KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN Luận văn tốt nghiệp NGHIÊN CỨU QUAN HỆ NHÂN QUẢ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ MỨC TIÊU THỤ NĂNG LƯỢNG Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1985-2010 GVHD: ThS... 8 1.2 Mục
Trang 1KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Luận văn tốt nghiệp
NGHIÊN CỨU QUAN HỆ NHÂN QUẢ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ MỨC TIÊU THỤ NĂNG LƯỢNG Ở VIỆT NAM TRONG GIAI
ĐOẠN 1985-2010
GVHD: ThS Nguyễn Khánh Duy SVTH : Hoàng Duy Khoa
Lớp : Đầu Tư 1
MSSV : 108202117
Khóa : 34
Tp Hồ Chí Minh, tháng 04/2012
Trang 21
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 3
2
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ 6
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 7
1.1 Đặt vấn đề 7
1.2 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 8
1.4 Cấu trúc bài làm 8
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 10
2.1 Tăng trưởng kinh tế 10
2.2 Các nghiên cứu trước 11
CHƯƠNG 3 : TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH TIÊU THỤ NĂNG LƯỢNG Ở VIỆT NAM 17
3.1 Mối quan hệ sơ bộ giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng 17
3.2 Thực trạng và ảnh hưởng của việc sử dụng xăng dầu 18
3.2.1 Thực trạng sử dụng xăng dầu ở Việt Nam 18
3.2.2 Lịch sử giá xăng dầu thế giới 20
3.3 Tác động của xăng dầu đến Việt Nam 28
3.3.1 Về kinh tế 28
3.3.2 Về xã hội 31
CHƯƠNG 4: KHUNG PHÂN TÍCH 33
4.1 Mô hình VAR 33
4.2 Kiểm định quan hệ nhân quả 33
4.2.1 Kiểm định nghiệm đơn vị 34
Trang 43
4.2.2 Đồng liên kết 35
4.2.3 Kiểm định quan hệ nhân quả Granger 37
CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
5.1 Kiểm định nghiệm đơn vị 38
5.2 Kiểm định đồng liên kết 38
5.3 Kiểm định nhân quả Granger tiêu chuẩn 39
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN 42
6.1 Tổng kết 42
6.2 Kiến nghị chính sách 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
PHỤ LỤC 46
Trang 54
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- ADF (Augmented Dickey-Fuller): phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị của Dickey-Fuller
- dBA (Decibels Adjusted): mức âm thanh
- ECM (Error Correction Model): Mô hình điều chỉnh lỗi
- ECPC (Energy Consumption per capital): tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người
- G7 (Group of Seven): tập hợp bảy vị bộ trưởng tài chính của bảy nước kỹ nghệ tiên tiến trên thế giới, gồm: Pháp, Đức, Ý, Nhật, Anh, Hoa Kỳ và Canada
- GDP (Gross Domestic Product): tổng sản phẩm nội địa, tức tổng sản phẩm quốc nội
- GNP (Gross National Product): Tổng sản lượng quốc gia hay Tổng sản phẩm quốc gia
- GDPPC (GDP per capital): GDP bình quân đầu người
- OPEC (Organization of Petroleum Exporting Countries): tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa
- OECD (Organization for Economic Co-operation and Development): tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
- PP (Perron): phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị của
Phillips-Perron
- VECM (Vector Autoregressive Error Correction Model): Mô hình Vector điều chỉnh lỗi
Trang 65
- VAR (Vector autoregression): Mô hình Vector tự điều chỉnh
Trang 76
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Bảng 1: Tóm tắt các nghiên cứu trước
Bảng 2: Thống kê mô tảcác biến nghiên cứu
