào tạo giáo viên Mầm non, Tiểu học
và Trung học cơ sở cho tỉnh Hưng Yên Trong những năm qua nhà trường đãđào tạo nhiều lớp giáo viên đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục và đàotạo của Tỉnh Trong các môn học được đưa vào giảng dạy tại nhà trường, Âmnhạc là môn học của các chuyên ngành đào tạo giáo viên Mầm non, Tiểu học
và Trung học cơ sở Thực tế trong những năm qua công tác quản lí đào tạomôn học này đã có kết quả đáng kể, song do là môn học nghệ thuật với nhiềunét đặc thù, chính vì thế công tác quản lí hoạt động dạy học Âm nhạc còn bộc
lộ những hạn chế: Nhận thức của cán bộ quản lí còn có phần xem nhẹ về mônhọc này; Quản lí việc thực hiện chương trình còn lúng túng; Đổi mới phươngpháp còn chậm và chưa thật hiệu quả; Công tác bồi dưỡng nâng cao trình độcủa giảng viên còn hạn chế chưa theo kịp yêu cầu; Quản lí cơ sở vật chất phục
vụ dạy học môn học này còn nhiều bất cập nên hiệu quả sử dụng chưa cao;Quản lí hoạt động thực hành, biểu diễn âm nhạc chưa được quan tâm coi
Trang 7trọng nên khi sinh viên ra trường, năng lực tổ chức các hoạt động thực hành,ngoại khóa Âm nhạc ở trường phổ thông còn gặp nhiều khó khăn.
Xuất phát từ thực tế công tác quản lí hoạt động dạy học môn Âm nhạc
ở Trường CĐSP Hưng Yên còn có những khó khăn, chưa đáp ứng được yêucầu quản lí đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay, là người trực tiếp giảngdạy và quản lí hoạt động chuyên môn của đơn vị khoa, tác giả chọn đề tài
"Quản lí hoạt động dạy học Âm nhạc ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hưng Yên" làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu:
Đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động dạy học Âm nhạc ở TrườngCao đẳng sư phạm Hưng Yên nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt độngdạy học Âm nhạc ở nhà trường
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
- Khách thể nghiên cứu: Quản lí hoạt động dạy học Âm nhạc ở TrườngCĐSP Hưng Yên
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lí hoạt động dạy học Âmnhạc ở Trường CĐSP Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay
4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xây dựng cở sở lí luận về quản lí hoạt động dạy học Âm nhạc ởTrường CĐSP
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lí hoạt động dạy học
Âm nhạc ở Trường CĐSP Hưng Yên
- Đề xuất biện pháp quản lí hoạt động dạy học Âm nhạc ở TrườngCĐSP Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay
5 Phạm vi nghiên cứu:
Quản lí hoạt động dạy học bao gồm quản lí hoạt động dạy của giảng viên
và hoạt động học của sinh viên, đề tài giới hạn chỉ tập trung nghiên cứu về
Trang 8công tác quản lí hoạt động dạy học Âm nhạc của giảng viên ở Trường CĐSPHưng Yên.
6 Giả thuyết khoa học:
Công tác quản lí hoạt động dạy học Âm nhạc ở Trường CĐSP HưngYên trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên trongquản lí còn có những bất cập do các biện pháp thực hiện chưa thật phù hợpnên chất lượng còn có hạn chế
Nếu nghiên cứu đúng đắn lí luận và thực tiễn hoạt động dạy học Âmnhạc thì sẽ đề xuất được các biện pháp quản lí dạy học Âm nhạc thực sự cầnthiết và có tính khả thi
7 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu, phân tích, các tài liệu có liên
quan đến nội dung của đề tài:
+ Văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam về Giáo dục và Đào tạo;+ Văn bản chỉ đạo về hoạt động dạy và học của Bộ Giáo dục và Đàotạo;
+ Tài liệu, công trình khoa học trong và ngoài nước thuộc Tâm lí học,Giáo dục học, Khoa học quản lí và Quản lí giáo dục, về giáo dục âm nhạctrong nhà trường;
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra: Xây dựng các phiếu điều tra cán bộ quản lý, giảngviên để thu thập thông tin phục vụ vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp đánh giá tổng kết kinh nghiệm của các trường CĐSP trongquản lý hoạt động dạy học
- Phương pháp phỏng vấn nhằm thu thập thêm thông tin về những kết quảquản lý hoạt động dạy học mà nhà trường đã và đang tiến hành
Trang 9- Phương pháp quan sát sư phạm: Thu thập thông tin qua việc quan sát hoạtđộng quản lí dạy học của khoa, tổ bộ môn, hoạt động dạy của giảng viên âmnhạc.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Phỏng vấn, tham khảo ý kiên chuyênviên, cán bộ quản lí phòng Đào tạo, Thanh tra, Khảo thí và kiểm định chấtlượng của nhà trường
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lí các tài liệu, số liệu đã thu thập được
để bảo đảm độ tin cậy, chính xác
Trang 10PHẦN NỘI DUNG Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
ÂM NHẠC Ở TRƯỜNG CĐSP
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Âm nhạc là một bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống của con người.
Âm nhạc có thể chia sẻ với chúng ta rất nhiều điều: Giải quyết những khókhăn trong cuộc sống, vơi đi những hờn giận vu vơ, đưa con người về dĩvãng, tìm lại tuổi thơ yêu dấu, nghe lòng bồi hồi, xao xuyến với tình yêu quêhương, sống dậy lòng tự hào dân tộc, khát vọng tìm về chân lý… Ngay từ thờithượng cổ, âm nhạc đã được ra đời cùng với đời sống sinh hoạt và lao độngsản xuất của các cộng đồng người nguyên thuỷ Kể từ đấy, âm nhạc đã khôngngừng được phát triển và hoàn thiện cùng năm tháng
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Hạnh thì giáo dục Âm nhạc là một phần khôngthể thiếu trong hệ thống các môn học ở các nước Tuy số lượng môn học vàcách thức tổ chức thực hiện ở từng nước là khác nhau
Ở Pháp, Âm nhạc là môn học bắt buộc ở Tiểu học và Trung học cơ sở, làmôn học tự chọn ở Trung học phổ thông Nhà trường thường tổ chức dạy học
Âm nhạc sau 16h, đó là thời điểm để HS học các môn năng khiếu như Thểthao, Âm nhạc, Khiêu vũ, Sân khấu, Mĩ thuật…
Ở Đan Mạch, giáo dục Âm nhạc ở Tiểu học và THCS lựa chọn 4 mục tiêu
là giúp HS biết ca hát, chơi nhạc cụ, hiểu biết về lí thuyết âm nhạc và vậnđộng âm nhạc
Ở Phần Lan, giáo dục Âm nhạc ở Tiểu học được chia thành các loại trình
độ khác nhau, ví dụ trình độ từ 1 đến 4 có các mục tiêu: HS sử dụng giọng hát
tự nhiên và năng lực của mình để ca hát, chơi nhạc cụ và vận động theo nhạc
Trang 11trong nhóm hoặc một mình; nghe để nhận xét về âm nhạc; sáng tạo âm nhạcdựa trên những gợi ý; hiểu biết về sự đa dạng của thế giới âm nhạc…
Ở Anh, chương trình Âm nhạc quốc gia được chia theo 4 giai đoạn: HS từ
5 đến 7 tuổi (chủ yếu phát triển kĩ năng nghe nhạc); từ 7 đến 11 tuổi (kĩ nănghát và chơi nhạc cụ); từ 11 đến 14 tuổi (nhạc lí và đọc nhạc); từ 14 đến 16tuổi (trình diễn và sáng tạo) Mỗi giai đoạn có mục tiêu riêng, kèm theo đó lànội dung và phương pháp giáo dục phù hợp
Tại Nhật Bản, âm nhạc là một phần không thể tách rời của bất cứ chươngtrình giáo dục nào Mục tiêu là để nuôi dưỡng và củng cố niềm ham thích và
sự tham gia của HS vào những hoạt động âm nhạc.Việc này giúp cho các emđạt được kết quả học tập tốt hơn và có những lối cư xử, thái độ và phẩm chấttốt hơn trong cuộc sống nói chung
Ở Việt nam môn âm nhạc đã được đưa vào giảng dạy ở các bậc học: Mầmnon, Tiểu học và Trung học cơ sở và trở thành một môn học bắt buộc trongchương trình giảng dạy ở các nhà trường Theo Nhạc sĩ Phan Trần Bảng tácgiả của nhiều ca khúc cho thiếu nhi, người gắn bó với sự nghiệp giáo dục âmnhạc trong nhà trường phổ thông và đã từng biên soạn chương trình, biên soạnsách giáo khoa, cải tiến phương pháp giảng dạy đã chỉ ra rằng: Đổi mớiphương pháp giảng dạy Chương trình giáo dục nghệ thuật trong nhà trườngphổ thông đòi hỏi nhà trường phải cung cấp các tri thức cơ bản của các loạihình nghệ thuật này để học sinh có đủ kiến thức và năng lực thẩm mỹ đúngđắn tiếp thụ tác dụng giáo dục của các loại hình nghệ thuật đó
Dạy âm nhạc là dạy LÀM NGƯỜI Muốn vậy người giáo viên phải hiểucặn kẽ từng đối tượng dạy học Căn cứ vào đối tượng mà có những giáo ánkhác nhau Có thể mỗi lớp, mỗi học sinh là một giáo án Người thầy giáo phải
có bản lĩnh sư phạm và tay nghề cao để thích ứng được với từng đối tượnggiáo dục
Trang 12Không chỉ chú trọng vào việc thay đổi chương trình và sách giáo khoa màphải chú ý đến cải cách phương pháp dạy học bộ môn Đây là một yêu cầucấp thiết Cần đưa yêu cầu này thành một mục tiêu quan trọng trong cuộc cảicách cơ bản và toàn diện của ngành Giáo dục.
