1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Dạy cách học phần vi sinh vật sinh học 10 THPT cho học sinh miền núi

96 401 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những định hướngđổi mới về phương pháp giáo dục trong THPT bao gồm các phương pháp... Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3.1... Phương pháp nghiên cứu 7.1... Phương pháp th

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

1.2.2 Khái niệm về cách học 16 Trong kỉ nguyên thông tin bùng nổ, kiến thức nhân loại được tăng lên gấp đôicứ sau mỗi mười năm thì dạy gì? Và dạy bao nhiêu kiến thức là đủ? Những kiến thức mà HS tiếp thu trong nhà trường có thể trở nên lỗi thời khi ra trườngtrong khi quá trình toàn cầu hóa với sự biến động ngày càng nhanh và tính cạnh tranh ngày càng gay gắt dẫn đến những yêu cầu ngày càng cao đối với người lao động Trong hoàn cảnh đó con người muốn thành công cũng phải thay đổi theo hướng không ngừng hoàn thiện bản thân mình vì những điều học được ở trường chỉ là những kiến thức cơ bản ít ỏi so với yêu cầu của xã hội Do đó càng lớn thì yêu cầu tự học càng trở nên quan trọng hơn vì nó là yếu tố quyết định sự thành công của con người trong cuộc sống hiện đại khi mà yêu cầu của xã hội không ngừng thay đổi và ngày càng cao thì chỉ bằng con đường tự học, tự hoàn thiện bản thân để không bị tụt hậu Những người thành công trong cuộc sống là những người có phương pháp tự học, tự hoàn thiện bản thân mình tốt Ví dụ như giáo sư Toán học Việt Nam, Nguyễn CảngToàn là một trong những tấm gương tự học thành tài 16 Chính vì vậy mà yêu cầu trong dạy và học hiện nay có những thay đổi căn bản để để đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống hiện đại, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay và với những phương tiện nghe nhìn ngày càng hiện đại thìcon người có thể tự học ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào Như vậy trong dạy học người GV cần tích hợp giữa dạy nội dung với dạy cách học cho HS, hướng dẫn người học cách tiếp cận và sàng lọc thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, nhiều đối tượng khác nhau, với ý thức tư duy phân tích sâu rộng, phê phán và sáng tạo, biết lập kế hoạch tự học, biết vận dụng tri thức để giải quyết tình huống trong bối cảnh thực tiễn, biết tự kiếm tra đánh giá kết quả tự học của mình và tự điều chỉnh Khi mà HS rèn luyện được các kĩ năng đó và sử dụng thành thạo các kĩ năng đó thì có thể gọi là biết cách học và có khả năng học tập suốt đời 16 Dạy cách học là yêu cầu quan trọng nhất trong dạy học và học cách học cũng là yêu cầu quan trọng nhất trong việc học, quá trình dạy học không chỉ dừng ởviệc truyền thụ một kiến thức nào đó mà quan trọng hơn là khuyến khích hướng dẫn người học tích cực chủ động tự tìm kiếm, tự khám phá và chiếm lĩnh tri thức và vận dụng tri thức đó trong cuộc sống đó là cách tạo động lực, sự hứng thú mạnh mẽ trong học tập và hình thành ở người học tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tự trách nhiệm và bản lĩnh trong cuộc sống Với hệ thống

Trang 2

gì để đạt được mục tiêu đó?” (nội dung học) và “How - Học như thế nào?” (phương pháp học) 17 Khi người học biết cách tổ chức, thu thập, xử lí thông tin và tự kiểm tra, tự điều chỉnh khi làm việc với các nguồn tri thức khác nhau nghĩa là đã nắm được phương pháp học để học trên lớp và tự học 18TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

Trang

1.2.2 Khái niệm về cách học 16 Trong kỉ nguyên thông tin bùng nổ, kiến thức nhân loại được tăng lên gấp đôicứ sau mỗi mười năm thì dạy gì? Và dạy bao nhiêu kiến thức là đủ? Những kiến thức mà HS tiếp thu trong nhà trường có thể trở nên lỗi thời khi ra trườngtrong khi quá trình toàn cầu hóa với sự biến động ngày càng nhanh và tính cạnh tranh ngày càng gay gắt dẫn đến những yêu cầu ngày càng cao đối với người lao động Trong hoàn cảnh đó con người muốn thành công cũng phải thay đổi theo hướng không ngừng hoàn thiện bản thân mình vì những điều học được ở trường chỉ là những kiến thức cơ bản ít ỏi so với yêu cầu của xã hội Do đó càng lớn thì yêu cầu tự học càng trở nên quan trọng hơn vì nó là yếu tố quyết định sự thành công của con người trong cuộc sống hiện đại khi mà yêu cầu của xã hội không ngừng thay đổi và ngày càng cao thì chỉ bằng con đường tự học, tự hoàn thiện bản thân để không bị tụt hậu Những người thành công trong cuộc sống là những người có phương pháp tự học, tự hoàn thiện bản thân mình tốt Ví dụ như giáo sư Toán học Việt Nam, Nguyễn CảngToàn là một trong những tấm gương tự học thành tài 16 Chính vì vậy mà yêu cầu trong dạy và học hiện nay có những thay đổi căn bản để để đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống hiện đại, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay và với những phương tiện nghe nhìn ngày càng hiện đại thìcon người có thể tự học ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào Như vậy trong dạy học người GV cần tích hợp giữa dạy nội dung với dạy cách học cho HS, hướng dẫn người học cách tiếp cận và sàng lọc thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, nhiều đối tượng khác nhau, với ý thức tư duy phân tích sâu rộng, phê phán và sáng tạo, biết lập kế hoạch tự học, biết vận dụng tri thức để giải quyết tình huống trong bối cảnh thực tiễn, biết tự kiếm tra đánh giá kết quả tự học của mình và tự điều chỉnh Khi mà HS rèn luyện được các kĩ năng đó và sử dụng thành thạo các kĩ năng đó thì có thể gọi là biết cách học và có khả năng học tập suốt đời 16 Dạy cách học là yêu cầu quan trọng nhất trong dạy học và học cách học cũng là yêu cầu quan trọng nhất trong việc học, quá trình dạy học không chỉ dừng ởviệc truyền thụ một kiến thức nào đó mà quan trọng hơn là khuyến khích hướng dẫn người học tích cực chủ động tự tìm kiếm, tự khám phá và chiếm lĩnh tri thức và vận dụng tri thức đó trong cuộc sống đó là cách tạo động lực, sự hứng thú mạnh mẽ trong học tập và hình thành ở người học tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tự trách nhiệm và bản lĩnh trong cuộc sống Với hệ thống câu hỏi: “Why- Tại sao học, học để làm gì?” (mục tiêu học); “What- Học cái gì để đạt được mục tiêu đó?” (nội dung học) và “How - Học như thế nào?” (phương pháp học) 17

Trang 4

Khi người học biết cách tổ chức, thu thập, xử lí thông tin và tự kiểm tra, tự điều chỉnh khi làm việc với các nguồn tri thức khác nhau nghĩa là đã nắm được phương pháp học để học trên lớp và tự học 18

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

1.2.2 Khái niệm về cách học 16 Trong kỉ nguyên thông tin bùng nổ, kiến thức nhân loại được tăng lên gấp đôicứ sau mỗi mười năm thì dạy gì? Và dạy bao nhiêu kiến thức là đủ? Những kiến thức mà HS tiếp thu trong nhà trường có thể trở nên lỗi thời khi ra trườngtrong khi quá trình toàn cầu hóa với sự biến động ngày càng nhanh và tính cạnh tranh ngày càng gay gắt dẫn đến những yêu cầu ngày càng cao đối với người lao động Trong hoàn cảnh đó con người muốn thành công cũng phải thay đổi theo hướng không ngừng hoàn thiện bản thân mình vì những điều học được ở trường chỉ là những kiến thức cơ bản ít ỏi so với yêu cầu của xã hội Do đó càng lớn thì yêu cầu tự học càng trở nên quan trọng hơn vì nó là yếu tố quyết định sự thành công của con người trong cuộc sống hiện đại khi mà yêu cầu của xã hội không ngừng thay đổi và ngày càng cao thì chỉ bằng con đường tự học, tự hoàn thiện bản thân để không bị tụt hậu Những người thành công trong cuộc sống là những người có phương pháp tự học, tự hoàn thiện bản thân mình tốt Ví dụ như giáo sư Toán học Việt Nam, Nguyễn CảngToàn là một trong những tấm gương tự học thành tài 16 Chính vì vậy mà yêu cầu trong dạy và học hiện nay có những thay đổi căn bản để để đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống hiện đại, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay và với những phương tiện nghe nhìn ngày càng hiện đại thìcon người có thể tự học ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào Như vậy trong dạy học người GV cần tích hợp giữa dạy nội dung với dạy cách học cho HS, hướng dẫn người học cách tiếp cận và sàng lọc thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, nhiều đối tượng khác nhau, với ý thức tư duy phân tích sâu rộng, phê phán và sáng tạo, biết lập kế hoạch tự học, biết vận dụng tri thức để giải quyết tình huống trong bối cảnh thực tiễn, biết tự kiếm tra đánh giá kết quả tự học của mình và tự điều chỉnh Khi mà HS rèn luyện được các kĩ năng đó và sử dụng thành thạo các kĩ năng đó thì có thể gọi là biết cách học và có khả năng học tập suốt đời 16 Dạy cách học là yêu cầu quan trọng nhất trong dạy học và học cách học cũng là yêu cầu quan trọng nhất trong việc học, quá trình dạy học không chỉ dừng ởviệc truyền thụ một kiến thức nào đó mà quan trọng hơn là khuyến khích hướng dẫn người học tích cực chủ động tự tìm kiếm, tự khám phá và chiếm lĩnh tri thức và vận dụng tri thức đó trong cuộc sống đó là cách tạo động lực, sự hứng thú mạnh mẽ trong học tập và hình thành ở người học tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tự trách nhiệm và bản lĩnh trong cuộc sống Với hệ thống câu hỏi: “Why- Tại sao học, học để làm gì?” (mục tiêu học); “What- Học cái gì để đạt được mục tiêu đó?” (nội dung học) và “How - Học như thế nào?” (phương pháp học) 17