Bảng 3: Kiểm định nghiệm đơn vị cho chuỗi gốc
Bảng 4: Kiểm định nghiệm đơn vị cho chuỗi sai phân bậc một
Bảng 5 : Kiểm định tính dừng của phần dư bằng phương pháp ADF và PP
Bảng 6: Kiểm định nhân quả Granger tiêu chuẩn cho biến ECPC và GDPPC
Hình 1 : Đồ thị của ECPC và GDPPC
Hình 2: Lược tả ảnh hưởng của việc biến đổi giá xăng dầu
Trang 8tế điều này là không thể tránh khỏi vì xăng là nguồn nguyên nhiên liệu được sử dụng rất nhiều trong đời sống sinh hoạt và trong sản xuất Nó là nguồn nguyên, nhiên liệu không thể thiếu của bất kỳ quốc gia nào
Bên cạnh đó, giả cả xăng dầu trong những năm gần đây biến động cực mạnh cộng với hiện tượng nóng lên toàn cầu làm các nhà nghiên cứu cũng như chính phủ quan tâm đến việc hoạch định chinh sách tiết kiệm năng lượng Do đó chúng ta phải tìm hiểu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và năng lượng tiêu thụ để không đưa
ra một chính sách tiết kiệm năng lượng có thế làm kiếm hãm kinh tế cũng như một chính sách sử dụng quá nhiều năng lượng góp phần làm nóng lên toàn cầu cũng như
ô nhiễm không khí
Nghiên cứu này khảo sát mối quan hệ giữa lượng năng lượng tiêu thụ và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 1980-2010 Từ kết quả phân tích, các nhà chính sách sẽ theo đuổi các chính sách bảo tồn năng lượng nhằm giảm bớt lượng năng lượng tiêu thụ mà không ảnh hưởng đến kinh tế, năng lượng phân bổ hiệu quả vào nhiều lĩnh vực sản xuất của nền kinh tế, phát triển kinh tế theo hướng bền vững
Trang 98
1.2 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Thông qua mô hình nhân quả Granger để phân tích 2 biến năng lượng tiêu thụ đầu người (ECPC) và GDP đầu người (GDPPC) trong giai đoạn 1985-2010 ở Việt Nam nhằm mục đích sau:
- Nghiên cứu xem tác động giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng là một chiều hay hai chiều
- Giúp cho các nhà chính sách tìm được chính sách hợp lý cho mục tiêu phát triển bền vững kết hợp với chính sách bảo tồn năng lượng của Việt Nam
Dữ liệu được lấy từ website ngân hàng thế giới Worldbank
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm mục đích trả lời câu hỏi sau đây:
(1) Có quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng ở Việt Nam hay không? Nếu có thì quan hệ gì?
(2) Cân bằng có tồn tại giữa năng lượng tiêu thụ và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hay không?
1.4 Cấu trúc bài làm
Bài làm gồm 6 chương chính như sau: Chương 1, giới thiệu sơ bộ về lý do chọn
đề tài, các thông tin về bài nghiên cứu Chương 2, cơ sở lý thuyết, trình bày các lý thuyết liên quan đến bài nghiên cứu cũng như các nghiên cứu tiền nghiệm Chương
3, tổng quan về tình hình tiêu thụ năng lượng ở việt nam, chương này sẽ nêu lên tình hình sử dụng xăng dầu cũng như hệ quả sử dụng xăng dầu quá mức Chương 4, khung phân tích, nêu lên các phương pháp nghiên cứu sẽ ứng dụng trong bài nghiên
Trang 109 cứu Chương 5, kết quả nghiên cứu, trình bày và giải thích các kết quả thu được Chương 6, kết luận, đưa ra nhận xét và các kiến nghị
Trang 1110
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Tăng trưởng kinh tế
Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia , tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về
