cứu của luận văn chúng tôi tập trung tìm hiểu những công trình nghiên cứu của các nhàkhoa học nước ngoài và trong nước về sử dụng các di sản văn hóa nói chung và di tíchlịch sử văn hóa n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRƯƠNG QUỐC TÁM
SỬ DỤNG CÁC DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG Ở
TRƯỜNG THPT TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS TRỊNH ĐÌNH TÙNG
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo trong bộ môn lí luận và phương pháp dạy học, từ việc định hướng đề tài, cung cấp tài liệu, cũng như những góp ý, điều chỉnh giúp tôi từng bước hoàn thành đề tài Qua đây cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, các cô trong khoa lịch sử nói chung, các thầy, các
cô trong bộ môn lí luận và phương pháp dạy học nói riêng Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS-TS Trịnh Đình Tùng đã dành nhiều thời gian, công sức, hướng dẫn những định hướng khoa học cho đề tài, cung cấp cho tôi những tài liệu quan trọng, cơ bản, giúp tôi hoàn thành công trình khoa học này.
Ngoài ra, tôi còn nhận được sự giúp đỡ cuả các ban ngành như thư viện tỉnh Quảng Ninh, Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch Quảng Ninh, Ban quản lí các
di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh Đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của ban quản lí các khu di tích: khu di tích lịch sử nhà Trần (Đông Triều); khu di tích lịch sử - văn hóa Yên Tử (Uông Bí); khu di tích lịch sử Bạch Đằng (Yên Hưng); Ban quản lí vịnh Hạ Long; cán bộ quản lí, giáo viên, học sinh các trường THPT trong tỉnh Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo, các anh chị em đồng nghiệp, những người cùng quan tâm, để đề tài ngày càng được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, tháng 10 năm 2015-10-03
Trương Quốc Tám
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PGS-TS: Phó Giáo sư - Tiến sĩ
GS-TS : Giáo sư - Tiến sĩ
THPT: Trung học phổ thông
THCS : Trung học cơ sở
HS : Học sinh
GV : Giáo viên
GDCD : Giáo dục công dân
CTGDPT : Chương trình giáo dục phổ thông
HĐND : Hội đồng nhân dân
UBND : Ủy ban nhân dân
KHXH : Khoa học xã hội
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 12
6 Giả thuyết khoa học 13
7 Đóng góp của luận văn 13
8 Ý nghĩa của luận văn 14
9 Cấu trúc của luận văn 14
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÁC DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG Ở TRƯỜNG THPT TỈNH QUẢNG NINH 15
1.1 Cơ sở lí luận 15
1.1.1 Các khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài 15
1.1.2 Các loại di tích, đặc điểm 18
1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng các di tích quốc gia đặc biệt trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh 20
1.1.4 Nội dung các di tích quốc gia đặc biệt ở Quảng Ninh cần khai thác trong dạy học lịch sử địa phương 23
1.1.5 Những yêu cầu khi lựa chọn khai thác các di tích quốc gia đặc biệt trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 31
1.2 Cơ sở thực tiến 36
1.2.1 Thực tiễn dạy học lịch sử địa phương ở các trường THPT tại Quảng Ninh 36
1.2.2 Thực trạng sử dụng các di tích quốc gia đặc biệt trong dạy học lịch sử địa phương tỉnh Quảng Ninh 39
CHƯƠNG 2 HÌNH THỨC, BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CÁC DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG Ở TRƯỜNG THPT TỈNH QUẢNG NINH THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 46
Trang 62.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của lịch sử địa phương ở trường THPT tỉnh
Quảng Ninh 46
2.1.1 Vị trí 46
2.1.2 Mục tiêu 47
2.1.3 Nội dung lịch sử địa phương cấp THPT tỉnh Quảng Ninh 50
2.2 Hình thức sử dụng các di tích đặc biệt quốc gia trong dạy học lịch sử địa phương 59
2.2.1 Sử dụng trong các bài nội khóa 59
2.2.2 Tổ chức cho học sinh học lịch sử địa phương tại các di tích quốc gia đặc biệt 59
2.2.3 Sử dụng các di tích quốc gia đặc biệt ở địa phương trong hoạt động ngoại khóa .60 2.3 Các biện pháp sử dụng di tích đặc biệt quốc gia trong dạy học lịch sử địa phương 62
2.3.1 Sử dụng các di tích quốc gia đặc biệt để gây hứng thú học tập của học sinh trong giờ học nội khóa ở trên lớp 62
2.3.2.Sử dụng di tích quốc gia đặc biệt như nguồn tư liệu trong dạy học nội khóa ở trên lớp 63
2.3.3 Sử dụng tài liệu về di tích quốc gia đặc biệt để tiến hành dạy học nội khóa ở trên lớp thông qua ứng dụng công nghệ thông tin 65
2.3.4 Sử dụng các di tích quốc gia đặc biệt để tổ chức trao đổi thảo luận trong giờ học nội khóa trên lớp, nội khóa tại di tích và hoạt động ngoại khóa 66
2.4 Thực nghiệm sư phạm 75
2.4.1 Sử dụng tư liệu trong bài học nội khóa 75
2.4.2 Tiến hành bài học tại các di tích quốc gia đặc biệt 78
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 92
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh “toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”, giáo dục lịch sử cho họcsinh trở thành nội dung được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm Ở nước ta,
Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến giáo dục, coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu”,
là chìa khóa mở cửa tiến vào tương lai Với chủ trương đó, giáo dục góp phần làm triết
lí cho nền giáo dục thế kỉ XXI, trong đó lấy chủ đề “học suốt đời” với mục tiêu “ học
để biết, học để làm, học để chung sống và học để khẳng định mình” nhằm xây dựngmột xã hội “phát triển hiện đại và văn minh”
Mỗi môn học trong nhà trường phổ thông với đặc trưng của từng bộ môn nhưngđều phải góp phần đào tạo học sinh một cách toàn diện Trong đó môn Lịch sử có vị trírất quan trọng Dạy học lịch sử là giáo dục truyền thống văn hóa, giáo dục tư tưởng,tình cảm, ý thức đạo đức để hình thành nhân cách học sinh Giáo dục lịch sử có vai tròđặc biệt đến sự trường tồn, hưng vượng của quốc gia dân tộc
Trong những năm chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám, bác Hồ căn dặn:
“Dân ta phải biết sử ta,Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh hàm chứa một ý nghĩa vô cùng sâu sắc
về ý nghĩa, vai trò của lịch sử Nhờ lịch sử chúng ta mới biết nguồn gốc của dân tộc,biết được quá trình dựng nước và giữ nước với những chiến công oanh liệt, nhữngtrang sử vàng chói lọi của các thế hệ đi trước Học lịch sử, biết lịch sử cũng sẽ bồi đắptrong mỗi chúng ta lòng yêu quê hương đất nước, tinh thần tự hào dân tộc, từ đó củng
cố ý chí, bản lĩnh; Rèn luyện, phấn đấu vươn lên trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trong lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương là một bộ phận không thể tách rời.Lịch sử địa phương là biểu hiện của lịch sử dân tộc, là sự minh họa cho lịch sử dântộc Nó chứng minh sự phát triển hợp quy luật của địa phương trong sự phát triểnchung của cả nước Nó không chỉ giúp học sinh hiểu về mảnh đất, con người nơimình chôn nhau cắt rốn, hun đúc niềm tự hào, giáo dục truyền thống yêu quê hương,đất nước mà còn giúp học sinh nhận thức sâu sắc về lịch sử
Thực tế, việc dạy học lịch sử địa phương ít được quan tâm Do ảnh hưởng nhịpsống hiện đại, do các trường Đại học tuyển sinh theo khối (tổ hợp) mà có môn thi lịch
sử ít nên học sinh đổ xô vào học các môn học khác, nhằm thi đỗ đại học, tìm chỗ đứng
Trang 8trong tương lai, mà sao nhãng học lịch sử, đặc biệt là tìm hiểu về lịch sử địa phương.
Do vậy, chúng ta cần phải có cách nhìn nhận khách quan và có định hướng đúng trongtrong công tác chỉ đạo dạy học lịch sử địa phương để từ đó lôi cuốn, thu hút và địnhhướng đúng cho sự phát triển nhận thức và phát triển năng lực của thế hệ học sinh
Quảng Ninh là vùng đất có vị trí đặc biệt quan trọng trong cả nước Từ trước,nhiều người biết đến nơi đây như; Một vùng vàng đen với ngành khai thác than rấtphát triển; Một vùng đất có biển đảo với cảnh đẹp thiên nhiên hữu tình; Một địa danh
du lịch sinh thái hấp dẫn; Một vùng kinh tế mở sôi động với cửa khẩu quốc tế MóngCái… điều đó đôi khi làm người ta quên đi một Quảng Ninh với tư cách là một biểutượng cho truyền thống văn hóa lịch sử của dân tộc
Quảng Ninh không chỉ là một chiếc nôi của người Việt cổ với dấu tích của nhiềunền văn hóa lớn: như nền văn hóa Hạ Long, nền văn hóa Cái Bèo, nền văn hóa SoiNhụ… mà còn có nền văn hóa đa dạng phong phú trên cơ sở hội tụ 21 dân tộc anh emvới nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể được quốc gia và thế giới ghi nhận Ngườidân nơi đây cũng đã sát cánh cùng nhân dân cả nước, kiên trì bền bỉ trên suốt chặngđường dài dựng nước và giữ nước Biết bao thế hệ kế tục nhau viết lên những trang sửchói lọi của tinh thần anh hùng bất khuất chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc (từ các triềuđại phong kiến phương Bắc tới hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ)
Quảng Ninh cũng là nơi chứng kiến sự ra đời, trưởng thành và đấu tranh củagiai cấp công nhân Việt Nam Những trang sử rạng ngời của tỉnh Quảng Ninh cầnphải được các thế hệ học sinh biết đến, lấy đó để giáo dục truyền thống văn hóa lịch
sử, tình yêu quê hương đát nước, làm động lực xây dựng quê hương Quảng Ninh pháttriển giầu mạnh
Quảng Ninh được ví như đất nước Việt Nam thu nhỏ, với phong phú các ditích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng, các di tích cấp tỉnh,
di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt Tính đến năm 2013, Quảng Ninh đãđược nhà nước công nhận 4 khu Di tích quốc gia đặc biệt, đó là:
Danh lam thắng cảnh Vịnh Hạ Long (Thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả
và huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh);
Di tích lịch sử Bạch Đằng (thị xã Quảng Yên, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh);
Trang 9Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Yên Tử (thành phố Uông Bí, huyện
Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh);
Di tích lịch sử Khu di tích Nhà Trần tại Đông Triều (huyện Đông Triều, tỉnh
Quảng Ninh)
Di tích quốc gia đặc biệt là tài sản quý giá của tất cả các dân tộc, có vai tròquan trọng trong việc tôn vinh những giá trị về truyền thống văn hoá, lịch sử Di tíchquốc gia đặc biệt là ánh lửa hồng trong hoạt động giáo dục truyền thống văn hóa lịch
sử cho học sinh, đồng thời quảng bá góp phần cho việc phát triển kinh tế xã hội củađịa phương, đất nước Các di tích quốc gia đặc biệt còn đóng vai trò to lớn cho nềnhoà bình, phát triển và hưng thịnh của quốc gia dân tộc và của nhân loại thông quacác hoạt động hợp tác tích cực cùng có lợi với cộng đồng quốc tế
Xuất phát từ nhận thức và tâm lí, chúng ta có thể hiểu rằng: Con người bảo vệ
và gìn giữ những gì họ yêu, họ chỉ yêu những gì mà họ hiểu và họ chỉ hiểu những gì
mà họ được học Chính vì vậy, sử dụng các di tích quốc gia đặc biệt trong dạy họclịch sử địa phương ở trường THPT là hoạt động góp phần giáo dục toàn diện, giáodục tình yêu quên hương, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm và phát triển nănglực cho học sinh
Với giá trị kì diệu và đặc biệt trên, chúng tôi chọn vấn đề “Sử dụng các di tích quốc gia đặc biệt trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài luận văn cao học
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Các di tích quốc gia đặc biệt của nước ta nói chung và các di tích quôc gia đặc biệtcủa Quảng Ninh nói riêng đã và đang được tìm hiểu, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khácnhau trong các công trình khoa học Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề cậpđến các di tích quôc gia đặc biệt ở Quảng Ninh với góc nhìn của sử học, khảo cổ học, vănhóa, tâm linh, môi trường, địa chất địa mạo, thiên nhiên Các nhà lí luận và phương phápdạy học lịch sử đã đề cập đến các di tích quốc gia đặc biệt như các di sản dưới góc độ củamột giáo cụ trực quan trong đổi mới phương pháp dạy học Còn các nhà quản lí xem xétcác di tích quôc gia đặc biệt tại địa phương trên bình diện vĩ mô tức là vấn đề về bảo tồn
và phát triển Nhìn chung, qua các công trình nghiên cứu các nhà nghiên cứu đều khẳngđịnh các di tích quốc gia đặc biệt, các di sản văn hóa là kho tư liệu vật chất phong phú,quý giá của dân tộc được xây dựng từ nền tảng của các địa phương Trong phạm vi nghiên
Trang 10cứu của luận văn chúng tôi tập trung tìm hiểu những công trình nghiên cứu của các nhàkhoa học nước ngoài và trong nước về sử dụng các di sản văn hóa nói chung và di tíchlịch sử văn hóa nói riêng trong dạy học lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương ở trườngTHPT tỉnh Quảng Ninh.
