Trong tình hình đó,doanh nghiệp hay cá nhân muốn phát triển thì phải đi theo những hướng đi của thờiđại như ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông; tích hợp, liên kết thông tin đa
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thế kỷ 21, sự chuyển mình theo khuynh hướng toàn cầu hóa trong
kỹ thuật, thông tin, thương mại tiến nhanh theo một tốc độ chóng mặt Sự kiện ViệtNam trở thành thành viên thứ 150 của WTO (Tổ Chức Thương mại Quốc tế -World Trade Organization) có vẻ như đang hâm nóng niềm hy vọng vào một tươnglai tươi sáng cho kinh tế Việt Nam Sự toàn cầu hóa kinh tế cho phép vay vốn ởnhiều nguồn và sản xuất ở bất cứ nơi nào có nhân công thích hợp cho nên đối vớicác doanh nghiệp, sự thành công không còn xoay quanh đồng vốn và nhân lực màphụ thuộc vào việc sản xuất, truyền bá và sử dụng tri thức được thực hiện như thếnào, hay nói cách khác là phụ thuộc vào nội dung thông tin Trong tình hình đó,doanh nghiệp hay cá nhân muốn phát triển thì phải đi theo những hướng đi của thờiđại như ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông; tích hợp, liên kết thông tin
đa phương tiện, hợp tác cùng phát triển, tiêu chuẩn hóa việc phổ biến tri thức… Vàmột trong những giải pháp quan trọng nhất cho những hướng đi trên chính là côngnghệ nội dung (Content Technology), một lĩnh vực không còn mới so với thế giớinhưng đang có sự biến đổi nhanh chóng về bản chất bên trong trong những nămqua Và ngành Thông tin – Thư viện Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, thực tếtrong những năm qua, ngành đang từng bước tìm hiểu và áp dụng những công nghệmới trong nghiên cứu và hoạt động để phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy biếnđộng Chính vì thế, việc nghiên cứu, tìm hiểu và ứng dụng công nghệ nội dung vàongành Thông tin – Thư viện đang là mối quan tâm của nhiều chuyên gia trongngành Điều đáng quan tâm ở đây là việc ứng dụng công nghệ nôi dung trongngành Thông tin – Thư viện là việc tạo lập nên một dây chuyền hoạt động thôngminh từ khâu tổ chức tới quản lý, từ quản lý tới trình diễn và phổ biến thông tinnhằm mục đích cho ra đời những sản phẩm và dịch vụ đạt hiệu quả cao nhất vớitốc độ và chi phí hợp lý Việc phát triển ngành công nghệ nội dung trong hoạt động
Trang 2Thông tin – Thư viện, nhất là đối với các quốc gia còn nghèo như nước ta là mộtgiải pháp không chỉ có khả năng làm “sống lại” nguồn tài nguyên này mà còn làmột việc làm có ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, làmục tiêu cần hướng tới trong xã hội thông tin và hội nhập hiện nay
Với vai trò một sinh viên chuyên ngành Thông tin – Thư viện, tôi càng có ýthức rõ hơn về tầm quan trọng của việc nghiên cứu những chiến lược phát triểnngành Thông tin – Thư viện của Việt Nam trong tương lai Bởi vậy, tôi đã theo
đuổi đề tài “Ứng dụng công nghệ nội dung nhằm phát triển các hình thức phổ biến thông tin trong hoạt động Thông tin – Thư viện”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu, tổng hợp và phân tích về công nghệ nội dung và ứngdụng của công nghệ nội dung trong hoạt đông Thông tin – Thư viện, tôi hy vọngrằng người đọc có thể hiểu rõ hơn về công nghệ nội dung – một lĩnh vực đang cònkhá mới mẻ tại Việt Nam Đồng thời phân tích, đánh giá những thời cơ và tháchthức của lĩnh vực này trong ngành, đặc biệt là việc phổ biến thông tin trong hoạtđộng Thông tin – Thư viện Tôi mạnh dạn đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằmđưa công nghệ nội dung đến gần hơn với ngành Thông tin – Thư viện Việt Nam,
mở ra một bước tiến mới của ngành tiến tới sự hình thành và phát triển xã hộithông tin và kinh tế tri thức Sâu hơn nữa, đề tài có thể là những gợi ý cho cácchuyên gia trong lĩnh vực Thông tin – Thư viện có những định hướng phát triểncác ứng dụng hữu ích đối với ngành Thông tin - Thư viện thông qua các sản phẩmcủa công nghệ nội dung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu và giải quyết tốt những nhiệm vụ đã đề ra.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định và giới hạn như sau:
Trang 33.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là công nghệ nội dung và nhữngnhóm sản phẩm hữu ích đối với ngành Thông tin – Thư viện Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: vấn đề áp dụng công nghệ nội dung trongviệc phục vụ phát triển văn hóa – kinh tế đất nước, đặc biệt là đối với ngành Thôngtin – Thư viện Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩaDuy vật biện chứng và quán triệt những quan điểm của Đảng, Nhà Nước vào hoạtđộng thúc đẩy mạnh mẽ sự hình thành và phát triển xã hội thông tin và kinh tế trithức Các phương pháp nghiên cứu cụ thể là:
- Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu
- Phương pháp quan sát khoa học
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phỏng vấn, mạn đàm với các chuyên gia
5 Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa về mặt lý luận: Nêu lên khái niệm cơ bản và những nhóm sản phẩm
chính của công nghệ nội dung
Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Nghiên cứu đưa ra những giải pháp khả thi nhằm
tăng cường hiệu quả khả năng ứng dụng công nghệ nội dung trong việc phổ biếnthông tin đối với ngành Thông tin – Thư viện Việt Nam
Trang 46 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tàiđược chia làm 3 phần chính Đó là:
Chương 1: Công nghệ nội dung và một số thuật ngữ khác.
