Trong mắt nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước, từ nhiều năm qua, Bình Dương đã thực sự là “vùng đất hứa”, trở thành điểm hẹn cho công việc kinh doanh, phát triển sản xuất các loại hình
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
-o0o-
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH ĐÓNG GÓP CỦA FDI ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ BÌNH DƯƠNG 1997-2009 VÀ NĂNG LỰC THU HÚT ĐẦU TƯ FDI CỦA BÌNH DƯƠNG
GVHD : PGS TS Nguyễn Trọng Hoài SVTH : Nguyễn Văn Triệu
Lớp : Kinh tế Kế hoạch đầu tư 2 MSSV : 107205039
Khóa : 33
Bình Dương, 4/2011
Trang 2NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Bình Dương, ngày tháng 4 năm 2011
GIÁM ĐỐC
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng 4 năm 2011
Giảng viên: Nguyễn Trọng Hoài
Trang 4i
LỜI CẢM ƠN
Sau những năm tháng học tập ở trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh và qua thời gian thực tập tại Sở Kế hoạch & Đầu tư tỉnh Bình Dương đã giúp tôi tiếp thu và vận dụng vào thực tiễn những kiến thức mà tôi đã được quý thầy cô tận tình truyền đạt
Trong quá trình thực hiện bài chuyên đề tốt nghiệp này, tôi đã nhận được rất nhiều
sự giúp đỡ và động viên thật quý báu, đó chính là nguồn động lực lớn giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn và hoàn thành chuyên đề này
Lời đầu tiên tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Nguyễn Trọng Hoài, thầy đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành bài đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Lãnh đạo Sở, các anh chị phòng Tổng hợp – Quy hoạch kinh tế Trong quá trình thực tập, các anh chị đã chỉ bảo tận tình, tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành chuyên đề và nâng cao hiểu biết các vấn đề liên quan tới FDI tại Bình Dương
Các giảng viên khoa Kinh tế Phát Triển, trường Đại học Kinh Tế thành phố Hồ Chí Minh đã dành rất nhiều thời gian truyền đạt những kinh nghiệm quý báu, những điều mà bây giờ là những tài liệu hữu ích giúp tôi có thể ứng dụng vào quá trình thực hiện đề tài này cũng như trong công việc sắp tới
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, tất cả bạn bè thân thiết đã có những giúp đỡ, góp ý, chia sẽ những khó khăn và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực tâp
Trang 5ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU, HÌNH ẢNH v
THUẬT NGỮ VIẾT TẮT vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Lý do chọn đề tài 1
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
Mục tiêu nghiên cứu 3
Phương pháp nghiên cứu 3
Nguồn số liệu dự kiến: 3
Kết cấu chuyên đề: 4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
1.1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Các hình thức của FDI 5
1.1.2.1 Phân theo bản chất đầu tư 5
1.1.2.2 Phân theo tính chất dòng vốn 6
1.1.2.3 Phân theo động cơ của nhà đầu tư 6
1.2 Những nhân tố thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài 6
1.2.1 Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước 6
1.2.2 Chu kỳ sản phẩm 7
1.2.3 Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia 7
1.2.4 Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại 7
1.2.5 Khai thác chuyên gia và công nghệ 8
Trang 6iii
1.2.6 Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên 8
1.3 Tăng trưởng kinh tế 8
1.3.1 Khái niệm 8
1.3.2 Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế (GDP, GNP, PCI, g) 8
1.3.3 Cách tính GDP 9
1.3.4 Các nhân tố đóng góp tới tăng trưởng 11
1.4 Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế 12
1.4.1 Tích cực 12
1.4.2 Tiêu cực 13
1.5 Kinh nghiệm thu hút FDI các nước khu vực châu Á 16
1.5.1 Kinh nghiệm thu hút FDI từ TNCs của Trung Quốc 16
1.5.2 Kinh nghiệm thu hút FDI từ TNCs của Singapore 17
CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ BÌNH DƯƠNG 1997-2009 19
2.1 Tổng quan về Bình Dương 19
2.1.1 Lịch sử hình thành 19
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 20
2.1.1 Kinh tế, văn hoá, xã hội 23
2.2 Tổng quan về thu hút đầu tư FDI vào Bình Dương giai đoạn 1997-2010 26
2.2.1 Các giai đoạn phát triển của FDI và sự khác biệt giữa vốn đăng ký – vốn thực hiện 26 2.2.2 Đặc điểm của FDI vào Bình Dương 29
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH NĂNG LỰC THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA BÌNH DƯƠNG 51
3.1 Cơ sở hạ tầng 54
3.2 Chi phí gia nhập thị trường 56
3.3 Tính minh bạch và trách nhiệm cao 59
Trang 7iv
3.4 Chi phí thời gian thực hiện các quy định nhà nước 60
3.5 Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh: 62
3.6 Quyền tài sản: 63
3.7 Chất lượng lao động 64
3.8 Thiết chế pháp lý: 66
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP THU HÚT FDI VÀO BÌNH DƯƠNG 2011-2020 70
4.1 Định hướng mục tiêu phát triển kinh tế của Bình Dương tới 2020 70
4.1.1 Mục tiêu tổng quát: 70
4.1.2 Mục tiêu cụ thể: 70
4.2 Mục tiêu và định hướng của tỉnh trong thu hút FDI 71
4.3 Giải pháp 72
4.3.1 Cải cách thủ tục hành chính 72
4.3.2 Quy hoạch và đầu tư hạ tầng 74
4.3.3 Xúc tiến đầu tư 76
4.3.4 Hoàn thiện môi trường đầu tư 76
4.3.5 Phát triển nguồn nhân lực 77
4.3.6 Chủ trương đồng hành cùng doanh nghiệp 78
4.3.7 Những giải pháp nhằm hạn chế tác động tiêu cực 79
Kết luận: 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 8v
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU, HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế 15
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bình Dương 20
Hình 2.2: Thực trạng vốn FDI vào Bình Dương giai đoạn 1997-2009 26
Bảng 2.1: Lượng vốn thực hiện và vốn đăng ký vào Bình Dương 1997-2009 27
Hình 2.3: Chênh lệch giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện vào Bình Dương 1997-2009 27
Bảng 2.2: Quy mô các dự án FDI đầu tư vào Bình Dương 1997-2009 30
Bảng 2.3: Cơ cấu vốn FDI đầu tư theo ngành vào Bình Dương 1997-2009 31
Bảng 2.4: Cơ cấu FDI theo huyện – thị 33
Bảng 2.5: Một số nước (vùng lãnh thổ) đầu tư vào Bình Dương 34
Hình 2.4: Số dự án FDI được cấp phép 1997-2008 phân theo đối tác đầu tư 35
Bảng 2.6: Số doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12 hàng năm 36
Hình 2.5: Đóng góp của FDI vào GDP Bình Dương 1997-2009 37
Hình 2.6: Tỷ lệ FDI thực hiện so với tổng đầu tư toàn Tỉnh Bình Dương 1997-2009 38
Bảng 2.7: Số dự án FDI đầu tư theo ngành ở Bình Dương 1997-2008 39
Bảng 2.8: Đóng góp của khu vực FDI vào ngân sách tỉnh Bình Dương 41
Bảng 2.9: Tình hình xuất nhập khẩu của khu vực FDI Bình Dương 1997-2009 42
Hình 2.7: Số việc làm được tạo ra từ các doanh nghiệp FDI 43
Bảng 3.1: 10 yếu tố quyết định lựa chọn tỉnh đầu tư 52
Hình 3.1: Các tiêu chí đánh giá năng lực thu hút FDI của Bình Dương 53
Hình 3.2: Cảm nhận về chất lượng cơ sở hạ tầng của các doanh nghiệp FDI 54
Hình 3.3: Tỷ lệ doanh nghiệp chờ hơn 1 tháng để có đủ giấy phép kinh doanh 56
Hình 3.4: Quy trình cấp phép cho các doanh nghiệp FDI tại các KCN Bình Dương 58
Hình 3.5: Mức độ tiếp cận văn bản kế hoạch và văn bản pháp luật 59
Hình 3.6: Tỷ lệ doanh nghiệp FDI cần có quan hệ để tiếp cận tài liệu 60
Hình 3.7: Chi phí thời gian tuân thủ các quy định của Nhà nước 61
Hình 3.8: Thái độ của lãnh đạo tỉnh đối với khu vực nhà nước và đầu tư nước ngoài 62
Hình 3.9: Cấp giấy chứng nhận 64
Trang 9vi
Hình 3.10: Tỷ lệ doanh nghiệp FDI đánh giá giáo dục phổ thông, đào tạo nghề tốt các tỉnh 65
Hình 3.11: Cảm nhận về chất lượng lao động 66
Hình 3.12: Tỷ lệ doanh nghiệp dùng tòa án giải quyết kinh doanh 67
Bảng 4.1: Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Bình Dương đến 2020 70
Bảng 4.2: Tốc độ tăng trưởng bình quân của các ngành, lĩnh vực (%/năm) 71
Trang 10UBND: Ủy ban nhân dân