Tài liệu nước ngoài
Trong các công ước quốc tế, các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứunước ngoài về di sản văn hóa hầu hết đã bàn đến di sản văn hóa được bảo lưu từ đời nàysang đời khác và có tác dụng giáo dục con người về truyền thống của mỗi dân tộc
Trong “Công ước về bảo vệ di sản tự nhiên và di sản văn hóa”(1972) và
“Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể” Pari, 17/10/2003 di sản văn hóa “được
chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, đồng thời hình thành trong họ một ý thức
về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa
và tính sáng tạo của con người”.
Tại hội nghị Quốc tế các khoa học lịch sử lần thứ XVII ở Madrit (Tây Ban
Nha), từ ngày 26/8 đến 2/9/1990 có báo cáo về vấn đề " Các nhà sử học và việc gìn giữ các di sản văn hóa của nhân loại" Hội nghị đã khẳng định: "Di tích lịch sử - văn hóa
là những di sản văn hóa quý hiếm của nhân loại, cần được bảo vệ và sử dụng đúng đắn Di tích lịch sử đã và đang trải qua những hiểm họa đó là thời gian ngày càng lùi
xa, thiên nhiên khắc nghiệt và cả sự vô ý thức của con người" [22; 20] Hội nghị đã
nhấn mạnh: "Khả năng sử dụng các di tích lịch sử thể hiện trình độ văn minh của xã
hội đương thời".
Theo “Hiến chương Quốc tế” về bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ (1964), Đại
hội Quốc tế lần thứ hai các kiến trúc sư và kỹ thuật gia về di tích lịch sử, Venice,
1964, được ICOMOS chấp nhận năm 1965 đã coi các di tích lịch sử của các thế hệ con
người, thấm đượm một thông điệp từ thời quá khứ, đến ngày nay hãy còn như là nhữngchứng nhân sống của những truyền thống lâu đời cổ xưa Nhân loại ngày càng ý thức rõràng tính thống nhất của các giá trị con người và coi các di tích cổ như là một di sảnchung Khái niệm di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cảkhung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một pháttriển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử Khái niệm này không chỉ áp dụng với nhữngcông trình nghệ thuật to lớn mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã, cùng vớithời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hoá
Trang 11Trong cuốn “Phương pháp giảng dạy lịch sử” của Viện sĩ Xtơrajốp A.I (Sách
dùng cho GV) NXB GD, HN, 1964 đã nêu rõ tầm quan trọng của các tài liệu văn hóa lịch sử trong các khóa trình lịch sử Liên xô trên tất cả các mặt: cung cấp tri thức, giáo dụcđạo đức, tư tưởng và phát triển kỹ năng thực hành bộ môn Tác giả quan niệm rằng những
-sự kiện về lịch sử - văn hóa rất phong phú, phức tạp, do đó cần xác lập một số nguyên tắc
về phương pháp dạy học để GV vận dụng khi giảng dạy nội dung này: Giảng dạy nhữngnội dung văn hóa - lịch sử không chỉ liệt kê các hiện tượng văn hóa nổi bật hoặc tiểu sửcủa các nhà văn mà điều quan trọng hơn là trình bày cho HS hiểu cuộc đấu tranh về thếgiới quan, thể hiện trong tư tưởng, hành động và tác phẩm của các nhân vật văn hóa, đểthấy được sự phát triển của xã hội; Cần làm cho HS thấy được tính độc đáo, đa dạng củavăn hóa các dân tộc trong một quốc gia đang ngày càng xích lại gần nhau, nhưng vẫn giữđược bản sắc văn hóa của riêng mình; khi giảng dạy nội dung văn hóa cần đảm bảo tính
cụ thể, trực quan và truyền cảm
Di sản văn hóa được xem là giáo cụ trực quan tốt nhất để phát triển tư duy cho
HS Các nhà nghiên cứu giáo dục lịch sử xem xét di sản văn hóa dưới góc độ là mộtgiáo cụ trực quan trong dạy học PTS khoa học giáo dục Liên Xô M.CuGiac trong
cuốn “Phát triển tư duy HS như thế nào” NXB GD, HN 1976 đã chỉ rõ việc sử dụng
đồ dùng trực quan có vai trò và ý nghĩa to lớn về việc phát triển tư duy HS Ông khẳng
định: “phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan là phương pháp tốt nhất đem lại sự
phát triển tư duy cho HS” [32]
Trong cuốn“Phát huy tính tích cực của HS như thế nào” NXB GD HN, 1978
I.F Khalamôp Di sản văn hóa được xem là giáo cụ trực quann nó còn góp phần rèn luyện
tư duy, phân tích, tập cho các em nhìn thấy bản chất của các đối tượng và hiện tượng ẩnsau các hình thức biểu hiện bề ngoài, kích thích sự ham hiểu biết của các em… Tác giảcũng đã nêu ra các loại và phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong khi nghiên cứu
về phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông khẳng định về vai trò của đồ dùng
trực quan Ông khẳng định: “đồ dùng trực quan có vai trò quan trọng , tính trực quan là
phương tiện cơ bản để hình thành kiến thức lịch sử” [60]
Trong cuốn “Phát triển tư duy HS trong dạy học lịch sử” của I.A.Lecne, NXB
GD HN, 1982 [58] đề cập đến việc dạy học phải bắt đầu từ trực quan nhằm tạo ra trong
óc trẻ một biểu tượng bền vững để từ đó đi sâu vào tìm hiểu bản chất sự kiện
Trong cuốn “Các phương pháp dạy học hiệu quả” của tác giả Robert J.
Marzano, người dịch Nguyễn Hồng Vân (NXB GD Việt Nam, HN, 2013) Đây là một
Trang 12trong số những quyển sách nằm trong bộ sách đổi mới phương pháp dạy học, với mụcđích phát huy cao độ khả năng học tập của HS, nâng cao chất lượng giảng dạy của GV
đứng lớp Trong đó, tác giả đã đề cập đến phương pháp điều tra lịch sử, tức là: “Học
sinh tham gia điều tra lịch sử khi các em dựng lên một kịch bản hợp lý cho những sự kiện xảy ra trong quá khứ, một sự kiện không có sự thống nhất chung trong dư luận”
[61; tr 136] Đây là một phương pháp dạy học hiệu quả khi gắn nội dung bài học lịch
sử với lịch sử địa phương GV có thể giao nhiệm vụ cho HS tìm kiếm và phân tíchnhững cứ liệu lịch sử ở địa phương liên quan đến lịch sử dân tộc để làm sáng tỏ nhữngnội dung trong bài học…
Trong cuốn “Phát triển tư duy HS” của Aleexep [1], đã khẳng định: “cơ sở
tâm lý của nhận thức trực quan sinh động trong học tập lịch sử khi tạo biểu tượng trong sáng muôn màu muôn vẻ về các sự vật hiện tượng đang học” Có thể thực hiện
nhiệm vụ này bằng cách tổ chức cho HS tri giác các di tích lịch sử và các di sản vănhóa Các tác giả có chung quan điểm việc tham quan học tập tại di tích lịch sử, di sảnvăn hóa là hoạt động quan trọng, là một phương thức dạy cho HS đọc cuốn sách củacuộc sống Việc được tri giác các di tích, di sản văn hóa không chỉ bồi dưỡng kiếnthức mà còn góp phần giáo dục các em về truyền thống dân tộc
Trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” của Đairi N.G (NXB GD,
Hà Nội, 1973) cũng đã chỉ ra rằng thầy giáo bắt buộc phải biết rõ những thành tựu củakhoa học lịch sử và các khoa học giáo dục, những vấn đề mà khoa học đang giải quyết,phải biết tất cả những hiện tượng quan trọng nhất của đời sống chính trị xã hội và vănhóa Muốn vậy, phải sử dụng không ngừng và có hệ thống tất cả mọi nguồn tư liệumuôn hình muôn vẻ: tác phẩm kinh điển, văn kiện của Đảng và Nhà nước, sáchchuyên khảo, sách giáo khoa, sách báo tạp chí, tác phẩm hội họa, những cuộc tham
quan và khẳng định: “toàn bộ công tác dạy học sẽ vô cùng có lợi, nếu thầy giáo hiểu
môn học trên cơ sở tất cả những nguồn tư liệu có liên quan đến sự kiện ” [40; tr 10]
nhằm xây dựng nên một bức tranh toàn diện, trọn vẹn, rõ ràng, có hình ảnh, gợi cảm
về một biến cố lịch sử hoặc về một quá trình lịch sử [40; tr 7]
Như vậy, qua tài liệu nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, chúng tôi rút ra một
số kết luận sau: Các tác giả đều nhấn mạnh đến sự cần thiết phải sử dụng tài liệu vănhóa - lịch sử trong dạy học ở trường phổ thông; Các tác giả củng khẳng định nguồn tàiliệu nếu được sử dụng hợp lý còn góp phần nâng cao kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng,tình cảm và phát huy được năng lực nhận thức độc lập, sáng tạo cho HS; Các tác giả
Trang 13cũng đã nêu ra một số gợi ý về phương pháp dạy học tài liệu văn hóa - lịch sử địaphương để GV tham khảo; Các công trình nghiên cứu đã cung cấp những kinh nghiệmthực tiễn quý báu cho việc sử dụng cacsmdi tích lịch sử - văn hóa tại địa phương phùhợp với đối tượng, cấp học, đặc trưng vùng miền góp cho chúng tôi nhiều điều bổ íchkhi thực hiện nhiệm vụ luận văn thạc sĩ.
Tài liệu trong nước
Việc sử dụng đồ dùng trực quan nói chung, các di tích văn hóa lịch sử nói riêngcũng được các nhà giáo dục học, tâm lí học và giáo dục lịch sử trong nước quan tâmnghiên cứu
Trong giáo trình “Giáo dục học” do Trần Thị Tuyết Oanh chủ biên, NXB ĐHSP,
HN, 2009 Đây là bộ giáo trình có ý nghĩa rất lớn đối với GV, giúp ích rất nhiều trongviệc xác định hệ thống kiến thức phổ thông, hình thành kĩ năng, thái độ để tiến hànhcác hoạt động dạy học và giáo dục trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình Trong đó, cáctác giả có đề cập đến việc dạy học những nội dung văn hóa thông qua hoạt động ngoạikhóa Qua đó, giáo dục cho HS lòng yêu quê hương đất nước, yêu con người và cuộcsống lao động cho HS
Bộ giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” do Phan Ngọc Liên (chủ biên),
Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi biên soạn, NXB ĐHSP, HN, 2002 (tái bản có sửachữa và bổ sung vào các năm 2009, 2010) được sử dụng rộng rãi, trong đó các tác giả
đã đề cập một cách sâu rộng các vấn đề lý luận và thực tiễn của việc DHLS, giúp cho
GV nâng cao nhận thức lý luận dạy học của bộ môn và góp phần rèn luyện năng lựcnghiệp vụ sư phạm cho sinh viên Đồng thời trong nội dung cuốn sách, các tác giả đã
đề cập đến vai trò của môn Lịch sử đối với việc giáo dục cho HS qua dạy học những
nội dung văn hóa “văn hóa là một bộ phận hữu cơ của LSDT; nó có quan hệ khăng
khít gắn bó chặt chẽ với kinh tế, xã hội… Văn hóa không chỉ là yếu tố cấu tạo nên lịch
sử mà còn làm cho lịch sử phong phú, trở thành một động lực cho sự tồn tại và phát triển xã hội… Vì vậy, khi nghiên cứu, học tập lịch sử không thể không tìm hiểu các vấn đề văn hóa, khoa học, giáo dục” [75; tr 221] Đồng thời các tác giả cũng chỉ ramột số hình thức, biện pháp dạy học trong bài nội khóa cũng như ngoại khóa Giáotrình xuất bản năm 2009 tiếp tục được trình bày một cách có hệ thống việc sử dụng ditích trong các nội dung ngoại khóa và được xem xét dưới góc độ là phương tiện trựcquan trong dạy học lịch sử Thông qua đó, các tác giả cũng nêu lên những hình thức vàbiện pháp sử dụng di tích lịch sử có hiệu quả như việc tổ chức bài học tại thực địa,
Trang 14tham quan ngoại khóa, công ích xã hội…Tuy nhiên, giáo trình mới chỉ đề cập đến mộtkhía cạnh của di sản văn hóa vật thể đó là di tích lịch sử.
