Những khó khăn trong việc rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi...51 Bảng 2.5.. Các biện pháp rèn luyện kỹ năng xử lý tình huố
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Quang Uẩn
đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thựchiện luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy Cô giáo trong khoaGiáo dục Đặc biệt đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quátrình học tập ở khoa và thực hiện nghiên cứu luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, giáo viên của hai cơ sởgiáo dục đặc biệt là Trung tâm hỗ trợ trẻ khuyết tật trí tuệ Hoa Anh Đào và
Cơ sở mầm non chuyên biệt Biển Dương đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôitrong quá trình khảo sát và thực nghiệm tại trung tâm
Tôi xin tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã độngviên, chia sẻ những khó khăn trong suốt thời gian qua, giúp tôi hoàn thànhluận văn
Hà nội ngày 2 tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn
Mai Kim Phượng
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kếtquả của luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳcông trình nào khác
Hà Nội, tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
Mai Kim Phượng
Trang 4DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1 Thông tin về giáo viên và cha mẹ có trẻ tự kỷ 44 Bảng 2.2 Thông tin về trẻ trẻ tự kỷ 44 Bảng 2.3: Những thuận lợi trong việc rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 48 Bảng 2.4 Những khó khăn trong việc rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 51 Bảng 2.5 Kết quả thực hiện các mục tiêu rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 55 Bảng 2.6 Kết quả thực hiện các nội dung rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 58 Bảng 2.7 Kết quả thực hiện các hình thức rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 61 Bảng 2.8 Kết quả sử dụng các phương pháp rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 64 Bảng 2.9: Kết quả thực hiện các bước rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 66 Bảng 2.10: Kết quả xây dựng và sử dụng môi trường, phương tiện, điều kiện, cơ sở vật chất phục vụ cho việc rèn luyện trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 68 Bảng 2.11: Các yếu tố ảnh hưởng đến việc rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 75 Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm nhận thức mức độ cần thiết và đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất 104
Bảng 3.2 Kết quả giải tình huống trước và sau thực nghiệm 111
Trang 5DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Thực trạng rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống giao tiếp với bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 71
Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất dành cho giáo viên, cha mẹ có trẻ tự kỷ 101
Sơ đồ 3.2 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất dành cho trẻ tự kỷ 102
Sơ đồ 3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất dành cho giáo viên, cha mẹ có trẻ tự kỷ và các biện pháp đề xuất dành cho trẻ tự kỷ 103
Biểu đồ 3.1 Tổng hợp kết quả giải tình huống giả định trong rèn luyệnKNXLTH giao tiếp với bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 113
MỤC LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5
7 Các phương pháp nghiên cứu 6
8 Cấu trúc luận văn 8
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG 10
XỬ LÝ TÌNH HUỐNG TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP VỚI 10
CÁC BẠN CHO TRẺ TỰ KỶ 4 - 5 TUỔI 10
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề 10
1.2 Một số vấn đề lý luận về trẻ tự kỷ và hoạt động giao tiếp của trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 17
1.2.1 Khái niệm trẻ tự kỷ 17
1.2.2 Hoạt động giao tiếp của trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 19
1.3 Kỹ năng xử lý tình huống giao tiếp của trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 23
1.3.1 Khái niệm kỹ năng 23
1.3.2 Khái niệm kỹ năng xử lý tình huống 24
1.3.3 Khái niệm kỹ năng xử lý tình huống giao tiếp với bạn của trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 24
1.3.4 Khái niệm rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống giao tiếp với bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 26
1.3.5 Những thuận lợi và khó khăn trong rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống giao tiếp với bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 27
1.4 Các biện pháp rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 29
Trang 71.4.1 Khái niệm biện pháp rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong
hoạt động giao tiếp với bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 29
1.4.2 Biện pháp rèn luyện kỹ năng xử lý tình huốngtrong hoạt động giao tiếp với bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 30
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 38
1.5.1 Các yếu tố chủ quan 38
1.5.2 Các yếu tố khách quan 40
Tiểu kết chương 1 42
THỰC TRẠNG RÈN LUYỆN KỸ NĂNG XỬ LÝ TÌNH HUỐNG TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP VỚI CÁC BẠN 43
CHO TRẺ TỰ KỶ 4 - 5 TUỔI 43
2.1 Khái quát về quá trình khảo sát thực trạng 43
2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 47
2.2.1 Những thuận lợi và khó khăn trong việc rèn luyện kỹ năng xử lý tình huốngtrong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi.47 2.2.2 Thực hiện các mục tiêu rèn luyện kỹ năng xử lý tình huốngtrong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 54
2.2.3 Thực hiện các nội dung rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 58
2.2.4 Thực hiện các hình thức rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 61
2.2.5 Sử dụng các phương pháp rèn luyện kỹ năng xử lý tình huốngtrong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 63
2.2.6 Thực hiện các bước rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 65
Trang 82.2.7 Xây dựng và sử dụng môi trường, phương tiện, điều kiện, cơ sở vật chất phục vụ cho việc rèn luyện kỹ năng xử lý tính huốngtrong hoạt động
giao tiếp cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 68
2.2.8 Đánh giá chung về thực trạng rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 70
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 75
Tiểu kết chương 2 77
Chương 3 79
MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM RÈN LUYỆN KỸ NĂNG XỬ LÝ TÌNH HUỐNG TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP .79
CHO TRẺ TỰ KỶ 4 - 5 TUỔI 79
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 79
3.2 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với các bạn của trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 81
3.2.1 Các biện pháp dành cho giáo viên và cha mẹ có trẻ tự kỷ 81
3.2.2 Các biện pháp dành cho trẻ tự kỷ 92
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 100
3.4 Khảo nghiệm nhận thức mức độ cần thiết và đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với các bạn của trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi 103
3.5 Thực nghiệm biện pháp đề xuất 106
Tiểu kết chương 3 113
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 115
1 Kết luận 115
2 Khuyến nghị 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trang 10đã có những mô tả khá tỉ mỉ, cụ thể về chứng tự kỷ ở trẻ em [35] Năm 1979,Lorna Wing đưa ra khái niệm rối loạn phổ tự kỷ [39] Càng về sau, nhữngnghiên cứu về chứng tự kỷ ở trẻ em trở nên phong phú và chi tiết hơn, cácphương pháp giáo dục trẻ tự kỷ cũng rất đa dạng như phương pháp TEACCH(Treatment Education Autistic Children Communication Handicapped) được
