Khái niệm Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán,và
Trang 1KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
- -
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA NGÂN HÀNG ĐẠI Á PHÒNG GIAO DỊCH HOÀNG HOA THÁM
GVHD : Th.S NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LOAN SVTH : Lê Thị Hiền Phương
Lớp : KHĐT 03-K33
Tp Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2011
Trang 2CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1.Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán,và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế
1.1.2.Vai trò của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
Đối với mọi nền kinh tế trên thế giới, Ngân hàng luôn là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất, có tầm ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia
Tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, Ngân hàng bao gồm nhiều loại nhưng chiếm tỷ trọng lớn nhất về cả quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng chính là Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán
Ngân hàng thương mại ngày càng có vai trò quan trọng đối với mọi nền kinh tế, thể hiện cụ thể qua các vai trò sau:
Thứ nhất: Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính tốt nhất
để thực hiện chức năng làm cầu nối giữa cung và cầu về vốn
Từ xưa nay, trong xã hội luôn tồn tại tình trạng thừa và thiếu vốn tạm thời, tồn tại hai nhóm cá nhân và tổ chức khác nhau Một nhóm là những cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, có nghĩa thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi để tiết kiệm Nhóm còn lại là những cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư đã vượt quá thu nhập, vì vậy họ cần bổ sung vốn Và khi đó Ngân hàng xuất hiện như một địa chỉ tốt nhất để những người có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi có thể gửi một cách an toàn và được hưởng thu nhập từ chính khoản tiền đó, còn những người thiếu vốn có thể vay vốn để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn cho tiêu
Trang 3dùng bản thân hay để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngân hàng thương mại trở thành chủ thể đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của nhóm người thặng dư vốn và sử dụng nguồn vốn huy động đó để cung cấp cho nhóm người thâm hụt vốn, cung cấp vốn cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng
Qua đó, doanh nghiệp- cá nhân vay vốn có điều kiện để mở rộng sản xuất, cải tiến mua sắm máy móc thiết bị công nghệ, nâng cao năng suất lao động, nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo thuận lợi thúc đẩy nền kinh tế phát triển Đối với những cá nhân- tổ chức có lượng tiền nhàn rỗi chọn ngân hàng thương mại là nơi gửi tiền bởi chính sự an toàn cao mà tổ chức tín dụng này mang lại Ngoài ra, họ còn nhận được một khoản thu nhập từ chính khoản tiền gửi của mình với mức lãi suất mà ngân hàng qui định và sau một thời hạn nhất định Mặc dù lãi suất mà ngân hàng đưa
ra có thể thấp hơn so với việc đầu tư tiền vốn vào những lĩnh vực khác như: đầu tư chứng khoán, bất động sản hay sản xuất kinh doanh… nhưng việc gửi tiền vào Ngân hàng có hệ số an toàn cao nhất, ít gặp phải rủi ro
Thứ hai: Hoạt động của Ngân hàng thương mại đã góp phần tăng cường hiệu
quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng cũng như góp phần thúc đẩy nền kinh tế nói chung
Trong nền kinh tế thị trường phát triển ngày càng sôi động, để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả, để tìm được chỗ đứng cho mình, đòi hỏi những doanh nghiệp tham gia thị trường nâng cao chất lượng về mọi mặt, phải không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, củng cố hoàn thiện cơ cấu kinh tế, chế độ hạch toán kinh tế, đặc biệt phải không ngừng cải tiến mua sắm những thiết bị công nghệ hiện đại, tìm kiếm và sử dụng những nguyên vật liệu đầu vào mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp
Những hoạt động này đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đầu tư lớn,
mà nguồn vốn tự có của doanh nghiệp thường không đủ đáp ứng nhu cầu lớn về vốn này Và khi đó việc doanh nghiệp tìm đến Ngân hàng thương mại để vay vốn là con đường nhanh gọn và hiệu quả Như vậy Ngân hàng thương mại thông qua hoạt động tín dụng của mình đã trở thành cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường, thúc đẩy
Trang 4Mặt khác, để có thể vay một lượng vốn nào đó thì doanh nghiệp đi vay phải trả lãi với một tỷ lệ lãi suất nhất định và trong một thời hạn vay nhất định cho Ngân hàng
Có lẽ chính áp lực từ khoản lãi vay và thời hạn vay sẽ thêm động lực thúc đẩy tổ chức, doanh nghiệp đi vay hoạt động một cách hiệu quả hơn, phải cố gắng tìm ra những phương án sản xuất tối ưu để thu được kết quả tốt Điều này cũng góp phần làm tăng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng cũng như của cả nền kinh tế nói chung
Thứ ba: Ngân hàng thương mại có vai trò thực thi chính sách tiền tệ đã được
hoạch định bởi Ngân hàng Trung ương
Ngân hàng Trung ương là đơn vị chịu trách nhiệm hoạch định các chính sách tiền tệ quốc gia thông qua các công cụ như lãi suất, dự trữ bắt buộc, tái chiết xuất, thị trường mở, hạn mức tín dụng… Và đơn vị chịu tác động trực tiếp là các ngân hàng thương mại Đồng thời các Ngân hàng thương mại cũng là cầu nối chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến khu vực phi ngân hàng và nền kinh tế Ngược lại, thông qua Ngân hàng thương mại và các tổ chức trung gian khác, tình hình sản lượng, giá cả, công ăn việc làm, lãi suất, tỷ giá… của nền kinh tế được phản hồi về Ngân hàng Trung ương để Chính phủ và Ngân hàng Trung ương có những chính sách điều tiết thích hợp
Bằng các chính sách và biện pháp tín dụng, Ngân hàng thương mại có thể gia tăng mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng vốn vay cho từng doanh nghiệp Điều này sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế
Do đó, việc vay vốn của Ngân hàng sẽ giúp doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng như khiến doanh nghiệp có ý thức về trách nhiệm của mình trong quá trình sử dụng vốn
Qua việc thu hút, tiếp nhận khối lượng tiền mặt từ các cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế để rồi cung ứng tiền mặt cho các cá nhân, tổ chức cần vốn, Ngân hàng thương mại đã tạo ra quan hệ giữa lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế Bằng những chính sách hấp dẫn và nghệ thuật kinh doanh của mình, các ngân hàng tiếp nhận lượng tiền mặt lớn, rồi được cung ứng cho những cá nhân và doanh nghiệp và cá nhân, đảm bảo lượng tiền mặt cần thiết cho nền kinh tế được lưu thông thường xuyên liên tục, đảm bảo nền kinh tế được phát triển bình thường
Trang 5Như vậy, với vai trò thực thi các chính sách tiền tệ, Ngân hàng thương mại đã giúp hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế được tiến hành một các bình thường và ngày càng phát triển
Thứ tư: Với chức năng tạo tiền, Ngân hàng thương mại góp phần vào hoạt
động điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, chức năng điều tiết nền kinh tế vĩ mô thuộc về Ngân hàng Trung ương Ngân hàng Trung ương tham gia xây dựng chiến lược phát triển kinh tế và soạn thảo chính sách tiền tệ Là tổ chức soạn thảo và khởi động chính sách tiền tệ, nhưng Ngân hàng Trung ương không trực tiếp giao dịch với công chúng
mà các chính sách này được lan ra qua hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại
và các tổ chức trung gian tài chính khác
Hệ thống ngân hàng được hoạt động theo hình thức hai cấp: là Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng thương mại Một khả năng kỳ bí của ngân hàng hai cấp này là tạo tiền và điều chỉnh mức cung ứng tiền để ổn định tiền tệ Do việc phân cấp thành hai cấp, dẫn đến việc phân chia hai loại tiền: Tiền ngân hàng trung ương là giấy bạc hay tiền mặt, do Ngân hàng Trung ương độc quyền phát hành, và tiền Ngân hàng( tiền ghi
sổ, bút tệ) là tiền do Ngân hàng thương mại tạo ra thông qua việc cấp tín dụng cho nền kinh tế, đặc biệt là tiền trên các tài khoản thanh toán séc
Cho đến nay, tiền được phân ra làm nhiều loại khác nhau nhằm tách các loại tiền khác nhau về mặt thanh toán ra làm từng nhóm Việc này giúp Ngân hàng Trung ương và Chính phủ theo dõi được mức độ đầu tư trong nước vào các loại tài sản sinh lợi, giúp nền kinh tế huy động một cách hiệu quả các nguồn lực, các nguồn tài sản khác nhau, và đáp ứng nhu câu cần sự gọn nhẹ, bảo đảm, có lãi cho tài sản và dễ dàng thanh toán ở mọi lúc mọi nơi Chỉ cần nhìn vào tỷ lệ các loại tiền có thể biết được sự
ổn định và chất lượng của tiền tệ
Như vậy, với chức năng tạo tiền, Ngân hàng thương mại đã thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong việc góp phần vào điều tiết nền kinh tế vĩ mô
Trang 61.1.3 Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại
1.1.3.1 Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ Một đặc trưng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay Do vậy, khác với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phi tài chính, hoạt động huy động vốn là hoạt động rất quan trọng đối với Ngân hàng thương mại Huy động vốn chính là hoạt động tạo ra nguồn vốn hoạt động cho Ngân hàng thương mại, nó đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của Ngân hàng
Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng thương mại gồm có: tự tài trợ bằng vốn chủ sở hữu, nhận tiền gửi từ khách hàng, phát hành các giấy tờ có giá ra công chúng hoặc vay từ các tổ chức khác
Ngay từ khi mới thành lập, để có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định, gọi là vốn chủ sở hữu cuat doanh nghiệp Đây là loại vốn có thể sử dụng lâu dài, hình thành nền trang thiết bị, máy móc nhà cửa cho ngân hàng Vốn chủ sở hữu bao gồm: nguồn vốn hình thành ban đầu, nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động như nguồn từ lợi nhuận, từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, hay từ các quỹ của ngân hàng Đặc điểm của nguồn vốn này tại Ngân hàng thương mại là nó chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động, khoảng dưới 10% tổng nguồn vốn huy động
Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn huy động của ngân hàng là vốn huy động từ tiền gửi của khách hàng Nghiệp vụ đầu tiên khi một ngân hàng bắt đầu đi vào hoạt động là mở các tài khoản tiền gửi để giữ và thanh toán hộ cho khách hàng, đây là cách chủ yếu và quan trọng nhất để ngân hàng huy động được tiền của dân cư và các
tổ chức, doanh nghiệp
Có nhiều hình thức huy động tiền gửi mà các Ngân hàng thương mại đã thực hiện, cụ thể có các hình thức: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp,
tổ chức xã hội, tiền gửi tiết kiệm của dân cư và tiền gửi của các ngân hàng khác
Với bất kỳ một Ngân hàng thương mại thì hoạt động huy động vốn bằng tiền gửi của khách hàng cũng là nguồn quan trọng nhất Tuy nhiên khi cần thiết, ngân hàng
Trang 7có thể vay mượn thêm cả các tổ chức khác, như vay của Ngân hàng Trung ương, vay trên thị trường vốn hay vay của các tổ chức tín dụng khác
Ngoài ra, Ngân hàng thương mại còn có thể huy động từ một số nguồn khác như nguồn ủy thác, nguồn trong thanh toán…
1.1.3.2 Hoạt động sử dụng vốn
Hoạt động của Ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay, tìm kiếm các nguồn vốn để sử dụng nhằm thu lợi nhuận Song song với hoạt động huy động vốn, thì hoạt động sử dụng vốn là hoạt động chủ yếu và quan trọng của mọi ngân hàng thương mại
Hoạt động sử dụng vốn gồm có hoạt động ngân quỹ, hoạt động đầu tư chứng khoán và hoạt động tín dụng( hoạt động cho vay)
Ngân quỹ của một ngân hàng thương mại thường gồm tiền mặt tại két và tiền gửi tại các ngân hàng khác Khoản tiền này thường không sinh lời hoặc nếu có thì rất nhỏ nhưng bởi sự tiện lợi và cần thiết của nó mà mỗi ngân hàng thương mại đều phải giữ một lượng tiền nhất định tại két của ngân hàng hoặc gửi tại các ngân hàng khác Thường thì mỗi ngân hàng đều cố gắng giữ mức ngân quỹ ở mức thấp nhất có thể
Ngân hàng thực hiện hoạt động đầu tư chứng khoán bởi chứng khoán cỏ thể mang lại thu nhập và cũng vì tính thanh khoản của nó, ngân hàng có thể bán đi khi cần thiết để gia tăng ngân quỹ
Hai hoạt động ngân quỹ và đầu tư chứng khoán chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn trong hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại Hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất chính là hoạt động tín dụng( cho vay) Đây là hoạt động quyết định sự thành bại của ngân hàng thương mại bởi nó là hoạt động chính đem lại lợi nhuận cho ngân hàng
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và hệ thống các ngân hàng, nhu cầu của khách hàng cũng ngày một đa dạng phong phú hơn Do vay, ngân hàng cũng ngày càng đưa ra nhiều hình thức tín dụng để khách hàng lựa chọn
Căn cứ vào thời hạn: có tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn Căn cứ theo hình thức tài trợ tín dụng có cho vay, bảo lãnh, cho thuê…
Căn cứ theo đảm bảo thì có tín dụng không có đảm bảo và tín dụng có đảm bảo bằng
Trang 8Căn cứ theo rủi ro, tín dụng có tín dụng có độ an toàn cao, khá, trung bình và thấp Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng, chủ chốt và mang lại nguồn lợi nhuận chính cho ngân hàng Đồng thời nó cũng là hoạt động chứa đừng nhiều rủi ro và xảy ra mất mát
Trang 9CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG
TMCP ĐẠI Á- PGD HOÀNG HOA THÁM 2.1 Khái quát về NH TMCP ĐẠI Á
2.1.1.Giới thiệu sơ lược:
Ngân hàng TMCP Đại Á (DaiABank) được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 30/07/1993, là ngân hàng cổ phần đầu tiên hoạt động tại địa bàn tỉnh Đồng Nai Khởi đầu chỉ là Ngân hàng TMCP nông thôn hoạt động tại tỉnh Đồng Nai với 1
tỷ đồng vốn điều lệ, đến nay Đại Á Ngân hàng đã trải qua 18 năm phát triển vượt bậc Hiện nay vốn điều lệ đã lên tới 1.000 tỷ đồng, với mạng lưới hoạt động gồm 48 chi nhánh và phòng giao dịch trên cả nước
Hội sở chính đặt tại 56-58 đường CMT8, phường Quyết Thắng, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: (061) 3846831 – 3941066 – Fax: (061) 3842926
2.1.2.Lịch sử hình thành và phát triển
Năm 2001 - Sáp nhập Quỹ tín dụng Quang Vinh vào Đại Á Ngân hàng, tăng vốn điều
lệ lên 8 tỷ VNĐ
Năm 2002 - Tăng vốn điều lệ 16 tỷ VNĐ, với mạng lưới hoạt động 01 hội sở chính, 04
chi nhánh tại Thành phố Biên Hòa và Thị xã Long Khánh
Năm 2003 - Tăng vốn điều lệ 25 tỷ VNĐ, thuộc sở hữu của 70 cổ đông trong đó có 02
cổ đông pháp nhân là Ngân hàng Đầu tư phát triển Chi nhánh Tỉnh Đồng Nai và Công
ty Tín Nghĩa.Tháng 3 năm 2003 khai trương PGD Tam Phước tại huyện Long Thành,
Đồng Nai Đại Á Ngân hàng đạt được thành công trong lĩnh vực tài trợ vốn cho các hộ dân kinh doanh (sản xuất, thương mại, dịch vụ, nông nghiệp), doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt cho vay tiêu dùng, xây dựng nhà ở và sửa chữa nhà ở
Năm 2004 - Ngân hàng Đầu tư Phát triển Chi nhánh Đồng Nai hợp đồng liên kết hỗ
trợ Đại Á Ngân hàng trong lĩnh vực: phát triển dịch vụ, công nghệ thông tin, nâng cao nghiệp vụ, cấp tín dụng Tháng 05 năm 2004, tham gia dự án Tài chính Nông thôn II
Trang 10do Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) tài trợ Năm 2004, tăng vốn điều lệ lên 42 tỷ đồng với số cổ đông sở hữu vốn là 73
Năm 2005 - Tháng 10 năm 2005, khai trương chi nhánh Trảng Bom tại huyện Trảng
Bom
Năm 2006 - Ngày 31/12/2006, tăng vốn điều lệ lên 500 tỷ đồng với mạng lưới hoạt
động gồm Hội sở chính, 05 chi nhánh và 01 phòng giao dịch
Năm 2007 - Đại Á Ngân hàng thực hiện thành công công tác chuyển đổi mô hình hoạt
động và chính thức được Ngân hàng Nhà nước cho phép chuyển đổi sang mô hình Ngân hàng TMCP đô thị tại Quyết định số 2402/QĐ-NHNN ngày 10/11/2007 Hệ thống mạng lưới hoạt động phát triển mạnh mẽ, phát triển thêm 4 PGD tại Đồng Nai
Năm 2008 - Ngày 26/2/2008 Sở Giao dịch I TP Hồ Chí Minh, đơn vị ngoại tỉnh đầu
tiên sau khi thực hiện chuyển đổi mô hình chính thức đi vào hoạt động Ngày 19/4/2008, Thẻ ATM 'Chìa khóa đa năng' chính thức được phát hành Ngày 2/10/2008, Khai trương chi nhánh Hà Nội Cuối năm 2008 Đại Á Ngân hàng đạt 21 điểm giao dịch
Năm 2009 - Quý I năm 2009, Đại Á Ngân hàng tăng vốn điều lệ lên 1.000 tỷ đồng
Ngày 13/4/2009 phát triển tiện ích “Gửi tiền bằng phong bì qua máy ATM” trên toàn
hệ thống Ngày 07/08/2009 Chi nhánh Bình Dương khai trương hoạt động tại 553 Đại
Lộ Bình Dương - P.Hiệp Thành - TX Thủ Dầu Một - Bình Dương Đến cuối năm 2009 mạng lưới hoạt động đã lên 35 điểm giao dịch trên cả nước
Năm 2010 - 16/1/2010: Khai trưởng Sở Giao dịch Đồng Nai tại 56 - 58 CMT8 Biên
Hòa, Đồng Nai Ngày 29/04/2010: Khai trương Chi nhánh Bà Rịa - Vũng Tàu tại địa chỉ 63 Lê Hồng Phong, thành phố Vũng Tàu Kết thúc quý 2 năm 2010, Đại Á Ngân hàng có 48 điểm giao dịch cung cấp dịch vụ Ngân hàng chất lượng tốt nhất cho các khách hàng trên cả nước
Trang 112.2.Giới thiệu về NHTMCP ĐẠI Á– PGD HOÀNG HOA THÁM
2.2.1.Qúa Trình Hình Thành Và Phát triển:
Lý do thành lập Ngân hàng TMCP Đại Á– PGD HOÀNG HOA THÁM
Đáp ứng nhu cầu phát triển của toàn xã hội, việc mở rộng mạng lưới hoạt động kinh doanh là điều cần thiềt và thiết yếu Ngân hàng TMCP Đại Á – PGD HOÀNG HOA THÁM ra đời ngày 26/02/2008 Trụ sở chính đặt tại: 94 Hoàng Hoa Thám, Phường 7, Quận Bình Thạnh, TP HCM
ĐT : (08) 5 4050 627
2.2.2.Cơ cấu tổ chức hoạt động
2.2.2.1.Chức năng hoạt động của các bộ phận
Hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng có hiệu quả hay không, không chỉ phụ thuộc vào phương thức kinh doanh của Ngân Hàng mà còn phụ thuộc vào sự điều hành của ban lãnh đạo cũng như nổ lực của nhân viên Ngân Hàng Chình vì thế, nhiệm vụ
và quyền hạn của từng bộ phận cũng như kết cấu của Ngân Hàng hết sức quan trọng
Ban Giám Đốc: Gồm một Gíam Đốc, đây là cơ quan đầu não quản lý mọi hoạt động
của PGD, là người ra quyết định cuối cùng mọi quyết định của PGD
Bộ phận QHKH : cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cho doanh nghiệp và cá nhân
như tín dụng, bảo lãnh, kinh doanh kho vận Bộ phận QHKH cũng chịu trách nhiệm quản lý dự án với các tổ chức tài chính quốc tế có liên quan tới tín dụng, chuyên sâu về
kỹ thuật nghiệp vụ kinh doanh, thẩm định dự án đầu tư, lựa chọn phương án tín dụng tối ưu, tổng hợp, phân tích thông tin kinh tế, quản lý danh mục khách hàng, phân loại
DN và báo cáo chuyên đề Trực tiếp xử lý rủi ro theo chế độ tín dụng quy định, tổ chức chỉ đạo thông tin phòng ngừa rủi ro về tín dụng, làm tham mưu chính về chiến lược kinh doanh, chiến lược khách hàng, xây dựng kế hoạch tổng hợp, điều hòa vốn ngoại tệ kịp thời, chính xác Đề xuất chiến lược huy động vốn kể cả vay vốn nước ngoài theo ủy nhiệm của Tồng Gíam Đốc, kinh doanh dịch vụ tổng hợp: mua bán ngoại tệ, chiết khấu chứng từ có giá, Tổng hợp và đôn đốc thực hiện chương trình công tác, họp giao ban sơ kết tổng kết, báo cáo thực hiện chương trình tháng, quý, năm trình giám đốc và trung tâm điều hành theo quy định
Trang 12Bộ phận Kế Toán: bao gồm kế toán giao dịch và bộ phận Ngân quỹ:
- Bộ phận kế toán giao dịch: Có nhiệm vụ chính là theo dõi tình hình tài chính của PGD, huy động vốn thông qua các hình thức nhận tiền gửi và phát hành các loại kỳ phiếu, trái phiếu, chi trả vốn, lãi tiết kiệm, mở và quản lý tài khoản của khách hàng, thực hiện các dịch vụ thanh toán chuyển khoản qua NH
- Bộ phận Ngân Qũy: Chịu trách nhiệm thu chi tiền mặt, vàng, ngoại tệ và chứng từ có
giá tại PGD, bộ phận này thực hiện các dịch vụ thu chi hộ tiền mặt và quản lý hộ tài sản, giấy tờ có giá
2.2.2.Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng hiện nay:
Hiện tại, NH Đại Á – PGD Hoàng Hoa Thám đang thực hiện tất cả các sản phẩm, dịch
vụ hiện có của một ngân hàng hiện đại:
- Nhận các loại tiền gửi, tiền tiết kiệm, kỳ phiếu bằng VNĐ và ngoại tệ từ các tổ chức kinh tế và cá nhân với lãi suất linh hoạt, hấp dẫn Tiền gửi của các thành phần kinh tế đều được bảo hiểm theo quy định của nhà nước
- Cho vay các thành phần kinh tế theo lãi suất thỏa thuận với loại hình cho vay đa dạng: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn bằng VNĐ và các ngoại tệ mạnh Cho vay cá nhân,
hộ gia đình có đảm bảo bằng tài sản, vay tiêu dùng, vay du học
- Đại lý bảo hiểm, đại lý thu đổi ngoại tệ
- Thanh toán xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, chuyển tiền bằng hệ thống SWIFT với các NH lớn trên thế giới đảm bảo nhanh chóng, an toàn,chi phí thấp Cung cấp dịch vụ kiểm ngân tại chỗ, dịch vụ thu hộ, chi hộ theo yêu cầu của khách hàng Mua bán trao ngay và có kỳ hạn các loại ngoại tệ Dịch vụ rút tiền tự động 24/24 (ATM) Dịch vụ vấn tin qua điện thoại, giao dịch từ xa qua mạng Thực hiện các dịch vụ khách hàng về tài chính, ngân hàng
Trang 132.2.4.Mục tiêu- phương hướng hoạt động tại NHTMCP Đại Á- PGD Hoàng Hoa Thám.
Ngân hàng Đại Á cũng như tất cả các ngân hàng thương mại cổ phần khác đều lấy mục tiêu lợi nhuận làm thước đo hàng đầu trong quá trình hoạt động của ngân hàng Tuy nhiên đối với Ngân Hàng Đại Á- PGD Hoàng Hoa Thám lợi nhuận bền vững- khả năng sinh lợi an toàn, hiệu quả luôn là tiêu chí hàng đầu trong quá trình hoạt
dộng của ngân hàng
Bước sang năm 2011 và trong những năm tới, nền kinh tế Việt Nam đang ấm dần lên sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng phải đối mặt với những rào cản và những biến động không lường của thị trường đã đặt ra không ít khó khăn và thách thức cho ngân hàng Đại Á nói chung và PGD Hoàng Hoa Thám nói riêng Vì vậy vấn đề củng cố và tăng cường nội lực phải được giải quyết trước mắt là vấn đề đau đầu cho nhà quản trị
Nhận thức được nhiệm vụ trọng tâm, để tiếp tục phát huy những ưu điểm và lợi thế đồng thời gia tăng hơn nữa tốc độ phát triển đã đạt được, trong năm 2011 và những năm tới HĐQT đã đề ra mục tiêu phương hướng hoạt động cho Ngân Hàng Đại Á- PGD Hoàng Hoa Thám như sau:
- Tận dụng những ưu điểm riêng, phát huy thế mạnh của PGD để gia tăng nguồn thu trong hoạt động của ngân hàng
- Song hành cùng hội sở thực hiện kết hợp với ngân hàng ACB vế chuẩn công nghệ thông tin hiện đại Gia tăng các dịch vụ và đưa ra những sản phẩm mới về huy động vốn, cho vay và dịch vụ phi tín dụng, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, tạo ra lợi thế riêng cho DaiABank- PGD Hoàng Hoa Thám
- Trong hoạt động cho vay vẫn phải đẩy mạnh các hình thức cấp tín dụng Cần áp dụng lãi suất ưu đãi đối với khách hàng có quan hệ thường xuyên với ngân hàng, các khách hàng doanh nghiệp có nềm tin phát triển mạnh trong tương lai
- Đặc biệt trong hoạt động huy động vốn, nghiên cứu các giải pháp riêng cho từng nhu cầu khách hàng Đối với kênh huy động tiền gửi từ dân cư sẽ có phương án thu hút vốn dài hạn nhằm tránh tình trạng lệ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn từ hội sở
Trang 14- Song hành cùng các hoạt động trên cần phải phát triển nguồn nhân lực, gửi nhân viên
về hội sở học các khóa bồi dưỡng để nâng cao nghiệp vụ cho nhân viên
- Xây dựng các chương trình, thực hiện quảng bá thương hiệu làm cho ngân hàng Đại
Á trở thành người bạn thân thiết của khách hàng
- Tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh các quy chế, quy trình nghiệp vụ nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong công tác quản trị
- Xây dựng các chương trình thực hiện quảng bá thương hiệu, giữ khách hàng truyền thống và phát triển khách hàng tiềm năng
- Đưa ra những sản phẩm mới, đặc trưng của Ngân hàng Đại Á nói chung, của PGD Hoàng Hoa Thám nói riêng
2.3.Thực trạng hoạt động tại DaiABank- PGD Hoàng Hoa Thám
2.3.1.Tình hình huy động vốn:
Ngân hàng TMCP Đại Á – PGD Hoàng Hoa Thám mới được thành lập năm
2008 nên còn nhiều hạn chế trong quá trình huy động vốn Nhìn chung, hoạt động huy động vốn tại PGD Hoàng Hoa Thám chiếm tỷ trọng tương đối thấp so với tổng nguồn vốn hoạt động của chi nhánh Đây là nguồn vốn huy động bên ngoài từ các khoản nhận tiền gửi của khách hàng; nhận vốn từ tài trợ và ủy thác đầu tư; phát hành giấy tờ có giá…
Ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn này cho vay lại, đầu tư kinh doanh nhằm kiếm lợi nhuận để chi trả cho người gởi tiền Do đó, nguồn vốn này đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của ngân hàng Để đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng ta cần phải chú trọng xem xét tình hình huy động vốn và sử dụng vốn của Ngân Hàng
Năm 2010, Ngân hàng đã đạt được bước tiến đáng kể trong hoạt động huy động vốn, nguồn huy động vốn huy động đã tăng lên khá cao Nguồn huy động vốn trong 3 năm: 2008, 2009, 2010 được thể hiện trong bảng sau:
Trang 15Bảng 1: Tình hình huy động vốn qua các năm
Vốn huy động 40,99 100,94 150,76 59,95 40,6 49,82 66,95
(Nguồn báo cáo tài chính của Daiabank)
Qua bảng số liệu trên cho thấy hoạt động huy động vốn của ngân hàng ngày càng có hiệu quả, cũng có nghĩa là ngân hàng ngày càng tạo được lòng tin nơi khách hàng, chất lượng phục vụ khách hàng ngày càng tăng Đây là tín hiệu đáng mừng cho ban giám đốc ngân hàng
Tình hình vốn huy động năm sau đều cao hơn năm trước với tỷ lệ tăng rất cao.Năm 2009 tăng 40,6% so với năm 2008 Bước sang năm 2010, tỷ lệ gia tăng còn cao hơn, 66,95% so với năm 2009 Nguyên nhân giải thích cho sự tăng trưởng mạnh
mẽ của năm 2010 là do vốn điều lệ tăng lên 1000 tỷ đồng đã tạo được niềm tin cho người gửi Đồng thời, ngân hàng cũng triển khai thêm dịch vụ kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế làm lượng tiền gửi tại ngân hàng tăng lên đáng kể
Ngoài ra cũng không thể bỏ sót chính sách thu hút vốn hợp lý của ngân hàng, đưa ra lãi suất huy động vốn hợp lý và các chương trình khuyến mãi hấp dẫn, chính sách quảng bá thương hiệu hợp lý nhằm xây dựng mối quan hệ mật thiết với khách hàng, am hiểu tình hình kinh tế xã hội địa phương và phong cách phục vụ dần đi vào chuyên nghiệp Để có thể hiểu rõ hơn về tình hình huy động vốn của ngân hàng theo nhiều góc độ khác nhau Dưới đây là những phân tích thực trạng huy động vốn theo hình thức huy động và theo loại hình tiền gửi
Trang 162.3.1.1.Thực trạng vốn huy động theo hình thức
Vốn huy động được trong 3 năm 2008, 2009 và 2010 của Ngân hàng Đại Á- PGD Hoàng Hoa Thám là từ nhận tiền gửi bao gồm tiền gửi của tồ chức của khách hàng, nhận vốn từ tài trợ và ủy thác đầu tư; phát hành giấy tờ có giá Dưới đây là bảng thực trạng huy động vốn theo hình thức huy động của Ngân hàng Đại Á- PGD Hoàng Hoa Thám
2009
Tỷ lệ (%)
2010
Tỷ lệ (%)
2009/
2008
2010 /2009
Trang 17Dựa vào bảng số liệu , vốn huy động chủ yếu của Ngân Hàng Đại Á- PGD Hoàng Hoa Thám qua 3 năm qua chủ yếu theo hình thức nhận tiền gửi, trên 90% tổng vốn huy động Các hình thức nhận vốn từ tài trợ, ủy thác đầu tư và phát hành giấy tờ
có giá chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn trong tổng vốn huy động được của Ngân Hàng Riêng chỉ có năm 2010 ngân hàng mới phát hành giấy tờ có giá Nguyên nhân có sự chênh lệch tỷ lệ lớn như trên là do ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, doanh nghiệp kinh doanh tiền và tiền này chủ yếu là tiền gửi của khách hàng
Năm 2008 tổng nguồn huy động vốn là 40,99 tỷ đồng, trong đó nhận tiền gửi chiếm 95,73% tổng nguồn vốn ngân hàng huy động được tương đương 39,239 tỷ đồng, nhận vốn từ tài trợ và ủy thác đầu tư là 1,751 tỷ đồng chiếm 4,27%, chiếm tỷ lệ tương đối thấp trong tổng nguồn huy động vốn Bước sang năm 2009 có sự gia tăng, tổng vốn huy động tăng lên 100,94 tỷ đồng Sự gia tăng cũng chủ yếu là do lượng tiền gửi cuả khách hàng, đạt 97,95 tỷ đồng chiếm 97,04% trong tổng nguồn vốn huy động được Tuy nhiên nhận vốn từ tài trợ và ủy thác đầu tư thì thấp hơn năm trước, chỉ chiếm 2,96% trong tổng vốn huy động của năm Cụ thể là 2,99 tỷ đồng Như đã phân tích ở trên, do niềm tin của khách hàng dành cho ngân hàng ngày càng tăng Chính vì vậy, năm 2010 đã đánh dấu bước phát triển vượt bậc của ngân hàng trong hoạt động huy động vốn Tổng nguồn vốn huy động được 150,76 tỷ đồng bao gồm 136,256 tỷ đồng (90,38%) từ tiền gửi, tăng 182,6% so với năm 2009, tuy nhiên, nhận tiền từ tài trợ ủy thác đầu tư giảm xuống đáng kể so với năm 2009 (1,854 tỷ đồng), chiếm 1,23%, giảm 26,38% so với năm ngoái Điều đặc biệt trong năm nay ngân hàng đã phát hành thành công 8,39 tỷ đồng giấy tờ có giá chiếm 8,39% tổng vốn huy động của năm
2.3.1.2.Thực trạng huy động vốn theo loại hình tiền gửi
Hiện tại ngân hàng Đại Á- PGD Hoàng Hoa Thám đang sử dụng các loại hình tiền gửi sau để huy động vốn: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền ký quỹ
Trang 18Bảng 3: Tình hình huy động vốn theo loại hình tiền gửi
(Nguồn báo cáo tài chính DaiABank)
Trong 3 năm 2008, 2009, 2010, loại hình tiền gửi mà ngân hàng huy động được chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn (tập trung nhiều nhất vẫn là tiền gửi có kỳ hạn ngắn) Điều này dần khẳng định được vị thế cạnh tranh của Daiabank, đưa ra biểu lãi suất kỳ hạn cao nhằm thu hút khách hàng Nguyên nhân thứ hai là do Ngân hàng còn nhỏ về qui
mô và mạng lưới giao dịch, dịch vụ còn hạn chế nên việc thực hiện thanh toán qua ngân hàng chưa nhiều dẫn đến số lượng tiền gửi không kỳ hạn, tiền ký quỹ còn thấp
Năm 2008 số lượng tiền gửi không kỳ hạn là 6,68 tỷ đồng ( tương đương với 16,3% tổng vốn huy động), tiền gửi có kỳ hạn là 34,27 tỷ đồng( chiếm 83,6%), còn lại
là tiền ký quỹ chiếm 0,1% Năm 2009 số dư tiền gửi không kỳ hạn huy động được là 12,94 tỷ đồng chiếm 12,82%; tiền gửi có kỳ hạn 87,94 tỷ đồng chiếm 87,12% tăng 66,39% so với năm 2008 Tiền ký quỹ chiếm một tỷ lệ khá thấp 0,06 % tương đương 0,06 tỷ đồng
Trang 19Bước sang năm 2010 tình hình huy động vốn theo loại hình tiền gửi có cơ cấu không khác nhiều so với năm 2009 Tỷ lệ huy động bằng tiền gửi có kỳ hạn vẫn là phương thức huy động chủ yếu của ngân hàng với tỷ lệ 92,35% tương đương 139,22 tỷ đồng tăng 158,3% so với năm 2009 Nguyên nhân là vào năm 2010 ngân hàng nhà nước thay đổi lãi suất cơ bản từ 8% lên 9% nên lãi suất huy động có kỳ hạn bằng VND tăng lên mức 11,6%/ năm cộng với chương trình khuyến mãi dành riêng cho loại tiền gửi tiết kiệm đã thực sự hấp dẫn khách hàng Trong khi đó tỷ lệ tiền ký quỹ năm 2010 tăng 9766,7% so với 2009, là do vào năm 2010 ngân hàng triển khai dịch vụ thanh toán quốc tế nên lượng tiền ký quỹ mở LC tăng lên
Nhìn chung nguồn vốn huy động qua các năm tăng cao từ đó góp phần giúp NH thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu chi phí, giúp PGD có thể cạnh tranh với các NH thương mại khác trên địa bàn
2.3.2 Tình hình cho vay
Vốn huy động được tất nhiên là ngân hàng sẽ tìm các biện pháp để sử dụng hiệu quả, nhằm đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng cũng như đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế Ngân hàng TMCP Đại Á- PGD Hoàng Hoa Thám luôn chú trọng công tác huy động vốn đi đôi với từng bước mở rộng quy mô tín dụng, gắn cho vay đi đôi với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng vì hiệu quả cho vay ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và chất lượng tín dụng nói riêng Hoạt động tín dụng trong những năm qua của ngân hàng khá tốt và thu được nhiều kết quả khả quan.Để có thể hiểu rõ hơn nữa về thực trạng cho vay của Ngân hàng dưới đây là những phân tích dư nợ tín dụng
Trang 20Qua bảng trên ta thấy được phần nào sự phản ánh tình hình cho vay của NH Đại Á- PGD Hoàng Hoa Thám qua 3 năm 2008, 2009, 2010 Dư nợ tín dụng tiếp tục tăng trong 3 năm qua Năm 2008 dư nợ đạt 39,2 tỷ đồng Năm 2009 dư nợ tăng lên 268,2%
so với với 2008 đạt 155,75 tỷ đồng Tính đến 31/12/2010 tổng dư nợ tín dụng đạt 155,75 tỷ đồng tăng 148,12% so với năm 2009 Qua phân tích trên cho thấy công tác
sử dụng vốn nói chung, trong đó chủ yếu là hoạt động cho vay của tại Ngân hàng ngày càng tăng, lượng vốn cho vay ngày càng cao Điều này cho thấy hoạt động tín dụng tại Ngân hàng ngày càng hiệu quả, ngày càng thu hút được lượng khách hàng đồng thời ngày càng khẳng định vị trí, vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường
2.3.2.1.Phân tích tình hình dư nợ tín dụng theo kỳ hạn vay
Bảng 5: Dư nợ tín dụng theo kỳ hạn qua các năm
(Nguồn báo cáo tài chính Daiabank)
Qua bảng trên ta thấy:
+ Cho vay ngắn hạn:
Trang 21Dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng dư nợ cho vay( năm 2008 chiếm 69,3%, năm 2009 chiếm 67,35%, năm 2010 chiếm 72,19%) Điều này cũng hợp
lý vì Ngân hàng có địa bàn hoạt động tại Quận Bình Thạnh là nơi có khu vực dân cư đông đúc và hoạt động kinh doanh chủ yếu là mua bán Do đó hoạt động của Ngân hàng chủ yếu là cho vay vốn lưu động cho các cá thể, hộ sản xuất với mục đích kinh doanh, mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hóa
+ Cho vay trung hạn:
Cho vay trung hạn có xu hướng tăng đều qua 3 năm ( năm 2008 đạt 10,23 tỷ đồng chiếm 26,1%, năm 2009 chiếm 24,24% trong tổng nguồn vốn vay của Ngân Hàng, năm 2010 giảm chỉ chiếm 21,94%) Điều này cho thấy việc huy động vốn trung hạn gặp nhiều khó khăn do tích lũy nội bộ chưa cao, đồng tiền chưa thật ổn định do tỷ giá biến động không ngừng và tình hình lạm phát trong những năm qua không ngừng tăng cao Do đó, người dân chưa thật sự yên tâm gửi tiền dài hạn vào ngân hàng
+ Cho vay dài hạn:
Hoạt động cho vay dài hạn chiếm tỷ trọng khá thấp trong hoạt động cho vay tại ngân hàng Năm 2008 đạt 8,663 tỷ đồng chiếm 4,6%, một tỷ lệ tương đối thấp trong tổng nguồn vốn huy động của năm 2008 Bước qua năm 2009, tăng 478,6 % so với năm
2008, đạt 8,663 tỷ đồng nhưng cũng chỉ chiếm 8,4% trong tổng nguồn vốn cho vay Năm 2010 tăng 105,62% so với năm 2009, đạt 9,15 tỷ đồng nhưng cũng chỉ chiếm 5,87% Đây là vấn đề khó khăn chung cho các ngân hàng thương mại Hoạt động huy động vốn tại các ngân hàng thương mại còn nhiều hạn chế so với các ngân hàng thương mại quốc doanh, nguồn vốn huy động được chủ yếu là từ nguồn vốn ngắn hạn
và trung hạn Ngân hàng còn thiếu công cụ huy động vốn dài hạn và thiếu thị trường thứ cấp luân chuyển Cộng thêm chính sách cạnh tranh huy động vốn và mâu thuẩn mặt bằng lãi suất của các ngân hàng nên những khách hàng gửi tiền luôn có tâm lý rút tiền từ nơi có lãi suất thấp để gửi tiền nơi có lãi suất cao Mặt khác khách hàng của ngân hàng Đại á- PGD Hoàng Hoa Thám đa phần là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp nhà nước có quan hệ với ngân hàng không nhiều cộng thêm vốn đều lệ nhỏ nên còn hạn chế các dự án lớn hoạt động thời gian dài, dẫn đến cho vay dài hạn không nhiều
Trang 222.3.2.2.Phân tích tình hình dƣ nợ tín dụng theo đối tƣợng vay
Bảng 6: Tình hình dƣ nợ tín dụng theo đối tƣợng vay
Trang 23cộng thêm ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2009 tại Mỹ đã gây ra không ít khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của nước ta, nhất là nhu cầu về vốn Mặc dù vậy, ngân hàng cũng cần tăng cường quản lý các món vay này vì đầu tư vào các thành phần tổ chức kinh tế thường có độ rủi ro cao, nhất là các doanh nghiệp nhỏ; vì đa phần họ sản xuất tự phát, theo mùa vụ, ít có kế hoạch sản xuất kinh doanh
cụ thể và sổ sách kế toán thường kém minh bạch, không đầy đủ nên ngân hàng không thể đánh giá chính xác kết quả hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế
+ Dư nợ cho vay đối với cá nhân: khách hàng cá nhân chiếm tỷ trọng cao hơn các
tổ chức kinh tế trong 3 năm qua Năm 2009 chiếm tỷ trọng 58,98% tăng 10,7% so với năm 2008, năm 2010 tỷ trọng giảm xuống còn 51,2% nhưng dư nợ lại tăng 100,4% và đạt 79,744 tỷ đồng Điều này do ngân hàng nằm ở Q.Bình Thạnh nơi tập trung dân cư đông đúc, thuận lợi cho các ngân hàng tiếp xúc được với các đối tượng khách hàng buôn bán nhỏ chung quanh Tuy năm 2010 tỷ trọng cho vay đối với khách hàng cá nhân có sự sụt giảm nhưng không đáng kể
*Nhận xét chung: Qua phân tích cho thấy công tác sử dụng vốn nói chung, trong đó
chủ yếu là hoạt động cho vay tại ngân hàng ngày càng tăng, lượng vốn cho vay ngày càng cao Điều này cho thấy hoạt động tín dụng tại Ngân hàng ngày càng hiệu quả, ngày càng thu hút được lượng khách hàng đồng thời ngày càng khẳng định vị trí, vai trò trong nền kinh tế thị trường
Tuy nhiên ngân hàng cũng nên chú trọng các hoạt động khác tại ngân hàng như hoạt động huy động vốn, ngày càng phát triển hơn nữa các dịch vụ ngân hàng, nâng tỷ trọng hoạt động dịch vụ tại ngân hàng, để khách hàng nhớ tới Đại Á là nhớ tới những sản phẩm độc đáo, riêng biệt
Trang 24Tóm lại theo phân tích nợ quá hạn tại ngân hàng có thể nhận thấy nợ quá hạn chủ yếu là do hoạt động cho vay ngắn hạn Điều này là do nguyên nhân khách hàng cá nhân và hoạt động cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao trong hoạt động ngân hàng