Trong cuốn “Các con đường biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông” [25] của tác giả Nguyễn Thị Côi, NXB ĐHSP HN, 2006 đã hướng
dẫn thực hiện một hoạt động ngoại khóa với di tích Qua đó, tác giả đã đưa ra một sốhình thức, biện pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa cho HS tại di sản văn hóa tiêu biểu,tăng cường dạy học tại di tích
Cục di sản văn hóa đã ra “Tạp chí Di sản văn hóa’’ đề cập đến các vấn đề lý
luận về di sản văn hóa, bảo tồn và phát triển di sản văn hóa vật thể và phi vật thể nói
chung Như vậy, các công trình khoa học đã từng bước khẳng định vị trí và vai trò của
di sản văn hóa trong lịch sử Di sản văn hóa địa phương gắn liền với sự phát triển lịch
sử góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của đất nước
Tác giả Hoàng Thanh Hải viết trong tạp chí “Nghiên cứu giáo dục” số 5, năm 1997
[46] đã nêu ra hình thức, biện pháp để “Giáo dục ý thức tôn trọng và bảo vệ phát huy giá trị
di sản văn hóa cho HS qua môn Lịch sử” Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu trên
mới chỉ đề cập đến hình thức và biện pháp sử dụng di tích lịch sử - văn hóa
Trong “Luận án Tiến sĩ giáo dục” của tác giả Hoàng Thanh Hải viết về: "sử
dụng di tích trong dạy học lịch sử dân tộc ở trường THCS" [47], đã đề cập đến cơ sở lýluận và những hình thức, biện pháp trong việc sử dụng di tích Ngoài ra, tác giả đã cónhiều bài viết bàn về việc hình thức sử dụng di tích trong dạy học lịch sử, giáo dục ý
thức HS qua di sản như "Tổ chức hướng dẫn HS phổ thông tham gia lễ hội xuân tại các
minh họa cho phần lý luận chung Bên cạnh đó, trong hội nghị giao ban về " Sử dụng
di sản văn hóa ở trường phổ thông" đã tổng kết việc triển khai sử dụng di sản trong
dạy học ở trường phổ thông của 7 tỉnh và thành phố thí điểm (trong đó có tỉnh Quảng
Ninh) Bộ GD&ĐT vừa xây dựng Website http://giaoducphothong.edu.vn nhằm hỗ trợ
tư liệu và tạo diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm dạy học của cán bộ quản lý, GV trên nhiều
Trang 15lĩnh vực trong đó có việc sử dụng di sản trong dạy học Qua triển khai thí điểm các GVxây dựng, giáo án hay kế hoạch bài học, nhiều hoạt động ngoại khóa trải nghiệm di sảnđược thiết kế và thử nghiệm trong các trường THCS, THPT ở các tỉnh và thành phố thíđiểm Đây là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng để cho GV sử dụng trong giai đoạntiếp theo.
Đặc biệt là tại Hội thảo quốc tế “Tăng cường sử dụng di sản văn hóa phi vật thể trong giáo dục vì sự phát triển bền vững tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương”
được Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Văn phòng UNESCOphối hợp tổ chức trong 2 ngày (24 - 25/03/2015) tại Hà Nội Các chuyên gia đã chia sẻnhững kinh nghiệm thực tế khi triển khai thí điểm công tác giảng dạy về di sản trongmôi trường giáo dục được thực hiện trong 2 năm vừa qua (2013 - 2014) tại 4 quốc gia(Pakistan, Palau, Uzebekistan và Việt Nam) Cũng tại hội thảo này, các đại biểu đã thảoluận và đi đến thống nhất việc sử dụng DSVH để dạy học sẽ mang lại những kết quảtích cực, bởi vậy, chương trình được xây dựng cần có sự linh hoạt và phải phù hợp vớivăn hóa địa phương và dân tộc, phù hợp với mọi điều kiện của nhà trường
Cuốn giáo trình “Phương pháp nghiên cứu và biên soạn lịch sử địa phương”
do Nguyễn Cảnh Minh chủ biên, NXB ĐHSP HN, 2008 Các tác giả đã nhấn mạnh:
việc sử dụng tài liệu văn hóa truyền thống địa phương, tạo nên một trạng thái tâm lý đặc biệt, giúp HS hiểu một cách sinh động quá khứ lịch sử qua những tài liệu, hiện vật thu được Góp phần không nhỏ vào việc hiểu biết đầy đủ, toàn diện, sâu sắc hơn LSDT Ngoài ra, các tác giả còn chỉ ra nhiều hoạt động dạy nội khóa cũng như ngoại
khóa những nội dung văn hóa - lịch sử địa phương sao cho đạt hiệu quả cao
Bộ tài liệu “Giáo dục bảo tồn di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long” của Sở
Giáo dục - Đào tạo Quảng Ninh, Ban quản lý vịnh Hạ Long và Tổ chức Bảo tồn độngthực vật quốc tế (FFI), NXB Văn hóa Dân tộc, Hạ Long - 2002 (tái bản lần thứ nhất -
2003, tại Nhà in Tạp chí Cộng sản) dành cho cả 3 cấp học: Tiểu học (5 cuốn), Trunghọc Cơ sở (1 cuốn), Trung học Phổ thông (1 cuốn) dành cho giáo viên Di sản được sửdụng trong dạy học, giáo dục đều góp phần nâng cao tính trực quan, giúp người học
mở rộng khả năng tiếp cận với đối tượng, hiện tượng liên quan đến bài học tồn tạitrong di sản Bên cạnh đó, di sản cũng là phương tiện quan trọng giúp học sinh rèn một
số kĩ năng học tập như: Kĩ năng quan sát, thu thập, xử lý thông tin qua đó tự chiếmlĩnh kiến thức cần thiết thu được trong quá trình tiếp cận với di sản; Kĩ năng vận dụngkiến thức liên môn đã học để giải thích những hiện tượng, sự vật có trong các di
Trang 16sản Tuy nhiên, việc khai thác và sử dụng tài liệu về di sản để tiến hành giảng dạy cũngcần sự nhuần nhuyễn Cụ thể, giáo viên phải tiến hành chọn lọc kỹ và xác minh tínhchân thực của các tài liệu về di sản Đặc biệt, phải biết chọn lọc những tài liệu điểnhình nhất, sắp xếp các tài liệu đó thành hệ thống phù hợp với tiến trình bài học kết hợpvới các phương tiện trực quan, kỹ thuật hiện đại phải bảo đảm yêu cầu như lập kếhoạch cụ thể về công tác chuẩn bị và tiến hành bài học, đi khảo sát thực địa, liên hệ vớicác cơ quan quản lý di sản Việc khai thác di sản trên địa bàn tỉnh nhà, nhà trườngđóng vai trò như là nguồn tri thức, là phương tiện dạy học, giáo dục đáp ứng nhu cầunâng cao hiểu biết về di sản cho học sinh
Di sản cần phải sống đúng nghĩa trong cộng đồng dân cư tại chỗ là một yếu tốthiết thực nhất, có ý nghĩa đối với sự phát triển bền vững Bảo tồn và phát huy có tácđộng qua lại với nhau Thiên nhiên được ổn định sẽ đảm bảo cho an toàn của di sảnvịnh Hạ Long Ngày nay, việc bảo tồn, tôn tạo, quản lí, khai thác, sử dụng, phát huygiá trị di sản là trách nhiệm của toàn xã hội Cần đẩy mạnh xã hội hóa, công tác quản
lý, khai thác hay tôn vinh di sản vịnh Hạ Long để khuyến khích các thành phần kinh tếtham gia nhằm tạo ra nguồn lực tài chính phong phú và đa dạng hóa các loại hình dịch
vụ để bảo tồn và khai thác có hiệu quả bền vững
Trong cuốn “Khu di tích Lịch sử Bạch Đằng” của Ban quản lí các di tích trọng
điểm Quảng Ninh, NXB khoa học xã hội, năm 2011: đã nói lên khu di tích lịch sử chiếnthắng Bạch Đằng có mối quan hệ mật thiết với khu di tích Yên Tử (Uông Bí) - ĐôngTriều - Vân Đồn Bạch Đằng là nơi ba lần ghi dấu chiến công của quân và dân Đại Việt,trận chiến năm 938 của Ngô Quyền, năm 981 của Lê Hoàn, đặc biệt là chiến thắng năm
1288 của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Đông Triều - Yên
Tử là kinh đô Phật giáo, là trung tâm Văn hoá tiêu biểu của nước Đại Việt thời Trần Khu
di tích thương cảng Vân Đồn là trung tâm giao lưu Kinh tế, Văn hoá quốc tế, nơi chiếnlược có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ an ninh vùng Đông Bắc
Trong cuốn “Di tích Lịch sử - văn hóa nhà Trần tại Đông Triều” của Ban quản
lí các di tích trọng điểm Quảng Ninh – NXB khoa học xã hội, năm 2010: Đông Triều
là vùng đất có nhiều Di tích lịch sử, văn hóa của các thời kỳ lịch sử Nổi bật nhất là hệthống các Di tích lăng mộ, đền, miếu, chùa, tháp thời Trần với kiến trúc độc đáo, bêntrong ẩn chứa một kho tàng tư liệu Hán Nôm quý báu gồm hoành phi, văn bia, câu đối,đại tự, sắc phong trong đó có nhiều di tích đã được xếp hạng là di tích lịch sử - vănhóa cấp quốc gia Đặc biệt là khu di tích Đền thờ và Lăng miếu các vua Trần đã được
Trang 17Bộ Văn hóa xếp hạng đặc cách là Di tích cấp quốc gia năm 1962 Với nhà Trần, Đông
Triều không chỉ là quê gốc mà còn là một trung tâm văn hóa - tâm linh tiêu biểu và
đặc sắc Do vậy nhà Trần đã chọn vùng đất này để xây dựng lăng mộ cho 11 vị Tiên
đế cùng với nhiều công trình tôn giáo linh thiêng khác
Trong cuốn “Di tích Lịch sử - văn hóa và danh thắng Yên Tử” của Ban quản lí
các di tích trọng điểm Quảng Ninh - NXB khoa học xã hội, năm 2011: Một trongnhững dấu ấn văn hoá đặc sắc mà các triều đại phong kiến Việt Nam đã để lại cho dântộc ta là di sản Thiền học của Phật giáo thời Trần: Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do vuaTrần Nhân Tông sáng lập - một thiền phái Phật giáo mang đậm bản sắc văn hoá củadân tộc Việt Nam
Đây là những minh chứng lịch sử còn lại của cả thời đại Lý - Trần, thời đại vẻvang nhất, hưng thịnh nhất của phật giáo trong lịch sử phong kiến Việt Nam Vớinhững giá trị đặc biệt đó, tất cả những công trình kiến trúc và cảnh quan quanh đỉnhnúi Yên Tử đã tạo thành khu di tích lịch sử - danh thắng Yên Tử
Nói tóm lại, các công trình trong và ngoài nước đã đề cập đến việc nghiên cứucác di tích văn hóa nói chung và di sản văn hóa nói riêng qua nhiều cách tiếp cận Tuynhiên, bàn về các điều kiện giáo dục, dạy học, nhìn chung các tài liệu về lý luận dạyhọc, giáo dục chung, đại cương và tài liệu về lý luận dạy học bộ môn hầu như mới chỉ
đề cập đến một bộ phận của di sản văn hóa là di tích lịch sử - văn hóa Các tác giả chưatập trung vào nghiên cứu chuyên đề riêng cho các di tích quốc gia đặc biệt Các di tíchquốc gia đặc biệt không chỉ có di sản văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa mà còn có danhlam thắng cảnh, di vật, cổ vật bảo vật quốc gia Hơn nữa, các tài liệu chưa đề cập đếnđiều kiện, phương tiện dạy học là các di tích Di sản văn hóa chưa được coi là nguồnkiến thức quan trọng và bổ ích trong quá trình học tập của HS Di sản văn hóa với vaitrò là nguồn kiến thức giáo dục nhằm hình thành kĩ năng sống cho HS vẫn chưa đượcquan tâm Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của các nhà nghiên cứu chúng tôi tiếp
tục hoàn thiện nội dung nghiên cứu của luận văn “ sử dụng các di tích quốc gia đặc biệt trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh”.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 18- Sử dụng các di tích quốc gia đặc biệt trong dạy học lịch sử địa phương nhằmtạo ra hứng thú học tập của học sinh, phát triển tư duy độc lập sáng tạo, giáo dục tưtưởng, đạo đức cho học sinh.
- Góp phần cung cấp cho giáo viên và học sinh cách hiểu đầy đủ hơn về các ditích quốc gia đặc biệt và giá trị của nó Từ đó có cách tiếp cận khai thác các di tíchquốc gia đặc biệt trong dạy và học nhằm tạo cho học sinh ý thức gìn giữ, bảo vệ các ditích quốc gia đặc biệt, góp phần xây dựng quê hương
3.2 Nhiệm vụ
Luận văn có nhiệm vụ để thực hiện mục đích trên, đề tài cần thực hiện các nộidung cụ thể về việc sử dụng các di sản văn hóa nói chung, di tích quốc gia đặc biệt nóiriêng trong dạy học lịch sử địa phương
Tìm hiểu chương trình nội dung lịch sử địa phương và nội dung các di tích quốcgia đặc biệt ở Quảng Ninh từ đó đề xuất hình thức, biện pháp sử dụng các di tích quốcgia đặc biệt trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh Nhằmgóp phần từng bước nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn trên địa bàn tỉnh
Thực nghiệm sư phạm một số bài trong chương trình (nội, ngoại khóa) để làm
cơ sở cho việc rút ra các kết luận khoa học về việc sử dụng các di tích quốc gia đặcbiệt trong dạy học lịch sử địa phương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là lí luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tưtưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác giáo dục
Trang 19nói chung, giáo dục lịch sử ở nhà trường THPT nói riêng.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu các tài liệu tâm lí học, giáo dục học, các tài liệu giáo dục lịch sử,tài liệu lịch sử văn hóa, khảo cổ học có liên quan đến đề tài; Điều tra cơ bản bằngphiếu đối với giáo viên lịch sử và học sinh một số trường THPT trên địa bàn tỉnhQuảng Ninh về việc sử dụng các di tích quốc gia đặc biệt trong dạy học lịch sử địaphương; Nghiên cứu phân phối chương trình lịch sử địa phương ở cấp THPT để lựachọn các di tích quốc gia đặc biệt sử dụng trong quá trình tổ chức dạy học; Khai thácnội dung lịch sử của các di tích quốc gia đặc biệt và đề xuất hình thức biện pháp sửdụng trong dạy học lịch sử địa phương; Tiến hành thực nghiệm sư phạm một số bàihọc lịch sử địa phương nội khóa ở trên lớp và hoạt động ngoại khóa để rút ra nhữngkết luận về việc sử dụng các di tích quốc gia đặc biệt trong quá trình dạy học cũng như
tổ chức cho học sinh học tập với các di tích quốc gia đặc biệt trong dạy học lịch sử địaphương ở trường THPT trong tình hình hiện nay
6 Giả thuyết khoa học
Nếu giáo viên khai thác những giá trị của các di tích quốc gia đặc biệt để tích hợp,liên hệ trong dạy học lịch sử địa phương sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộmôn, góp phần bồi dưỡng lòng yêu quê hương đất nước, hình thành nhân cách cho họcsinh Qua đó các em mới phát huy ý thức gìn giữ, bảo vệ các di tích quốc gia đặc biệt từ
đó tạo cảm nhận đam mê yêu thích lịch sử, nâng cao nhận thức là bước giáo dục tư tưởngtình cảm, giáo dục truyền thống văn hóa lịch sử cho học sinh rất hiệu quả
Nêu giáo viên tổ chức cho các các em học sinh tham quan học tập trãi nghiệmtại các di tích quốc gia đặc biệt ở địa phương sẽ góp phần giáo dục truyền thống vănhóa cho học sinh trong dạy học lịch sử địa phương nói riêng và giáo dục truyền thốngvăn hóa lịch sử cho học sinh nói chung sẽ tạo sự chuyển biến trong nhận thức từ đócác em có cách nhìn cách nghĩ và dẫn đến hành động có tác động tích cực, góp phầncho sự phát triển của quê hương đất nước
7 Đóng góp của luận văn
Góp phần khẳng định vị trí ý nghĩa, tầm quan trọng của việc sử dụng các di tíchquốc gia đặc biệt trong dạy học nói chung, trong dạy học bộ môn lịch sử ở trườngTHPT nói riêng
Phác họa bức tranh thực tiển về sử dụng các di tích lịch sử văn hóa nói chung
Trang 20và di tích quốc gia đặc biệt nói riêng trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THPTtỉnh Quảng Ninh Xác định nội dung lịch sử thể hiện qua việc sử dụng các di tích quốcgia đặc biệt trong dạy học Qua đó đề xuất hình thức, biện pháp sử dụng các di tíchquốc gia đặc biệt trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh.
Trên cơ sở của việc khảo sát thực trạng về việc sử dụng các di tích quốc gia đặcbiệt trong quá trình dạy học, có những đề xuất trao đổi cùng các đồng nghiệp trong việc tổchức dạy học nói chung, tổ chức sử dụng các di tích quốc gia đặc biệt nói riêng, góp phần
đổi mới phương pháp dạy học theo hướng “phát huy tính tích cực”, “phát triển năng
lực” của học sinh từ đó mà từng bước nâng cao hiệu quả quá trình dạy học.
Đề tài cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản giá trị của các di tích quốcgia đặc biệt cũng như kiến thức về địa phương nơi mình đang sinh sống học tập Từ
đó giáo dục , bồi dưỡng cho các em tình yêu, niềm tự hào về quê hương, ý thức xâydựng bảo vệ quê hương đất nước
8 Ý nghĩa của luận văn
Về mặt lí luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú líluận và phương pháp dạy học bộ môn về việc sử dụng sử dụng các di tích quốc gia đặcbiệt để giáo dục truyền thống văn hóa cho học sinh trong dạy học lịch sử địa phương ởtrường THPT tỉnh Quảng Ninh
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp bản thân và đồng nghiệpvận dụng một cách linh hoạt và có hiệu quả việc tổ chức sử dụng đồ dùng trực quan nóichung, các di tích quốc gia đặc biệt nói riêng trong quá trình dạy học Đặc biệt trongdạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh Việc thực hiện nội dung dạy họctrãi nghiệm qua các di tích quốc gia đặc biệt nhằm từng bước nâng cao hiệu quả dạy họclịch sử, góp phần bồi dưỡng niềm tin, tình yêu quê hương đất nước cho học sinh
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương:
Trang 211.1.1 Các khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài
-Di sản: Theo nghĩa ban đầu di là để lại; sản là tài sản Vậy nên, di sản là những
tài sản của con người trong quá khứ để lại cho hậu thế Những tài sản đó gắn với đờisống của con người đương thời Thông qua đó, nó phản ánh những hoạt động, đời sốngkinh tế, xã hội, văn hóa của con người qua các thời kì lịch sử
-Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa
học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác (Di sản văn hóa phi vật thể là sản
phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liênquan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, khôngngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền
miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác Di sản văn hóa vật thể là sản
phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa,danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia)
- Di sản văn hoá vật thể là một bộ phận của văn hoá nhân loại, thể hiện dưới hình thức
vật chất; là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiênthành những đồ vật có giá trị sử dụng và thẩm mĩ nhằm phục vụ cuộc sống con người
Di sản văn hóa vật thể bao gồm: Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng,
địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trịlịch sử, văn hóa, khoa học; Danh lam thắng cảnh còn gọi là di sản thiên nhiên là cảnhquan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với côngtrình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học; Di vật là hiện vật được lưu truyềnlại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trịtiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên; Bảo vật quốcgia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước
về lịch sử, văn hóa, khoa học
- Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện,
biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và cáckhông gian văn hóa có liên quan mà cộng đồng, các nhóm và trong một số trường hợp là
Trang 22các cá nhân, công nhận là một phần DSVH của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sangthế hệ khác, DSVH phi vật thể được cộng đồng và các nhóm không ngừng tái tạo đểthích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sửcủa họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích
lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người”
Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt
Nam; Ngữ văn dân gian, bao gồm: Sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu đố,truyện cổ tích, truyện trạng, truyện cười, truyện ngụ ngôn, hát ru và các biểu đạt khácđược chuyển tải bằng lời nói hoặc ghi chép bằng chữ viết; Nghệ thuật trình diễn dângian, bao gồm: Âm nhạc, múa, hát, sân khấu và các hình thức trình diễn dân gian khác;Tập quán xã hội, bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và cácphong tục khác; Lễ hội truyền thống; Nghề thủ công truyền thống; Tri thức dân gian
- Di tích lịch sử là những dấu vết còn lại của con người trong tiến trình lịch sử.
Lịch sử là bản thân hiện thực khách quan, với tất cả những sự kiện, hiện tượng đã xảy
ra trong quá khứ Từ khi con người xuất hiện trên trái đất, trải qua hàng triệu năm đấutranh vì sự sinh tồn và phát triển, con người đã để lại những tài sản quý báu Những tàisản này là những dấu vết, minh chứng cho quá khứ có thật của con người Nó chính làbằng chứng của dĩ vãng, nhằm mục đích bảo tồn quá khứ hoặc chỉ dẫn cho hậu thế vềnhững sự việc xảy ra trong quá khứ
- Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật,
bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: Công trình xây
dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địaphương; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùngdân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển củaquốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; Địa điểm khảo cổ có giá trịtiêu biểu; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đôthị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiếntrúc, nghệ thuật.”
- Di vật là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học
- Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị tiêu biểu về lịch sử văn hóa,
khoa học có từ một trăm năm tuổi trở lên Trong mỗi một di tích lịch sử bao gồm nhiều
cổ vật như đồ thờ tự, hoành phi, câu đối, sắc phong …
Trang 23- Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị đặc biệt quý hiếm
tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học Ví dụ: Tượng Phật bà nghìn taynghìn mắt (Chùa Bút Tháp), Tượng Phật A-di-đà (Chùa Phật Tích)
Bảo vật quốc gia gồm các tiêu chí sau: Là hiện vật gốc độc bản; Là hiện vật có
hình thức độc đáo; Là hiện vật có giá trị đặc biệt liên quan đến một sự kiện trọng đại củađất nước hoặc liên quan đến sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu; hoặc
là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng, nhân văn, giá trị thẩm mỹ tiêu biểucho một khuynh hướng, một phong cách, một thời đại; hoặc là sản phẩm được phátminh, sáng chế tiêu biểu, có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ởmột giai đoạn lịch sử nhất định; hoặc là mẫu vật tự nhiên chứng minh cho các giai đoạnhình thành và phát triển của lịch sử trái đất, lịch sử tự nhiên
-Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa
cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học
Di tích quốc gia đặc biệt bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh -Lịch sử địa phương: Theo PGS – TS Nguyễn Cảnh Minh và Đỗ Hồng Thái:
Muốn hiểu đúng khái niệm “Lịch sử địa phương” trước hết ta cần hiểu thuật ngữ “địa
phương” trong Tiếng Việt “Địa phương là những vùng, khu vực trong quan hệ với những vùng và khu vực khác trong nước” Như vậy địa phương là những vùng đất
nhất định nằm trong quốc gia có những sắc thái đặc thù riêng để phân biệt với nhữngvùng đất khác, là bộ phận cấu thành của đất nước địa phương hiểu theo nghĩa cụ thể,
là những đơn vị chính của một quốc gia, đó là những tỉnh, thành phố, huyện, xã, thôn,bản, làng, buôn, ấp v.v Với nghĩa khái quát, trừu tượng, địa phương được hiểu lànhững vùng đất, khu vực nhất định được hình thành trong lịch sử, có ranh giới tựnhiên (không giống địa giới hành chính) để phân biệt với các vùng đất khác Nhưngcũng có ý kiến quan niệm theo cách đơn giản là: tất cả những gì không phải của
“Trung ương” hay “Quốc gia” đều được coi là địa phương Như vậy thủ đô của một
quốc gia hay từng khu vực của thủ đô được xem là địa phương Từ nhận thức như vậy,
ta có thể hiểu được lịch sử địa phương cũng chính là lịch sử của các làng, xã, huyện,tỉnh hay khu vực, vùng, miền
Lịch sử địa phương còn bao hàm ý nghĩa lịch sử của các đơn vị sản xuất chiến
đấu, các trường học, cơ quan, xí nghiệp Xét về yếu tố địa lý, các đơn vị đó đều gắnvới một địa phương nhất định, song nội dung của nó mang tính kỹ thuật, chuyên môn,
do vậy có thể xếp nó vào dạng lịch sử chuyên ngành Như vậy, bản thân lịch sử địa
Trang 24phương rất đa dạng, phong phú cả về nội dung và thể loại Giữa lịch sử địa phương vàlịch sử dân tộc có mối quan hệ đặc biệt Đây là mối quan hệ biện chứng không thể tách
rời, nằm trong cặp phạm trù “Cái chung và cái riêng” Tri thức lịch sử địa phương là
biểu hiện cụ thể, sinh động, đa dạng của tri thức lịch sử dân tộc Lịch sử địa phương là
bộ phận cấu thành lịch sử dân tộc Nói vậy không có nghĩa một công trình nghiên cứulịch sử dân tộc là kết quả của phép tính cộng các cuốn lịch sử địa phương Lịch sử dântộc được hình thành trên nền tảng khối lượng tri thức lịch sử địa phương đã được kháiquát và tổng hợp ở mức độ cao
Trong nghiên cứu lịch sử, chúng ta thấy rằng, bất cứ một sự kiện, hiện tượng nàoxảy ra đều mang tính chất địa phương, bởi nó gần với một vị trí không gian cụ thể ởmột hoặc một số địa phương nhất định Tuy nhiên những sự kiện, hiện tượng đó cótính chất, quy mô, mức độ ảnh hưởng khác nhau Có những sự kiện, hiện tượng chỉ cótác dụng, ảnh hưởng ở một phạm vi nhỏ hẹp của địa phương, nhưng có những sự kiện,hiện tượng xảy ra có mức độ ảnh hưởng vượt khỏi không gian địa phương, mang ýnghĩa rộng đối với quốc gia, thậm chí đối với cả thế giới Chính vì vậy, có những sựkiện lịch sử địa phương gắn liền với lịch sử dân tộc hoặc rộng hơn là lịch sử thế giới.Không chỉ riêng các nhà sử học chuyên nghiên cứu sâu về lịch sử, mỗi con người (ởmức độ khác nhau) đều có nhu cầu tìm hiểu về cuộc sống và những hoạt động củachính mình ở những khoảng thời gian và những vị trí không gian khác nhau Tri thứclịch sử sẽ làm giàu thêm tri thức của cuộc sống con người Chính vì lẽ đó, sự am tường
về lịch sử dân tộc còn bao hàm cả sự hiểu biết cần thiết về lịch sử địa phương, hiểubiết về lịch sử của chính miền quê, xứ sở, nơi chôn nhau cắt rốn của mình, hiểu rõ mốiquan hệ của lịch sử ở địa phương với lịch sử của dân tộc và rộng lớn là lịch sử thế giới
1.1.2 Các loại di tích, đặc điểm
1.1.2.1 Di tích cấp tỉnh
Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương, bao gồm:
Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của địaphương hoặc gắn với nhân vật có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của địa phươngtrong các thời kỳ lịch sử;
Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị vàđịa điểm cư trú có giá trị trong phạm vi địa phương;
Địa điểm khảo cổ có giá trị trong phạm vi địa phương;
Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiênvới công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị trong phạm vi địa phương
1.1.2.2.Di tích quốc gia
Trang 25Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, bao gồm:
Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộchoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật,khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc;
Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địađiểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam;Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ;Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiênnhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học
về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù
1.1.2.3 Di tích quốc gia đặc biệt
Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia, bao gồm:Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu bước chuyển biến đặcbiệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu
có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc;
Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị vàđịa điểm cư trú có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệthuật Việt Nam;
Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóakhảo cổ quan trọng của Việt Nam và thế giới;
Cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quanthiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt của quốc gia hoặckhu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học và hệ sinhthái đặc thù nổi tiếng của Việt Nam và thế giới.”
Tiêu chí xác định di tích lịch sử - văn hóa: Trong quá trình tồn tại của đời
sống con người đã sáng tạo ra những sản phẩm văn hóa đặc trưng cho thời đại mìnhhoặc người đời sau tạo nên nhằm tưởng niệm những gì đã qua Những sản phẩm cònlưu lại đến ngày nay gọi là di tích lịch sử - văn hóa "Di tích lịch sử - văn hóa là một disản văn hóa nói lên trình độ văn minh của các nền văn minh nhân loại" Trải qua quátrình lao động và sáng tạo con người đã xây dựng rất nhiều công trình Vậy nhữngcông trình nào được coi là di tích lịch sử - văn hóa?
Vậy, tiêu chí xác định di tích lịch sử - văn hóa như sau: Công trình xây
dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ
Trang 26nước; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của anh hùngdân tộc, danh nhân đất nước; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện tiêu biểuqua các thời kì cách mạng, kháng chiến; Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; Quầnthể công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúcnghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử.
Theo tiêu chí trên, di tích lịch sử - văn hóa được chia thành những loại hình cơbản sau:
Di tích lịch sử là nó phải có từ trước và được lưu giữ đến ngày nay Bao giờ nó
cũng gắn liền, phản ánh ghi nhận, minh chứng một sự kiện, nhân vật lịch sử, đặc biệt
là những sự kiện lịch sử lớn và quan trọng
Di tích lịch sử là những di sản quý báu của các dân tộc trên thế giới, là sự
những minh chứng hùng hồn về sự tồn tại của quá khứ
Di tích lịch sử là những dấu vết còn lại của quá khứ còn để lại một cách tự
nhiên, không chỉ nhằm mục đích lưu giữ quá khứ hay chỉ dẫn cho con người về quákhứ hay chỉ dẫn cho con người đời sau về quá khứ
Di tích lịch sử là những tấm gương soi của lịch sử, là hơi thở của lịch sử đương thời.
Di tích lịch sử được con người sáng tạo ra phản ánh những hoạt động, đời sống
kinh tế, xã hội, văn hóa của con người qua từng thời đại Trong các cuộc đấu tranhchống xâm lược để tưởng nhớ những vị anh hùng dân tộc nhân dân ta cũng lập các đềnthờ như đền An Sinh (tại xã An Sinh, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh): là nơi thờtám vị vua Trần…
Ngoài những công trình đơn lẻ các di tích lịch sử còn có những di tích lớn là
cụm di tích Cụm di tích là một nhóm di tích lịch sử và kiến trúc thuộc một hoặc nhiều
loại công trình, hình thành cùng một thời hay qua quá trình tồn tại, được liên kết vớinhau thành hệ thống về nội dung và giá trị không thể tách rời
1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng các di tích quốc gia đặc biệt trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh
1.1.3.1 Vai trò
Các di tích quốc gia đặc biệt ở Quảng Ninh bao gồm cả di tích lịch sử, di sảnvăn hóa và danh lam thắng cảnh có giá trị đặc biệt Các di tích quốc gia đặc biệt có giátrị đặc biệt và được coi là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa khoahọc, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Các di tích quốc gia đặc biệt đều
có thể sử dụng trong quá trình giáo dục, dạy học dưới hình thức tạo môi trường, tạo
Trang 27công cụ, hoặc là nguồn cung cấp chất liệu để xây dựng nội dung dạy học giáo dục lịch
sử nói chung và giáo dục truyền thống văn hóa đạo đức học sinh trong tỉnh QuảngNinh nói riêng
Bàn về các điều kiện giáo dục, dạy học, nhìn chung các tài liệu về lí luận dạyhọc, giáo dục chung, đại cương và tài liệu về lí luận dạy học bộ môn hầu như chưa đềcập đến điều kiện, phương tiện dạy học là các di tích quốc gia đặc biệt Trong nhữngnăm gần đây Bộ GD&ĐT phát động phong trào trường học thân thiện, học sinh tíchcực Đây là một trong những hoạt động được đặt ra là tổ chức cho học sinh tham giachăm sóc các di tích lịch sử, các di sản (chủ yếu là di tích mang tính lịch sử địaphương) Việc khai thác các di tích quốc gia đặc biệt ở địa bàn gần nhà trường đóngvai trò như là nguồn tri thức, là phương tiện dạy học, giáo dục rất ít được quan tâm,hoặc nếu có thường mang tính tự phát Vì thế vai trò thế mạnh của các di tích quốc giađặc biệt đa dạng, muôn hình, muôn vẻ ở địa phương chưa được nhiều giáo viên biếtđến và vận dụng vào dạy học để giáo dục tình cảm tình yêu quê hương, giáo dụctruyền thống văn hóa, giáo dục đạo đức học sinh
Sử dụng các di tích quốc gia đặc biệt trong dạy học giúp cho quá trình học tậpcủa học sinh trở nên hấp dẫn hơn, học sinh hứng thú học tập và hiểu bài sâu sắc hơn,phát triển tư duy độc lập sáng tạo, giáo dục tư tưởng đạo đức cho học sinh
Di tích quốc gia đặc biệt được xem như nguồn kiến thức, một phương tiện trựcquan quý giá trong dạy học nói chung và trong giáo dục lịch sử nói riêng Di tích lịch
sử - văn hóa hay danh lam thắng cảnh đều có thể sử dụng trong quá trình giáo dục, dạyhọc dưới hình thức tạo môi trường; tạo công cụ hoặc là nguồn cung cấp chất liệu đểxây dựng nội dung dạy học, giáo dục
Trước những yêu cầu thực hiện đổi mới phương pháp dạy học lịch sử hiện nay,việc sử dụng các di tích quốc gia đặc biệt ở địa phương để liên hệ trong dạy học lịch sửdân tộc ở trường THPT nói chung và để sử dụng trong dạy học lịch sử địa phương nóirêng là một biện pháp tích cực Dưới dạng công cụ, thiết bị dạy học, các di tích quốcgia đặc biệt giúp cho quá trình học tập của HS trở nên hấp dẫn hơn, HS hứng thú họctập và hiểu bài sâu sắc hơn, phát triển tư duy độc lập sáng tạo, phát triển năng lực cho
HS góp phần hình thành một số kỹ năng sống cần thiết cho HS Đồng thời, các di tíchquốc gia đặc biệt cũng giáo dục tư tưởng, đạo đức cho HS
1.1.3.2 Ý nghĩa
Trang 28Dạy và học lịch sử địa phương Quảng Ninh có ý nghĩa quan trọng trong việc gópphần thực hiện mục tiêu giáo dục ở trường phổ thông trong tỉnh Thông qua việc họclịch sử địa phương, hoạt động của nhà trường có điều kiện để gắn liền với xã hội, lýluận đi đôi với thực hành.
Việc học lịch sử địa phương tỉnh nhà còn bồi dưỡng cho các em học sinh những
kỹ năng cần thiết trong việc vận dụng tri thức lý thuyết vào thực tiễn đang đòi hỏi ởđịa phương Từ hoạt động thực tiễn đó, các em thấy được sự phát triển đa dạng sinhđộng, phức tạp và thú vị của lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc, thấy được nét độcđáo, đặc thù của lịch sử địa phương tỉnh nhà, song vẫn tuân theo qui luật phát triểnchung của lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại
Hoạt động học tập nghiên cứu lịch sử địa phương tỉnh nhà sẽ như nhịp cầu nốitình cảm của nhà trường với nhân dân địa phương trong tỉnh, cũng là biện pháp để khaithác sức sáng tạo tiềm tàng của nhân dân địa phương Nguồn tài liệu lịch sử địaphương, với những loại hình đa dạng phong phú, sinh động là cơ sở cho việc tạonhững biểu tượng lịch sử và hiểu sâu sắc các khái niệm, các sự kiện, hiện tượng ở bàihọc lịch sử Tri thức lịch sử địa phương tỉnh Quảng Ninh chúng ta sẽ có ý nghĩa giáodục sâu sắc lòng tự hào chân chính về những truyền thống tốt đẹp của địa phương, tìnhyêu quê hương, xứ sở, ý thức bảo vệ giữ gìn các di tích quốc gia đặc biệt
Lịch sử địa phương nếu được chúng ta tổ chức giảng dạy tốt ở các trường phổthông trong tỉnh là một trong những nguồn quan trọng làm phong phú tri thức của họcsinh về quê hương mình, giáo dục cho các em lòng yêu quê hương, hình thành nhữngkhái niệm về nghĩa vụ đối với quê hương, tạo cho học sinh nhận thức được mối liên hệgiữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc
Giảng dạy lịch sử địa phương sẽ góp phần không nhỏ vào việc giáo dục tưtưởng, chính trị, lao động, đạo đức, thẩm mỹ cho học sinh của tỉnh nhà Nó có vị tríquan trọng trong việc hình thành cho thế hệ trẻ tỉnh ta lòng yêu nước xã hội chủ nghĩa.Học sinh tự hào về đất nước, dân tộc, bắt đầu từ lòng tự hào về những chiến công củacha anh mình đã làm nên ở ngay trong làng xóm thân yêu khi xây dựng và đấu tranhchống kẻ thù xâm lược Học sinh cũng tự hào với những thành tựu kinh tế, văn hoá, xãhội của địa phương chúng ta từ trước đến nay, đặc biệt trong thời kỳ xây dựng chủnghĩa xã hội Học sinh không những tự hào về truyền thống anh hùng, bất khuất trongđấu tranh cách mạng mà cũng tự hào về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong xâydựng, sản xuất
Trang 291.1.4 Nội dung các di tích quốc gia đặc biệt ở Quảng Ninh cần khai thác trong dạy học lịch sử địa phương
1.1.4.1 Khu di tích lịch sử Bạch Đằng
Khu di tích lịch sử chiến thắng Bạch Đằng dàn trải bên tả ngạn sông Bạch Đằng
và chi lưu Sông Rút, trên phạm vi tương đối rộng, gồm 11 điểm di tích: Đền TrầnHưng Đạo; Miếu Vua Bà; Bến Đò Rừng; Bãi cọc Yên Giang; Đình Yên Giang thuộc
xã Yên Giang Cây lim Giếng Rừng thuộc thị trấn Quảng Yên Đền Trung Cốc; Bãicọc Đồng Vạn Muối; Bãi cọc Đồng Má Ngựa thuộc xã Nam Hoà Đình Trung Bảnthuộc xã Liên Hoà, huyện Yên Hưng Đình Đền Công thuộc xã Điền Công, thành phốUông Bí, tỉnh Quảng Ninh
Bãi cọc Yên Giang hiện nay nằm trong đầm nước (Đầm Nhử) thuộc xã Yên
Giang, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh Vị trí bãi cọc này trước kia nằm ở cửaSông Chanh, sát liền với sông Bạch Đằng, kết hợp với dải đá ngầm Ghềnh Chanh(phía Nam bãi cọc) tạo thành một phòng tuyến quan trọng, chặn đường rút lui củaquân giặc theo đường Sông Chanh qua cửa Lạch Huyện ra biển Bãi cọc Yên Giangđược nhân dân phát hiện năm 1953 Vụ Bảo tồn Bảo tàng phối hợp với Trường Đạihọc tổng hợp Hà Nội, Viện Khảo cổ học Việt Nam và Sở Văn hoá Thông tin khai quậtvào các năm 1958; 1969; 1976; 1984; 1988 Bãi cọc Yên Giang được Bộ Văn hoá -Thông tin xếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 1988
Bãi cọc Đồng Vạn Muối nằm trong xứ Đồng Vạn Muối, thuộc thôn Đồng Cốc,
xã Nam Hoà, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh Vị trí bãi cọc này trước kia nằm ởcửa Sông Rút, sát liền với sông Bạch Đằng Được khảo sát vào các năm 1958; 1969;1976; 1984; 1988 cùng thời điểm khai quật bãi cọc Yên Giang Tháng 11 năm 2005,Viện Khảo cổ học Việt Nam đã phối hợp với Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Quảng Ninh