áp dụng nhiều trên thế giới từ năm 1960 đến nay; Phương pháp ABA(Applied Behavior Analysis - Phân tích hành vi ứng dụng) của tác giả IvanLovass; phương pháp can thiệp phát triển quan hệ xã hội RDI (RelationshipDevelopment Intervention) của tác giả Steven Gutstein
Ở Việt Nam, trong khoảng 15 năm trở lại đây, việc nghiên cứu về tự kỷ
ở trẻ, ứng dụng các phương pháp của nước ngoài vào việc trị liệu và canthiệp, giảm thiểu chứng tự kỷ ở trẻ được quan tâm, thể hiện qua nhiều luậnvăn, luận án, các công trình nghiên cứu của các tác giả làm công tác nghiên
Trang 11cứu và các tác giả là các bác sỹ tâm lý ở các bệnh viện Có thể kể đến các tácgiả có những nghiên cứu sớm nhất về trẻ tự kỷ là Trung tâm NT do bác sỹNguyễn Khắc Viện thành lập năm 1989 Năm 2004, tác giả Lê Khanh xuấtbản công trình: “Trẻ tự kỷ - những thiên thần bất hạnh”, gần đây là: Nghiêncứu nhận thức của trẻ tự kỷ tại Thành phố Hồ Chí Minh (2009) của tác giảNgô Xuân Điệp, Lã Thị Bắc Lý với công trình: Giáo dục hoà nhập trẻ khuyết
tật lứa tuổi mầm non (2016)
Những nghiên cứu trên chứng tỏ được chứng tự kỷ ở trẻ dành được sựquan tâm của nhiều nhà khoa học và nhiều nước trên thế giới, với mục tiêugiúp trẻ em có những rối nhiễu về kỹ năng quan hệ xã hội, nhận thức và giaotiếp có thể hòa nhập với cuộc sống xã hội Tuy nhiên, chúng ta thấy cácnghiên cứu trên chủ yếu tập trung ở việc phát hiện chứng tự kỷ ở trẻ và cho rađời các bộ công cụ để can thiệp, giảm thiểu chứng tự kỷ và chưa có nghiêncứu về rèn luyện KNXLTH giao tiếp với bạn ở trẻ tự kỷ
1.2 Về thực tiễn
Các nhà khoa học đã công bố những nghiên cứu cho thấy đa số nhữngbiện pháp can thiệp đối với trẻ tự kỷ hiện nay có tác dụng giúp trẻ nâng caokhả năng nhận thức nhưng trẻ vẫn không biết cách giải quyết các vấn đề phứctạp của cuộc sống Trẻ có thể có kiến thức tốt nhưng không biết cách áp dụngmột cách linh hoạt vào hoàn cảnh cụ thể Nghiên cứu của các nhà khoa họcAnh, Mỹ chỉ ra có 3-5% người tự kỷ có một công việc và một cuộc sống độclập do họ vẫn không khắc phục được những khiếm khuyết giao tiếp xã hội khibước vào tuổi trưởng thành [49]
Những nghiên cứu ban đầu, Kanner (1943) [46] cho rằng trẻ tự kỷ chủyếu xuất thân từ các gia đình khá giả, thuộc tầng lớp trên của xã hội Cácnghiên cứu sau đã phê phán nghiên cứu trên là sai và hầu hết được thực hiệntrước năm 1970 và sau năm 1970 các nghiên cứu đều thấy bệnh phân bố đều
Trang 12trong các thành phần dân cư [46] Trong nhiều năm trước đây, hội chứng tự kỷxuất hiện rất hiếm, chỉ với tỉ lệ 5/10.000 trẻ em Từ những năm đầu năm
1990, tỉ lệ những người mắc hội chứng rối loạn phổ tự kỷ tăng một cáchnhanh chóng trên toàn thế giới với tỷ lệ 60/10.000 trẻ em [48] Theo mộtnghiên cứu mới đây, trong số 88 trẻ sinh ra thì có 1 trẻ được chẩn đoán là mắcchứng rối loạn phổ tự kỷ [48] Gần đây nhất, năm 2016, Mỹ công bố tỷ lệtrẻ mắc chứng rối loạn phổ tự kỷ là 1/66 [50]
Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của một số tác giả, tỷ lệ mắc chứng tự kỷ
ở trẻ em vào khoảng 3,4/1000 trẻ, trẻ nam mắc chứng tự kỷ cao gấp 3 lần sovới nữ [49] Một nghiên cứu khác cho thấy, ở Việt Nam, từ năm 2000 đến nay,
số lượng trẻ được chẩn đoán và điều trị tự kỷ ngày càng tăng, xu thế mắc tự
kỷ tăng nhanh từ 122% đến 268% trong giai đoạn 2004 - 2007 so với năm
2000 [50]
Với các số liệu như trên đã cho thấy thực trạng trẻ em có mắc chứng tự
kỷ ngày càng gia tăng, điều đó đồng nghĩa với việc phải có chiến lược giáodục trẻ tự kỷ Tuy nhiên, cho đến nay, Nhà nước chưa có văn bản nào nói vềviệc chăm sóc hoặc có chế độ dành cho trẻ tự kỷ Để giải quyết thực trạngtrên, nhiều cơ sở giáo dục trẻ tự kỷ trên cả nước đã được mở ra, nhiều nhất ởhai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Song các trung tâm,
cơ sở giáo dục mầm non chuyên biệt cho trẻ tự kỷ còn chiếm số lượng rất ít
Đối với trẻ tự kỷ thì việc được học các kỹ năng để xử lý những tìnhhuống xảy ra trong sinh hoạt hàng ngày là vô cùng cần thiết Đặc điểm của trẻ
tự kỷ là giao tiếp kém, khó khăn trong tương tác với người khác, hay phátsinh những hành vi không mong muốn Điều này một phần cũng là do trẻchưa có những kỹ năng xử lý có kết quả các tình huống sinh hoạt, trong đó cócác tình huống giao tiếp Trẻ tự kỷ có kỹ năng xử lý tình huống tốt sẽ dễ dànghòa nhập với môi trường xung quanh hơn, chủ động khi giao tiếp với mọi
Trang 13người, có những cách xử lý phù hợp khi tình huống có vấn đề xảy ra Có kỹnăng xử lý tình huống tốt cũng giúp trẻ tự kỷ giảm thiểu được những hành vikhông mong muốn, tự tin hơn trong các sinh hoạt hàng ngày
Với mong muốn góp phần giúp cho giáo viên, cha mẹ có trẻ tự kỷ có kỹnăng rèn luyện KNXLTH giao tiếp với bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi, tôi đã
chọn đề tài “Biện pháp rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động
giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4-5 tuổi” để nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống cho
trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi trong giao tiếp với bạn, từ đó đề xuất một số biện pháp rènluyện các kỹ năng này, nhằm góp phần giúp trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi xử lý tốt hơncác tình huống giao tiếp với bạn
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Các biện pháp rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống giao tiếp với bạncho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi
4 Giả thuyết khoa học
Chúng tôi giả định rằng: Ở các trung tâm có trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi, giáoviên, cha mẹ có trẻ tự kỷ đã tiến hành rèn luyện KNXLTH giao tiếp cho trẻ cókết quả, nhưng còn nhiều bất cập, trong đó hiệu quả rèn luyện KNXLTH giaotiếp cho trẻ chưa cao Nếu đề xuất được các biện pháp rèn luyện phù hợp với
Trang 14nhu cầu và đặc điểm của trẻ thì có giúp trẻ có các KNXLTH có kết quả hơn,giúp trẻ hòa nhập tốt hơn trong môi trường giao tiếp hàng ngày.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu những vấn đề lý luận về trẻ tự kỷ và các biện pháp rèn
luyện KNXLTH trong giao tiếp cho trẻ tự kỷ
5.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng các biện pháp rèn luyện KNXLTH
trong giao tiếp cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi trong giao tiếp với bạn, lý giải nguyênnhân thực trạng
5.3 Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp rèn luyện KNXLTH giao
tiếp với bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi ở trung tâm hỗ trợ trẻ khuyết tật trí tuệHoa Anh Đào Hà Nội, 2 cơ sở giáo dục mầm non chuyên biệt Biển Dương,thành phố Vinh
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- 55 cha mẹ có trẻ tự kỷ đang học tại: Trung tâm hỗ trợ trẻ khuyết tật trítuệ Hoa Anh Đào Hà Nội, cơ sở mầm non chuyên biệt Biển Dương, thành phốVinh, Nghệ An
* Khách thể thực nghiệm
- 3 trẻ tự kỷ mức độ trung bình
Trang 156.2 Về đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp rèn luyện KNXLTH giao tiếp với bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5tuổi
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc rèn luyện KNXLTH giao tiếp cho trẻ tựkỷ
6.3 Địa bàn nghiên cứu
Trung tâm hỗ trợ trẻ khuyết tật trí tuệ Hoa Anh Đào, quận Long Biên,thành phố Hà Nội và 2 cơ sở giáo dục mầm non chuyên biệt Biển Dương,thành phố Vinh, Nghệ An
6.4 Thời gian nghiên cứu
Năm học: 2015 - 2016
7 Các phương pháp nghiên cứu
7.1 Nguyên tắc phương pháp luận chỉ đạo việc nghiên cứu
- Nguyên tắc tiếp cận hoạt động
- Nguyên tắc tiếp cận hệ thống
- Nguyên tắc phù hợp với đối tượng
- Nguyên tắc phát triển
Luận văn sử dụng phối hợp một số phương pháp nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
+ Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa xâydựng cơ sở lý luận cơ bản của đề tài (tổng quan về các vấn đề lý luận của đềtài)
+ Thiết kế bộ công cụ điều tra, đánh giá
7.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.3.1 Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến chuyên gia trong lĩnh rèn luyện KNXLTH cho trẻ tự
kỷ 4 - 5 tuổi, sự cần thiết của việc rèn luyện KNXLTH cho trẻ tự kỷ
Trang 167.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mục tiêu: Thu thập ý kiến từ giáo viên, cha mẹ có trẻ tự kỷ về biểuhiện mức độ KNXLTH giao tiếp với bạn của trẻ để đánh giá thực trạng rènluyện KNXLTH cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi
- Nội dung: Những câu hỏi dành cho giáo viên và cha mẹ có trẻ tự kỷ
- Cách tiến hành: Sử dụng bảng hỏi dành cho giáo viên, cha mẹ có trẻ
tự kỷ và phân tích các ý kiến thu được
7.3.3 Phương pháp quan sát
- Mục tiêu: Thu thập thông tin về KNXLTH của trẻ trong giao tiếp vớibạn và hình thức tổ chức, biện pháp rèn luyện KNXLTH của giáo viên để có
cơ sở đánh giá thực trạng việc rèn luyện KNXLTH cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi
- Nội dung: Quan sát các hình thức tổ chức, biện pháp rèn luyệnKNXLTH của giáo viên
rõ hơn các nội dung thu thập được từ phiếu hỏi
- Nội dung: Các câu hỏi về nội dung, biện pháp rèn luyện KNXLTHcho trẻ
- Cách tiến hành: Đặt câu hỏi trực tiếp đối với giáo viên và cha mẹ trẻ
có trẻ tự kỷ và ghi lại những ý kiến đó để làm cơ sở phân tích
7.3.5 Phương pháp thực nghiệm
Trang 17- Mục tiêu: Tổ chức thực nghiệm các biện pháp rèn luyện KNXLTH
giao tiếp với bạn cho trẻ Tự kỷ 4 - 5 tuổi để kiểm nghiệm tính khoa học vàkhẳng định tính khả thi của biện pháp đã đề xuất
- Nội dung: Thực nghiệm các biện pháp đề xuất rèn luyện KNXLTH
giao tiếp với bạn trên trẻ tự kỷ, và hướng dẫn cách thực hiện các biện phápđó
- Cách thức tiến hành: Thực nghiệm được tiến hành theo các bước:
+ Đánh giá nhu cầu, khả năng của trẻ
+ Lập kế hoạch rèn luyện KNXLTH cho trẻ
+ Thực hiện kế hoạch rèn luyện KNXLTH
+ Đánh giá kết quả thực nghiệm
7.3.6 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
- Mục tiêu: Xử lý các kết quả thu được từ phiếu điều tra làm cơ sở dữliệu cho việc đánh giá thực trạng rèn luyện KNXLTH giao tiếp với bạn chotrẻ tự kỷ
- Nội dung: Xử lý, thống kê các số liệu liên quan đến các nội dungtrong phần đánh giá thực trạng
- Cách thức tiến hành: Sử dụng các phương pháp xử lý số liệu bằngthống kê toán học với sự trợ giúp của SPSS
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống giaotiếp với bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi
Chương 2: Thực trạng rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống giao tiếp vớibạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi
Trang 18Chương 3: Một số biện pháp đề xuất và thực nghiệm rèn luyện kỹ năng
xử lý tình huống giao tiếp cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG
XỬ LÝ TÌNH HUỐNG TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP VỚI
tự kỷ ở trẻ
Cho đến năm 1943, người ta thực sự mới biết đến sự tồn tại của hộichứng tự kỷ qua tác phẩm “Những ảnh hưởng phiền toái của chứng tự kỷ” củabác sĩ tâm thần người Mĩ Leo Kanner (1894 - 1981), trong đó mô tả tâm lýcủa 11 trẻ có biểu hiện của chứng tự kỷ [35], với các biểu hiện: Sự cách biệt,thiếu hụt trong tương tác xã hội, thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm vớingười khác; một số thói quen hàng ngày kỳ dị, tỉ mỉ; sự thiếu hụt giao tiếp
Trang 20bằng ngôn ngữ, không nói hoặc cách nói năng khác thường; khó tập trung vàchú ý, nhưng lại có một khả năng cao kỳ lạ ở một số lĩnh vực, trái ngược vớitình trạng khó khăn trong lĩnh vực khác; hình thức bên ngoài có vẻ hấp dẫn,nhanh nhẹn.
Sau L.Kanner đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến chứng tự kỷnhư nghiên cứu của các nhà tâm thần học Anh, Mỹ như: Fudith Gouth,Christopher Gillberg, nghiên cứu của các nhà phân tâm học như S.Freud,C.Jung… và cho đến nay đã có rất nhiều tên gọi và cách phân loại khác nhaudùng để mô tả tự kỷ như “Loạn tâm cộng sinh” (Mahler và Gosliner, năm1955), “Nhân cách bệnh tự kỷ” (Asperger, năm 1943), “Rối loạn kiểu tự kỷ”(Lorna Wing, năm 1998)…
Bắt đầu từ năm 1967, bảng phân loại bệnh quốc tế (ICD-8) đã đưa tự
kỷ vào mô tả ở chứng Idiotis, tâm thần chậm phát triển nặng nhất Cho đếnnay cách xếp loại chứng tự kỷ trong các bảng phân loại bệnh quốc tế và Hoa
Kỳ đã có nhiều thay đổi Theo bảng phân loại bệnh Hoa Kỳ (DSM-IV) ra đờigần nhất, năm 1994, thì hiện tượng tự kỷ nằm trong rối loạn phát triển lan tỏamục 299
Tóm lại, những nghiên cứu trên đều chỉ ra điểm chung cho thấy, trẻ tự
kỷ gặp rất nhiều khó khăn trong nhận thức, giao tiếp, hành vi và các kỹ năng
xã hội Đối với trẻ tự kỷ nhẹ có thể hiểu các nguyên tắc xã hội, tuy nhiên lạikhông thể áp dụng các nguyên tắc đó vào các tình huống cụ thể và phù hợp
Nghiên cứu về phương pháp giáo dục trẻ tự kỷ:
Một trong những nghiên cứu khá sớm về áp dụng phân tích hành vi(Aplied Behavior Analyis - ABA) năm 1968 của ba nhà tâm lý học người MỹD.M.Baer, M.M.Wolf và Risley [37] Năm 2009, hai nhà tâm lý người MỹK.Dillenburger và M.Keenan đã công bố công trình nghiên cứu tương tự “Phá
bỏ những rối nhiễu phổ tự kỷ của trẻ trên cơ sở áp dụng phân tích hành vi”
Trang 21Trong nghiên cứu, các tác giả đưa ra phương pháp can thiệp hành vi sớm chotrẻ em mắc chứng rối loạn phổ tự kỷ, được dùng để phát huy tối đa khả nănghọc tập của trẻ tự kỷ Các tác giả thử nghiệm chương trình can thiệp sớm chotrẻ tại gia đình Các lĩnh vực đó có thể là: xã hội, giao tiếp, tự chăm sóc, vuichơi… và có thể dùng để giúp trẻ rèn luyện KNXLTH giao tiếp với mọingười Cấu trúc của ABA gồm hai thành phần chính: dạy thử nghiệm các kỹnăng riêng biệt và thay đổi hành vi.
Năm 1984, hai nhà tâm lý học người Mỹ Lori Frost và Andrew Bondy
đã phát triển phương pháp hệ thống giao tiếp thông qua trao đổi tranh (PictureExchange Communication System - PECS) Phương pháp này lần đầu tiênđược sử dụng cho các chương trình tự kỷ Delaware Mục tiêu của PECS làdạy cho trẻ tự kỷ nhanh chóng thiết lập các mối quan hệ giao tiếp, bản thân trẻ
tự khởi xướng các vấn đề để hình thành các quan hệ đó PECS bắt đầu vớiviệc trao đổi các biểu tượng đơn giản và nhanh chóng xây dựng thành cấutrúc câu [40]
Một nghiên cứu khác của các nhà tâm lý Mỹ, gọi tắt là phương phápFloor Time (Developmental, Individual-differences, Relationship-based(DIR) dựa trên sự khác biệt cá nhân, là một mô hình phát triển để đánh giá vàhiểu rõ những ưu điểm và nhược điểm nào của trẻ tự kỷ Phương pháp này trởnên đặc biệt hiệu quả trong việc xác định các cấu hình phát triển độc đáo củatrẻ và phát triển các chương trình cho trẻ chậm phát triển do tự kỷ, rối loạnphổ tự kỷ, hoặc rối loạn phát triển khác Mô hình này được phát triển bởiStanley Greenspan và lần đầu tiên đưa ra vào năm 1979 trong cuốn sách “Tríthông minh và sự thích ứng” [41] Tuy nhiên, một phiên bản mới về DIR đượcphát triển bởi Richard Solomon và được công bố vào năm 2010 Phương phápnày cũng được khuyến khích cho các cha mẹ sử dụng để tăng sự giao tiếp vớitrẻ
Trang 22Năm 2002, nhà tâm lý học người Mỹ Steven Gutstein đã đưa ra phươngpháp can thiệp phát triển quan hệ xã hội RDI Với phương pháp mới RDI,người chăm sóc sẽ giao tiếp với trẻ nhiều hơn bằng cử chỉ, nét mặt, ánh mắtchứ không quá tập trung vào giao tiếp bằng ngôn ngữ Khi đó, “chỉ cần trẻđược trang bị nhận thức tốt, ngôn ngữ sẽ tự nhiên phát ra khi tới thời điểmchín muồi” Ngoài ra, RDI không nhấn mạnh vào kết quả của hoạt động dạycho trẻ mà hướng đến những cảm xúc khi tham gia vào hoạt động đó [46].