Trang 6

Khi người học biết cách tổ chức, thu thập, xử lí thông tin và tự kiểm tra, tự điều chỉnh khi làm việc với các nguồn tri thức khác nhau nghĩa là đã nắm được phương pháp học để học trên lớp và tự học 18

Trang 7

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

- Sự phát triển kinh tế xã hội đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục trênnhiều phương diện Việt Nam đang ở trong giai đoạn công nghiệp hóa nềnkinh tế xã hội Mặt khác Việt Nam đã gia nhập WTO ngày 15.11.2006 (trởthành thành viên chính thức ngày 11.01.2007) Điều đó có ý nghĩa là vấn đềtoàn cầu hóa và những yêu cầu của nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức cũngtrực tiếp tác động đến kinh tế, xã hội cũng như thị trường lao động của ViệtNam [6] Toàn cầu hóa đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, giáodục cần đào tạo ra những con người đáp ứng những đòi hỏi mới của xã hội,

xu hướng cơ bản là lao động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, đặc biệtlao động có trình độ cao sẽ tăng nhanh trong tương quan với lao động nôngnghiệp, người lao động trong thời kì mới bên cạnh những năng lực chuyênmôn, người lao động cần có những năng lực chung, đặc biệt là năng lực hànhđộng, tính tự lực và trách nhiệm, tính năng động và sáng tạo, năng lực cộngtác làm việc, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp Khả năng học tập suốtđời, khả năng sử dụng phương tiện mới đặc biệt là công nghệ thông tin, khảnăng sử dụng ngoại ngữ trong giao tiếp và làm việc.[7,8,9] Như vậy đòi hỏinền giáo dục nước nhà phải đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc, toàn diện

- Nghị quyết BCH Trung ương Đảng lần thứ 8, (khóa XI) đã chỉ rõ: “Mục tiêucủa giáo dục đào tạo là đào tạo ra những con người có đủ phẩm chất, năng lựcđể xây dựng và bảo vệ tổ quốc, làm chủ tri thức khoa học công nghệ hiện đại,có năng lực phát huy giá trị văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa của nhân loại,có tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành giỏi” Để thực hiện được mục tiêu giáodục nói trên, vấn đề đặt ra đối với các trường học là cần không ngừng đổi mớivề nội dung, PPDH và tăng cường trang thiết bị dạy học Những định hướngđổi mới về phương pháp giáo dục trong THPT bao gồm các phương pháp

Trang 8

phát huy tính tích cực tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng họcsinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luỵên kĩ năng học vận dụngkiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui hứng thú,trách nhiệm học tập cho học sinh, gắn nội dung dạy học với thực tiễn cuộcsống nghề nghiệp Như vậy ngoài việc trang bị cho học sinh về kiến thức mônhọc người giáo viên còn phải dạy cho học sinh cách học hay nói cách khác làrèn luyện cho HS các kĩ năng học tập, tự học và kĩ năng thực hành các tri thứchọc tập được, đặc biệt là với đối tượng học sinh dân tộc miền núi [11,12].Nhấn mạnh : “Đổi mới phương pháp GD&ĐT, khắc phục lối truyền thụ mộtchiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụngphương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảmđiều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh Củng cố và pháttriển giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số, phấn đấu giảm sự chênh lệch vềphát triển giáo dục giữa các vùng lãnh thổ.”[57] Đây cũng là một trongnhững yêu cầu nhằm phát triển giáo dục miền núi làm cho giáo dục miền núitiến kịp miền xuôi, đưa vùng dân tộc thiểu số tiến theo trình độ phát triểnchung của cả nước.

- Trong dự thảo của Bộ GD-ĐT “Mục tiêu và chuẩn trong chương trình giáodục phổ thông sau năm 2015” Việt Nam đề xuất 9 năng lực chung chia thành

3 nhóm năng lực Đối với dạy học Sinh học ở cấp THPT trong nhóm năng lựcchung thì năng lực tự học là năng lực quan trọng nhất và năng lực chuyênbiệt của bộ môn Sinh học [152-155]

- Hơn nữa khoa học công nghệ đang phát triển nhanh, mạnh với tốc độ cao.Nội dung dạy học ở nhà trường phổ thông không thể trang bị được mọi trithức cần thiết cho mỗi người ở các lĩnh vực hoạt động khác nhau sau này, vìvậy phải coi trọng việc dạy phương pháp, dạy cách học, dạy cách đi tới trithức mà loài người đã tích luỹ được, tạo cơ sở để người học tiếp tục học tậpsuốt đời.[27]

Trang 9

Xuất phát từ những yêu cầu đó, việc đổi mới PPDH được coi là mục tiêutrọng tâm của đổi mới giáo dục phổ thông, chỉ có đổi mới căn bản PPDH mớicó thể tạo được sự đổi mới thật sự trong GD nhằm đào tạo được lớp ngườinăng động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiềunước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức Điều đó cho thấy ngườigiáo viên cần phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tínhtích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, đồng thời với việc trang bị cho họcsinh kiến thức về môn học còn phải trang bị cho học sinh phương pháp họctập hay nói cách khác là dạy học sinh cách học để HS học tập tốt, phát triểncác năng lực chung và năng lực chuyên biệt bộ môn và khả năng học tập suốtđời đáp ứng được những yêu cầu của cuộc sống hiện đại.

- Sinh học phát triển rất nhanh đặc biệt trong 5 thập kỉ qua với những pháthiện quan trọng đang phát huy tác dụng rộng rãi đối với nhiều lĩnh vực củasản xuất và đời sống, đặc biệt là công nghệ Sinh học, vì vậy cần phải pháttriển chương trình và hiện đại hóa nội dung SGK Sinh học về khối lượng,chiều sâu và hệ thống kiến thức sao cho phù hợp với từng cấp học, lớp học,giải quyết tốt mối quan hệ giữa kiến thức Sinh học và kiến thức liên môn.Chương trình SGK Sinh học THPT hiện nay được xây dựng theo tiếp cận

“Sinh học hệ thống” các cấp độ tổ chức sống (CĐTCS) theo hướng làm nổibật các đặc trưng sống qua từng CĐTCS từ cấp độ phân tử → Tế bào/cơ thểđơn bào→ Cơ thể đa bào → Quần thể/ loài → Quần xã/ Hệ sinh thái→ Sinhquyển theo hướng giảm bớt chức năng thông báo, tăng cường các hoạt độngtìm tòi độc lập hoặc hoạt động theo nhóm của học sinh với SGK và tài liệutham khảo để tự chiếm lĩnh kiến thức[7,8] Cụ thể Sinh học 10 nghiên cứu cấpđộ tế bào và cơ thể đơn bào là cơ sở để HS tìm hiểu lên cấp độ cao hơn ở lớp

11 và 12 Cấu trúc nội dung chương trình Sinh học 10 gồm 3 phần, phần I:giới thiệu chung về thế giới sống, phần II: Sinh học tế bào, phần III: Sinh học

Trang 10

Vi sinh Vật Kiến thức phần này tương đối trìu tượng và khó đối với học sinhTHPT và khó hơn đối với HS dân tộc miền núi.

Thực trạng dạy học phần Vi Sinh Vật - Sinh học 10 nói riêng đối với giáoviên miền núi hiện nay còn nhiều hạn chế, đa số GV còn quá chú trọng đếnviệc truyền tải cho hết nội dung kiến thức bài học mà chưa thực sự quan tâmđến việc rèn cho HS cách học dẫn đến chất lượng giáo dục miền núi còn ởmức rất thấp Vì vậy cần phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạyhọc sinh cách học, tự học, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức

Theo đánh giá của Ban Dân tộc tỉnh, Hòa Bình là tỉnh miền núi, dân số 82vạn người, đồng bào dân tộc chiếm trên 73%, Hòa Bình có 95 xã đặc biệt khókhăn và 116 thôn, bản đặc biệt khó khăn thuộc diện đầu tư Chương trình 135giai đoạn II Như vậy có thể thấy HS miền núi chiếm đại đa số là người dântộc thiểu số sinh sống ở những vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao, hẻo lánh,kinh tế chủ yếu thu nhập từ làm nông nghiệp, kinh tế chậm phát triển Tỷ lệhộ nghèo vùng dân tộc thiểu số của tỉnh còn cao, kết quả giảm nghèo chưathực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo cao, trình độ dân trí còn thấp chính vìvậy mà sự đầu tư về thời gian cũng như điều kiện vật chất của gia đình chocác em học tập còn hạn chế, chưa thực sự nhận thức được ý nghĩa của việchọc tập kể cả gia đình cũng như bản thân các em, ngoài thời gian học tập trênlớp các em phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đình nên thời gian dànhcho việc học tập ở nhà rất ít Phần lớn là con em của đồng bào dân tộc thiểusố do vậy mà ngôn ngữ sử dụng hàng ngày là tiếng dân tộc, khả năng sử dụngtiếng Việt chưa thành thạo, các kỹ năng cơ bản khác như đọc, viết, nói, nghe,thuyết trình, báo cáo, hùng biện, hợp tác, giao tiếp… còn kém hơn so với các

em học sinh vùng đồng bằng và thành phố Ưu điểm là có kiến thức thực tiễnnhiều nhưng lại chưa biết sử dụng những tri thức khoa học vào việc giải quyếtnhững thắc mắc, những tình huống xảy ra trong thực tiễn cuộc sống và trong

Trang 11

lao động sản xuất có nghĩa là chưa có kĩ năng thực hành tri thức vì vậy GVcần phải dạy cho HS cách học gắn với thực tiễn địa phương.

Xuất phát từ những lý do trên mà tôi chọn đề tài:“Dạy cách học phần Vi sinh vật- Sinh học 10 THPT cho học sinh miền núi”.