FDI: Foreign Direct Investment: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
PCI: Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
VCCI: Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam
GDP: Gross Domestic Products: Tổng sản phẩm quốc nội
GNP: Gross National Products: Tổng sản phẩm quốc dân
ĐTNN: Đầu tư nước ngoài
TNCs: Transnational corporations: Các công ty xuyên quốc gia
USD: United States dollar: Đô la Mỹ
ASEAN: Association of Southeast Asian Nations: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á NK: Nhập khẩu
XK: Xuất khẩu
XNK: Xuất nhập khẩu
WTO: World Trade Organization: Tổ chức thương mại thế giới
EU: European Union: Liên minh Châu Âu
ODA: Official Development Assistance: Hỗ trợ phát triển chính thức
Trang 11tế chủ yếu là nông nghiệp, trong khi công nghiệp và dịch vụ còn quá nhỏ bé Tuy nhiên,
từ thời khắc lịch sử năm 1997, Bình Dương đã bắt đầu trỗi dậy với chủ trương đổi mới được cụ thể hóa bằng những chính sách thông thoáng, mở đường cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương Bằng việc xây dựng cơ sở hạ tầng, quyết liệt cải thiện môi trường đầu tư, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh, dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước ồ ạt chảy về Bình Dương, nhà máy mọc lên khắp nơi, nguồn nhân lực bốn phương quy tụ về Kinh tế - xã hội của Bình Dương đã có những thành tựu đáng tự hào, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, bộ mặt đô thị hóa đã được hình thành rõ nét
Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2006-2010, GDP của Bình Dương tăng trưởng 14% hàng năm, ở mức gấp đôi cả nước; cơ cấu kinh tế với tỷ trọng: Công nghiệp chiếm 63%, dịch vụ chiếm 32,6% và nông nghiệp chỉ còn 4,4% Giá trị sản xuất công nghiệp bình quân giai đoạn 2006-2010 duy trì tốc độ tăng trưởng cao, đạt 20% hàng năm; trong đó khu vực kinh tế trong nước chiếm 36%, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm 64%; kim ngạch xuất khẩu của Bình Dương tăng bình quân 22,9% Trong mắt nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước, từ nhiều năm qua, Bình Dương đã thực sự là “vùng đất hứa”, trở thành điểm hẹn cho công việc kinh doanh, phát triển sản xuất các loại hình công nghiệp và dịch vụ
Thành tựu trên đây là dấu hiệu tốt của quá trình chuyển đổi kinh tế và là kết quả của các chính sách mà Bình Dương đã và đang thực hiện trước những thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là xu thế toàn cầu hóa Bên cạnh mở rộng quan hệ quốc
tế, cũng như nhiều tỉnh - thành khác, tỉnh đã và đang tích cực cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Các nỗ lực của chính quyền Tỉnh đã đem lại những kết quả đáng khích lệ về thu hút vốn FDI Bình Dương hiện có 28 KCN với tổng diện tích 8.751 ha, trong đó có 24 KCN
đi vào hoạt động, thu hút trên 1.922 dự án FDI, tổng vốn đầu tư gần 14 tỷ USD
FDI có thể ảnh hưởng tới nền kinh tế ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước nghèo, kỳ vọng lớn nhất của việc thu hút FDI chủ yếu là nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế Kỳ vọng này dường như được thể hiện trong tư tưởng của các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách với ba
Trang 122
lý do chính: Một là, FDI góp phần vào tăng thặng dư của tài khoản vốn, góp phần cải thiện cán cân thanh toán nói chung và ổn định kinh tế vĩ mô Hai là, các nước đang phát triển thường có tỷ lệ tích lũy vốn thấp và vì vậy, FDI được coi là một nguồn vốn quan trọng để bổ sung vốn đầu tư trong nước nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế Ba là, FDI tạo
cơ hội cho các nước nghèo tiếp cận công nghệ tiên tiến hơn, dễ dàng chuyển giao công nghệ hơn, thúc đẩy quá trình phổ biến kiến thức, nâng cao kỹ năng quản lý và trình độ lao động,… Tác động này được xem là các tác động tràn về năng suất của FDI, góp phần làm tăng năng suất của các doanh nghiệp trong nước và cuối cùng là đóng góp vào tăng trưởng kinh tế nói chung (Lê Bá Xuân và cộng sự, 2006) Ở một tình thế khác, vốn FDI
đổ vào một nước có thể làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế nhưng đóng góp của nguồn vốn này vào tăng trưởng là thấp Trường hợp trên được coi là không thành công với chính sách thu hút FDI hay chưa tận dụng triệt để và lãng phí nguồn lực này dưới góc độ tăng trưởng kinh tế Thực trạng này khiến cho các nhà kinh tế ngày càng quan tâm nhiều hơn tới việc đánh giá tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là của các nước đang phát triển
Trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu đánh giá tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế và thường sử dụng phương pháp phân tích định lượng để kiểm định và lượng hóa các tác động này Ở Việt Nam các nghiên cứu về FDI nói chung là khá nhiều, tuy nhiên chỉ có một số nghiên cứu đi sâu xem xét tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế Nguyễn Mại (2003), Freeman (2002) đã nghiên cứu tổng quát hoạt động FDI ở Việt Nam cho tới năm 2002 và đều đi đến kết luận chung rằng FDI có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế thông qua kênh đầu tư và cải thiện nguồn nhân lực Tác động tràn của FDI cũng xuất hiện ở ngành công nghiệp chế biến nhờ di chuyển lao động và áp lực cạnh tranh Nguyễn Thị Hường và Bùi Huy Nhượng (2003) rút ra một số bài học cho Việt Nam bằng cách so sánh chính sách thu hút FDI ở Trung Quốc và Việt Nam trong thời kỳ 1979-
2002 Đoàn Ngọc Phúc (2003) phân tích thực trạng của FDI trong thời kỳ 1988-2003 và kết luận tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam phụ thuộc nhiều vào khu vực có vốn FDI
Ở mức độ cấp tỉnh – thành, đến nay khu vực có vốn đầu tư nước ngoài được công nhận là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế với đóng góp vào GDP ngày càng tăng Ngoài ra, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài còn tạo thêm việc làm, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu và chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong tỉnh và đóng góp cho ngân sách địa phương, tạo việc làm cho người lao động,… Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, tác giả cho rằng Bình Dương vẫn chưa tận dụng tối ưu các cơ hội thu hút FDI và chưa tối đa được lợi ích mà đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể mang lại Đó là diễn biến bất thường về dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam, tỷ lệ FDI thực hiện so với vốn đăng ký còn thấp, tập trung FDI chỉ trong một số ngành, vùng, khả năng tuyển dụng lao động còn khiêm tốn, (Trần Văn Lợi, 2004)
Trang 133
Chính vì những lý do trên, nhằm kiểm chứng lại những tác động của FDI tới kinh
tế - xã hội Bình Dương và làm rõ nguyên nhân vì sao trong những năm vừa qua Tỉnh là một trong những điểm sáng của thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nên tác giả quyết định
thực hiện đề tài: “PHÂN TÍCH ĐÓNG GÓP CỦA FDI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH
TẾ BÌNH DƯƠNG 1997-2009 VÀ NĂNG LỰC THU HÚT ĐẦU TƯ FDI CỦA BÌNH DƯƠNG”
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Bài nghiên cứu sẽ tìm hiểu về tình hình dòng vốn FDI vào Bình Dương từ
1997-2009, cũng như tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bình Dương giai đoạn này, năng lực thu hút đầu tư FDI của tỉnh
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát:
Phân tích tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế Bình Dương 1997-2009 và năng lực thu hút đầu tư FDI tại Bình Dương trong thời gian qua
Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích, đánh giá thực trạng vốn FDI vào Bình Dương từ 1997-2009
- Phân tích mức độ đóng góp của FDI đến tăng trưởng kinh tế Bình Dương
