Về nguyên tắc, như mong đợi quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ngày một tiến bộ hơn, hiện đại hơn và được biểu hiện cụ thể ở những điểm sau: - Tỷ trọng các ngành công nghiệp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
BỘ MÔN KINH TẾ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP :
PHÂN TÍCH TĂNG TRƯỞNG KINH
TẾ VÙNG ĐBSCL DƯỚI GÓC NHÌN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VÀ TĂNG TRƯỞNG 4
1.1 Quan niệm về tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế 4
1.1.1 Quan niệm về tăng trưởng 4
1.1.2 Quan niệm về cơ cấu kinh tế 5
1.1.3 Quan niệm về cơ cấu ngành kinh tế 5
1.1.4 Quan niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 6
1.2 Một số lý thuyết về gắn chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và tăng trưởng kinh tế 10
1.2.1 Vấn đề xác định cơ cấu ngành kinh tế trong “kinh tế học thuộc dòng chính” 10
1.2.2 Lý thuyết cất cánh (phát triển kinh tế phân kỳ) 11
1.2.3 Lý thuyết nhị nguyên 12
1.2.4 Lý thuyết về thay đổi cơ cấu của Hollis Chenery 12
1.2.5 Lý thuyết phát triển cân đối liên ngành 13
1.2.6 Lý thuyết phát triển không cân đối hay “cực tăng trưởng” 13
1.2.7 Lý thuyết “đàn sếu bay” 14
1.2.8 Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu của Moise Syrquin 15
1.3 Một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và tăng trưởng kinh tế 16
Kết luận chương 1 17
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÙNG ĐBSL THỜI KỲ 2000-2010 19
2.1 Đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng Vùng giai đoạn 2000-2010 19
2.1.1 Ước lượng tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng 19
Trang 32.2.2 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Vùng và tăng trưởng giai đoạn
2000-2010 22
2.2 Phân tích một số yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vùng ĐBSCL 25
2.2.1 Yếu tố địa lý 25
2.2.2 Nguồn nhân lực 27
2.2.3 Vốn đầu tư 30
2.2.4 Kết cấu hạ tầng 31
2.2.5 Bối cảnh phát triển 34
2.2.6 Đường lối phát triển của Nhà nước, thể chế kinh tế, cơ chế, chính sách đối với Vùng 37
Kết luận chương 2 38
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GẮN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VỚI THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 39
3.1 Xác định cực tăng trưởng 39
3.2 Nâng cao năng suất lao động 39
3.3 Kế cấu hạ tầng 41
KẾT LUẬN 45
PHỤ LỤC 46
Trang 4ĐBSCL: đồng bằng sông Cửu Long
NSLĐ: Năng suất lao động
TD&MN phía Bắc: Trung du và miền núi phía Bắc
KVI: ngành nông-lâm-ngư nghiệp
KVII: ngành công nghiệp- xây dựng
KVIII: ngành dịch vụ
KHKT: khoa học kỹ thuật
GDP: tổng sản phẩm quốc gia
GSO: Tổng cục thống kê
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Giữa thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu luôn có mối quan hệ qua lại với nhau, chế ước lẫn nhau Bảo đảm gắn kết được một cách hiệu quả giữa thúc đẩy tăng trưởng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ giúp có khả năng tạo ra sự phát triển theo chiều sâu và hạn chế sự lãng phí do phải tiến hành điều chỉnh trong tương lai Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang thực hiện tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp, các Vùng trong cả nước cũng thực hiện chuyển dịch mãnh mẽ sang khu vực công nghiệp- xây dựng Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế của cả nước và của mỗi vùng không phải lúc nào cũng đồng nhất với nhau mà có sự khác biệt nhất định về tính chất Liệu Vùng ĐBSCL với thế mạnh là nông nghiệp có phải tuân theo quy luật công nghiệp hóa như quốc gia? Để xác định cơ cấu kinh tế hợp lý cho Vùng, cần đánh giá các yếu tố nguồn lực của Vùng, làm rõ
điểm mạnh, điểm yếu của Vùng Chuyên đề “ phân tích tăng trưởng kinh tế vùng
ĐBSCL dưới góc nhìn chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế” nghiên cứu đặc thù của
Vùng, tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến Vùng nhằm xác định xu hướng chuyển dịch cơ cấu hợp lý cho vùng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ
Trang 6- Trên cơ sở nghiên cứu, đề xuất một số ý kiến nhằm đạt được (hướng đến) cơ cấu ngành kinh tế hợp lý để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Vùng đạt mục tiêu đến
2020
3 Câu hỏi nghiên cứu
1 Đối với vùng ĐBSCL chuyển dịch cơ cấu ngành có tác động đến tăng trưởng kinh tế?
2 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành hiện nay của vùng ĐBSCL có thúc đẩy tăng trưởng?
3 Một số yếu tố nào tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành để tạo động lực tăng trưởng kinh tế vùng?
4 Cơ cấu như thế nào là phù hợp với tăng trưởng mục tiêu của vùng?
5 Hướng chuyển dịch một số nguồn lực đầu vào như thế nào để đạt được cơ cấu phù hợp cho giai đoan 2011-2020
4 Phương pháp nghiên cứu
- Để đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng kinh tế của vùng dùng dạng hàm hồi quy với bộ số liệu bảng (panel data)
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp thống kê mô tả để đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của vùng
5 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng của đề tài nghiên cứu là 13 tỉnh thuộc vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
- Mặc dù có nhiều cố gắng, song nguồn số liệu của các tỉnh khó thu thập, nên số liệu nghiên cứu đánh giá ước lượng được xử lý từ niên giám thống kê các tỉnh, dữ liệu nghiên cứu lấy từ năm 2000-2010
- Nguồn số liệu thứ cấp sử dụng trong nghiên cứu của đề tài được tiến hành thu thập và xử lý từ các nguồn chính sau: Tổng cục Thống kê Việt Nam; các tổ chức quốc
Trang 7tế WB, ADB và kế thừa một số tài liệu từ các nguồn nghiên cứu khác (có ghi rõ trích dẫn)
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phục lục đề tài gồm 3 chương chính
- Chương 1: Tổng quan cơ sở lý thuyết về tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và tăng trưởng kinh tế
- Chương 2: Phân tích tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến tăng trưởng kinh
tế đối với các tỉnh vùng ĐBSCL giai đoạn 2000-2010
- Chương 3: Một số kiến nghị gắn chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế với thúc đẩy tăng trưởng vùng ĐBSCL giai đoạn 2010 -2020
Trang 8CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VÀ
TĂNG TRƯỞNG
Chương 1 tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; một số quan điểm và lý thuyết trong việc nghiên cứu gắn chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tăng trưởng kinh tế làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu của đề tài
1.1 Quan niệm về tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế
1.1.1 Quan niệm về tăng trưởng
Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận về phát triển kinh tế Theo TS.Đinh Phi Hổ (2002) tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng quốc gia hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người qua một thời gian nhất định Trong đó, sản lượng bình quân đầu người lại phụ thuộc vào quy mô sản lượng và dân số của một quốc gia Nếu sản lượng tăng nhưng quy mô dân
số tăng nhanh hơn sẽ dẫn đến sản lượng bình quân giảm Do đó, bản chất của tăng trưởng kinh tế là phải đảm bảo sự gia tăng cả quy mô sản lượng và sản lượng bình quân trên đầu người
Nhận thức đúng đắn về tăng trưởng kinh tế và sử dụng hiệu quả những kinh nghiệm về nghiên cứu, hoạch định chính sách tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng Tăng trưởng kinh tế có nghĩa là gia tăng tổng sản lượng quốc gia mà sản lượng quốc gia được tao ra từ sản xuất Như vậy, nguồn gốc của tăng trưởng xuất phát từ quá trình sản xuất Quá trình sản xuất là quá trình mà trong đó các yếu tố đầu vào được phối hợp theo những cách thức nhất định để tạo ra khối lượng sản phẩm Ngoài ra, cần nhận thấy tăng trưởng kinh tế không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn mang tính chính trị, xã hội sâu sắc; đây là những yếu tố phi kinh tế gồm: thể chế kinh tế - chính trị và đặc điểm văn hóa - xã hôi, tôn giáo
Như vậy, quan điểm phát triển kinh tế của nhà hoạch định chính sách sẽ tác động đến xu hướng phân phối nguồn lực để tạo ra một mức tăng trưởng theo mục tiêu trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế Nói cách khác, với mỗi cơ cấu kinh tế sẽ có