tổ chức khai quật Bãi cọc Đồng Vạn Muối được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng ditích lịch sử quốc gia năm 2007
Bãi cọc Đồng Má Ngựa nằm trong xứ Đồng Má Ngựa, thuộc thôn Hưng Học, xã
Nam Hoà, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh Vị trí bãi cọc này trước kia nằm ở cửaSông Kênh, sát liền với sông Rút, được nhân dân phát hiện năm 2009 Năm 2010, ViệnKhảo cổ học Việt Nam đã phối hợp với Ban quản lý các Di tích trọng điểm tỉnh QuảngNinh tổ chức khai quật Bãi cọc Đồng Vạn Muối và bãi cọc Đồng Má Ngựa kết hợp vớidải đá ngầm Ghềnh Cốc (phía Nam bãi cọc) tạo thành một phòng tuyến quan trọng ởđầu Sông Kênh và Sông Rút, chặn đường rút lui của quân giặc theo đường Sông Rút
Trang 30qua cửa Nam Triệu ra biển Bãi cọc Đồng Má Ngựa đang tiếp tục nghiên cứu, lập hồ sơkhoa học trình Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử quốc gia Bãicọc Yên Giang, bãi cọc Đồng Vạn Muối, bãi cọc Đồng Má Ngựa là những trận địa cọc
có vai trò đặc biệt quan trọng làm nên chiến thắng Bạch Đằng vĩ đại năm 1288
Cây lim Giếng Rừng thuộc địa phận phố Ngô Quyền, thị trấn Quảng Yên, huyện
Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh Xưa kia khu vực này là cánh rừng gỗ lim, gỗ táu cổ thụbạt ngàn, gắn liền với những tên địa danh cổ còn lưu lại đến ngày nay như Sông Rừng,Bến Rừng, Đò Rừng, Làng Rừng, Chợ Rừng, Giếng Rừng Để chuẩn bị cho chiếndịch Bạch Đằng năm 1288, Trần Quốc Tuấn đã cho quân vào những cánh rừng vencửa sông Bạch Đằng đốn gỗ, vạt nhọn đầu, cắm xuống lòng sông Bạch Đằng, tạothành những trận địa cọc với hàng ngàn cọc gỗ, chặn đường rút lui của giặc Hơn 700năm qua, những cánh rừng xưa không còn nữa, chỉ còn hai cây lim cổ thụ bên cạnhGiếng Rừng, là dấu ấn minh chứng cho một vùng đất cổ có cánh rừng lim mà TrầnQuốc Tuấn cho quân đốn chặt làm trận địa cọc, góp phần quan trọng làm nên chiếnthắng Bạch Đằng năm 1288 Cây Lim - Giếng Rừng được Bộ Văn hoá – Thông tinxếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 1988
Đền Trần Hưng Đạo thuộc địa phận xã Yên Giang, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng
Ninh Ngôi đền xưa nằm ở xứ Hậu Đồng, ven Làng Rừng, cạnh sông Bạch Đằng.Năm 1934, đời vua Bảo Đại thứ 9 chuyển về vị trí hiện nay, cạnh miếu Vua Bà Trướcđây là doi đất cổ, nằm ở giữa sông Bạch Đằng, nơi trung tâm chiến trận Bạch Đằngnăm 1288 Đền Trần Hưng Đạo là di tích lưu niệm người anh hùng dân tộc Hưng ĐạoĐại Vương Trần Quốc Tuấn, đồng thời là di tích lưu niệm sự kiện lẫy lừng trong lịch
sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta - Đại thắng Bạch Đằng năm 1288 Đền TrầnHưng Đạo được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 1989
Miếu Vua Bà cạnh đền Trần Hưng Đạo, thuộc xã Yên Giang, huyện Yên Hưng,
tỉnh Quảng Ninh Xưa kia trước cửa miếu là bến Đò Rừng cổ Tương truyền, trên bến
đò, dưới tán cây Quếch cổ thụ có một bà bán hàng nước, phục vụ khách qua sông Bà đãmách bảo với Trần Hưng Đạo lịch con nước triều và địa thế lòng sông Bạch Đằng đểTrần Hưng Đạo xây dựng trận địa cọc đánh giặc Nguyên Mông Sau chiến thắng BạchĐằng năm 1288, Trần Hưng Đạo đã tâu với vua Trần sắc phong cho bà là Vua Bà, cholập miếu thờ ngay trên nền quán nước, cạnh cây Quếch ở bến đò xưa, có tên gọi miếuVua Bà Vua Bà là hình tượng tiêu biểu của nhân dân vùng sông nước Bạch Đằng cùngtham gia với vua quân nhà Trần làm nên chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 Là minh
Trang 31chứng cho tư tưởng quân sự của Trần Hưng Đạo về việc lấy dân làm gốc và thế trậnquốc phòng toàn dân trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước Miếu Vua
Bà được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 1989
Bến Đò Rừng ở bên tả ngạn sông Bạch Đằng, thuộc địa phận xã Yên Giang,
huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh Xưa kia bến đò này là địa điểm đưa hách quasông Bạch Đằng (Sông Rừng), nên có tên gọi là bến Đò Rừng Bến Đò Rừng ở phíatrước miếu Vua Bà, cạnh đền Trần Hưng Đạo Tại đây có cây Quếch cổ thụ, nơi bàhàng nước bán hàng xưa giúp Trần Hưng Đạo lịch con nước triều đánh giặc Tươngtruyền, trong chiến trận Bạch Đằng năm 1288, Trần Hưng Đạo đã chọn cây Quếch ởbến Đò Rừng và cây Giêng cổ thụ ở xã Điền Công làm nơi phát hoả hiệu lệnh chiếnđấu, góp phần làm nên chiến thắng Bạch Đằng lịch sử năm 1288 Bến Đò Rừng được
Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 2007
Đền Trung Cốc ở vị trí giữa thôn Đồng Cốc, thuộc xã Nam Hoà, huyện Yên
Hưng, tỉnh Quảng Ninh Cho đến nay nhân dân xã Nam Hoà vẫn lưu truyền câuchuyện: "Năm 1288, khi đi thị sát địa hình, chuẩn bị xây dựng trận địa cọc ở cửa SôngRút và Sông Kênh, thuyền chở Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Vương Trần QuốcTuấn và Điện suý Tướng quân Phạm Ngũ Lão đã bị mắc cạn ở gò đất thôn Đồng Cốc,gần vị trí bãi cọc Đồng Vạn Muối, bãi cọc Đồng Má Ngựa, phải huy động dân binh,thuyền chài tới kéo thuyền ra khỏi chỗ mắc cạn Để ghi nhớ sự kiện này, sau chiếnthắng Bạch Đằng năm 1288, những người dân chài lưới sinh sống ở đây đã lập đềnthờ Trần Hưng Đạo và Phạm Ngũ Lão" Đền Trung Cốc được Bộ Văn hoá - Thông tinxếp hạng là di tích lịch sử quốc gia năm 1996
Đình Trung Bản thuộc thôn Trung Bản, xã Liên Hoà, huyện Yên Hưng, tỉnh
Quảng Ninh Trong chiến trận Bạch Đằng năm 1288, sau khi thuyền giặc Nguyên Mông
bị quân ta chặn đánh tan tác ở sông Bạch Đằng Số địch còn lại chạy lên bờ tìm đườngtrốn thoát, nhưng đã bị bộ binh ta phục sẵn tiêu diệt hết Tương truyền, Trần Hưng Đạo
đã chỉ huy quân sỹ đánh đuổi tàn binh giặc trên các gò đất cao phía dưới trận địa cọcBạch Đằng Trong lúc say sưa đánh giặc, tóc ông bị xổ ra Khi đến gò đất này (làngTrung bản), ông đã dừng lại chống kiếm xuống đất và búi lại tóc Sau chiến thắng, đểtưởng nhớ tới ông, dân vạn chài ở đây đã lập đền thờ ông ngay trên mảnh đất ấy Saunày ngôi đền cũ bị đổ nát, nhân dân Trung Bản đã xây đình trên nền đền cũ để thờ TrầnHưng Đạo và tôn ông làm Thành hoàng làng Đình Trung Bản được Bộ Văn hoá -Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia năm 1991
Đình Đền Công cách sông Bạch Đằng 500 mét, thuộc xã Điền Công, huyện Yên
Trang 32Hưng Năm 2006, do điều chỉnh địa giới hành chính, nay xã Điền Công thuộc thành phốUông Bí, tỉnh Quảng Ninh Theo Ngọc phả hiện lưu giữ tại đình ghi lại: có 5 vị thầnxưng là Ngũ vị Đại tướng quân, đã báo mộng cho Trần Hưng Đạo chọn đượng đất cócây Giêng cổ thụ làm nơi phát hoả hiệu lệnh chiến đấu Sau chiến thắng, Trần HưngĐạo đã sửa lễ vật tế tạ các vị Thần Trước ba quân, ông khấn: "Nhờ Ngũ vị Đại Vương:Cao Sơn đại vương; Quý Minh đại vương; Nam Hải tôn thần; Phi Bồng tướng quân;Bạch Thạch tướng quân âm phù giúp đỡ Hưng Đạo tôi xin tỏ lòng biết ơn bằng haichữ Đền Công" Sau này, để tỏ lòng biết ơn vị tướng tài Trần Hưng Đạo, dân quanhvùng đã dựng ngôi đình ngay trên đượng đất, gần cây Giêng cổ thụ để thờ ông Dựngmiếu thờ Ngũ vị Đại tướng quân, gọi là miếu Cu Linh Năm 1954, do bão lớn làm hỏngmiếu, nhân dân rước đồ thờ 5 vị thần về thờ chung tại đình Đền Công Đình Đền Côngđược Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia năm 2000.
Đình Yên Giang ở vị trí trung tâm của xã Yên Giang, huyện Yên Hưng, tỉnh
Quảng Ninh Xã Yên Giang xưa là Làng Rừng, giáp với sông Bạch Đằng, là mảnh đấtghi nhiều dấu ấn lịch sử, đặc biệt là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 Do vậy dânlàng Yên Giang đã tôn Trần Hưng Đạo làm Thành hoàng làng Nghè Yên Giang ở xứHậu Đồng, ven Làng Rừng, thờ Thành hoàng Trần Hưng Đạo Năm 1934 nghè đượcchuyển về Bến Rừng gần miếu Vua Bà, có tên gọi là đền Trần Hưng Đạo Hàng năm,vào dịp lễ hội, ngày sinh, ngày hoá của Trần Hưng Đạo và ngày lễ kỷ niệm chiếnthắng Bạch Đằng năm 1288 (8 tháng 3 âm lịch), dân làng Yên Giang lại rước Thànhhoàng từ đền Trần Hưng Đạo về đình mở hội Đình Yên Giang được Bộ Văn hoá -Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia năm 1996
Những địa điểm ghi dấu sự kiện chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 đã được các thế
hệ tiền nhân xây dựng tôn tạo Nay trở thành khu di tích lịch sử lớn của đất nước màchúng ta ngày nay và các thế hệ tiếp theo mãi mãi tôn kính và ngưỡng mộ Việc bảo tồn,tôn tạo và phát huy tác dụng khu di tích lịch sử chiến thắng Bạch Đằng, giáo dục truyềnthống giữ nước, ý thức tự cường của dân tộc, được coi là bổn phận của người đương thờiđối với lịch sử và đối với thế hệ mai sau Ban quản lý các Di tích trọng điểm tỉnh QuảngNinh đã lập dự án Quy hoạch tổng thể Khu di tích lịch sử chiến thắng Bạch Đằng, nhằmkhôi phục những di tích lưu niệm quý giá, tôn vinh sự kiện lịch sử vẻ vang của ông cha,góp phần giáo dục hế hệ trẻ về truyền thống đấu tranh và ý thức bảo vệ Tổ quốc
Khu di tích lịch sử chiến thắng Bạch Đằng có mối quan hệ mật thiết với khu di
Trang 33tích Yên Tử (Uông Bí) - Đông Triều - Vân Đồn Bạch Đằng là nơi ba lần ghi dấuchiến công của quân và dân Đại Việt, trận chiến năm 938 của Ngô Quyền, năm 981của Lê Hoàn, đặc biệt là chiến thắng năm 1288 của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo ĐạiVương Trần Quốc Tuấn Đông Triều - Yên Tử là kinh đô Phật giáo, là trung tâm Vănhoá tiêu biểu của nước Đại Việt thời Trần Khu di tích thương cảng Vân Đồn là trungtâm giao lưu Kinh tế, Văn hoá quốc tế, nơi chiến lược có ý nghĩa quan trọng trongviệc bảo vệ an ninh vùng Đông Bắc Thời Trần, thương cảng Vân Đồn phát triển cựcthịnh, ngoài việc giao thương buôn bán, các vua Trần còn cho xây dựng nhiều chùa,tháp với quy mô lớn không kém gì đất liền Tất cả các di tích này đều có mối liên hệmật thiết với nhau, tạo thành một không gian di sản văn hoá tiêu biểu và đặc biệt vềmặt Lịch sử - Văn hoá - Tôn giáo tín ngưỡng - Kinh tế xã hội - An ninh quốc phòngtrên vùng đất Quảng Ninh.
1.1.4.2 Khu di tích lịch sử nhà Trần ở Đông Triều
Đông Triều là vùng đất có nhiều di tích lịch sử, văn hóa của các thời kỳ lịch sử.Nổi bật nhất là hệ thống các di tích lăng mộ, đền, miếu, chùa, tháp thời Trần với kiếntrúc độc đáo, bên trong ẩn chứa một kho tàng tư liệu Hán Nôm quý báu gồm hoành phi,văn bia, câu đối, đại tự, sắc phong trong đó có nhiều di tích đã được xếp hạng là ditích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia Đặc biệt là khu di tích Đền thờ và Lăng miếu cácvua Trần đã được Bộ Văn hóa xếp hạng đặc cách là Di tích cấp quốc gia năm 1962 Với
nhà Trần, Đông Triều không chỉ là quê gốc mà còn là một trung tâm văn hóa - tâm linh
tiêu biểu và đặc sắc Do vậy nhà Trần đã chọn vùng đất này để xây dựng lăng mộ cho
11 vị Tiên đế cùng với nhiều công trình tôn giáo linh thiêng khác
Am - chùa Ngọa Vân nằm trên núi Bảo Đài, thuộc Tây Sơn, xã Bình Khê, gồm
nhiều điểm di tích chảy dài từ Suối Phủ Am Trà (thuộc thôn Trại Lốc xã An Sinh) qua
Đô Kiệu, Thông Đàn (1,2,3), Ngọa Vân (1,2,3,4,5,6), Đá Chồng, Ba Bậc (thuộc thônTây Sơn xã Bình Khê); ở độ cao trung bình 500m so với mực nước biển Am - chùaNgoạ Vân xưa là nơi Đức vua - Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông - Đệ Nhất TổThiền phái Trúc Lâm tu hành và hóa Phật Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm,ông sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258), Người tinh anh thánh nhân, thuầntúy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng Vua nhân từhòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thủa trước, là bậc vua hiềntài bậc nhất của nhà Trần Vua ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm,thọ 51 tuổi, băng ở Am Ngọa Vân, trên núi Bảo Đài (nay thuộc thôn Tây Sơn, xã BìnhKhê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh)
Lăng Tư Phúc nằm trên quả đồi thấp phía sau đền An Sinh Theo chính sử ghi
Trang 34chép thì tháng 6 năm 1381, để tránh nạn quấy phá của quân Chiêm Thành nhà Trần đãcho chuyển thần vị của các vua có lăng mộ ở Thái Bình và Nam Định về An Sinh choxây dựng lăng Tư Phúc để thờ cúng Các vị vua được thờ ở đây gồm: Trần Thái Tông,Trần Thánh Tông, sau phụ thờ thêm Trần Phế Đế Trần Thái Tông là vị vua mở đầu
cơ nghiệp nhà Trần, tên húy là Trần Cảnh Ông sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần(1218) Ông lên ngôi năm 8 tuổi (Ất Dậu - 1225), ở ngôi 33 năm, làm Thái Thượnghoàng 19 năm Vua khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể sángnghiệp truyền dòng, lập dựng kỷ cương Mùa hạ, ngày 01 tháng 4 năm Đinh Sửu(1277), băng tại cung Vạn Thọ, thọ 60 tuổi, táng ở Chiêu Lăng Năm 1381, chuyển vềthờ tại lăng Tư Phúc ở An Sinh
Trần Thánh Tông là vị vua đời thứ hai nhà Trần tên húy là Trần Hoảng Ông sinh
ngày 25 tháng 9 năm Canh Tý (1240) Ông lên ngôi năm 18 tuổi (Kỷ Mùi - 1259), ởngôi 21 năm, làm Thái Thượng hoàng 13 năm Vua trung hiếu, nhân từ, trọng đạo Mùa
hạ, ngày 25 tháng 5 năm Canh Dần (1290), băng tại cung Nhân Thọ, thọ 51 tuổi, táng ở
Dụ Lăng Năm 1381, chuyển về thờ tại lăng Tư Phúc ở An Sinh
Trần Phế Đế, là vị vua đời thứ 10 nhà Trần; tên húy là Trần Hiện Ông sinh
ngày 6 tháng 3 năm Tân Sửu (1361) Ông lên ngôi năm 16 tuổi (Đinh Tỵ - 1377) tựxưng là Giản Hoàng, ở ngôi 12 năm Mùa đông, ngày 06 tháng 12 năm Mậu Thìn(1388) băng, thọ 28 tuổi
Khu di tích Đông Triều có mối quan hệ mật thiết với khu di tích Yên Tử (uôngBí) - Bạch Đằng - Vân Đồn Đây là không gian Di sản văn hóa lớn của thời đại nhà
Trần Đông Triều - Yên Tử là kinh đô Phật giáo, là trung tâm văn hóa rất tiêu biểu
của nước Đại Việt thời Trần Bạch Đằng là nơi ghi dấu bao chiến công của quân và
dân Đại Việt, trận chiến năm 938 của Ngô Quyền, năm 981 của Lê Hoàn Đặc biệt làtriều đại nhà Trần đã ba lần đánh đuổi giặc Nguyên - Mông (năm 1258-1285-1288).Khu di tích thương cảng Vân Đồn là trung tâm giao lưu kinh tế, văn hóa quốc tế, đặcbiệt là nơi chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ an ninh vùng ĐôngBắc Thời Trần thương cảng Vân Đồn phát triển cực thịnh, ngoài việc giao thươngbuôn bán các vua Trần còn cho xây dựng nhiều chùa tháp với quy mô lớn không kém
gì đất liền Tất cả các khu di tích này đều có mối liên hệ mật thiết với nhau tạo thành
một không gian di sản văn hóa tiêu biểu và đặc biệt về mặt lịch sử văn hóa - tôn giáo
tín ngưỡng - kinh tế xã hội - an ninh quốc phòng trên vùng đất Quảng Ninh.
1.1.4.3 Khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử
Trang 35Yên Tử dưới thời Trần là một Trung tâm Phật giáo với các công trình kiến trúc tôngiáo dưới thời Trần được đặc biệt quan tâm và ngừng được mở mang, tu bổ Vua TrầnNhân Tông đã cho xây dựng Yên Tử thành 3 bậc chính: Giải Oan – Vân Yên – Vân Tiêu vàtrên cùng là bia Phật Ba bậc chùa này nằm trên cùng một triền núi, từ thấp đến cao: GiảiOan nằm sát chân núi, Vân Yên lưng chừng và Vân Tiêu trên đỉnh núi.
Chùa Giải Oan (giải kết những oan hồn cung nữ) được xây dựng vào thơi Trần,
ở trên độ cao 50m, nằm khiêm nhường dưới tán rừng rậm rạp, cửa nhìn xuống dòngsuối Giải Oan Tên chùa trùng tên với con suối chảy qua trước cửa chùa Chuyện kểrằng: Khi Trần Nhân Tông xuất gia đến Yên Tử tu hành, các cung phi cũng lặn lội tìmđường đến xin theo ông Trần Nhân Tông đã khuyên họ trở về làm lại cuộc đời Để tỏlòng trung với vua, họ đã trẫm mình dưới suối Một số trong các cung phi đã bị chếtđuối nên Trần Nhân Tông cho dựng chùa thờ cúng để giải oan cho các linh hồn nênchùa có tên là Giải Oan và con suối nơi các cung phi trẫm mình cũng được gọi là suốiGiải Oan Đi lên một đoạn nữa ta bắt gặp một con đường mòn Tương truyền rằng, conđường này do vua Trần Nhân Tông khi đến mở, ven đường là hai hàng Tùng cổ thụ cótuổi thọ 700 năm, dáng đứng uy nghiêm, thân và cành uốn lượn với sự tạo dáng phongphú, bất ngờ, rễ bám chắc vào vách núi, tán lá mềm mại, xanh thẫm tỏa rộng nhưnhững chiếc lọng khổng lồ che rợp con đường lên cửa Phật Cây tùng là tượng trưngcho ý chí của người quân tử luôn đứng đắn, vươn cao không chịu luồn cúi Rễ tùng bòlan trên mặt đường như những con rắn khổng lồ, tạo bậc vững chắc đỡ chân du kháchtrên đường đến cửa Phật
Bên cạnh đó, Yên Tử còn có hệ thống Tháp đa dạng phong phú, như Hòn
Ngọc, xưa kia gọi là Hạ Kiệu (xuống kiệu để đi bộ lên núi) Ở cuối rặng tùng, về phíatrái, có một lối mòn rẽ sang gò đất cao Gò đất tròn đầy như mâm xôi, cao gần 3m, bêntrên có tùng và có tháp Theo truyền thuyết: “Ngày xưa, Đạo sĩ An Kì Sinh về núi háithuốc luyện linh đan, khi ngang qua đây, ông giật mình sửng sốt bởi nhận ra triền núicao trước mặt giống hệt con rồng, có trán, mặt mũi miệng rồng đủ cả Miệng rồng phát
ra thứ ánh sáng kì lạ Bằng con mắt pháp thuật, ông nhận ra đó là viên Ngọc Rồng, dotinh khí trời đất tạo nên Ông biết vậy, lặng lẽ lên đỉnh núi, vài ngày sau, ông xuốngnúi, đến chỗ viên Ngọc Rồng Một cảnh tượng dị thường diễn ra trước mắt: Vạt đấtchuyển rung, một gò đất mới được tạo ra, viên ngọc trong miệng Rồng đã nhả, khíthiêng phun ra, tỏa mù mịt Vì quá kinh hoàng trước cảnh tượng đó, An Kì Sinh vội vãchạy lên núi Chưa kịp lên tới đỉnh, ông đã chết đứng và hóa đá, gò đất mới sinh được
Trang 36gọi là Hòn Ngọc” Ngoài Hòn Ngọc, ở đây còn hơn 10 ngọn tháp cổ, vôi lẻ, gạch rêu.
Đó là mộ của những vị sư đã trụ trì tại đây
Ở độ cao 700m cách chân núi là khu Tháp Tổ, Tháp Tổ còn được gọi là HuệQuang Kim Tháp, cao khoảng 10m vút lên giữa khu đất hình bán nguyệt Khu Tháp Tổbao gồm các ngọn tháp với nhiều quy mô, kiểu dáng và chất liệu khác nhau Tháp Tổ có 6tầng, xây trên nền tháp hình lục lăng Mặt ngoài các phiến đá của nền tháp đều chạm nổihoa văn sóng nước, hình núi – loại hoa văn đặc trưng trong trang trí thời Trần Ở tầng haicủa tháp đặt pho tượng nhà vua – Đức Phật Trần Nhân Tông Đây là một tác phẩm điêukhắc có giá trị được chế tác từ đá trắng Bức tượng cao 0,62m tạo tư thế ngồi xếp bằng
trên ngai bệ, tức là ngồi theo kiểu kiết già liên hoa tọa (cách ngồi hình bông hoa sen) Hai
tay tượng để trên đùi, trong tư thế đang niệm chú Thân tượng khoác áo cà sa, được diễn
tả bằng những đường nét giàu chất tạo hình, với bút pháp mềm mại, lưu loát Tà áo để hởnửa ngực, vai phải tượng được thể hiện một cách khỏe mạnh, rắn chắc, cân đối và rấtthực Phong thái tượng thể hiện sự cương nghị và sức mạnh của tư duy toát lên từ photượng khiến cho mọi người phải kính nể
Chùa Hoa Yên Chùa ở độ cao gần 534m so với mực nước biển, tọa lạc trên triền
núi nhô ra tựa trán rồng Xưa kia, Hoa Yên có tên là Vân Yên – chùa chính, chùa cả,chùa Yên Tử Tương truyền, Vua Lê Thánh Tông lên vãn cảnh chùa thấy cảnh trí nơiđây tuyệt đẹp, trăm hoa đua nở, mây kết thành hoa giăng trước cửa, bèn đổi tên là chùaHoa Yên Chỉ sau khi đức vua Trần viên tịch, sang thời Pháp Loa thì chùa Hoa Yên mớiđược dựng nguy nga và trở thành một Trung tâm Phật giáo của Đại Việt Hằng năm cứvào dịp an cư kết hạ, tăng ni trong cả nước lại về đây, nghe Tổ Trúc Lâm truyền giảng
Họ coi việc được về Đất Tổ là một vinh hạnh lớn Bẩy trăm năm qua, chùa Hoa Yên đãbao lần được các Hoàng đế, Vương hầu, các danh nhân trong cả nước về thăm Họ đãlưu bút, đề thơ, trồng cây lưu niệm trước sân chùa Chùa có kiến trúc theo kiểu chữ
“Đinh”, năm gian tiền đường và hậu cung, được xây vào thời Nguyễn Vào năm MinhMệnh thứ mười bốn, 15 vị tăng ni ở chùa Quỳnh Lâm cùng với 30 tín đồ Phật giáo ở HàNội đã công đức chuông Chùa Hoa Yên
1.1.4.4 Danh lam thắng cảnh Vịnh Hạ Long
Với vẻ đẹp huyền ảo thiên nhiên ban tặng; Vẻ đẹp của vịnh Hạ Long được tạonên từ ba yếu tố: Đá, nước và bầu trời Hệ thống đảo đá ở vịnh Hạ Long muôn hìnhvạn trạng Đường nét, họa tiết, màu sắc của đảo, núi, hòa quyện với trời biển tạo ramột bức tranh thủy mặc khổng lồ
Trang 37Vịnh Hạ Long là một di sản thiên nhiên độc đáo vì nó chứa đựng những dấutích quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển lịch sử trái đất, là cái nôi cư trúcủa người Việt cổ, đồng thời là tác phẩm nghệ thuật tạo hình vĩ đại của thiên nhiên với
sự hiện diện của hàng nghìn đảo đá muôn hình vạn trạng; nhiều hang động kỳ thú quần
tụ thành một thế giới vừa sinh động vừa huyền bí Như: Hang Đầu Gỗ; Hang Sửng Sốt; Hang Trinh Nữ - Hang Trống; Động Thiên Cung; Núi Bài Thơ; Hòn Gà Trọi; Đảo Tuần Châu; Bãi Tắm Bãi Cháy…
Có thể nói, nếu giá trị cảnh quan tự nhiên tuyệt vời mà tạo hóa ban tặng đã tônvinh Vịnh Hạ Long trở thành di sản thiên nhiên thì giá trị địa chất được xem là cấutrúc và chất liệu quan trọng để tạo nên vẻ đẹp của vịnh Hạ Long Môi trường địa chấtcòn là nền tảng phát sinh các giá trị khác của vịnh Hạ Long như đa dạng sinh học, vănhóa, khảo cổ, lịch sử Đa dạng sinh học là một ưu thế, một đặc điểm hấp dẫn của vịnh
Hạ Long Với các giá trị và tiềm năng vốn có, vịnh Hạ Long đã hội tụ những điều kiện
vô cùng thuận lợi để phát triển ngành kinh tế du lịch Hình thức, loại hình du lịch ởvịnh Hạ Long đa dạng
Với những giá trị về cảnh quan tự nhiên, địa chất địa mạo, vịnh Hạ Long đãđược UNESCO hai lần công nhận là di sản thế giới (lần 1 vào ngày 17/12/1994; lần 2vào ngày 02/12/2000) và mới đây lại lọt vào danh sách một trong bảy kỳ quan thiênnhiên mới của thế giới do tổ chức New 7 Wonders trao tặng Để xứng đáng với nhữngdanh hiệu đó, thế hệ trẻ tỉnh Quảng Ninh, là những học sinh, sinh viên của tất cả cáctrường trên địa bàn phải nâng cao nhận thức để bảo tồn và phát huy giá trị di sản - kỳquan thiên nhiên thế giới - vịnh Hạ Long Công việc bảo tồn và phát huy những giá trịđặc biệt của vịnh Hạ Long như thế nào để nơi đây trở thành một điểm du lịch tuyệt vờicủa đất nước và của du khách trên thế giới
1.1.5 Những yêu cầu khi lựa chọn khai thác các di tích quốc gia đặc biệt trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
1.1.5.1 Đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức
Trong cuốn " Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả trong dạy học lịch
sử ở trường phổ thông", GS-TS Nguyễn Thị Côi đã viết: "Nội dung khoa học lịch sử
cũng như các khoa học xã hội khác là những kiến thức phản ánh đúng đắn sự tồn tại
và phát triển của xã hội và con người Nó tạo nên trong ý thức của chúng ta bức tranh chân thực của xã hội loài người, làm nảy sinh trong óc người ta mong muốn được tham gia tích cực vào việc cải tạo xã hội, cải tạo thế giới Nó có khả năng hình thành
Trang 38một thế giới quan khoa học, thế giới quan đó thống nhất với niềm tin và thực tiễn Bởi
vì qua nội dung tri thức đó giúp con người trả lời được một số vấn đề cơ bản thuộc thế giới quan"
Trong nghiên cứu và học tập lịch sử, cũng như các khoa học khác, tính chính xác
là một yêu cầu chung Trong một ý nghĩa nhất định, tính khoa học đồng nghĩa với tínhchính xác, các môn khoa học xã hội và nhân văn, trong đó có lịch sử, đòi hỏi sự chínhxác về tài liệu, sự kiện, quan điểm phương pháp luận Cũng như việc lựa chọn cácphương pháp, phương tiện trong quá trình nghiên cứu, học tập Do đó khi tiến hành tổchức cho học sinh học tập với các di tích quốc gia đặc biệt người giáo viên cần lưu ýmột số điểm sau đây:
Tính khoa học của việc sử dụng các di tích quốc gia đặc biệt tại địa phương
trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT, trước hết thể hiện ở việc giáo viênbiết lựa chọn các di tích quốc gia đặc biệt đã được các cơ quan chuyên môn xác định
và công nhận Mỗi di tích quốc gia đặc biệt thường gắn liền với những nội dung lịch
sử của quê hương, đất nước Đặc biệt là các di tích quốc gia đặc biệt đã được côngnhận, được nhà nước xếp hạng là các di tích quốc gia đặc biệt, đây được gọi là di sản,trong đó có các tư liệu cũng như những nguồn thông tin có giá trị to lớn về những sựkiện trọng đại của quê hương, đất nước Đồng thời thông qua các di tích quốc gia đặcbiệt đã được đánh giá xếp hạng, được giám định, được công nhận, thông qua hồ sơ màcác cơ quan chuyên môn đã lập, chúng ta biết được một cách chính xác và rõ ràng rằngbối cảnh lịch sử về sự ra đời của di tích quốc gia đặc biệt, cũng như nội dung lịch sửtiêu biểu mà di tích quốc gia đặc biệt phản ánh
Việc đảm bảo tính khoa học tin cậy sẽ phục vụ cho việc sử dụng giá trị của các ditích quốc gia đặc biệt theo mục đích sư phạm nhằm đạt được yêu cầu bài học đề ra.Đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học với tính sư phạm trong bài học, đồng thờithực hiện được sự nhất quán trong nội dung của bài học lịch sử
Tính khoa học còn thể hiện ở việc người thầy giáo cần có sự suy nghĩ, xem xét
để lựa chọn cho đúng, cho phù hợp nội dung của từng chương, từng bài trong khóatrình, trên cơ sở đó mà lựa chọn từng nội dung phù hợp và sử dụng các loại di tíchquốc gia đặc biệt để tổ chức việc nghiên cứu, tìm hiểu, học tập của học sinh Cần tránhtình trạng sử dụng một cách lan tràn, không phù hợp, hoặc gò ép Sự phù hợp giữa ditích quốc gia đặc biệt với nội dung phân phối chương trình Ví dụ, bài học được thểhiện ở chỗ các sự kiện, các nhân vật lịch sử, thời đại mà di tích quốc gia đặc biệt phảnánh, trùng lặp với những nội dung của bài học mà sách giáo khoa đã đề cập, tuy nhiên
Trang 39những thông tin mà di tích quốc gia đặc biệt phản ánh nó có sự liên quan một cách mậtthiết với nội dung bài học của học sinh.
Trong quá trình tổ chức cho học sinh học tập với di tích quốc gia đặc biệt, cầnchú ý đảm bảo nguyên tắc vừa sức với học sinh
Tính khoa học của nội dung bài học gắn chặt với tính vừa sức trong lĩnh hội
kiến thức của học sinh Đây là vấn đề hết sức cần thiết trong dạy học bộ môn Thựcchất của việc đảm bảo tính vừa sức là việc người thầy giáo giải quyết mâu thuẫn giữakhối lượng tri thức mà thời đại thông tin mang lại và năng lực trình độ có hạn của họcsinh Đối tượng và mục tiêu của hoạt động sư phạm là học sinh và quá trình nhận thứctri thức của họ Mọi sự đổi mới về nội dung phương pháp đều nhằm đạt mục đích cuốicùng là nâng cao hoạt động nhận thức của học sinh để nâng cao hiệu quả giờ học.Song, xét cho cùng mọi cố gắng của giáo viên sẽ trở thành vô ích, nếu ta làm một việckhông vừa sức với học sinh
Tính vừa sức trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT được thể hiện ở
việc lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học và cách tổ chức quá trình nhận thức củahọc sinh Tính vừa sức trong bài học lịch sử được thể hiện ở các mặt: Khối lượng kiếnthức vừa đủ, tức là giáo viên phải căn cứ vào mục tiêu cấp học, từng lớp, để xác địnhnội dung cơ bản phù hợp với đối tượng học sinh, hết sức tránh sự quá tải đối với việclĩnh hội tri thức của các em
Trong nội dung bài học, không nên đưa những khái niệm, những thuật ngữ khó, têngọi khó phải mất thời gian giải thích, và làm cho việc lĩnh hội của học sinh gặp nhiều khókhăn Đồng thời cũng phải tránh việc bắt học sinh tìm hiểu một cách quá chi tiết về cácnội dung lịch sử mà các nhà khoa học còn đang tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu
1.1.5.2 Đảm bảo tính trực quan
Bên cạnh yêu cầu đảm bảo tính khoa học, việc tổ chức cho học sinh học tập với
di tích quốc gia đặc biệt phải đảm bảo tính trực quan Mặc dù bản thân các di tích quốcgia đặc biệt thường tồn tại dưới dạng hiện vật, do đó khi được tiếp xúc tìm hiểu, họcsinh thường được trực tiếp tiếp xúc (mắt nhìn, tay sờ, tai nghe ) tuy nhiên không phảilúc nào, phương pháp dạy học nào cũng giúp học sinh có được cơ hội này Vì cũng cókhi học sinh chỉ được biết đến thông qua việc mô tả, tường thuật, hay kể chuyện về ditích lịch sử Tuy nhiên đây là việc mà thông qua những hoạt động của người thầy giáo,học sinh hình dung ra, học sinh cũng dựa vào di tích quốc gia đặc biệt để tiếp thu kiếnthức Cách làm này không thể hiện được tính khách quan của giá trị di tích quốc gia
Trang 40đặc biệt, vì nó thường mang ý kiến bình luận chủ quan của người thầy giáo Do đókhông giúp cho học sinh phát triển các năng lực nhận thức bộ môn của mình.
Vì vậy khi tổ chức cho học sinh học tập với di tích quốc gia đặc biệt, điều đặcbiệt quan trọng là phải tổ chức cho các em được tiếp xúc trực tiếp với di tích quốc giađặc biệt, đồng thời thông qua kế hoạch mà người thầy đã xây dựng từ trước, tổ chức,hướng dẫn và giao nhiệm vụ cụ thể để học sinh tự tìm tòi, phát hiện nội dung kiến thứccủa bài học thông qua việc khám phá di tích quốc gia đặc biệt
Khai thác tính trực quan trong dạy học là cơ sở để tạo biểu tượng lịch sử cho họcsinh, do đó, các em được phát huy năng lực nhận thức độc lập sáng tạo trong học tập
bộ môn Nguyên tắc trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạyhọc Phương pháp trực quan không chỉ giúp tạo biểu tượng, cụ thể hóa các sự kiện lịch
sử như đã phân tích, mà còn khắc phục tình trạng "hiện đại hóa" lịch sử của học sinh
trong giai đoạn hiện nay Có thể nói các di tích quốc gia đặc biệt là một loại phươngtiện dạy học đặc biệt, một trong những phương tiện trực quan có ý nghĩa với việc thựchiện mục tiêu giáo dục, giáo dưỡng trong bộ môn lịch sử
Đồ dùng trực quan nói chung, di tích quốc gia đặc biệt nói riêng, có một ý nghĩaquan trọng trong dạy học ở nhà trường, là chỗ dựa để hiểu biết sâu sắc bản chất của sựkiện lịch sử, là phương tiện rất có hiệu lực để hình thành các khái niệm lịch sử quan trọngnhất, giúp cho học sinh nắm vững các quy luật của sự phát triển của xã hội
Phương tiện trực quan có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển về mọi mặt đốivới học sinh, đặc biệt là học sinh THPT Làm việc với phương tiện trực quan, giúp chohọc sinh rèn luyện các kĩ năng quan sát, trí tưởng tượng, mô tả, phân tích, liên hệ traudồi ngôn ngữ Khi làm quen với bất cứ loại phương tiện trực quan nào, học sinh cũngthích nhận xét, phán đoán, hình dung quá khứ lịch sử được phản ánh, được minh họa.Qua đó rèn luyện khả năng làm việc độc lập của học sinh với các tư liệu lịch sử Quátrình tư duy đó, các em phải huy động các thao tác tư duy, so sánh, liên hệ với các trithức lịch sử đã học Các em miêu tả, tường thuật lại các sự kiện bằng chính ngôn ngữcủa mình Qua đó học sinh làm chủ những tri thức đã lĩnh hội
Để phát huy tính tích cực khi sử dụng di tích quốc gia đặc biệt, giáo viên cầnchuẩn bị kế hoạch một cách chu đáo, thông qua những câu hỏi có tính chất bài tậpnhận thức, để học sinh suy nghĩ, tìm tòi, phát hiện vấn đề khi tiếp xúc với các di tíchquốc gia đặc biệt Thông qua đó mà trả lời các câu hỏi về nội dung bài học, học sinh sẽnắm chắc được các sự kiện, có những nhận xét và kết luận đúng Việc đảm bảo tínhtrực quan khi sử dụng di tích quốc gia đặc biệt trong dạy học lịch sử địa phương ởtrường THPT sẽ đáp ứng yêu cầu đặc trưng môn học, làm cho bài học trở nên phong