Giáo sư Trần Văn Khê người tác giả của rất nhiều công trình nghiên cứu
về âm nhạc dân tộc truyền thống Việt Nam thì cho rằng: Việt Nam cần cóđịnh hướng để bảo tồn và tôn vinh âm nhạc dân tộc bằng cách thuyết phục,nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc tại các trường học hay qua cácphương tiện thông tin đại chúng Bên cạnh đó, chúng ta cũng nên liên hệ vớicác Nhà xuất bản nổi tiếng trên thế giới để đưa các khái niệm về âm nhạctruyền thống Việt Nam vào trong bách khoa từ điển hay liên hệ với nhiềuhãng in băng, đĩa để giới thiệu các bộ môn âm nhạc dân tộc
Tác giả Hoàng Văn Tiến với nghiên cứu “Một số giải pháp nâng cao hiệuquả giáo dục âm nhạc cho trẻ bậc học mầm non ở các vùng ngoại thành, nôngthôn” đã đề cập đến những thực trạng, nguyên nhân và những những bất cậptrong giảng dạy và giáo dục âm nhạc trong các nhà trường bậc học Mầm non
và đề ra các giải pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy âm nhạc cho trẻ ởnhà trường
Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên âm nhạc các trườngTHCS ở miền Bắc Việt Nam nhằm xây dựng đội ngũ giáo viên âm nhạc cónăng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm vững chắc đáp ứng nhiệm vụ giáodục âm nhạc trong các nhà trường được tác giả Phạm Lê Hòa, Bộ GD và Đàotạo đặc biệt chú trọng
Tác giả Trần Thị Thu Quý lại đánh giá cao sự cần thiết của việc ứng dụngCNTT trong giảng dạy môn Âm nhạc hiện nay trong các nhà trường, theo tácgiả CNTT là phương tiện quan trọng trong dạy học và trong dạy học âm nhạcthì CNTT cần phải được ứng dụng vào các giờ dạy học âm nhạc
Trang 13Tác giả Nguyễn Thị Hải Phượng, Trịnh Hoài Thu đã nhấn mạnh vai tròcủa việc xây dựng các tài liệu về phương pháp dạy học âm nhạc trong các nhàtrường Tài liệu phương pháp dạy học âm nhạc sẽ là những tài liệu quan trọnggiúp giảng viên và sinh viên học tốt môn học này.
Tác giả Lê Anh Tuấn, Trần Đức và Vũ trọng Vĩnh cho rằng: Để nâng caochất lượng đào tạo giáo viên âm nhạc trước hết cần phải nâng cao năng lựccho đội ngũ giảng viên đào tạo giáo viên âm nhạc trong các nhà trường sưphạm
Tác giả Trần Thị Tài lại nhấn mạnh sự cần thiết sự cần thiết đổi mới nộidung, phương pháp trong đào tạo, bồi dưỡng giáo viên âm nhạc trong cáctrường sư phạm
Những năm gần đây nhiều cán bộ quản lý ở các nhà trường CĐSP đãtham gia nghiên cứu về các biện pháp quản lý hoạt động dạy học nói chungtrong đó có dạy học âm nhạc nói riêng như những luận văn thạc sĩ chuyênngành quản lí giáo dục của các tác giả Nguyễn Thị Hoài Thu với đề tài “ Biệnpháp quản lý hoạt động học tập của sinh viên khoa Nhạc - Họa - Thể dụctrường Cao đẳng Sơn La” (2009) Nguyễn Thị Thanh Xuân với đề tài “ Quản
lí hoạt động dạy học âm nhạc ở khoa sư phạm nghệ thuật trường cao đẳngSơn La” (2009)
Luận văn của các tác giả trên đã nêu nên những biện pháp quản lý tronghoạt động dạy học ở các nhà trường Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp Đó
là những công trình có giá trị về lý luận và thực tiễn và phù hợp với chứctrách của mình, đồng thời cũng giúp cho các cán bộ quản lý ở các phòng,khoa, tổ chuyên môn nói chung và các cán bộ quản lý của các trường kháctham khảo và vận dụng vào công tác quản lý của mình Tuy nhiên nghiên cứu
về biện pháp quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc trong trường CĐSP HưngYên thì chưa có tác giả nào đề cập tới Mặt khác trong quản lí hoạt động dạy
Trang 14học Âm nhạc, ngoài những nét chung còn có những hoạt động dạy học đặcthù, bởi âm nhạc là một loại hình nghệ thuật mà ở đó chứa đựng những nétriêng của nghệ thuật Âm nhạc, vì thế khi tiến hành hoạt động dạy học mônhọc này nó còn có những nét đặc thù và phụ thuộc rất nhiều vào điều kiệnthực tiễn của từng nhà trường( đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất ) Chính vìvậy các đề tài đã nghiên cứu về lĩnh vực này rất khó để áp dụng vào thực tiễnquản lí hoạt động dạy học âm nhạc ở trường CĐSP Hưng Yên Do vậy tác giảchọn vấn đề “Quản lí hoạt động dạy học Âm nhạc ở trường CĐSP Hưng Yên”làm vấn đề nghiên cứu của mình, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạyhọc môn học, đáp ứng yêu đào tạo giáo viên Mầm non, Tiểu học và THCScho tỉnh Hưng Yên.