Trang 9một mức tăng trưởng kinh tế tương ứng vì vậy, nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế cho vùng ĐBSCL sẽ lấy quan điểm phát triển chủ đạo của Vùng làm định hướng để đạt được mục tiêu về tăng trưởng hiệu quả cho vùng trong giai đoạn nay đến 2020
1.1.2 Quan niệm về cơ cấu kinh tế
Trong lịch sử phát triển của thế giới cơ cấu của nền kinh tế (thường được gọi tắt
là là cơ cấu kinh tế) luôn luôn là vấn đề được các nhà quản lý, các nhà khoa học đặt biệt quan tâm không chỉ bởi nó cực kỳ quan trọng mà bởi nó là vấn đề luôn luôn thay đổi qua các thời kỳ phát triển của mọi nền kinh tế Đối với Việt Nam nói chung và đối với và đối với các tỉnh nói riêng cơ cấu kinh tế có vai trò quyết định tới sự phát triển
và tăng trưởng kinh tế cũng như quyết định đến sự phát triển xã hội
Theo PGS.TS.Ngô Doãn Vịnh (2005) thì cơ cấu kinh tế biểu thị nội dung, cách thức liên kết, phối hợp chặt chẽ với nhau tạo nên hệ thống kinh tế Cơ cấu kinh tế được hiểu là cách thức kết cấu các phần tử tạo nên hệ thống Để phân tích cơ cấu kinh tế lâu nay thường xem xét cơ cấu kinh tế theo các góc độ chủ yếu gồm: góc độ ngành, góc độ lãnh thổ, góc độ sở hữu Xem xét một số yếu tố ảnh hưởng đến hình thành cơ cấu kinh
tế thường nhắc đến : vị trí địa lý, dân số và các yếu tố xã hội, luật pháp và thể chế và hợp tác quốc tế và toàn cầu hóa
1.1.3 Quan niệm về cơ cấu ngành kinh tế
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống, cơ cấu ngành kinh tế là tập hợp tất cả các ngành hình thành nên nền kinh tế và các mối quan hệ tương đối ổn định giữa chúng
Có nhiều mức phân ngành khác nhau, tùy theo mức độ gộp hay chi tiết hóa đến chừng nào mà có được một tập hợp các ngành tương ứng Trong hệ thống sản xuất vật chất, các ngành kinh tế được phân thành hai khu vực: sản xuất vật chất và không sản xuất vật chất Trong hệ thống tài khoản quốc gia, các ngành kinh tế được phân thành
ba nhóm ngành lớn: nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng, dịch vụ Với một cách phân ngành hợp lý và một đại lượng giá trị được thống nhất, có thể xác định được chỉ tiêu định lượng phản ánh cơ cấu ngành, đó là tỷ trọng các ngành so với tổng thể các ngành của nền kinh tế Bên cạnh đó, có thể mô tả phần nào mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành kinh tế, đó là hệ số trong bản cân đối liên ngành hay bảng I/O Đối với bài nghiên cứu, phân tính về cơ cấu ngành kinh tế được hiểu là phân tích tỷ trọng và mối
Trang 10quan hệ giữa các ngành theo các phân ngành của hệ thống tài khoản quốc gia : nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng, dịch vụ
1.1.4 Quan niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Quá trình chuyển dịch cơ cấu trước hết nhằm tăng tốc độ tăng trưởng và đảo ngược những mất cân đối ngày càng lớn trong cán cân thanh toán, giảm bớt nghèo đói triền miền, sự phân phối thu nhập không công bằng, mất cân đối giữa các vùng và sự xuống cấp về môi trường Trong điều kiện nền kinh tế thế giới phụ thuộc lẫn nhau, chuyển dịch cơ cấu có định hướng là để đạt được mô hình có lợi thế so sánh nhằm nâng cao vị trí trong thương mại quốc tế và tạo điều kiện cho việc thực hiện chính sách
vĩ mô
Theo PGS.TS Ngô Doãn Vịnh (2005) các yếu tố tạo nên cơ cấu của nền kinh tế không ngừng thay đổi, do đó cơ cấu kinh tế cũng thay đổi theo từng thời kỳ phát triển Quá trình thay đổi đó của cơ cấu kinh tế người ta gọi là chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nói một cách cụ thể hơn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình kinh tế chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó nhu cầu con người và tiến bộ khoa học - công nghệ có vai trò quyết định
Khi xem xét chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xác định trạng thái cơ cấu kinh tế tốt hay xấu để quyết định có cần chuyển dịch hay không và nếu cần thì chuyển dịch theo hướng nào, thường phân tích theo một hệ thống chỉ tiêu, như:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế và quy mô;
- Thu ngân sách và tỷ lệ huy động ngân sách từ GDP;
- Tổng GDP, GDP/người;
- Tỷ lệ tích lũy nội bộ của nền kinh tế;
- Năng suất lao động;
- Tỷ lệ sử dụng tổng hợp tài nguyên;
- Giá trị xuất khẩu và độ mở của nền kinh tế;
- Quy mô của nền kinh tế và mức độ phúc lợi xã hội;
Trang 11- Mức độ canh tranh của sản phẩm và của quốc gia;
- Suất đầu tư trên mỗi đơn vị GDP gia tăng;
- Tỷ lệ tiêu hao năng lượng (chủ yếu là điện năng) cho mỗi đơn vị GDP tạo ra trongnăm;
- Tỷ lệ thất nghiệp;
- Tỷ lệ hộ hay người đói nghèo;
- Nhóm các chỉ tiêu về tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông và nghề nghiệp,…
Chín nhóm chỉ tiêu đầu càng cao càng chứng tỏ cơ cấu kinh tế đã chọn lựa là hợp
lý và ngược lại các chỉ tiêu đó đạt được càng thấp chứng tỏ cơ cấu kinh tế đã được chọn là không hợp lý và khi đó phải được điều chỉnh gấp; năm nhóm chỉ tiêu kế tiếp có trị số càng nhỏ càng chứng tỏ cơ cấu kinh tế càng tốt và ngược lại
* Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình tích lũy về lượng, dẫn đến sự biến đổi về chất của cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo yêu cầu và phương hướng tiến bộ mang tích quy luật trong điều kiện cụ thể của bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa
Về nguyên tắc, như mong đợi quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ngày một tiến bộ hơn, hiện đại hơn và được biểu hiện cụ thể ở những điểm sau:
- Tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế (GDP) tăng lên, còn tỷ trọng ngàng nông nghiệp giảm xuống
- Trong nội bộ các ngành, tỷ trọng sản xuất hàng hóa cũng như tỷ lệ sản phẩm chứa hàm lượng công nghệ cao, chứa nhiều chất xám tăng lên
+ Trong khu vực nông nghiệp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, ngành thủy hải sản giảm tỷ trọng ngành trồng trọt; tập trung vào nuôi trồng những con cây có giá trị kinh tế cao, đáp ứng được nhu cầu của thị trường; tỷ lệ sản phẩm nông nghiệp qua chế biến càng lớn càng tốt; tỷ lệ các sản phẩm nông nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao càng nhiều càng tốt
Trang 12+ Trong khu vực công nghiệp - xây dựng: chuyển dịch theo hướng phát triển các ngành có khả năng làm tăng giá trị quốc gia trong sản phẩm của đất nước, như ngành công nghiệp chế tạo, các ngành công nghiệp bổ trợ, các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản,…
+ Trong khu vực dịch vụ: các ngành tiêu biểu như: thương mại, tài chính ngân hàng, du lịch, vận tải, bưu điện, khoa học - công nghệ, y tế, giáo dục,… ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu khu vực dịch vụ
- Cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch từ giản đơn đến phức tạp (tức là số ngành, số sản phẩm ngày càng nhiều, phạm vi liên kết ngày càng rộng), từ trạng thái có trình độ thấp sang trạng thái có trình độ cao hơn nhằm đem lại lợi ích lớn hơn như mong muốn của con người qua các thời kỳ phát triển
- Độ mở của nền kinh tế càng lớn càng chứng tỏ nền kinh tế hội nhập càng mạnh với bên ngoài Nghiên cứu cho biết rằng, nền kinh tế có độ mở càng lớn thì cơ cấu kinh tế của nền kinh tế đó càng phát triển
- Xu hướng chuyển dịch cơ cấu các loại hình kinh tế cũng diễn ra đồng thời: tỷ trọng của bộ phận kinh tế tư nhân ngày càng tăng; tỷ trọng của bộ phận kinh tế Nhà nước có thể giảm xuống một cách tương đối, song vai trò then chốt và chủ đạo của nó trong nền kinh tế vẫn được đảm bảo Hình thức kinh tế hỗn hợp mà tiêu biểu là kinh tế
cổ phần sẽ trở nên thịnh hành
- Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng lợi thế của từng vùng, các vùng kinh tế phát triển phải là đầu tàu lôi kéo các vùng khác phát triển, các vùng chậm phát triển phải rút ngắn khoảng cách với các vùng phát triển