- Phân tích môi trường đầu tư Bình Dương thông qua các tiêu chí đánh giá PCI
- Đề xuất một số chính sách thu hút và quản lý hiệu quả các dự án FDI
Phương pháp nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu tác giả sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp thống kê mô tả, phân tích
- So sánh với một số địa phương khác trong vùng Đông Nam Bộ: TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai và mức trung bình cả nước qua các tiêu chí PCI-FDI
Nguồn số liệu dự kiến:
Số liệu thứ cấp được công bố của Tổng cục Thống kê (GSO), Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch Đầu tư (MPI), Bộ Công Thương (MOI), Sở Kế Hoạch Đầu Tư Bình Dương, Sở Công Thương Bình Dương, Cục Thống Kê Bình Dương từ năm 1997 đến năm
2009 để phân tích
Trang 144
Kết cấu chuyên đề:
Ngoài phần mở đầu, chuyên đề được viết gồm 4 chương:
Chương I: Tổng quan cơ sở lý thuyết Trong chương này chuyên đề khái quát các lý thuyết liên quan tới FDI, tăng trưởng kinh tế, GDP, GNP…và tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế của các tác giả đã nghiên cứu trước, cũng như kinh nghiệm thu hút FDI của một số quốc gia
Chương II: Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế Bình Dương 1997-2009 Trong chương này, chuyên đề sẽ giới thiệu đôi nét về tỉnh Bình Dương, đặc điểm của FDI qua các giai đoạn và đóng góp của chúng vào tăng trưởng kinh tế Bình Dương
Chương III: Phân tích môi trường đầu tư tại Bình Dương Chương này, chuyên đề sẽ tập trung dùng các tiêu chí của PCI 2010 đã khảo sát các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để lý giải vì sao Bình Dương lại là một trong những tỉnh thu hút được nhiều vốn FDI nhiều nhất nước Ngoài ra, còn thêm phần so sánh các tiêu chí giữa Bình Dương, Đồng Nai, Thành Phố Hồ Chí Minh và mức trung bình cả nước để có cái nhìn cụ thể hơn những gì mà doanh nghiệp đánh giá về các tỉnh thành
Chương IV: Giải pháp thu hút FDI vào Bình Dương 2011-2020 Với những đóng góp quan trọng của khu vực FDI vào kinh tế - xã hội Bình Dương giai đoạn vừa qua, những bài học về thu FDI của các nước ở chương I và qua đánh giá từ các tiêu chí PCI-FDI ở chương III Chương này sẽ trình bày mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế -
xã hội Bình Dương đến 2020, qua đó đề xuất những giải pháp nhằm thu hút FDI ngày hiệu quả hơn cả về mặt số lượng lẫn chất lượng
Trang 155
CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Để làm rõ một số từ ngữ cũng như cách tính các tiêu chí trong nền kinh tế như: GNP, GDP, g,… Trong chương này chuyên đề giới thiệu về FDI, các lý thuyết liên quan tới FDI, tăng trưởng kinh tế, các nhân tố tác động tới tăng trưởng kinh tế.…và tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế của các tác giả đã nghiên cứu trước đây Cũng trong chương này, chuyên đề sẽ trình bày một số kinh nghiệm trong việc thu hút FDI của Trung Quốc – nước đã vượt qua Mỹ, leo lên vị số 1 trong việc tiếp nhận đầu tư nước ngoài và của Singapore – nước có môi trường đầu tư hấp dẫn nhất khu vực châu Á (HIDS, 2011) nhằm làm cơ sở cho việc định hướng giải pháp ở chương IV
1.1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1 Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này (Wikipedia, 2011)
Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”
Luật đầu tư năm (2005): FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này
và các quy định khác của pháp luật có liên quan
1.1.2 Các hình thức của FDI
1.1.2.1 Phân theo bản chất đầu tư
Đầu tư phương tiện hoạt động: Đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào
Mua lại và sáp nhập: Mua lại và sáp nhập là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh
Trang 166
nghiệp này (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào
1.1.2.2 Phân theo tính chất dòng vốn
Vốn chứng khoán: Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty
Vốn tái đầu tư: Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm
Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ: Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau
1.1.2.3 Phân theo động cơ của nhà đầu tư
Vốn tìm kiếm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém
về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng) Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh
Vốn tìm kiếm hiệu quả: Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi,
Vốn tìm kiếm thị trường: Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh dành mất Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu
1.2 Những nhân tố thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1 Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước
MacDougall (1960) cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên của vốn giữa các nước Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn Còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng
Trang 177
vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận Vì chi phí sản xuất của các nước thừa vốn thường cao hơn các nước thiếu vốn Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là tất cả những hoạt động nào có năng suất cận biên cao mới được các doanh nghiệp đầu tư sản xuất mà cũng có những hoạt động quan trọng là sống còn của doanh nghiệp thì
họ vẫn tự sản xuất cho dù hoạt động đó cho năng suất cận biên thấp
1.2.2 Chu kỳ sản phẩm
Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kì sống của các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn, chủ yếu là: giai đoạn sản phẩm mới; giai đoạn sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa Akamatsu Kaname (1962) cho rằng sản phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu
ra thị trường nước ngoài Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thuật của nước ngoài (giai đoạn sản phẩm chín muồi) Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện (giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa) Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI
Raymond Vernon (1966) lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước có chi phí sản xuất thấp hơn
1.2.3 Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia
Stephen H Hymes (1960, công bố năm 1976), John H Dunning (1981), Rugman (1987) và một số người khác cho rằng các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (như năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty
đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai, chính trị) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn và công nghệ sẽ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng
1.2.4 Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng
dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương Đối
Trang 188
phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó Họ sản xuất và bán ô
tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc
Mỹ và châu Âu
1.2.5 Khai thác chuyên gia và công nghệ
Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa Nhật Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ Ví dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia người Mỹ Các công
ty máy tính của Nhật Bản cũng vậy Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công nghiệp phát triển khác cũng có chính sách tương tự Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ Việc công ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM Hay việc TCL (Trung Quốc) trong sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL-Thompson Electroincs, việc National Offshore Oil Corporation (Trung Quốc) trong ngành khai thác dầu lửa mua lại Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như vậy
1.2.6 Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên
Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự
1.3 Tăng trưởng kinh tế
1.3.1 Khái niệm: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng quốc
gia hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người qua một thời gian nhất định (Đinh Phi Hổ, 2009)
0
Y Y
Y : GDP, GNP tại thời điểm gốc
1.3.2 Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế (GDP, GNP, PCI, g)
Trang 199
1.3.2.1 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP, Gross Domestic Products): là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trên phạm
vi lãnh thổ của một nước trong thời gian nhất định, thường là 1 năm
1.3.2.2 Tổng sản phẩm quốc dân (GNP, Gross National Products): là giá trị tính bằng tiền của tất cả các sản phẩm và dịch vụ được tạo bởi công dân một nước trong thời gian nhất định, thường là 1 năm
x Y
Y
Y g
n: tổng số năm trong giai đoạn, tính từ năm thứ 0
Mối quan hệ giữa tăng trưởng Y và dân số:
P Y
g : Tốc độ tăng trưởng của dân số
1.3.3 Cách tính GDP: các nhà kinh tế đưa ra 3 phương pháp đánh giá kết quả
hoạt động sản xuất của nền kinh tế trong một thời gian nhất định:
1.3.3.1 Phương pháp sản xuất:
i VA GDP
i
VA : giá trị gia tăng của doanh nghiệp i = giá trị sản xuất của doanh nghiệp i – chi phí trung gian của doanh nghiệp i
Trang 2010
Giá trị sản xuất của doanh nghiệp là giá trị của toàn bộ lượng hàng hóa và dịch
vụ mà doanh nghiệp sản xuất được trong năm
Chi phí trung gian: là giá trị của các hàng hóa trung gian bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, năng lượng…và các dịch vụ mua ngoài Trong chi phí trung gian không chứa khấu hao tài sản cố định và tài sản cố định là hàng hóa cuối cùng của nền kinh tế
1.3.3.2 Phương pháp chi tiêu: Tập hợp tổng chi tiêu xã hội để mua hàng hóa và dịch vụ tạo ra trên lãnh thổ:
GDP = C + I + G + X – M
C: chi tiêu cá nhân
I: đầu tư tư nhân
G: chi tiêu chính phủ
X: giá trị hàng hóa xuất khẩu
M: giá trị hàng hóa nhập khẩu
Hạn chế của việc tính toán GDP:
Tính toán GDP theo 3 công thức trên, thực tế thường không cho ra một đáp
số, vì số liệu không được chính xác Vì vậy, các nhà thống kê sau khi tính toán sẽ tiến hành điều chỉnh, lựa chọn con số hợp lý
GDP không phản ánh giá trị của một số hoạt động kinh tế Như là:
Hoạt động kinh tế ngầm gồm: những hoạt động kinh tế bất hợp pháp
và cả hợp pháp (ví dụ: kinh tế gia đình, buôn hàng vỉa hè) như buôn bán hàng cấm (ma tuý), buôn lậu, cờ bạc, mại dâm; những hoạt động hợp pháp nhưng không báo cáo với cơ
Trang 2111
quan thuế, như những hoạt động, hành vi thông đồng, móc ngoặc giữa người quản lí với người thừa hành để bớt xén tiền của, tài sản của nhà nước, chia nhau, các hành vi hối lộ cá nhân hoặc tập thể
Hoạt động phi thương mại: đây là các hoạt động cần thiết cho xã hội, nhưng không phải vì lý do thương mại nên không có giá cả, không được báo cáo hay hoạch toán vào GDP như hoạt động từ thiện của các tổ chức nhân đạo; tổ chức bảo vệ môi trường, tạo ra hàng hóa và dịch vụ tự cung tự cấp,…
GDP không phải là một chỉ tiêu hoàn hảo để đo lường phúc lợi kinh tế
1.3.4 Các nhân tố đóng góp tới tăng trưởng
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng sản lượng quốc gia mà sản lượng được tạo
ra từ sản xuất Như vậy, nguồn gốc của tăng trưởng được tạo ra từ sản xuất Quá trình sản xuất là quá trình mà trong đó các yếu tố đầu vào được phối hợp theo những cách thức nhất định để tạo ra khối lượng sản phẩm Nếu xét ở gốc độ phạm vi toàn bộ nền kinh tế, thì việc tạo ra tổng sản phẩm quốc gia sẽ có quan hệ phụ thuộc với các nguồn lực đầu vào của quốc gia Một sự thay đổi tổng sản lượng quốc gia khi có sự thay đổi các nguồn lực đầu vào
Các lý thuyết tăng trưởng ra đời phân tích nguồn gốc tăng trưởng với nhiều quan điểm khác nhau, mỗi lý thuyết đều có sự khám phá mới, nhưng trên căn bản vẫn là phân tích quan hệ đầu vào với đầu ra
Để liên kết mối quan hệ đầu ra (GNP, GDP) với đầu vào được khái quát qua hàm sản xuất tổng hợp như sau:
Y = F(Xi) với i = 1, 2,…., n
Xi: là các yếu tố đầu vào
Hàm sản xuất trên biểu thị cho một sự tối đa sản lượng quốc gia sẽ lệ thuộc nhiều yếu tố đầu vào Hầu hết các nhà kinh tế thống nhất các yếu tố đầu vào cơ bản của nền kinh tế bao gồm:
Vốn sản xuất (K, Capital): là bộ phận quan trọng của tổng giá trị tài sản quốc gia, tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất để tạo ra tổng sản lượng quốc gia Sự thay đổi của quy mô sản xuất ảnh hưởng đến thay đổi tổng sản lượng quốc gia
Lao động (L, labour): là yếu tố sản xuất đặc biệt tham gia vào quá trình sản xuất không chỉ về số lượng người lao động mà còn cả chất lượng người lao động Đặc biệt là yếu tố phi vật chất của lao động như kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm lao động được xem là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến gia tăng sản lượng quốc gia Yếu tố này
Trang 22 Công nghệ (T, Technology): là đầu vào quan trọng làm thay đổi phương thức sản xuất, tăng năng suất lao động Ứng dụng các công nghệ mới vào sản xuất sẽ nâng cao quy mô sản lượng, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm lao động sống, chi phí sản xuất thấp, do đó tác động gia tăng sản lượng quốc gia
Như vậy hàm sản xuất tổng hợp được thể hiện như sau: Y = F(K, L, R, T)
Ý nghĩa:
- Tăng trưởng tổng sản lượng phụ thuộc vào quy mô, chất lượng của các yếu
tố đầu vào và cách phối hợp chúng
- Mỗi yếu tố giữ một vai trò nhất định và tác động qua lại với nhau
- Tùy theo mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, có thể yếu tố nào đó được đề cao hơn yếu tố khác nhưng không có nghĩa là phụ thuộc duy nhất vào một yếu tố
- Ngoài các yếu tố trên, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, được gọi là phi kinh tế như:
- Thể chế kinh tế - chính trị: bao gồm bộ máy tổ chức thực hiện pháp luật, các chế độ chính sách, chiến lược, những nguyên tắc quản lý,… Một thể chế không phù hợp
sẽ tạo ra rào cản làm ảnh hưởng đến sử dụng hiệu quả các nguồn lực Do đó, yếu tố thể chế đóng vai trò “hành lang” thuận lợi cho quá trình tăng trưởng kinh tế của một quốc gia
- Đặc điểm về văn hóa – xã hội, tôn giáo: trình độ văn hóa của một dân tộc thấp sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, đến khả năng nghiên cứu, sáng tạo ra các phát minh Những tập tục cổ hủ, quan niệm sống lạc hậu sẽ cản trở việc ứng dụng các công nghệ mới Do đó, đặc điểm về văn hóa - xã hội cũng ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
1.4 Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế
1.4.1 Tích cực
Bổ sung cho nguồn vốn trong nước: Trong các lý luận về tăng trưởng kinh
tế, nhân tố vốn luôn được đề cập Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó
Trang 2313
cần nhiều vốn hơn nữa Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn
từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI
Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý: Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng "chính sách thắt lưng buộc bụng" Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách
đó Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ
và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước
Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu: Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu
Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công: Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Nguồn thu ngân sách lớn: Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006 (Wikipedia, 2011)
1.4.2 Tiêu cực
Bên cạnh những đóng góp tích cực đến tăng trưởng kinh tế, vốn FDI cũng tồn tại những tác động ngoài mong đợi Chúng ta đều biết, đầu tư là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nên trong quá trình theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế, nhiều quốc gia đã tìm mọi cách để thu hút nguồn vốn từ bên ngoài Nên đã nói lỏng việc kiểm soát với dòng vốn này Dẫn đến việc dòng vốn này đổ vào ồ ạt Kết hợp với cơ chế giám sát nội bộ yếu kém, tham nhũng, cùng với những chính sách, hệ
Trang 24 Thâm hụt cán cân mậu dịch: Do nhiều dự án đầu tư là các dự án xây dựng trong lĩnh vực dịch vụ hay công nghiệp nặng Mà các dự án này nhằm đáp ứng nhu cầu nội địa, trong khi phải nhập nguyên liệu từ bên ngoài cho quá trình xây dựng và sản xuất Nhiều doanh nghiệp FDI có giá trị xuất khẩu nhỏ hơn nhập khẩu, do đó làm tăng thâm hụt cán cân mậu dịch của quốc gia đó
Lạm phát: Việc dòng vốn FDI vào quá nhiều, vượt mức nhu cầu thực tế, sẽ dẫn đến tình trạng thừa vốn, làm cho mức cung tiền tăng lên, dẫn đến tình lạm phát cao
Ô nhiễm môi trường: Quốc gia tiếp nhận đầu tư có thể phải nhận các loại máy móc kém chất lượng, công nghệ lạc hậu,… Nó không chỉ không làm tăng giá trị sản xuất trong nước mà có thể làm gia tăng mức độ ô nhiễm môi trường tại quốc gia đó
Tổn thương đến lợi ích lâu dài của nền kinh tế: Nhiều nguồn lực của nền kinh tế không được đầu tư đúng mục đích mà phải hy sinh cho các dự án có vốn FDI Như
là các dự án sân golf, các dự án vui chơi, giải trí,… chiếm một diện tích khá lớn đất nông nghiệp Các dự án chỉ đáp ứng một số ít nhu cầu của những người giàu có, không tạo được nhiều việc làm cho nền kinh tế
Tạo sức ép lên doanh nghiệp trong nước: Trong một số lĩnh vực, với lợi thế nhiều vốn, công nghệ cao và trình độ quản lý tiên tiến, thì hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp FDI sẽ rất cao, từ đó chiếm lĩnh thị trường nội địa
Quyền tự chủ của một số quốc gia bị hạn chế: Vài quan điểm cho rằng, việc thu hút vốn FDI sẽ ít bị lệ thuộc các nước đầu tư, ít bị ràng buộc bởi các yếu tố chính trị, thể chế, so với các nguồn vốn khác như ODA Nhưng trên thực tế, để thu hút được nguồn vốn này nước tiếp nhận đầu tư phải hy sinh nhiều lợi ích khác như: giảm thuế, tạo nhiều
ưu đãi cho nhà đầu tư nước ngoài, thường xuyên tạo mối quan hệ tốt với các nước giàu có,…và như thế sẽ dễ bị ảnh hưởng bởi nước ngoài
Sự mất cân đối về ngành nghề, vùng lãnh thổ: Mục đích cao nhất của các nhà đầu tư là lợi nhuận Do đó những lĩnh vực, ngành, dự án có tỷ suất lợi nhuận cao đều
Trang 25họ đáng được hưởng, không thỏa đánh với nhu cầu của người lao động Điều đó dẫn đến mâu thuẫn giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, dẫn đến tình trạng đình công
Sự yếu kém trong chuyển giao công nghệ: Một số trường hợp các nhà đầu
tư đã lợi dụng sơ hở của pháp luật nước sở tại, cũng như sự yếu kém trong kiểm tra giám sát tại các cửa khẩu nên đã nhập vào một số máy móc thiết bị có công nghệ lạc hậu, thậm chí là những phế thải của các nước khác
Hình 1.1: Tác động của FDI tăng trưởng kinh tế
Gây ô nhiễm môi trường
Bất hợp lý về cơ cấu đầu tư
Trang 2616
1.5 Kinh nghiệm thu hút FDI các nước khu vực châu Á
1.5.1 Kinh nghiệm thu hút FDI từ TNCs của Trung Quốc
Trong các nước đang phát triển thì Trung Quốc là nước có môi trường đầu tư hấp dẫn thứ hai sau Singapore Cho đến nay có khoảng 400 TNCs trong số 500 TNCs hàng đầu trên thế giới đầu tư vào Trung Quốc, số còn lại cũng đang chuẩn bị đầu tư vào nước này (HIDS, 2011)
Chính sách cơ bản trong việc thu hút FDI của Trung Quốc là:
Thứ nhất: Chính sách phát triển ngành sản xuất Trong từng giai đoạn, Chính phủ Trung Quốc ban hành những quy định hướng dẫn đầu tư đối với thương nhân nước ngoài và danh mục hướng dẫn về ngành sản xuất để thu hút FDI
Thứ hai: Chính sách phát triển vùng lãnh thổ Chính phủ Trung Quốc chủ yếu thông qua các biện pháp như thành lập khu kinh tế đặc biệt, khu phát triển khoa học
kỹ thuật và mở cửa các thành phố ven biển, tạo điều kiện thuận lợi và tập trung thu hút FDI vào đó
Từ năm 1999, trọng điểm chiến lược phát triển kinh tế từng bước chuyển về phía Tây Chính phủ Trung Quốc đã đề ra chính sách nâng đỡ và hỗ trợ các tỉnh miền Tây Trung Quốc Đồng thời tích cực hướng dẫn thương nhân nước ngoài đầu tư vào địa phương này bằng các biện pháp:
Ban hành “danh mục ngành sản xuất ưu thế của miền Trung và miền Tây Trung Quốc kêu gọi thương nhân nước ngoài đầu tư”
Chính phủ gia tăng một cách thích đáng nguồn vốn tín dụng trong nước, các khoản vay chính phủ nước ngoài và các khoản vay ưu đãi của các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế nhằm sử dụng chủ yếu vào xây dựng các công trình hạ tầng, công trình bảo vệ môi trường trọng điểm của miền Trung và miền Tây
Đối với những hạng mục trong danh mục khuyến khích đầu tư nước ngoài, nếu đầu tư vào miền Trung và miền Tây Trung Quốc, sau khi hết thời hạn được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp thì tiếp tục được giảm 15% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm tiếp theo
Khuyến khích thương nhân nước ngoài đã đầu tư vào khu vực miền Đông Trung Quốc tái đầu tư vào khu vực miền Tây và miền Trung
Cho phép các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại các thành phố ven biển nhận khoán quản lý kinh doanh các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các xí nghiệp Trung Quốc tại các tỉnh miền Tây và miền Trung
Trang 27 Thứ ba: Chính sách chi viện về tài chính đối với các xí nghiệp đầu tư nước ngoài
Xí nghiệp đầu tư tại Trung Quốc có nhu cầu về vốn căn cứ theo quy định của pháp luật được vay vốn của các ngân hàng tại Trung Quốc Thời hạn, lãi suất và phí vay về cơ bản áp dụng như các xí nghiệp của Trung Quốc
Xí nghiệp nước ngoài khi muốn vay vốn tại Trung Quốc được các ngân hàng thương mại của Trung Quốc bảo lãnh Các khoản tiền vốn ngoại tệ của các đơn
1.5.2 Kinh nghiệm thu hút FDI từ TNCs của Singapore
Trong số các quốc gia Châu Á thì Singapore được coi là nước thu hút được nhiều TNCs nhất Để làm được điều này, Singapore đã thực hiện những chính sách sau:
Về cân đối ngoại tệ, quản lý ngoại hối: Chính phủ Singapore không có sự quản lý về ngoại hối mà để cho thị trường này hoạt động tự do theo những quy luật của thị trường
Về quy định vay vốn, quản lý đất đai: Nhà đầu tư có thể huy động vốn qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài
Trang 2919
CHƯƠNG 2:
TÁC ĐỘNG CỦA VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ BÌNH DƯƠNG 1997-2009
Trong chương này, chuyên đề sẽ giới thiệu đôi nét về về quá trình hình thành và phát triển tỉnh Bình Dương, cũng như những kết quả về phát triển kinh tế - xã hội Tỉnh trong những năm vừa qua Đồng thời cũng khái quát đặc điểm của FDI qua các giai đoạn, đóng góp của chúng vào tăng trưởng kinh tế Bình Dương 1997-2009 như: đóng góp vào tăng trưởng, vốn đầu tư trong tỉnh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần phát triển khoa học công nghệ, thu ngân sách Tỉnh nhà, cải thiện cán cân vãng lai, chuyển giao công nghệ
- kỹ năng quản lý, thúc đẩy cải cách kinh tế và hội nhập quốc tế, cải thiện nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, cải thiện môi trường đầu tư; góp phần cải thiện môi trường giáo dục, đào tạo lao động trong nước, chăm sóc sức khỏe cộng đồng,…
2.1 Tổng quan về Bình Dương
2.1.1 Lịch sử hình thành
Thuở ban đầu thời mở đất phương Nam, Bình Dương là tên một tổng thuộc huyện Tân Bình, phủ Gia Định Đến năm 1808, khi huyện Tân Bình được đổi thành phủ thì Bình Dương được nâng lên là một trong bốn huyện của phủ này Đất Bình Dương thuở đó nay chủ yếu thuộc địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ có một phần vùng Dầu Tiếng, lúc đó