số lượng, chất lượng, tốc độ và quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng Đó là sự gia tăng quy mô sản lượng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc Quy mô và tốc độ tăng trưởng là"cặp đôi" trong nội dung khái niệm tăng trưởng kinh tế Hiện nay, trên thế giới người ta thường tính mức gia tăng về tổng giá trị của cải của xã hội bằng các đại lượng tổng sản phẩm quốc dân hoặc tổng sản phẩm quốc nội
- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là tổng giá trị tính bằng tiền của những hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra từ các yếu tố sản xuất của mình (dù là sản xuất ở trong nước hay ở nước ngoài) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị tính bằng tiền của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra trên lãnh thổ của nước đó (dù nó thuộc về người trong nước hay người nước ngoài) trong một thời gian nhất định (thường là một năm)
So sánh tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ta thấy:
GNP = GDP + thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài
Thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài = thu nhập chuyển về nước của công dân nước đó làm việc ở nước ngoài trừ đi thu nhập chuyển ra khỏi nước của người nước ngoài làm việc tại nước đó
Trang 1211
Tăng trưởng kinh tế là mức gia tăng GDP hay GNP năm sau so với năm trước GNP và GDP là hai thước đo tiện lợi nhất để tính mức tăng trưởng kinh tế của một nước biểu hiện bằng giá cả Vì vậy, để tính đến yếu tố lạm phát người ta phân định GNP, GDP danh nghĩa và GNP, GDP thực tế GNP, GDP danh nghĩa là GNP
và GDP tính theo giá hiện hành của năm tính; còn GNP và GDP thực tế là GNP và GDP được tính theo giá cố định của một năm được chọn làm gốc Với tư cách này, GNP, GDP thực tế loại trừ được ảnh hưởng của sự biến động của giá cả (lạm phát)
Do đó, có mức tăng trưởng danh nghĩa và mức tăng trưởng thực tế
2.2 Các nghiên cứu trước
Mối quan hệ giữa năng lượng và tăng trưởng kinh tế về mặt lý thuyết thì có 2 trường phái đối lập nhau Trong mô hình tân cổ điển thì cho rằng năng lượng chỉ là nguyên liệu đầu vào, trung gian sản xuất (Tsani, 2010) Tăng trưởng kinh tế vẫn tiếp tục mặc dù có một nguồn năng lượng giới hạn Đó là do sự phát triển không ngừng của khoa học kĩ thuật và các năng lượng thay thế khác (Solow, 1974, 1997; Stiglitz, 1997) Năng lượng chỉ là một yếu tố đầu vào không cần thiết trong quá trình sản xuất Giả thuyết này ủng hộ việc giới hạn năng lượng sẽ không làm ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Mặt khác, có những lý thuyết cho rằng việc tiêu thụ năng lượng là một nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là các nền kinh tế hiện đại Kinh tế học sinh thái cho rằng tiến bộ công nghệ hay các đầu vào khác không thể thay thế cho năng lượng trong quá trình sản xuất Thậm chí năng lượng là nguồn gốc của giá trị
vì những yếu tố sản xuất khác như vốn, lao động không thể nào hoạt động được nếu không có năng lượng Do đó, nếu có bất kì cú sốc nào về nguồn cung cấp năng lượng sẽ gây ra một tác động tiêu cực đến nền kinh tế
Ý tưởng về mối quan hệ nhân quả giữa năng lượng và tăng trưởng lần đầu tiên được đưa ra bởi Kraft và Kraft (1978) với các ứng dụng của quan hệ nhân quả Granger tiêu chuẩn, sử dụng nguồn số liệu GDP của Hoa Kì trong khoảng thời gian
Trang 1312
1947-1974 Điều này chứng tỏ Hoa Kì có quan tâm đến việc bào tồn năng lượng Nhưng với kĩ thuật về nhân quả Sims, Akarca và Long (1980) chỉ trích kết quả của Kraft and Kraft, họ cho rằng không có bằng chứng nào về mối quan hệ nhân quả giữa năng lượng và tăng trưởng kinh tế Yu và Hwang (1984) cũng sử dụng những
số liệu của Hoa Kì trong giai đoạn 1947-1974 và nhân quả Sims cũng không tìm thấy mối quan hệ nhân quả nào giữa năng lượng và tăng trưởng kinh tế Nhưng khi
sử dụng dữ liệu theo quý, lại có mối quan hệ một chiều của GDP tới năng lượng tiêu thụ Hoa Kì giai đoạn 1973-1981 (Belloumi, 2009)
Yu và Choi (1985) sử dụng quan hệ nhân quả Granger tiêu chuẩn cho giai đoạn 1954-1976 để nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa GDP và các loại năng lượng tiêu thụ khác của tập hợp các nước Nghiên cứu thực nghiệm của họ chỉ ra rằng quan hệ nhân một chiều từ tăng trưởng kinh tế tiêu thụ năng lượng cho Hàn Quốc, quan hệ nhân quả một chiều từ tiêu thụ năng lượng tới thu nhập cho Philippines, trong khi không có quan hệ nhân quả tồn tại ở Mỹ, Ba Lan và Vương quốc Anh Erol và Yu (1987) đã sử dụng cả hai Sims và các kiểm định quan hệ nhân quả Granger và nhận thấy quan hệ nhân quả một chiều từ năng lượng tiêu thụ thu nhập cho Tây tới Đức trong khi quan hệ nhân quả hai chiều cho Ý, và không có bằng chứng về quan hệ nhân quả cho Vương quốc Anh, Canada và Pháp Bên cạnh đó,
họ cũng phát hiện ra quan hệ nhân quả hai chiều từ năng lượng tiêu thụ đến tăng trưởng kinh tế cho Nhật Bản trong giai đoạn 1950-1982 Ngược lại, khi mẫu đã được giới hạn trong giai đoạn 1950-1973, mối quan hệ nhân quả này là không có ý nghĩa Hwang và Gum (1992) sử dụng mô hình đồng liên kết và ECM, mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa việc tiêu thụ tăng lượng và tăng trưởng kinh tế đã được quan sát ở Đài Loan cho giai đoạn 1955-1993
Masih và Masih (1996, 1997) tìm thấy sự tồn tại đồng liên kết giữa năng lượng
và GDP ở Ấn Độ, Pakistan và Indonesia, nhưng không đồng liên kết ở Malaysia, Singapore và Việt Nam Với các thiết lập cùng một dữ liệu, các tác giả áp dụng VECM, và được công nhận là quan hệ nhân quả một chiều chạy từ tiêu thụ năng
Trang 1413
lượng tới thu nhập ở Ấn Độ, quan hệ nhân quả một chiều từ tăng trưởng kinh tế đến tiêu thụ năng lượng ở Indonesia, và quan hệ nhân quả hai chiều ở Pakistan Nghiên cứu này cũng đã sử dụng quan hệ nhân quả tiêu chuẩn của Granger thử nghiệm cho các nước không có đồng liên kết (bao gồm cả Malaysia, Singapore và Việt Nam), nhưng không tìm thấy bất kỳ quan hệ nhân quả Granger
Asafu Adjaye (2000) đã thử nghiệm mối quan hệ nhân quả giữa việc sử dụng năng lượng và thu nhập trong 4 châu Á nước (bao gồm cả Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam) bằng cách sử dụng mô hình ECM Các thử nghiệm kết quả cho thấy một quan hệ nhân quả một chiều từ năng lượng đến thu nhập ở Ấn Độ và Indonesia, và quan hệ nhân quả hai chiều ở Thái Lan và Việt Nam Aqeel và Butt(2001) sử dụng các mô hình ECM để điều tra mối quan hệ nhân quả giữa việc tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế cũng như giữa năng lượng tiêu thụ và việc làm cho Việt Nam Các kết quả suy ra rằng tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng tới tổng tiêu thụ năng lượng
Mehrara (2007) đã kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa việc tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người và GDP bình quân đầu người trong một nhóm 11 nước xuất khẩu dầu mỏ (bao gồm cả Iran, Kuwait, Saudi Arabia, United Arab Emirates, Bahrain, Oman, Algeria, Nigeria, Mexico, Venezuela và Ecuador) bằng cách sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị đối với dữ kiệu bảng và kiểm định đồng liên kết của
dữ liệu bảng
Chiou-Wei et al (2008) đã tiến hành cả kiểm định quan hệ nhân quả Granger tuyến tính và phi tuyến để kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa việc tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế cho một dữ liệu bảng mới các nước công nghiệp châu
Á cũng như Hoa Kỳ cho giai đoạn 1954-2006 Nghiên cứu của họ một lần nữa hỗ trợ cho giả thuyết trung lập cho Mỹ, Thái Lan, và Nam Triều Tiên Hơn nữa, họ đã khám phá ra sự tồn tại của một quan hệ nhân quả một chiều chạy từ sự tăng trưởng kinh tế đến tiêu thụ năng lượng cho Việt Nam và Singapore trong khi tiêu thụ năng lượng có thể có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Đài Loan, Hồng Kông,
Trang 1514
Malaysia và Indonesia Chontanawat et al (2008) đã kiểm tra cho mối quan hệ nhân quả giữa năng lượng và GDP bằng cách sử dụng một tập hợp dữ liệu phù hợp và kiểm định Granger cho 30 nước OECD và 70 các nước ngoài OECD Họ phát hiện
ra rằng quan hệ nhân quả từ năng lượng đến GDP xuất hiện phổ biến ở các nước phát triển OECD
Tóm lại, một kết luận chung là kết quả có sự hỗn hợp: có nghĩa là, trong khi một số nghiên cứu tìm thấy quan hệ nhân quả từ tăng trưởng kinh tế đến tiêu thụ năng lượng, những người khác tìm ra mối quan hệ nhân quả từ tiêu thụ năng lượng đến tăng trưởng kinh tế và thậm chí một số nghiên cứu cho thấy không có mối quan
hệ nhân quả và/hoặc quan hệ nhân quả hai chiều giữa hai biến Sự khác biệt giữa các nghiên cứu này dựa trên đặc điểm cụ thể đất nước, thời gian mẫu, phương pháp nghiên cứu và các biến nghiên cứu
Bảng 1: Tóm tắt các nghiên cứu trước
Những nghiên cứu có kết quả thể hiện quan hệ nhân quả một chiều
Philippines
Tăng trưởng kinh tế tới tiêu thụ năng lượng
Hàn Quốc
Erol và Yu
(1987)
Sims và Granger tiêu chuẩn
Tiêu thụ năng lượng tới thu nhập
Tây Đức
Tiêu thụ năng lượng Nhật (1950-1982)
Trang 16Tiêu thụ năng lượng tới GDP
Ấn Độ, Pakistan, Indonesia
Tiêu thụ năng lượng tới thu nhập
Ấn Độ
Tăng trưởng kinh tế tới tiêu thụ năng lượng
ECM Tăng trưởng kinh tế
tới tiêu thụ năng lượng
Việt Nam
Chontanawat et
al (2008) Granger tiêu chuẩn
Tăng trưởng kinh tế tới tiêu thụ năng lượng
Việt Nam, Singapore
Tiêu thụ năng lượng tới tăng trưởng kinh tế
Đài Loan, Hong Kong, Malaysia,Indonesia
Tiêu thụ năng lượng tới GDP
Các nước OECD
Những nghiên cứu có kết quả thể hiện quan hệ nhân quả 2 chiều
Erol và Yu (1987) Sims và Granger tiêu
chuẩn
Ý
Trang 1716
Hwang và Gum (1992) Đồng liên kết và ECM Đài Loan (1955-1993) Masih và Masih
(1996,1997)
Đồng liên kết, VECM Pakistan
Những nghiên cứu thể hiện kết quả không có đồng liên kết
Kraft và Kraft (1978) Granger tiêu chuẩn Mỹ (1947-1974)
Trang 1817
CHƯƠNG 3 : TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH TIÊU THỤ
NĂNG LƯỢNG Ở VIỆT NAM
Chương này sẽ trình bày sơ lược tình trạng sử dụng xăng dầu ở Việt Nam, tình hình biến động của giá xăng dầu trên thế giới cũng như tác động của xăng dầu đến các mặt của xã hội Bên cạnh đó cũng trình bày các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế
vá các nghiên cứu trước về mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ xăng dầu ở các nước trên thế giới
3.1 Mối quan hệ sơ bộ giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng
Từ đồ thị ta cũng có thể thấy được hầu hết trong khoảng thời gian nghiên cứu, hai biến GDPPC (USD/người) và ECPC (kt/người) đồng biến với nhau chỉ trong
Trang 19đầu đã chứng tỏ giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng có mối liên hệ
Bảng 2: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu
Độ lệch chuẩn
Số quan sát GDPPC 470,8858 401,7114 1224,1912 97,1578 310,0181 26
ECPC 0,0002 0,0002 0,0005 0,0007 0,0001 26
3.2 Thực trạng và ảnh hưởng của việc sử dụng xăng dầu
3.2.1 Thực trạng sử dụng xăng dầu ở Việt Nam
Theo tổng cục thống kê thì dân số nước ta vào khoảng 86 triệu người với số lượng phương tiện giao thông cơ giới trên 1 triệu xe ôtô các loại và trên 26 triệu xe gắn máy, lượng xe gắn máy chiếm 1/4 dân số Nhìn vào “bộ mặt” giao thông trong các đô thị lớn như Hà nội và TP.Hồ Chí Minh ngày nay đã nói lên điều này Đó là điều lý giải vì sao ô nhiễm môi trường giao thông ngày càng tăng cao
Nhưng chúng ta vẫn cứ mặc nhiên chịu đựng sự ngột ngạt ô nhiễm trong không khí trên đường giao thông để cố đổi lấy sự đi lại cho tự do bằng việc mỗi người một phương tiện Đặc biệt khi bị ùn tắc giao thông trong các đô thị thì sự lãng phí nhiên liệu tăng lên, đồng thời sự ô nhiễm càng gia tăng do khối lượng phương tiện dồn ứ không di chuyển được
Trang 2019
Hơn 26 triệu xe máy đang hoạt động đồng nghĩa với việc hơn 26 triệu bình xăng cùng với 26 triệu ống xả đang là “gánh nặng” cho bầu không khí Trong khi sông Đồng Nai bị ô nhiễm do công ty bột ngọt Vedan đã nhiều năm lén lút xả xuống chất thải độc hại, thì bầu không khí cũng trong tình trạng ô nhiễm nhưng không phải do lén lút mà rất đường hoàng từ chính phương tiện cá nhân của mỗi chúng ta
Sử dụng giao thông cá nhân không phù hợp hay hoạch định sách lược về giao thông vận tải không đúng hướng đã dẫn đến nhiều hệ lụy Thật khó tự lý giải vì sao một đất nước còn nghèo giá cả xăng dầu đã tăng cao mà phương tiện đi lại bằng xe gắn máy ô tô cá nhân thì thi nhau phát triển đem lại quá nhiều hệ lụy cho xã hội
Mặt khác, từ nông thôn đến thành thị từ nhà giàu đến người nghèo đâu đâu cũng
phương tiện cá nhân từ ôtô du lịch, xe máy cao cấp, xe máy thông dụng, xe máy rẻ tiền phù hợp cho đủ mọi tầng lớp… Đi đôi với nó là các dịch vụ đáp ứng như trạm xăng dầu các điểm sửa chửa và rửa xe tư nhân được tự do mọc lên như nấm làm phát thải hơi xăng dầu vào không khí
Mặt khác nhiều dịch vụ xăng dầu lại “tự nhiên” mọc lên ngay ở khu dân cư hay
ở khu vực chợ Các dịch vụ sửa chửa và rửa xe nhỏ lẻ có mặt khắp nơi lại cho ra hướng ô nhiễm khác Đó là cặn dầu mỡ các loại từ sửa chữa và nước rửa xe ra mọi nơi vào đất đai hay ao cống gây ô nhiễm vào đất và nước
Chưa ai thống kê hết những hệ lụy do sự bùng nổ phương tiện giao thông cá nhân bằng xe gắn máy gây ra Điều lạ cũng là năng lượng ngang nhau nhưng với nguồn điện thì được khuyến cáo cần tiết kiệm tối đa Còn xăng dầu phải nhập siêu
có lúc giá đã lên trên 20.000 đồng/lít thì không được sự cảnh báo vào cuộc của cơ quan chức năng của xã hội đề cập đến cần tiết kiệm xăng dầu phương tiện từ nhiều phương tiện cá nhân không cần thiết
Trang 2120
Trong khi đó, ở Mỹ khi giá cả xăng dầu tăng cao, tại một số đô thị chính quyền
và các cơ quan đã kêu gọi người dân đi lại bằng xe đạp và đi bộ Người Hà lan một đất nước giàu mà vẩn giữ truyền thống từ lâu đi làm bằng xe đạp
3.2.2 Lịch sử giá xăng dầu thế giới
Giá xăng dầu tăng - giảm luôn ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình phát triển, giá
cả hàng hoá, an ninh xã hội của bất cứ quốc gia nào
Theo Trần Long (2008), ông phân tích lịch sử biến đổi của giá xăng dầu thông qua các giai đoạn:
- Giai đoạn hậu chiến tranh thế giới (1947 - 1971):
Từ năm 1948 đến cuối những năm 1957: Giai đoạn này chứng kiến sự ổn định của giá dầu Giá dầu nằm trong khoảng từ 2,50 USD đến 3,00 USD Giá dầu tăng từ 2,5 USD năm 1948 lên 3 USD năm 1957, nếu tính theo giá 2006, thì tương ứng là
và nhiều nước phương tây khác đã ủng hộ Israel
Từ năm 1975 đến 1978: giá dầu thế giới không biến động nhiều, giao động quanh mức từ 12,21 USD đến 13,55 USD Khi tính cả lạm phát thì giá dầu thế giới trong giai đoạn này đã giảm nhẹ
Trang 2221
Từ 1979 đến 1981: Các sự kiện xảy ra ở Iran và Iraq năm 1979, 1980 đã dẫn tới một chu kỳ tăng giá tiếp theo của giá dầu Cuộc cách mạng hồi giáo ở Iran đã gây nên tổn thất khoảng 2 đến 2,5 triệu thùng/ngày từ 11/1978 đến 6/1979
Có thời điểm quá trình sản xuất dầu gần như đình trệ Trong khi cuộc cách mạng ở Iran có vẻ là nguyên nhân dẫn tới sự tăng cao kỷ lục của giá dầu sau chiến tranh thế giới thứ 2, thực tế thì tác động ko nhiều mà chủ yếu là các sự kiện sau đó Ngay sau cuộc cách mạng, sản lượng đã tăng lên 4 triệu/ngày
Vào tháng 9/1980, Iraq tấn công Iran đang ở thế yếu Đến tháng 11/1980, sản lượng của cả 2 nước là chỉ khoảng 1 triệu thùng/ngày thấp hơn năm trước đó 6,5 triệu thùng/ngày Do đó sản lượng dầu thế giới thấp hơn 10% so với năm 1979 Cuộc cách mạng hồi giáo Iran và chiến tranh Iran-Iraq làm cho giá dầu tăng hơn 2 lần từ mức 14 USD năm 1978 lên 35 USD/thùngnăm1981
- Giai đoạn 1981 - 1998:
Giai đoạn này gắn liền với sự can thiệp của OPEC vào giá dầu
Giá dầu tăng cao trong giai đoạn 1979-1981 đã khiến sản lượng bên ngoài OPEC tăng mạnh Từ năm 1980 đến 1986, sản lượng các nhà cung cấp ngoài OPEC tăng 10 triệu thùng/ngày OPEC đã phải đối mặt với nhu cầu giảm xuống và cung cao hơn từ các nguồn ngoài tổ chức này
Từ năm 1982 đến 1986: OPEC cố gắng áp đặt hạn mức sản xuất đủ thấp để bình ổn giá Những nỗ lực này đã gặp thất bại liên tiếp khi rất nhiều thành viên của OPEC sản xuất vượt quá hạn mức Trong suốt khoảng thời gian này, Ả rập xê út đại diện như là nhà sản xuất cơ động nhất có thể cắt giảm sản lượng nhằm nỗ lực cản sự xuống dốc của giá dầu
Vào tháng 8/1985, Ả rập xê út đã từ bỏ vai trò này Họ gắn giá dầu với thị trường giao ngay và tăng sản lượng từ 2 triệu thùng/ngày lên 5 triệu thùng/ngày vào
Trang 23Từ năm 1987 đến 1998: Giá dầu giảm từ mức 18 USD đầu năm 1987 xuống mức dưới 15 USD đầu năm 1988 Giá dầu tăng mạnh từ năm 1988 đến 1990 (đạt trên 20 USD/thùng) do OPEC duy trì mức sản lượng thấp và sự bất ổn gắn với cuộc tấn công của Iraq vào Kuwait khởi nguồn cho cuộc chiến tranh vùng vịnh
Thế giới và đặc biệt là các nước Trung Đông đã có quan điểm cứng rắn hơn với Saddam Hussein khi tấn công Kuwait hơn là khi tấn công Iran Tuy nhiên từ sau năm 1990, do OPEC tăng sản lượng liên tục và nhất là sau cuộc chiến vùng vịnh giải phóng Kuwait, giá dầu bước vào giai đoạn giảm giá liên tục và ở mức gần 15 USD năm 1994
Chu kỳ giá sau đó lại tăng lên Nền kinh tế Mỹ lớn mạnh và khu vực Châu á Thái Bình Dương tăng trưởng mạnh Từ năm 1990 đến năm 1997, mức tiêu thụ dầu thế giới tăng 6,2 triệu thùng/ngày
Mức tiêu thụ của các nước châu Á đóng góp 300.000 thùng/ngày cho mức tăng thêm đó và góp phần làm cho giá dầu tăng trở lại và tăng mạnh vào năm 1997 Sản lượng giảm sút của Nga cũng góp phần vào sự tăng giá dầu Giữa năm 1990 và
1996, sản lượng của Nga giảm trên 5 triệu thùng/ngày
Sự tăng lên của giá dầu không kéo dài được lâu và kết thúc vào năm 1998 khi OPEC đã làm ngơ hoặc đánh giá thấp tác động của khủng hoảng kinh tế châu Á Vào tháng 12/1997, OPEC tăng hạn ngạch thêm 2,5 triệu thùng/ngày (10%) lên 27,5 thùng/ngày có hiệu lực từ ngày 1/1/1998 Sự phát triển nhanh của các nền KT
Trang 24- Giai đoạn 1999 đến 2003:
Giá dầu lại tăng lại vào đầu năm 1999 khi OPEC tiếp tục cắt giảm sản lượng thêm 1,719 triệu thùng/ngày vào tháng 4 Tính từ đầu năm 1998 đến đầu giữa 1999, sản lượng của OPEC đã giảm 3 triệu thùng/ngày và đã khiến giá dầu tăng lên trên
25 USD/thùng
Với vấn đề Y2K và sự tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ cũng như thế giới, giá tiếp tục tăng vào năm 2000 và đạt mức 35 USD vào tháng 10/2000 (mức cao nhất tính từ năm 1981) Giữa tháng 4 và 10/2000, OPEC 3 lần tăng hạn ngạch với tổng
số 3,2 triệu thùng/ngày nhưng ko đủ để ngăn đà lên giá dầu Giá dầu bắt đầu giảm khi OPEC tăng sản lượng thêm 500.000 thùng/ngày bắt đầu từ 1/11/2000
Vào năm 2001, nền kinh tế Mỹ yếu đi và sự gia tăng sản lượng của các nước ngoài OPEC đã gây áp lực giảm giá dầu Trước tình hình đó, OPEC một lần nữa liên tiếp cắt giảm sản lượng và tính tới ngày 1/9/2001, OPEC đã cắt giảm 3,5 triệu thùng Nếu không có cuộc tấn công khủng bố vào ngày 11/9/2001, sự cắt giảm này của OPEC có thể đủ để làm cân bằng thậm chí là đảo ngược xu thế
Trước cuộc tấn công khủng bố giá dầu đã sụt giảm Giá dầu giao ngay theo tiêu chuẩn của các nhà trung gian Tây Texas Mỹ đã giảm 35% vào giữa tháng 11 Trong điều kiện bình thường, sự giảm giá dầu ở mức độ đó sẽ dẫn tới một đợt cắt giảm sản
Trang 25Vào giữa năm 2002, các nước ngoài OPEC đã khôi phục lại mức sản lượng đã cắt giảm tuy nhiên giá vẫn tiếp tục tăng và dự trữ dầu của Mỹ đạt mức thấp nhất trong 20 năm
Vào thời điểm cuối năm, dư cung không còn là vấn đề Cuộc đình công tại Venezuela đã khiến cho sản lượng dầu nước này giảm mạnh Trước khi cuộc đình công diễn ra, Venezuela chưa bao giờ có thể khôi phục lại mức sản lượng trước đó
và đứng ở mức thấp hơn 900.000 thùng/ngày so với mức kỷ lục 3,5 triệu thùng/ngày
OPEC tăng sản lượng thêm 2,8 triệu thùng/ngày vào tháng 1 và tháng 2/2003 Vào ngày 19/3/2003, khi mà sản lượng dầu của Venezuela bắt đầu được khôi phục, cuộc tấn công quân sự vào Iraq đã nổ ra Trong khi đó, trữ lượng dầu ở Mỹ và các quốc gia OECD vẫn ở mức thấp Với sự phát triển mạnh của kinh tế, nhu cầu dầu từ
Mỹ và các nước châu Á đã tăng một cách chóng mặt
Sự giảm sản lượng ở Iraq và Venezuela được bù đắp bởi việc tăng sản lượng ở các thành viên khác tuy nhiên vẫn khiến cho mức sản lượng dầu tiềm năng có khả năng sản xuất giảm xuống Vào giữa năm 2002, sản lượng dầu tiềm năng là 6 triệu thùng/ngày và giữa năm 2003 đã giảm xuống dưới 2 triệu thùng
- Giai đoạn 2004 đến nay: