Chính sách bảo vệ của WB về thuốc trừ sâu OP4.09 thông qua phương pháp sau đây1 để áp dụng IPM: "IPM nghĩa là một kết hợp của các thực hành kiểm soátdịch hại trên cơ sở sinh thái và động
Trang 1NGÂN HÀNG THẾ GIỚI BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN
Dự án Quản lý thủy lợi phục vụ phát triển nông thôn
vùng đồng bằng sông Cửu Long
KẾ HOẠCH QUẢN LÝ DỊCH HẠI (PMP)
Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường
Tháng 3 - 2011
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Tài liệu này được gọi là Kế hoạch quản lý dịch hại (PMP) cho Việt Nam: Quản lý tài nguyênnước đồng bằng sông Mê Kông cho dự án phát triển nông thôn(Dự án) Nó được phát triển như
là một tài liệu độc lập theo yêu cầu của các chính sách của WB (OP 4,09) và được xem như mộtphần của Khung quản lý môi trường và xã hội (ESMF) PMP sẽ được áp dụng cho tất cả các tiểu
dự án liên quan đến các hoạt động tưới tiêu và kiểm soát lũ của Hợp phần 2 và sự thực hiện nó sẽđược theo dõi chặt chẽ
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Sở NN & PTNT) và Ban Quản lý dự án tỉnh (PPMU) /PMU10 những người có trách nhiệm thực hiện các tiểu dự án liên quan đến đầu tư cải tạo vànâng cấp tưới tiêu/cải tạo sau lũ sẽ chịu trách nhiệm quy hoạch và thực hiện các Chương trìnhquản lý dịch hại tổng hợp (IPM) cho các tiểu dự án với sự hướng dẫn kỹ thuật của Cục Bảo vệthực vật tỉnh (PPPD) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN & PTNT) Ban quản
lý dự án trung ương (CPMU) được thành lập tại Cần Thơ do Bộ NN & PTNT sẽ chịu tráchnhiệm điều phối tổng thể và giám sát việc thực hiện IPM và bảo đảm tính thống nhất của nó vớiPMP này Các tài liệu thích hợp sẽ được lưu trong hồ sơ dự án để chuẩn bị cho sự xem xét có thể
có bởi Ngân hàng Thế giới
Tài liệu này được xem là một tài liệu “sống” và có thể được sửa đổi và thay đổi phù hợp với tìnhhình, phạm vi của các các hoạt động Tham khảo chặt chẽ ý kiến với Ngân hàng Thế giới và sựchấp thuận cho các PMP sửa đổi sẽ là cần thiết
Trang 3
Phần I Giới thiệu 4
Phần II Chính sách của Chính phủ , các quy định, và tổ chức 5
2.1 Chính sách và quy định liên quan đến thuốc trừ sâu và IPM 5
2.2 Các thể chế và Năng lực 6
Phần 3 Các thực hành quản lý dịch hại ở đồng bằng sông Mê Kông và các khu vực dự án 7
3.1 Quản lý dịch hại ở đồng bằng sông Mê Kông và các khu vực dự án 7
3.2 Thực hành IPM ở đồng bằng sồng Mê Kông 9
3.3 Thực hành IPM trong các khu vực dự án 13
3.4 Các hoạt động ưu tiên cho hỗ trợ dự án 14
Phần IV Quản lý dịch hại cho tiểu dự án 18
4.1 Các nguyên tắc cơ bản 18
4.2 Phạm vi của một chương trình IPM 19
4.3 Lập kế hoạch và thực hiện 22
4.4 Xem xét, phê duyệt, và báo cáo 23
4.5 Đề cương báo cáo IPM 24
Phần V: Hướng dẫn kỹ thuật để chuẩn bị một chương trình IPM 24
5.1 Các nguyên tắc chung IPM 25
5.2 Xem xét kỹ thuật cho một chương trình IPM 25
5.3 Xác định sự chứng minh cho sử dụng thuốc trừ sâu 27
5.4 Danh sách các hóa chất bị cấm 30
Trang 4Phần I Giới thiệu
1 Dự án và các tác động tiềm tàng Chính phủ Việt Nam sẽ thực hiện dự án Quản lý tài
nguyên nước đồng bằng sông Mê Kông (Dự án) trong thời gian 2011-2016 với sự hỗ trợ tàichính từ Ngân hàng Thế giới (WB hoặc Ngân hàng) Mục tiêu phát triển của Quản lý tài nguyên
nước đồng bằng sông Mê Kông cho dự án phát triển nông thôn (Dự án) là để bảo vệ và tăng
cường sử dụng tài nguyên nước trong khu vực đồng bằng sông Mê Kồn để duy trì lợi nhuận trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao mức sống, đóng góp vào thích ứng với BĐKH Dự án sẽ
được thực hiện trong ba vòng tiểu dự án và các khu vực dự án sẽ bao gồm năm khu vực thuỷlợi / kiểm soát lũ lụt hiện có : Bắc Vàm Nao (BVN) ở tỉnh An Giang; Ô Môn Xà No (OMXN)tại Cần Thơ, Hậu Giang, và Kiên Giang, Đồng Nag Ren (DNR) trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu,Quanlo-Phụng Hiệp (QLPH) ở Bạc Liêu và Sóc Trăng; và Area Ten tại tỉnh Cà Mau (xem phụlục 1 cho mô tả và các khu vực dự án Thực hiện hợp phần 2 các tiểu dự án sẽ cung cấp nhiềunước hơn cho nông dân Tăng sản xuất nông nghiệp cũng sẽ tăng cường sử dụng phân bón vàthuốc trừ sâu và do đó các biện pháp phải được thực hiện để giảm thiểu những tác động tiềmtàng đối với sức khoẻ của người nông dân cũng như môi trường địa phương và các sản phẩmnông nghiệp
2 Phạm vi và ứng dụng Chính sách bảo vệ của WB về thuốc trừ sâu (OP4.09) thông qua
phương pháp sau đây1 để áp dụng IPM: "IPM nghĩa là một kết hợp của các thực hành kiểm soátdịch hại trên cơ sở sinh thái và động viên nông dân mà tìm cách giảm sự phụ thuộc vào thuốc trừsâu hóa học tổng hợp và nó liên quan đến (a) quản lý dịch hại (giữ cho chúng dưới mức gây thiệthại kinh tế ) hơn là tìm cách diệt trừ chúng; (b) phụ thuộc, đến mức có thể, về các biện pháp phihóa chất để giữ cho dân số sâu bệnh thấp, và (c) lựa chọn và áp dụng thuốc trừ sâu , khi họ phảiđược sử dụng, theo cách mà giảm thiểu tác động bất lợi về sinh vật có ích, con người, và môitrường PMP cho dự án này đã được chuẩn bị phù hợp với định nghĩa này và nó sẽ được áp dụngcho tất cả các tiểu dự án liên quan đến thủy lợi và kiểm soát lũ lụt PMP được thiết kế để giảmthiểu các tác động xấu đến sức khỏe con người và môi trường tập trung vào việc thúc đẩy sửdụng an toàn hóa chất nông nghiệp, tìm kiếm các lựa chọn sử dụng phi hóa chất, và tính bềnvững của các thực hành tốt
3 Cơ sở và mục tiêu Xét thấy rằng một số hoạt động nghiên cứu về quản lý dịch hại, thực
hành IPM , và hành vi của nông dân được thực hiện ở đồng bằng sông Cửu Long trong 10 nămqua và sự hiện diện chính sách của Chính phủ để thúc đẩy sản xuất lúa gạo bằng giảm việc sửdụng giống, nước, phân bón, và thuốc trừ sâu (dưới khẩu hiệu "ba giảm, ba Lãi"), người ta dựđoán rằng khoảng 50% thuốc trừ sâu và 10% phân bón sử dụng trong các khu vực dự án có thểđược giảm bớt thông qua sự kết hợp của chiến dịch hiệu quả, tăng cường các tổ chức nông dân,
và các hành động điều chỉnh PMP, do đó, thông qua mục tiêu và cách tiếp cận này xác định bốn
1 Định nghĩa: IPM nghĩa là một kết hợp của các thực hành kiểm soát dịch hại trên cơ sở sinh thái và động viên nông dân mà tìm cách giảm sự phụ thuộc vào thuốc trừ sâu hóa học tổng hợp và nó liên quan đến (a) quản lý dịch hại (giữ cho chúng dưới mức gây thiệt hại kinh tế ) hơn là tìm cách diệt trừ chúng; (b) phụ thuộc, đến mức có thể, về các biện pháp phi hóa chất để giữ cho dân
số sâu bệnh thấp, và (c) lựa chọn và áp dụng thuốc trừ sâu , khi họ phải được sử dụng, theo cách mà giảm thiểu tác động bất lợi
Trang 5bước được thực hiện trong quá trình thực hiện dự án: (1) thiết lập dữ liệu cơ sở và đăng ký chonông dân; (2) hoàn tất chương trình IPM; (3) thực hiện các hoạt động; và (4 ) đánh giá tác động.Thông tin chi tiết được cung cấp tại Mục IV.
4 Sắp xếp thực hiện và trách nhiệm Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Sở NN &
PTNT) và Ban quản lý dự án tỉnh (PPMU) / PMU10 những người có trách nhiệm thực hiện cáctiểu dự án liên quan đến đầu tư nâng cấp và cải tạo thủy lợi / kiểm soát lũ lụt sẽ chịu trách nhiệmquy hoạch và thực hiện chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) cho các tiểu dự án vớihướng dẫn kỹ thuật của Cục Bảo vệ thực vật tỉnh (PPPD) thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn (Bộ NN & PTNT) Ban quản lý dự án trung ương (CPMU) được thành lập tại CầnThơ do Bộ NN & PTNT sẽ chịu trách nhiệm điều phối tổng thể và giám sát việc thực hiện IPM
và bảo đảm tính thống nhất của nó với PMP này Các tài liệu thích hợp sẽ được lưu trong hồ sơ
dự án để có thể được xem xét bởi Ngân hàng Thế giới
5 Mục II dưới đây tóm tắt các chính sách và quy định của chính phủ liên quan đến thựchành thuốc trừ sâu và IPM trong khi mục III cung cấp bối cảnh về quản lý dịch hại và kinh IPM
ở Đồng bằng sông Mê Kông và khu vực dự án Mục IV trình bày phương pháp và quy trình được
sử dụng trong dự án, trong khi hướng dẫn kỹ thuật bổ sung được cung cấp trong mục V
Phần II Chính sách của Chính phủ , các quy định, và tổ chức
2.1 Chính sách và quy định liên quan đến thuốc trừ sâu và IPM
6 Kiểm soát thuốc trừ sâu : Năm 1990, Việt Nam chính thức phê duyệt và thông qua Bộ
luật quốc tế thực thi phân phối và sử dụng thuốc trừ sâu của Tổ chức Nông Lương của Liên HợpQuốc (FAO) và một hệ thống điều tiết đã được phát triển phù hợp với hướng dẫn của FAO vàogiữa những năm 1990 Pháp lệnh Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật được ban hành vào tháng hainăm 1993, theo sau là Nghị định 92/CP vào tháng 11 quy định về quản lý thuốc trừ sâu Các quyđịnh này được cập nhật định kỳ và đang được áp dụng bởi các cơ quan Trong thời gian 1995-
1997, tổng cộng 45 loại thuốc trừ sâu đã bị cấm sử dụng tại Việt Nam và 30 đã bị giới hạn (mộtlượng không vượt quá 10% tổng số thuốc trừ sâu bán tại Việt Nam) Chúng bao gồm các thuốctrừ sâu có độc tính cao như carbofuran, endosulfan, methamidophos, monocrotophos, methylparathion, và phosphamidon Năm 1998, Việt Nam ngừng việc đăng ký thuốc trừ sâu mới chosâu cuốn lá vào trong nước bởi các hoạt động IPM đã cho thấy thuốc trừ sâu sử dụng chống lạisâu cuốn lá là không cần thiết
7 Dưới đây danh sách các quy định chính liên quan đến kiểm soát thuốc trừ sâu ở Việt Nam:
ban hành các quy định về kiểm soát chất lượng, dư lượng thuốc trừ sâu và thử nghiệmthuốc trừ sâu mới để đăng ký tại Việt Nam
hành các quy định về thủ tục kiểm tra sản xuất, chế biến, đăng ký, xuất khẩu, nhập khẩu,
Trang 6kinh doanh, lưu trữ và xả thải, nhãn, bao bì, hội thảo, quảng cáo và sử dụng thuốc trừ sâubảo vệ thực vật;
8 Chính sách Quốc gia về IPM: Khái niệm áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) ở
Việt Nam đã được giới thiệu và đầu những năm 1990 Một chương trình IPM quốc gia đã đượcchuẩn bị và thực hiện (xem Phần III) và Ban Chỉ đạo về IPM, do một Thứ trưởng Bộ Nôngnghiệp và PTNT, được thành lập và chịu trách nhiệm giám sát của chương trình Trong thời giannày, một số chính sách và quy định hỗ trợ IMP được phát triển bao gồm cả các lệnh cấm và hạnchế thuốc trừ sâu độc hại và sự vận hành của một hệ thống kiểm tra Các biện pháp bổ sung đểgiảm thiểu rủi ro do sử dụng thuốc trừ sâu cũng đã được thực hiện thông qua một số hoạt độngnghiên cứu và những người liên quan đến đồng bằng sông Mê Kông được đánh dấu trong PhầnIII
9 "Ba Giảm, Ba Lợi nhuận" ("3R3G"):Chính sách này đã được áp dụng trên toàn quốc Bộ NN
& PTNT thành lập một ủy ban quốc gia để phát triển kế hoạch thực hiện chính sách này trong
năm 2005 và phân bổ khoảng 230.000 $ đến 64 tỉnh trong năm 2006 Chính sách này được pháttriển dựa trên khái niệm về một công nghệ quản lý cây trồng được thiết kế bởi Viện Nghiên cứu
lúa gạo quốc tế (IRRI) để giảm chi phí sản xuất, cải thiện sức khỏe của nông dân, và bảo vệ môi
trường trong sản xuất lúa gạo ở ĐB sông Mê Kông thông qua việc giảm về sử dụng hạt giống, phân bón nitơ, và thuốc trừ sâu Khái niệm này được dựa trên các kết quả nghiên cứu cho thấy
rằng phun sớm là không cần thiết bởi bất kỳ thiệt hại từ các loài côn trùng ăn lá (nguyên nhânchính là phun sớm) đã không ảnh hưởng đến năng suất Một chiến dịch được gọi là "Không phunsớm" (NES) thông qua phương tiện truyền thông khác nhau đã được tiến hành với mục tiêu đạtkhoảng 92% số hộ nông dân 2.300.000 ở đồng bằng sông Cửu Long và kết quả cho thấy số lầnphun thuốc trừ sâu mỗi mùa giảm 70% (3,4-1,0 lần / vụ) Các nghiên cứu cũng cho rằng nôngdân ở đồng bằng sông Cửu Long có xu hướng áp dụng lượng giống cao (200-300 kg / ha) và các
áp dụng phân bón nitơ khoảng 150-300 kg / ha PPD với sự hỗ trợ từ Danida đã tiến hành mộtnghiên cứu, với 951 nông dân, cho thấy, hạt giống, phân bón, và thuốc trừ sâu có thể được giảm40%, 13%, và 50%, tương ứng Việc thực hành NES sau đó đã được đóng gói với sử dụng hạtgiống và nitơ thấp hơn và trở nên gọi tại địa phương là Ba Giảm, Ba Tăng (3R3G)
10 "Một Phải, Năm Giảm": Được xây dựng trên sự thành công của chiến dịch "3R3G", các
nghiên cứu bổ sung đã được tiến hành để chứng minh rằng giảm thích hợp của các đầu vào sảnxuất (nước, năng lượng, giống, phân bón, thuốc trừ sâu) và tổn thất sau thu hoạch mà không làmgiảm năng suất có thể được thực hiện và 3 giảm nên được mở rộng đến năm giảm Phương phápnày thúc đẩy việc sử dụng hạt giống được xác nhận (điều này được xem như là "một phải làm")
và ứng dụng công nghệ hiện đại để phát huy hiệu quả sử dụng nước và năng lượng , giảm tổnthất sau thu hoạch Năm giảm, do đó, bao gồm nước, năng lượng, tổn thất sau thu hoạch, phânbón, thuốc trừ sâu Thực hiện chiến dịch này, tuy nhiên sẽ có nhiều phức tạp và đòi hỏi đầu tư bổsung và hỗ trợ kỹ thuật cũng như hợp tác hiệu quả giữa các cơ quan liên quan trong Bộ NN &PTNT gắn đến quản lý thủy lợi và sản xuất Sau một sự thể hiện thành công tại tỉnh An Giang,
Bộ NN & PTNT đang tiến tới hiện đại hóa và phát triển các thực hành tốt nhất để mở rộngphương pháp này ở đồng bằng sông Cửu Long
Trang 72.2 Các thể chế và Năng lực
11 Cục Bảo vệ thực vật (PPD) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN &PTNT) chịu trách nhiệm quản lý thuốc trừ sâu và đã đi đầu trong việc thúc đẩy chương trìnhIPM, bao gồm cả việc thực hiện các chương trình IPM quốc gia Tại đồng bằng sông Cửu Long,PPD tại TP Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm quản lý phân bón và thuốc trừ sâu sử dụng và thựchiện các biện pháp để giảm thiểu rủi ro cho sức khỏe công cộng Trong mười năm qua họ đã tíchcực tham gia nhiều hoạt động nghiên cứu liên quan đến quản lý dịch hại ở đồng bằng sông CửuLong và có nhiều kinh nghiệm trong lập kế hoạch và thực hiện giáo dục và nâng cao nhận thứccho nông dân (thông qua các câu lạc bộ nông dân), bao gồm cả sản xuất và tài liệu đào tạo nângcao nhận thức PPD có một phòng thí nghiệm nhỏ mà có thể được sử dụng để phân tích cácthuốc trừ sâu Tuy nhiên, ngân sách Chính phủ Việt Nam hạn chế là một khó khăn cho việc dichuyển chủ động trong việc đảm bảo quản lý hiệu quả của thuốc trừ sâu ở đồng bằng sông CửuLong Vấn đề chính này được thảo luận trong Phần III
12 Ở cấp tỉnh, Phòng Bảo vệ thực vật (PPPD) chịu trách nhiệm thúc đẩy quản lý hiệu quảhóa chất nông nghiệp và sử dụng thuốc trừ sâu phối hợp với PPD ở cấp khu vực và / hoặc quốcgia và dịch vụ mở rộng của Sở Nông nghiệp của Bộ NN & PTNT PPPD tại các tỉnh dự án là kháquen thuộc với IPM và tham gia vào các nghiên cứu và đào tạo trước đó , tuy nhiên, năng lực kỹthuật và quản lý về giám sát quy định và phân tích phòng thí nghiệm dường như không đủ Vấn
đề này được thảo luận chi tiết hơn trong Phần III
Phần 3 Các thực hành quản lý dịch hại ở đồng bằng sông Mê Kông và các khu vực dự án
3.1 Quản lý dịch hại ở đồng bằng sông Mê Kông và các khu vực dự án
(a) Các vấn đề dịch hại
13 Các vấn đề dịch hại thay đổi theo mùa, các địa điểm, và các loại cây trồng Đối với sảnxuất lúa gạo, các vấn đề sâu bệnh phổ biến nhất là loài côn trùng ăn lá và tiếp theo là sâu đụcthân (rầy nâu và rầy các loại, sâu (sâu ăn thân, sâu cuốn lá, sâu keo , bọ ( bọ màu đen bốc mùi ,vv), vv bệnh chính bao gồm: bệnh bạc lá vỏ bọc, đạo ôn, đốm nâu, thối thân, thối gốc không đều,
và thóc rỗng Dịch bệnh khác bao gồm ốc bươu vàng, chuột, vv Đối với cây ăn quả và cây lươngthực cây trồng, nhiều vấn đề sâu bệnh đa dạng hơn bao gồm cả con sâu cuốn lá, bệnh đạo ônlúa, rầy nâu, sâu 3 lá, sâu ăn hoa quả, sâu xám, sâu ăn ngô, bọ và bạc lá , nấm mốc, vv Trong khuvực dự án, các vấn đề sau đây đã được quan sát:
o Ở OMXN, vấn đề bao gồm rầy nâu, sâu cuốn lá lúa nhỏ, bệnh vàng lúa, bệnh virus
“ragged stunt” lúa , bệnh đạo ôn, chuột, Oligonycus oryzae, bạc lá, hạt lép, “rice casebearer”, Pyralidae sp., bọ trĩ lúa
o Ở Đông Nàng Rền: rầy lúa nâu, sâu cuốn lá lúa, bọ trĩ lúa, bệnh đạo ôn lá lúa, bệnhOPV, vv Xem chi tiết tại Phụ lục 2
(b) Sử dụng thuốc trừ sâu
14 Thuốc trừ sâu được sử dụng rộng rãi mà không có sự kiểm soát ở Việt Nam từ năm 1950 đến
1998 khi sản xuất nông nghiệp bị hạn chế tại các hợp tác xã, trang trại tập thể, và các doanh
Trang 8nghiệp nông nghiệp nhà nước Việc áp dụng tăng từ 20.000 tấn / năm vào năm 1991 lên hơn40.000 tấn / năm vào năm 1998 và bắt đầu giảm vào năm 1999 Một cuộc khảo sát toàn quốcđược tiến hành bởi các PPD vào năm 2000 thấy rằng 2.500 kg thuốc trừ sâu bị cấm sử dụng(methamidophos, DDT và các hóa chất khác), cùng với 4.753 lít và 5.645 kg thuốc trừ sâu nhậplậu hoặc làm giả (PPD, 2000) Một cuộc khảo sát được tiến hành vào tháng Tám năm 2000 và nó
đã thấy là trong số 480 nông dân tại bốn tỉnh ở miền Nam, khoảng 97% sử dụng thuốc trừ sâunhiều hơn so với ghi trên nhãn hiệu sản phẩm đề nghị, và gần 95% nông dân đổ bỏ bất kỳ lượngthuốc trừ sâu còn lại vào kênh rạch hoặc mương, áp dụng lại nó vào cùng một cây, hoặc phuncho cây trồng mà không được nhận dạng cho lần sử dụng ban đầu
14 Lượng thuốc trừ sâu, phân bón, hóa chất nông nghiệp được sử dụng rất khác nhau tùy thuộcvào loại cây trồng và thực hành của nông dân Một số dữ liệu cho rằng 100-200 kg / ha / nămurê, 200 kg / ha / năm phosphate, 100 kg/ha/năm kali (KCl), 0,53 kg/ha/năm thuốc diệt cỏ, 1,5 kg/ha/năm thuốc trừ sâu, và 1 kg/ha/năm các hóa chất khác được sử dụng Trong vùng đồng bằngsông Cửu Long, lượng phân bón và thuốc trừ sâu trung bình sử dụng và hướng dẫn được cungcấp cho nông dân trong việc thúc đẩy "Ba Giảm, Ba Lãi" được liệt kê dưới đây2
Đầu vào trung bình
Mùa vụ Đông - Xuân (2001-2002) Hè - Thu (2002)
Sản lượng lúa gạo trung bình (kg/ha) 6.30-6.46 4.69-4.77
Hướng dẫn cho đầu vào
15 Một cuộc điều tra xã hội thực hiện trong các vùng dự án trong Tháng Mười Hai năm
2010 cho thấy 2.000 hộ điều tra, khoảng 1.204 hộ gia đình sử dụng phân bón trong hai năm qua,trong đó có chỉ có 16 hộ gia đình không sử dụng thuốc trừ sâu Khối lượng trung bình của phânbón được sử dụng bởi những nông dân này mỗi vụ là 53,3 kg (kg) trên 0,1 ha (ha) hoặc 1.000mét vuông (m2) (tương đương với 533 kg / ha) trong khi đó một khối lượng trung bình của thuốc
2 Đánh giá sự tham gia của nông dân trong giảm thuốc trừ sâu,phân bó, và mức độ gieo hạt trong canh tác lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long, Vietnam, N H Huan, L.V Thiet, H.V Chien, K L Heong, Crop Protection 24 (2005) 457-464.
Trang 9trừ sâu sử dụng là khoảng 160 ml trên 0,1 ha (tương đương với 1,6 ha / lít) Giả sử rằng tổng diệntích được hưởng lợi từ dự án (120.000 ha) khoảng 100.000 ha (83%) được sử dụng cho 1 sảnxuất lúa 1 vụ, một số lượng phân bón và thuốc trừ sâu được sử dụng trong các vùng dự án sẽ vàokhoảng 53.300 tấn phân bón và 160.000 lít thuốc trừ sâu
3.2 Thực hành IPM ở đồng bằng sồng Mê Kông
(a) Chương trình IPM quốc gia
16 Nhận thức được tác hại của thuốc trừ sâu đối với môi trường và nông dân địa phương ,Chính phủ thông qua sự lãnh đạo của PPD và với kinh phí hỗ trợ từ các nhà tài trợ khác nhau(FAO, Na Uy, Đan Mạch, Thụy Sĩ, vv), thực hiện một chương trình quản lý dịch hại quốc giatổng hợp (IPM) 1995-2004 Chương trình được thiết kế dựa trên bốn nguyên tắc IPM: phát triểnmột loại cây trồng khỏe mạnh, bảo tồn thiên địch trên cánh đồng, theo dõi cánh đồng thườngxuyên, và nông dân trở nên có lỹ năng hơn và được thôn tinh nhiều hơn và các hoạt động tậptrung vào việc tăng cường cho các nông dân quy mô nhỏ trở nên khéo léo và có thông tin tốt hơntrong quản lý hệ thống sản xuất lúa gạo thông qua hoạt động đào tạo Một chương trình đào tạotoàn diện, cụ thể là các Đào tạo các giảng viên (TOT) và Trường đồng nông dân (FFS), đã đượcphát triển và triển khai thực hiện và các đối tượng hưởng lợi chính là các quan chức chính phủ ởcấp trung ương và địa phương và các nông dân được lựa chọn Các FFS tập trung vào đào tạo25-30 nông dân ở một ngôi làng bằng cách sử dụng một quá trình giáo dục không chính quy có
sự tham gia và nông dân làm trung tâm Đào tạo ngắn về các loại cây trồng khác như đậu tương,lạc, rau cải, cam quýt, ngô, khoai lang, chè, và bông Do vậy, xem xét đã được dành để thúc đẩyphụ nữ tham gia trong chương trình Năm 1998, chương trình IPM quốc gia tạo điều kiện cho sựphát triển của các nhóm IPM địa phương cụ thể là các mạng IPM cộng đồng (hoặc CIPM) Kháiniệm CIPM đã được mở rộng đến 19 tỉnh (121 làng ở 29 quận, huyện) vào cuối năm 2000 CIPMbao gồm một loạt các hoạt động bao gồm đào tạo, nghiên cứu, và diễn đàn truyền thông và ngườinông dân có trách nhiệm xây dựng kế hoạch riêng cho họ và thực hiện các hoạt động Sự chú ýcũng được đặ vào thúc đẩy sự tham gia tích cực của phụ nữ cũng như về y tế và các khía cạnhmôi trường tuy nhiên giới hạn ngân sách ngăn cản bất kỳ sự mở rộng nào của các hoạt động
(b) Các thực hành IPM ở đồng bằng sông Mê Kông
17 Sản xuất lúa gạo là việc sử dụng đất lớn ở đồng bằng sông Cửu Long và các khu vực dự
án trong khi sử dụng đất cho các cây trồng khác có giá trị cao như cây ăn quả, rau, và nuôi trồngthủy sản ngày càng tăng Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích khoảng 2 triệu ha lúa và liênquan đến khoảng 2,3 triệu nông dân trong khi sản lượng lúa gạo là khoảng 17 triệu tấn / năm(51% sản lượng hàng năm của Việt Nam) Sản xuất lúa gạo ở Việt Nam tăng từ 10.3 triệu tấnnăm 1975 đến 32.500.000 tấn năm 2000 và bây giờ là một nước xuất khẩu ròng Quy mô cánhđồng nói chung là ít hơn 1 ha và thu nhập trung bình thấp hơn 23 USD / người / tháng.Xét thấyđồng bằng sông Cửu Long là "vựa lúa" lớn cho đất nước, khu vực đã là các mục tiêu cho một sốnghiên cứu và điều tra liên quan đến áp dụng thuốc trừ sâu cũng như một số nghiên cứu và pháttriển Từ năm 1992 đến năm 1997, hai can thiệp giảm thuốc trừ sâu đã được giới thiệu cho nôngdân ở đồng bằng sông Cửu Long là một phần của IPM quốc gia như một chiến dịch truyền thông
để thúc đẩy nông dân thử nghiệm xem phun đầu đầu mùa cho sâu cuốn là là cần thiết hay không
Trang 10và đào tạo FFS Nó đã báo cáo 3 rằng chiến dịch truyền thông đã đến với khoảng 92% số hộnông dân vào 2.3 triệu nông dân đồng bằng sông Cửu Long, trong khi các FFS đào tạo được108.000 nông dân hoặc 4,3% Sử dụng thuốc trừ sâu trong nông dân, phun thuốc đầu mùa giảm
rõ rệt trong thời gian 5 năm Thay đổi tần số phun 3,4 xuống 1,0 lần phun mỗi mùa, nông dân ítphun trong thời gian cây giống, đẻ nhánh và giai đoạn khởi động, và sự tin tưởng của nông dânthay đổi đáng kể Tần số phun từ 0,5 đã được theo dõi từ những người nông dân được truyềnthông so với 1,2 của những người nông dân được đào tạo bởi FFS, và 2.1 của nông dân không cógì
18 Năm 1999, một cuộc khảo sát4 được tiến hành để đánh giá thực tiễn quản lý dịch hại trongnông dân trồng lúa và nhận thức của họ về các vấn đề liên quan đến sâu bệnh và thuốc trừ sâu,bao gồm các ảnh hưởng từ chương trình IPM quốc gia Các nghiên cứu đã phỏng vấn 120 ngườinông dân từ ba huyện khác nhau ở Cần Thơ và Tiền Giang trong mùa xuân năm 1999 Kết quảcho thấy khoảng 64 loại thuốc trừ sâu khác nhau được sử dụng trong đó khoảng 50% là thuốc trừsâu, 25% được thuốc diệt nấm và 25% là các chất diệt cỏ Các thuốc trừ sâu được sử dụng chính
là pyrethroid (42%) carbamate (23%) và cartap (19%) Các nông dân phi IPM sử dụng nhiềuthuốc trừ sâu gấp đôi nông dân IPM Tần số áp dụng của họ và số lượng thành phần hoạt chấtđược sử dụng là 2-3 lần /vụ cao hơn, so với nông dân IPM Trong ba năm qua nông dân IPM ướctính rằng họ đã làm giảm lượng thuốc trừ sâu được sử dụng bởi khoảng 65%, trong khi nông dânkhông IPM cho biết họ đã tăng số lượng thuốc trừ sâu được sử dụng bởi 40% Ngoài ra, nôngdân phát triển cá trong ruộng lúa của họ sử dụng thuốc trừ sâu ít hơn so với nông dân chỉ trồnglúa , bởi thuốc trừ sâu ảnh hưởng xấu đến nuôi cá Lấy một cái nhìn dài hạn về trồng lúa-cá kếthợp với thực hành IPM cung cấp một giải pháp giải pháp bền vững thay thế độc canh lúa, từquan điểm kinh tế cũng như sinh thái
19 Xu hướng thay đổi này 5 Một nghiên cứu được tiến hành sử dụng 12 bộ số liệu điều trađược tiến hành từ năm 1992 tới năm 2007 Kết luận rằng thực hành quản lý dịch hại của nôngdân, phản ánh trong các số lần phun thuốc trừ sâu mà họ áp dụng trong một mùa, giảm ngay lậptức sau khi can thiệp, chẳng hạn như các chiến dịch truyền thông đại chúng, “opera soap radio”,
và Trường đồng nông dân Tuy nhiên sau một vài năm, phun thuốc trừ sâu của họ tăng lên khicác thực hành được chấm dứt Nông dân phụ thuộc vào thuốc trừ sâu như là phương tiện chínhcủa kiểm soát dịch hại vẫn tương đối không thay đổi Sự dừng lại này có thể là do thiếu sự lặp lại
và làm theo sau mỗi lần can thiệp và tăng tần số của việc quảng cáo thuốc trừ sâu Liên tục lặp đilặp lại, một chiến lược được sử dụng trong quảng cáo thuốc trừ sâu, dường như đã xói mòn cácthực hành đã được học và thúc đẩy những thành kiến sẵn có của nông dân Độ tuổi trung bìnhcủa người nông dân trên giai đoạn cũng đã không thay đổi, ngụ ý rằng có cũng đã được một sựquay lưng lại của nông dân Để duy trì sự can thiệp quản lý dịch hại, thông qua các chiến dịch,giải trí-giáo dục, hoặc các chương trình đào tạo kéo dài, điều quan trọng là các chương trình sau
đó và chiến lược lặp lại được thực hiện
3 Thảy đổi trong quản lý dịch hải ở đồng bằng sông Cửu Long, Vietnam; N.H Huan!, V Mai!, M.M Escalada", K.L Heong; xuất bản by Elsevier Science Ltd All rights reserved Crop Protection 18 (1999) 557-563.
4 sử dụng thuốc trừ sâu và canh tác lúa-cá trên cánh đồng, Vietnam; Hakan Berg, Department for Research Cooperation
(SAREC), Swedish International Development Cooperation Agency (Sida), SE-105 25 Stockholm, Sweden, Received 30 June 2000; received in revised form 5 January 2001; accepted 26 February 2001.
5 Thay đổi trong niềm tin và thực hành quan lý dịch hại nông dân trồng lúa ở Việt Nam; Một đánh giá phân tích dữ liệu từ 1992 đến 2007, M.M Escalada, K L Heong, N H Huan, and H V Chien, page 447-456; Planthoppers: những đe doạ mởi cho hệ thống trồng lúa gạo thâm canh ở châu Á Los Bafios (Philippines) International Rice Research Institute.
Trang 11(c)Ảnh hưởng sức khỏe ở Đồng bằng sông Cửu Long
20 Trong năm 2004, hai nghiên cứu6 được tiến hành nhằm phân tích các kết quả của việc sửdụng thuốc trừ sâu của người nghèo và các ảnh hưởng sức khỏe của nó Nghiên cứu về việc sửdụng thuốc trừ sâu (kiến thức và hành vi của nông dân) sử dụng một bộ các câu hỏi và các cuộcphỏng vấn với các nhóm đối tượng tập trung vào sự nhận thức về những rủi ro của việc sửdụng thuốc trừ sâu, thói quen hành vi liên quan đến sử dụng thuốc trừ sâu và việc nắm được cácthông tin về rủi ro, các biện pháp bảo vệ trong khi nghiên cứu về ảnh hưởng sức khỏe của thuốctrừ sâu được thực hiện thông qua cách sử dụng bảng câu hỏi cũng như kiểm tra y tế Các nghiêncứu (2004-05) khảo sát 603 nông dân trồng lúa ở 10 huyện bao gồm bốn huyện nằm ở phần phíatây của đồng bằng sông Mekong (Vĩnh Hậu, Bình Hào, Vi Tân, Thanh Thang) về cách thức canhtác, cách thức sử dụng thuốc trừ sâu, ứng dụng biện pháp phòng ngừa, hành vi ngăn chặn rủi ro
và các ảnh hưởng sức khỏe Các hộ gia đình với thu nhập bình quân đầu người dưới 1,2đồng /năm (13 phần trăm của mẫu) được xem là nghèo trong mẫu điều tra và được so sánh với các hộgia đình khác (được xem là không nghèo)
21 Nghiên cứu sức khoẻ7 đánh giá mức độ thực tế của vấn đề sức khoẻ trong quý đầu năm 2004.Với 482 nông dân và cả khảo sát và số liệu lâm sàng đã được thu thập Câu hỏi có cấu trúc đãđược sử dụng để thu thập thông tin về hệ thống canh tác, sử dụng thuốc trừ sâu và thực hành, đềphòng phun, các biện pháp bảo vệ, và tự báo cáo các triệu chứng ngộ độc Tất cả nông dân thamgia đã được kiểm tra bởi các bác sĩ từ Việt Nam của Hiệp hội nghề nghiệp Y tế Cuộc khảo sátđược bảo hiểm y tế các huyện An Phú, Châu Thành (tỉnh An Giang), Thốt Nốt và Vị Thanh (CầnThơ), Tân Thành và Thủ Thừa (Long An), Cai Lậy và Chợ Gạo (Tiền Giang) , và Trà Cú và TiểuCần (Trà Vinh) ở đồng bằng sông Cửu Long Các xét nghiệm y tế cho rằng tỷ lệ ngộ độc từ việctiếp xúc với organophosphates và carbamate là khá cao ở Việt Nam
22 Dưới đây tóm lược một số kết quả chính từ hai nghiên cứu này:
o Việc phun thuốc: 86% trăm số hộ điều tra cho biết sử dụng hình thức phun thuốc trừ sâu
hàng năm ; lúa được thu hoạch ba vụ một năm, liều lượng thuốc trừ sâu sử dụng trong cáccánh đồng lúa gạo là không bằng nhau giữa các vụ; nhiều người nghèo sử dụng thuốc trừsâu nhưng lượng mà họ sử dụng ít hơn những người không nghèo; Người nghèo dườngnhư sử dụng thuốc trừ sâu độc hại nhất;
o Sử dụng các thiết bị bảo hộ: Các nông dân nghèo thường sử dụng mặt nạ; các biệnpháp bảo vệ khác ít được sử dụng; khoảng 42 % của những người nghèo không sửdụng mặt nạ (thường không sử dụng các trang thiết bị bảo vệ khác ngoài áo sơ mi vàquần dài) trong khi chỉ có 36% nông dân không nghèo không sử dụng mặt nạ Khôngthấy có việc sử dụng găng tay và kính mắt
6 Báo cáo của World Bank: Báo cáo nghiên cứu PEN, 2010
7 Nhiễm độc thuốc trừ sâu của nông dân: Tác động của các kết quả kiểm tra máu từ Việt Nam, Susmita Dasgupta, Craig Meisner, David Wheeler, Nhan Thi Lam, and Khuc Xuyen, World Bank Policy Research Working Paper 3624, June 2005.
Trang 12o Thông tin: Cả người nghèo và người không nghèo đều được tiếp cận với thông tin thông
qua các phương tiện truyền thông công cộng, các công ty thuốc trừ sâu, và nhânviên khuyến nông (đặc biệt là cho người nghèo) Khoảng 30 % người nông dânnghèo cho biết việc sử dụng thuốc trừ sâu có mức độ nguy hiểm trong khi con số này ởngười nông dân không nghèo là 21% Chỉ có 1% người nông dân nghèo trong cuộc khảosát là không được đến trường; hơn 45 % có trình độ trên giáo dục tiểu học
o Đào tạo: không đến một nửa số nông dân được đào tạo về IPM và chỉ có 9 % người nông
dân nghèo và 16% người nông dân không nghèo cho biết họ đã áp dụng những kiếnthức trong IPM Đa số nông dân (khoảng 79 % nông dân nghèo và 68 % nông dân khôngnghèo) cho biết họ không sử dụng bất kỳ phương pháp kiểm soát sâu bệnh gây hại nàokhác ngoài thuốc trừ sâu Hơn 60 % nông dân trong cuộc khảo sát đều nhận thứcđược tình trạng ô nhiễm nước từ thuốc trừ sâu, và 27 % cho biết động vật hoang dã cóthể bị ảnh hưởng
o Vai trò của nhà cung cấp: Hơn một nửa số hộ nông dân nghèo mua thuốc trừ sâu nợ
và lựa chọn sản phẩm phụ thuộc vào người cung cấp tín dụng cho vay Giá thuốc trừsâu là các tiêu chí cơ bản để lựa chọn các loại thuốc trừ sâu (không phải hiệu quả kỹthuật hay an toàn)
o Không kịch bản lựa chọn: Rất nhiều người nghèo và người không có ruộng đất không
phải là nông dân nhưng thuê để phun thuốc trừ sâu và họ không có bất kỳ sự lựachọn trong việc lựa chọn thuốc trừ sâu Việc thuê người phun thuốc là phổ biến trong khuvực đồng bằng sông Mekong Nghèo đói nông thôn thường liên quan đến tình trạngkhông có ruộng đất ở đồng bằng sông Mekong.
o Tác động sức khỏe: Khoảng 60 % nông dân bị kích ứng da, đau đầu, chóng mặt, đau
mắt, khó thở, và các hiệu ứng sức khỏe ngắn hạn cấp tính khác sau khi phun thuốc trừsâu Người ta tin rằng các triệu chứng này có liên quan đến việc sử dụng thuốc trừsâu Xét nghiệm máu cho thấy 42 % người nông dân nghèo so với phần trăm 32 ngườinông dân không nghèo tiếp việc tiếp xúc nhiều với chất organophoshates và carbamates38% của những người nông dân nghèo và 31% người nông dân không nghèo phản ứngdương tính với các thí nghiệm vá da do viêm da tiếp xúc, chỉ ra việc với thuốc trừsâu.Trong các thử nghiệm cụ thể tiếp theo của phản ứng đến ba loại thuốc trừ sâu thườngđược sử dụng, chỉ có 15 đến 25 % nông dân xét nghiệm dương tính, và không có sự phânbiệt rõ ràng giữa người nghèo và người không nghèo
23 Các khuyến nghị và các kết luận quan trọng cho thấy bất kỳ nỗ lực nào nhằm giảmbớt việc sử dụng thuốc trừ sâu cần đảm bảo rằng các vấn đề cụ thể đối với người nghèo nênđược đưa vào chương trình Các vấn đề này bao gồm kiến thức về độc tính của thuốc trừsâu, việc không sử dụng các trang thiết bị bảo hộ, và việc khuyến khích người nông dânnghèo để áp dụng phương pháp IPM và công nghệ Các chương trình khuyến nông và xây dựngnăng lực cần phải cung cấp các giải pháp thực tế cho người nông dân nghèo nhằm giúp họ hếtmức có thể Người nông dân nghèo là nghèo về đất đai, giá trị nhà ở, và việc tiếp cận tíndụng chính thức và gia đình đông người Không có sự khác biệt trong việc tiếp cận đào tạo cơ
Trang 13bản về xử lý và phun thuốc thuốc trừ sâu an toàn giữa người nông dân nghèo và người khôngnghèo, nhưng lại khác trong IPM Người nông dân nghèo có nhiều nhận thức về nguy hiểm tiếpxúc với thuốc trừ sâu Thuốc trừ sâu không hợp pháp được sử dụng ở Việt Nam vẫn còn phổbiến Người nông dân nghèo quan tâm tới giá cả của thuốc trừ sâu trong khi người khôngnghèo quan tâm nhiều hơn về hiệu quả trong việc kiểm soát sâu bệnh và ô nhiễm nước từ việc
sử dụng thuốc trừ sâu là vấn đề được đề cập hầu hết
3.3 Thực hành IPM trong các khu vực dự án
24 Hầu hết các tỉnh chịu trách nhiệm thực hiện các năm khu vực dự án đều có kinh nghiệmIPM thông qua việc tham gia các chương trình nghiên cứu đề cập ở trên (mục 3.2).Kinhnghiệm dưới đây chỉ ra rằng các tỉnh này đã sẵn sàng để tiến tới hiện IPM như là một phần cácchương trình thường xuyên của họ
Bắc Vàm Nao / An Giang: diện tích nông nghiệp khoảng 33.766 ha và hầu hết được sử
dụng cho sản xuất lúa gạo và 2-3 vụ mùa hàng năm là được một thực tế bình
dụng 3R3G và dành khoảng 1,5 triệu USD trong sản xuất vào các phương tiện truyềnthông khác nhau và cung cấp 1.031 buổi tập huấn, 827 mô hình trình bày, vv bao gồmviệc phát khoảng 200.000 tờ rơi, áp phích và 12.000 poster, 31 biển quảng cáo được dựnglên ở các vùng nông thôn Nỗ lực này đã thông qua lập kế hoạch có sự tham gia và quátrình xem xét từ khái niệm dự án đến việc thực hiện mà có thể thúc đẩy mối quan hệ đốitác chất lượng, sở hữu địa phương, tin cậy lẫn nhau, và tôn trọng cũng như hội nhậpcác lợi ích sinh thái, nông nghiệp, và xã hội kết hợp với việc áp dụng các kỹthuật marketing xã hội như xây dựng thương hiệu, thông điệp, và động viên những ngườichấp thuận Tuy nhiên lưu ý rằng sau khi chiến dịch đã có tiến triển, các hành động tiếptheo sẽ là cần thiết để duy trì các lợi ích của chiến dịch với các hoạt động định kỳnhằm theo dõi tiến triển và sự thay đổi trong thu nhập của người nông dân, hành vi, vàthái độ Trong năm 2005, một sáng kiến nhằm thúc đẩy một lựa chọn phi hóa chất tậptrung vào vai trò của phụ nữ và việc sử dụng rơm rạ với chất thải hữu cơ để thay thế phânbón đã được thực hiện tại Bắc Vàm Nao với sự hỗ trợ từ AusAid Các hoạt động đangđược thực hiện và cần được xem xét về cho sự tăng quy mô
Giang và Kiean Giang) Do bản chất của nước ngọt, hầu hết các khu vực ở phía đông sẽ
có từ 2-3 vụ lúa, nhiều vườn cây ăn trái và cây ăn quả, trong khi những khu vực gần cuốiphía tây với nước lợ thích hợp cho trồng dứa và các cây trồng khác.Các nông dân cũng đã
có kinh nghiệm trong việc thực hiện chương trình IPM như là một phần của dự án trướcđây của Ngân hàng Thế giới cũng như thông qua việc tham gia vào các hoạt động nghiêncứu khác nhau Một đánh giá ngắn gọn về các biện pháp quản lý sâu bệnh hại tai khu vựcOMXN được tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị EMP cho tiểu dự án OXMN chỉ ra rằngkhu vực cũng gặp vấn đề sâu bệnh và đang nỗ lực nhằm giảm việc sử dụng phân bón vàthuốc trừ sâu Một kế hoạch đã được phát triển bao gồm các lựa chọn IPM khác nhau(phát triển lịch mùa vụ, định hướng cơ cấu cây trồng, 3R3G, vv); đào tạo cho nông dân
về kiến thức để giải quyết các loại và tình trạng vấn đề sâu bệnh, theo dõi thực hành nôngnghiệp và các bệnh dịch hại, chất lượng nước và điều kiện thời tiết cũng như các nguy cơ
Trang 14sức khỏe đối với người sử dụng và các hoạt động hợp tác với tổ chức địa phương (Đạihọc Cần Thơ và Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Nam) Tuy nhiên, ngân sách Chính phủgiới hạn đã trì hoãn việc thực hiện quy hoạch tổng thể và hạn chế việc áp dụng hiệu quảcác biện pháp quy định (có thể theo dõi khoảng 42% tổng số các nhà cung cấp hóa chấtnông nghiệp) Việc giám sát gần đây chỉ ra rằng trong 189 nhà cung cấp, thì có 40 nhàcung cấp là vi phạm do bán thuốc trừ sâu và phân bón đã hết hạn, quá hạn giấy chứngnhận thương mại, thiếu giấy phép kinh doanh, dự trữ sai, vv Các quy định và thủ tục liênquan đến dự trữ thuốc trừ sâu, vận chuyển, và sử dụng có được xây dựng (xem Phụ lục3), nhưng việc thực hiện chúng đòi hỏi đào tạo giám sát và thực thi hiệu quả Lưu ý rằngthuốc trừ sâu và phân bón giả kém chất lượng là một vấn đề lớn và cơ quan đảm bảo chấtlượng của tỉnh Hậu Giang vừa được thành lập với trình độ quản lý và kỹ thuật vẫn cònthiếu.
Đông Nàng Rền, tỉnh Bạc Liêu: khoảng 8.500 ha đất nông nghiệp được sử dụng
cho trồng lúa (2 vụ), trong khi khu vực khác được sử dụng cho nuôi trồng tôm cá và trồngmía Tương tự như các tỉnh khác, tỉnh Bạc Liêu cũng đã có kinh nghiệm trong việc thựchiện và đào tạo IPM Tỉnh đang đề xuất tiến hành một chương trìnhthí điểm trong khuvực nhằm thúc đẩy "sản phẩm chất lượng cao và an toàn” và nhằm cung cấp đào
tạo khuyến nông cho nông dân thông qua các mạng lưới tổ chức nông dân
3.4 Các hoạt động ưu tiên cho hỗ trợ dự án
(a) Các bài học thu được
25 Nhận xét về kinh nghiệm từ đào tạo IPM và đánh giá từ các nghiên cứu trước đây chorằng trong khi khái niệm IPM được chấp nhận về mặt chính sách, ở các cơ quan, các cấp nôngdân, hiệu quả thực hiện của nó vẫn là một thách thức do sự phức tạp với những vấn đề dịch bệnh;
số lượng nông dân lớn, trong số đó là người nghèo và thất học; sức ép thị trường của các nhàcung cấp hóa chất và thuốc trừ sâu, và ngân sách nhà nước , kỹ thuật, và năng lực quản lý hạnchế Những nỗ lực trước đây cho rằng:
Với đào tạo kỹ thuật, chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm, và tiếp cận cơ chế thích hợp,nông dân có thể được thuyết phục, khuyến khích, và được đào tạo để áp dụng thực hànhtốt và tổ chức nông dân có thể được thành lập Tuy nhiên những nỗ lực này phải được lâudài và toàn diện, đủ để tạo điều kiện tự duy trì của các tổ chức nông dân và đầu vào kỹthuật, đào tạo phải được định kỳ thực hiện để cập nhật công nghệ và kiến thức Xét rằngdân số sâu bệnh thường là các bộ phận của hệ sinh thái địa phương, hợp tác hiệu quả giữanông dân, các nhà nghiên cứu, và dịch vụ khuyến nông phải được thiết kế để tạo thuận lợicho hợp tác và quan hệ đối tác giữa các bên liên quan chính và điều này sẽ đảm bảo hiệuquả và duy trì các lợi ích của những nỗ lực IPM trước đây Phân bổ ngân sách bìnhthường của chính phủ Việt Nam cho mục tiêu này sẽ là cần thiết
Mối quan hệ giữa nông dân nghèo và nhà cung cấp tín dụng và / hoặc các nhà cung cấphóa chất dường như là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định của người nông
Trang 15dân để chọn loại thuốc trừ sâu và hóa chất Hầu hết nông dân đều nghèo là thất học vì vậy
họ có thể dễ dàng bị ảnh hưởng bởi áp lực khác đặc biệt là khi các tổ chức riêng của họkhông được thành lập tốt và không tự duy trì tốt Nhiều nông dân nghèo theo lời khuyên
từ các nhà cung cấp thông qua các cuộc thảo luận cá nhân và / hoặc quảng cáo
Các khía cạnh Y tế về nông dân nghèo và người tiêu dùng địa phương cần được nghiêmtúc giải quyết Với điều kiện hiện nay, nồng độ cao của dư lượng thuốc trừ sâu trong cácsản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là rau và cây lương thực có thể được dự kiến và một sốphân tích của thuốc trừ sâu còn sót lại trong các mẫu chọn lọc đã xác nhận giả thuyết này.Mặc dù tình trạng này xảy ra trong tất cả các nước đang phát triển, nhưng đối với vùngđồng bằng sông Mê Kông, điều quan trọng để là quyết những vấn đề này càng sớm càngtốt
(b) Phương pháp và các hoạt động ưu tiên
26 Thảo luận với nhân viên địa phương và các chuyên gia cá nhân cho rằng dựa trên kinhnghiệm thực hiện IPM và chính sách của Chính phủ để thúc đẩy "Ba Giảm, Ba Lãi"và / hoặc
"Một Phải, Năm Giảm" ở ĐBSCL, giảm sử dụng thuốc trừ sâu 50% và 10% phân bón sử dụng cóthể được trong vùng dự án Tuy nhiên, kế hoạch IPM và thực hiện phải được thảo luận và hoànthiện thông qua tham vấn sát và thỏa thuận giữa các bên liên quan để đảm bảo quyền sở hữu vàcam kết của các cơ quan quan trọng và nông dân và một chương trình đánh giá tác động phảiđược thực hiện vào cuối chương trình để đánh giá hiệu quả của thực hiện mô hình Những vấn đềliên quan đến tính bền vững của đào tạo và khía cạnh y tế có thể được giải quyết thông qua xâydựng năng lực của mạng tổ chức nông dân IPM (câu lạc bộ) đã được thành lập, nhưng cơ chếnữa cần được phát triển để nâng cao tính bền vững và sự phù hợp của các tổ chức này và tráchnhiệm của họ có thể được mở rộng giải quyết vấn đề sức khỏe Để đảm bảo hiệu quả và tính bềnvững của những nỗ lực này, các hoạt động bổ sung liên quan đến các biện pháp quản lý và pháttriển kỹ thuật phải được thực hiện để giải quyết các vấn đề liên quan đến nhà cung cấp và pháttriển công nghệ đó phù hợp với điều kiện địa phương
27 Trong bối cảnh này, các hoạt động sau đây đã được xác định là ưu tiên cho việc hỗ trợ dựán:
o Thứ nhất là tăng cường năng lực của người nông dân thông qua mạng lưới tổ chứcnông dân hiện nay để họ có thể áp dụng thực hành tốt cũng như có thể phát triển và /hoặc điều chỉnh kiến thức và công nghệ theo các hoàn cảnh canh tác của họ Tráchnhiệm của mạng cũng cần được mở rộng đê cung cấp kiến thức về khía cạnh sức khỏe vàmột số nguồn lực bị hạn chế sẽ được làm sẵn để cung cấp các dịch vụ y tế cho nông dânnghèo, dân tộc thiểu số, và dân số dễ bị tổn thương được tham gia trong việc sử dụngthuốc trừ sâu Phối hợp chặt chẽ với các nhà quản lý thủy lợi, các dịch vụ khuyến nông,các nhà nghiên cứu địa phương, và các cơ quan y tế công cộng sẽ là cần thiết trong khi
sự tham gia của công đoàn phụ nữ và các tổ chức địa phương sẽ được khuyến khích Cơchế bổ sung sẽ được phát triển để đảm bảo tính bền vững của mạng lưới này Chương
Trang 16trình IPM cũng nên được mở rộng đến các khu vực nơi trồng lúa và nuôi trồng thủy sản
có thể tạo ra một cuộc xung đột xã hội (như Cà Mau, Ninh Thân Lợi trong QLPH) vàcác hoạt động cần được thiết kế để thúc đẩy thực hành tốt trong nuôi tôm/ cũng như nuôicá
o Nỗ lực thứ hai là tập trung phát triển các lựa chọn không hóa chất thông qua hợp
tác chặt chẽ giữa các tổ chức địa phương và nông dân Có một số tùy chọn phi hóa chấttrong bối cảnh cùa phương pháp IPM Chúng bao gồm các ứng dụng thuốc trừ sâu phòngngừa theo lịch ; Sử dụng thuốc trừ sâu, trong khi thiệt hại của côn trùng có thể vẫn trongmức độ có thể được lấp đầy bởi cây trồng; Sử dụng thuốc diệt cỏ, trong khi các vấn đề
cỏ dại chỏ thể được quản lý một cách kinh tế thông qua các thực hành canh tác; và sửdụng thuốc diệt nấm, trong khi bệnh nấm có thể tránh được bằng cách lựa chọn cácgiống cây trồng tốt hơn và quản lý phân bón tốt hơn Có ít nhất hai chương trình mà cầnđược xem xét và đẩy mạnh với mục tiêu giảm bớt việc sử dụng thuốc trừ sâu và phânbón trong khu vực tiểu dự án Đầu tiên là các dự án phát huy vai trò của phụ nữ và việc
sử dụng rơm rạ với chất thải hữu cơ để thay thế phân bón tại Bắc Vàm Nao mà đã đượcbắt đầu vài năm trước đây với AusAide hỗ trợ Dự án thứ hai là gần đây (2009-2010)thực hiện trong huyện Cai Lậy và Cái , tỉnh Tiền Giang thúc đẩy việc áp dụng cơ chếsinh học như một phương tiện để kiểm soát sâu bệnh và / hoặc vi rút Hai điểm trình diễn(khoảng 30-45 ha), bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi rầy nâu (BPH) và vi rút, được lựachọn để trồng hoa giàu nectar trong cánh đồng lúa và kết quả được tìm thấy là thỏa đáng.Với thời gian trồng thích hợp, màu sắc tươi sáng và mùi hoa phù hợp, các cây thu hútđược một số lượng lớn các thiên địch của rầy nâu phương pháp khác cũng có thể đượcxem xét
Thứ ba là tăng cường các biện pháp quản lý, giám sát, và cổ vũ khác mà có thể giảiquyết các vấn đề liên quan đến khía cạnh sức khỏe và kiểm soát các hóa chất độc hại.Chính sách, quy định, và khuôn khổ thể chế cũng được thành lập tại đồng bằng sông CửuLong tuy nhiên năng lực kỹ thuật và quản lý của các cơ quan chủ chốt để thực hiện cácquy định xét trên một số trách nhiệm và hạn chế nhân viên và ngân sách Nhận thức vàkiến thức của các nhà bán lẻ có vẻ là một yếu tố quan trọng Để đảm bảo tính bền vững
và hiệu quả của chương trình IPM, năng lực, và hoạt động của các cơ quan phải đượctăng cường Ưu tiên đầu tư đó sẽ được trao cho (a) đăng ký cập nhật của nhà cung cấpthuốc trừ sâu và / hoặc các nhà bán lẻ trên địa bàn tỉnh và / hoặc các khu vực dự án, (b)cung cấp đào tạo và giáo dục cho nhà bán lẻ, cán bộ khuyến nông và nông dân về mặt y
tế, quy định của Chính phủ Việt Nam , và các rủi ro về sử dụng thuốc trừ sâu, bao gồm cảthông tin về phương pháp điều trị ban đầu, (c) tiến hành lấy mẫu định kỳ và kiểm trathuốc trừ sâu còn lại và làm cho các kết quả có sẵn cho tiếp cận công cộng, bao gồm cảthông tin về các nhà cung cấp / nhà nhập khẩu thuốc trừ sâu sự tham gia hoạt động củacác nhà cung cấp hóa chất và / hoặc nhập khẩu có thể giúp tăng hiệu quả của các nỗ lựccủa chính phủ để kiểm soát sử dụng thuốc trừ sâu và bảo vệ nông dân và sức khỏe cộngđồng Một nghiên cứu xã hội xác định mối quan hệ giữa nông dân và nhà cung cấp / nhàbán lẻ có thể giúp xác định các biện pháp cụ thể để giúp nông dân nghèo (xem bên dưới)
Trang 17 Thứ 4 là cung cấp trợ giúp đặc biệt cho nông dân nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương.
Nông dân nghèo dường như có sự tiếp cận công bằng tới kiến thức và thông tin về sựnguy hiểm của thuốc trừ sâu và khái niệm của IPM tuy nhiên điều này có vẻ là không đủ
để thay đổi thực hành của họ Người ta tin rằng các rào cản chính cho điều này là sự thiếukhả năng tài chính để có được các thiết bị an toàn và nhu cầu phải giảm chi phí sản xuất.Hầu hết nông dân những người sở hữu số lượng nhỏ đất, sự canh tác của họ phải giảm chiphí sản xuất càng nhiều càng tốt và nhiều người trong số họ có thể phụ thuộc vào nhàcung cấp tín dụng Ngoài ra còn có các nhóm dễ bị tổn thương, những người kiếm sốngbằng việc phun thuốc trừ sâu và những người này sẽ không có bất kỳ sự lựa chọn trongviệc lựa chọn loại thuốc trừ sâu được sử dụng Dự án do đó nên cung cấp hỗ trợ cho nôngdân nghèo và những nhóm dễ bị tổn thương để họ có thể được tiếp cận với các thiết bị antoàn cũng như có kiến thức kỹ thuật để lựa chọn các hóa chất phải và / hoặc chấp nhậncác thực hành không hóa chất Tập huấn về sử dụng an toàn thuốc trừ sâu nên dành chocác nhóm đối tượng này và kiểm tra sức khỏe miễn phí cũng cần được cung cấp Đào tạosinh kế bổ sung có thể cung cấp các tùy chọn cho những người này để cải thiện điều kiệnsống của họ
Trang 18Phần IV Quản lý dịch hại cho tiểu dự án
28 Để giảm tác động đến tăng trong sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón do việc thực hiện dự
án, PPMU với hướng dẫn kỹ thuật của PPD và các cơ quan địa phương khác và tham vấn chặtchẽ với nông dân địa phương và các viện nghiên cứu sẽ chuẩn bị và thực hiện một chương trìnhIPM cho mỗi trong năm khu vực dự án (BVN, OMXN, DNR, QLPH, và Cà Mau) Các kếhoạch với xác định một mục tiêu rõ ràng về số lượng phân bón và hóa chất độc hại (thuốc trừsâu, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ) sử dụng Dựa trên các kết quả chính miêu tả trong Phần III, cácnguyên tắc cơ bản, phạm vi của chương trình IPM, và quá trình phê duyệt đã được thiết lập vàchúng được trình bày dưới đây Hướng dẫn kỹ thuật bổ sung phù hợp với OP4.09 WB đượccung cấp trong mục V
Dự án; Loại thuốc trừ sâu, mua sắm, lưu trữ và vận chuyển sẽ theo quy định của chínhphủ như được mô tả trong Phần II Sư không phản đối của WB sẽ được yêu cầu trước khimua sắm thuốc trừ sâu như vậy có thể cần
b) Chương trình IPM và hỗ trợ dự án: Tất cả các lợi ích của tiểu dự án từ việc nạo vét và
đắp đê với sự hỗ trợ của dự án sẽ phát triển và thực hiện một chương trình IPM là mộtphần của EMP cho tiểu dự án này Dự án hỗ trợ sẽ bao gồm hỗ trợ kỹ thuật (tư vấn), thiết
bị an toàn, vật liệu cần thiết để thực hiện các lựa chọn không hóa chất, và hỗ trợ cho cácdịch vụ khuyến nông ưu tiên, bao gồm cả chi phí vận hành gia tăng Sự thông qua của
WB cho tất cả chương trình IPM của các tiểu dự án sẽ được yêu cầu thông qua mộtchương trình độc lập hoặc như một phần của sự thông qua EMP Một ngân sách khoảng3.000.000 $ đã được phân bổ để thực hiện các chương trình IPM cho các vùng tiểu dự
án Quy hoạch chi tiết công việc sẽ được hoàn thiện thông qua tham vấn chặt chẽ vớinông dân, cơ quan địa phương, và các tổ chức địa phương / NGOs
c) Dự án sẽ áp dụng một phương pháp IPM như là một cách để giảm thiểu tác động tiêu cựctiềm tàng do sự tăng tiềm tàng trong sử dụng phân bón và hóa chất Tuy nhiên, trọng tâm
sẽ được đặt để nâng cao kiến thức và kinh nghiệm thông qua đi nước ngoài và đào tạo(các khóa học và trên-công việc) vào lựa chọn an toàn và sử dụng hoá chất cũng như vềcác tùy chọn không hóa chất, đặc biệt là việc sử dụng rơm rạ , chất thải hữu cơ, và các kỹthuật khác, đang được điều tra và / hoặc áp dụng tại Việt Nam Dựa trên rất nhiều ngườikhác nhau sử dụng IPM trong những cách khác nhau, Dự án sẽ áp dụng phương phápIPM và hướng dẫn kỹ thuật quy định tại Mục V dưới đây
Trang 19d) Chương trình IPM của tiểu dự án có thể được thiết kế để hỗ trợ việc thực hiện các chínhsách của chính phủ về "ba giảm, ba đạt được và / hoặc Một phải, năm giảm" Tuy nhiên,mục tiêu cần tập trung vào việc giảm sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu.
e) Trong điều kiện bình thường, nếu sử dụng thuốc trừ sâu được xem là cần thiết như là mộtlựa chọn cần thiết, chỉ có những loại đăng ký với chính phủ và chấp nhận quốc tế sẽ được
sử dụng và các dự án cũng sẽ cung cấp chứng minh kỹ thuật và kinh tế (xem hướng dẫntại mục V) dựa trên các nhu cầu đối với hóa chất này như xem xét các tùy chọn có sẵncho các kỹ thuật quản lý không hóa chất mà cũng có thể làm giảm sự phụ thuộc vàothuốc trừ sâu hóa học tổng hợp Các biện pháp đầy đủ sẽ được đưa vào thiết kế dự án đểgiảm bớt rủi ro liên quan đến việc xử lý và sử dụng thuốc trừ sâu đến một mức độ có thểđược quản lý bởi người sử dụng
f) Lập kế hoạch và thực hiện các biện pháp điều tiết và hoạt động khen thưởng khác sẽđược thực hiện trong tham vấn chặt chẽ với các cơ quan chính và các bên liên quan, baogồm cả các nhà cung cấp hóa chất, để tạo điều kiện cho hợp tác và hiểu biết lẫn nhau.g) Thực hiện các chương trình IPM sẽ được giám sát chặt chẽ bởi CPMU với hợp tác kỹthuật của PPD và các cơ quan khác và kết quả sẽ được đưa vào trong các báo cáo tiến độ
dự án Khi hoàn thành, một nghiên cứu đánh giá tác động sẽ được thực hiện để xác nhậnthành tựu thực tế và các tác động của chương trình và đúc rút các bài học
h) Dự án sẽ cung cấp hỗ trợ kỹ thuật bao gồm nhưng không giới hạn, đào tạo, tiếp cận côngchúng, và các hoạt động thí điểm thúc đẩy nông nghiệp phi chất hóa học cũng như hỗ trợtài chính cho các thiết bị an toàn cho người nghèo, những người sẽ bị ảnh hưởng nhiềunhất bởi việc sử dụng thuốc trừ sâu không an toàn đổi lại là sự tham gia tích cực của họtrong chương trình IPM, đặc biệt là về theo dõi và báo cáo về số lượng hoá chất được sửdụng Đối với mỗi hỗ trợ kỹ thuật, TOR sẽ được chuẩn bị sẵn sàng tham khảo ý kiến vớicác cơ quan liên quan và gửi cho Ngân cho sự xem xét và nhận xét có thể
4.2 Phạm vi của một chương trình IPM
(a) Mục tiêu, nhiệm vụ và chỉ tiêu giám sát
30 Mục tiêu Chương trình IPM sẽ được thiết kế với mục tiêu là để giảm bớt việc sử dụng
phân bón và hóa chất trong vùng tiểu dự án với mục tiêu hoạt động rõ ràng theo loại và số lượnghóa chất sử dụng Các hoạt động phải được xác định thông qua tham vấn với các mạng lướinông dân và chính quyền địa phương được xây dựng trên kiến thức và kinh nghiệm trong cáclĩnh vực và phù hợp với các chính sách của Chính phủ về "Ba Giảm, ba tăng"và / hoặc "GiảmNăm và Một Phải làm" Tuy nhiên, do quản lý dịch hại có thể có hiệu quả hơn nếu những vấn đềđược giải quyết trong một bối cảnh rộng hơn, dự đoán là tiếp cận công chúng và các chiến dịchtruyền thông nên bao gồm những toàn bộ năm khu vực dự án: Bắc Vàm Nao (BVN), Omôn Xà
No (OMXN) , Quản Lộ - Phụng Hiệp (QL-PH), Đông Nàng Rền (DNR), và Cà Mau Đối với cácvùng tiểu dự án các số liệu cơ bản về sử dụng phân bón và hóa chất nông nghiệp sẽ được xâydựng trong thời gian đăng ký của nông dân tham gia và dự kiến sẽ được thực hiện trong khi hoànthành IPM như là bước đầu tiên để thực hiện các PMP Dưới đây cung cấp các mục tiêu cụ thể