là tổng Dương Hòa Hạ thuộc tỉnh Bình Dương ngày nay Vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, lớp cư dân người Việt từ miền Bắc, miền Trung xiêu tán về vùng Đông Nam Bộ, trong đó có địa bàn Bình Dương, tìm vùng đất mới để lập nghiệp Có lẽ ngay từ những năm tháng đầu tiên, Bình Dương là một trong những nơi dừng chân của đoàn quân di cư người Việt cùng với những địa bàn khác nhau như Mô Xoài, Cù lao Phố, Bến Nghé Bởi ngày ấy dân di cư thường theo những cửa biển con sông để tìm những vùng đất Và Bình Dương, đặc biệt là những vùng xung quanh thị xã Thủ Dầu Một, vốn là vùng giáp sông Đồng Nai, sông Sài Gòn là những nơi định cư lý tưởng thuở đầu khai phá (Phan Xuân Biên, 1999)
Sau thế kỷ XIX, cư dân Bình Dương đã phát triển nhanh hơn Đặc biệt trong thời
kỳ này, cộng đồng người Hoa di dân đến Bình Dương ngày một đông Họ đến đây từ Cù Lao Phố - Biên Hoà và từ Bến Nghé – Gia Định
Năm 1956, tỉnh Bình Dương được thiết lập nhưng không phải trùng với địa bàn của huyện Bình Dương xưa kia Và đến năm 1997, Bình Dương được tái lập, nhưng cũng không phải hoàn toàn là địa phận của tỉnh trước năm 1975 Như vậy, trong lịch sử Bình Dương là tên của gọi những đơn vị hành chánh – lãnh thổ theo những cấp độ khác nhau (tổng, huyện, tỉnh) với những địa bàn lãnh thổ khác nhau Do vậy, nói đến cư dân Bình
Trang 30An và tỉnh Tiền Giang), là một
trong những tỉnh có tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao, phát triển công
nghiệp năng động của cả nước
Với tọa độ địa lý 10o51' 46" -
11o30' Vĩ độ Bắc, 106o
20'- 106o58' kinh độ Đông (Binhduong.gov.vn,
2010), Bình Dương tiếp giáp với
Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh
Bình Dương là cửa ngõ giao thương với TP Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế năng động của cả nước; có các trục lộ giao thông huyết mạch của quốc gia chạy qua như quốc
lộ 13, quốc lộ 14, đường Hồ Chí Minh, đường Xuyên Á …; cách sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và các cảng biển chỉ từ 10 - 15 km… thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội toàn diện
Địa hình
Bình Dương là một tỉnh nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa sườn phía Nam của dãy Trường Sơn, nối nam Trường Sơn với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; là tỉnh bình nguyên có địa hình lượn sóng yếu từ cao xuống thấp dần từ 10m đến 15m so với mặt biển Vị trí trung tâm của tỉnh ở vào tọa độ địa dư từ 10o-50’-27’’ đến 11o-24’-32’’ vĩ độ Bắc và từ 106o-20’ đến 106o25’ kinh độ Đông (Binhduong.gov.vn, 2010)
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bình Dương
Nguồn: Binhduong.gov.vn
Trang 3121
Vùng đất Bình Dương tương đối bằng phẳng, thấp dần từ bắc xuống nam Nhìn tổng quát, Bình Dương có nhiều vùng địa hình khác nhau: vùng địa hình núi thấp có lượn sóng yếu, vùng có địa hình bằng phẳng, vùng thung lũng bãi bồi Có một số núi thấp, như núi Châu Thới (Thị xã Dĩ An), núi Cậu (còn gọi là núi Lấp Vò) ở huyện Dầu Tiếng…
và một số đồi thấp
2.1.2.2 Tài nguyên thiên nhiên
Đất đai
Đất đai Bình Dương rất đa dạng và phong phú về chủng loại:
+ Đất xám trên phù sa cổ, có diện tích 200.000 ha phân bố trên các huyện Dầu Tiếng, Bến Cát, Thuận An, thị xã Thủ Dầu Một Loại đất này phù hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp, cây ăn trái
+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ, có khoảng 35.206 ha nằm trên các vùng đồi thấp thoải xuống, thuộc các huyện Tân Uyên, Phú Giáo, khu vực thị xã Thủ Dầu Một, Thuận
An và một ít chạy dọc quốc lộ 13 Đất này có thể trồng rau màu, các loại cây ăn trái chịu được hạn như mít, điều
+ Đất phù sa Glây (đất dốc tụ), chủ yếu là đất dốc tụ trên phù sa cổ, nằm ở phía bắc huyện Tân Uyên, Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng, Thuận An, Dĩ An; đất thấp mùn Glây có khoảng 7.900 ha nằm rải rác tại những vùng trũng ven sông rạch, suối Đất này có chua phèn, tính axít vì chất sunphát sắt và alumin của chúng Loại đất này sau khi được cải tạo
có thể trồng lúa, rau và cây ăn trái, v.v (binhduong.gov.vn, 2010)
Khí hậu
Khí hậu ở Bình Dương cũng như chế độ khí hậu của khu vực miền Đông Nam Bộ: nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa ổn định, trong năm phân chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 kéo dài đến cuối tháng 10 dương lịch
Vào những tháng đầu mùa mưa, thường xuất hiện những cơn mưa rào lớn, rồi sau
đó dứt hẳn Những tháng 7-9, thường là những tháng mưa dầm Có những trận mưa dầm kéo dài 1-2 ngày đêm liên tục Đặc biệt ở Bình Dương hầu như không có bão, mà chỉ bị ảnh hương những cơn bão gần
Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Bình Dương từ 26oC-27oC Nhiệt độ cao nhất có lúc lên tới 39,3oC và thấp nhất từ 16oC-17oC (ban đêm) và 18o
C vào sáng sớm Vào mùa nắng, độ ẩm trung bình hàng năm từ 76%-80%, cao nhất là 86% (vào tháng 9) và thấp nhất là 66% (vào tháng 2) Lượng nước mưa trung bình hàng năm từ 1.800-2.000mm Tại ngã tư Sở Sao của Bình Dương đo được bình quân trong năm lên đến 2.113,3mm
Trang 3222
Thủy văn, sông ngòi
Chế độ thủy văn của các con sông chảy qua tỉnh và trong tỉnh Bình Dương thay đổi theo mùa: mùa mưa nước lớn từ tháng 5 đến tháng 11 (dương lịch) và mùa khô (mùa kiệt)
từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, tương ứng với 2 mùa mưa nắng Bình Dương có 3 con sông lớn, nhiều rạch ở các địa bàn ven sông và nhiều suối nhỏ khác
Sông Đồng Nai là con sông lớn nhất ở miền Đông Nam Bộ, bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên (Lâm Đồng) dài 635 km nhưng chỉ chảy qua địa phận Bình Dương ở Tân Uyên Sông Đồng Nai có giá trị lớn về cung cấp nước tưới cho nền nông nghiệp, giao thông vận tải đường thủy và cung cấp thủy sản cho nhân dân
Sông Sài Gòn dài 256 km, bắt nguồn từ vùng đồi cao huyện Lộc Ninh (tỉnh Bình Phước) Sông Sài Gòn có nhiều chi lưu, phụ lưu, rạch, ngòi và suối Sông Sài Gòn chảy qua Bình Dương về phía Tây, đoạn từ Lái Thiêu lên tới Dầu Tiếng dài 143 km, độ dốc nhỏ nên thuận lợi về giao thông vận tải, về sản xuất nông nghiệp, cung cấp thủy sản Ở thượng lưu, sông hẹp (20m) uốn khúc quanh co, từ Dầu Tiếng được mở rộng dần đến thị
xã Thủ Dầu Một (200m)
Sông Thị Tính là phụ lưu của sông Sài Gòn bắt nguồn tự đồi Cam xe huyện Bình Long (tỉnh Bình Phước) chảy qua Bến Cát, rồi lại đổ vào sông Sài Gòn ở đập Ông Cộ Sông Sài Gòn, sông Thị Tính mang phù sa bồi đắp cho những cánh đồng ở Bến Cát, Thủ Dầu Một, Thuận An, cùng với những cánh đồng dọc sông Đồng Nai, tạo nên vùng lúa năng suất cao và những vườn cây ăn trái xanh tốt
Sông Bé dài 360 km, bắt nguồn từ các sông Đắc RơLáp, Đắc Giun, Đắc Huýt thuộc vùng núi tỉnh Đắc Lắc hợp thành từ độ cao 1.000 m Ở phần hạ lưu, đoạn chảy vào đất Bình Dương dài 80 km Sông Bé không thuận tiện cho việc giao thông đường thủy do có
bờ dốc đứng, lòng sông nhiều đoạn có đá ngầm, lại có nhiều thác ghềnh, tàu thuyền không thể đi lại
Giao thông
Bình Dương là một tỉnh có hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy rất quan trọng nối liền giữa các vùng trong và ngoài tỉnh Trong hệ thống đường bộ, nổi lên đường quốc lộ 13 – con đường chiến lược cực kỳ quan trọng xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh, chạy suốt chiều dài của tỉnh từ phía nam lên phía bắc, qua tỉnh Bình Phước và nối Vương quốc Campuchia đến biên giới Thái Lan Đây là con đường có ý nghĩa chiến lược
cả về quân sự và kinh tế
Đường quốc lộ 14, từ Tây Ninh qua Dầu Tiếng đi Chơn Thành, Đồng Xoài, Bù Đăng (tỉnh Bình Phước) xuyên suốt vùng Tây Nguyên bao la, là con đường chiến lược quan trọng cả trong chiến tranh cũng như trong thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước
Trang 3323
Ngoài ra còn có liên tỉnh lộ 1A từ Thủ Dầu Một đi Phước Long (Bình Phước); Liên tỉnh
lộ 13 từ Chơn Thành đi Đồng Phú, Dầu Tiếng; liên tỉnh lộ 16 từ Tân Uyên đi Phước Vĩnh; lộ 14 từ Bến Cát đi Dầu Tiếng và hệ thống đường nối thị xã với các thị trấn và điểm dân cư trong tỉnh
Về hệ thống giao thông đường thủy, Bình Dương nằm giữa 3 con sông lớn, nhất là sông Sài Gòn Bình Dương có thể nối với các cảng lớn ở phía nam và giao lưu hàng hóa với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
Tài nguyên rừng
Do đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm và đất đai màu mỡ, nên rừng ở Bình Dương xưa rất đa dạng và phong phú về nhiều chủng loài Có những khu rừng liền khoảnh, bạt ngàn Rừng trong tỉnh có nhiều loại gỗ quý như: căm xe, sao, trắc, gõ đỏ, cẩm lai, giáng hương, Rừng Bình Dương còn cung cấp nhiều loại dược liệu làm thuốc chữa bệnh, cây thực phẩm và nhiều loài động vật, trong đó có những loài động vật quý hiếm
Hiện nay, rừng Bình Dương đã bị thu hẹp khá nhiều do bị bom đạn, chất độc hóa học của giặc Mỹ tàn phá trong chiến tranh Trong những năm tháng chiến tranh diễn ra ác liệt, Mỹ-ngụy đã ủi phá rừng, bứng hết cây cối nhằm tạo thành những “vùng trắng”, đẩy lực lượng cách mạng ra xa căn cứ càng làm cho rừng thêm cạn kiệt Mặt khác, sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, việc khai thác rừng bừa bãi cũng làm cho rừng bị thu hẹp
Tài nguyên khoáng sản
Cùng với những giá trị quý giá về tài nguyên rừng, Bình Dương còn là một vùng đất được thiên nhiên ưu đãi chứa đựng nhiều loại khoáng sản phong phú tiềm ẩn dưới lòng đất Đó chính là cái nôi để các ngành nghề truyền thống ở Bình Dương sớm hình thành như gốm sứ, điêu khắc, mộc, sơn mài
Bình Dương có nhiều đất cao lanh, đất sét trắng, đất sét màu, sạn trắng, đá xanh, đá ong nằm rải rác ở nhiều nơi, nhưng tập trung nhất là ở: Tân Uyên, Thuận An, Dĩ An, Thủ Dầu Một
Các nhà chuyên môn đã phát hiện ở vùng Đất Cuốc (huyện Tân Uyên) có một mỏ cao lanh lớn phân bố trên một phạm vi hơn 1km2, với trữ lượng lớn Đất cao lanh ở đây được đánh giá là loại đất tốt, có thể sử dụng trong nghề gốm và làm các chất phụ gia cho việc sản xuất một số sản phẩm công nghiệp
2.1.1 Kinh tế, văn hoá, xã hội
2.1.1.1 Kinh tế
Trang 3424
Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao, GDP tăng bình quân khoảng 14%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực, công nghiệp, dịch vụ tăng trưởng nhanh và chiếm tỷ trọng cao, năm 2009, tỷ lệ công nghiệp - xây dựng 62,3%, dịch vụ 32,4% và nông lâm nghiệp 5,3%
Hiện nay, Bình Dương có 28 khu công nghiệp tập trung, hơn 9.600 doanh nghiệp trong nước với tổng vốn đăng ký hơn 65.000 tỷ đồng; gần 2 nghìn dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư trên 13 tỷ USD (Sở Kế hoạch đầu tư Bình Dương, 2010)
2.1.1.2 Văn hoá
Thuở xưa, Bình Dương là một phần của đất Gia Định nên đến nay đã có trên 300 năm lịch sử với những di sản văn hoá đặc sắc mà tiêu biểu là đờn ca tài tử Ca nhạc tài tử sau này nở rộ ở nhiều tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng cái nôi sản sinh thì vẫn
là Gia Định, trong đó có Bình Dương
Bình Dương còn là đất của nhiều làng nghề truyền thống với các nghệ nhân bàn tay vàng điêu khắc gỗ, làm đồ gốm và tranh sơn mài Từ xa xưa các sản phẩm gốm mỹ nghệ, sơn mài và điêu khắc của Bình Dương đã tham gia hội chợ quốc tế, đồng thời cũng đã xuất khẩu sang Pháp và nhiều nước trong khu vực
2.1.1.3 Dân số, lao động, việc làm
Bình Dương có diện tích tự nhiên 2.695,5 km² và dân số (theo kết quả điều tra dân
số 05/08/2010) là 2.185.655 người với mật độ dân số 675 người/km² Do kinh tế phát triển nhanh, trong thời gian qua Bình Dương thu hút nhiều dân nhập cư từ các địa phương khác Kết quả điều tra dân số năm 2010 cho thấy: Trong 5 năm từ 2005-2010 dân số tỉnh Bình Dương đã tăng gấp đôi, là tỉnh có tốc độ tăng dân số cao nhất nước với tỷ lệ tăng trung bình 7,3%/năm
Trên địa bàn Bình Dương có 15 dân tộc, nhưng đông nhất là người Kinh và sau đó
là người Hoa, người Khơ Me
Hàng năm khoảng 46.500 lao động được giải quyết việc làm, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 60%
Từng bước nâng cao số lượng và chất lượng các cơ sở đào tạo nghề Chú trọng việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn và bộ đội xuất ngũ trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đã thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho 520.000 người lao động
2.1.1.2 An sinh xã hội: y tế, giáo dục…
Mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố và phát triển Việc chăm sóc sức khỏe ban đầu được đẩy mạnh, khống chế có hiệu quả các dịch bệnh nguy hiểm Vệ sinh an toàn
Trang 3525
thực phẩm, vệ sinh lao động từng bước được quản lý Y tế chất lượng cao bước đầu phát triển thông qua đào tạo nguồn nhân lực, nâng cấp, mở rộng các cơ sở y tế, các bệnh viện chuyên khoa Việc thu hút các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng cơ sở vật chất đã góp phần tăng thêm trang thiết bị hiện đại cho ngành Đến nay, toàn Tỉnh có 13 bệnh viện đa khoa, 05 bệnh viện chuyên khoa, 40 phòng khám đa khoa khu vực (trong đó ngoài công lập có 05 bệnh viện đa khoa, 03 bệnh viện chuyên khoa, 30 phòng khám đa khoa) và 2.136 cơ sở hành nghề y dược Bình quân đạt 23 giường bệnh/vạn dân
Các chương trình mục tiêu y tế quốc gia được thực hiện có hiệu quả Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng là 14%, giảm 5% so với năm 2005 (Nghị quyết: giảm 1,5 - 2%); tỷ suất trẻ em dưới 1 tuổi chết năm 2010 là 9%o; tỷ lệ tiêm chủng đạt 100% Năm
2010, 100% trạm y tế xã có bác sĩ phục vụ; 96,7% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế; 100% xã, phường, thị trấn có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi; hầu hết khu phố, ấp đều có cán bộ y tế Đến nay, đã thực hiện bảo hiểm y tế đạt 64,5% dân số, trong đó có 100% hộ nghèo; đã tổ chức khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại 100% trạm y tế xã, phường, doanh nghiệp (Binhduong.gov.vn, 2010)
Công tác dân số và chăm sóc trẻ em có nhiều tiến bộ Năm 2003, đã đạt mức sinh thay thế, từ năm 2004 đến nay đảm bảo duy trì mức sinh thay thế và nâng cao chất lượng dân số Một số chính sách chăm sóc trẻ em được Tỉnh ban hành Nhiều tổ chức từ thiện, các nhà hảo tâm thường xuyên hỗ trợ, đóng góp chăm lo cho trẻ em, nhất là trẻ em lang thang, cơ nhỡ, có hoàn cảnh khó khăn…
Quy mô giáo dục phát triển nhanh, toàn Tỉnh hiện có 369 đơn vị trường học với 215.333 học sinh, so với đầu nhiệm kỳ tăng 58 đơn vị, 25.639 học sinh Hệ thống trường lớp đã được kiên cố hoá; có 53,93% trường học được lầu hoá (trong đó các trường trung học phổ thông, giáo dục thường xuyên – dạy nghề đạt 100%), 46,84% trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia; riêng trường trung học phổ thông và tiểu học có 33,88% đạt chuẩn Đào tạo đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề phát triển nhanh
về qui mô, số lượng và ngành nghề đào tạo Đến nay, trên địa bàn Tỉnh có 07 trường đại học (02 ngoài công lập), 07 trường cao đẳng (02 ngoài công lập), 13 trường trung cấp (02 ngoài công lập) và 30 cơ sở đào tạo nghề
Với những ưu thế về điều kiện tự nhiên, tiềm năng kinh tế - xã hội và chính sách lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Bình Dương sẽ tiếp tục phát triển bền vững, trở thành một thành phố văn minh, hiện đại nhất Việt Nam và khu vực Đông Nam Á
Trang 3626
2.2 Tổng quan về thu hút đầu tư FDI vào Bình Dương giai đoạn 1997-2010 2.2.1 Các giai đoạn phát triển của FDI và sự khác biệt giữa vốn đăng ký – vốn thực hiện
Hình 2.2: Thực trạng vốn FDI vào Bình Dương giai đoạn 1997-2009
Nguồn: Cục Thống kê Bình Dương
Thực trạng vốn FDI đăng ký vào Bình Dương trong giai đoạn 1997-2009 có xu hướng tăng lên mạnh mẽ Đặc biệt là năm 2007-2009, lượng vốn đăng ký tăng cao, trung bình khoảng 2.112,92 tỷ USD/năm Riêng năm 2007, số dự án tăng cao kỷ lục với 339
dự án được cấp phép Năm 2009, mặc dù phải chịu ảnh hưởng của khủng hoảng toàn cầu
từ năm 2007 nhưng lại dẫn đầu cả giai đoạn về lượng vốn đăng ký (2.468 tỷ USD) Cùng với sự gia tăng về lượng vốn đăng ký, vốn FDI thực hiện cũng được tăng lên đáng kể so với những năm đầu
Trang 37Nguồn: Cục Thống kê Bình Dương
Tuy nhiên, vốn FDI thực hiện lại tăng chậm hơn vốn đăng ký rất nhiều, luôn có sự khác biệt giữa 2 dòng vốn này tại Việt Nam cũng như Bình Dương trong các năm vừa qua
và theo xu thế chênh lệch ngày càng nhiều Đặc biệt những năm 2006-2009 thì sự khác biệt này là rất đáng kể
Hình 2.3: Chênh lệch giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện vào Bình Dương 1997-2009
Nguồn: Cục Thống kê Bình Dương
Trang 3828
Giai đoạn 1997-2001: Trong giai đoạn này môi trường đầu tư tại Việt Nam bắt
đầu hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Cùng với những lợi thế sẵn có như tài nguyên thiên nhiên phong phú, lao động giá rẻ, thị trường tiêu thu rộng lớn, hệ thống luật Đầu tư nước ngoài được sửa đổi bổ sung năm 1992 theo hướng ngày càng thông thoáng hơn Bên cạnh đó, còn kể đến những thành công của Việt Nam trên trường quốc tế Tháng 7/1996, nước ta chính thức trở thành thành viên của ASEAN hay sự kiện bình thường hóa quan hệ với Mỹ, đã nâng cao uy tín của Việt Nam đối với thế giới Song song với những thuận lợi
đó của quốc gia, tại Bình Dương cũng bắt đầu hình thành các khu công nghiệp như VSIP
I (năm 1996), Việt Hương I (1996), Bình Đường (1997), Sóng Thần I (1995), Sóng Thần
II (1996),… hoàn thiện đầy đủ về hệ thống giao thông, điện, nước,…đã góp phần thu hút
sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài đến với Việt Nam, cũng như Bình Dương Do
đó, lượng vốn FDI đăng ký cũng như thực hiện vào Bình Dương tăng lên rõ rệt Tuy nhiên, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á (1997), đã tác động xấu đến toàn bộ nền kinh tế của các nước trong khu vực, các nhà đầu tư gặp khó khăn về vốn, nên hoạt động đầu tư giảm mạnh Đó có thể xem là nguyên nhân chính làm cho lượng vốn FDI đăng ký vào Bình Dương giảm ở năm 1998
Tuy nhiên khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện là tương đối cao Riêng năm 1998, tỷ lệ thực hiện được là 84%, cao nhất trong cả giai đoạn 1997-2009 Nhưng đây chưa thể xem là một con số đáng mừng vì nhìn toàn bộ giai đoạn 1997-2001, thì năm 1998 là năm có lượng vốn đăng ký thấp nhất, hơn thế nữa vốn FDI đã thực hiện thì khó có thể rút ra được một cách nhanh chóng, dù tình hình kinh tế không tốt, có thể là
do một số nhà đầu đã lỡ bỏ vốn vào một số hạng mục của dự án nên họ không trót nỡ bỏ
đi, mà tiếp tục đầu tư thêm vào, dẫn đến tỷ lệ vốn thực hiện tăng cao
Năm 2001, lượng vốn FDI đăng ký vào Bình Dương lại một lần nữa giảm xuống Vốn thực hiện cũng giảm nhưng mức độ là rất nhỏ, nhưng điều đó cũng không quá bận tâm Giải thích cho việc FDI đăng ký giảm có thể là do luật Đầu tư nước ngoài có sửa đổi làm cho một số nhà đầu tư có thể cảm thấy bất lợi, các khu công nghiệp hình thành từ năm 1995-1997 có thể đã được lấp đầy và chủ đầu tư không còn nhiều ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài nữa, ngoài ra đây là giai đoạn mà hầu hết các tỉnh tập trung phát triển công nghiệp nên Bình Dương có thể bị cạnh tranh bởi các tỉnh lân cận
Giai đoạn 2002-2009:
Năm 2005, luật Đầu tư ra đời, áp dụng cho cả đầu tư trong và ngoài nước, đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó trước 2007, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực chuẩn bị những điều kiện cần thiết để gia nhập WTO, nên môi trường kinh doanh trong nước đã được cải thiện không ngừng Đến năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO, đã tạo ra một môi trường kinh doanh vô cùng
Trang 3929
hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư trên thế giới Về môi trường đầu tư tại Tỉnh nhà, sau khi khá thành công trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài ở các cụm công nghiệp phía Nam – nơi mà giáp ranh với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương tiếp tục mở rộng và phát triển thêm các khu công nghiệp mới ở Bến Cát, Tân Uyên như Mỹ Phước I (2002), Mỹ Phước II (2005), Mỹ Phước III (2006), Tân Đông Hiệp A, B (2001), Nam Tân Uyên (2005),… nhằm phát triển kinh tế xã hội các huyện phía Bắc Do đó, FDI đăng ký vào Bình Dương đã tăng liên tục trong những giai đoạn này
Năm 2008, do khủng hoảng tài chính thế giới, làm cho lượng vốn vào Bình Dương đã giảm sút còn 1.828,81 triệu USD Năm 2009, mặc dù số lượng dự án giảm đáng kể nhưng lượng vốn lại đạt mức cao nhất vì chỉ tính riêng chỉ riêng dự khu nhà ở thương mại, nhà ở xã hội Phú Hưng Long vốn đầu tư đã là 1,7 tỷ USD (Sở Kế hoạch và Đầu tư Bình Dương, 2009)
Cùng với sự gia tăng của FDI đăng ký, vốn thực hiện cũng có xu hướng tăng theo, nhưng vẫn thua xa tốc độ của vốn đăng ký, làm cho mức độ chênh lệch ngày càng cao hơn
Nhìn chung, vốn FDI đăng ký vào Bình Dương có xu hướng tăng, nhưng tỷ lệ giữa
vốn FDI thực hiện so với vốn FDI đăng ký lại có xu hướng giảm Điều đó cho thấy sự không đồng bộ giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện Một vài nguyên nhân của tình trạng này là do:
Mặc dù kết cấu hạ tầng như đường giao thông, điện, nước, viễn thông, cải cách thủ tục hành chính, cơ chế một cửa được thực hiện,… đã được Tỉnh nhà hết sức quan tâm và đầu tư mạnh mẽ suốt những năm vừa qua nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của một
số nhà đầu tư khó tính, làm cho họ chậm tiến độ thực hiện dự án hoặc không tiến hành đầu tư theo đúng số vốn đã cam kết
Khó khăn như giải phóng mặt bằng cho các nhà đầu tư ngoài khu công nghiệp, tình trạng đình công của công nhân làm ảnh hưởng đến các hoạt động triển khai của dự án
Một số dự án bất động sản có số vốn càng cao dễ được cấp đất lớn nên các chủ đầu
tư sẽ cố tình đẩy lượng vốn đăng ký tăng cao
Tình hình kinh tế vĩ mô chưa ổn định như: lãi suất vay đôla cao, tỷ giá liên tục được điều chỉnh làm bất lợi cho các dự án mua nguyên liệu, máy móc thiết bị từ bên ngoài
2.2.2 Đặc điểm của FDI vào Bình Dương
2.2.2.1 Quy mô các dự án có vốn FDI
Trang 40Nguồn: Cục Thống kê Bình Dương
Tốc độ đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Bình Dương trong những năm
1997-2009 tăng nhanh về số lượng dự án cũng như quy mô vốn đầu tư Bình quân giai đoạn 1997-2009, số dự án tăng 21,1%, vốn đầu tư tăng 14,1%
Trong 1998, tốc độ đầu tư giảm rõ rệt biểu hiện qua số vốn đăng ký giảm 43%,
số dự án cũng giảm 18% Năm 2008, số dự án giảm 36% so với năm 2007 và lượng vốn
đã giảm 10% Nguyên nhân cho sự sụt giảm của những con số này là ảnh hưởng của 2 cuộc khủng hoảng 1997 và 2007 Do đó một số nhà đầu tư đã rút vốn hoặc chưa dám mạnh dạn mở rộng hoạt động sản xuất của mình ra nước ngoài, thêm vào đó là môi trường vĩ mô chưa ổn định, hoạt động của các ngân hàng trên thế giới gặp nhiều khó khăn,….làm cho tình hình hoạt động đầu giảm mạnh trên địa bàn Tỉnh
Quy mô của các dự án được cấp phép ở Bình Dương tương đối thấp, thường là quy mô vừa và nhỏ khoảng 6,94 triệu USD/dự án, tập trung vào các ngành công nghiệp chế biến, nông lâm sản, may mặc, hóa chất… Riêng năm 2009, mặc dù dư âm của cuộc khủng hoảng 2 năm trước vẫn còn, chỉ có 100 dự án được đăng ký nhưng bình quân mỗi
dự án là 24,68 triệu USD Vì trong năm đó, chỉ riêng dự khu nhà ở thương mại, nhà ở xã hội Phú Hưng Long có vốn đầu tư là 1,7 tỷ USD
2.2.2.2 Cơ cấu vốn FDI đầu tư theo ngành