Chương 2: Ứng dụng công nghệ nội dung nhằm phát triển các hình thức phổ biến
thông tin trong hoạt động Thông tin – Thư viện
Chương 3: Một số nhận xét và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng vào
thực tiễn Việt Nam
Trang 5NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CÔNG NGHỆ NỘI DUNG VÀ MỘT SỐ THUẬT NGỮ KHÁC
1.1 Công nghệ nội dung (Content Technology)
1.1.1 Công nghệ nội dung
Công nghệ nội dung đã phát triển với một tốc độ chóng mặt ở nhiều nướctrên thế giới nhưng nó vẫn là một thuật ngữ vẫn còn xa lạ và khó hiểu ngay cả đốivới những người làm khoa học Cho tới thời điểm này, công nghệ nội dung vẫnchưa có một khái niệm thống nhất bởi tùy theo sự phát triển và ưu tiên đối với từnglĩnh vực mà mỗi nước lại có một cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này Ví dụ như,
ở Thái Lan, nhắc đến công nghệ nội dung, người ta liên tưởng đến công nghệ sảnxuất phim hoạt hình trong khi ở Hàn Quốc, công nghệ sản xuất và phát triển tròchơi trực tuyến (Game online) lại là lĩnh vực có doanh thu hàng đầu hay giáo dụctrực tuyến E – Learning lại có tầm ảnh hưởng lớn tại Thái Lan
Để định nghĩa về công nghệ nội dung hiện nay, Tiến sĩ Nguyễn Chí Công(Trưởng tiểu ban mạng của Chương trình quốc gia về công nghệ thông tin) đã đưa
ra khái niệm về công nghệ nội dung số như sau:
“Công nghệ nội dung số là việc chế biến nội dung bằng cách kết hợp sửdụng các kỹ thuật đa phương tiện (Multimedia) với hình thức siêu văn bản(Hypertext) cho phép chia sẻ các tài nguyên thông tin phân tán trên mạng Các sảnphẩm của công nghệ nội dung rất đa dạng, bao gồm văn bản, dữ liệu, hình ảnh, âmthanh và được thể hiện dưới dạng số (byte, bit ) được lưu giữ, truyền trong môitrường điện tử như mạng máy tính, mạng viễn thông, truyền thanh, truyền hình Nói cách khác, những sản phẩm này là sự tích hợp các dạng khác nhau, trộn nhiềudạng văn bản, hình ảnh và âm thanh lại với nhau, đồng thời có thể dễ dàng lưu giữ
và truy xuất, tái sản xuất, nâng cấp và chỉnh sửa.” [19] (Minh họa: Hình 1, Phụ lục 1
- Chu trình hoạt động của công nghệ nội dung số)
Trang 6Trên là định nghĩa với công nghệ nội dung số, vậy thì công nghệ nội dungnói chung được hiểu theo nghĩa nào
Trên thực tế, công nghệ nội dung đã ra đời từ rất lâu, từ khi con người bắtđầu có tổ chức xã hội Vào giai đoạn này, công nghệ nội dung được gọi chung làbiểu diễn, chủ yếu phục vụ các nhu cầu về giải trí, văn hóa, quân sự… và mangnặng dấu ấn thủ công Đó cũng chính là những nền tảng để hình thành nên nhữngmáy móc và thiết bị thông minh phục vụ cho nhu cầu giải trí của con người trongthời đại ngày nay
Công nghệ truyền thống tiếp đến phải kể đến chính là in ấn, được phát triểnnhờ các nỗ lực tuyên truyền của giáo dục, tôn giáo, chính trị, y tế, thương mại, vănhọc và nhất là sáng chế ra máy in chữ rời cách đây mấy trăm năm Những ấnphẩm chủ yếu bao gồm sách, tiền giấy, bao bì… và báo chí được coi như nền tảngthông tin đầu tiên của các xã hội văn minh và khoa học
“Hình thành và kế thừa từ những công nghệ nội dung truyền thống, côngnghệ nội dung hiện đại được tạo ra để mang lại những ưu thế nổi trội mà các côngnghệ truyền thống chưa từng có như tốc độ thiết kế các mẫu, dễ dàng tái sử dụngcác chi tiết và tăng sản lượng với chi phí thấp… Nhờ vào đó mà năng suất lao động
và chất lượng sản phẩm đạt được những bước tiến bộ đáng kể Ta có thể hình dungdây chuyền công nghệ nội dung mở đầu bằng việc số hoá các văn bản, âm thanh,tiếng nói, hình vẽ, phim ảnh sau đó xử lý trên máy tính, rồi kết thúc bằng việcđóng gói dữ liệu dưới dạng thành phẩm.” [19]
1.1.2 Các nhóm sản phẩm chính trong công nghệ nội dung
Công nghệ nội dung là một khái niệm mới Phần lớn các quốc gia đều giớihạn khái niệm này trong những lĩnh vực mà họ có thế mạnh hoặc có tiềm năng lớn
để phát triển
Trong dự thảo chương trình công nghệ phát triển nội dung tại Việt Nam, BộBưu chính và viễn thông đã đề xuất 6 lĩnh vực chính là trò chơi điện tử; giáo dục
Trang 7trực tuyến; dịch vụ nội dung thông tin di động; phim, truyền hình và nhạc số; pháttriển nội dung cho Internet; hoạt động mua bán qua mạng
Tuy vậy, chúng ta nên nhìn nhận công nghệ nội dung một cách tổng quanhơn dưới nhiều lĩnh vực Dưới đây là 7 lĩnh vực chính của công nghệ nội dung vànhững ví dụ nhỏ về các ứng dụng làm tăng thêm hiệu quả tạo ra sản phẩm của từngmảng lĩnh vực này
* Nhóm ứng dụng máy tính (Computer Utilities)
Ví dụ: Chương trình ứng dụng máy tính (Computer Utilities), Chương trình phụchồi và sao chép dữ liệu (File Recovery Programs), Máy tìm file (File Search,Search Engine Tools), Công cụ định dạng (Format tools), Chuẩn đoán ổ cứng(Hardware Diagnostics), Chọn giao diện desktop (Desktop Enhancements), Giaodiện màn hình chờ ứng dụng 3D (Screensavers - 3D), Chương trình dịch thuật vàngôn ngữ (Babylon 8)…
* Nhóm đa phương tiện (Multimedia Software)
Ví dụ: Chỉnh sửa phim ảnh (Audio & Video Editing), công cụ iPod (iPod Tools),
kiểm soát âm thanh và hình ảnh của máy tính (Media Players), Tạo album và slide(Album and Slideshow Creators), Ứng dụng CD và DVD (CD and DVD Utilities)
…
* Nhóm ứng dụng mạng (Internet Software)
Ví dụ: Ứng dụng mạng xã hội (Blog), Phát thanh trên Internet – nhạc, tin tức, thờisự… (Podcast), Quản trị tải dữ liệu về máy (Download Managers), Công cụ thưđiện tử (Email Tools), Chia sẻ tệp và dữ liệu (Filesharing), Thư nhanh (InstantMessaging)…
