Đồng thời hình thành cho các em các kĩ năng bản đồ, đánh giá,trình bày, giải thích được các hiện tượng Địa lí trong mối quan hệ biện chứnggiữa các yếu tố tự nhiên với các yếu tố tự nhiên
Trang 1PHẦN MỘT : MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài:
Bước vào thế kỉ XXI, thế kỷ của nền văn minh tri thức, Việt Nam đangđứng trước nhiều thời cơ và thách thức mới trong công cuộc đẩy mạnh côngnghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước nhằm phấn đấu đưa đất nước ta thoát khỏinghèo nàn, lạc hậu Để đạt được mục tiêu đến năm 2020, nước ta cơ bản trởthành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Đảng và Nhà nước không chỉchú trọng đổi mới các chính sách về phát triển kinh tế mà còn luôn quan tâm đếnviệc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Chính vì vậy, đổi mới giáo dục là vấn
đề được quan tâm đặc biệt những năm gần đây Trong đó, cần phải “ đổi mớimạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều,rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng phương pháptiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình học, đảm bảo điều kiện và thờigian học tập, tự nghiên cứu cho học sinh”
Môn Địa lý là một môn học có ý nghĩa quan trọng đối với việc trang bịnhững kiến thức và kĩ năng cần thiết để học sinh vận dụng vào cuộc sống saunày Chương trình kiến thức địa lí ở trường THCS sẽ giúp các em có đượcnhững hiểu biết về đặc điểm tự nhiên, dân cư, xã hội và kinh tế của các châu lục,các khu vực trên thế giới và của Việt Nam cũng như chính địa phương nơi các
em đang sống Đồng thời hình thành cho các em các kĩ năng bản đồ, đánh giá,trình bày, giải thích được các hiện tượng Địa lí trong mối quan hệ biện chứnggiữa các yếu tố tự nhiên với các yếu tố tự nhiên, giữa các hiện tượng tự nhiênvới các hiện tượng kinh tế - xã hội và ngược lại, giữa các hiện tượng kinh tế -xãhội với nhau… Để làm được điều đó, phương pháp truyền thụ của người thầyđóng vai trò vô cùng quan trọng để kích thích được sự say mê, tìm tòi, khám phá
và sáng tạo của học sinh Hiện nay có rất nhiều phương tiện dạy học trực quansinh động và các phương tiện kĩ thuật hiện đại hỗ trợ quá trình dạy học môn Địa
Trang 2lý Trong đó phương tiện dạy học Địa lý quan trọng và đặc trưng nhất vẫn là bản
đồ giáo khoa
Sử dụng có hiệu quả bản đồ trong dạy học Địa Lí còn góp phần đổi mớiphương pháp dạy học, giúp học sinh rèn luyện được những kĩ năng cần thiếtnhư: xác định phương hướng, đo tính khoảng cách dựa vào tỉ lệ bản đồ, kĩ năngquan sát, so sánh các đối tượng địa lí Ở mức độ cao hơn, thông qua học tậptrên bản đồ, học sinh phát triển được tư duy sáng tạo để phát hiện ra các mốiquan hệ địa lí không thể hiện trực tiếp trên bản đồ Trong những năm gần đâybản đồ Địa Lý đã được sửa đổi cả về nội dung và hình thức nhằm gây hứng thúcho học sinh học tập, giúp các em say mê, tìm tòi, khám phá những tri thức mới
về các quốc gia, các vùng miền trên thế giới, để từ đó thêm yêu quê hương,đất nước mình
Tuy nhiên, để hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ một cáchhiệu quả, đặc biệt giúp các em phát hiện, phân tích, lí giải được những mối liên
hệ địa lí lại là việc làm không hề đơn giản đối với học sinh lớp 7, khi các emmới bắt đầu làm quen với bản đồ
Xuất phát từ tình hình thực tiễn và những lí do trên mà tôi mạnh dạnnghiên cứu và làm đề tài này
II Mục đích nghiên cứu:
- Trước hết, việc nghiên cứu đề tài này giúp tôi củng cố được kiến thức
và phương pháp sử dụng bản đồ một cách vững vàng hơn nhằm giúp học sinhtích cực, chủ động khám phá tri thức thông qua bản đồ, từ đó nâng cao chấtlượng giảng dạy và học tập Địa lí ở trường THCS
- Hình thành cho học sinh có được tư duy về bản đồ, từ đó biết vận dụngkiến thức từ bản đồ để giải quyết các bài tập thực hành, bài kiểm tra, bài thi
Trang 3- Qua học tập trên bản đồ sẽ có nhiều học sinh giỏi, thuần thục kĩ năng pháthiện các mối liên hệ giữa các đối tượng địa lí tự nhiên, kinh tế - xã hội để hiểusâu thêm kiến thức.
Với chút ít kinh nghiệm của bản thân về kĩ năng bản đồ, tôi viết sáng kiếnkinh nghiệm này hy vọng phần nào cùng các bạn đồng nghiệp tháo gỡ nhữngvướng mắc khi rèn luyện kĩ năng bản đồ, giúp học sinh hoàn chỉnh kiến thức và
kĩ năng môn Địa lí
III Đối tượng , phạm vi nghiên cứu :
Nói về rèn luyện kỹ năng bản đồ có rất nhiều kỹ năng cần nghiên cứu: kỹnăng nhận biết, chỉ và đọc các đối tượng Địa lí ; kỹ năng xác định phươnghướng ; kỹ năng xác định khoảng cách ; kỹ năng xác định vị trí địa lí ; kỹ năngxác định độ cao và độ sâu; kỹ năng mô tả các điều kiện tự nhiên ; kỹ năng pháthiện các mối quan hệ địa lí ; kỹ năng mô tả tổng hợp địa lí một khu vực trên bảnđồ…
Nhưng do thời gian hạn hẹp, vốn kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế,tôi chỉ đề cập tới một chuyên đề nhỏ là giúp học sinh THCS đặc biệt là học sinhlớp 7 có được kỹ năng phát hiện các mối liên hệ địa lý trên bản đồ bằng nhữngphương pháp đơn giản, hiệu quả và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh
IV Phương pháp nghiên cứu :
- Thu thập tài liệu:
Căn cứ vào mục đích nhiệm vụ của đề tài, tôi đã thu thập tài liệu từ nhiều nguồnkhác nhau như :
+ Các ấn phẩm của tác giả: Nguyễn Dược, Lê Huỳnh, Nguyễn Phi Hạnh.+ Sách giáo khoa, sách giáo viên và những tài liệu giáo viên phục vụcông việc giảng dạy Địa Lý lớp 7
+ Các loại bản đồ giáo khoa phục vụ cho việc giảng dạy và học tập Địa
Lý lớp 7
Trang 4- Nghiên cứu chương trình dạy học Địa Lý bậc trung học cơ sở và thực tiễngiảng dạy môn Địa lý ở các trường THCS, đặc biệt môn Địa lý lớp 6,7
- Quan sát quá trình học tập môn Địa lý của học sinh trên lớp, phối hợp điều tratrong giáo viên và học sinh việc sử dụng bản đồ giáo khoa vào quá trình học tập
Từ đó rút ra những kinh nghiệm để hướng dẫn học sinh khai thác hiệu quả hơnnguồn tri thức từ bản đồ thông qua những bài giảng cụ thể
- Sưu tầm, thống kê những cách rèn luyện kỹ năng xác định các mối liên hệ địa
lý trên bản đồ để đúc kết thành những phương pháp khoa học
- Trao đổi với các đồng nghiệp cùng chuyên môn và học sinh để tìm ra nhữngkhó khăn, vướng mắc trong việc học tập với bản đồ, từ đó tìm ra cách thức đểkhắc phục, mang lại hiệu quả cho quá trình giảng dạy và học tập
- Thực nghiệm sư phạm : Khảo sát, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của họcsinh ở 2 lớp khối 7 Thông qua đó điều chỉnh phương pháp dạy học cho phùhợp
Trang 5PHẦN HAI : NỘI DUNG
I Những cơ sở chọn đề tài:
1 Cơ sở lí luận:
Bản đồ là một phương tiện trực quan, một nguồn tri thức địa lí quan trọng.Qua bản đồ, học sinh có thể nhìn một cách bao quát các khu vực lãnh thổ rộnglớn, những vùng lãnh thổ xa xôi trên bề mặt Trái Đất mà họ chưa bao giờ cóđiều kiện để đến tận nơi để quan sát
Về mặt nội dung, bản đồ có khả năng phản ánh sự phân bố và những mốiquan hệ của các đối tượng địa lí trên bề mặt Trái Đất một cách cụ thể mà khôngmột phương tiện nào khác có thể làm được Những kí hiệu, màu sắc, cách biểuhiện trên bản đồ là những nội dung địa lí đã được mã hóa, trở thành một thứngôn ngữ đắc biệt – ngôn ngữ bản đồ
Đối với môn Địa lí, một môn khoa học được xếp vào các ngành khoahọc thực nghiệm thì các thiết bị và phương tiện dạy học có vai trò và ý nghĩa rấtquan trọng Ngày nay, các phương tiện nghe nhìn hiện đại đang được sử dụngkhá phổ biến ở nước ta và đã phát huy nhiều ưu điểm vượt trội, tuy nhiên nó vẫnkhông thể thay thế được các phương tiện dạy học truyền thống, đặc biệt là bản
đồ giáo khoa địa lí trong quá trình dạy và học môn Địa lí ở trường phổ thông
Bản đồ giáo khoa địa lí hiện nay, tuy vẫn có chức năng là một phươngtiện dạy học trực quan, nhưng chức năng chủ yếu và vô cùng quan trọng của nó
là một nguồn tri thức địa lí phong phú để học sinh khai thác khi học tập Bản đồxứng đáng được coi là “ cuốn sách giáo khoa địa lí thứ hai”, một phương tiện tốt
để cho học sinh nhận biết và khám phá thế giới Dạy và học Địa Lí bằng bản đồ
là một phương pháp hiệu quả giúp học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức và ghinhớ lâu hơn
Trang 6Những bản đồ cần thiết cho bài học bao gồm có: bản đồ treo tường, bản
đồ trong sách giáo khoa và atlat Trong giờ Địa Lí, giáo viên cần phối hợp sửdụng các loại bản đồ này để có thể truyền đạt một lượng kiến thức lớn một cáchsinh động hơn, hiệu quả hơn Qua việc đọc bản đồ, học sinh được rèn kĩ năngquan sát, tưởng tượng, hình thành tư duy bản đồ, sau đó biết tổng hợp và kháiquát hóa bản đồ
Chính vai trò quan trọng như vậy nên ngoài việc nâng cao và bồi đắp
không ngừng những kiến thức Địa Lí thì các em học sinh cần rèn luyện kỹ năngbản đồ trong đó kỹ năng phát hiện các mối liên hệ địa lý là một trong những kĩnăng cơ bản giúp các em hiểu được kiến thức địa lí sâu sắc, toàn diện hơn…
2 Cơ sở thực tiễn:
Trong chương trình Địa Lí ở THCS , việc rèn luyện kỹ năng bản đồ được
đặt ra ngay từ đầu cấp tới cuối cấp trong các bài học môn Địa Lí
Ở chương trình SGK Địa lý lớp 6 học sinh được lĩnh hội và rèn luyệnmột cách có hệ thống và khoa học những kiến thức và kỹ năng cơ bản của Địa líđại cương : Trái Đất, bản đồ và các thành phần tự nhiên trên Trái Đất Các kĩnăng về bản đồ, đặc biệt là kĩ năng phát hiện, phân tích các mối liên hệ địa lí( vốn dĩ là một kĩ năng khó ), hầu như các em còn ít được tiếp xúc và rèn luyệnbởi nội dung chương trình ít liên quan đến bản đồ
Nội dung chương trình SGK Địa lý lớp 7 bao gồm: Thành phần nhân văncủa môi trường, Các môi trường Địa lý và Địa Lí tự nhiên, Địa Lí kinh tế -xã hộicủa các châu lục trên thế giới, vì vậy học sinh có điều kiện tiếp xúc với bản đồnhiều hơn Học tập với bản đồ, các em không chỉ cần có kĩ năng đơn giản nhưxác định phương hướng, xác định vị trí địa lí, mô tả các đối tượng địa lí mà cònphải phát hiện và phân tích , lí giải một cách đơn giản về các mối liên hệ địa lí.Đây là một kĩ năng rất quan trọng nhưng tương đối khó đối với học sinh lớp 7khiến nhiều em còn lúng túng khi học tập với bản đồ, đặc biệt các học sinh họclực ở mức yếu và trung bình Do đó, việc rèn luyện cho học sinh học môn Địa lí
Trang 7lớp 7 kỹ năng phát hiện các mối liên hệ địa lí trên bản đồ cần phải được làm dầndần, qua những ví dụ cụ thể, từ đơn giản đến phức tạp, làm cơ sở cho việc họcđịa lí các khối lớp sau.
Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mớikiểm tra, đánh giá cũng như trong thi học sinh giỏi đề thi luôn lồng ghép nhữngcâu hỏi về bản đồ để học sinh tìm ra kiến thức Như vậy, việc sử dụng bản đồtrong dạy học Địa Lí là điều quan trọng và cần thiết để học sinh độc lập tìm kiếnthức dưới sự hướng dẫn của giáo viên, tạo niềm say mê hứng thú của học sinhđối với môn học
II Rèn kỹ năng phát hiện các mối liên hệ địa lý trên bản đồ :
1.Ý nghĩa:
Mối liên hệ là nội dung có tính chất trụ cột, xương sống của địa lí Cáchiện tượng, đối tượng địa lí vốn đã có quan hệ chặt chẽ trong thực tế, chúngđược chọn lọc và trình bày trên bản đồ phù hợp với yêu cầu học tập địa lí, nhưngkhông mất đi các mối liên hệ này Do đó cần xác lập các mối liên hệ địa lí đểhình thành cho học sinh phương pháp tư duy logic, phương pháp nhận thức cácđốitượng và hiện tượng địa lí trong mối liên hệ biện chứng của nó
Mối liên hệ dùng để chỉ sự tác động và ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
Có những mối liên hệ được thể hiện trực tiếp, rõ ràng trên bản đồ: Đây là
những mối liên hệ thuần túy, thường là những mối liên hệ Địa lý về vị trí trongkhông gian giữa các đối tượng địa lý Ví dụ : Khi mô tả một con sông, phải tìm
ra mối liên hệ của nó với nơi bắt nguồn, với những miền địa hình mà nó chảyqua, với những phụ lưu mà nó tiếp nhận, với những vịnh biển hoặc hồ nơi nó đổ
vào… Có những mối liên hệ không được thể hiện trực tiếp, rõ ràng trên bản đồ:
để phát hiện chúng, học sinh không chỉ dựa vào bản đồ mà còn phải dựa vào
Trang 8trên tọa độ địa lí của một khu vực và cách biểu hiện lớp phủ thực vật, lớp phủthổ nhưỡng trên bản đồ thì học sinh có thể biết được đặc điểm khí hậu của nơiđó.
Trong nội dung của môn Địa lí có rất nhiều mối liên hệ : Nếu là mối liên
hệ giữa các thành phần tự nhiên xảy ra trong tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên thì
đó là các mối liên hệ giữa các thành phần tự nhiên với tự nhiên; mối liên hệ
giữa các ngành kinh tế và hoạt động xã hội với quá trình khai thác lãnh thổ xảy
ra trên điều kiện tự nhiên đó thì lại là các mối liên hệ giữa tự nhiên với kinh tế
-xã hội; còn mối liên hệ giữa các hiện tượng kinh tế - -xã hội bao gồm liên hệ giữa
các ngành kinh tế được biểu hiện qua mối liên hệ lẫn nhau giữa các ngành trong
cơ cấu ngành, giữa nội bộ ngành và qua sự của phân bố các ngành kinh tế vớinhau trên lãnh thổ…
Xét về vị trí, vai trò của các thành phần trong mối liên hệ, có thể phân
chia thành : Thứ nhất là các mối liên hệ nhân quả : là những mối liên hệ trong
đó có sự liên quan phụ thuộc một chiều giữa các sự vật, hiện tượng Chỉ cónguyên nhân mới sinh ra kết quả, trong khi đó kết quả không thể nào sinh ra
nguyên nhân ban đầu sinh ra nó Thứ hai là các quy luật địa lí, đây là những
kiến thức khái quát hóa biểu hiện mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng vàquá trình địa lý có tính chất cố định không thay đổi trong những điều kiện nhấtđịnh mỗi khi lặp lại Các mối liên hệ nhân quả trong địa lý nói chung đều phổ
biến thành các quy luật Thứ ba là các mối liên hệ thông thường : khác với mối
liên hệ nhân quả, nguyên nhân không đóng vai trò quyết định kết quả mà chỉđóng vai trò nhất định nào đó
Kĩ năng phát hiện các mối liên hệ địa lý trên bản đồ là một kỹ năng hếtsức quan trọng, vì bản chất của khoa học địa lí là gắn với không gian, với bản đồ
và gắn với mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng Kỹ năng này không chỉ dựavào sự hiểu biết về bản đồ học mà còn phải dựa vào kiến thức địa lí, càng nắmvững, hiểu sâu, càng tích lũy được nhiều kiến thức địa lí thì kỹ năng càng thànhthạo
Trang 9Thực ra, kỹ năng này được thực hiện không tách rời các kỹ năng khác,chẳng hạn trong khi rèn luyện kỹ năng nhận biết các đối tượng địa lí trên bản đồthì đồng thời các em cũng được rèn luyện kỹ năng xác lập các mối liên hệ khônggian giữa các đối tượng địa lí mang tính chất thuần túy địa đồ học hoặc trong khirèn luyện kỹ năng xác định vị trí địa lí đồng thời cũng rèn luyện cho học sinh kỹnăng xác lập các mối liên hệ nhân quả giữa vị trí địa lí và khí hậu của một địaphương, giữa địa hình với khí hậu, giữa tài nguyên với hoạt động kinh tế …
2.Cách thức tiến hành:
a Giúp học sinh nắm chắc các vốn hiểu biết về bản đồ học:
Để rèn luyện kĩ năng phát hiện các mối liên hệ địa lí trên bản đồ, trước hếtcần củng cố và phát triển những hiểu biết của học sinh về bản đồ Ngay từ lớp 6,các em đã được cung cấp một số kiến thức về bản đồ, nhưng còn rất sơ lược.Lên lớp 7, những kiến thức ban đầu của các em về Trái Đất, về bản đồ mới đượccủng cố, bổ sung và hoàn thiện dần Với học sinh lớp 7, nhận thức của các emcòn thấp, vì vậy trước tiên, giáo viên giúp học sinh nắm được cách phươnghướng trên bản đồ Đặc biệt giúp học sinh nắm chắc kí hiệu độ trên bản đồ vàbiết xác lập các mối quan hệ giữa chúng Điều quan trọng đối với việc hìnhthành kĩ năng này là giáo viên cho học sinh biết được các mối tương quan chủyếu trên bản đồ : các mối tương quan về vị trí ( tọa độ mặt bằng hay độ cao),tương quan về màu sắc, tương quan về kích thước kí hiệu, tương quan về kết cấu( mật độ của các phần tử đồ họa), tương quan về phương hướng đường chuyểnđộng
b Cung cấp dần các mối liên hệ địa lý làm cơ sở cho việc rèn luyện kĩ năng :
Việc cung cấp dần các mối liên hệ địa lý cần được thực hiện thườngxuyên, liên tục qua các bài học Cuối tiết học, giáo viên nên giúp học sinh rút racác mối liên hệ địa lí được học trong bài
c Giúp học sinh phân biệt được các mối liên hệ địa lí:
* Những mối liên hệ được thể hiện trực tiếp, rõ ràng trên bản đồ:
Trang 10Là những mối liên hệ địa lí về vị trí trong không gian giữa các đối tượngđịa lí, những mối liên hệ này thể hiện trực tiếp rõ ràng trên bản đồ, học sinh dễnhận ra trong khi mô tả các đối tượng địa lí trên bản đồ.
Ví dụ: Khi tìm hiểu về lượng mưa châu Phi, giáo viên cho học sinh quansát bản đồ hoặc lược đồ lượng mưa của châu lục này Qua kí hiệu thang màutrên bản đồ học sinh sẽ nhận biết ở châu Phi, lượng mưa phân bố không đều, cónơi mưa nhiều có nơi mưa ít: những nơi mưa nhiều nhất tập trung ở bờ biển TâyPhi quanh vịnh Ghi-nê và hai bên đường xích đạo ; còn khu vực hai bên đườngchí tuyến, đặc biệt là hoang mạc Xa-ha-ra và hoang mạc Na-mip có lượng mưarất ít Song để hiểu ngọn nguồn vì sao lượng mưa ở châu Phi lại phân bố nhưvậy thì học sinh cần phải kết hợp với các mối liên hệ phức tạp hơn, có tính quiluật hơn
* Những mối liên hệ địa lí không được thể hiện trực tiếp, rõ ràng trên bản đồ:
Ngoài những mối liên hệ đơn giản trên đây, còn có những mối liên hệ địa
lí không thể hiện trực tiếp rõ ràng trên bản đồ và để phát hiện ra chúng, học sinhkhông chỉ dựa vào bản đồ mà còn phải dựa vào vốn kiến thức địa lí của mình,nhất là sự hiểu biết về các qui luật địa lí
Những mối liên hệ địa lí này có thể phân thành 3 loại :
- Những mối liên hệ giữa các hiện tượng địa lý tự nhiên với các hiện tượng địa
lý tự nhiên: đây là mối liên hệ nhân quả được sử dụng ở lớp 7 nhiều nhất vì ởlớp 7 các em sẽ được nghiên cứu nhiều về các môi trường địa lý và địa lý cácchâu lục Ví dụ: qui luật giữa khí hậu một nơi với vĩ độ của nơi đó, với địa hình,với biển và dòng biển bao quanh, giữa sông ngòi với địa hình, khí hậu… Đấy lànhững mối liên hệ nhân quả
- Những mối liên hệ giữa các hiện tượng địa lí kinh tế - xã hội với các hiệntượng địa lí kinh tế - xã hội:Ví dụ:các dân tộc miền núi chặt phá rừng đốt nươnglàm rẫy - đất đai xói mòn bạc màu, rửa trôi - kinh tế phát triển kém phụ thuộcvào tự nhiên…
Trang 11- Những mối liên hệ giữa các hiện tượng địa lý tự nhiên với các hiện tượng địa líkinh tế - xã hội : Ví dụ: sử dụng thảo nguyên khô và bán hoang mạc để chăn thảgia súc, sử dụng thác nước để làm thủy điện, phát triển công nghiệp gỗ, giấy dựavào nguồn lợi của rừng…
Những mối liên hệ thuộc hai loại sau không phải là những mối liên hệnhân quả, có tính qui luật mà chỉ là những mối liên hệ thông thường Khôngnhất thiết phải có rừng công nghiệp gỗ mới phát triển Không nhất thiết phải cóbiển ngành hàng hải đánh cá mới phát triển Không phải cứ có ngành côngnghiệp khai thác dầu là có ngành sản xuất thiết bị và vận chuyển dầu khí… Thậtvậy, việc khai thác sử dụng tự nhiên xây dựng và phát triển kinh tế còn tùythuộc một phần lớn vào trí tuệ của con người, vào trình độ khoa học kỹ thuật,trình độ phát triển kinh tế, vào đặc điểm của mỗi quốc gia
Một điều hết sức quan trọng là tập cho học sinh phân biệt được nhữngmối liên hệ địa lí thông thường với những mối liên hệ địa lí nhân - quả bằngcách luôn đặt câu hỏi để các em suy nghĩ, phân tích và trả lời; phải chăng cứ cócác này thì phải có cái kia
Ví dụ như:
- Phải chăng cứ có rừng thì có ngành công nghiệp gỗ, giấy, xen luy lô…phát triển?
- Cứ có biển thì có ngành hàng hải và đánh cá phát triển?
- Phải chăng cứ ở vĩ độ cao thì bao giờ khí hậu nơi đó cũng lạnh?
- Có phải cứ ở vị trí gần biển thì bao giờ khí hậu cũng ôn hòa hơn không?Chỉ khi nào câu trả lời khẳng định được thì lúc đó mới phát biểu theokiểu: vì…nên Trong trường hợp câu trả lời phủ định thì đấy là mối liên hệthông thường
Chẳng hạn có thể nói “các nước nằm ở vĩ độ cao nên có khí hậu lạnh”, vìđấy là mối liên hệ có tính qui luật, nhưng không thể nói “các nước nằm cạnhbiển nên có ngành đánh cá và hàng hải phát triển” vì đây không phải là mối liên
hệ nhân - quả mang tính qui luật cứ có cái này thì tất yếu phải có cái kia, trong
Trang 12thực tế có nước nằm ven biển nhưng hai ngành đó không phát triển hay chưaphát triển.
Đối với mối liên hệ nhân - quả, nên dùng kí hiệu mũi tên: Các nước nằm
Để tìm được các mối liên hệ địa lý trên bản đồ đòi hỏi học sinh phải xácđịnh được những kiến thức có liên quan Đồng thời, khi xác lập mối liên hệ địa
lý trên bản đồ để giải thích sự vật hiện tượng thì chúng ta cần phải liên hệ vớicác bản đồ có nội dung liên quan Ví như để giải thích lượng mưa của một khuvực thì ngoài bản đồ khí hậu thì ta phải tìm hiểu bản đồ địa hình, dòng biển, gió
Sở dĩ như vậy vì đây là những nhân tố ảnh hưởng sâu sắc tới lượng mưa Cầntìm hiểu tất cả các mối liên hệ địa lý giữa các thành phần, nhưng chú ý tới cácyếu tố nổi trội chi phối các thành phần khác bởi trong địa lý, điều quan trọng làlàm rõ tính độc đáo của từng nơi
Trang 13Một vài ví dụ trong chương trình Địa lí 7
Ví dụ 1: Kĩ năng phát hiện mối liên hệ giữa các hiện tượng Địa lý tự nhiên:
Trong các mối liên hệ giữa tự nhiên với tự nhiên: Khí hậu, các cảnh quan
tự nhiên ở một nơi nào đó phụ thuộc vào: vị trí địa lý, địa hình, biển và các dòngbiển, hoàn lưu khí quyển ảnh hưởng đến khu vực đó…Tìm hiểu về khí hậu châuPhi, học sinh cần phải tìm nguyên nhân : “Vì sao châu Phi là châu lục nóng?”
Và “ Vì sao khí hậu châu Phi khô, hình thành những hoang mạc lớn ?” Để trả lờihai câu hỏi này, cần phải xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới khí hậu châuPhi, đó là : vị trí địa lí, hình dáng lãnh thổ, địa hình, dòng biển…
Hình 1 : Lược đồ lượng mưa châu Phi
Trang 14
Hình 2 : Lược đồ tự nhiên châu Phi.
Phần lớn lãnh thổ châu Phi nằm giữa hai đường chí tuyến nên châu Phi cókhí hậu nóng Tại sao lại phải căn cứ vào vị trí của châu lục so với các đườngchí tuyến để xác định kiểu khí hậu ? Bởi lẽ vĩ độ địa lý sẽ quyết định góc chiếucủa ánh sáng Mặt Trời, từ đó hình thành nên đặc điểm nhiệt độ - tiêu chí quyếtđịnh để phân chia các đới khí hậu trên Trái Đất Như vậy, trả lời xong câu hỏithứ nhất, chúng ta đã xác lập được mối liên hệ giữa vị trí địa lý với khí hậu Cầnnhấn mạnh đây là mối liên hệ nhân quả, trong đó vị trí địa lý là nguyên nhân, khíhậu là kết quả
Tiếp tục quan sát hình dáng lãnh thổ, đường bờ biển và kích thước châuPhi, ta nhận thấy : Bờ biển châu Phi không bị cắt xẻ nhiều, lục địa Phi có dạnghình khối, kích thước rất lớn Mặc dù được bao bọc xung quanh bởi các biển vàđại dương nhưng hình dáng và kích thước lãnh thổ đã làm cho ảnh hưởng củabiển không vào sâu trong đất liền nên châu Phi là lục địa khô Nhưng những
Trang 15nhân tố đó chưa đủ để tạo nên hoang mạc lớn nhất thế giới – hoang mạc
Xa-ha-ra Lúc này, chúng ta lại cần tìm các nhân tố liên quan đến sự hình thành cáchoang mạc : áp cao cận chí tuyến, độ cao và hướng địa hình, gió, dòng biển…Chí tuyến Bắc đi qua giữa Bắc Phi nên quanh năm Bắc Phi nằm dưới áp cao cậnchí tuyến, thời tiết ổn định, không có mưa Lãnh thổ Bắc Phi rộng lớn, lại có độcao trên 200m nên ảnh hưởng của biển khó ăn sâu vào đất liền Không chỉ bảnthân các yếu tố trong lãnh thổ châu Phi, còn có các nhân tố khác bên ngoài cũnggóp phần chi phối đến khí hậu khu vực Bắc Phi Phía Bắc Bắc Phi là lục địa Á –
Âu, một lục địa lớn, là nơi xuất phát của gió tín phong Đông Bắc nóng khô, thổiquanh năm ở Bắc Phi nên khó gây mưa Phía Tây Bắc châu Phi có dòng biểnlạnh Ca-na-ri chảy sát ven bờ càng làm tăng tính chất khô hạn của khí hậu BắcPhi, tạo điều kiện cho hoang mạc Xa-ha-ra chạy lan ra sát bờ biển
Tương tự như trên, học sinh có thể dựa vào bản đồ tự nhiên châu Phi đểtìm mối liên hệ giữa vị trí địa lý, hình dạng lãnh thổ, đường bờ biển, các dòngbiển, sự vận động của các khối khí với sự phân bố lượng mưa không đều ở châuPhi Cũng ảnh hưởng bởi khối khí chí tuyến nóng, khô, khu vực Nam Phi cũng
có hoang mạc Na-mip và hoang mạc Ca-la-ha-ri nhưng diện tích nhỏ hơn và ítkhô hạn hơn so với hoang mạc Xa-ha-ra Một phần vì lãnh thổ Nam Phi nhỏ hơn
so với lãnh thổ Bắc Phi , song cần nhấn mạnh đến vai trò của các dòng biển Bởi
lẽ dòng biển nóng Xô-ma-li, dòng nóng Mô-dăm-bich và dòng nóng Mũi Kimchảy ven bờ biển phía đông, đông nam châu Phi đã cung cấp nhiều hơi ẩm Giómùa đông nam từ biển vào khi vượt qua các sườn cao nguyên phía đông châuPhi vẫn còn hơi ẩm, gây mưa, tạo điều kiện cho xa van phát triển ở phía đông, vìthế ở Nam Phi, hoang mạc bị xavan đẩy lùi Dòng biển lạnh Ca-na-ri và Ben-ghê-la chảy ven bờ tây bắc và tây nam châu Phi nên lượng mưa vùng ven biểndưới 200mm
Bản thân mối liên hệ giữa khí hậu với thực vật rất mật thiết Khí hậu làyếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến sự phân bố thực vật.Tùy theo khí hậu mỗi nơi,
Trang 16mà có loài thực vật khác nhau Mức độ phong phú hay nghèo nàn của thực vật ởmột nơi, cũng chủ yếu do khí hậu nơi đó quyết định, ngoài ra cũng có nhân tốcon người, các động vật nhưng cơ bản thực vật chịu sự chi phối chặt chẽ của khíhậu Cũng đối chiếu giữa hai lược đồ Hình 1 và 2, có thể thấy rõ : Ở châu Phi,những nơi có lượng mưa lớn trên 1000mm sẽ phát triển thảm thực vật rừng rậmnhiệt đới, lượng mưa từ 200-1000mm tương ứng với rừng lá cứng địa trung hải
và lượng mưa dưới 200mm là xavan , hoang mạc và bán hoang mạc Trong mốiliên hệ này, khí hậu là nguyên nhân, thực vật là kết quả
Trong các nhân tố hình thành khí hậu châu Âu, những nhân tố đầu tiênảnh hưởng to lớn phải kể đến vị trí địa lý, hình dạng và kích thước lãnh thổ Châu Âu nằm chủ yếu trên các vĩ độ cận nhiệt và ôn đới, lại nằm ở bờ tây lụcđịa : trong năm thường chịu ảnh hưởng của áp cao chí tuyến và gió tây ôn đớihoạt động quanh năm Châu Âu có ba mặt giáp biển, đường bờ biển bị chia cắtmạnh, có nhiều biển và vịnh biển ăn sâu vào trong đất liền, lại thêm ảnh hưởngcủa gió tây thổi từ biển vào làm cho hơi nước từ biển dễ dàng xâm nhập vào sâutrong đất liền
Không chỉ vậy, cấu tạo của địa hình cũng góp phần làm tăng hiệu lực hoạtđộng của gió tây Cần cho học sinh xác định sự phân bố của các dạng địa hìnhchính của châu lục Dải đồng bằng và núi đồi thấp nằm giữa các dãy núi cao ởBắc và Nam Âu làm cho các khối khí ôn đới hải dương dễ xâm nhập sâu vào nộiđịa cho đến tận giới hạn phía đông lãnh thổ Mặt khác, các sườn núi theo hướngbắc – nam hoặc gần với bắc- nam lại là những nơi đón gió tạo ra những vùngmưa lớn trên châu lục Ví dụ : ở đảo Anh, trên các đồng bằng thấp lượng mưatrung bình năm chỉ 600 – 700mm, trong khi trên các sườn đón gió phía tây, tâybắc lượng mưa đạt tới 2000mm Đặc biệt, trên các sườn đón gió dãyXcanđinavi, sườn tây bắc dãy An-pơ, sườn tây dãy A-pen-nin, sườn tây dãy Pin-
đơ và Đi-na… đều là những nơi có mưa nhiều, trung bình trên 2000mm Trêncác sườn khuất gió hoặc thung lũng nội địa, lượng mưa giảm xuống rất rõ chỉ