2 Mục đích nghiên cứu.

Nghiên cứu quy trình và các biện pháp để dạy cách học phần Vi sinh Sinh học 10 THPT cho học sinh miền núi nhằm nâng cao hiệu quả lĩnh hộikiến thức phần này

vật-3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu:

Quá trình dạy học sinh học nói chung và dạy học phần Vi sinh vật- Sinh học

10 THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu:

Cách học và quy trình tổ chức dạy cách học phần Vi sinh vật- Sinh học 10THPT

4 Giới hạn đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu dạy cách học phần Vi sinh vật- Sinh học 10 THPT cho học sinhmiền núi

5 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được quy trình tổ chức dạy cách học và thực hiện quy trình đódựa trên các hoạt động của từng chủ đề phù hợp với đặc điểm của học sinhmiền núi sẽ hình thành được các kĩ năng học, nâng cao được chất lượng họctập cho học sinh miền núi

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy cách học cho học sinh

Lược sử nghiên cứu về dạy cách học cho học sinh trên thế giới và Việt Nam6.2 Xây dựng cơ sở lý luận về dạy cách học cho học sinh

Trang 12

6.3 Nghiên cứu thực trạng dạy cách học cho học sinh của giáo viên nói chungvà giáo viên miền núi nói riêng ở 3 trường THPT miền núi thuộc Sở giáo dụcvà Đào tạo Hòa Bình

6.4 Phân tích cấu trúc phần Vi sinh vật-Sinh học 10 THPT làm cơ sở choviệc dạy cách học cho học sinh và xây dựng các chủ đề học tập

6.5 Xây dựng qui trình dạy cách học cho học sinh miền núi phần Vi sinh Sinh học 10 THPT

vật-6.6 Xây dựng mức độ đánh giá các kĩ năng cần có của HS trong quá trình họctập kèm theo bộ câu hỏi/bài tập để đánh giá kĩ năng học tập, kết quả học tậpcủa HS

6.7 Xây dựng các giáo án thực nghiệm theo qui trình để dạy cách học chohọc sinh

6.8 Thực nghiệm sư phạm để xác định hiệu quả dạy cách học cho học sinhtheo qui trình

6.9 Xử lí số liệu thực nghiệm sư phạm để phân tích định lượng và định tínhbằng phần mềm Microsof Excel 2010

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu những chủ trương của Đảng và Nhà nước, của Bộ giáo dục vàđào tạo về các chiến lược phát triển, đổi mới giáo dục nói chung và đổi mớicách học theo hướng tích cưc hóa người học nói riêng

- Nghiên cứu các công trình khoa học liên quan dạy cách học cho học sinh

- Nghiên cứu các lý thuyết học tập làm cơ sở để xây dựng qui trình dạy cáchhọc cho học sinh

7.2 Phương pháp điều tra thực trạng

Điều tra tình hình giáo viên dạy cách học cho học sinh và điều tra khả năngtự học của học sinh miển núi theo các phương pháp sau:

Trang 13

- Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu phương pháp hướng dẫn dạy cách họccho HS trong DH sinh học của GV ở một số trường THPT miền núi thuộc Sởgiáo dục và Đào tạo Hòa Bình

- Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu phương pháp học tập môn sinh học 10của HS THPT miền núi thuộc Sở giáo dục và Đào tạo Hòa Bình

- Trực tiếp dự giờ, thăm lớp, kiểm tra kết quả tự học của HS

- Quan sát sư phạm để kiểm tra hứng thú, mức độ tích cực học tập của HS7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Chọn lớp thực nghiệm, phương pháp đạt thực nghiệm và triển khai thựcnghiệm

7.4 Phương pháp chuyên gia

Trao đổi lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia về qui trình tổ chức dạy cáchhọc được xây dựng cho đối tượng học sinh miền núi để hoàn thiện qui trìnhđưa vào thực nghiệm sư phạm

7.5 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phần mềm Microsoft , exel và phần mềm SPSS 16.0 để xử lý số liệuxác định các tham số thống kê làm cơ sở phân tích định lượng các kết quảthực nghiệm sư phạm

8 Những đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phương pháp dạy cách học cho học sinh nóichung và học sinh miền núi nói riêng

- Xây dựng qui trình tổ chức dạy cách học cho học sinh trong dạy học phần Visinh vật - Sinh học 10 THPT Cho đối tượng học sinh miền núi để góp phầnnâng cao chất lượng học tập

- Đề xuất các biện pháp tổ chức dạy cách học cho học sinh miền núi phần Visinh vật- Sinh học 10 THPT

Trang 14

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luậnvăn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Dạy cách học phần Vi sinh vật- Sinh học 10 THPT cho học sinhmiền núi

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1.Lược sử nghiên cứu về dạy cách học cho học sinh trên thế giới và Việt Nam

1.1.1 Trên thế giới.

Khổng Tử (551- 479 TCN) trong quá trình dạy học cách dạy ông đòi hỏi học

trò phải cố gắng tự suy nghĩ, khi HS suy nghĩ sẽ làm bật ra những thắc mắc,những câu hỏi để tìm cách giải quyết vấn đề Ông nói: Học mà không suynghĩ thì mờ tối chẳng hiểu gì, nghĩ mà không học thì khó nhọc mất côngkhông, cần học cho rộng, hỏi cho kỹ, nghĩ cho cẩn thận, phân biệt cho sáng

rõ, làm cho hết sức Do đòi hỏi học trò phải suy nghĩ trong lúc học nên ôngđánh giá cao việc đặt câu hỏi của học trò Để tạo điều kiện cho người học tựsuy nghĩ trong dạy học ông chỉ gợi mở cho học trò tự giải đáp các vấn đề cònlại Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không tự suy ra ba góc khác thìkhông dạy nữa Không dừng lại ở đó, ông đặt sự ham học hỏi của học tròtrong một phạm vi lớn hơn đó là thái độ học tập, khiêm tốn, học ở mọi nơi, ởmọi lúc, mọi người kể cả lúc đi trên đường "ba người cùng đi tất có mộtngười là thầy ta, chọn người hay mà bắt chước, nhìn người dở mà sửamình" Học đi đôi với hành, muốn học tập có hiệu quả thì phải tìm thấy vuithú, có vui thú mới tiến ích, học mà cứ buổi buổi luyện tập luôn thì trongbụng lại không thoả thích sao? cần thường xuyên luyện tập trong học tập, kếtquả cuối cùng của việc học, phải thể hiện ở hành Giảng dạy phải phù hợp đốitượng để làm được điều này trước hết cần tìm hiểu đặc điểm nhân cách từnghọc trò, tìm ra phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng Ông nói: vớingười có tư chất bậc trung trở lên thì mới có thể nói điều cao xa, đối vớingười bậc trung trở xuống thì không thể nói điều cao xa.[2]

Trang 16

Hiện nay, chúng ta đang đẩy mạnh việc đổi mới giáo dục, nhất là đổi mớiphương pháp dạy học, dạy cách học, tự học cho học sinh để giúp HS biếtcách học, tự học một cách hiệu quả, có khả năng học tập suốt đời đáp ứngyêu cầu của cuộc sống hiện đại thì việc tìm hiểu tư tưởng của Khổng Tử vềPPDH cho chúng ta thấy những giá trị tiến bộ của ông trong lĩnh vực giáodục, đặc biệt là những nguyên tắc giáo dục của ông vẫn còn nguyên giá trịđáng để chúng ta học tập.

Hàng trăm năm trước, nước Nhật đã thực hiện cuộc Duy Tân Minh Trị,trong đó có chủ trương “Hòa thần Dương khí” (Tinh thần Nhật Bản, Tinh hoaphương Tây) nhằm đưa tất cả những quyển sách quý nhất của thế giới tronghầu hết các lĩnh vực đến với mọi người dân Những tinh hoa tri thức của loàingười đã phủ đều lên khắp nước Nhật với nhiều triệu bản in của mỗi tựa sáchđã được phát hành Người Nhật, trước đó vốn không hẳn là một dân tộc mêđọc sách, cũng không phải là một dân tộc sính ngoại, nhưng khát khao vươnmình, khát vọng đua tranh cùng phương Tây đã làm cho họ hiểu và tin rằng,sự học và tiếp nhận tinh hoa tri thức của phương Tây chính là con đường ngắnnhất và khôn ngoan nhất đã giúp họ có đủ năng lực để thành công trong cuộcđua tranh khó tưởng tượng này Và chính khát vọng mãnh liệt của dân tộc đãhun đúc cho hàng triệu công dân của đất nước mặt trời mọc, đã thổi bùng mộtniềm tin, một động lực ghê gớm, và nhà trường là nơi dạy họ cách học, cáchđọc sách, cách tự học có hiệu quả nhất để để mỗi ngày, họ dốc sức cho sựhọc, đọc sách, tự học, tự nghiên cứu để tiếp thu tri thức và văn minh của loàingười, cho sự phát triển của bản thân, cho sự phồn thịnh của quốc gia

Thế kỉ 17 – 18, ở các nước châu Âu, các nhà GD nổi tiếng như Comenski,J.J Rousseau cũng đã có những quan điểm phải đưa ra những biện pháp DHhướng HS tìm tòi suy nghĩ, khám phá, sáng tạo, tích cực tự đánh giá kiếnthức Những quan điểm này chỉ rõ, không nên cho HS kiến thức có sẵn mà

Trang 17

cần phải dạy cho học sinh cách HS tự phát minh ra, tự bồi dưỡng tinh thầnđộc lập trong quan sát, đàm thoại và trong việc ứng dụng vào thực tiễn.[8] Tác giả V.P.Xtơrozicozin trong tác phẩm “Tổ chức quá trình dạy học trongtrường phổ thông” cũng đã trình bày những nghiên cứu của mình về vai tròcủa HS trong việc tự học, vị trí của tự học trong học tập, phương pháp tổ chứctự học, những nguyên tắc, điều kiện đảm bảo cho tự học có hiệu quả.[30] Từ năm 1990, ở Mỹ việc rèn luyện “Kĩ năng nghiên cứu tài liệu ” đã trởthành một trong những nhiệm vụ đào tạo cực kì quan trọng trong nhà trường.Trong các kì nghỉ hè và công tác hỗ trợ học tập, người ta thường thành lập rấtnhiều trung tâm “kĩ năng nghiên cứu tài liệu” đã giúp HS được học tập nhiềucách thức đọc khác nhau, là nền tảng để phát triển việc đọc có tính chấtnghiên cứu [36].

Albert Einstein nhà vật lý lý thuyết người Đức, được coi là nhà giáo dục

khai phóng nói “Óc tò mò của tuổi thơ luôn là động cơ của các khám phá, ủnghộ một nền giáo dục nhằm khuyến khích hành động tự do và tính tự tráchnhiệm Ông phê phán lối dạy nhồi nhét, hà khắc, người thầy tất cả đều làđúng, HS là người cần phải lĩnh hội tất cả những gì thầy đã dạy, không có cơhội và điều kiện để tư duy, sáng tạo, ủng hộ cách dạy khuyến khích học sinhbộc lộ những tiềm năng của mình, tích cực và sáng tạo và tự trách nhiệm [1] Các nhà giáo dục nổi tiểng của thế kỉ 20 như Jean Piaget, J.A Komenxki,J.H.Petxtaloxi, JJ.Rutxo, A.Distevec và nhiều nhà sư phạm khác sau nàyđều có chung một ý tưởng thống nhất rằng trong dạy học cần đặt ra các câuhỏi, vấn đề, tình huống thực tiễn để người học tự lực, tích cực, chủ động lậpkế hoạch, tìm kiếm thông tin để , tự khám phá để chiếm lĩnh tri thức [21] Trên thề giới rất nhiều các công trình đã được thực hiện với mục đích khác

nhau nghiên cứu về việc dạy cách học cho HS như Nghiên cứu về các cách thức học tập của Dansereau [ 67], Nâng cao chất lượng học tập của HS thông qua tự học và nghiên cứu tài liệu của Chalmers(1995), Dạy để học hiệu qua

Trang 18

hơn của Tim McMahon (2004) [95] các nghiên cứu đều đề cập đến dạy

cách học cho người học [22]

1.1.2 Ở Việt Nam

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Khắc Mai, Giám đốc Trung tâm MinhTriết khi nghiên cứu về Đông Kinh nghĩa thục cho thấy về thực chất ĐôngKinh nghĩa thục chính là một cuộc vận động và thực hành cải cách giáo dụcrộng lớn, sâu sắc, cơ bản và sớm một cách đáng kinh ngạc Đông Kinh nghĩathục đề cao chủ nghĩa “mở trí khôn” cho nhân dân, coi giáo dục là quốc sáchhàng đầu, phổ cập giáo dục làm cho cả nước văn minh, đề cao một phươngpháp học tập văn minh, tiến bộ: “Đặt đề mà hỏi Cho phép học trò bàn bạc thahồ, đối đáp tự do…” Có thể tìm thấy ở minh triết giáo dục của Đông Kinhnghĩa thục những vấn đề cơ bản và thậm chí còn nóng hổi cho sự nghiệp giáodục của chúng ta ngày nay, từ triết lý giáo dục, mục tiêu đào tạo con người,nội dung giáo dục, chương trình giáo dục, phương pháp giáo dục… Các nhàĐông Kinh nghĩa thục đã trăn trở về chủ đề này 105 năm trước Từ bỏ triết lý

“giáo dục tĩnh” của Nho giáo, vốn chỉ tạo ra những thần dân bù nhìn, chuyểnsang “giáo dục động”, kết hợp Đông (đạo Nho nhân bản, văn hóa dân tộc) vàTây (giáo dục Pháp) toàn diện [1]

Như vậy có thể thấy vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và dạy cách học,tự học, tự nghiên cứu cho học sinh đã được nghiên cứu và thực hiện ở nước tađã có từ lâu

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề giáo dục, trong nhiều bàiphát biểu, bài viết Bác cũng nhấn mạnh đến tác dụng của tự học Tại hội nghịtoàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập khai mạc ngày 6

tháng 5 năm 1950, Bác đã khuyên học viên “Không phai có thầy thì học, thầy không đến thì đùa Phai biết tự học tập” Ở tác phẩm “ Sửa đổi lối làm

việc”(1947) khi nói về công tác huấn luyện cán bộ bác cũng nhắc nhở “ Lấytự học làm cốt” [57]

Trang 19

Trong nghị quyết của bộ chính trị về CCGD (11/1/1979) đã viết “Cần coitrọng việc bồi dưỡng hứng thú, thói quen và phương pháp tự học cho HS,hướng dẫn HS biết cách nghiên cứu SGK, thảo luận chuyên đề, ghi chép tưliệu, tập làm thực nghiệm khoa học ”[36 ].

Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng giáo dục và đào tạo là quốc sách hàngđầu Trong giai đoạn hiện nay chúng ta đang xây dựng một xã hội học tập vớiphương hướng, con đường thực hiện là kết hợp đến trường, giáo dục từ xa vàtự học, trong đó tự học để trưởng thành là vô cùng quan trọng Quan niệm tựhọc và học tập suốt đời trong thời đại hiện nay nổi lên như một chìa khóa mởcửa đi vào thế kỉ 21- thế giới của nền kinh tế tri thức

Vì vậy mà vấn đề dạy cách học, dạy phương pháp học tập, dạy phương pháptự học cho học sinh đang là vấn đề được các nhà nghiên cứu giáo dục khôngchỉ ở nước ngoài mà cả ở Việt Nam cũng rất quan tâm và có nhiều đề tàinghiên cứu về vấn đề này để giúp nâng cao hiệu quả giáo dục của nước nhàđạt được kết quả đầu ra đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển nền kinh tế đất

nước như đề tài Nghiên cứu và phát triển tự học GS TS Nguyễn Cảnh Toàn

đưa ra khái niệm tự học, chu trình tự học, chu trình dạy và hệ phương phápdạy tự học

Bài viết về Học và dạy phương pháp học theo cách tiếp cận của li thuyết thông tin GS.TS Trần Bá Hoành đã phân tích khái quát các đặc điểm của cơ

chế trong mô hình thông tin để từ đó đề xuất một số biện pháp dạy cách họcứng với các giai đoạn của cơ chế học tập theo lí thuyết thông tin

Tác giả Trần Bá Hoành với “Kĩ thuật dạy học sinh học” đã đề cập phải chú ý

đến rèn luyện phương pháp tự học[20]

Trong tác phẩm Dạy và học cách tư duy của tác giả Lê Hải Yến nhấn mạnh

đến “ Người thầy không chỉ là người dạy kiến thức mà điều quan trọng và cốtlõi nhất là dạy học trò tư duy” đưa ra mô hình tự học có hiệu quả và một sốchiến lược để tự học

Trang 20

Trong đề tài Nghiên cứu, biên soạn tài liệu cách học cho sinh viên Đại học

Sư phạm GS.TS Đinh Quang Báo và cộng sự đã trình bày và hướng dẫn mộtsố cách học cơ bản cho sinh viên sư phạm như cách đọc sách, cách ghi chép,cách thu thập thông tin để giải thích một số vấn đề, cách học bằng lập bản đồ

tư duy,, cách học so sánh, cách dùng ẩn dụ, cách tự định nghĩa khái niệm,cách thuyết trình, cách nghiên cứu khoa học, cách sử dụng và khai thác côngnghệ thông tin trong QTHT, cách quan sát giờ học, cách học nhóm, cách lậpkế hoạch học tập [18], có thể tham khảo và vận dụng để dạy cách học cho HSở cấp THPT

1.2 Cơ sở lí luận.

1.2.1 Khái niệm về học.

Những thách thức mới của thời đại mới đặt Việt Nam vào tình thế cần có

nhiều hơn những doanh nhân tạo ra được những sản phẩm cho thế giới dùng,những nhà văn viết ra được những quyển sách cho thế giới đọc, những nhạc sĩsáng tác ra được những bản nhạc cho thế giới nghe, những họa sĩ vẽ ra đượcnhững bức tranh cho thế giới xem, những nhà khoa học đưa ra được nhữngphát kiến cho thế giới ứng dụng…, cần có nhiều hơn những nhân sự có khảnăng sống một cách đàng hoàng và làm việc thành công ở bất cứ môi trườngnào trên thế giới này Để làm được điều này cần có sự nỗ lực trong học tậpcủa mỗi người Vậy học là gì? Đây là một khái niệm mà chúng ta cần hiểu rõđể dạy và học có hiệu quả

Khái niệm học luôn là khởi nguồn cho mọi cuộc cách mạng về giáo dục vàđiều quan trọng nhất hiện nay là nỗ lực tạo nhận thức cho người học để mỗingười hiểu rằng họ mới chính là “ông chủ” của quá trình giáo dục, là “nhàquản trị” sự học của bản thân với tâm thế “ Ta là sản phẩm của chính mình”.Đồng thời với quá trình chịu tác động của hệ thống giáo dục, con người còn là

“sản phẩm” của chính mình, của một quá trình “giáo dục tự thân” Người họccần phải biết nắm lấy sự chủ động cao nhất, phải biết “làm chủ” trong toàn bộ

Trang 21

quá trình này Và mọi sự đổi thay, mọi sự cải cách hay mọi cuộc cách mạngvề giáo dục đều bắt đầu từ khái niệm học[2].

Học là quá trình con người lĩnh hội những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo vànhững phương thức hành vi mới Như vậy học chính là hoạt động nhằm tạo rasự thay đổi kinh nghiệm của người học một cách bền vững Để lĩnh hội nhữngkinh nghiệm xã hội con người có nhiều cách thức chiếm lĩnh khác nhau có thể

do người khác truyền thụ hoặc do tự quan sát, đúc kết từ lao động, môi trườngsống Học có thể diễn ra ngẫu nhiên trong cuộc sống hằng ngày, diễn ra ởmọi nơi mọi lúc Cách học này diễn ra khi tiến hành lao động sản xuất, quahoạt động vui chơi không có chủ định sẵn, như vậy kết quả tri thức ngườihọc thu được sẽ rời rạc, không hệ thống, ở người học chỉ hình thành nhữngnăng lực thực tiễn do kinh nghiệm mang lại Nhưng ngoài việc lĩnh hội nhữngtri thức mang tính kinh nghiệm ra con người cần phải nắm bắt những tri thứckhoa học, những năng lực thực tiễn mới mà cách học ngẫu nhiên không tạo rađược, để có năng lực đó con người cần tiến hành hoạt động hướng vào đểthực hiện mục tiêu đó là hoạt động học- học có chủ định [11]

Như vậy với hoạt động học có chủ định thì khái niệm “học” là một kháiniệm chủ đạo trong dạy học và giáo dục, có nhiều cách diễn đạt khái niệm họckhác nhau:

- Học là hiểu và truyền đạt

- Học là sự tiếp thu thông tin, tạo năng lực

- Học là hội nhập những dạng tri thức mới vào cấu trúc nhận thức

- Học là biến đổi cách trình bày tư duy

- Học là một hoạt động có mục đích với đối tượng, trong đó học sinh là chủthể, khái niệm khoa học là đối tượng

- Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dướisự điều khiển sư phạm của giáo viên

Trang 22

Như vậy theo các cách giải thích trên thì khái niệm học có nội hàm rộng, họccòn liên quan đến “tự học” và phát triển năng lực “tự học” để học suốt đời.

Do đó “phương pháp dạy” phải hướng vào “phương pháp học” [6]

1.2.2 Khái niệm về cách học

Trong kỉ nguyên thông tin bùng nổ, kiến thức nhân loại được tăng lên gấpđôi cứ sau mỗi mười năm thì dạy gì? Và dạy bao nhiêu kiến thức là đủ?Những kiến thức mà HS tiếp thu trong nhà trường có thể trở nên lỗi thờikhi ra trường trong khi quá trình toàn cầu hóa với sự biến động ngàycàng nhanh và tính cạnh tranh ngày càng gay gắt dẫn đến những yêu cầungày càng cao đối với người lao động Trong hoàn cảnh đó con ngườimuốn thành công cũng phải thay đổi theo hướng không ngừng hoànthiện bản thân mình vì những điều học được ở trường chỉ là những kiếnthức cơ bản ít ỏi so với yêu cầu của xã hội Do đó càng lớn thì yêu cầu tựhọc càng trở nên quan trọng hơn vì nó là yếu tố quyết định sự thành côngcủa con người trong cuộc sống hiện đại khi mà yêu cầu của xã hội khôngngừng thay đổi và ngày càng cao thì chỉ bằng con đường tự học, tự hoànthiện bản thân để không bị tụt hậu Những người thành công trong cuộcsống là những người có phương pháp tự học, tự hoàn thiện bản thânmình tốt Ví dụ như giáo sư Toán học Việt Nam, Nguyễn Cảng Toàn làmột trong những tấm gương tự học thành tài

Chính vì vậy mà yêu cầu trong dạy và học hiện nay có những thay đổi cănbản để để đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống hiện đại, trong thời đại bùng nổthông tin hiện nay và với những phương tiện nghe nhìn ngày càng hiệnđại thì con người có thể tự học ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào Như vậytrong dạy học người GV cần tích hợp giữa dạy nội dung với dạy cáchhọc cho HS, hướng dẫn người học cách tiếp cận và sàng lọc thông tin từnhiều nguồn khác nhau, nhiều đối tượng khác nhau, với ý thức tư duyphân tích sâu rộng, phê phán và sáng tạo, biết lập kế hoạch tự học, biết

Trang 23

vận dụng tri thức để giải quyết tình huống trong bối cảnh thực tiễn, biếttự kiếm tra đánh giá kết quả tự học của mình và tự điều chỉnh Khi mà

HS rèn luyện được các kĩ năng đó và sử dụng thành thạo các kĩ năng đóthì có thể gọi là biết cách học và có khả năng học tập suốt đời

Dạy cách học là yêu cầu quan trọng nhất trong dạy học và học cách học cũnglà yêu cầu quan trọng nhất trong việc học, quá trình dạy học không chỉdừng ở việc truyền thụ một kiến thức nào đó mà quan trọng hơn làkhuyến khích hướng dẫn người học tích cực chủ động tự tìm kiếm, tựkhám phá và chiếm lĩnh tri thức và vận dụng tri thức đó trong cuộc sốngđó là cách tạo động lực, sự hứng thú mạnh mẽ trong học tập và hìnhthành ở người học tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tự trách nhiệm vàbản lĩnh trong cuộc sống Với hệ thống câu hỏi: “Why- Tại sao học, họcđể làm gì?” (mục tiêu học); “What- Học cái gì để đạt được mục tiêuđó?” (nội dung học) và “How - Học như thế nào?” (phương pháp học) Người học mới chính là người quyết định mình vì sao mình học, từ đóchuyển tải thành nội dung và cách thức để họ có thể đạt đến mục tiêu học tậpmột cách hiệu quả nhất Khi hiểu rõ vai trò “làm chủ” và “nhà quản trị” trongquá trình học, thì mọi thông tin, mọi kiến thức từ sách, từ kinh nghiệm…, từmọi tiết học, môn học, khóa học, lớp học, cấp học, bậc học…, từ mọi người,mọi nơi và mọi lúc… sẽ được người học tích hợp và sắp xếp lại theo đúng tưduy, đúng hệ thống và đúng logic của bản thân mình sao cho đạt được nhữngmục tiêu học tập mà cá nhân mình đã đặt ra Như vậy người học đã sử dụngtất cả các cách thức làm việc và tư duy của mình để tổ chức và thực hiện quá

trình học tập một cách hiệu quả nhất

Vậy cách học là gì? Cần có một định nghĩa hoàn chỉnh và chính xác về cáchhọc hay còn gọi là phương pháp học tập để tác động điều chỉnh cách học saocho hiệu quả nhất

Trang 24

Theo thuyết nhận thức ( Piagie, Vưgotski, Leontev ) thì cách học là baogồm tất cả các cách thức làm việc và tư duy mà HS sử dụng để tổ chức vàthực hiện quá trình học tập của mình một cách có hiệu quả [40].

Khi người học biết cách tổ chức, thu thập, xử lí thông tin và tự kiểm tra, tựđiều chỉnh khi làm việc với các nguồn tri thức khác nhau nghĩa là đãnắm được phương pháp học để học trên lớp và tự học

1.2.3 Khái niệm tự học

Tự học là một hình thức học Tự học giúp cho mọi người có thể chủ độnghọc tập suốt đời, học tập để khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến.Tự học giúp con người thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh tế -xã hội Bằng con đường tự học mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu sovới thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ màcuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức to lớn từ môi trườngnghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng tựhọc, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họlòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao Có thểkhẳng định vai trò to lớn của tự học đối với mỗi cá nhân trong xã hội hiện đại.Có rất nhiều quan niệm khác nhau về tự học:

- Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn thì: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sửdụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp….), và có khicả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình rồi cảđộng cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, kháchquan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say

mê khoa học…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại,biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [43]

- Theo tác giả Lưu Xuân Mới: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức củacá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính bản thân người

Trang 25

học tiến hành ở trên lớp hoặc ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình vàSGK đã được qui định ” [29]

- Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho sinh viên trong các nhà trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học GS.TSKH Thái Duy

Tuyên viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩxảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, sosánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếmlĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xãhội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”

Như vậy tự học là hoạt động nhận thức của người học nhằm chiếm lĩnh trithức, tự mình luyện tập các thao tác, hành động để hình thành kĩ năng, kĩ xảothông qua cách dạy, cách tổ chức hướng dẫn của GV Tự học giúp người họctự tìm ra tri thức mới, cách thức hành động mới bằng chính nỗ lực của bảnthân mình Tự học hình thành nên những con người năng động, sáng tạo Các mức độ của tự học bao gồm:

- Tự học có hướng dẫn: Là hình thức tự học để chiếm lĩnh tri thức và hìnhthành kĩ năng dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV

Có 2 mức độ:

+ Người học có SGK và có thầy giáp mặt, hướng dẫn cách học để tự khám phákiến thức, kĩ năng mới thông qua đó người học học được cách học để từ đó có thểtự học và có khả năng học tập suốt đời

+ Người học có SGK và có thêm những người thầy ở xa hướng dẫn, nghĩa làvẫn có các quan hệ trao đổi thông tin giữa thầy và trò dưới dạng phản ánhthắc mắc, làm bài, chấm bài…

- Tự học hoàn toàn (học với sách, không có thầy bên cạnh)

Là hình thức tự học, tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyệnkĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn của GV Tuy nhiên vẫn có sự liênhệ giữa người học và thầy – tác giả của sách một cách gián tiếp thông qua

Trang 26

sách Do đó biết cách đọc sách chính là biết “hỏi sách”, những chỗ còn thắcmắc chưa hiểu thì biết tìm thêm những loại sách nào nữa để đọc Khi đọcsách, người học phải biết lựa chọn những chương nào, trang nào đó để đọc,sau đó tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng, ghi chép lại những điều cầnthiết, biết viết tóm tắt, lập dàn ý, đề cương từ những phần mình đã đọc được.Biết cách tự học sách là điều kiện không thể thiếu để tự học hoàn toàn, tự họcsuốt đời Đây là một hoạt động đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác vàkiên trì cao thì mới đạt được kết quả Do đó, tự học rất gắn bó với quá trình tự

GD để có được những nét tính cách trên.Vì vậy phải học một cách hệ thốngvới thầy, rồi với sách

1.2.4 Các thành tố của tự học

* Động cơ học tập: Người học tự cảm thấy môn học là hữu ích và yêu thíchmôn học từ đó khiến cho người học luôn tự giác say mê, học tập với nhữngmục tiêu cụ thể rõ ràng với một niềm vui sáng tạo bất tận

* Có những hiểu biết nhất định về quá trình học tập trong mỗi bản thể

* Biết cách tự học: Trong đó bao gồm:

- Xác định mục tiêu, nội dung, kế hoạch học tập

- Đọc- hiểu SGK thông qua việc phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, sosánh, lập sơ đồ tư duy…

- Vận dụng tri thức, thông tin: Trong việc vận dụng thông tin tri thức khoahọc để giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận, xử lícác tình huống, viết bài thu hoạch, giải quyết các tình huống liên quan đếnthực tiễn cuộc sống

- Trao đổi, phổ biến thông tin: Việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin trithức thông qua các hình thức: báo cáo, thảo luận, thuyết trình, tranh luận…Hoạt động này giúp người học có thể hình thành và phát triển kĩ năng trìnhbày (bằng lời nói hay văn bản) cho người học Giúp người học chủ động, tựtin trong giao tiếp ứng xử, phát triển năng lực hợp tác và làm việc nhóm tốt

Trang 27

- Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập: Việc nhìn nhận kết quả học tập đượcthực hiện bằng nhiều hình thức như dùng các thang đo mức độ đáp ứng yêucầu của GV, bản thân tự đánh giá, sự đánh giá nhận xét của tập thể thông quathảo luận, tự đối chiếu so sánh với mục tiêu đặt ra ban đầu.

1.2.5 Cốt lõi của việc dạy học là dạy cách học

Theo hướng dạy học lấy học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học Ngàynay lí luận dạy học đi sâu vào nghiên cứu về dạy phương pháp học và họcphương pháp học Xuất phát từ quan niệm học tập tốt nhất là tự khám phá.Việc dạy chỉ đạt hiệu quả cao khi người thầy biết khơi dậy và phát huy tiềmnăng vốn có ở mỗi học sinh Dạy phương pháp học trở thành một mục tiêudạy học và ngày càng được chú trọng Trong lớp học hiện đại, bài học được tổchức thành một chuỗi hoạt động phù hợp với năng lực của từng đối tượng họcsinh trong đó giáo viên là người hướng dẫn, tổ chức, cố vấn, trọng tài cho cáchoạt động tranh luận, tìm tòi, phát hiện kiến thức mới HS được khuyến khíchchủ động tự chiếm lĩnh kiến thức mới, rèn luyện khả năng hoạt động độc lập,sáng tạo của mỗi người Nâng cao tính tự giác và tính vững chắc trong việc nắmkiến thức của HS Rèn cho HS kĩ năng, kĩ xảo được qui định trong chươngtrình của mỗi bộ môn Dạy cho HS biết cách áp dụng các tri thức, kĩ năng, kĩxảo đã thu nhận được vào cuộc sống và lao động Phát triển khả năng nhậnthức của HS (tính quan sát, tính ham hiểu biết, khả năng tư duy logic, tích cựcsáng tạo) Tự đánh giá kết quả học tập của mình Luyện cho HS khả năng laođộng có kết quả, biết say mê vươn tới mục đích đặt ra Trên cơ sở đó HS biếtcách học và có năng lực tự học có khả năng học tập suốt đời, hoàn thiện nhâncách, thích ứng nhanh nhạy với những thách thức mới của cuộc sống trongbối cảnh hội nhập quốc tế, nền kinh tế tri thức.[11]

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã tạo ra khối lượng kiến thức tăngmột cách “siêu tốc” mâu thuẫn với quỹ thời gian học tập ở nhà trường có hạn,nên giáo dục phải dựa trên nguyên tắc “ Học tập thường xuyên, suốt đời” Do

Trang 28

đó cùng với việc dạy kiến thức đã lựa chọn cẩn thận, cập nhật thường xuyênthì phải hướng vào dạy người học phương pháp học hay còn gọi là dạy cáchhọc cho người học trong mối quan hệ với nội dung kiến thức, phải coi việcdạy phương pháp học là quan trọng và được xem như là vấn đề cốt lõi củadạy học giúp người học có khả năng tự học để học tập suốt đời

Như vậy có thể thấy Cốt lõi của việc dạy học là dạy cách học, dạy phương pháp học tập hiệu qua

1.2.6 Quan hệ tuyến tính giữa cách dạy và cách học.

Sản phẩm đầu tiên của nhà khoa học được sáng chế, phát minh bởi nhà khoahọc Những sản phẩm của nó khi đã có mặt trên thị trường thì không mangtính bác học nữa, vì thế bất kì người nào khi biết được quy trình tạo sản phẩmđó thì sẽ làm nên sản phẩm đó nhanh hơn và có khi tinh khiết hơn những sảnphẩm trước đây Giáo dục là lặp lại các công trình nghiên cứu khoa học,người giáo dục giúp học sinh tự mình làm lại công trình đó với QTCN họcsinh có thể làm lại sản phẩm đó dưới sự hướng dẫn của giáo viên Theo quanniệm cổ điển thì giáo viên đến lớp dựa vào kinh nghiệm của mình làm lại sảnphẩm theo những nguyên tắc và biện pháp khác nhau hướng dẫn cho học sinhquan sát , nghe diễn thuyết ghi nhớ Đối với cách dạy cổ truyền người giáoviên không kiểm tra được năng lực thực hành của người học mà điều này làcái thiết yếu cốt lõi là dạy cách học, cách làm cho người học Vì vậy khi ratrường người học rất vất vả lăn lộn với thực tiễn cuộc sống học phải học hỏikinh nghiệm và tạo ra sản phẩm đó rất tốn thời gian và công sức, họ thường làngười tụt hậu với thực tiễn luôn luôn phát triển Các nhà khoa học giáo dụcnhận thấy ở các nước chậm phát triển trình độ văn minh thấp thường đi theophương pháp trên (trong đó có Việt Nam) vậy nên thế hệ trẻ khó tiến nhữngbước đi đầu tiên về nhận thức văn minh, văn hóa của chính thời đại đangsống Theo quan điểm hiện đại thì dạy học là dạy chính sản phẩm mà nhânloại và các nhà khoa học đã làm tức là dạy QTCN Hiện nay dạy học theo

Trang 29

hướng giáo viên đưa ra tình huống bằng hệ thống câu hỏi logic học sinh tựlàm theo thiết kế của của thầy sai đâu thày hướng dẫn sửa chứ thầy không làmthay Bản thân mỗi người học có một QTCN riêng “ Mẹo vặt kinh nghiệm”trên cơ sở quá trình này giáo viên đánh giá được năng lực của trò , lúc này tròđã phân hóa được năng lực, giáo viên tiếp tục bổ xung những khiếm khuyếtđể tạo ra một QTCN cuối cùng, hoàn chỉnh và hợp với thời đại

Quá trình vừa học vừa hành theo hướng tự học có hướng dẫn để phát huy toànbộ nội lực người học Nhờ đó mà ở các nước phát triển trẻ con luôn tự tin vàvận động thích nghi trong xã hôi biến động từng giây, từng phút Ở nhữngđứa trẻ này có tính sáng tạo rất cao vì ngay từ bé chúng đã được huy động nộilực bản thể kết hợp với khả năng thích nghi theo hướng dạy học đổi mớikhông có sự can thiệp sâu vào nội dung nhận thức của thầy giáo Trong quátrình dạy học giáo viên giúp học sinh học theo hướng tích cực, dạy cho họcsinh cách học để bắt được nguồn tri thức cần có từ chính việc làm của mìnhtrên cơ sở đó tiếp xúc với thực tiễn người học có thể từ sản phẩm cũ tạo ra sảnphẩm mới chưa từng có Đây là nhiệm vụ của người học cũng là nguyên líphổ biến và mang tính bắt buộc đối với người học [1,2,3,4]

Như vậy có thể thấy với phương pháp dạy học cũ hay nói cách khác là vớicách dạy học theo hướng nội dung, có khái niệm trong đầu thầy, giáo viêntruyền khái niệm đó từ đầu mình sang học sinh nguyên vẹn bằng nhiều biệnpháp mà chủ yếu là giảng giải cặn kẽ, sau đó kiểm tra lại mức độ ghi nhớ củahọc sinh Yêu cầu đối với học sinh ở trường ghi là nhớ lời thày dạy một cáchdành mạch và nói lại suôn sẻ, thầy tuyên dương bằng điểm số và như thế họchỉ nhìn thấy cái bên ngoài mà không nhìn thấy cái đích thực bên trong củasản phẩm đó vì vậy người học ở giai đoạn đầu “học một biết một” nhưng càngngày học nhiều nhưng không biết gì, không có thời gian tư duy, tự tìm kiếm

ra một QTCN để nhận thức ra một sự vật, tức là không tự mình tìm ra cáchthức hay phương pháp để tiếp cận nhận thức sự vật hiện tượng, với cách dạy

Trang 30

này người học khó tồn tại trong xã hội vì xã hội luôn vận hành theo tri thứccông nghệ mới mà những điều người học tiếp thu được trong nhà trường lại

mơ hồ, không bản chất, khi ra cuộc sống họ phải làm lại từ đầu để tồn tại, phùhợp và phát triển thì học phải tự mày mò tự học lấy trong thực tiễn cuộc sống Phương pháp dạy học mới là phương pháp xác định được đối tượng hoạtđộng theo bản chất của nó, trên cơ sở đó mới đề ra phương thức giáo dục đểtổ chức cho bản thân người học chủ động , trực tiếp tác động đối tượng để tìm

ra con đường ngắn nhất, thuận tiện nhất, ít tốn kém nhất để nhận ra nó và vàchuyển vào bản thể của mình để sử dụng trong suốt thời kì tồn tại và pháttriển Người giáo viên khi dạy học với vai trò là người tổ chức, hướng dẫnhọc sinh tìm tòi QTCN để xây dựng nên khái niệm Tổ chức cho học sinh từhình thái vận động bên ngoài bằng thao tác tư duy kinh nghiệm , bằng nhữngvận động logic trong quá trình nhận thức để đi sâu vào bản chất bên trong củasự vật hiện tượng và bộc lộ ra khái niệm Trong quá trình đó người học vừatìm kiếm vừa học vừa rút ra kinh nghiệm để tìm ra logic trong quá trình nhậnthức và biện chứng của sự phát triển khái niệm của sự vật, hiện tượng và tìm

ra khái niệm đó bằng những dấu hiệu điển hình [8]

Tóm lại: Với PPDH truyền thống người học thụ động trong việc tiếp thu kiếnthức, chủ yếu là ghi nhớ và tái hiện tri thức, ít sáng tạo Với PPDH tích cựcgiúp người học sử dụng các cách thức làm việc và tư duy (phương pháp họctập), tích cực, chủ động sáng tạo tự khám phá và chiếm lĩnh tri thức, vận dụngthực hành các tri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộcsống và học được cách học để có khả năng học tập suốt đời

Như vậy phương pháp giảng dạy của giáo viên (Cách dạy) và cách học của

HS có mối quan hệ tuyến tính với nhau, phương pháp giảng dạy của giáo viênsẽ thúc đẩy và có ý nghĩa quyết định đến tích tích cực chủ động, sáng tạotrong nhận thức của học sinh và cách thức học tập, tự học, tự nghiên cứu, sựtập trung chú ý trong giải quyết các nhiệm vụ học tập, ý trí, khả năng linh

Trang 31

hoạt để đáp ứng lại những tình huống khác nhau, giải quyết vấn đề của ngườihọc

1.2.7 Phân loại các cách học

Trong tác phẩm Học và dạy cách học, các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Lê

Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo đã đưa ra quan niệm về cách học là cách tác độngcủa chủ thể đến đối tượng học vì vậy cách học rất đa dạng gồm:

+ Tác động trực tiếp: Cách thu nhận thông tin và xử lí thông tin, cách giảiquyết vấn đề

+ Tác động qua hợp tác: Phương pháp hợp tác

+ Tác động qua thông tin phản hồi: tự kiếm tra, tự điều chỉnh, rút kinhnghiệm

Các tác giả Đinh Quang Báo, Nguyễn Văn Đản, Trịnh Nguyên Giao, Vũ

Thị Sơn, Phạm Thị Kim Anh trong đề tài Nghiên cứu, biên soạn tài liệu cách học cho sinh viên đại học sư phạm đã đưa ra phân loại các cách học như sau:

+ Phân loại cách học theo các mục tiêu học: Cách học để biết-hiểu; cách họcphân tích-tổng hợp; cách học vận dụng

+ Phân loại cách học theo mô hình lí thuyết thông tin: Cách thu nhận thôngtin; cách ghi nhớ, lưu trữ thông tin; cách xử lí thông tin; cách vận dụng thông

tin để giải quyết vấn đề; cách diễn đạt tri thức thu được từ việc xử lí thông tin

+ Phân loại cách học theo tính chất nội dung học: Cách học kiến thức líthuyết; cách học kĩ năng thực hành

+ Phân loại cách học theo nguồn cung cấp thông tin: cách học từ bài giảngcủa thầy;học từ ấn phẩm; học từ mẫu vật; học từ mô hình mô phỏng; học từInternet;phim, băng, đĩa CD

+ Phân loại cách học theo tính xã hội của việc học: Cách học cá nhân, cáchhọc theo nhóm nhỏ, cách học theo cặp, cách học trong lớp đông

Trang 32

+ Phân loại cách học theo mục đích lí luận dạy học: Cách học nội dung mới;cách học khi ôn tập; cách học khi đánh giá, thu nhận thông tin phản hồi đểđiều chỉnh, hoàn thiện tri thức [14].

Theo các tác giả có nhiều cách học cụ thể khác nhau nhưng đều có bản chấtchung là cách tác động của người học đến đối tượng học, bằng tất cả các cáchthức làm việc và tư duy được người học sử dụng để tổ chức và thực hiện quátrình học tập của mình một cách có hiệu quả nhất

1.3 Cơ sở thực tiễn dạy cách học ở các trường THPT ở Việt Nam

1.3.1.Thực trạng chất lượng dạy và học ở một số trường THPT miền núi thuộc Sở giáo dục và Đào tạo Hòa Bình

Sử dụng phương pháp phỏng vấn Hiệu trưởng, GV thuộc 15 trường THPTmiền núi thuộc Sở giáo dục và Đào tạo Hòa Bình cho thấy nhìn chung trongkhoảng 10 trở lại đây Sở giáo dục và Đào tạo Hòa Bình hàng năm vào dịpchuẩn bị bước vào năm học mới thường xuyên tổ chức các chuyên đề tậphuấn cho GV các cấp về đổi mới PPDH trong đó có cấp THPT nhằm trang bịcho giáo viên những tri thức về lí luận dạy học hiện đại cũng như các kĩ năng,kĩ thuật dạy học, PPDH hiện đại phát huy tích tích cực , chủ động, sáng tạocủa học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, ngoài ra trong năm học Sởgiáo dục và Đào tạo Hòa Bình xây dựng các công văn hướng dẫn tích cực đổimới PPDH theo hướng tích cực hóa người học về từng trường, từ trường triểnkhai tới các tổ chuyên môn thực hiện, thăm lớp dự giờ, trao đổi chuyên môn,kinh nghiệm giảng dạy giữa các giáo viên trong tổ chuyên môn về công tácđổi mới phương pháp dạy và học, đa số giáo viên nhận thức được hiệu quảcủa việc đổi mới PPDH và đã được nhiều giáo viên áp dụng hiệu quả và sángtạo ở các trường THPT của Tỉnh đặc biệt là ở trường chuyên Hoàng Văn Thụ,trường dân tộc nội trú Hòa Bình, các trường THPT nằm quanh địa bàn thànhphố Hòa Bình và ở các lớp chuyên, chọn Nên trong những năm qua chấtlượng dạy học của Tỉnh Hòa Bình có những chuyển biến đáng kể, tỉ lệ HS đỗ

Trang 33

tốt nghiệp cao hơn, tỉ lệ HS thi đỗ vào các trường Đại học và Cao đẳng nhiềuhơn

Ở các trường THPT ở những địa bàn xa trung tâm tỉnh thuộc các vùng sâu,vùng xa như Huyện Lạc Thủy, Thông qua việc trao đổi, dự giờ, rút kinhnghiệm với GV chúng tôi nhận thấy hầu hết các GV khi soạn bài cũng có chúý đến soạn bài theo hướng đổi mới rèn luyện kĩ năng tự đọc SGK tìm ra câutrả lời cho câu hỏi mà GV đặt ra nhưng phần lớn là ở mức độ thấp vì nhữnghạn chế của HS miền núi, GV thường chỉ sử dụng những câu hỏi mang tínhtái hiện và ít sử dụng những câu hỏi mang tính tư duy sâu, sáng tạo và nhữngcâu hỏi, bài tập gắn liền với những tình huống trong thực tiễn đời sống laođộng và sản xuất, chỉ hướng HS đơn giản là đọc lại những gì trong SGK, cóthể đọc và hiểu nhưng khả năng vận dụng kiến thức và sáng tạo thì chưa cao

Do đó chưa phát huy được khả năng tư duy sáng tạo, năng lực tự nghiên cứuSGK, tài liệu tham khảo, GV chưa trang bị cho HS tri thức để trả lời cho câuhỏi “Người ta học tập như thế nào?” cũng như không dành thời gian cho việcgợi ý cho học sinh suy ngẫm và rút kinh nghiệm về cách học tập của mình đểtừ đó rèn luyện thành kĩ năng học tập có hiệu quả cao Thông qua giảng dạynội dung GV chưa thực sự chú ý đến dạy cách học cho HS Do vậy mà chấtlượng dạy và học ở các trường THPT miền núi thuộc các huyện vùng sâu xacủa Tỉnh Hòa Bình còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực choxã hội trong giai đoạn hiện nay

1.3.2 Thực trạng giáo viên dạy cách học cho học sinh miền núi

1.3.2.1 Nội dung, đối tượng, hình thức điều tra

Để xác định thực trạng việc dạy cách học, rèn luyện khả năng tự họccho HS miền núi nói chung và trong dạy học sinh học cũng như trong dạy họcphần sinh học VSV nói riêng chúng tôi đã thực hiện điều tra thực trạng

* Nội dung điều tra:

Trang 34

- Nhận thức của GV miền núi về tầm quan trọng của việc dạy cách học cho

HS miền núi trong dạy học

- Nhận thức của GV miền núi về mối quan hệ giữa cách dạy của GV và cáchhọc của HS

- Thực trạng việc dạy cách học trong môn Sinh học của GV ở một số trườngTHPT thuộc các Huyện vùng sâu, vùng xa của Tỉnh Hòa Bình

* Đối tượng điều tra: 50 GV dạy môn Sinh Học ở các Trường THPT, Trung

Tâm GDTX thuộc các Huyện vùng sâu, vùng xa của Tỉnh Hòa Bình nơi tỉ lệ

HS thuộc đồng bào dân tộc thiểu số chiếm nhiều, điều kiện kinh tế, đường xá

đi lại khó khăn như: Huyện Kim Bôi, huyện Yên Thủy, Huyện Mai Châu,Huyện Đà Bắc, Huyện Lạc Thủy, Huyện Tân Lạc

* Hình thức điều tra: Sử dụng phiếu hỏi (phụ lục số 1) khảo sát với 50 GV

sinh học đã và đang trực tiếp giảng dạy sinh học THPT của 15 trường THPTvà Trung Tâm GDTX thuộc các Huyện miền núi của tỉnh Hòa Bình năm học2015- 2016, tham khảo bài soạn, thông qua gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với GV,dự giờ dạy của GV dạy sinh học ở 3 trường thực nghiệm Trường THPT LạcThủy A, Trường THPT Lạc Thủy B, Trung Tâm GDTX Lạc Thủy của HuyệnLạc Thủy là Huyện miền núi của Tỉnh Hòa Bình

1.3.2.2 Kết quả điều tra

- Nhận thức của GV về vai trò và tầm quan trọng của việc dạy cách học cho

HS miền núi trong dạy học Sinh học được trình bày ở bảng 1.1

Bảng 1.1 Kết quả điều tra nhận thức của GV về vai trò và tầm quan trọng của việc dạy cách học cho HS miền núi trong dạy học Sinh học

Câu hỏi Tỉ lệ các mức độ (tính

theo %)

1 Theo anh (Chị) việc dạy cách học, rèn luyện

các kĩ năng học tập chủ động cho HS miền núi

Trang 35

2 Theo anh (chị) đối với khả năng của HS miền

núi thì điều quan trọng trong dạy học là truyền

tải được hết nội dung cơ bản cốt lõi và ngắn gọn

nhất của bài học

3 Đối với anh (chị) thì quan niệm thông qua nội

dung kiến thức để rèn các kĩ năng học tập cho

HS miền núi với tốc độ phù hợp

(Các mức độ: 1-Không đồng ý; 2-Phân vân; 3- Đồng ý; 4-Hoàn toàn đồng ý)

Kết quả điều tra trong bảng 1.1 có tới 40% GV không đồng ý và 20% làcòn phân vân với việc dạy cách học, rèn luyện các kĩ năng học tập chủ độngcho HS miền núi trong quá trình giảng dạy nội dung là cần thiết, điều này chothấy phần lớn GV chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy cách họcvà rèn luyện các kĩ năng học tập cho HS miền núi, với tỉ lệ 60% đồng ý vớiviệc đối với khả năng của HS miền núi thì điều quan trọng trong dạy học làtruyền tải được hết nội dung cơ bản cốt lõi và ngắn gọn nhất của bài học, chỉmột số ít GV (32%) đồng ý với việc thông qua nội dung kiến thức cần rèn cáckĩ năng học tập cho HS miền núi với tốc độ phù hợp

Như vậy từ kết quả ta có thể thấy đa số GV miền núi vẫn còn coi trọng việctruyền thụ hết nội dung kiến thức của bài dạy theo quy định, có ý kiến chorằng GV cần phải dạy nội dung kiến thức cốt lõi, cơ bản, ngắn gọn để HS nhớbài ngay tại lớp vì về nhà các em không có nhiều thời gian để học bài vàchuẩn bị bài Tuy nhiên cũng có ý kiến phân vân có nên hay không nên dạycách học, rèn luyện các kĩ năng học tập chủ động cho HS miền núi trong quátrình giảng dạy nội dung bởi những hạn chế về nhận thức, khả năng giao tiếp,khả năng sử dụng ngôn ngữ, thuyết trình , điều kiện vật chất, thời gian chohọc tập thì việc dạy cách học chủ động cho HS miền núi là khó khả thi vàvẫn Đồng thời vẫn có ý kiến phân vân trước vấn đề thông qua nội dung kiếnthức để rèn các kĩ năng học tập cho HS miền núi vì như thế sẽ mất thời gian

Trang 36

“cháy giáo án” mà vấn đề quan trọng là trang bị cho HS những kiến thức khoahọc theo SGK

- Nhận thức của GV miền núi về mối quan hệ giữa cách dạy của GV và cáchhọc của HS trong DH Sinh học được trình bày ỏ bảng 1.2

Bảng 1.2 Kết quả điều tra nhận thức của GV miền núi về mối quan hệ

giữa cách dạy của GV và cách học của HS trong DH Sinh học

Câu hỏi Tỉ lệ các mức độ (tính

theo %)

4 Theo tôi cách dạy của GV có liên quan chặt

chẽ với cách học của HS

5 Theo tôi với cách dạy định hướng nội dung

không phát huy được sự tích cực, chủ động, sáng

tạo HS, hình thành thói quen học tập thụ động ở

HS

6 Theo tôi việc sử dụng PPDH tích cực, lấy

người học làm trung tâm có thể sử dụng với đối

tượng HS miền núi và thông qua dạy nội dung

dạy HS cách học chủ động

(Các mức độ: 1-Không đồng ý; 2-Phân vân; 3- Đồng ý; 4-Hoàn toàn đồng ý)

Kết quả từ bảng 1.2 cho thấy có tới 84% số giáo viên nhận thức được mốiquan hệ giữa cách dạy và cách học của học sinh, cách dạy của GV ảnh hưởngnhiều đến cách học của HS nhưng vẫn có tới 32% số giáo viên vẫn ủng hộcách dạy định hướng nội dung, 34% GV cho rằng vẫn nên sử dụng PPDHtruyền thống như thuyết trình, giảng giải, nếu có rèn luyện cho HS miền núikhả năng tự học thì chỉ ở mức độ thấp là tự đọc SGK trả lời cho các câu hỏivề kiến thức khái niệm, còn những câu hỏi cần tư duy cao, khái quát như lập

sơ đồ, bảng tổng kết, cơ chế, quá trình, là không khả thi., 38% GV còn phânvân trong vấn đề sử dụng cách dạy nào để phù hợp với đối tượng HS miền núi

Trang 37

Như vậy có thể thấy đa số GV miền núi còn chưa thực sự nhận thức được tầmquan trọng của việc đổi mới PPDH và nỗ lực trong đổi mới PPDH

- Thực trạng việc dạy cách học trong môn Sinh học của GV ở một số trường THPT thuộc các Huyện vùng sâu, vùng xa của Tỉnh Hòa Bình được trình bày ở bảng 1.3; 1.4

Bảng 1.3 Kết quả điều tra thực trạng việc dạy cách học trong môn Sinh học của GV ở một số trường THPT thuộc các Huyện vùng sâu, vùng xa

của Tỉnh Hòa Bình

Câu hỏi Tỉ lệ các mức độ (tính

theo %)

7 Tôi thấy HS miền núi sẽ học tốt hơn nếu kiến

thức được đưa vào thực hành ngoại khóa, những

tình huống có nghĩa, giải thích những hiện

tượng hoặc ứng dụng được ngay vào thực tiễn,

lao động sản xuất hàng ngày của các em

8 Đối với tôi khi dạy học việc cố gắng tìm hiểu

vế quá trình nhận thức, điều kiện và đặc điểm

tâm sinh lí của HS miền núi là rất quan trọng

9 Tôi thấy HS miền núi có vốn tri thức thực tiễn

phong phú hơn HS thành phố do vậy trong giảng

dạy giáo viên cần dạy cho HS cách huy động

vốn kinh nghiệm của mỗi cá nhân để tự chiếm

lĩnh tri thức của bài học và sử dụng một cách

thành thạo vào giải quyết các tình huống thực

tiễn

10 Tôi thấy rằng việc rèn luyện HS miền núi kĩ

năng lập sơ đồ, hoặc bảng tổng kết kiến thức sau

khi học xong một bài /chương sẽ giúp HS lưu

Trang 38

11 Sau mỗi bài học tôi thấy cần dành thời gian

cho HS suy ngẫm về cách học của mình để rút

kinh nghiệm cho bản thân học tập có hiệu quả

hơn

12.Theo tôi khi xây dựng mục tiêu của chủ đề

cần sử dụng các mục tiêu đã được phát biểu sẵn

trong SGV và sách hướng dẫn chuẩn kiến thức

kĩ năng và một số mục tiêu kiến thức khác phù

hợp với đối tượng HS miền núi và rèn luyện kĩ

năng học tập tương ứng

13 Theo tôi khi bắt đầu vào học chủ đề mới GV

cần đặt vấn đề theo kiểu bắc cầu kiến thức từ

những kiến thức HS đã học có liên quan đến các

vấn đề sẽ được học trong chủ đề mới

14 Khi xây dựng các câu hỏi/ bài tập dạy cách

học, rèn luyện kĩ năng tự học cho HS miền núi

thì GV cần xây dựng loại câu hỏi/ bài tập ở các

mức độ từ tái hiện đến hiểu, vận dụng , sáng tạo

phù hợp với đặc điểm của HS miền núi

15.Theo tôi cần phải rèn luyện cho HS miền núi

các kĩ năng lập kế hoạch học tập, kĩ năng thu

thập xử lí thông tin, kĩ năng viết báo cáo, hình

thành và phát triển năng lực tự học

(Các mức độ: 1-Không đồng ý; 2-Phân vân; 3- Đồng ý; 4-Hoàn toàn đồng ý)

Từ kết quả bảng 1.3 cho thấy 100% GV đồng ý với việc HS miền núi sẽ học tốt hơn nếu kiến thức được đưa vào thực hành ngoại khóa, đưa vào những tình

huống có nghĩa, giải thích những hiện tượng hoặc ứng dụng được ngay vàothực tiễn, lao động sản xuất hàng ngày của các em sẽ làm cho HS miền núi cóhứng thú học bộ môn sinh học hơn và học tập hiệu quả hơn và 100% GV cho

Trang 39

niềm núi trong dạy học là điều rất quan trọng như vậy có thể thấy GV miềnnúi rất hiểu về đối tượng giảng dạy của mình Nhưng có tới 74% GV chưatừng dành thời gian cho HS suy ngẫm về cách học của mình để rút kinhnghiệm cho bản thân học tập có hiệu quả hơn, 24% GV thiết kế giáo án chủyếu dựa vào SGK, sách giáo viên, mang tính hình thức, chưa chú ý đến rèn kĩnăng học tập, có tới 64% GV không đồng ý với việc cần phải rèn luyện cho

HS miền núi các kĩ năng lập kế hoạch học tập, kĩ năng thu thập xử lí thôngtin, kĩ năng viết báo cáo, hình thành và phát triển năng lực tự học

Bảng 1.4 Kết quả điều tra thực trạng việc dạy cách học trong môn Sinh học của GV ở một số trường THPT thuộc các Huyện vùng sâu, vùng xa

của Tỉnh Hòa Bình

Thườngxuyên

16

Khi soạn bài, các thầy cô đã chú ý

đến xây dựng mục tiêu, phương

pháp và mức độ đạt được của việc

dạy cách học cho HS ?

17

Khi xây dựng các câu hỏi/bài tập

để hướng dẫn HS tự học SGK thì

thầy cô xây dựng loại câu hỏi/bài

tập sau đây ở mức độ nào?

18 Trong khâu nghiên cứu tài liệu

mới, các thầy cô sử dụng câu

hỏi/bài tập nhằm mục đích sau đây

Trang 40

ở mứcđộ nào?

Định hướng HS tự đọc SGK

Định hướng, hướng dẫn HS tự đặt

câu hỏi phát hiện kiến thức trên

lớp

19 Những loại kiến thức sau HS

thường khó trả lời ở mức độ nào?

20 Khi HS gặp khó khăn trong việc trả

lời câu hỏi/bài tập thì các thầy cô

hướng dẫn bằng các cách sau ở

mức độ nào?

Đưa ra các câu hỏi phụ để gợi ý ra

từng vấn đề nhỏ

Chỉ giải thích một chút và để HS

tiếp tục suy nghĩ

Dừng lại và trả lời toàn bộ đáp án 5 10 10 20 35 70

21 Sau mỗi nội dung học tập các thầy

cô thường yêu cầu HS hệ thống hóa

kiến thức ở mức độ nào?

Đưa ra sơ đồ hoặc bảng hệ thống

hóa kiến thức đã thiết kế sẵn để

giảng giải cho HS

Đưa ra sơ đồ hoặc bảng với những

tiêu chí có sẵn hệ thống hóa kiến

Ngày đăng: 02/04/2017, 08:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w