Gần đây, những biến thể RDI được Steven Gutstein phát triển qua một
số công trình: “Những đứa trẻ có thể khiêu vũ - câu chuyện về bệnh tự kỷ,Asperger sự thành công thông qua sự can thiệp phát triển các mối quan hệ(RDI)” (2005), “Các biện pháp can thiệp phát triển quan hệ (RDI) và giáodục” (2007), và “Sự tha thứ cách giáo dục trẻ tự kỷ mới cho bệnh tự kỷ,Asperger và PDD với việc phát triển các chương trình can thiệp trẻ tự kỷnăm” (2009) [46]
Có thể nói, các nghiên cứu về tự kỷ và phương pháp giáo dục trẻ tự kỷchủ yếu ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, các nghiên cứu đều chỉ rõnguyên nhân dẫn đến tự kỷ, các khiếm khuyết ở trẻ tự kỷ như khiếm khuyết
về ngôn ngữ, giao tiếp về hành vi Trên cơ sở đó các tác giả đã cho ra đờinhiều bộ công cụ để chẩn đoán, xác định mức độ tự kỷ và phương pháp giáodục trẻ tự kỷ như các phương pháp y sinh học, trị liệu tâm lý nhưng chưa cóphương pháp hoặc đề tài nào nghiên cứu về rèn luyện KNXLTH giao tiếp vớibạn cho trẻ tự kỷ
1.1.2 Ở trong nước
Tại Việt Nam, vấn đề tự kỷ mới được quan tâm khoảng 15 năm trở lạiđây Tại các cơ sở đào tạo về trẻ khuyết tật, khoa tâm thần của các bệnh việntrên cả nước đã bắt đầu đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống Đặc biệt tạicác trung tâm của các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Trang 23Những đề tài nghiên cứu và các luận án tiến sĩ về trẻ tự kỷ
Trong thời gian gần đây, có nhiều đề tài nghiên cứu về trẻ tự kỷ và cácbiện pháp giáo dục Có thể kể đến: tác giả Nguyễn Nữ Tâm An với nghiêncứu “Biện pháp dạy học đọc hiểu cho học sinh rối loạn phổ tự kỷ ở đầu cấp
tiểu học” (2007) Trong nội dung, tác giả trình bày khá rõ các vấn đề lý luận
về rối nhiễu phổ tự kỷ, những biện pháp dạy đọc hiểu cho học sinh đầu cấptiểu học bị rối loạn phổ tự kỷ Để khắc phục những rối nhiễu tự kỷ, tác giả đã
đề xuất 10 biện pháp và đã chứng minh được tính khả thi của các biện pháp
đề xuất qua 3 trường hợp thực nghiệm [1]
Tác giả Ngô Xuân Điệp qua luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu nhận thứccủa trẻ tự kỷ tại Thành phố Hồ Chí Minh” [5] Nội dung luận án đã làm sáng
tỏ nhiều vấn đề lý luận về nhận thức của trẻ tự kỷ như tư duy, tưởng tượng,một số đặc điểm về trí tuệ qua việc đánh giá thực trạng Trên cơ sở lý giảinguyên nhân thực trạng, ưu điểm và hạn chế, tác giả đã đề xuất một số biệnpháp nhằm nâng cao nhận thức cho trẻ tự kỷ
Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ có các công trình: “Biệnpháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi” của tác giả NguyễnThị Thanh (2014) [14], “Kỹ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ” tác giả NguyễnPhương Thảo (2015) [18] Nội dung các nghiên cứu đều trình bày những vấn
đề lý luận kỹ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ, các đặc điểm giao tiếp của trẻ, thựctrạng kỹ năng giao tiếp Các tác giả đã chỉ rõ những hạn chế trong kỹ nănggiao tiếp và đề xuất những biện pháp khắc phục, giúp trẻ chủ động hơn tronggiao tiếp
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục: “Điều chỉnh hành vi ngôn ngữ chotrẻ tự kỷ 3 - 6 tuổi dựa vào bài tập chức năng” của tác giả Đào Thị Thu Thủy(2014) [20] Tác giả luận án đã đề cập đến nhiều vấn đề lý luận về hành vingôn ngữ của trẻ tự kỷ, đánh giá thực trạng các biểu hiện hành vi ngôn ngữ,với khá nhiều hạn chế như khả năng phát âm, sử dụng từ vựng, cấu trúc ngữ
Trang 24pháp tác giả đã đưa ra một số giải pháp khắc phục những hạn chế về hành vingôn ngữ của trẻ.
Trong nghiên cứu “Chính sách đối với trẻ tự kỷ ở Việt Nam hiện nay”(2015), các tác giả Đậu Tuấn Nam, Vũ Hải Vân cho rằng, nhận thức của cácgia đình, cộng đồng, xã hội về chứng tự kỷ ở trẻ em bị tự kỷ chưa đầy đủ,điều đó gây ra rất nhiều khó khăn cho trẻ tự kỷ trong việc tiếp cận, thụ hưởngcác dịch vụ y tế, giáo dục và các chính sách an sinh xã hội Các tác giả đã đềcập đến những khó khăn, bất cập trong chính sách đối với trẻ tự kỷ ở ViệtNam, từ đó gợi ý một số giải pháp nhằm giúp trẻ tự kỷ có cơ hội bình đẳngtrong tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ y tế, giáo dục và các chính sách an sinh
xã hội [12]
Bên cạnh những nghiên cứu ở các cơ sở đào tạo, các bệnh viện, một sốnhà xuất bản đã cho ra đời nhiều tác phẩm sách đề cập và phân tích sâu rộnghơn về hội chứng này
Tác giả Võ Nguyễn Tinh Vân đã công bố một số nghiên cứu: “Để hiểu
tự kỷ” (2002) [22], “Nuôi con bị tự kỷ” (2002) [23] và “Tự kỷ và trị liệu”(2006) [24] Tác giả đề cập khá chi tiết về những dấu hiệu, các biểu hiện cụthể về chứng tự kỷ ở trẻ, các biện pháp chăm sóc, giáo dục phù hợp với cácmức độ tự kỷ Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra một số cách trị liệu cho trẻ tự kỷ
Nghiên cứu “Trẻ tự kỷ - những thiên thần bất hạnh” của tác giả LêKhanh (2004), đề cập về tình trạng biểu hiện bệnh tự kỷ ở trẻ gây ảnh hưởngrất lớn tới tâm lý, tâm thần cho các bé, làm cho các bé rất khó hòa nhập vớicuộc sống Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng, tác giả đã chỉ ra cáchnuôi dưỡng và chăm sóc các trẻ không bị tự kỷ [10]
Về phát hiện và can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ: “Trẻ Tự kỷ - phát hiệnsớm và can thiệp sớm” (2006), tác giả Vũ Bích Hạnh đã chỉ ra khá nhiều vấn
đề lý luận về trẻ tự kỷ, với nhiều biểu hiện, các mức độ biểu hiện, qua đó
Trang 25chúng ta có thể nhận ra các dấu hiệu ở trẻ, nhằm sớm đưa ra các biện phápcan thiệp phù hợp với chứng tự kỷ mà trẻ mắc phải [9]
Cũng trong năm 2006, tác giả Nguyễn Văn Thành đã công bố nghiêncứu: “Trẻ em tự kỷ phương thức giáo dục” Nội dung đề cập khá cụ thể về cácbiểu hiện tự kỷ mà trẻ mắc phải, các nguyên nhân Trên cơ sở đó tác giả đãđưa ra một số phương pháp giáo dục để trẻ tự kỷ có thể đáp ứng được các yêucầu bình thường của cuộc sống [16]
Năm 2007, tác giả Nguyễn Thị Bùi Thành đã công bố nghiên cứu “Biệnpháp rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ qua hoạt động vui chơi tronglớp mẫu giáo hòa nhập tại Hà Nội” Trong nghiên cứu tác giả đã trình bàythực trạng kỹ năng giao tiếp của trẻ trong hoạt động vui chơi và đưa ra một sốbiện pháp nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ qua hoạt động vuichơi trong lớp mẫu giáo hòa nhập [15]
Trong năm 2015 - 2016, nhiều nghiên cứu đã được công bố, các tácgiả tập trung vào việc phát hiện, đánh giá, can thiệp và đưa ra các phươngpháp giáo dục trẻ tự kỷ Có thể kể đến nghiên cứu của các tác giả với cácnghiên cứu: Nguyễn Thị Hoàng Yến: “Tự kỷ - Những vấn đề lý luận và thựctiễn” (2014) [26]; Nguyễn Xuân Hải: “Giáo trình quản lý giáo dục hoà nhập”(2016) [8]; Lã Thị Bắc Lý: “Giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật lứa tuổi mầmnon” (2016) [11]; “Giáo trình quản lý hành vi của trẻ khuyết tật trí tuệ” (2016)
do Trần Thị Minh Thành (chủ biên); “Giáo trình can thiệp sớm cho trẻ khuyếttật” (2016) do Trần Thị Thiệp chủ biên [19] và công trình “Đại cương giáodục trẻ khuyết tật trí tuệ” (2016) Nguyễn Thị Hoàng Yến chủ biên [27].Những nghiên cứu trên đề cập đến nhiều vấn đề, từ lý luận về tự kỷ, phươngpháp giáo dục trẻ tự kỷ cho đến quản lý hành vi trẻ tự kỷ
Từ những nghiên cứu trên có thể thấy, việc nghiên cứu về trẻ tự kỷ ởViệt Nam tuy muộn hơn so với thế giới song khá đa dạng, thể hiện ở các
Trang 26phương diện Các tác giả đã đưa vào Việt Nam nhiều bộ công cụ để chẩnđoán, đánh giá trẻ tự kỷ và cũng đã có nhiều phương pháp đã được thích nghi,trong đó các nhà giáo dục ở Việt Nam đã chỉ ra nhiều phương pháp giảmthiểu những khiếm khuyết ở trẻ, đó là khiếm khuyết về ngôn ngữ, về phươngpháp phát triển ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp cho trẻ, song, chúng tôi nhậnthấy chưa có nghiên cứu về biện pháp rèn luyện KNXLTH giao tiếp với bạncho trẻ tự kỷ.
1.2 Một số vấn đề lý luận về trẻ tự kỷ và hoạt động giao tiếp của trẻ tự kỷ 4
- 5 tuổi
1.2.1 Khái niệm trẻ tự kỷ
Kể từ khi Paul Eugen Bleuler, bác sỹ tâm thần học người Thụy Sỹ đưa
ra khái niệm tự kỷ vào năm 1911, kể từ đó đến nay thế giới đã có rất nhiềunghiên cứu và kết luận khác nhau về tự kỷ Những khái niệm cũng như cácphân loại của loại rối nhiễu này rất đa dạng và đã trải qua nhiều thay đổi theothời gian
Theo P.E.Bleuler: Tự kỷ là khái niệm dùng để chỉ những người bệnhtâm thần phân liệt không còn liên hệ với thế giới bên ngoài nữa mà sống vớithế giới của riêng mình, bệnh nhân chia cắt với thực tế bên ngoài và lui về thếgiới bên trong, khép mình trong ham muốn riêng và tự mãn [33]
Theo quan niệm của S.Freud: Tự kỷ là sự đầu tư vào đối tượng quay trởlại trong cái tôi, có nghĩa là đã trở thành tự yêu, là sự ẩn náu của trẻ em trongthế giới bên trong huyễn tưởng và ảo ảnh tưởng chỉ có thể được một thời gian,đối với chủ thể với điều kiện phải thêm vào đó sự chăm sóc của người mẹ[34]
Nhà tâm thần học Leo Kanner cho rằng: Tự kỷ là sự rút lui cực đoancủa một số trẻ em lúc mới bắt đầu cuộc sống, triệu chứng đặc biệt của bệnh làmột sự hiếm thấy, là sự rối loạn từ cội rễ, là sự không có khả năng của những
Trang 27trẻ này trong công việc thiết lập các mối quan hệ bình thường với các tìnhhuống từ lúc chúng bắt đầu cuộc sống (1943) [35].
Năm 1979 Lorna Wing, bác sỹ tâm thần học người Anh đã đưa ra thuậtngữ rối loạn phổ tự kỷ (Autistic Spesctrum Disorder ASD) [39], là một khuyếttật về phát triển có thể gây ra những trở ngại đáng kể về mặt xã hội, giao tiếp
và hành vi
Năm 2008, Liên hiệp quốc đưa ra khái niệm “Tự kỷ là một dạng khuyếttật phát triển tồn tại suốt cuộc đời, thường xuất hiện trong 3 năm đầu đời Tự
kỷ là do rối loạn thần kinh, gây ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của não
bộ Tự kỷ có thể xảy ra ở bất cứ cá nhân nào không phân biệt giới tính, chủngtộc hoặc điều kiện kinh tế - xã hội Đặc điểm của Tự kỷ là những khiếmkhuyết về tương tác xã hội, giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ và có hành vi,
sở thích, hoạt động mang tính hạn hẹp, lặp đi lặp lại” [26]
Như vậy, khái niệm tự kỷ được thế giới rất quan tâm Hiện nay, có rấtnhiều khái niệm khác nhau về tự kỷ
Ở Việt Nam, cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về tự kỷ Theo quanniệm của tác giả Nguyễn Nữ Tâm An: “Tự kỷ là một dạng khuyết tật pháttriển, được đặc trưng bởi ba khiếm khuyết chính về giao tiếp, tương tác xã hội
và có hành vi, sở thích, hoạt động mang tính hạn hẹp, lặp đi lặp lại” [1, tr.16]
Tác giả Đào thị Thu Thủy đã ra định nghĩa: “Tự kỷ là một dạng khuyếttật phát triển, được đặc trưng bởi ba khiếm khuyết chính về giao tiếp, tươngtác xã hội và hành vi, sở thích, hoạt động mang tính hạn hẹp, lặp đi lặp lại”[20, tr.14]
Tác giả Phạm Minh Hạc đưa ra định nghĩa: “Tự kỷ là sự phát triển tâm
lý không bình thường, với các rối loạn chủ yếu về tri giác xã hội - liên nhâncách và chức năng giao tiếp” Ông đưa ra tiêu chí để đánh giá mức độ tự kỷ ởtrẻ: Mức độ 1, mức độ tổn thương nặng, hành vi chủ yếu dựa vào môi trường,
Trang 28ngữ cảnh, nét mặt luôn có biểu hiện vô cảm, hay tránh các kích thích mạnh vàluôn có biểu hiện quá mệt mỏi Mức độ 2, trẻ tích cực vận động trong địnhhướng, chủ động yêu cầu có sự ổn định với môi trường xung quanh, hànhđộng, động tác mang tính định hình, ngôn ngữ phần lớn theo một dạng Mức
độ 3, xuất hiện ngôn ngữ độc thoại có sắc màu cảm xúc, xuất hiện sự mâuthuẫn trong hành động và mức 4, nhóm có biểu hiện nhẹ nhất, trẻ có khả nănggiao tiếp, song ngôn ngữ xuất hiện nhiều lỗi ngữ pháp, hành vi thường cóhành động xâm kích [7, tr.1072-1073]
Như vậy, có thể hiểu tự kỷ là một chứng rối loạn phát triển tâm lý và được được biểu hiện ra ngoài bằng những khiếm khuyết về tương tác xã hội, những khó khăn về giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, hành vi, hoạt động mang tính hạn hẹp và có tính lặp lại Trong phạm vi luận văn, chúng tôi quan
tâm đến trẻ tự kỷ ở mức độ trung bình, theo phân chia ở mức độ 3 của tác giảPhạm Minh Hạc
1.2.2 Hoạt động giao tiếp của trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi
* Giao tiếp trong các mối quan hệ
Khả năng tương tác trong các mối quan hệ khá hạn chế, trẻ thường cóbiểu hiện sự cô lập, thích chơi một mình, tránh giao tiếp với bạn Do thíchchơi một mình nên đa số trẻ rất ngoan, yên tĩnh, thích chơi một mình
Trẻ tự kỷ thường khó khăn trong việc duy trì giao tiếp, trẻ không kiênnhẫn chờ đợi những điều chúng muốn không được đáp ứng một cách nhanhchóng Trẻ gặp nhiều khó khăn trong việc hiểu và sử dụng công cụ giao tiếp,
cả công cụ giao tiếp có lời và không lời (cử chỉ, điệu bộ, ngôn ngữ cơ thể…)
để bày tỏ ý muốn cho người khác biết được ý định, nhu cầu của bản thân
Trẻ giao tiếp với các biểu hiện lời nói và hành vi khá khó hiểu vì chúngkhông hiểu các nguyên tắc ứng xử, cách sử dụng ngôn ngữ một cách đúngngữ pháp được dùng trong khi giao tiếp với người khác Chúng có thể đẩy
Trang 29bạn, đập mạnh vào người bạn khi muốn chơi cùng với bạn vì không biết cáchthể hiện nhu cầu của mình.