1.2 Một số khái niệm cơ bản.
1.2.1 Khái niệm quản lí:
1.2.1.1 Khái niệm:
Quản lí là một hoạt động được hình thành từ khi xã hội loài người xuấthiện, con người có sự hợp tác với nhau hoặc cùng nhau hoạt động với nhữngmục đích chung nào đó Ở đâu con người tạo lập nên nhóm xã hội là ở đó cầnđến quản lí
Ngày nay, quản lí là một hoạt động đặc trưng bao trùm lên mọi mặt đờisống xã hội Đó là một công việc vô cùng quan trọng, nhưng rất khó khăn vàphức tạp, liên quan đến nhân cách của nhiều cá nhân trong tập thể xã hội, liênquan đến quyền lợi, nghĩa vụ trách nhiệm và cuộc sống nói chung của mỗingười, phải đáp ứng được yêu cầu luôn thay đổi và phát triển của xã hội Theo Hà Thế Ngữ: “Quản lí là một quá trình định hướng, quá trình có mụctiêu, quản lí là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt đượcmục tiêu nhất định”
Trang 15Theo Mary Parker Follett(1868-1933): Quản lí là một quá trình động, liêntục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lí là những tác động của chủ thể quản lítrong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối cácnguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức ( chủ yếu là nộilực) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả caonhất.[20,15]
Theo Phan Văn Kha “ Quản lí là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnhđạo, kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc
sử dụng các hệ thống nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định” Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mĩ Lộc: “Hoạt động quản lí làtác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đếnkhách thể (người bị quản lí) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vậnhành và đạt được mục đích của tổ chức”
Từ những quan điểm trên, có thể khái quát khái niệm quản lí như sau:Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí lên đốitượng quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổchức để đạt được mục tiêu đặt ra trong mọi điều kiện biến động của môitrường
1.2.1.2 Chức năng của quản lí:
Quản lí có 4 chức năng cơ bản sau:
1 Chức năng kế hoạch hoá :
Đây là chức năng hoạch định, là chức năng quan trọng nhất của ngườiquản lí, bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động, phươngpháp, biện pháp rõ ràng, xác định bước đi cụ thể
Kế hoạc là nền tảng của quản lí, nội dung chủ yếu của chức năng kếhoạch hoá là ổn định và xác lập các mục tiêu; xác định rõ và đảm bảo các
Trang 16nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đề ra, quyết định xem những hoạt độngnào, những biện pháp như thế nào để đạt được các mục tiêu đó
2 Chức năng tổ chức :
Chức năng tổ chức được tiến hành sau khi đã thực hiện xong chức năng
kế hoạch hoá nhằm thực hiện kế hoạch đã đề ra Tổ chức là sự hình thành cấutrúc các quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức Nếu tổ chức tốt thì ngườiquản lí có thể phối hợp, điều hành tốt các nguồn lực, tạo ra sự vận hành đồng
bộ trong bộ máy của tổ chức, tạo ra sức mạnh hợp đồng của các bộ phận đểphát triển tổ chức và đạt được mục tiêu đã đề ra Thành tựu của một tổ chứcphụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lí sử dụng các nguồn lực nàysao cho có kết quả và hiệu quả
Nội dung chủ yếu của chức năng tổ chức gồm: Xây dựng cơ cấu tổchức; Xác định nhiệm vụ quyền hạn của từng thành viên, từng bộ phận của tổchức; Quản lý nhân sự (bao gồm đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sắp xếp, phâncông, phân nhiệm, đề bạt, sa thải ); Tổ chức các hoạt động
3 Chức năng chỉ đạo :
Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đãđược tuyển dụng sắp xếp thì phải có người lãnh đạo (nhà quản lí) dẫn dắt vàđiều khiển Đó là quá trình tập hợp, liên kết các thành viên trong tổ chức,giám sát các hoạt động của các thành viên, các bộ phận trong tổ chức, điềukhiển, hướng dẫn, điều chỉnh công việc hợp lí, nhịp nhàng không chồng chéo;
xử lí uốn nắn các hành vi vi phạm, động viên khuyến khích người lao độngnhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
4 Chức năng kiểm tra :
Kiểm tra là những hoạt động của chủ thể quản lí tác động đến khách thểquản lí nhằm đánh giá kết quả vận hành của tổ chức Thông qua kiểm tra, ng-
Trang 17ười quản lí nắm được những vấn đề tồn tại, hạn chế, những thiếu sót, khuyếtđiểm, những trì trệ để có biện pháp điều chỉnh, uốn nắn, khắc phục, đồng thờinắm được những ưu điểm để phát huy động viên, khuyến khích, hoàn thiện kếhoạch tổ chức chỉ đạo
Nội dung kiểm tra là kiểm soát tình hình, phát hiện, động viên phêbình, đánh giá, thu thập thông tin Theo thuyết hệ thống thì kiểm tra là quátrình thiết lập mối quan hệ ngược trong quản lí
Bốn chức năng của quản lí: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
có quan hệ biện chứng, chặt chẽ với nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo
thành một chu trình quản lí, trong chu trình đó, yếu tố thông tin luôn có mặt
trong các khâu với vai trò vừa là điều kiện, vừa là phương tiện không thểthiếu được khi thực hiện các chức năng quản lí và ra quyết định
1.2.2 Quản lí giáo dục:
1.2.2.1 Khái niệm:
Quản lí giáo dục là một bộ phận của quản lí xã hội Khái niệm quản lígiáo dục được hiểu khá rộng trong nhiều phạm vi từ vĩ mô đến vi mô Quản lígiáo dục có nhiều cách định nghĩa:
Quản lí giáo dục là quá trình nắm vững thông tin về đối tượng và môi
trường, từ đó lựa chọn, sắp xếp, tổ chức thực hiện các tác động quản lí mộtcách tối ưu lên các đối tượng quản lí, nhằm làm cho đối tượng quản lí vậnđộng hướng tới mục đích đã định
Quản lí giáo dục là tập hợp những biện pháp kế hoạch hoá nhằm đảmbảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tụcphát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng và chất lượng
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lí giáo dục là quản lí trường học,thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mìnhtức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục, để tiến tới mục tiêu
Trang 18giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từnghọc sinh”[12]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí giáo dục là hệ thống nhữngtác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm làmcho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng và thựchiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mà tiêu điểm
là quá trình dạy học đưa giáo dục tới mục tiêu, tiến lên trạng thái mới vềchất”.[25,35]
Theo Đặng Quốc Bảo thì : “Quản lí giáo dục theo nghĩa tổng quát làhoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh côngtác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”.[2]
Từ những quan điểm trên, có thể khái quát khái niệm quản lí giáo dụcnhư sau: Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kếhoạch, có ý thức của chủ thể quản lí lên đối tượng bị quản lí, nhằm thực hiệncác chức năng quản lí trong công tác giáo dục
1.2.2.2 Nội dung của quản lí giáo dục:
Nội dung quản lí giáo dục là quản lí các yếu tố cấu thành của hệ thốnggiáo dục bao gồm:
- Quản lí mục tiêu giáo dục
- Quản lí nội dung giáo dục
- Quản lí phương pháp giáo dục
- Quản lí tổ chức giáo dục
- Quản lí người dạy
- Quản lí người học
- Quản lí trường sở và trang thiết bị dạy học
- Quản lí môi trường giáo dục, các lực lượng giáo dục
- Quản lí kết quả giáo dục
Trang 191.2.3 Quản lí nhà trường:
1.2.31 Quản lí nhà trường:
Theo tác giả Trần Kiểm: “ Quản lí nhà trường về bản chất là quản lí
con người Điều đó tạo cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhàtrường một sự liên kết chặt chẽ không những chỉ bởi cơ chế hoạt động củanhững tính quy luật khách quan của một tổ chức xã hội - nhà trường, mà cònbởi hoạt động chủ quan, hoạt động quản lí của chính bản thân giáo viên vàhọc sinh”.[22, 258]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “ Quản lí nhà trường là hoạt động củacác cơ quan quản lí nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, họcsinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục
để nâng cao giáo dục và đào tạo trong nhà trường”.[31, 205]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lí nhà trường là thực hiện đườnglối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vậnhành theo nguyên lí giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạođối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với từng học sinh”.[13, 61]
Bản chất của hoạt động quản lí nhà trường là quản lí hoạt động dạy học
là làm cho nó vận hành từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tớimục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo
Quản lý nhà trường là phải quản lí toàn diện nhằm hoàn thiện và pháttriển nhân cách học sinh một cách hợp lí, khoa học, hiệu quả
Quản lí nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở nhữngquy luật chung của quản lí, đồng thời có những nét đặc thù riêng của nó.Quản lí nhà trường khác với các quản lí xã hội khác, được quy định bởi bảnchất hoạt động sư phạm của giáo viên, bản chất của quá trình dạy học, giáodục trong đó mọi thành viên trong nhà trường vừa là đối tượng quản lí vừa là
Trang 20chủ thể hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhâncách người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rènluyện theo yêu cầu xã hội và được xã hội thừa nhận.
1.2.3.2 Quản lí trường Cao đẳng Sư phạm.
Tại Điều 4 Điều lệ trường Cao đẳng quy định quản lí nhà nước đối vớicác trường Cao đẳng:
Trường Cao đẳng chịu sự quản lí nhà nước về giáo dục của Bộ Giáodục và Đào tạo Trường Cao đẳng chịu sự quản lí hành chính theo lãnh thổcủa Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi trường đặt trụ
sở (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh)
Mục tiêu đào tạo của trường CĐSP là: Đào tạo người học có phẩm chấtchinh trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân; có khả năng tự học, kĩ nănggiao tiếp và làm việc theo nhóm; có sức khoẻ đáp ứng yêu cầu xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Đào tạo người học có kiến thức chuyên môn vững vàng, kĩnăng thực hành cơ bản, có thái độ và đạo đức nghề nghiệp đúng đắn, chútrọng rèn luyện kĩ năng và năng lực thực hiện công tác chuyên môn, có khảnăng tìm kiếm và tham gia sáng tạo việc làm
Quản lí trường CĐSP cũng như các trường học khác là quản lí hoạtđộng dạy học, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu,chương trình giáo dục trên cơ sở quản lí nhà giáo, cán bộ nhân viên vàquản lí người học
1.2.4 Quản lí hoạt động dạy học ở trường CĐSP.
1.2.3.1 Mục tiêu, đối tượng quản lý hoạt động dạy học ở trường CĐSP.
* Mục tiêu quản lý hoạt động dạy học ở trường CĐSP.