Trang 8* Nhóm ứng dụng phục vụ xuất bản (Publishing - ePublishing) – bao gồm xuất bản và xuất bản điện tử
Ví dụ: Thương mại điện tử (E-Commerce Programs), Sách điện tử (E-Book), Tintức điện tử (Electronic Articles), Giáo dục trực tuyến (E-Learning), Y tế điện tử(E \– Health) …
* Nhóm ứng dụng bảo mật (Security Software)
Ví dụ: Phần mềm diệt virus (Antivirus Software), Bảo vệ dữ liệu và tệp (File andFolder Protection), Tường lửa – bảo vệ máy (Firewalls), Phần mềm giám sát từ xa(Keyloggers), Công cụ đặt mật khẩu (Password Tools), Loại bỏ thư rác (SpamFilters), Chính sách bảo mật cá nhân (Windows Security and Privacy), Chuẩn đoán
ổ cứng (Hardware Diagnostics)…
* Ứng dụng điện thoại di động (Mobile Phone Tools)
Ví dụ: Ứng dụng điện thoại (Mobile Phone Tools), Phần mềm tạo nhạc chuông(Ringtone Software), Cung cấp dịch vụ đầu số, Phát triển nội dung mạng dịch vụ3G…
* Trò chơi ảo ( Game Online)
Ví dụ: Trò chơi mạo hiểm (Adventure, Action) Trò chơi thể thao (Sports) , Tròchơi trí tuệ (Puzzle Games), RPG Games game giả định (role-playing game,simulation Games), Điện tử xèng (Arcade Games)…
1.1.3 Công nghệ nội dung trong hoạt động Thông tin – Thư viện
Vậy đối với ngành Thông tin – Thư viện, công nghệ nội dung là gì và nó giữvai trò như thế nào là câu hỏi mà tôi xin được làm rõ hơn trong phân tích dưới đây:
Công nghệ nội dung không phải là những kỹ thuật xử lý riêng lẻ, chúng taphải hình dung đó là cả một chu trình thông minh với những ưu thế nổi trội về tốc
độ, giá thành, tái sử dụng để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm cuối cùng Và
áp dụng công nghệ nội dung vào hoạt động Thông tin – Thư viện cũng không nằmngoài chu trình đó, ứng dụng công nghệ nội dung trong ngành là ứng dụng những
Trang 9công nghệ tối ưu nhất từ khâu tổ chức tới quản lý và cuối cùng là phổ biến thôngtin nhằm thỏa mãn cho người dùng tin những sản phẩm và dịch vụ chất lượng
Nói một cách cụ thể hơn, các bước ứng dụng công nghệ nội dung sẽ là một
kế hoạch tổng thể, xuyên suốt Chúng ta hình dung ứng dụng công nghệ từ khâuđịnh hướng, tổ chức, sắp đặt như thư viện truyền thống, thư viện điện tử hay thưviện số; định dạng và bổ sung nguồn tài nguyên thư viện, tạo lập và đặt mua cơ sở
dữ liệu, công nghệ bảo mật, công nghệ in ấn, đối tượng thư viện phục vụ hay đàotạo chuyên viên thư viện … Sau đó, khâu quản lý lại đặt ra hàng ngàn câu hỏi khácnhư sử dụng phần mềm quản lý thư viện nào, ứng dụng chi tiết và hỗ trợ đi kèm rasao, công nghệ lưu trữ, bảo quản và lưu thông sách cần cập nhật và thay đổi?… Vàsong song với việc tổ chức và quản lý, người cán bộ thư viện không thể bỏ quaviệc trình diễn và phổ biến thông tin về các dịch vụ và sản phẩm tới người dùngtin; vừa thông báo, vừa quáng bá, vừa xây dụng hình ảnh thư viện tích cực trongcộng đồng
Như vậy, ứng dụng công nghệ nội dung trong ngành Thông tin – Thư viện làviệc đặt ra một đường đi tối ưu nhất cho dây chuyền sản xuất tư liệu Và việc ứngdụng công nghệ nội dung vào hoạt động cung cấp tri thức có định hướng tới xã hội
có thực sự đưa chu trình hoạt động Thông tin – Thư viện trở thành một nền côngnghiệp hay không, là tùy thuộc vào hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ nộidung trong ngành và việc liên kết với các ngành khoa học liên quan khác Đây vừa
là hướng đi mới để đi tắt, đón đầu, tận dụng nguồn lực liên ngành để tạo ra sức nảymạnh mẽ nhưng cũng đặt ra một dấu hỏi vô cùng lớn và cấp thiết trong thời đại màngành Thông tin – Thư viện Việt Nam đang tụt hậu xa như hiện nay
1.1.4 Các nhóm ứng dụng hữu ích trong hoạt động Thông tin – Thư viện.
Đối với ngành Thông tin – Thư viện Việt Nam, công nghệ nội dung số đangthực sự là một câu trả lời hiệu quả cho những băn khoăn của ngành trong thời điểmhiện tại, nó không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động của cán bộ thư viện mà còn đưa
Trang 10người dùng tin đến gần hơn với thư viện và sử dụng tài nguyên thư viện như mộtđiều tất yếu Lý giải rõ hơn về điều này, tôi xin liệt kê bốn trong bảy nhóm sảnphẩm ứng dụng công nghệ nội dung được coi là hữu ích đối với ngành Thông tin –Thư viện của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Những nhóm này bao gồm: phầnmềm hữu dụng cho máy tính (Computer Utilities, nhóm ứng dụng mạng (Internet
Software), nhóm ứng dụng bảo mật (Security Software), nhóm ứng dụng phục vụ
xuất bản (Publishing - ePublishing)
Có thể khẳng định rằng, máy tính là một trong những công nghệ có sự ảnhhưởng nhất mọi thời đại - một phát minh vĩ đại thay đổi hoàn toàn cách làm việccủa chúng ta Máy tính đã dần trở nên ngày càng mạnh mẽ hơn, trang bị nhiều khảnăng hơn, dễ sử dụng hơn và quan trọng là giá thành ngày càng rẻ Và hiện naymáy tính là một thiết bị không thể thiếu trong mỗi gia đình, cơ quan, tổ chức Nhưng để giúp cho những thao tác của người dùng trở nên thuận tiện và đơn giảnhơn, đặc biệt là trong kỷ nguyên luôn cần những thông tin nhanh nhạy và chínhxác, việc ứng dụng công nghệ nội dung để tạo ra các sản phẩm mang tính ứng dụngcao là điều hoàn toàn được mong đợi
Nói đến các ứng dụng mạng, người ta nghĩ ngay tới ngay các phầnmềm và các dịch vụ đi kèm theo các Website Một trang web có thể tồn tại màkhông cần công nghệ nội dung nhưng lại không thể phát triển nếu thiếu nó Haynói cách khác, công nghệ nội dung đã thổi một luồng sinh khí mới cho việc tạo lập
và phát triển Website Đó cũng chính là giải pháp hoàn hảo cho câu hỏi tại sao cácWebsite thông thường tại Việt Nam đều bị trôi vào quên lãng - không những khôngmang lại lợi ích cho doanh nghiệp, tổ chức mà thậm chí còn làm phản tác dụng, tạo
sự mất thiện cảm đối với khách hàng và người truy cập
Trang 11Đối với ngành Thông tin – Thư viện cũng vậy, Website đóng một vài tròquan trọng trong việc xây dựng hình ảnh thư viện, mở rộng kênh tiếp xúc vớingười dùng tin, quảng bá sản phẩm và dịch vụ thư viện để tăng lợi nhuận và hiệuquả hoạt động của mình Bởi vậy, hầu hết các cơ quan thư viện trên thế giới khôngchỉ có trang Web riêng của mình mà còn quảng bá thư viện trên nhiều loại hìnhtrực tuyến như Google, Yahoo, Youtube… mà đặc biệt là thông qua mạng xã hội
Mạng xã hội (Social Network) là một hệ điều hành Web kết nối các thànhviên trên Internet với nhau với nhiều mục đích khác nhau mà không phân biệt địa
lý và thời gian Thế giới hiện nay phát triển hàng trăm mạng xã hội khác nhau với
sự tham gia của hàng trăm triệu thành viên trên thế giới Chúng ta không thể bỏqua những hãng nổi tiếng và thành công nhất như Facebook, Myspace,Worldpress, Flickr, Hi5, Tagged, Bebo, Blog Y!360… Trong đó, Myspace vàFacebook là hai trang mạng xã hội thống lĩnh tại thị trường Bắc Mỹ và Tây Âu;Orkrut và Hi5 tại Nam Mỹ; Friendster tại Châu Á và các đảo quốc Thái BìnhDương Bên cạnh đó không thể không nhắc đến một số mạng xã hội gặt hái đượcnhững thành công đáng kể tại một số đất nước như Bebo tại Anh Quốc, CyWorldtại Hàn Quốc, Mixi tại Nhật Bản và đặc biệt ở Việt Nam với sự lan tỏa củaFacebook… Hiện nay, hai trang mạng nổi tiếng nhất là Facebook và Myspace với
số lượng thành viên lên đến con số hàng trăm triệu Cũng bởi lý do này mà nhữngtrang mạng này trở thành những công cụ lý tưởng để các nhà chiến lược thoả sứctận dụng và khai thác để quảng bá hình ảnh của mình
Việc quảng cáo trực tuyến qua mạng xã hội hay những trang Web kể trêncũng không còn xa lạ so với phần lớn những cơ quan Thông tin – Thư viện tại ViệtNam Nhờ vào “nền tảng lập trình” này, các thư viện trên thế giói đã tìm cách sửdụng triệt để các tính năng Blog, tạo Wiki, RSS, và Podcast… để chia sẻ thông tintới các thư viện khác và đông đảo người dùng Nhờ khả năng tương tác và địnhhướng cao, những chiến lược marketing này đang dần chiếm được một thị phần
Trang 12đáng kể trên thị trường và đang lấn sân các loại hình quảng cáo truyền thống nhờnhững ứng dụng công nghệ nổi trội và hữu ích.
Ngày nay, tầm quan trọng của vấn đề bảo mật đã được nhận thức một cáchđứng đắn Thực tế cho thấy, mức chi phí cho vấn đề này thường tương xứng vớiquy mô của doanh nghiệp Chẳng hạn, một công ty trị giá 10 triệu USD có mức chiphí bảo mật bằng 1/10 so với công ty 100 triệu USD Các doanh nghiệp dù lớn haynhỏ đều có chung những nguy cơ khi kết nối với mạng Internet: nguy cơ về tài sảntrí tuệ, uy tín và khả năng hoạt động kinh doanh Và ngành Thông tin – Thư việncủa chúng ta cũng không nằm ngoài những nguy cơ đó Hơn thế nữa, trong quátrình sử dụng máy tính thư viện, người dùng tin có thể vô tình hoặc cố ý truy cậpvào những trang web có hại cho máy, thay đổi ổ và dữ liệu trong máy, vi phạm vàonhững quy định của thư viện Những điều này có thể được khắc phục bằng nhữnggiải pháp bảo mật tốt nhất của những phần mềm bảo mật tốt nhất – sản phẩm củacông nghệ nội dung
xuất bản và xuất bản điện tử
Không thể chối cãi rằng ngày nay công nghệ đã giúp các lãnh đạo liên lạctheo tầm rộng hơn và tốc độ nhanh hơn, với nhiều nguồn liên lạc cùng lúc Dùđang ở Việt Nam, một sinh viên hay một nghiên cứu sinh vẫn có thể tham gia cáckhóa học tại nhiều nước trên thế giới, một doanh nhân có thể tham dự một cuộchọp từ xa hay chúng ta có thể ngồi nhà đọc một cuốn sách nước ngoài nổi tiếngngay trong ngày công bố và phát hành đầu tiên
Đối với ngành Thông tin – Thư viện, sự hiện diện của nhóm sản phẩm ứngdụng này được thể hiện rõ hơn bao giờ hết
Với mảng giáo dục trực tuyến, doanh nghiệp công nghệ thông tin trong nướccho rằng vẫn chưa tìm ra định hướng để tăng tốc Song đã có trên 50 công ty Việt
Trang 13Nam đăng ký sản xuất, kinh doanh các sản phẩm về học tập điện tử và khoảng 30Website cung cấp dịch vụ giáo dục đang hoạt động
Từ nhiều năm nay, sách điện tử (E - Book) đã không còn xa lạ với ngườiViệt Sự tiện dụng và sẵn có của các cuốn sách điện tử trên mạng Internet đã gópphần làm thay đổi thói quen đọc sách của nhiều người.Với những ưu điểm nổi trội,sách điện tử đã tự khẳng định vai trò, vị trí của mình đối với sự phát triển của xãhội Các nguồn cung cấp E-Book chủ yếu đến từ các diễn đàn chuyên về sách như:
http://thuvien-ebook.com/home/: Kho sách tổ chức dạng diễn đàn nên
thường xuyên được các thành viên cập nhật, chia sẻ Nội dung khá phong phúthể loại như: văn học trong nước, văn học nước ngoài, thơ, nhạc, hồi kí, lịch sử,tôn giáo, tin học, sức khỏe
http://www.ebook.edu.vn/: Phát triển từ dự án thư viện giáo trình(ebook.edu.net) của Bộ Giáo dục và Đào tạo Cung cấp miễn phí giáo trình, bàigiảng, tài liệu tham khảo, thông tin nguồn học liệu… ở các trình độ cử nhân,thạc sỹ, tiến sỹ; và báo cáo công bố, phổ biến, chia sẻ nội dung khoa học, kỹthuật…
http://books.google.com/ :Nguồn tìm kiếm quan trọng khi cần tài liệu,
tạp chí , sách miễn phí của nước ngoài
http://kienthuckinhte.com/: Chia sẻ miễn phí nhiều sách điện tử
chuyên ngành kinh doanh
http://thuvienonline.sachhay.com/: Cung cấp miễn phí nhiều sách điện
tử văn học, quản trị, rèn luyện nhân cách
http://ebook4u.vn/home.htm : Sách điện tử nhiều thể loại phong phú.
Có nhiều bản sách phải trả phí
Với những người có thói quen đọc sách nhưng hay phải di chuyển, nhữngcuốn sách điện tử đúng là một “cứu cánh” Hiện nay đa số những cuốn sách điện tửđược người dùng tải trên mạng Internet sau đó chép vào điện thoại di động, máy
Trang 14tính cá nhân để đọc Tuy nhiên, việc đọc sách bằng những thiết bị đọc sách điện tử
có nhiều hạn chế do trên thị trường Việt Nam hiện nay ít kinh doanh dòng sảnphẩm này Các trung tâm Thông tin – Thư viện cũng nên quan tâm về việc tậndụng khai thác các Website thương mại điện tử với mục đích giới thiệu và tăng lợiích về kinh tế qua các sản phẩm và dịch vụ qua mạng
1.1.5 Thuật ngữ “Công nghệ nội dung” (Content Technology) và “công nghiệp nội dung” (Content Industry)
Có thể nói rằng đây là hai thuật ngữ dễ gây nhầm lẫn bởi ngay cả khi tra cứunhững đại từ điển, kể cả Wikipedia – bách khoa toàn thư mở cập nhật nhanh nhất,thì cả hai thuật ngữ này, một là không tồn tại độc lập hoặc là không được giải thích
rõ ràng Chứng tỏ nội hàm của chúng có sự thay đổi nhanh chóng và dẫn đến việcchưa có một định nghĩa thống nhất cho hai thuật ngữ này
“Đặc điểm chung của công nghệ nội dung và công nghiệp nội dung là tự bảnthân chúng không thể tồn tại nếu không có nội dung của sản phẩm vật chất hoặctinh thần Chúng thường không trực tiếp tham gia quá trình sáng tạo ngay từ banđầu, nhưng làm gia tăng giá trị thương mại hoặc thẩm mỹ của nội dung ở thànhphẩm với những biến đổi hợp lý nhằm mang thành phẩm đến tay số đông ngườitiêu thụ sao cho có hiệu quả kinh tế cao.” (TS Nguyễn Chí Công, trưởng tiểu ban
mạng của chương trình quốc gia về công nghệ thông tin) (Minh họa: Hình 2, Phụ lục 1 - Điểm giống nhau giữa công nghệ nội dung và công nghiệp nội dung)
Xem xét trên góc độ Thông tin – Thư viện thì công nghiệp nội dung là
“ngành công nghiệp thu thập những thông tin cùng loại theo yêu cầu, tiến hànhphân tích nội dung, phân loại, chọn lọc và tìm cấu trúc lưu trữ thích hợp trên cácvật mang tin điện tử như đĩa mềm, đĩa CD, lưu trong bộ nhớ hoặc đặt trên mạngmáy tính… đóng gói thông tin thành các cơ sở dữ liệu có thể nhân sao và bán”,
Còn xem xét dưới góc độ marketing, công nghiệp nội dung là sự giao thoagiữa 3 nhóm: công nghệ thông tin (IT), viễn thông (Telecommunication) và tài
Trang 15nguyên nội dung của các lĩnh vực như văn hoá, thiết kế, giáo dục, y tế, truyển hình,
điện thoại di động, đa phương tiện, báo chí, phát thanh (Content) (Minh họa: Hình 3, Phụ lục 1 -: Mối quan hệ của công nghệ nội dung và công nghiệp nội dung).
Các đối tác tham gia trong công nghiệp nội dung chủ yếu gồm có hai nhómlàm việc chặt chẽ với nhau là nhóm biên tập viên và nhóm kỹ thuật viên Nhóm thứnhất tập hợp các chuyên gia có khả năng biên tập nội dung thuộc những lĩnh vựcliên quan đến chủ đề của sản phẩm Nhóm thứ hai tập hợp các chuyên gia kinhdoanh, mỹ thuật và tin học, thí dụ như chuyên gia tiếp thị, sở hữu trí tuệ, đồ hoạmáy tính, kỹ thuật Multimedia, Internet, Web… Quy trình sản xuất trong côngnghiệp nội dung bắt đầu bằng việc phân tích mục tiêu và yêu cầu sử dụng của sảnphẩm, thiết kế, sáng tác hoặc mua các bộ phận cấu thành, biên tập nội dung, thựchiện các phân cảnh, số hoá, xử lý dữ liệu, thử nghiệm và hiệu chỉnh, tích hợp vàđóng gói sản phẩm
1.2 Phổ biến thông tin
Phổ biến thông tin nói một cách đơn giản là cung cấp và phổ biến thông tin.Đối với ngành Thông tin – Thư viện, chúng ta nhận thấy nguyên liệu đầu vào làthông tin và sản phẩm đầu ra cũng là thông tin, nhưng đó là những thông tin đãtinh chế, tích hợp và tái cấu trúc bằng việc ứng dụng công nghệ nội dung để địnhhướng người dùng tin Việc phổ biến thông tin tạo nên sự gắn bó hữu cơ giữa cơ
quan Thông tin – Thư viện và người dùng tin (Minh họa: hình 4, phụ lục 1- Chu trình đường đi của thông tin trong nền công nghiệp nội dung)
Gần đây, người ta ưa chuộng thuật ngữ “Marketing” và “PR”, đó là nhữngphương thức tiếp thị quảng cáo và xây dựng hình ảnh cộng đồng rất hiệu quả màcác doanh nghiệp và tổ chức đang đẩy mạnh và phát triển Nói một cách dễ hiểu đểphân biệt chúng, “Maketing” là hoạt động quảng bá nhằm mục đích tăng doanh sốbán hàng và lợi nhuận của doanh nghiệp, thước đo thành công của “Maketing”
Trang 16chính là doanh thu Còn đối với hoạt động “PR” là việc xây dựng hình ảnh và vị trícủa tổ chức trong cộng đồng; thước đo thành công chính là sự ủng hộ và nhữngphản hồi tích cực từ phía công chúng Tóm lại, trong ngành Thông tin – Thư việnvới sản phẩm lại chính là Thông tin, mục đích của marketing là quảng bá nhằmtăng hiệu quả lưu thông sản phẩm và dịch vụ thư viện; còn PR nhằm mục đíchnâng cao hình ảnh thư viện và cán bộ thư viện trong kỷ nguyên mới Hai hoạt độngvới hai mục tiêu khác nhau nhưng người ta vẫn dễ nhầm lẫn giữa chúng bởi cáchoạt động được thực hiện đều là hoạt động mang tính chất phổ biến và trình diễnsản phẩm tới cộng đồng Như đã nói ở trên, sản phẩm đầu ra đối với ngành chính làthông tin Vậy nên trong nghiên cứu mang tính chuyên ngành, tôi lựa chọn thuậtngữ “phổ biến thông tin” để giới thiệu về những ứng dụng tối ưu của công nghệnội dung trong việc quảng bá sản phẩm và dịch vụ cũng như xây dựng hình ảnhcủa thư viện tới người dùng tin
Trang 17CHƯƠNG 2 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ NỘI DUNG NHẰM PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THỨC PHỔ BIẾN THÔNG TIN
TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN – THƯ VIỆN 2.1 Cơ sở pháp lý để thi hành hoạt động.
Đảng và Nhà nước ta chưa bao giờ từng coi nhẹ phát triển và bảo tồn nềnvăn hóa dân tộc, trong đó có vấn đề xây dựng và thúc đẩy sự phát triển của ngànhthông tin thư viện - một trong những dòng chảy chính nuôi dưỡng nền văn minhcủa dân tộc
Có thể nói với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và côngnghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông đã đưa thế giới từ kỷ nguyêncông nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức Nhận thức rõđược vai trò quan trọng mang tính cấp thiết tới quá trình phát triển đất nước, Đảng
và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định, chính sách ưu tiên,khuyến khích việc áp dụng những thành tựu khoa học mới vào quá trình phát triểnđất nước
Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị về ứng dụng và pháttriển khoa học công nghệ để công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
1 Chỉ thị số 95/CT ngày 4/4/1991 cho phép trích 3% ngân sách nhà nướcdành cho khoa học để đầu tư cho hoạt động thông tin khoa học Theo quyết định số133/QĐ ngày 2/4/1985 của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (Nay là BộKhoa học Công nghệ và Môi trường) thì quỹ hoạt động thông tin chiếm ít nhấtkhoảng 5% quỹ R&D Nó được lấy từ nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học kỹ thuật
và các nguồn đầu tư tương ứng trong ngân sách nhà nước, từ quỹ khuyến khích vàphát triển sản xuất kết hợp với thu nhập do các hợp đồng đảm bảo thông tin manglại Việc quản lý và phân phối các kinh phí này cần được làm rõ trong điều kiệnmới
Trang 182 Nghị quyết số 49/CP ngày 04 tháng 8 năm 1993 của Chính phủ về pháttriển công nghệ thông tin ở nước ta Trong những năm qua, công nghệ thông tin đãđạt được những thành tựu có ý nghĩa, bước đầu đã được ứng dụng trong các ngànhkinh tế - kỹ thuật và giảng dạy trong hệ thống giáo dục quốc dân Đội ngũ chuyênmôn về công nghệ thông tin có trình độ đại học đã tăng lên đáng kể Các mạngmáy tính chuyên dùng đã được thiết lập và phát huy hiệu quả trong một số lĩnh vựckinh tế - xã hội, góp phần phục vụ công tác quản lý Nhà nước
3 Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương (khóa VII) ngày30/7/1994 xác định: “…ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến, nhưcông nghệ chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế
quốc dân…” Hội nghị còn nêu rõ nhiệm vụ phát triển khoa học và công nghệ đến
năm 2000 là cung cấp cơ sở khoa học cho các quyết định, các chủ trương chínhsách, quy hoạch, kế hoạch, dự án đầu tư; đẩy nhanh quá trình đổi mới, nâng caotrình độ công nghệ trong nền kinh tế một cách có trọng điểm; xây dựng và pháttriển năng lực khoa học và công nghệ để làm chủ công nghệ nhập và sáng tạo côngnghệ mới với các chủ trương cụ thể
4 Nghị quyết Trung ương 2 (khóa 8) ngày 24 tháng 12 năm 1996 đã chỉ thị :
“Chiến lược phát triển đất nước ta là chiến lược dựa vào tri thức và thông tin, chiếnlược đi tắt đón đầu với mũi nhọn là công nghệ thông tin thông tin, phục vụ yêucầu điện tử hóa và tin học hóa nền kinh tế quốc dân” Nghị quyết cũng khẳng địnhviệc đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ cập kiến thức khoa học
và công nghệ là một trong những giải pháp chủ yếu tổ chức thực hiện chiến lượcphát triển khoa học và công nghệ của đất nước Xã hội hóa thông tin và các hoạtđộng thông tin phải đi đôi với yêu cầu quản lý bằng pháp luật
5 Ngày 5/6/2000, Chính phủ lại ra nghị quyết số 07/2000/NQ-CP về xâydựng và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000 – 2005: “Công nghiệpphần mềm là ngành công nghiệp quan trọng của công nghệ thông tin Công nghiệp
Trang 19phần mềm bao gồm các hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm và cung ứngcác dịch vụ phần mềm Phát triển công nghệ thông tin, đặc biệt công nghiệp phầnmềm là chủ trương được Đảng và Nhà nước ta ưu tiên quan tâm, là một trongnhững cách đi tắt, đón đầu để thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước,góp phần quan trọng trong việc bảo đảm an ninh quốc gia”
6 Ngày 09/06/2000, Luật khoa học và công nghệ số 21/2000/QH10 quyđịnh về tổ chức và hoạt động của khoa học và công nghệ có viết: “Chính phủ đầu
tư xây dựng hệ thống thông tin khoa học và công nghệ quốc gia hiện đại, bảo đảmthông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời về các thành tựu quan trọng trong các lĩnh vựckhoa học và công nghệ ở trong nước và trên thế giới; ban hành Quy chế quản lýthông tin khoa học và công nghệ; hằng năm công bố danh mục và kết quả thựchiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong nước.”
7 Ngày 17/10/2000 Ban chấp hàng Trung ương Đảng đã ban hành chỉ thị số58/CT-TƯ về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sựnghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa Mục tiêu là đến năm 2010, công nghệthông tin Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực Trong nghị quyết nêu rõ :
“Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin là nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lượcphát triển kinh tế xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảngcách phát triển so với các nước đi trước Ưu tiên đầu tư cho ứng dụng và phát triểncông nghệ thông tin trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Đặcbiệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, áp dụngchính sách đặc biệt cho việc đào tạo bồi dưỡng chuyên gia giỏi, nhân tài trong lĩnhvực công nghệ thông tin”
8 Nghị định về thống kê khoa học và công nghệ của chính phủ Số: 30/2006/NĐ-CP ban hành năm 2006 của thủ tướng chính phủ ký về cung cấp, thu thập, xử
lý, công bố và sử dụng thông tin thống kê khoa học và công nghệ, phát triển công
Trang 20tác thống kê khoa học và công nghệ trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam.
9 Báo cáo của Thủ tướng Chính phủ tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa 10cũng đã khẳng định: “Khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo và việc phát huy nhân
tố con người chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là về chất lượng… Cải cáchhành chính có tiến bộ về đổi mới thể chế nhưng chậm chuyển biến về bộ máy vàcon người Đặc biệt nghiêm trọng là luật pháp, chính sách ban hành không đượcchấp hành nghiêm chỉnh, ngay cả trong bộ máy hành chính”
Nhưng phải đến năm 2007, công nghệ nội dung số mới được đưa ra trongquyết định của thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng Thủ tướng đã ban hànhQuyết định 56/2007/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp nộidung số Việt Nam đến năm 2010 Mục tiêu tổng quát của chương trình là phát triểncông nghiệp nội dung số thành một ngành kinh tế trọng điểm, đóng góp ngày càngnhiều cho GDP, tạo điều kiện thuận lợi cho các tầng lớp nhân dân tiếp cận các sảnphẩm nội dung thông tin số, thúc đẩy mạnh mẽ sự hình thành và phát triển xã hộithông tin và kinh tế tri thức Đến năm 2010, công nghiệp nội dung số phấn đấu đạttốc độ tăng trưởng trung bình từ 35-40%/năm Tổng doanh thu từ công nghiệp nộidung số đạt 400 triệu USD/năm; xây dựng được một đội ngũ 10-20 doanh nghiệpnội dung số mạnh, có trên 500 lao động chuyên nghiệp; làm chủ các công nghệ nềntảng trong công nghiệp nội dung số, sản xuất được một số sản phẩm trọng điểm cókhả năng cạnh tranh cao; hình thành hệ thống thư viện số trực tuyến; xây dựngđược một số cơ sở dữ liệu chuyên ngành; cung cấp hiệu quả các dịch vụ tư vấnkhám, chữa bệnh và đào tạo từ xa
Cũng trong năm đó, Bộ Văn hóa Thông tin cũng ban hành Quyết định số10/2007/QĐ – BVTT ngày 04 tháng 05 năm 2007 về quy hoạch phát triển ngànhthư viện Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Điển hình, trongchương trình phát triển, Bộ Bưu chính Viễn thông đã đặt mục tiêu phát triển của
Trang 21ngành là duy trì tốc độ tăng trưởng trung bình đạt khoảng 50%/năm, doanh thutoàn ngành đạt 400 triệu USD; đến năm 2010, Việt Nam sẽ phát triển đội ngũ trên30.000 chuyên gia về nội dung số và giảm tỷ lệ vi phạm bản quyền xuống bằngmức trung bình trong khu vực Quyết định đưa ra cùng với những quan điểm, địnhhướng và mục tiêu của ngành gắn liền với việc ứng dụng công nghệ, khoa học và
kỹ thuật phù hợp với tiến trình phát triển của đất nước trong thời đại mới
Bên cạnh đó, những văn bản, sắc luật về quản lý thông tin và hoạt động khoahọc kỹ thuật cũng gắn liền với việc ứng dụng công nghệ nội dung vào đời sốngthực tiễn Quản lý bằng pháp luật là phương thức quản lý nhà nước quan trọng nhất
ở bất cứ nước nào, lĩnh vực hoạt động nào Đó là việc ban hành hệ thống các vănbản pháp luật về thông tin và các hoạt động thông tin nhằm đảm bảo thông tin chocác hoạt động nghiên cứu triển khai, phát huy sáng tạo của nhân dân, thúc đẩy quátrình thông tin xã hội hóa nâng cao dân trí ở nước ta
Cho đến nay, Đảng và Nhà nước đã đưa ra một số những văn bản pháp luậtnổi bật như:
1 Luật Báo chí, 1990
2 Sắc luật 003-SLT (1957) về quyền tự do xuất bản và Luật Xuất bản, 1993
3 Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, được ghi trong phần thứsáu của Bộ Luật Dân sự; trong đó chỉ rõ các loại hình tác phẩm được bảo hộ, cácđối tượng được bảo hộ theo quy định riêng của pháp luật, các quyền của tác giả,quyền yêu cầu được bảo hộ, quyền và nghĩa vụ của tổ chức sản xuất băng âmthanh, đĩa băng hình, tổ chức phát thanh truyền hình
4 Pháp lệnh bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc gia (1982);
5 Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước (1991)
6 Nghị quyết 89-CP ngày 4/5/1972 về việc tăng cường công tác thông tinkhoa học và kỹ thuật;
Trang 227 Chỉ thị số 95/CT ngày 4/4/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về côngtác thông tin khoa học và công nghệ.
8 Nghị quyết số 49/CP ngày 4/8/1993 về phát triển công nghệ thông tin ởnước ta trong những năm 90;
9 Luật Khoa học và công nghệ (2000)
10 Nghị định số 21/CP ngày 5/3/1997 về việc ban hành quy chế tạm thời vềquản lý thiết lập, sử dụng mạng Internet ở Việt Nam
11 Nghị định số 159/2005/NĐ-CP về hoạt động thông tin khoa học và côngnghệ
12 Nghị định số 30/2006/NĐ-CP về thống kê khoa học và công nghệ
13 Nghị định số 115/2008/NĐ-CP về quy chế tài chính đối với các tổ chứckhoa học công lập
Những chính sách này là những căn cứ để quản lý, là cơ sở để ban hànhpháp luật trong quản lý nhưng thực ra không thể thay thế cho pháp luật trong quản
lý nói chung Quản lý theo đúng luật sẽ góp phần tích cực vào việc lập lại trật tự kỷcương, tăng cường công tác thông tin khoa học và kỹ thuật, để phát huy tác dụnghơn nữa trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, nhà nước
ta cần nghiên cứu sớm để ban hành Luật về hoạt động thông tin công nghệ như ởnhiều quốc gia trên thế giới đã làm
Thế kỷ mới đang đến với những thách thức to lớn đòi hỏi hội nhập vào xuthế toàn cầu hóa của nền kinh tế thông tin và trí tuệ Là một nước đi sau, muốn rútngắn khoảng cách phát triển, chúng ta không có cách lựa chọn nào khác, ngoài việctạo ra sự sử dụng tốt nguồn trí tuệ cao như một yếu tố nội sinh có tính quyết định.Mặc dù việc thực hiện những chính sách đó trong thực tiễn (kể cả từ bản thânngành thư viện cũng như của xã hội) còn nhiều điều đáng để bàn, song chúng tacần mạnh dạn đổi mới tư duy để làm thay đổi tích nền kinh tế tri thức nước nhà
Trang 232.2 Định hướng sử dụng công nghệ nội dung trong việc phát triển các hình thức phổ biến thông tin.
2.2.1 Phổ biến thông tin truyền thống trong hoạt động Thông tin – Thư viện 2.2.1.1 Các hình thức phổ biến thông tin tuyền thống
Với sự bùng nổ của internet và các ứng dụng mạng như hiện nay, liệu cáccông cụ hỗ trợ truyền thống như in ấn có ít được sử dụng hơn không? Khẳng địnhrằng, câu trả lời là không Sự truyền thông qua các tài liệu in ấn vẫn thực sự quantrọng đối với các chiến lược quảng bá của các tổ chức và doanh nghiệp Trên thực
tế, các tài liệu truyền thông qua các tài liệu in ấn vẫn được sử dụng rất hiệu quả, và
sự phát triển của mạng và các ứng dụng hỗ trợ toàn cầu còn làm hiệu quả của ấnphẩm in trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết Truyền thông dưới hình thức in ấn phùhợp với việc thể hiện phức tạp vốn đòi hỏi nhiều thời gian đọc và hiểu Người xem
có thể đọc đi đọc lại các thông tin để so sánh và tham khảo, đồng thời liên hệ vớicác thông tin khác dễ dàng hơn Vì vậy, đại bộ phận công chúng vẫn cảm thấy
“thoải mái” và yêu thích nó hơn các hình thức quảng cáo khác
Hình thức phổ biến thông tin này bao gồm các công cụ truyền bá thông tintới cộng đồng một cách đại trà như catalogue, tờ rơi, tờ gấp, brochure, nhãn mác,túi giấy, danh thiếp, tiêu đề thư, kẹp file … Các hình thức này là một trong nhữngphương thức để giúp người dùng tin nhận diện được trực tiếp những thông tin vềthư viện, về sản phẩm và dịch vụ thư viện, về cách sử dụng và các chính sách củathư viện
Hình thức quảng cáo này đặc biệt phát huy tại các buổi giới thiệu thư viện,tại hội chợ, triển lãm sách, tại các hoạt động và cuộc thi về sách… Những ấn phẩmquảng cáo này phải được thiết kế bắt mắt và phù hợp với tầm vóc của thư viện Đểtạo được hiệu quả cho việc thiết kế, chúng ta phải quan tâm đến những yếu tố nhưthông tin người đọc mong muốn, màu sắc và giao diện thu hút, sáng tạo, ảnh chụp
Trang 24sắc nét, tính thẩm mỹ cao, thông tin rõ ràng, dễ hiểu, khúc triết và thể hiện rõ được
cá tính, đặc trưng của thư viện
2.2.1.2 Công nghệ nội dung ứng dụng trong việc phổ biến thông tin truyền thống
Để tạo một tờ rơi hay một brochure có hình ảnh đẹp và tạo ấn tượng mạnhcho người xem, người thiết kế cần rất nhiều những công đoạn khác nhau từ thiết kếtới in ấn Mặc dù việc ứng dụng công nghệ nội dung sẽ xuyên suốt những côngđoạn từ khi thiết kế tới khi ra mắt sản phẩm cuối cùng, nhưng trong báo cáochuyên ngành tôi chỉ tập trung giới thiệu nhưng ứng dụng vào việc thiết kế ấnphẩm, tôi bỏ qua phần in ấn vì nó nằm ngoài các ứng dụng trong ngành Thông tin– Thư viện, thuộc ngành công nghiệp in ấn
Dưới đây tôi xin giới thiệu một vài ứng dụng trong quá trình thiết kế tờ rơi,
tờ gấp, brochure cho thư viện
+ Phần mềm thiết kế ấn phẩm Portable Scribus:
Scribus là một phần mềm xuất bản chuyên nghiệp, bao gồm các mẫu xuấtbản và trình bày trang cổ điển và hiện đại Với phần mềm này, người dùng có khảnăng sáng tác bất kỳ ấn phẩm có thể tưởng tượng được, như các tờ bướm, tờ báo,tạp chí… ngay cả các cuốn sách
Cùng một giao diện hiện đại và dễ sử dụng, Scribus bao gồm các chức năngchuyên nghiệp, như màu CMYK, tách biệt (separations) và quản lý màu ICC Phầnmềm cũng hỗ trợ phông OpenType Fonts và mã văn bản Unicode, kẻ cả kiểu viết
từ phải sang trái như trong tiếng A-Rập và Do Thái
Scribus phụ thuộc vào thư viện phần mềm GDI có sẵn khi đã cài Windows
XP (Minh họa: hình 5a, phụ lục 1 - Giao diện phần mềm thiết kế ấn phẩm Scribus)
Trang 25+ Phần mềm xử lí ảnh: Photo Editor
Ngày nay, trên thị trường phần mềm có rất nhiều công cụ giúp xử lí ảnh gồm
cả miễn phí lẫn có phí, từ dung lượng nhỏ (vài KB) đến lớn (tính bằng GB) và mỗicông cụ lại có những đặc điểm riêng giúp người sử dụng lựa chọn sao cho phù hợpmục đích sử dụng Và nếu có nhu cầu sử dụng một công cụ xử lí ảnh miễn phí, nhỏgọn, đơn giản mà mạnh mẽ với các hiệu ứng độc đáo thì Photo Editor sẽ là sự lựachọn tốt nhất
Để xử lí một tấm ảnh, đầu tiên bạn nhấn vào File, rồi tìm mở một tấm ảnh đểchỉnh sửa Ngoài ra, bạn còn có thể duyệt tìm ảnh theo cây thư mục bên dưới nútFile Tiếp theo, bạn có thể thay đổi chiều của bức ảnh trước khi bắt tay vào côngviệc chính bằng cách nhấn vào Rotate Left (quay ảnh sang trái 90 độ) Rotate Right(quay ảnh sang phải 90 độ) Sau đó, bạn tiếp tục chọn các công cụ phía trên giao
diện chương trình để chỉnh sửa và làm đẹp ảnh (Minh họa: hình 5b, phụ lục Giao diện phần mềm xử lý ảnh Photo Editor).
1-(Minh họa hình 6a, 6b, 6c, phụ lục 1 - Một số mẫu tờ rơi, tờ gấp được thiết
kế của trung tâm Thông tin - Thư viện đại học FPT).
2.2.2 Phổ biến thông tin hiện đại trong hoạt động Thông tin – Thư viện
2.2.2.1 Hình thức phổ biến thông tin hiện đại
Nói đến các hình thức phổ biến thông tin hiện đại, chúng ta có thể liệt kê rấtnhiều loại hình, nhưng trong báo cáo này, tôi chỉ tập trung những phương thứctruyền bá thông tin có sự gắn kết và phù hợp với ngành Thông tin – Thư viện
Trong xã hội thông tin ngày nay, thông tin điện tử sẽ là một lực lượng thúcđẩy mạnh mẽ, sáng tạo nền kinh tế toàn cầu, và làm cho trái đất trở nên nhỏ bénhưng đầy sức mạnh, điều cốt lõi của nó chính là - mạng Internet Mục tiêu của cáctrung tâm thông tin – thư viện trong tương lai gần là cung cấp thông tin điện tử vàcác dịch vụ điện tử thông qua hệ thống mạng Internet Internet đem lại hoạt động