* Khả năng nghe hiểu trong giao tiếp
Trong giao tiếp trẻ thường không có phản ứng hoặc không để ý đến lờinói của đối tượng giao tiếp Trẻ ít có phản ứng khi gọi tên mình, không quantâm đến mọi người xung quanh, không làm theo những hướng dẫn của ngườikhác mặc dù trẻ nghe được bình thường Điều này do trẻ không tập trung chú
ý khi giao tiếp, cũng như vốn từ, khả năng hiểu ngôn ngũ còn khá hạn chế dẫnđến sự nghe hiểu của trẻ thường gặp nhiều khó khăn
Trẻ tự kỷ ở mức độ nhẹ, khả năng nghe hiểu lời nói trong giao tiếp củadiễn ra tương đối thuận lợi Nhiều khi trẻ nghe và hiểu được yêu cầu của đốitượng giao tiếp song trẻ lại không có phản ứng đáp lại Một số trẻ hiểu ngônngữ không lời một cách dễ dàng, nhưng nghe hiểu ngôn ngữ nói lại gặp khókhăn
Đa số trẻ tự kỷ ở mức độ nhẹ và mức độ trung bình đều có thể nghe vàhiểu được ý trong lời nói của đối tượng giao tiếp, song việc này diễn ra chậmchạp, mức độ tự kỷ càng nặng thì khả năng nghe hiểu càng chậm, và ở mức
độ nhẹ và trung bình, trẻ thường hiểu khá chậm và thực hiện mệnh lệnh theoyêu cầu cũng như vậy Với những từ ngữ quen thuộc, được sử dụng hàngngày, trẻ dễ hiểu, có thể phản ứng lại nhanh hơn so với những từ ngữ ít được
sử dụng trong giao tiếp của trẻ Bên cạnh đó, vốn từ của trẻ còn khá hạn chế,chủ yếu là từ đơn, câu đơn, cấu trúc ngữ pháp thường bị sai nên đó cũng lànguyên nhân trẻ gặp nhiều khó khăn trong nghe hiểu những câu dài chứanhiều thông tin hoặc câu có nhiều từ mới
Trẻ tự kỷ có thể hiểu được ngôn ngữ dễ dàng hơn nếu trong quá trìnhgiao tiếp có tài liệu trực quan, có những hình ảnh minh hoạ, giúp cho quátrình giao tiếp của trẻ tốt hơn Với những từ trừu tượng, cách nói ẩn dụ, trẻ
Trang 30thường không hiểu hoặc đôi khi hiểu không rõ ý Tuy nhiên, nếu sử dụng hìnhảnh trực quan có thể giúp trẻ thuận lợi hơn trong việc hiểu được nội dung giaotiếp Chính vì thế trẻ tự kỷ hạn chế trong nghe hiểu lời nói liên quan đến tưduy trừu tượng và tư duy lôgích [28].
* Khả năng diễn đạt ngôn ngữ trong giao tiếp của trẻ
Khả năng diễn đạt lời nói trong giao tiếp của trẻ tự kỷ nhìn chung cònkhá hạn chế So với những trẻ có sự phát triển tâm lý bình thường, trẻ tự kỷthường diễn đạt một cách khá chậm, câu ngắn và chủ yếu sai về ngữ pháp,dùng từ không chuẩn xác Một số trẻ có giọng nói đều đều, không được tựnhiên, không biết biểu cảm qua giọng nói, không biết nói thầm, không nhấnmạnh vào từ ngữ cần phải nhấn mạnh, thậm chí trẻ rất khó bày tỏ những suynghĩ của bản thân với đối tượng giao tiếp khi gặp những hoàn cảnh mới lạhoặc tìm từ thích hợp với hoàn cảnh, tình huống giao tiếp để nói lên nhữngsuy nghĩ, ý muốn và nhu cầu Điều này cho thấy trẻ tự kỷ không hiểu đượcgiọng nói có ý nghĩa như thế nào vào việc trẻ định bày tỏ
Trong quá trình giao tiếp ngôn ngữ biểu cảm, cảm xúc giao tiếp ở trẻkhá hạn chế, khó có thể nhìn thấy những cảm xúc chính xác của trẻ trênkhuôn mặt thể hiện niềm vui, hạnh phúc khi cho hoặc tặng cho trẻ một mónquà mà trẻ thích, cho nên khó đoán được ý định mà trẻ muốn diễn đạt
Khi giao tiếp trẻ không nhìn vào mặt của đối tượng giao tiếp, điều đólàm ảnh hưởng tới giao tiếp xã hội và khả năng bắt chước lời nói, đặc biệttrong việc phát âm cũng như trong việc sử dụng lời nói Ở một số tình huốngtrẻ thường có ánh mắt nhìn lảng tránh, không nhìn vào mắt người khác khi tròchuyện để nhận biết khi nào tới phiên mình nói chuyện, khi nào nhường chongười khác, trẻ thường ngắt lời người khác đang nói, thỉnh thoảng đặt nhữngcâu hỏi nhưng không liên quan tới câu chuyện đang nói Những thiếu hụt này
Trang 31làm cho trẻ khó khăn để bày tỏ suy nghĩ bằng lời hoặc qua các hành vi, cửchỉ.
Đa số trẻ tự kỷ đều có khó khăn trong ngôn ngữ biểu cảm, trẻ khôngbiết thể hiện ra ngoài những hành vi phi ngôn ngữ Trẻ không biết lắc đầu để
tỏ vẻ không đồng ý, hay cái nhíu mày để thể hiện sự khó chịu Trẻ không hiểunhững tín hiệu ngôn ngữ phụ như sự diễn tả bằng nét mặt và cử chỉ
Một số trẻ tự kỷ khi giao tiếp có tính nhại lời, có thể nhại lời ngay lậptức hoặc nhại lời trì hoãn Việc xem xét những kiểu nhại lời này sẽ cho chúng
ta biết trẻ đang cố gắng diễn đạt ngôn ngữ như thế nào
- Nhại lời ngay lập tức: Trẻ lặp lại một số lời nói mà trẻ vừa nghe được.Điều này cho thấy trẻ có khả năng nghe và giữ lời nói đó trong bộ nhớ ngắnhạn đủ lâu để có thể nhắc lại
- Nhại lời trì hoãn: xuất hiện khi trẻ lặp lại một số đoạn đối thoại đãnghe trong quá khứ Đôi lúc, nhại lời trì hoãn hoạt động theo cách thay thếmột cụm từ hoặc một đoạn bằng một từ đơn giản hơn Thông thường trongchứng nhại lời trì hoãn, trẻ thường nghe được phần đầu của hội thoại có mộtchút gắn với điều được nói Trong một số tình huống, nhại lời trì hoãn thì quákhác biệt so với cái mà trẻ bình thường, xảy ra khi trẻ có khó khăn trong việcrút ra ý nghĩa của lời nói (như là một rối loạn trung tâm xử lý thính giác) Một
số trẻ lặp lại một cách máy móc đến từng chi tiết một vài câu nói
Khả năng diễn đạt ngôn ngữ trong giao tiếp của trẻ đơn điệu, nghèo nàn
về vốn từ Trẻ gặp khó khăn trong quá trình tạo câu trong giao tiếp có kết cấucâu đầy đủ chủ ngữ, vị ngữ, các liên từ như thì, là, mà
Trẻ tự kỷ bị khiếm khuyết về khả năng diễn đạt Cho nên, trẻ có thể cóvốn từ vựng nhiều, nhưng luôn gặp khó khăn trong liên kết các từ để bày tỏvấn đề Trong giao tiếp, trẻ chỉ nói khi cần cái gì đó Một số trẻ tự kỷ có rốinhiễu ở dạng Asperger lại có cách diễn đạt tương đối khác thường, trẻ hiểu và
Trang 32nói ở dạng cao hơn mức bình thường nhưng trong giao tiếp gặp khó khăn vềdiễn đạt kể cả bằng lời nói và hành vi.
Trên cơ sở những hạn chế về hoạt động giao tiếp của trẻ tự kỷ, chúngtôi tiến hành khảo sát thực trạng và xây dựng biện pháp đề xuất và thựcnghiệm tác động để khắc phục những hạn chế trong KNXLTH giao tiếp vớibạn
1.3 Kỹ năng xử lý tình huống giao tiếp của trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi
1.3.1 Khái niệm kỹ năng
Khái niệm kỹ năng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và đưa racác quan điểm khác nhau về vấn đề này
Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Khả năng vận dụng những kiến thức thunhận được vào thực tế” [25, tr.934] Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Kỹ năng
là khả năng vận dụng những kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vựcnào đó áp dụng vào thực tế” [13, tr.800] Cả hai định nghĩa trên thống nhấtcho rằng kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức đã thu nhận, đã lĩnh hộiđược vào thực tế
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “Kỹ năng là khả năng thực hiện
có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách thức lựa chọn
và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện thực tiễn cho phép” [21, tr.72]
Cách hiểu của tác giả Nguyễn Quang Uẩn và cách hiểu về kỹ năngtrong Đại từ điển tiếng Việt và Từ điển tiếng Việt có điểm thống nhất, đều thểhiện việc vận dụng những kiến thức vào thực tiễn Tuy nhiên, quan niệm củatác giả Nguyễn Quang Uẩn cụ thể và chi tiết hơn, đó là việc lựa chọn nhữngtri thức, kinh nghiệm phù hợp với điều kiện thực tiễn Trong giới hạn luậnvăn, chúng tôi sử dụng khái niệm của tác giả Nguyễn Quang Uẩn làm kháiniệm công cụ để triển khai nghiên cứu
Trang 331.3.2 Khái niệm kỹ năng xử lý tình huống
- Khái niệm tình huống
Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa về tình huống: “Hoàn cảnh diễn biến,thường bất lợi cần đối phó” [25, tr.1649] Theo Từ điển tiếng Việt, tình huống
là “sự diễn biến của tình hình, về mặt cần phải đối phó” [13, tr.1542] Từ hai
cách hiểu trên, chúng tôi cho rằng: tình huống là những sự việc xảy ra tại một nơi, trong một thời gian, buộc người ta phải suy nghĩ, hành động, ứng phó.
- Khái niệm kỹ năng xử lý tình huống
Trên cơ sở tổng hợp các quan niệm về kỹ năng và tình huống, chúng tôi
cho rằng: Kỹ năng xử lý tình huống là khả năng thực hiện có kết quả một hoạt động thường bất lợi, không đoán trước được trên cơ sở vận dụng kiến thức, kinh nghiệm đã có để hành động, ứng phó phù hợp với những điều kiện thực tiễn.
Có thể thấy kỹ năng xử lý tình huống là khả năng đòi hỏi cá nhân phảithực hiện có kết quả một hoạt động thường bất lợi, không đoán trước
Cá nhân phải vận dụng kiến thức, kinh nghiệm đã có phù hợp với điềukiện thực tiễn để hành động
1.3.3 Khái niệm kỹ năng xử lý tình huống giao tiếp với bạn của trẻ tự kỷ 4
- 5 tuổi
- Khái niệm giao tiếp
Theo tác giả Vũ Dũng: “Giao tiếp là quá trình hình thành và phát triển
sự tiếp xúc giữa người với người được phát sinh từ nhu cầu trong hoạt độngchung, bao gồm sự trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược tương tác thốngnhất, tri giác và tìm hiểu người khác” [4, tr.228]
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn đưa ra định nghĩa về giao tiếp: “Giao tiếp
là mối quan hệ giữa con người với con người, thể hiện sự tiếp xúc giữa người
Trang 34và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc,tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau” [21, tr.291].
Các khái niệm về giao tiếp trên đây có điểm chung đó là quan hệ giữachủ thể này và chủ thể khác, qua đó các chủ thể trao đổi với nhau về thôngtin, cảm xúc và ảnh hưởng qua lại với nhau
Như vậy, qua những định nghĩa trên, chúng tôi định nghĩa về giao tiếp
như sau: Giao tiếp là sự vận hành quan hệ giữa con người với con người, được phát sinh từ nhu cầu trong hoạt động chung, qua đó con người trao đổi thông tin, cảm xúc, xây dựng quan hệ tương tác thống nhất.
Khái niệm trên cho thấy giao tiếp thể hiện mối quan hệ tác động qua lạigiữa các chủ thể, được nảy sinh trên cơ sở có những nhu cầu chung mà chủthể cần giải quyết, đồng thời qua giao tiếp các chủ thể có sự trao đổi thông tin,cảm xúc với nhau
- Khái niệm tình huống giao tiếp
Dựa trên các quan niệm, các quan điểm khác nhau về giao tiếp, tình
huống giao tiếp, chúng tôi khái niệm: Tình huống giao tiếp là sự nảy sinh những diễn biến không đoán trước, buộc các chủ thể giao tiếp phải suy nghĩ, ứng phó một cách phù hợp với diễn biến, nhằm xây dựng quan hệ tương tác thống nhất.
Ta có thể thấy, các tình huống giao tiếp thường xuất hiện bất ngờ, dovậy, các chủ thể giao tiếp phải chủ động tìm cách ứng phó, từ đó đi đến thốngnhất cách thức hành động
Khái niệm kỹ năng xử lý tình huống giao tiếp với bạn của trẻ tự kỷ 4
-5 tuổi:
Chúng tôi quan niệm: Kỹ năng xử lý tình huống giao tiếp với bạn của trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi là khả năng thực hiện có kết quả những diễn biến trong
Trang 35giao tiếp với bạn buộc trẻ phải suy nghĩ, ứng phó một cách phù hợp, nhằm giúp trẻ có kỹ năng giao tiếp phù hợp với khả năng của trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi.
Như vậy, kỹ năng xử lý tình huống giao tiếp với bạn của trẻ tự kỷ 4 - 5tuổi trẻ là cách các trẻ đưa ra các phương án xử lý giao tiếp phù hợp với hoàncảnh, phù hợp với các đặc điểm cá nhân trẻ tự kỷ
1.3.4 Khái niệm rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống giao tiếp với bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi
- Khái niệm rèn luyện
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Rèn luyện là luyện tập một cách thườngxuyên để đạt tới những phẩm chất hay trình độ ở một mức độ nào đó” [13,tr.1281] Theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên: “Rèn luyện
là luyện tập thường xuyên qua thực tế để thuần thục, vững vàng hơn” [25,
tr.1402] Có thể hiểu rèn luyện là luyện tập một hoạt động nào đó có tính chất lặp lại để nâng cao khả năng của bản thân, nhằm đạt tới những trình độ, phẩm chất đáp ứng được yêu cầu mà hoạt động đó đặt ra.
- Khái niệm rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống giao tiếp với bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi
Từ những quan niệm của các tác giả đi trước, chúng tôi xây dựng khái
niệm: Rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống giao tiếp với bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi là luyện tập cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi khả năng biết vận dụng các kiến thức, kinh nghiệm phù hợp với tình huống để giải quyết các diễn biến nảy sinh trong giao tiếp giữa trẻ với bạn, nhằm giúp trẻ có kỹ năng giao tiếp phù hợp với tình huống trong giao tiếp.
Như vậy, rèn luyện KNXLTH giao tiếp với bạn là sự luyện tập cho trẻnhững kỹ năng giao tiếp, để trẻ biết cách ứng phó với các tình huống nảy sinhtrong quan hệ giao tiếp với bạn, từ đó trẻ có kỹ năng giao tiếp phù hợp
Trang 361.3.5 Những thuận lợi và khó khăn trong rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống giao tiếp với bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi
1.3.5.1 Những thuận lợi
- Trong giáo dục trẻ tự kỷ, việc trẻ hứng thú, tích cực tham gia hoạtđộng là điều rất khó, tuy nhiên, trong một số trường hợp có sự hưởng ứng củatrẻ sẽ là thuận lợi để giúp trẻ rèn luyện các kỹ năng giao tiếp
- Trẻ biết vận dụng bài học vào hoàn cảnh cụ thể, điều này thể hiện sựchủ động của trẻ tự kỷ biết vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học vào cáctình huống giao tiếp với bạn và với mọi người
- Giáo viên có phương pháp giảng dạy, lòng nhiệt tình và trách nhiệmcao trong rèn luyện KNXLTH cho trẻ Đội ngũ giáo viên ở các trung tâm, các
cơ sở giáo dục trẻ tự kỷ hiện nay đều đạt chuẩn và trên chuẩn, có lòng yêunghề, có tinh thần và trách nhiệm cao, đáp ứng tốt yêu cầu rèn luyệnKNXLTH giao tiếp với bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi
- Phụ huynh quan tâm, chăm sóc trẻ chu đáo, đảm bảo cho trẻ có đượctâm lý tự tin ở gia đình, xây dựng cho trẻ nếp sống ổn định
- Gia đình chủ động phối hợp với giáo viên để cùng rèn luyệnKNXLTH cho trẻ, đây là điều kiện rất thuận lợi, tạo nên sự thống nhấtchương trình chăm sóc, giáo dục trẻ giữa gia đình và nhà trường, điều này đặcbiệt cần thiết cho trẻ tự kỷ
- Có nguồn tài liệu phong phú, cơ sở vật chất đầy đủ phục vụ cho việc
RL KNXLTH cho trẻ Các trung tâm, cơ sở giáo dục trẻ tự kỷ ở nước ta hiệnnay nhìn chung mới được mở, nên đa phần có khá thiếu về các trang thiết bị,
cơ sở vật chất, sân chơi, bãi tập đáp ứng đầy đủ các yêu cầu giáo dục trẻ tự
kỷ Mặc dù nguồn tài liệu chăm sóc và giáo dục trẻ tự kỷ khá phong phú,nhưng còn thiếu các chuyên gia giỏi hỗ trợ các trung tâm, các cơ sở đánh giá,chẩn đoán được sự tiến bộ của trẻ một cách thường xuyên
Trang 371.3.5.2 Những khó khăn
- Trẻ ít có cơ hội tiếp xúc với nhiều người Trên thực tế, đây không phải
là khó khăn cơ bản, vì ở gia đình trẻ được tiếp xúc với mọi người trong giađình, ở trường, trẻ được tiếp xúc với cô giáo và bạn Trái lại, trẻ tự kỷ thườngsống khép kín, ít chủ động giao tiếp, không cởi mở
- Trẻ không được rèn luyện đúng cách, đây cúng có thể là trở ngại đáng
kể Ở trường trẻ tự kỷ đều được giáo dục theo phương pháp khoa học, tuynhiên, khi ở gia đình, trẻ lại không được chăm sóc theo đúng yêu cầu của nhàtrường hoặc không được quan tâm đầy đủ, chế độ sinh hoạt không đảm bảo,dẫn đến sự không tương thích về cách chăm sóc, rèn luyện của gia đình vớinhà trường
- Trẻ gặp nhiều khó khăn khi vận dụng bài học vào thực tế do gặp khókhăn về thiết lập các mối quan hệ xã hội, kĩ năng giao tiếp và có hành vi, sởthích, hoạt động mang tính hạn hẹp, lặp đi lặp lại, đồng thời, nhận thức, kinhnghiệm của trẻ cũng khá hạn chế Hầu như trẻ tự kỷ muốn tất cả mọi điềuphải quen thuộc, gần gũi, trẻ rất ghét sự thay đổi, xáo trộn: từ những đồ dùng
cá nhân, đồ dùng học tập cho đến nơi chốn sinh hoạt hàng ngày, sự khôngquen thuộc đồng nghĩa với sự thiếu an toàn, những nguyên nhân trên làm chotrẻ gặp khó khăn khi vận dụng kiến thức đã học vào thực tế
- Giáo viên chưa có nhiều kinh nghiệm và kỹ năng trong việc rèn luyệnKNXLTH cho trẻ Giáo viên trẻ mới vào nghề thường chưa được trải nghiệmthực tế, họ mới chỉ được rèn luyện nghề nghiệp qua các chuyến đi thực tập,thực tế nên vốn kinh nghiệm, kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ còn kháhạn chế, đây cũng là trở ngại đáng kể đến hiệu quả rèn luyện KNXLTH giaotiếp với bạn cho trẻ tự kỷ
- Gia đình chưa quan tâm đến việc rèn luyện KNXLTH cho trẻ Nếu trẻ
tự kỷ được gia đình quan tâm, chăm sóc đúng khoa học, có sự can thiệp
Trang 38thường xuyên sẽ có tác động rất tích cực đến việc thay đổi lời nói và hành vicủa trẻ Trái lại, nhiều gia đình quan tâm đến trẻ chưa đúng cách, hoặc khônghiểu về tự kỷ dẫn đến coi chứng tự kỷ ở trẻ là không thể can thiệp, nên phómặc sự phát triển của trẻ cho nhà trường, tất yếu sẽ rất khó để cải thiện đượcmức độ tự kỷ ở trẻ theo hướng tích cực.
- Thiếu nguồn tài liệu, cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình rèn luyệntrẻ Hầu hết các cơ sở, trung tâm giáo dục trẻ tự kỷ được xây dựng, được cấpphép hoạt động hiện nay thuộc tư nhân, cho nên đa phần các cơ sở này códiện tích khá hẹp, thiếu các trang thiết bị, cơ sở vật chất để đáp ứng được vớiđiều kiện để đáp ứng tốt việc rèn luyện KNXLTH giao tiếp với bạn cho trẻ tự
kỷ, đồng thời thiếu các đánh giá, can thiệp thường xuyên
1.4 Các biện pháp rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với các bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi
1.4.1 Khái niệm biện pháp rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp với bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi
- Khái niệm biện pháp
Theo Đại từ điển tiếng Việt, “biện pháp là cách làm, cách thức tiếnhành, giải quyết một vấn đề cụ thể” [25, tr.161] Từ điển tiếng Việt định nghĩa
về biện pháp: “cách thức xử lý công việc hoặc giải quyết vấn đề” [13, tr.108]
Như vậy, có thể hiểu: Biện pháp là cách thức tiến hành một hoạt động cụ thể.
- Khái niệm biện pháp rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống giao tiếp với bạn của trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi
Tiếp thu quan điểm nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi quan
niệm: Biện pháp rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống giao tiếp với bạn cho trẻ
tự kỷ 4 - 5 tuổi là cách thức giúp trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi tập luyện kỹ năng ứng phó phù hợp với các tình huống nảy sinh trong giao tiếp giữa trẻ với bạn, nhằm giúp trẻ tự kỷ có kỹ năng giao tiếp phù hợp với tình huống giao tiếp.
Trang 39Như vậy, biện pháp rèn luyện KNXLTH giao tiếp với bạn cho trẻ tự kỷ
4 -5 tuổi phải phù hợp với các mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp vàcác bước, có sự hỗ trợ của các trang thiết bị cơ sở vật chất
Trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi phải được tập luyện các kỹ năng ứng phó phù hợpvới các tình huống nảy sinh trong giao tiếp giữa trẻ với bạn
1.4.2 Biện pháp rèn luyện kỹ năng xử lý tình huốngtrong hoạt động giao tiếp với bạn cho trẻ tự kỷ 4 - 5 tuổi
1.4.2.1 Xác định mục tiêu rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống
- Giúp trẻ tham gia vào các quan hệ giao tiếp với mọi người một cáchchủ động, tích cực Với những trẻ có mức độ tự kỷ nhẹ hoặc trung bình, trẻhoàn toàn có thể tham gia vào các quan hệ giao tiếp với mọi người nếu có sựchỉ dẫn, giúp đỡ nhẹ nhàng, nhiệt tình, tạo hứng thú cho trẻ
- Giúp trẻ hòa nhập được với bạn Hầu hết trẻ tự kỷ biểu hiện sự cô lập,thích chơi một mình, tránh giao tiếp với bạn Việc xác định mục tiêu này mộtcách chính xác để có phương pháp, biện pháp, nội dung dạy học thích hợp với
cá nhân trẻ cũng như xây dựng các mối quan hệ giao tiếp tích cực giữa các trẻ
tự kỷ
- Giúp trẻ xử lý được các tình huống trong giao tiếp với mọi người Đốivới trẻ tự kỷ, việc thiết lập quan hệ xã hội gặp rất nhiều khó khăn, do việchiểu lời nói, suy giảm trong giao tiếp không lời, chậm phát triển ngôn ngữ Dovậy, mục tiêu rèn luyện KNXLTH giao tiếp với bạn sẽ giúp trẻ có đượcnhững kỹ năng cần thiêt để có thể xử lý được một số tình huống cơ bản tronggiao tiếp
- Giúp trẻ phát triển khả năng giao tiếp, thông qua việc phát triển ngônngữ ở trẻ, tăng cường vốn từ, sự liên kết các từ thành câu, từ việc trẻ biết nóicác từ đơn thành câu đơn cho đến câu ghép, với đích là giúp trẻ có thể phát
Trang 40triển tối đa khả năng giao tiếp với ban và cô giáo ở trường, với người thântrong gia đình và mọi người ngoài xã hội.
- Giúp trẻ tự tin và chủ động trong giao tiếp Thực tế cho thấy trẻ tự kỷthường thiết sự hiếu động, cá tính, không tự tin, nhút nhát khi giao tiếp Trẻrụt rè hay tự tin là kết quả của quá trình rèn luyện lâu dài từ phía gia đình vànhà trường Chính vì vậy, việc rèn luyện KNXLTH giao tiếp với bạn sẽ giúptrẻ từng bước xây dựng được sự tự tin, phá bỏ các hành vi, lời nói đơn điệu cótính lặp lại ở trẻ Giúp trẻ tự tin còn là một trong những nhiệm vụ quan trọnghàng đầu của gia đình và nhà trường vì không phải trẻ nào sinh ra đã có sẵn
sự tự tin, nhất là đối với trẻ tự kỷ
- Giúp trẻ phát triển ngôn ngữ Tạo ra nhiều cơ hội giao tiếp trongngày và tăng cường sử dụng các phương án như các bài hát, tranh ảnh, đồ vậtcũng như trò chuyện để xem cách nào có ý nghĩa và tạo nên sự quan tâmnhiều nhất đối với trẻ tự kỷ Sử dụng một số biện pháp kết hợp các phần trợgiúp trong ngôn ngữ sẽ kích thích sự quan tâm của trẻ trong việc giao tiếp,mục tiêu là kích thích được hứng thú, tính chủ động trong giao tiếp cho trẻ
- Giúp trẻ giảm bớt các hành vi không mong muốn Trẻ tự kỷ thường cónhiều hành vi bất thường, sống thu mình, ít giao tiếp và đôi khi còn tự xâmhại cơ thể, hung hãn, có hành vi trái ngược, giảm chú ý và dễ kích động.Những hành vi bất thường của trẻ không những đã ảnh hưởng rất lớn đến sựphát triển của chính bản thân đứa trẻ mà còn là mối lo ngại thực sự đối vớicha mẹ và giáo viên Tất cả những biểu hiện về hành vi bất thường ở trẻ cầnphải được điều chỉnh kịp thời và đòi hỏi phải có thời gian rèn luyện Các hành
vi này nếu không được uốn nắn sẽ gây khó khăn nghiêm trọng cho việc thíchứng xã hội, nếu kéo dài có thể hình thành ở trẻ những hành vi bạo lực, hành vi
có tính tiêu cực, sẽ làm cho trẻ mất đi cơ hội phát triển
1.4.2.2 Xác định nội dung rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống