Đối với Việt Nam , từ khi xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường thì Đảng và nhà nước ta đã xác định rằng : phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một tâ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Giáo viên hướng dẫn : THS LÊ TRUNG CANG Sinh viên thực hiện : NGUYỄN MINH NHẬT Chuyên ngành : KINH TẾ HỌC K34
Mã số sv : 108207525
TP Hồ Chí Minh – Năm 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thờ i gian thực tâ ̣p vừa qua nhờ đươ ̣c sự hỗ trơ ̣ hướng dẫn và giúp đỡ tận tình từ phía thầy cô trong khoa Kinh Tế Phát Triển Trường ĐH Kinh Tế TP
Hồ Chí Minh và Ban lãnh đa ̣o cũng như các cô chú , anh chi ̣ ta ̣i Viện nghiên cứu và phát triển Quận 3 TP.Hồ Chí Minh đã giúp cho em có điều kiê ̣n hoàn thành bài “đề tài tốt nghiệp”, góp phần hoàn tất một phần kết quả học tập trong học kỳ cu ối này
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô Khoa Kinh Tế Phát Triển đã hết sức nhiê ̣t tình trong quá trình giảng dạy , truyền đa ̣t cho em rất nhiều kiến thức hữu ích giúp cho em có được mô ̣t sự nhìn nhâ ̣n tổng quát về những vấn đề xảy ra trong thực tế làm việc Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy Lê Trung Cang – người đã trực tiếp hướng dẫn, xem xét và góp ý giúp em có được mô ̣t bài báo cáo thực tâ ̣p hoàn chỉnh
Em xin chân thành cảm ơn các cô ch ú trong Viện nghiên cứu Quận 3 Đặc biệt
em xin chân thành cảm ơn thầy Trần Anh Tuấn đã hỗ trợ hết mình , nhiê ̣t tình giải thích và chỉ dẫn cho em hiểu rõ khi có thắc mắc về nghiệp vụ chuyên môn , cung cấp ki ̣p thời những tài liê ̣ u cần thiết ta ̣o điều kiê ̣n cho em có thể hoàn thành báo cáo đúng thời hạn
Những nô ̣i dung và ý kiến trình bày trong báo cáo có thể sẽ không tránh khỏi nhiều thiếu sót , do cách cảm nhâ ̣n của mô ̣t sinh viên còn có phần ha ̣ n chế Mong đươ ̣c sự thông cảm và góp ý của thầy cô ,các cô chú hướng dẫn thực tập để báo cáo được hoàn chỉnh hơn
Em xin chúc sức khỏe đến thầy cô và toàn thể các cô chú , anh chị trong Viện nghiên cứu và phát triển Quận 3 tphcm Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4NHẬN XÉT CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
TP.Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2012
Viện Nghiên Cứu Phát Triển
Trang 5
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
TP.Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2012 Giáo Viên Hướng Dẫn
Trang 74
MỤC LỤC MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ………
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG I : DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VỚI NHỮNG KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC TRONG XU THẾ HỘI NHẬP TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY 8
I/ Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Việt Nam & thế giới 8
1 Khái niệm về doanh nghiệp & doanh nghiệp vừa và nhỏ 8
1.1 Khái niệm về doanh nghiệp (DN) 8
1.2 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) 8
2 Vai tro ̀ của DNVVN trong nền kinh tế Viê ̣t Nam & thế giới 11
2.1 DNVVN góp phần quan trọng tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động 11
2.2 Các DNVVN chiếm tỷ trọng cao trong tổng số các cơ sở SX-KD và ngày càng gia tăng mạnh 11
2.3.Các DNVVN có vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của nền kinh tế12 2.4 Các DNVVN là nhân tố quan trọng tạo sự năng động nề kinh tế trong cơ chế thị trường, đóng góp trong việc lưu thông và xuất khẩu hàng hoá 12
2.5 Các DNVVN có vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế 12
II/ Như ̃ng khó khăn, thách thức của DNVVN trong xu thế hô ̣i nhâ ̣p hiê ̣n nay 13
1 Tác động của hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa đối với nền kinh tế Việt Nam 13
1.1 Những thời cơ khi hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa đối với nền kinh tế 13 1.2 Những thách thức khi hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa đối với nền kinh tế 14
2 Như ̃ng khó khăn và thách thức đặt ra với DNVVN 15
2.1 Những khó khăn đối với DNVVN 15
2.1.1 Bất cập về trình độ quản lý và công nghệ 15
2.1.2 Nhu cầu lớn về vốn, thị trường và đào tạo 16
2.1.3 Bất lợi trong việc mua nguyên vật liệu, cơ sỡ vật chất kĩ thuật lạc hậu chậm đổi mới 16
2.2 Những thách thức đối với DNVVN 17
2.2.1 Năng lực ứng dụng công nghệ trong sản xuất, kinh doanh và quản lý ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam còn yếu 17
2.2.2 Sự cạnh tranh trong môi trường ngành diễn ra ngày càng lớn về mức độ cũng như quy mô 17
3 Sư ̣ cần thiết phải hỗ trợ DNVVN trong quá trình phát triển 18
CHƯƠNG II : TẦM VÓC & CÔNG TÁC HỖ TRỢ DNVVN TRÊN ĐI ̣A BÀN TP HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 20
I/ Tầm vóc của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố HCM 20
Trang 81 Giới thiệu khái quát kinh tế thành phố Hồ Chí Minh 20
2 Tầm vóc của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hồ Chí Minh 21
2.1.Tổng quan hiện trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố HCM 21
2.1.1 Tình hình phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TP 21
2.1.2 Những mặt hạn chế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TP 24
2.2 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với thành phố HCM 26
2.2.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh 26
2.2.2 Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã góp phần giải quyết việc làm cho lực lượng lao động thành phố và các tỉnh thành lân cận 27
2.2.3 Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã góp phần tạo ra sức cạnh tranh năng động cho nền kinh tế thành phố 28
2.2.4 Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một kênh huy động các nguồn lực quan trọng cho nền kinh tế thành phố 28
II/ Thư ̣c tra ̣ng hỗ trơ ̣ DNVVN trong những năm qua 29
1 Hệ thống các kênh hỗ trợ 29
2 Các chương trình hỗ trợ 30
2.1 Chương trình hỗ trợ DNVVN về tín dụng 30
2.2 Chương trình hỗ trợ DNVVN đào tạo nguồn nhân lực 33
2.3 Chương trình trợ giúp xúc tiến thương mại và xuất khẩu 35
2.4 Chương trình hỗ trợ DNVVN nâng cao năng lực canh tranh 37
2.5 Chương trình hỗ trợ DNVVN khởi sự doanh nghiệp và trợ giúp thông tin 41
3 Đánh giá kết quả hỗ trợ DNVVN thành phố trong những năm qua 43
CHƯƠNG III :NHỮNG GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DNVVN TRÊN ĐI ̣A BÀN TP HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI GIAN ĐẾN 46
I/ Quy hoa ̣ch phát triển DNVVN giai đoa ̣n 2013 – 2020 46
1 Quan điểm và định hướng phát triển DNVVN 46
1.1 Quan điểm 46
1.2 Định hướng phát triển DNNVV giai đoạn 2013 – 2020 47
2 Tổ chức thực hiện 48
II/ Giải pháp đẩy mạnh công tác hỗ trợ phát triển DNVVN trong giai đoạn 2013 – 2020 48
1 Quan điểm cần tuân thủ trong việc hỗ trợ DNVVN 48
2 Những giải pháp đẩy mạnh công tác hỗ trợ DNVVN thành phố trong giai đoạn 2013 – 2020 49
2.1 Đối với việc tăng cường đẩy mạnh công tác hỗ trợ về vốn 49
2.2 Đối với công tác hỗ trợ về kỹ thuật và công nghệ 50
2.3 Đối với các giải pháp về đất đai và mặt bằng 51
2.4 Các giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm 52
2.5 Các giải pháp về đào tạo và tư vấn 53
3 Một số kiến nghị đối với chính quyền thành phố 55
KẾT LUẬN 57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DN Doanh nghiệp
DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DNTN Doanh nghiệp tư nhân
DNDD Doanh nghiệp dân doanh
VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
KHCN Khoa học công nghệ
XHCN Xã hội chủ nghĩa
XNK Xuất nhập khẩu
SXKD Sản xuất kinh doanh
MFN Most Favoured Nation
WTO World Trade Organization
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Bảng 1: Tiêu thức phân loại DNVVN của một số nước 9 Bảng 2.1: Số lượng và tỷ lệ gia tăng DNVVN ở một số địa phương từ năm 2006 đến năm 2010 (theo tiêu chí DN có từ 1 đến 299 lao động)……… 21 Bảng 2.2: Tỷ trọng các DNVVN tại TP HCM có vốn trên 5 tỷ……… 23 Bảng 2.3: Tình hình lãi lỗ của các doanh nghiệp TP HCM từ 2006 đến 2009 23 Bảng 2.4: Tỷ lệ máy móc thiết bị tự động trong các DNVVN TP HCM (%)…….25 Bảng 2.5: Cơ cấu trình độ lao động trong các DNVVN TPHCM năm 2006…….26 Bảng 2.6: Khả năng giải quyết việc làm của các doanh nghiệp Thành phố….….28
Hình 2.1: Sự phát triển mạnh mẽ của các DNVVN tại TPHCM……… 22 Hình 2.2: Kinh tế tư nhân ngày càng đóng góp lớn trong GDP của TPHCM… 27 Hình 2.3: Sự gia tăng tỷ trọng vốn đầu tư của các DN ngoài quốc doanh…… 29
Trang 11MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1 Kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Hiện nay vấn đề phát triển kinh tế là một vấn đề rất cần thiết , tất yếu đối với mọi quốc gia Nhưng ở mỗi nước khác nhau thì đi bằng các con đường khác nhau
do dựa vào các tiềm lực của chính mình Đối với Việt Nam , từ khi xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường thì Đảng và nhà nước ta đã xác định rằng : phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một tất yếu để phát triển nền kinh tế Do nước ta có xuất phát thấp và đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu , người dân có trình độ kĩ thuật thấp do đó phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ là thực tiễn khách quan mà cần phải thực hiện theo nó
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị rất quan trọng của đất nước.Các hoạt động kinh tế, thương mại, đầu tư diễn ra trên địa bàn thành phố sôi động nên những doanh nghiệp vừa và nhỏ đang hoạt động trên địa bàn của thành phố chắc chắn sẽ hứng chịu những tác động tích cực lẫn tiêu cực Như vậy, việc đánh giá những tác động của những chính sách củaViệt Nam đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh và đưa ra các định hướng điều chỉnh là một yêu cầu cấp thiết
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn nêu trên, nên tôi chọn đề tài: “Những giải pháp hỗ trợ phát triển cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu
2 Lý do viết đề tài
a Tầm quan trọng của đề tài
Với Việt Nam thì việc phát triển kinh tế gắn liền với việc phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, do đó đề tài sẽ cho ta thấy những thực trạng (thời cơ, tồn đọng) của doanh nghiệp vừa và nhỏ từ đó rút ra được các hướng đi đúng nhất, các giải pháp tối ưu nhất nhằm nâng cao vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng
và nền kinh tế nói chung
b.Nâng cao nhận thức của sinh viên
Sinh viên là những người chủ thực sự của đất nứơc sau , là người có khả năng làm thay đổi cục diện của đất nước Khi đó đề tài sẽ giúp sinh viên nhận biết
và có ý thức hơn tới sự phát triển kinh tế đất nước Nó cũng là cầu nối giữa lý thuyết và thực tại , giữa sự phát triển kinh tế với nhiệm vụ của sinh viên
II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 12Đề tài nghiên cứu hướng tới các mục tiêu sau đây:
- Góp phần củng cố, hoàn thiện thêm những lý luận về hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên một địa bàn kinh tế trọng điểm của một nền kinh tế trong điều kiện hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế toàn cầu
- Đề xuất một số định hướng điều chỉnh phù hợp và có khả năng thực thi cao cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nhằm hạn chế thấp nhất những tác động tiêu cực, phát huy tối đa tác động tích cực
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các ảnh hưởng các chính sách đến các doanh nghiệp trong một nền kinh tế
Khách thể nghiên cứu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quan niệm của Việt Nam trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Phạm vi địa lý: thành phố Hồ Chí Minh
- Phạm vi thời gian: 5 năm gần đây (2006 - 2010)
- Phạm vi quy mô đối tượng khảo sát: các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các thành phần kinh tế
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài báo cáo sử dụng các phương pháp như sau để tiến hành nghiên cứu:
- Nền tảng phương pháp luận: phép duy vật lịch sử, duy vật biện chứng
- Phương pháp tư duy logic: phân tích, so sánh – đối chiếu, tổng hợp
- Phương pháp thu thập, xử lý thông tin: nghiên cứu tài liệu, điều tra thực tế, tham vấn kiến chuyên gia; sử dụng các phần mềm máy tính Excel, SPSS
VI NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN VĂN
Luận văn sau khi được hoàn thành sẽ có các điểm mới như sau:
- Đưa ra những đánh giá về mức độ tác động của các chính sách và sự phát triển đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2006 - 2010
- Đưa ra được những định hướng điều chỉnh để các doanh nghiệp nhanh chóng thích nghi với tình hình mới, nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức
- Đóng góp các tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo về những tác động cần thấy trước để các nhà quản lý có hành động điều chỉnh ở tầm vi mô khi hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới
VII BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Trang 13Luận văn được bố cục gồm 03 chương chính và các phần khác như sau:
• Mục lục
• Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
• Phần mở đầu
• Chương I: Doanh nghiê ̣p nhỏ và vừa với những khó khăn , thách thức trong
xu thế hội nhập toàn cầu hóa hiê ̣n nay
• Chương II: Tầm vóc & công tác hỗ trợ DNVVN trên đi ̣a bàn TP Hồ Chí Minh
giai đoạn 2006 - 2010
• Chương III: Những giải pháp đẩy mạnh công tác hỗ trợ phát triển DNVVN
trên đi ̣a bàn TP Hồ Chí Minh trong thời gian đến
• Phần kết luận
• Danh mục tài liệu tham khảo
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện chuyên đề, do khả năng còn hạn hẹp và kiến thức chưa được sâu rộng, thêm vào đó là không có đầy đủ số liệu để phân tích nên trong đề tài của em còn rất nhiều sai sót, em rất mong nhận được sự thông cảm của thầy cô
Qua đây, em cũng xin chân thành cảm ơn thầy giáo Th.S Lê Trung Cang
đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề thực tập này
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Minh Nhật
Trang 14CHƯƠNG I DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VỚI NHỮNG KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC TRONG XU THẾ HỘI NHẬP TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY I/ Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Việt Nam & thế giới
1 Khái niệm về doanh nghiệp & doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1 Khái niệm về doanh nghiệp (DN)
Trong nền kinh tế thị trường, bất cứ một nền sản xuất kinh doanh nào tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ để bán, cung ứng cho khách hàng và thu lợi nhuận, dù hoạt động đó chỉ là một cá nhân, một hộ gia đình, đều có thể coi là một doanh nghiệp Cùng cách hiểu này, Viện Thống kê và viện nghiên cứu kinh tế Pháp định nghĩa
DN là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất ra của cải vật chất và dịch vụ để bán Tuy vậy, trong các văn bản pháp quy của nước ta ranh giới
thật rõ ràng “doanh nghiệp” hộ gia đình và doanh nghiệp khác vẫn còn nhiều vấn
đề tranh cải Luật DN được Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khoá X thông qua tại kỳ họp thứ 5, ngày 12/6/1999 và có hiệu lực thi hành
vào ngày 01/01/2000, Chương I, Điều 3 nêu rõ: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” Tiếp
theo đó, Luật cũng đã định nghĩa kinh doanh như sau: “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoạc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” Như vậy chính trong văn bản Luật cũng đã để một khoảng trống, rằng có hoạt động kinh doanh nhưng chưa hẳn đã là doanh nghiệp Bởi vì, muốn trở thành doanh nghiệp thì phải có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định tất yếu phải có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
Như vậy, theo quy định của Luật doanh nghiệp, các hộ kinh doanh cá thể nếu không có đăng ký kinh doanh, không được gọi là doanh nghiệp, cho dù hộ này vẫn thực hiện các hoạt động kinh doanh hợp pháp
1.2 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN)
Trong một nền kinh tế , có thể tuỳ theo các chỉ tiêu khác nhau mà người ta phân ra các loại doanh nghiệp khác nhau Theo ngành kinh tế có thế chia ra DN công nghiệp, DN nông nghiệp, DN thương mại dịch vụ; Theo tính chất hoạt động thì có DN hoạt động công ích và DN SX-KD; Theo hình thức sở hữu thì có DNNN, DNTN và DN có vốn đầu tư nước ngoài; Theo quy mô, mà chủ yếu là quy
mô về vốn và lao động thì có DN lớn, DNVVN là loại hình doanh nghiệp phổ biến
Trang 15ở hầu hết tất cả các nước Có khá nhiều cách định nghĩa khác nhau về DNNVV Các định nghĩa này có những điểm giống nhau và khác nhau, vì vậy khó mà tìm ra một định nghĩa thống nhất mặc dù ai cũng biết rằng kinh doanh vừa và nhỏ thì khối lượng công việc ít hơn, đơn giản hơn là ở các DN lớn
Hiện nay không có tiêu chuẩn chung cho việc phân định ranh giới quy mô
DN ở các nước Ở mỗi nước, tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh phát triển kinh tế cụ thể mà có cách xác định quy mô DN trong từng giai đoạn nhất định
Bảng 1: Tiêu thức phân loại DNVVN của một số nước
Các nước DN vừa DN nhỏ DN vừa DN nhỏ
1-100 triệu DM
10 < 500 lao động
Dưới 1 triệu
DM Dưới 9 lao động
Philippin
15 - 60 triệu Peso Không quy định 1đ
< 15 triệu Peso Không quy định 1đ
15 - 60 triệu Peso Không quy định 1đ
< 15 triệu Peso Không quy định 1đ
Đài Loan 1,6 triệu USD
Xác định tiêu chí DNVVN ở Việt Nam
Cần thiết phải xác định DNVVN vì những lý do sau:
Phục vụ cho việc thống kê và phân tích
Trang 16 Để xây dựng và áp dụng chính sách
Thiết kế và áp dụng các dịch vụ hỗ trợ phát triển
Từ nhiều năm trước, khi chính phủ chưa ban hành chính thức tiêu chí quy định DNVVN, một số cơ quan nhà nghiên cứu đã đưa ra các chỉ tiêu và tiêu chuẩn cụ thể khác nhau để phân loại DNVVN Có thể kể ra cách cách phân loại tiêu biểu sau:
- Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) căn cứ vào 2 tiêu chí lao động và vốn của các ngành để phân biệt:
+ Trong ngành công nghiệp: DNVVN là tổ chức kinh tế có số vốn từ 5-10
tỷ đồng và có số lao động 200-500 người Trong đó DN nhỏ có số vốn dưới 5 tỷ đồng với số lao động nhỏ hơn 200 người
+ Trong ngành Thương mại-Dịch vụ: DNVVN là tổ chức có số vốn từ 5-10
tỷ đồng và có số vốn lao động từ 50-100 người
- Ngân hàng Công thương hoạt động cho vay tín dụng đối với các DN quy định rằng: DN vừa là DN có vốn từ 5-10 tỷ đồng và số lao động từ 500-1000 người, DN nhỏ là DN có số vốn dưới 5 tỷ đồng và lao động dưới 500 người
- Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong lĩnh vực sản xuất, xây dựng, DN có vốn dưới 1 tỷ đồng và dưới 100 lao động được xếp là DN nhỏ, DN có vốn từ 1-10
tỷ đồng và có từ 100-500 lao động là DN vừa
Tóm lại, người ta thường dùng 2 tiêu chí vốn và lao động thường xuyên để
xác định DNVVN vì tất cả các DN đều có thể xác định được 2 tiêu thức này Riêng tiêu thức doanh thu ít được sử dụng vì đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam thì tiêu chí này có thể biến động do nhiều yếu tố và khó xác định
Để thống nhất tiêu chí xác định DNVVN, ngày 20/6/1998, Chính phủ đã ban hành công văn số 681/CP-KTN quy định tiêu chí tạm thời xác định DNVVN Theo quy định này, DNVVN là các DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người Quy định tạm thời này chỉ tồn tại 3 năm và ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNVVN, Theo quy định tại Nghị định này, “DNVVN là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người Căn cứ vào tình hình kinh tế-xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả 2 tiêu chí vốn và lao động hoặc 1 trong 2 tiêu chí trên” Với tiêu thức phân loại mới này DNVVN ở nước ta chiếm tỷ trọng trên 90% trong tổng số
DN hiện có, trong đó phần lớn là các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân
Trang 17Điều này phù hợp với tinh hình kinh tế của nước ta vốn là nền kinh tế sản xuất nhỏ
và vừa là chủ yếu
2 Vai tro ̀ của DNVVN trong nền kinh tế Viê ̣t Nam & thế giới
Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới; đặc biệt là các nước đang phát
triển nói chung và Việt Nam nói riêng, Các DNVVN chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế, đóng vai trò hết sức quan trọng Đối với Việt Nam và cũng như tất cả các nước khác trên thế giới DNVVN cũng đều đóng một vai trò quan trọng, vậy vai trò các DNVVN như thế nào, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về vấn đề này
2.1 DNVVN góp phần quan trọng tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho
là liều thuốc cuối cùng chữa trị bệnh thất nghiệp khi nền kinh tế suy thoái
Ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp tương đối cao và không ổn định, sức
ép dân số, lao động lên đất đai, việc làm ở nông thôn chính là nguyên nhân của dòng di dân từ nông thôn ra thành phố, gây ra nhiều vấn đề xã hội phức tạp Khu vực DNVVN thu hút khoảng 26% lực lượng lao động phi nông nghiệp của cả nước, mặt khác, các DNVVN đang là nơi có nhiều thuận lợi nhất để tiếp nhận số lao động từ các DNNN dôi ra qua việc cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê, phá sản DN hiện đang được triển khai
Do các DNVVN có thể phát triển ở khắp mọi nơi trong nước, nên khoảng cách giữa nhà sản xuất và thị trường được rút ngắn lại, tạo nên sự phát triển cân bằng giữa các vùng Chênh lệch giàu nghèo không đáng kể, mỗi người dân có thể
là một ông chủ, mỗi gia đình có thể là một doanh nghiệp Thu nhập bình quân đầu người Việt Nam còn khá thấp do kinh tế chậm phát triển Phát triển DNVVN ở thành thị và nông thôn là biện pháp chủ yếu để tăng thu nhập, đa dạng hoá thu nhập của các tầng lớp nhân dân khắp các cùng trong nước
2.2 Các DNVVN chiếm tỷ trọng cao trong tổng số các cơ sở SX-KD và ngày càng gia tăng mạnh
Phần lớn các nước trên thế giới, số lượng các DNVVN chiếm khoảng 90% tổng số doanh nghiệp Tốc độ tăng số lượng các DNVVN nhanh hơn số lượng các
DN lớn Các DNVVN hoạt động phổ biến trong tất cả các ngành công nghiệp, dịch
Trang 18vụ, từ công nghiệp thủ công truyền thống đến các ngành công nghiệp kỹ thuật cao
Do đặc tính của mình mà các DN này rất dẽ dàng thích nghi với điều kiện kinh doanh, vốn không lớn, mô thức kinh doanh và quản lý gọn nhẹ và đơn giản, đây là một thế mạnh mà chúng ta không thể nào phủ nhận được Một quy luật tất yếu của nền kinh tế cũng như cho toàn XH đó là sự tồn tại song song và hổ trợ lẫn nhau của các bộ phận cấu thành nên xã hội
2.3 Các DNVVN có vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của nền kinh tế
Chúng góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân của các nước trên thế giới, bình quân chiếm khoảng 50%GDP ở mỗi nước Riêng ở Việt Nam, mỗi năm các DNVVN đóng góp khoảng 25% GDP của cả nước Các DN này có nhiều thuận lợi trong việc khai thác những tiềm năng phong phú trong nhân dân, từ trí tuệ, tay nghề tinh xảo, vốn liếng, ngành ngề truyền thống…Chỉ cần dùng một phép tính rất đơn giản ta có thể nhận thấy rằng sự đóng góp của các DNNVV đối với không chỉ nước ta mà cả với các nước khác là không hề nhỏ, tuy nó nhỏ nhưng số lượng rất đông đảo, lại rất đa dạng về lĩnh vực ngành nghề
2.4 Các DNVVN là nhân tố quan trọng tạo sự năng động nề kinh tế trong cơ chế thị trường, đóng góp trong việc lưu thông và xuất khẩu hàng hoá
Với quy mô nhỏ lại năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh cùng với hình thức tổ chức kinh doanh sự kết hợp chuyên môn hoá và đa dạng hóa mềm dẻo, hoà nhịp cùng với những đòi hỏi từ nền kinh tế thị trường nên các DNVVN có vai trò to lớn góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường DNVVN có nhiều cơ hội đễ thay đổi mặt hàng, chuyển hướng sản xuất, đổi mới công nghệ
Đây là thế mạnh rất riêng của các DN này cho nên số lượng của các DNVVN ngày càng đông về số lượng và đa dạng về chủng loại, những DN này góp phần đáp ứng cho bộ phận thị trường người tiêu dùng và là nguyên liệu đầu vào cho các DN lớn
2.5 Các DNVVN có vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự phát triển của các DNVVN sẽ thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lam cho công nghiệp phát triển, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại dịch vụ, làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông thôn trong cơ cấu kinh tế quốc dân, đặc biệt là ở nông thôn
Với tính chất nhanh nhạy và dễ dàng bắt kịp với những thay đổi hay biến động của thị trường, các DNVVN luôn đóng vai trò đi dầu trong mọi biến động trên cả hai phương diện, thứ nhất các DNVVN sẽ là bước thử nghiệm sự thay đổi, thứ hai nó sẽ đóng vai trò là những bản thảo, tích lũy được các kinh nghiệm đương
Trang 19đầu với sự thay đổi cho các doanh nghiệp lớn Sau khi có bước thay đỏi thành công nó sẽ là mô hình hoàn hảo nhất cho sự thay đổi của các DN lớn, từ đó làm bước đệm thay đổi và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi để phù hợp với tình hình mới
và quy luật kinh tế mới
Tóm lại, DNVVN có nhiều ưu thế và đóng vai trò quan trọng trong việc
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nó không có tính loại trừ một quốc gia nào trong đó cá cả Việt Nam DNNVV ngày càng thể hiện được tầm quan trọng cũng như sự ảnh hưởng của mình đến mọi mặt, tầm ảnh hưởng của nó mang diện rộng trên toàn thế giới, tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay nó thay đổi như thế nào và xu hướng chủ đạo của nó trong trương lai sẽ ra sao, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu vấn đề này ở những phần sau
II/ Nhƣ ̃ng khó khăn, thách thức của DNVVN trong xu thế hội nhập hiện nay
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay thì nền kinh tế không thể tránh khỏi việc bị tác động, mức tác động được biến đổi tùy theo cường độ và sự thay đổi từng lĩnh vực và từng khía cạnh của nên kinh tế - xã hôi Các DNVVN cũng không nằm ngoài các quy luật đó
1 Tác động của hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa đối với nền kinh tế Việt Nam
Mọi tác động đều mang tính hai mặt, khi hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa nền kinh tế nước ta đứng trước thế và lực mới Những thời cơ và thách thức đem lại từ việc mở cửa sẽ góp phần thay đổi bộ mặt nền kinh tế nước nhà
1.1 Những thời cơ khi hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa đối với nền kinh tế
Hội nhập kinh tế toàn cầu là một trong những hiện tượng nổi bật nhất của cuối thế kỷ 20 và những năm đầu của thiên niên kỷ mới này Đặc điểm nổi bật của hội nhập kinh tế là sự gia tăng các luồng thương mại và đầu tư giữa các nước trên thế giới Trong một thế giới đang toàn cầu hoá, sự mở cửa các nền kinh tế nội địa,
sự tăng cường của các thể chế kinh tế quốc tế, và quyền lực của các công ty xuyên quốc gia đã đóng góp vào việc thúc đẩy cấu trúc thị trường được hội nhập trên phạm vi toàn cầu Ngày nay, hội nhập kinh tế là một xu hướng không thể tránh khỏi đối với tất cả các quốc gia trên thế giới
Mở cửa hội nhập sẽ giúp chúng ta tiếp cận được những cái mới trong lĩnh vực công nghệ, cả công nghệ quản lý và cả công nghệ trong sản xuất Bước chuyển biến trong việc tiếp thu công nghệ sẽ góp phần làm thay đổi hiệu suất sản xuất, tăng năng suất lao động Những bước tiến công nghệ sẽ giúp chúng ta tiến xa hơn trong sản xuất và kinh doanh Hàm lượng công nghệ trong mỗi sản phẩm sẽ góp phần là tăng tính cạnh tranh cũng như chất lượng của từng sản phẩm Nhưng bước tiến quan trọng nhất trong việc hội nhập mở cửa và tiếp thu công nghệ đó là công
Trang 20nghệ quản lý, chính sự quản lý chuyên nghiệp sẽ làm thay đổi cách thức làm việc
và tác phong công nghiệp trong sản xuất, thay đổi được thói quen tập tục gắn liền với nông nghiệp của Việt Nam
Hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa là thời cơ mà chúng ta nên chớp lấy để phát triển nền kinh tế, trong đó các DNVVN cũng tự tạo được những thuận lợi được đưa tới từ việc mở cửa và hội nhập này Tuy nhiên, thời cơ lớn thì thách thức quả thực là không nhỏ, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu điều này ở phần tiếp theo 1.2 Những thách thức khi hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa đối với nền kinh tế
Do mức độ phát triển thấp, nên những thách thức hội nhập mà Việt Nam phải đương đầu là rất lớn Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu của chính sách mở cửa kinh tế, với những điều kiện ít thuận lợi hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực Ví dụ như khi gia nhập vào WTO, Việt Nam sẽ áp dụng hệ thống các nguyên tắc MFN và đối xử quốc gia đối với tất cả các thành viên của WTO và hàng hoá và dịch vụ của họ Vì vậy, thách thức mà Việt Nam phải đối mặt hiện nay là làm thế nào để bảo đảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nói riêng
và của quốc gia nói chung
Với Việt Nam và các nước đang phát triển nói chung, việc tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế không phải là một bảo đảm rằng nền kinh tế sẽ phát triển nhanh chóng, thuận lợi Lý thuyết và thực tế cho thấy tư cách thành viên mới chỉ là chiếc vé để tham gia vào một trò chơi Thành công đòi hỏi Việt Nam phải có những nỗ lực vượt bậc trong nhiều lĩnh vực để nắm bắt những cơ hội và giảm thiểu những tác động tiêu cực trong quá trình hội nhập này Tư cách thành viên mà Việt Nam sẽ đạt được là một cơ hội để Việt Nam phát triển nhanh nền kinh tế, đồng thời, nó cũng mang lại những thách thức lớn khi tham gia vào tổ chức WTO Nhưng đó là thách thức trong cơ hội, và thách thức cũng mang lại những cơ hội Bằng việc tái cấu trúc nền kinh tế và khung khổ thể chế, tăng khả năng cạnh tranh quốc gia,… Việt Nam có thể vượt qua được những khó khăn và gặt hái những lợi ích từ quá trình toàn cầu hoá kinh tế ngày càng tăng này
Để thành công trong quá trình hội nhập kinh tế, các nước không nên chỉ dựa vào những lợi thế so sánh mà họ có Thực tế đã cho thấy rằng những lợi thế to lớn
mà nhiều quốc gia đang phát triển có được với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn lao động rẻ và dồi dào… đã không phải là chiếc chìa khoá vàng dẫn các nước này đến sự thịnh vượng Điều quan trọng là, các nước phải nắm bắt được lợi thế cạnh tranh thông qua tri thức, sự đổi mới và nguồn vốn con người để đạt được mục tiêu tăng trưởng bền vững
Trang 212 Nhƣ ̃ng khó khăn và thách thƣ́c đặt ra với DNVVN
Tuy có được những điều kiện rất thuận lợi song các doanh nghiêp nhỏ và vừa đang đứng trước những thách thức không nhỏ Đặc biệt là trong xu thế hội nhập đòi hỏi sự nỗ lực vượt bậc về tất cả mọi mặt, thách thức đặt ra cho các DNVVN và phải vượt qua được các thử thách là điều tất yếu trong quy luật phát triển của DNVVN
2.1 Những khó khăn đối với DNVVN
2.1.1 Bất cập về trình độ quản lý và công nghệ
Đây quả thật là vấn đề không nhỏ khi mà sự phát triển ngày càng gia tăng nhu cầu về cách thức quản lý khoa học và người quản lý có trình độ là thật sự cần thiết và quyết định đến sự tồn vong của doanh nghiệp, đặc biệt là các DNVVN
Tuy nhiên theo số liệu thống kê thì hiện nay có tới 55.63% số chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, trong đó 43,3% chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ sơ cấp và phổ thông các cấp Cụ thể, số người là tiến
sĩ chỉ chiếm 0,66%; thạc sĩ 2,33%; đã tốt nghiệp đại học 37,82%; tốt nghiệp cao đẳng chiếm 3,56%; tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 12,33% và 43,3% có trình độ thấp hơn
Điều đáng chú ý là đa số các chủ doanh nghiệp ngay những người có trình
độ học vấn từ cao đẳng và đại học trở lên thì cũng ít người được đào tạo về kiến thức kinh tế và quản trị doanh nghiệp
Về trình độ sử dụng công nghệ, chỉ có khoảng 8% số doanh nghiệp đạt trình
độ công nghệ tiên tiến mà phần lớn là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) Doanh nghiệp trong nước đang sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu và khả năng cạnh tranh về công nghệ của các doanh nghiệp phía bắc là rất thấp
Ta có thể dễ dàng nhận ra một nghịch lý, trong khi trình độ về kỹ thuật công nghệ còn thấp nhưng nhu cầu đào tạo về kỹ thuật và công nghệ của doanh nghiệp có tỷ lệ rất thấp; chỉ 5.65% doanh nghiệp được điều tra có nhu cầu về đào tạo công nghệ Vậy chứng tỏ là các DNVVN thực sự chưa chú trọng đến việc phát triển và
áp dụng KHCN để tăng hàm lược chất xám, nâng cao hiệu quả cũng như chất lượng của sản phẩm Trong khi việc phát triển KHCN và áp dụng công nghệ trong sản xuất đang là một vấn đề nóng hổi và rất đang quan tâm thì có phần lớn các chủ doanh nghiệp lại đi ngược lại yêu cầu này
Số liệu tổng hợp cũng cho thấy một sự khác biệt cơ bản giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp của các nước khác Trong khi các doanh nghiệp trên thế giới quan tâm hàng đầu về các thông tin công nghệ và tiến bộ kỹ thuật, thị trường cung cấp và tiêu thụ thì doanh nghiệp Việt Nam lại chủ yếu quan
Trang 22tâm đến các thông tin về cơ chế, chính sách liên quan đến doanh nghiệp, rất ít doanh nghiệp quan tâm đến các thông tin về kỹ thuật và công nghệ
2.1.2 Nhu cầu lớn về vốn, thị trường và đào tạo
Từ số liệu của các cuộc điều tra thì các doanh nghiệp tiếp tục đề cập tới nhiều khó khăn đã được nhắc đến nhiều lần Cụ thể 66.95% doanh nghiệp cho biết thường gặp khó khăn về tài chính; 50.62% doanh nghiệp thường gặp khó khăn về
mở rộng thị trường; 41.74% doanh nghiệp gặp khó khăn về đất đai và mặt bằng sản xuất; 25.22% doanh nghiệp gặp khó khăn về giảm chi phí sản xuất; 24.23% khó khăn về thiếu các ưu đãi về thuế; 19.47% khó khăn về thiếu thông tin; 17.56% doanh nghiệp khó khăn về đào tạo nguồn nhân lực
Về khả năng tiếp cận các nguồn vốn của Nhà nước: chỉ có 32,38% số doanh nghiệp cho biết đã tiếp cận được các nguồn vốn của Nhà nước, chủ yếu là doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp cổ phần hóa; 35,24% số doanh nghiệp khó tiếp cận và 32,38% số doanh nghiệp không tiếp cận được Trong khi đó, việc tiếp cận nguồn vốn khác cũng gặp khó khăn chỉ có 48,65% số doanh nghiệp khả năng tiếp cận, 30,43% số doanh nghiệp khó tiếp cận và 20,92% số doanh nghiệp không tiếp cận được
Bên cạnh đó, việc tham gia các chương trình xúc tiến thương mại của Nhà nước cũng rất khó khăn Chỉ có 5,2% số doanh nghiệp đã được tham gia; 23,12%
số doanh nghiệp khó được tham gia và 71,67% số doanh nghiệp không được tham gia
Qua cuộc điều tra, doanh nghiệp cũng bày tỏ nhu cầu về đào tạo trong rất nhiều lĩnh vực, trong đó có 33,64% số doanh nghiệp có nhu cầu đào tạo về tài chính, kế toán; 31,62% số doanh nghiệp có nhu cầu đào tạo về quản trị doanh nghiệp; 24,14% có nhu cầu đào tạo về phát triển thị trường; 20,17% số doanh nghiệp có nhu cầu đào tạo về lập kế hoạch, chiến lược kinh doanh; 12,89% có nhu cầu đào tạo về phát triển sản phẩm mới; 12,89% có nhu cầu đào tạo về kỹ năng đàm phán và ký kết hợp đồng kinh tế; 11,62% có nhu cầu đào tạo về quản lý nguồn nhân lực; 10,85% số doanh nghiệp có nhu cầu đào tạo về ứng dung công nghệ thông tin trong doanh nghiệp
Rõ ràng là các doanh nghiệp đã nhận thấy nhu cầu rất lớn về đào tạo nhưng chưa được đáp ứng Đây là vấn đề mà các cơ quan chức năng cần tập trung hỗ trợ; đồng thời cũng là một thị trường đang cần rất nhiều dịch vụ đào đạo chất lượng cao, là cơ hội cho các đại học, các viện nghiên cứu
2.1.3 Bất lợi trong việc mua nguyên vật liệu, cơ sỡ vật chất kĩ thuật lạc hậu chậm đổi mới
Trang 23Có thể nói các DNVVN có cách thức tổ chức hoạt động kinh doanh kém, thêm vào đó là sự bất lợi trong việc mua nguyên vật liệu để sản xuất, máy móc thiết bị Do quy mô không lớn, khả năng tài chính hạn hẹp nên chỉ giới hạn số lượng mua hàng, chỉ mua với số lượng nhỏ, các doanh nghiệp không được hưởng hưởng chiết khấu hay giảm giá, điều mà các doanh nghiệp lớn thường được hưởng
do lợi thế trong việc mua sản phẩm với khối lượng lớn và đã là khách hàng làm ăn quen thuộc Mặt khác khi mua máy móc trang thiết bị để phát triển sản xuất từ nước ngoài thì các DNVVN thường thiếu ngoại tệ nên không thể mua trực tiếp mà phải vay mượn hoặc là phải thông qua đại lý nên thường là giá lên rất cao so với mức giá thực tế
và ít hiện thực, thứ hai nền kinh tế của nước ta còn rất yếu kém chưa đủ tiềm lực
về vốn, con người để thay đổi theo các công nghệ tiên tiến hơn và ngày càng tiến triển một cách chóng mặt, thứ ba ta có thể nhận thấy một quy luật rất tự nhiên đó
là ai sáng tạo ra cái gì thì người đó sẽ thành thục nhất trong việc áp dụng nó, nước
ta hay tất cả các DN nước ta rất yếu về khâu nghiên cứu và đổi mới công nghệ, tìm
ra cho mình một hướng đi riêng, tự sáng tạo cho mình mô thức làm việc hiện đại
mà chỉ đơn giản là bắt chước, nhiều khi sự bắt chước chỉ là hình thức không nắm bắt được cái cốt lõi bên trong của công nghệ, sự sáng tạo của nhà nghiên cứu chỉ có hạn Không chỉ yếu vê nghiên cứu và phát triển mà các DNVVN hiện nay cũng rất khó khăn trong việc thay đổi công nghệ để nó phù hợp hơn với điều kiện của
DN mình
2.2.2 Sự cạnh tranh trong môi trường ngành diễn ra ngày càng lớn về mức độ
cũng như quy mô
Trang 24Trong quá trình phát triển của nền kinh tế có một quy luật mà tất các các doanh ngiệp cần phải nắm bắt đó là chu kỳ kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tuy khác nhau về mức độ nhưnh có điểm giống nhau đó là khi có một công việc kinh doanh và nhiều doanh nghiệp tham gia vào nó, hay đây có thể hiểu nôm na đó
là thị trường ngành Trong một môi trường ngành thì các doanh nghiệp sẽ ngày càng tập trung đông hơn, sau một quá trình chon lọc thì những doanh nghiệp sống sót trong thị trường ngành sẽ làm cho thị trường ngành ngày càng cạnh tranh gay gắt và khốc liệt hơn, các doanh nghiệp vì lợi nhuận và chạy theo lợi nhuận sẽ phải tìm cách để hơn được tất cả các DN còn lại trong thị trường của mình Các DN gia nhập sau thường có được lợi thế hơn nhờ học hỏi được kinh nghiệm của các doanh nghiệp đã bị buộc phải rời khỏi ngành, thứ hai các DN mới gia nhập vào ngành sau quá trình thanh lộc thường là các doanh nghiệp rất lớn, có thợi thế hơn so với các
DN còn lại trong ngành hoặc là có được bí quyết công nghệ hoặc là đã phát hiện ra
lổ hỗng của thị trường
3 Sƣ ̣ cần thiết phải hỗ trợ DNVVN trong quá trình phát triển
Từ sau Đại Hội Đảng toàn quốc lần VI (năm 1986), cả nước chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, dần dần xóa bỏ cơ chế kinh tế cũ Chính sách mở cửa, thu hút đầu tư tạo môi trường thuận lợi cho các ngành sản xuất trong nước phát triển, phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tế, trong đó có thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tăng trưởng đáng kể, đặc biệt là các DNVVN
Tuy nhiên trong sự phát triển mạnh mẽ của mình thì có một hiện tượng hay nói đúng hơn là một vấn đề xảy ra đó là phần lớn nhân lực của các DNVVN đều rơi vào tình trạng hụt hẫng, không đáp ứng yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ, kỹ luật
và tác phong lao động nhất là các doanh nghiệp có các sản phẩm xuất khẩu Thời gian qua, các DNVVN đã có bước đầu huy động tiềm năng và nguồn lực để tập trung cho công tác đào tạo và bồi dương nguồn nhân lực, tuy nhiên tỷ lệ lao động chưa tưng xứng với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong quá trình phát triển, công tác đào tạo chưa được chú trọng đúng mức Các DNVVN đa số sử dụng máy móc công nghệ đã lạc hậu, việc nghiên cứu KH&CN tuy đã cso nhưng chưa chuyển biến rõ rệt Như các số liệu báo cáo cho thấy hiệu quả hoạt động SXKD chưa cao, dẫn đến năng lực cạnh tranh yếu kém là hậu quả tất yếu đối với nhiều DNVVN Tất cả những điều trên vừa xuất thân từ chính bản thân của các doanh nghiệp, mà doanh nghiệp không thể tự khắc phục và một phần là do các yếu tố khách quan bên ngoài Chính vì vậy vấn đề hỗ trợ là thật sự cần thiết đối với các DNVVN
Trong xu thế mới như hiện nay việc phát triển DNVVN là điều rất cần thiết cho đất nước trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa Một khi phát
Trang 25triển mạnh mẽ và có chất lượng các DNVVN và công tác hỗ trợ DNVVN được đảm bảo thì điều đầu tiên ta có thể thấy đó là những khó khăn xuất phát từ bản thân doanh nghiệp sẽ không còn nữa, các DNVVN sẽ có cơ hội phát triển, đem lại cuộc sống ổn định cho mỗi cá nhân và tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc dân Thứ hai, việc phát triển các DNVVN là đi đúng quy luật phát triển và sự cần thiết của nền kinh tế Việt Nam bây giờ, những yếu kém của nền kinh tế Việt Nam đó là: Nền kinh tế nhỏ lẻ và lạc hậu, phát triển chủ yếu dựa vào nông nghiệp; trình độ phát triển kém, lạc hậu về công nghệ quản lý và kỉ thật sản xuất, nền kinh tế có sức cạnh tranh yếu; tỷ lệ thất nghiệp còn cao; chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm chạp, chưa tận dụng được hết lợi thế về nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên…vv và
vô vàn những vấn đề khác xuất thân từ nền kinh tế của Việt Nam, DNVVN sẽ góp phần làm thay đổi những vấn đề và vướng mác từ nền kinh tế của Việt Nam Mặt khác, phát triển DNVVN sẽ khắc phục được các vấn đè xã hội, bởi vì nó góp phần làm giảm tỉ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, thay đổi cách đào tạo, lành mạnh hóa thể chế chính trị và làm giảm các vấn đề gây mất an ninh trật tự và các vấn đề xã hội liên quan đến người lao động
Chính những lý do trên và yêu cầu cho tình hình mới mà ta thấy được sự cần thiết phải hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Hỗ trợ cho các DNVVN cũng chính là hỗ trợ cho chính nền kinh tế Việt Nam
Trang 26CHƯƠNG II TẦM VÓC & CÔNG TÁC HỖ TRỢ DNVVN TRÊN ĐI ̣A BÀN TP HỒ CHÍ
MINH GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
I Tầm vóc của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố HCM
1 Giới thiệu khái quát kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Đông Nam
Bộ với diện tích 2.095,01 km2 và dân số năm 2010 khoảng 7.382.287 người chiếm khoảng 0,6% diện tích và 7,5 % dân số so với cả nước Đối với miền Đông Nam
Bộ, thành phố đóng vai trò đầu tàu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đối với cả nước, thành phố là một trung tâm chính trị, kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ, văn hoá, du lịch, giáo dục, khoa học kỹ thuật, y tế
Trong những năm vừa qua, kinh tế thành phố Hồ Chí Minh luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP theo giá thực tế trong giai đoạn 2000 – 2010 đạt 16,45%/năm Tốc độ tăng trưởng cao đã giúp thành phố Hồ Chí Minh liên tục có mức đóng góp GDP lớn cho cả nước, đến năm 2010 tỷ trọng GDP theo giá thực tế của thành phố so với cả nước chiếm 20,24%
Thành phố là trung tâm thương mại, dịch vụ lớn nhất Việt Nam Trong giai đoạn 2000 – 2010, kim ngạch bán lẻ hàng hoá - dịch vụ và kim ngạch xuất khẩu của thành phố luôn chiếm tỷ trọng trên 20% và trên 30% so với cả nước Thành phố có hệ thống chợ và siêu thị khá lớn, gồm có 400 chợ bán lẻ lớn nhỏ, 03 chợ đầu mối,18 trung tâm thương mại và 81 siêu thị, trong đó có các tên tuổi như chợ Bến Thành, chợ An Đông , các hệ thống siêu thị , Metro Cash&Carry
Thành phố là trung tâm tài chính – ngân hàng lớn của cả nước Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh được thành lập vào năm 2000, đến nay
đã trở thành một kênh huy động vốn rất lớn cho các doanh nghiệp trong cả nước trong 5 năm qua khi giá trị giao dịch cổ phiếu từ 90.125 tỷ đồng vào năm 2005 đã tăng lên đến 2.784.291 tỷ đồng vào năm 2010, giá trị giao dịch trái phiếu từ 2.143
tỷ đồng vào năm 2005 đã tăng lên đến 23.837.589 tỷ đồng vào năm 2010
Sự phát triển năng động của kinh tế thành phố còn biểu hiện qua các hoạt động kinh tế đối ngoại sôi động và hiệu quả Thành phố đã thiết lập quan hệ hợp tác với các địa phương của nhiều quốc gia trên thế giới như: San Francisco (Hoa Kỳ), Rhone-Alpes và Lyon (Pháp), London (Anh), Busan (Hàn Quốc), Hồng Kông và Thượng Hải (Trung Quốc), Mumbai (Ấn Độ), Melbourn (Úc), Osaka (Nhật Bản), Vientiane và Champasak (Lào), Phnompenh (Campuchia) Thành phố đã đón hàng trăm đoàn khách quốc tế (trong đó có nhiều đoàn khách cấp nguyên thủ quốc
Trang 27gia đến từ Pháp, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc ), nhiều đoàn các nhà doanh nghiệp, đầu tư nước ngoài đến thăm, tìm hiểu và xúc tiến hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư Thành phố cũng đã cùng cả nước tổ chức nhiều sự kiện quan trọng như Sea Games 22 năm 2003, các hội nghị trong năm APEC – 2006
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng Thành phố có vai trò rất quan trọng đối với cả nước trên nhiều lĩnh vực mà đặc biệt là lĩnh vực kinh tế - chính trị
2 Tầm vóc của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hồ Chí Minh
2.1.Tổng quan hiện trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hồ Chí
Minh
2.1.1 Tình hình phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thành phố:
a.) DNVVN thành phố Hồ Chí Minh ngày càng phát triển mạnh mẽ về số lượng
Thống kê cho thấy số lượng DNVVN của thành phố trong những năm gần đây luôn vượt trội số lượng DNVVN ở các địa bàn kinh tế trọng điểm khác như Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu Tỷ trọng DNVVN của thành phố so với cả nước là 20% – cao nhất trong các địa bàn kinh tế trọng điểm Mặt khác, tốc độ gia tăng DNVVN của thành phố có xu thế tăng trưởng mạnh, luôn trên 20% – cao nhất nước và cao hơn cả tốc độ gia tăng bình quân của cả nước
Bảng 2.1: Số lượng và tỷ lệ gia tăng DNVVN ở một số địa phương từ năm
2006 đến năm 2010 (theo tiêu chí DN có từ 1 đến 299 lao động)
Trang 28b.) Doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn chiếm tỷ trọng rất lớn và có tốc độ phát triển nhanh nhất trong các loại hình doanh nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh
Tỷ lệ DNVVN luôn chiếm tỷ trọng trên 90% trong tổng số doanh nghiệp hiện
có trên địa bàn thành phố Trong các năm gần đây tốc độ ra đời DNVVN cao hơn các loại hình doanh nghiệp khác Ví dụ, năm 2004 so với năm 2003: tổng số doanh nghiệp tăng thêm là 6.357 thì trong số đó có 6.264 DNVVN, chiếm tỷ trọng 98,5%
Hình 2.1: Sự phát triển mạnh mẽ của các DNVVN tại TPHCM
Nguồn: tính toán của tác giả từ số liệu của Tổng Cục Thống Kê
c) Doanh nghiệp vừa và nhỏ thành phố Hồ Chí Minh ngày càng phát triển về chất lượng thể hiện ở qui mô vốn khá lớn và kết quả hoạt động ngày càng tốt hơn Tình hình đăng ký vốn kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp tại thành phố trong các năm qua cho thấy các DNVVN của thành phố có vốn đầu tư bình quân tương đối lớn: một số DNVVN khi mới thành lập đã đạt mức vốn đầu tư bình quân từ 0,5 tỷ đồng trở lên Tỷ trọng DNVVN có vốn đầu tư trên 5 tỷ đồng tuy tăng giảm không ổn định nhưng luôn trên 40% qua các năm
Trang 29Bảng 2.2: Tỷ trọng các DNVVN tại TP HCM có vốn trên 5 tỷ
Bảng 2.3: Tình hình lãi lỗ của các doanh nghiệp TP HCM từ 2006 đến 2009
Tổng số doanh nghiệp 11.446 15.527 18.582 23.670
Tỷ lệ doanh nghiệp có lãi/tổng số DN (%) 65,4 63,8 59,6 56,7 Tổng mức lãi (Tỷ đồng) 10.168 14.775 17.373 21.684
Lãi bình quân 1 doanh nghiệp (Triệu đồng) 1.358 1.492 1.568 1.615
Tỷ lệ doanh nghiệp thua lỗ/tổng số DN (%) 34,6 36,2 40,4 43,3 Tổng mức lỗ (Tỷ đồng) 3.379 3.332 3.977 4.224
Lỗ bình quân 1 doanh nghiệp (Triệu đồng) 853 592 530 412
Nguồn: Cục Thống kê TPHCM
d) Doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào hầu hết các ngành nghề trong nền kinh
tế thành phố Hồ Chí Minh
Với chính sách thúc đẩy sự phát triển của các DNVVN mà bước cụ thể hóa là Luật Doanh nghiệp, các DNVVN của thành phố không những ngày càng phát triển mạnh về số và chất lượng mà còn phát triển phong phú về ngành nghề hoạt động Đến nay các DNVVN của thành phố đã tham gia hầu hết các ngành nghề trong nền
Trang 30kinh tế, trong đó chủ yếu tập trung vào các ngành nghề như: buôn bán, sửa chữa máy móc, thiết bị sinh hoạt; cung cấp dịch vụ; công nghiệp chế biến; khách sạn – nhà hàng; xây dựng Các DNVVN trong các ngành này là nhân tố chủ yếu tạo nên sự đóng góp rất lớn của các ngành vào GDP của thành phố trong các năm qua
2.1.2 Những mặt hạn chế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố:
a.) Mức độ vận dụng luật pháp trong kinh doanh chưa thường xuyên và đầy đủ: Có thể thấy rằng nền kinh tế Việt Nam mang đậm dấu ấn của nền văn minh nông nghiệp lúa nước với các mối quan hệ bị chi phối bởi cả “lý” và “tình” nên cung cách kinh doanh “ít vận dụng pháp luật” đã ăn sâu vào tiềm thức của nhiều lớp doanh nhân, kể cả lớp doanh nhân đương đại Họ đã quen cung cách kinh doanh trên sự tin cậy là chính với các đối tác quen biết (ví dụ: bán gối đầu hàng hóa mà không có hợp đồng ràng buộc, cuối năm âm lịch mới thanh toán) Cho nên các DNVVN không có thói quen vận dụng đến sự bảo vệ của pháp luật cho hoạt động kinh doanh của mình Ngoài ra, mức độ dễ tiên liệu của hệ thống luật pháp chưa cao, thủ tục pháp lý rườm rà, sự lợi dụng kẽ hở của luật để vụ lợi của viên chức biến chất đã tạo ra tâm lý e ngại cho doanh nghiệp trong việc vận dụng luật pháp, dẫn đến hình thành quan niệm “tránh được dây dưa với luật pháp thì tốt nhất
cứ tránh” Tóm lại, các DNVVN chỉ vận dụng đến luật pháp trong những trường hợp tối cần thiết như là thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, những thương vụ rất lớn hoặc xử lý các hậu quả xấu chứ họ không có thói quen vận dụng luật pháp để ngăn ngừa các rủi ro và bảo vệ triệt để cho quyền lợi của mình
b.) Trình độ quản lý chưa cao
Hầu hết các DNVVN thành phố Hồ Chí Minh đều bị hạn chế về trình độ quản
lý Trong đội ngũ quản lý tại các doanh nghiệp này có ít người được đào tạo bài bản hoặc có trình độ chuyên môn cao (đại học, trên đại học ) nên họ yếu về kỹ năng quản lý; thiếu kiến thức, thiếu thông tin về thị trường, công nghệ ; chậm cập nhật những tiến bộ mới trong quản trị doanh nghiệp Kết quả điều tra doanh nghiệp của Viện Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh năm 2007 cho thấy tỷ lệ lao động có trình độ từ bậc đại học trở lên trong doanh nghiệp vừa và nhỏ rất thấp – dưới 10% Báo cáo của thành phố Hồ Chí Minh về hiện trạng DNVVN cũng khẳng định
sự hạn chế về trình độ quản lý ở các DNVVN: “trình độ của đội ngũ quản lý còn yếu kém do chưa được đào tạo cơ bản tại các trường lớp, đa số phát triển từ kinh nghiệm”
c.) Công nghệ lạc hậu, máy móc thiết bị cũ chậm đổi mới
Hạn chế về công nghệ của các DNVVN của thành phố Hồ Chí Minh thể hiện ở
trình độ công nghệ lạc hậu và tính đồng bộ của dây chuyền công nghệ thấp Hiện
Trang 31nay, phần lớn công nghệ mà DNVVN của thành phố Hồ Chí Minh đang sử dụng
đã trở nên lạc hậu từ 10 – 30 năm Kết quả khảo sát về đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam cho thấy mức độ hiện đại của công nghệ đang
sử dụng trong các doanh nghiệp của Thành phố tương đối thấp: 63% doanh nghiệp
sử dụng công nghệ từ những năm 90 của thế kỷ 20; 37% doanh nghiệp sử dụng công nghệ của những năm 80 và 70 Mức độ áp dụng công nghệ tự động hóa của DNVVN Thành phố cũng không cao: chỉ có 43% doanh nghiệp có tỷ lệ thiết bị tự động – bán tự động ở mức trên 50%; 36% doanh nghiệp có tỷ lệ thiết bị tự động – bán tự động ở mức từ 25% - 50%; còn lại 21% doanh nghiệp có tỷ lệ thiết bị tự động – bán tự động ở mức dưới 25% Số liệu điều tra của Viện Kinh tế thành phố năm 2007 cho thấy tỷ lệ máy móc thiết bị tự động trong các DNVVN khá thấp trong khi tỷ lệ máy móc thiết bị bán tự động, cơ giới khá cao
Bảng 2.4: Tỷ lệ máy móc thiết bị tự động trong các DNVVN TP HCM (%)
Trình độ DNVVN thuộc
thành phần kinh
tế nhà nước
DNVVN thuộc thành phần kinh
tế tư nhân
DNVVN thuộc thành phần kinh tế
có vốn nước ngoài
DNVVN thuộc thành phần kinh
Nguồn: Viện Kinh tế TP Hồ Chí Minh – Điều tra doanh nghiệp 2007
Bên cạnh đó, tính đồng bộ của dây chuyền công nghệ được sử dụng trong các doanh nghiệp Thành phố cũng chưa cao Kết quả khảo sát về đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam cho thấy: 21% doanh nghiệp sử dụng dây chuyền công nghệ đồng bộ ở mức cao, 73% các doanh nghiệp sử dụng dây chuyền công nghệ đồng bộ ở mức trung bình và 5% doanh nghiệp sử dụng dây chuyền công nghệ đồng bộ ở mức thấp
d.) Chất lượng nhân lực chưa cao, đầu tư cho đào tạo lao động còn thấp
Trang 32Trình độ lao động trong các DNVVN thành phố hiện còn thấp Số liệu thống kê
của Viện Kinh tế thành phố năm 2006 cho thấy tỷ lệ công nhân kỹ thuật dưới bậc 4
trong các DNVVN của thành phố còn khá cao – trên 60% ở doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế nhà nước, tư nhân và tập thể
Bảng 2.5: Cơ cấu trình độ lao động trong các DNVVN TPHCM năm 2006
Thành phần kinh
tế nhà nước
DNVVN thuộc Thành phần kinh
tế tư nhân
DNVVN thuộc thành phần kinh
tế có vốn nước ngoài
DNVVN thuộc thành phần kinh
tế tập thể Cao đẳng, trung cấp 5,4 5,6 5,2 10,4
Công nhân kỹ thuật
Nguồn: Viện Kinh tế TP Hồ Chí Minh – Điều tra doanh nghiệp 2006
Mặt khác, việc đầu tư cho đào tạo lao động vẫn chưa được chú trọng đầy đủ
nên các doanh nghiệp này khó có điều kiện để nâng cao trình độ lao động Kết quả
khảo sát về đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam cho
thấy: tỷ lệ doanh nghiệp chi cho đào tạo cán bộ kỹ thuật và công nhân tại các
doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh nói chung chỉ đạt 57%; mức chi đầu tư cho
đào tạo khá thấp: 0,18% tính trên doanh thu trung bình của 3 năm 2006, 2007,
2008 Bên cạnh đó, chế độ đãi ngộ chưa được chú ý đúng mức dẫn đến các doanh
nghiệp này khó giữ chân người lao động đã có kinh nghiệm, tay nghề vững vàng
2.2 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với thành phố Hồ Chí Minh
Với những đặc điểm, hiện trạng như trên, các DNVVN đã có vai trò khá quan
trọng, đóng góp không nhỏ vào thành tựu kinh tế - xã hội của thành phố trong các
năm qua như góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đóng góp vào ngân sách, tạo
việc làm, tăng thu nhập cho đời sống nhân dân Sau đây, chúng tôi giới thiệu một
số vai trò chính của các DNVVN đối với kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh
tế của thành phố Hồ Chí Minh