Mục tiêu giáo dục theo Luật giáo dục 2005 tại điều 2 quy định “Mục tiêugiáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo dức, tri
Trang 21thức, sức khỏe và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc vàchủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lựccủa công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” Điều 3 Luật giáo dục nêu tính chất, nguyên lý giáo dục: “ Nền giáo dụcViệt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoahọc, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nềntảng Hoạt động giáo dục được thực hiện trên nguyên lý học đi đôi với hành,giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhàtrường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.
Để thực hiện được mục tiêu giáo dục đã nêu trên cần có sự phối hợp đồng
bộ trong tất cả các khâu của quá trình giáo dục, đặc biệt là quá trình quản lýhoạt động dạy học trong các nhà trường
* Đối tượng quản lý hoạt động dạy học ở trường CĐSP
Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt độnggiáo dục khác trong nhà trường Đó là con đường trực tiếp và thuận lợi nhất
để giúp cho học sinh lĩnh hội được tri thức của xã hội loài người
Đối tượng quản lý hoạt động dạy học ở trường CĐSP là quản lý hoạt độngcủa giảng viên, sinh viên và các tổ chức sư phạm của nhà trường như: hộiđồng chuyên môn, khoa, tổ trong việc thực hiện kế hoạch, chương trình dạyhọc nhằm đạt mục tiêu dạy học đã được quy định
1.2.3.2 Nội dung quản lý hoạt động dạy học ở trường CĐSP.
Nội dung quản lý hoạt động dạy học trong trường CĐSP bao gồm quản lýchương trình, kế hoạc dạy học, việc thực hiện thời khóa biểu, soạn giảng vàlên lớp của giảng viên, việc đổi mới phương pháp, sử dụng cơ sở vật chấttrang thiết bị dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên
Quản lí hoạt động dạy học là phải tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cơ bản
sau:
Trang 22- Cụ thể hóa mục tiêu dạy học qua các nhiệm vụ dạy học nhằm nângcao tri thức, kĩ năng, bồi dưỡng thái độ, nhận thức, phát triển năng lực, phẩmchất của người học.
- Quản lí việc xây dựng và thực hiện nội dung, kế hoạch và nội dungdạy học Nội dung dạy học phải đảm bảo bao gồm hệ thống những tri thức, kĩnăng, kĩ xảo mà người học cần phải nắm vững trong quá trình dạy học
- Quản lí hoạt động giảng dạy của giảng viên (Viết bài giảng, biên soạngiáo trình, giáo án, lên lớp, kiểm tra đánh giá sinh viên học tập)
- Quản lí hoạt động học tập của học sinh
- Quản lí cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ hoạt động dạy học
1.2.5 Một số khái niệm liên quan GDÂN.
1.2.5.1.Khái niệm giáo dục thẩm mỹ:
“ Trong mĩ học mácxít khái niệm giáo dục thẩm mĩ được hiểu theo hai
nghĩa:
Nghĩa hẹp là giáo dục có tính trường quy về cái đẹp, giáo dục cho con
người biết cảm thụ cái đẹp, đánh giá và sáng tạo cái đẹp.
Nghĩa rộng là sự giáo dục và tự giáo dục, phát huy mọi năng lực bản chất con người theo quy luật cái đẹp”[14,94]
Giáo dục thẩm mĩ chính là giáo dục con người cảm nhận được cái đẹptrong cuộc sống từ đó biết thưởng thức, đánh giá và sáng tạo cái đẹp
1.2.5.2 Nhiệm vụ giáo dục thẩm mỹ.
- Tạo khả năng thẩm mĩ về thế giới khách quan và con người giúp chocác em với tư cách là chủ thể thẩm mĩ hình thành năng lực cảm thụ cái đẹptrong tự nhiên, trong cuộc sống và trong nghệ thuật
- Biết sáng tạo cái đẹp, khơi gợi và bồi dưỡng khát khao thể hiện tàinăng sáng tạo thẩm mĩ và hình thành nguyện vọng đưa cái đẹp vào cuộc sống
Trang 23- Nâng cao tri thức và văn hóa thẩm mĩ, đó là bồi dưỡng năng khiếuthẩm mĩ qua việc học tập một số môn nghệ thuật nhất định, hình thành nănglực sáng tạo cái đẹp, biết phân biệt cái đẹp với cái xấu xí, phi văn hóa.
1.2.5.3 Chức năng giáo dục thẩm mĩ của nghệ thuật.
- Nghệ thuật là cầu nối giữa con người và thế giới cái đẹp
Nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống và phản ánh cuộc sống, chất liệu để
làm nên những tác phẩm nghệ thuật chính là cuộc sống Trong cuộc sống, cáiđẹp là một bộ phận của các sự vật hiện tượng trong đời sống tự nhiên và xãhội nhu cầu về tinh thần trong cảm xúc thẩm mĩ là một trong những nhu cầuquan trọng của con người Trong các môn học ở nhà trường phổ thông thì bộmôn nghệ thuật có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành niềm tincủa con người, ảnh hưởng đến hành vi của con người và đạt tới sự khoái cảmthẩm mỹ của tinh thần
Đối với học sinh, trong lĩnh vực thẩm mĩ, học sinh trau dồi cho mìnhnhững khái niệm chung về cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài bắt đầu từ nhữnghành vi, những hành động, từ trang phục và trong cả nghệ thuật
Mặt khác, từ giáo dục thẩm mĩ cho học sinh cũng giúp học sinh nhậnthức được giá trị đạo đức trong thẩm mĩ Trẻ em đến với đạo đức cũng thôngqua cái đẹp Vì vậy, phải phát triển ở trẻ nhu cầu quan hệ thẩm mĩ với mọingười, với xã hội, với lao động Nói chung, nghệ thuật tạo cho con người khảnăng nhận thức, hiểu được cái đẹp trong đời sống tự nhiên và có tác độngmạnh mẽ tích cực đến đời sống xã hội, làm phong phú đời sống tinh thần và làđiều kiện để giữ gìn phẩm giá con người, là phương tiện để đấu tranh tích cực
vì tư tưởng tốt đẹp của nhân loại
Trong quá trình sống và hoạt động xã hội, con người đã hình thànhquan niệm, niềm tin và muốn thể hiện tư tưởng ấy ở cái đẹp và tìm cách phảnánh cái đẹp ấy trong nghệ thuật Ngược lại, những tư tưởng đúng đắn của
Trang 24nghệ thuật dẫn dắt con người đến những niềm tin trong hành vi và trong hoạtđộng, sinh ra một năng lượng mới trong cuộc sống Hình tượng nghệ thuậtđược lĩnh hội bằng một sự thông cảm sâu sắc có tác động mạnh mẽ đến thếgiới chủ quan của nhân cách và sinh ra những cảm xúc phức tạp hơn
Quá trình cảm xúc như thế không đơn thuần là một quá trình hoạt độngtrí tuệ mà còn đem lại những cảm xúc thẩm mĩ những niềm vui, nỗi buồn,khâm phục, thán phục v.v Con người không chỉ nhận thức mà còn cảm nhậnsâu sắc tư duy khách quan trong sự khái quát nghệ thuật riêng của cá nhân
- Nghệ thuật cung cấp cho người học những kiến thức tổng hợp
Mỗi một loại hình nghệ thuật đều phản ánh cuộc sống theo cách riêngcủa mình và theo thời đại của mình Nghệ thuật âm nhạc sử dụng âm thanh đểdiễn tả, nghệ thuật hội họa lại sử dụng màu sắc, đường nét, sáng tối, bố cục đểphản ánh Thời Trung cổ, thế giới quan của tư tưởng tôn giáo thống trị, do đó
ý tưởng của về cái đẹp của các nhà họa sĩ vẽ những bức tranh thần thánh, kiếntrúc theo kiểu gothic thể hiện tư tưởng cao xa Âm nhạc, thời trung cổ cũngchỉ là những thánh ca vang lên đều đều, trì tục tránh sự xáo động
Ngôn ngữ của các ngành nghệ thuật chính là các phương tiện biểu hiệnnghệ thuật Đối với nghệ thuật Âm nhạc, các phương tiện biểu hiện chính lànhịp điệu, tiết tấu, giai điệu, hoà âm Hình tượng âm nhạc bao giờ cũng đượcbiểu hiện bằng những phương tiện (hay còn gọi là ngôn ngữ) của nó
Nghệ thuật cũng giúp con người sáng tạo ra những giá trị tinh thần vôgiá Các phát minh khoa học không mang dấu ấn của nhà khoa học, chỉ có conđường khám phá mà nhà khoa học đi qua mới mang cá tính Còn nghệ thuật,các tác phẩm của người nghệ sĩ mang dấu ấn tâm lí cá nhân của người nghệ sĩ
đó Các tác phẩm nghệ thuật chính là sự khái quát cao nhất các giá trị tinhthần của nhân loại, tư tưởng tình cảm, nền văn hóa xã hội của loài người trongthời kì đó Chính vì vậy, tác phẩm của mỗi người đều mang cá tính và là sảnphẩm có một không hai
Trang 25- Nghệ thuật phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh.
Qua giáo dục nghệ thuật giúp học sinh có năng lực cảm thụ thẩm mĩ,nhận biết, cảm thụ, hiểu cái đẹp trong nghệ thuật và trong đời sống Bản chấtcủa giáo dục thẩm mĩ trong dạy học và phát triển nghệ thuật cho học sinh làmột quá trình phức tạp, nhiều giai đoạn, từ chỗ cho học sinh làm quen vớinghệ thuật đến lúc tự sáng tạo trong nghệ thuật
Qua quá trình tiếp xúc với cái đẹp trong nghệ thuật học sinh sẽ dần dầntích luỹ những ấn tượng của cái đẹp trong tác phẩm trên cơ sở cảm thụ, trigiác thẩm mĩ Những ấn tượng đó sẽ khác nhau theo mức độ hoàn thiện nghệthuật và thẩm mĩ nói chung của học sinh, kinh nghiệm sống của học sinh ởcác độ tuổi khác nhau và còn bị hạn chế bởi nhiều học sinh chưa đủ sức đểhọc phân tích, phân loại những ấn tượng về thẩm mĩ, chưa đủ sức đánh giá vàphê phán chất lượng nghệ thuật nên quá trình lĩnh hội nghệ thuật ở học sinhphải qua một quá trình tổ chức sư phạm mới có kết quả
Muốn thâm nhập, lĩnh hội tác phẩm nghệ thuật, đòi hỏi con người phải
có một trình độ văn hoá, có cảm xúc tinh tế vì thế mà cần phải đưa học sinhvào thế giới nghệ thuật với cái đẹp chân chính với nhiều lĩnh vực rộng rãi đểdạy cho trẻ ý thức thẩm mĩ trong các hình tượng nghệ thuật
Việc phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ của học sinh là rất quan trọngbởi vì:
- Phát triển thính giác nảy sinh nhu cầu tập nghe, bằng con đường cảmthụ và phát hiện âm thanh đó là ngôn ngữ ban đầu của âm nhạc
- Phát triển tư duy học sinh nhằm phát hiện ra nhu cầu cảm thụ thẩm mĩgiúp học sinh hình thành tư duy hình tượng cụ thể, từ đó phát triển trí tưởngtượng của học sinh, đó cũng là một trong những yếu tố cơ bản của nghệ thuật
Vai trò giáo dục thẩm mĩ rất quan trọng, nhất là trong tiến trình hộinhập Nhưng để công tác giáo dục thẩm mĩ thực hiện tốt chức năng của mình
Trang 26là vấn đề không hề đơn giản Nó không phải chỉ là trách nhiệm của riêng bộmôn giáo dục nghệ thuật hay của ngành giáo dục mà đòi hỏi sự toàn tâm, toàn
ý chung tay, góp sức của gia đình, cộng đồng và của toàn xã hội [ 17 ]
1.2.5.4.Khái niệm Âm nhạc.
Âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật mà ở đó những ấn tượng của cuộcsống, tâm tư, tình cảm của con người được thể hiện bằng âm thanh Trongthực tế có rất nhiều những định nghĩa phong phú khác nhau về Âm nhạc “Âm nhạc là nghệ thuật biểu hiện cảm xúc của con người với conngười và cuộc sống bằng âm thanh, là nghệ thuật diễn ra trong thời gian, nghệthuật động, nghệ thuật của thính giác”.[26, 5]
Theo tác giả Nguyễn Thị Nhung: “ Âm nhạc là nghệ thuật âm thanh,dựa trên hai yếu tố cơ bản là giai diệu và tiết tấu; được tổ chức chặt chẽ, tạothành những hệ thống có tính lôgic, trình bày và phát triển qua thời gian, đểphản ánh những cấu trúc mẫu mực khác nhau, những hình tượng âm nhạckhác nhau” [24,17]
Theo tác giả Đỗ Văn Khang: “ Âm nhạc là nghệ thuật chuyên sử dụng
âm thanh; cụ thể nó sử dụng cơ cấu giai điệu, âm điệu, nhịp điệu, âm sắc,cường độ…được phát ra từ giọng nói con người, gắn liền với ngôn ngữ và lệthuộc vào mức độ quan trọng vào ngôn ngữ; hoặc phát ra từ những công cụnhân tạo đặc thù (gọi là nhạc cụ)” [18, 229]
Ta có thể thấy Âm nhạc chính là nghệ thuật của âm thanh không có âmthanh thì không có âm nhạc, con người thể hiện tâm tư, tình cảm của mìnhqua giai điệu của các bài hát, khúc nhạc, nhưng con người chỉ có thể cảmnhận được nó khi âm thanh của các bài hát, các tác phẩm đó được vang lên vàthông qua thính giác (tai nghe) thì con người mới cảm thụ được tình cảm, nộidung của bài hát, tác phẩm đó
Trang 27Âm nhạc chính là nghệ thuật của biểu hiện: Mỗi tác phẩm để vang lên
và đến được mỗi người đều biểu hiện trong đó những tâm tư tình cảm của conngười trong đời sống lao động, sản xuất
Ta có thể khái quát về Âm nhạc như sau: Âm nhạc là nghệ thuật của âmthanh, nghệ thuật dùng âm thanh để biểu hiện tư tưởng tình cảm con người vềcon người và về cuộc sống
1.2.5.5 Âm nhạc trong đời sống xã hội và phát triển thẩm mĩ học sinh:
* Âm nhạc trong đời sống xã hội:
Trong đời sống xã hội, Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật không thể
thiếu, ngay từ thuở lọt lòng, con người đã tiếp xúc với Âm nhạc qua lời ru của
mẹ “Âm nhạc luôn gắn chặt với mọi hoạt động thực tiễn của con người, nảy
sinh trong quá trình lao động, đấu tranh để tồn tại, trong việc tìm hiểu để thíchứng với thiên nhiên, trong những tín hiệu thông tin liên lạc và những cử chỉbộc lộ tâm tình, tình cảm trong giao tiếp cộng đồng…Đó là những tiếng hô,
hò trong lao động, sinh hoạt; là những câu ca khác nhau biểu hiện những niềmvui, nỗi nhớ, những xúc cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên…” [24,10]
“ Âm nhạc đã gắn liền mọi giai đoạn của đời người, từ lúc chào đời đếnkhi giã từ cuộc sống Đó là những khúc hát ru từ thuở ban đầu; những bàiđồng dao tuổi thơ; những bài hát giao duyên, bài ca chiến trận, bài ca laođộng…và tiếp đến là khúc hát tiễn đưa con người trở về cõi vĩnh hằng Nhữngbài ca ấy là niềm vui, nỗi khổ đau, những ước mơ về hạnh phúc, những suy
tư, trăn trở thầm kín của con người” [24,10]
Âm nhạc mang lại cho con người nguồn hạnh phúc, dù là ở thế giới nô lệbuồn thảm xa xưa, hay xã hội tươi sáng của chúng ta hôm nay và ngày mai
Âm nhạc giúp cho con người sống vui khỏe, yêu đời, có khát vọng vươn lên,gần gũi và hiểu nhau hơn Âm nhạc có thể tạo nên sức mạnh tập thể to lớn
Trang 28Trong cuộc chiến tranh vệ quốc, bài hát “Ca chiu xa” vang lên, nó đã tiếpthêm sức mạnh để Hồng quân Liên Xô chiến thắng kẻ thù.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, những bài hát
“Hò kéo pháo”, “Giải phóng Điện Biên”, “Hành quân xa”, “Giải phóng MiềnNam”…đã có sức lôi cuốn mạnh mẽ, tiếp thêm sức mạnh để chúng ta chiếnthắng kẻ thù xâm lược
Các phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe”, “ Tiếng hát át tiếngbom”, với những khúc ca hào hùng như đã tiếp thêm sức mạnh to lớn, cósức lôi cuốn mạnh mẽ giúp chúng ta vững tin, quyết tâm chiến thắng kẻthù xâm lược
Âm nhạc đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống conngười Nó không chỉ là nhu cầu xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lí, lứa tuổi màcòn bởi khả năng giáo dục to lớn chứa đựng trong đó
Nghệ thuật Âm nhạc đã có sức lôi cuốn, lan tỏa và giáo dục to lớn, bởi nóchính là vẻ đẹp mà con người cảm nhận được từ cuộc sống Âm nhạc đã đemđến cho mỗi người những xúc cảm mạnh mẽ, làm rung động hàng triệu triệutrái tim
Một nhà hiền triết đã nói: “ Trái đất không có tiếng hát khác nào cuộcsống không có mặt trời” Thực tế, Âm nhạc trong cuộc sống như một nhu cầu
tự nhiên, ở trong các lĩnh vực hoạt động xã hội, từ nông thôn đến thành phố,
từ bao đời nó luôn tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội
* Âm nhạc trong việc giáo dục thẩm mĩ, hình thành và phát triển nhân cách học sinh.
Trong nhà trường, Âm nhạc có vị trí đặc biệt quan trọng bởi lẽ:
- Âm nhạc là phương tiện giáo dục thẩm mĩ: Âm nhạc với vẻ đẹp của lời
ca và giai điệu đã có sức mạnh lôi cuốn con người, mang đến những xúc cảmmạnh mẽ đó là những xúc cảm thẩm mĩ Âm nhạc Qua trực tiếp tham gia vào
Trang 29các hoạt động ca hát, nghe và vận động theo Âm nhạc làm cho các em họcsinh trở nên thích thú, tinh thần sảng khoái, trí tuệ sáng suốt, con người trởnên cao thượng và tốt đẹp hơn.
- Âm nhạc là phương tiện giáo dục đạo đức: Các bài hát với nội dungphong phú đa dạng đã có vai trò to lớn trong việc giáo dục đạo đức học sinh.Các bài hát về quê hương đất nước giúp các em thấy được những trang sử hàohùng của dân tộc, thêm yêu quý về quê hương mình Những bài hát về thầy cô
và mái trường, về tình bạn bè mang lại cho các em cảm xúc trân trọng, biết ơn
và niềm tin trong cuộc sống Những bài hát về ông, bà, cha, mẹ…giáo dục các
em tình cảm quý trọng, thương yêu hết sức gần gũi
- Âm nhạc là phương tiện giáo dục trí tuệ: Âm nhạc giúp phát triển trínhớ, trí tưởng tượng và khả năng tuy duy trong các em Việc học các bài hát
và ghi nhớ lời ca, giai điệu của bài hát sẽ giúp khả năng ghi nhớ của các emtốt hơn Khi hát, khi nghe nhạc cùng với đó là sự tưởng tượng và thích thú vềbài hát đó Như khi ta nghe một giai điệu nhẹ nhàng thì trong các em sẽ cónhững sự tưởng tượng khác nhau hết sức phong phú, đa dạng
- Âm nhạc tác động đến sự phát triển thê chất: Khi hát cùng với vận độngtheo âm nhạc sẽ giúp thân hình các em phát triển cân đối hài hòa hơn, phốihợp các động tác đi, chạy, nhảy nhịp nhàng và chính xác hơn, tác phongnhanh nhẹn hơn, tạo cho các em sự mềm dẻo nhịp nhàng Nghe nhạc đúng,phù hợp giúp thư giãn thần kinh, kích thích óc sáng tạo Ca hát giúp phát triển
cơ quan phát âm, hơi thở sâu hơn, tai nghe phát triển giúp các em hưởng ứngnhững tình cảm và hành vi tốt đẹp, hoàn thiện mọi vận động thể chất ở các
em Nhà sư phạm V Xu-khôm-lin-xki đã đánh giá rất cao hiệu quả giáo dụctoàn diện của Âm nhạc “Chất lượng công việc giáo dục trong nhà trườngđược xác định phần lớn bởi mức độ hoạt động Âm nhạc trong hoạt động củanhà trường đó”.[15, 9]
Trang 301.3 Quản lí hoạt động dạy học Âm nhạc trong Trường CĐSP
1.3.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của trường CĐSP.
1.3.1.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của trường CĐSP.
Trường CĐSP có chức năng và nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên cácbậc học: Mầm non, Tiểu học, THCS đảm bảo có phẩm chất đạo đức tốt, cótrình độ chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức khoa học vững chắc, có năng lựcthích ứng với việc làm trong xã hội
Hợp tác, liên kết, liên thông với các trường đại học, học viện trong vàngoài nước để đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Mầm non, Tiểu học và THCS cótrình độ đại học
Nhiệm vụ của trường CĐSP:
- Đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt có kiến thức vànăng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe,
có năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tự tạo việc làm cho mình vàcho người khác, có khả năng hợp tác, bình đẳng trong quan hệ quốc tế, đápứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chỉ tiêu kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáoviên Mầm non, Tiểu học và THCS
- Quản lí giảng viên, cán bộ, nhân viên của trường đủ về số lượng, cân đối
về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu tuổi và giới
- Tiến hành nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, kết hợp đàotạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất dịch vụ khoa học và công nghệtheo quy định của luật khoa học và công nghệ, luật giáo dục và các quyđịnh khác của pháp luật
Nhiệm vụ của trường CĐSP Hưng Yên trong những năm tới là:
- Đào tạo giáo viên Mầm non, Tiểu học, THCS cho địa phương và cáctỉnh lân cận
Trang 31- Bồi dưỡng thường xuyên, theo chu kì cho giáo viên các ngành học Mầmnon, Tiểu học, THCS để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ giảng dạy
và quản lí
- Tiếp tục liên kết đào tạo với các trường đại học, học viện để đào tạo giáoviên các ngành học có trình độ đại học
- Cử giảng viên đi học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
- Tích cực tham gia nghiên cứu khoa học đáp ứng chương trình đào tạo
và đổi mới giáo dục
1.3.1.2 Lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng của Trường CĐSP.
- Đào tạo giáo viên Mầm non trình độ Trung cấp Sư phạm và trình độCao đẳng Sư phạm
- Đào tạo giáo viên Tiểu học trình độ Trung cấp Sư phạm và trình độ Caođẳng Sư phạm
- Đào tạo giáo viên THCS trình độ CĐSP chuyên ngành Toán - Tin,Toán - Lý, Sinh - Kĩ, Sinh - Hóa, Hóa - Sinh, Văn - Sử, Văn - Địa, Văn -Công dân, Ngoại ngữ, Âm nhạc, Thể dục, Mĩ thuật
- Bồi dưỡng cán bộ quản lí giáo dục các trường Mầm non, Tiểu học,THCS
- Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Mầm non, Tiểu học, THCS theo
từng giai đoạn khác nhau
1.3.2 Vị trí, vai trò của giảng dạy Âm nhạc trong trường CĐSP.
1.3.2.1 Vị trí, vai trò của môn Âm nhạc trong trường CĐSP.
Giáo dục Nghệ thuật nói chung và giáo dục Âm nhạc nói riêng là một
thành phần không thể thiếu trong giáo dục bắt buộc ở hầu hết các nước trênthế giới, cho dù ở những nước đó có sự khác biệt về địa lí, chính trị, kinh tế,tôn giáo, văn hóa, xã hội… Những nước càng phát triển thì người ta lại càngchú trọng tới việc giáo dục Âm nhạc và Nghệ thuật cho học sinh, và ngược
Trang 32lại, chỉ những nước giàu mạnh mới đủ điều kiện để làm tốt công việc giáo dụcNghệ thuật Ở Việt Nam ta bộ môn Âm nhạc đã được đưa vào giảng dạytrong các nhà trường phổ thông Mầm non, Tiểu học và THCS, môn Âm nhạc
đã trở thành môn học bắt buộc, đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dụctoàn diện cho học sinh
Trường CĐSP, nơi đào tạo giáo viên các bậc học này, môn học Âmnhạc là môn học không thể thiếu trong chương trình đào tạo giáo viên Mầmnon, Tiểu học và THCS nhằm trang bị cho người giáo viên tương lai có trithức Âm nhạc vững vàng, có kĩ năng sư phạm thuần thục để thực hiện tốtnhiệm vụ giáo dục nghệ thuật Âm nhạc trong nhà trường phổ thông Đặc biệt,việc giáo dục nghệ thuật Âm nhạc được xem như phương tiện hữu hiệu gópphần phát triển thẩm mĩ, xây dựng nhân cách học sinh, giúp người giáo viêntương lai có đủ tự tin và bản lĩnh vững bước trên bục giảng
1.3.2.2 Hoạt động dạy học Âm nhạc trong trường CĐSP.
* Giảng dạy Âm nhạc chuyên ngành đào tạo giáo viên Mầm non.
Đối với chuyên ngành đào tạo giáo viên Mầm non, môn Âm nhạc đượchọc xuyên suốt trong toàn bộ khóa học Các em được học những kiến thức cơbản về Âm nhạc bao gồm: Nhạc lí, Xướng âm, Hát, Nhạc cụ, Múa, Phươngpháp tổ chức các hoạt động Âm nhạc
Chương trình Âm nhạc bao gồm: 225 tiết (15 ĐVHT) giảng dạy trong 5học phần Chương trình Âm nhạc này giúp sinh viên khi ra trường có thểgiảng dạy tốt các giờ học Âm nhạc ở trường Mầm non; tổ chức được cáchoạt động ca hát cho các cháu trong lớp cũng như các hoạt động ngoạikhóa Âm nhạc
* Giảng dạy Âm nhạc chuyên ngành đào tạo giáo viên Tiểu học.
Chương trình Âm nhạc giúp sinh viên khi ra trường có thể giảng dạy đượcmôn Âm nhạc ở trường Tiểu học; chương trình học bao gồm 150 tiết(10
Trang 33ĐVHT) với 5 học phần Chương trình trang bị những kiến thức Âm nhạc cơbản từ kiến thức Nhạc lý, Xướng âm, Hát, Nhạc cụ, Phương pháp dạy học Âmnhạc để sinh viên ra trường đảm nhiệm giảng dạy được môn học này ở cácnhà trường Tiểu học.
*Giảng dạy Âm nhạc chuyên ngành đào tạo giáo viên âm nhạc THCS.
Chương trình Âm nhạc đào tạo giáo viên Âm nhạc cho các trường THCSbao gồm đầy đủ các kiến thức về Âm nhạc giúp sinh viên có được kiến thứctốt nhất về Âm nhạc để giảng dạy và tổ chức tốt các hoạt động Âm nhạc ởtrường THCS
Ngoài kiến thức đại cương cơ bản chung, chương trình Âm nhạc bao gồm
82 ĐVHT; trong đó năm thứ nhất gồm 16 ĐVHT, năm thứ hai gồm 32ĐVHT, năm thứ ba gồm 36 ĐVHT
1.3.3 Quản lí hoạt động dạy học Âm nhạc ở Trường CĐSP.
1.3.3.1 Vị trí vai trò của tổ bộ môn trong trường CĐSP;
- Tổ bộ môn là một tổ chức cơ sở về chuyên môn trong cơ cấu tổ chức củaKhoa
- Tổ bộ môn trong cơ cấu tổ chức của Khoa chịu sự lãnh đạo của chủnhiệm khoa
- Các Tổ bộ môn chung chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Hiệu trưởng (hoặcPhó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, tuỳ sự phân công )
- Tổ bộ môn có trách nhiệm xây dựng, quản lí và thực hiện kế hoạch, nộidung, chương trình, phương pháp giảng dạy do bộ môn phụ trách
- Quản lí và tiến hành việc nghiên cứu khoa học, theo các đề tài đã đượcgiao, đồng thời xây dựng, bồi dưỡng cán bộ giảng dạy bộ môn của Tổ
- Tham gia xây dựng chương trình, giáo trình (hoặc một số chương mụctrong chương trình ) theo kế hoạch được giao
Trang 34- Chủ động đề xuất với Khoa và Nhà trường về các hoạt động chuyên mônnhư: Hội thảo khoa học, biên soạn giáo trình tài liệu tham khảo, nói chuyệnchuyên đề, ngoại khóa nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
- Xây dựng hệ thống ngân hàng câu hỏi, đề thi học phần do Tổ giảng dạytheo đúng kế hoạch của Nhà trường
- Tham mưu với Khoa và Nhà trường về các quy định, kế hoạch chuyênmôn
1.3.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Trưởng bộ môn
- Tổ chức xây dựng và quản lí thực hiện kế hoạch giảng dạy, giáo dục họcsinh, kế hoạch nghiên cứu các đề tài khoa học do Tổ phụ trách
- Tổ chức và theo dõi, giúp đỡ các cán bộ giảng dạy trong Tổ hoàn thànhtốt nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh bao gồm các công việc: Tham giabiên soạn giáo trình, soạn giáo án, chuẩn bị đồ dùng dạy học, lên lớp, giúp
đỡ kiểm tra học sinh học tập, lao động, rèn luyện, tu dưỡng kiến - thực tập
sư phạm theo đúng chương trình, kế hoạch và các quy chế chuyên môn đãquy định
- Tổ chức giúp đỡ các cán bộ giảng dạy trong Tổ hoàn thành các đề tàinghiên cứu khoa học đã đăng kí, đồng thời giúp đỡ cho cán bộ giảng dạytham gia nghiên cứu xây dựng và trao đổi sáng kiến kinh nghiệm, cải tiến nộidung và phương pháp giảng dạy Tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học
và phổ biến khoa học trong học sinh - sinh viên
- Có kế hoạch cụ thể trong việc theo dõi giúp đỡ cán bộ giảng dạy, cán bộnhân viên phục vụ giảng dạy bồi dưỡng lên trình độ đại học và sau đại học, đềxuất việc bổ sung, xây dựng đội ngũ của tổ bộ môn theo quy hoạch chungcủa Khoa và của Trường
- Quản lí kế hoạch công tác, chế độ làm việc của từng cán bộ giảng dạy,cán bộ nhân viên phục vụ giảng dạy trong Tổ, từng thời gian đánh giá kết
Trang 35quả giảng dạy và công tác của cán bộ giảng dạy, cán bộ nhân viên phục vụgiảng dạy.
- Xem xét, kiểm tra các giáo án, dự giờ giảng dạy, kế hoạch hướng dẫn họcsinh thực hành của cán bộ giảng dạy và cán bộ nhân viên phục vụ giảng dạytrong Tổ
- Tổ chức, xây dựng, quản lí cơ sở vật chất của Tổ bộ môn như các phòngthí nghiệm, phòng đồ dùng dạy học, vườn trường do Nhà trường giao
- Tổ chức động viên các cán bộ giảng dạy, cán bộ nhân viên phục vụ giảngdạy, tham gia phong trào thi đua 2 tốt của Khoa và của Nhà trường
1.3.3.2 Nội dung quản lí hoạt động dạy học Âm nhạc của Trưởng bộ môn ở trường CĐSP;
* Quản lí hoạt động dạy của giảng viên:
Quản lí hoạt động giảng dạy của giảng viên trong trường CĐSP bao gồmquản lí hoạt động dạy học trên lớp và quản lí việc thực hiện hồ sơ chuyênmôn của giảng viên Hình thức dạy học trên lớp vẫn là hình thức cơ bảntrong các nhà trường Chất lượng đào tạo phụ thuộc rất nhiều vào chất lượnggiảng dạy của giảng viên Quản lí hoạt động giảng dạy trên lớp cần đảm bảocác yêu cầu:
- Xây dựng kế hoạch và theo dõi việc thực hiện kế hoạch lên lớp củagiảng viên, đảm bảo nội dung, chương trình, thời gian
- Đối với Âm nhạc, do đặc thù đào tạo có nhiều học phần được thực hiệntheo hình thức chia nhóm nhỏ khác nhau để học, chính vì thế cần quản lí tốtviệc xây dựng kế hoạch giảng dạy sao cho khoa học, hợp lí tránh chồng chéokhi thực hiện
a- Quản lí việc thực hiện chương trình đào tạo môn Âm nhạc;
Chương trình dạy học là pháp lệnh của Nhà nước do Bộ giáo dục & Đàotạo ban hành, là căn cứ pháp lí để tiến hành chỉ đạo, giám sát các hoạt động
Trang 36của nhà trường, đồng thời là căn cứ pháp lí, quy định chung để giảng viên xâydựng kế hoạch giảng dạy, nội dung giảng dạy cho đúng với yêu cầu đào tạo.Quản lí thực hiện chương trình đào tạo môn Âm nhạc chính là quản lí, theodõi việc thực hiện kế hoạch, nội dung, chương trình giảng dạy của giảng viên
có đúng không, để từ đó có sự uốn nắn và điều chỉnh kịp thời
b- Quản lí việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp
Soạn bài là khâu quan trọng nhất trong việc chuẩn bị của giáo viên chogiờ lên lớp Tuy nó chưa dự kiến hết các tình huống trong quá trình lênlớp, nhưng soạn bài thực sự là lao động sáng tạo của từng giáo viên Nóthể hiện sự suy nghĩ, lựa chọn, quyết định của giáo viên về nội dung,phương pháp giảng dạy, hình thức lên lớp phù hợp với đối tượng học sinh
và đúng với yêu cầu của chương trình
Quản lí việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp phải bảo đảm những yêu cầucần thiết đó là :
+ Bảo đảm tính tư tưởng, tính giáo dục của bài giảng
+ Bảo đảm về mục tiêu, yêu cầu, kĩ năng, thái độ
+ Thực hiện soạn bài phải đúng quy chế, soạn bài chu đáo trước khi lênlớp, chống việc soạn bài để đối phó với việc kiểm tra
+ Bảo đảm nội dung, tri thức khoa học mang tính giáo dưỡng
+ Đưa việc soạn bài, chuẩn bị lên lớp vào nền nếp, nghiêm túc và phảibảo đảm chất lượng
+ Chỉ đạo không rập khuôn, máy móc, bảo đảm và khuyến khích tínhtích cực, tự giác và sáng tạo của giáo viên
+ Yêu cầu tổ, nhóm chuyên môn thường xuyên trao đổi về mục đíchyêu cầu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức của các tiết học Đặc biệt
là yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Trao đổi thống nhất về mục đích,yêu cầu sử dụng phương tiện dạy học trong việc hỗ trợ giờ học
c- Quản lí giờ lên lớp của giáo viên
Trang 37Hoạt động dạy và học trong trường Sư phạm hiện nay được thực hiện chủ
yếu bằng hình thức dạy và học trên lớp, thực hành nghề nghiệp được tiến hành ởxưởng trường hoặc các phòng chuyên môn, với những nội dung lên lớp và hệthống bài hoc lí thuyết và thực hành cụ thể Nói cách khác, giờ lên lớp là hìnhthức tổ chức cơ bản và chủ yếu nhất của quá trình dạy học trong nhà trường đểthực hiện mục tiêu cấp học
Chính vì vậy trong quá trình quản lý dạy và học của mình, các nhà quản líphải có những biện pháp tác động cụ thể, phong phú và linh hoạt đến các cấp
QL để nâng cao chất lượng giờ lên lớp của giảng viên
d- Quản lí hồ sơ chuyên môn của giảng viên;
Hồ sơ chuyên môn của giảng viên là phương tiện, công cụ giúp giảng viênthực hiện đầy đủ, hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của người thầy trong giờ lênlớp
Quản lí thực hiện hồ sơ chuyên môn của giảng viên giúp nhà quản lí nắmchắc được tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giảng viên trong đơnvị; hồ sơ chuyên môn của giảng viên là một cơ sở để đánh giá việc thực hiệnquy chế chuyên môn của từng giảng viên trong việc thực hiện nhiệm vụ nămhọc
Trong phạm vi dạy học, hồ sơ của giảng viên cần có: Kế hoạch giảng dạy
bộ môn, bài giảng bộ môn, bảng điểm đánh giá bộ phận, sổ dự giờ, kế hoạch
tự học và tự bồi dưỡng, hồ sơ nghiên cứu khoa học
e- Quản lí việc đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên;
Phương pháp dạy học ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của sinh
viên Phương pháp là cách thức, là con đường hoạt động của thầy giúp trònắm vững những kiến thức, kĩ năng Những phương pháp được sử dụng phảithể hiện rõ hai tính chất cơ bản: Phát huy tính tích cực tự giác độc lập của tròtrong quá trình học tập; giảng dạy và học tập gắn liền với thực tế đời sống xãhội, học phải đi đôi với hành Giáo viên nên mở rộng kiến thức, giảm bớt
Trang 38những nội dung buộc sinh viên phải ghi nhớ một cách cơ học mà cần chútrọng vào việc ứng dụng gắn với thực tế Bên cạnh đó, cần có phương phápkiểm tra đánh giá phù hợp, tổ chức cho sinh viên những trò chơi nhằm tiếpthu thông tin bài học là những biện pháp tích cực góp phần nâng cao chấtlượng dạy học
Âm nhạc là một bộ môn đặc thù, rất khó cho giáo viên khi đứng trướcđối tượng học sinh không đồng đều về năng khiếu, các năng lực hoạt động
Âm nhạc
Để giáo dục Âm nhạc một cách hiệu quả, giáo viên cần có những phươngpháp dạy học phù hợp Điều cơ bản nhất là giáo viên phải làm cho các em biếtyêu nghệ thuật Âm nhạc Muốn vậy, trong các bài giảng, giáo viên cần mởrộng hiểu biết thức tế Âm nhạc, kiến thức không gò bó, có tính ứng dụng nhiều.Các ví dụ bài học cần thiết thực hơn trong đời sống tinh thần của các em Hoạtđộng dạy học phải hướng tới sự đáp ứng nhu cầu của sinh viên, thúc đẩy và
định hướng nhu cầu đó Việc đổi mới phương pháp giảng dạy là yêu cầu hết
sức cần thiết trong đổi mới giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
g- Quản lí công tác sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ;
Trong nhà trường CĐSP, nơi đào tạo giáo viên tương lai thì việc đòi hỏi
chất lượng đội ngũ giảng viên đóng vai trò hết sức quan trọng, việc khôngngừng nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên về năng lực, trình độ chuyênmôn, nghiệp vụ sư phạm, sử dụng đúng năng lực trình độ là rất cần thiết.Việc quản lí, sử dụng đội ngũ giảng viên bao gồm:
+ Xây dựng kế hoạch cử người đi học tập nâng cao trình độ
+ Phân công giảng dạy đúng năng lực chuyên môn của giảng viên + Xây dựng và tổ chức tốt công tác tự học, tự bồi dưỡng của giảngviên
Trang 39+ Tổ chức tốt các hoạt động sinh hoạt, trao đổi chuyên môn ở các tổ,nhóm chuyên môn.
h- Quản lí công tác nghiên cứu khoa học;
Ngoài giảng dạy thì nghiên cứu khoa học là nhiệm cụ quan trọng của
giảng viên Thông qua việc nghiên cứu khoa học giúp giảng viên có am hiểusâu hơn về chuyên môn, đúc rút những kinh nghiệm để góp phần nâng caochất lượng giảng dạy và đào tạo Quản lí công tác nghiên cứu khoa học baogồm từ quản lí việc cho giảng viên đăng kí tên đề tài, lĩnh vực nghiên cứu, xétduyệt đề cương, tổ chức hội đồng nghiệm thu bảo đảm đánh giá đúng chấtlượng các đề tài và hoàn thành đúng thời gian quy định
i- Quản lí cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học;
Để phục vụ hoạt động đào tạo nói chung và hoạt động đào tạo giáo dụcnói riêng thì cơ sở vật chất là điều kiện tiên quyết không thể thiếu được Cơ
sở vật chất phục vụ dạy học âm nhạc ở trường CĐSP bao gồm nhiều trangthiết bị như: Hệ thống phòng học âm nhạc, đàn Oóc gan, ghi ta, piano, đàicattsex, trang phục đạo cụ múa…việc quản lí và sử dụng trang thiết bị nàycần đảm bảo yêu cầu:
- Đủ cơ sở vật chất và phương tiện dạy học âm nhạc
- Sử dụng hiệu quả cơ sở, trang thiết bị âm nhạc
- Tổ chức quản lí, bảo quản tốt trang thiết bị dạy học
- Biết cách sử dụng, điều khiển các trang thiết bị này
k- Quản lí hoạt động kiểm tra, đánh giá;
- Quản lí việc kiểm tra đánh giá sinh viên Đánh giá kết quả là khâu quan
trọng để đảm bảo chất lượng đào tạo Việc đánh giá không đúng, không chínhxác sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến chất ượng đào tạo mà khi đó sản phẩm đầu ra
sẽ không còn đảm bảo thực chất Chính vì thế cần quản lí tốt khâu kiểm tra
Trang 40đánh giá không chỉ qua các kì thi học phần mà còn phải quản lí tốt ngay từviệc kiểm tra đánh giá của giảng viên trong quá trình dạy.
Quản lí việc thực hiện kiểm tra, đánh giá chất lượng sinh viên của giảngviên cần tập trung vào công việc sau:
Qua việc nghiên cứu một số vấn đề lí luận về quản lí, quản lí giáo dục,quản lí nhà trường, quản lí hoạt động dạy học của giảng viên Chúng ta nhậnthấy vai trò rất quan trọng của quản lí trong các nhà trường
Để nâng cao chất lượng đào tạo nói chung và chất lượng đào tạo trongcác nhà trường CĐSP nói riêng thì nhà quản lí ở các Khoa, Tổ chuyên mônphải nắm vững những lí luận về quản lí, lí luận dạy học để có thực hiện mụctiêu đào tạo những giáo viên có phẩm chất và năng lực tốt đáp ứng sự nghiệpđổi mới giáo dục, đào tạo trong giai đoạn hiện nay