Nếu cơ cấu kinh tế được lựa chọn sai hoặc được lựa chọn đúng nhưng không đủ điều kiện cần thiết và việc điều hành lại kém thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ dễ không theo chiều hướng mong muốn, tức là chiều hướng xấu Nhà nước có vai trò lớn đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
* Các nguyên tắc chuyển dịch cơ cấu
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về quy mô, chất lượng, khả năng cạnh tranh và phát bền vững trên cơ sở phát huy có hiệu quả các
Trang 13lợi thế so sánh có tính tới điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hóa và tiến bộ khoa học - công nghệ
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải phù hợp với sự phát triển của sức sản xuất và quan hệ sản xuất, phải đảm bảo hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài; hài hòa giữa hiệu quả cục bộ và hiệu quả toàn bộ; đảm bảo tăng cường tính tự chủ của nền kinh tế
và đảm bảo yêu cầu an ninh quốc gia
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có thể diễn ra môt cách tuần tự và cũng có thể diễn ra một cách đột biến hay nhảy vọt
- Muốn cho cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng và mang lại hiệu quả, trước hết cần có sự can thiệp đúng đắn của Nhà nước, các điều kiện cần thiết được đảm bảo
và nhận được sự quan tâm, đồng thuận của xã hội nói chung và của doanh nghiệp nói riêng
* Sự khác nhau giữa cơ cấu kinh tế của vùng và cả nước:
Cơ cấu ngành kinh tế của cả nước và của mỗi vùng (tỉnh) không phải lúc nào cũng đồng nhất với nhau mà có sự khác biệt nhất định về tính chất Chính vì vậy khi hoạch định chính sách cơ cấu cho một vùng (tỉnh) cần phải lưu ý phân biệt rõ tính chất
cơ cấu ngành của cả nước và vùng (tỉnh) mới đảm bảo được tính khoa học Những đặc điểm khác biệt này là:
- Cơ cấu kinh tế ngành của một vùng (tỉnh) không nhất thiết tuân theo quy luật công nghiệp hóa như cơ cấu ngành của một quốc gia
- Cơ cấu kinh tế ngành của một vùng (tỉnh) thường phụ thuộc vào chính sách của quốc gia Cơ cấu ngành của vùng (tỉnh) nếu phù hợp với chính sách ngành quốc gia sẽ
có thể phát triển với tốc độ tương đối nhanh, nếu vi phạm chính sách ngành sự phát triển của nó sẽ bị hạn chế, hai loại tình huống này đều có thể làm cho cơ cấu ngành của vùng (tỉnh) thay đổi
- Yếu tố bên ngoài khi nghiên cứu cơ cấu kinh tế ngành của vùng (tỉnh) khác với yếu tố bên ngoài khi nghiên cứu cơ cấu kinh tế ngành của cả nước
Trang 141.2 Một số lý thuyết về gắn chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và tăng trưởng kinh tế
1.2.1 Vấn đề xác định cơ cấu ngành kinh tế trong “kinh tế học thuộc dòng chính”
Đối tượng nghiên cứu của “kinh tế học thuộc dòng chính” là những vấn đề
thực tiễn của nền kinh tế thị trường đã công nghiệp hóa Đối với trường phái này mối quan hệ giữa các ngành không được coi trọng, theo họ về cơ bản thị trường sẽ chỉ cho
ta phải làm gì và làm như thế nào Như vậy cơ cấu ngành hình thành như thế nào và hoạt động của nó trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân ra sao do thị trường quyết định Theo các nhà “ kinh tế học dòng chính” thì ở tầm vĩ mô có thể phân tích các yếu tố đầu vào (tiền vốn, giá lao động, giá nguyên vật liêu) để quyết định đi vào kinh doanh ngành nào Dù sao thì những quyết định kinh doanh vào các ngành vẫn chỉ
là những quyết định của các doanh nghiệp, mà người hướng dẫn chính là thị trường
Để bù đắp những khuyết tật của thi trường trong việc hình thành một cơ cấu ngành có hiệu quả, vai trò của Chính phủ hết sức quan trọng Công cụ chủ yếu nhằm can thiệp vào thị trường là những biện pháp gián tiếp như chính sách kinh tế vĩ mô, bao gồm: chính sách tài chính, chính sách tiền tệ và chính sách thương mại Chính phủ làm thay đổi các thông số đầu vào để có được đầu ra thích hợp đối với từng ngành, qua đó điều kiện sự chuyển dịch cơ cấu theo ý muốn hay trực tiếp như kinh doanh vào những ngành và lĩnh vực mà tư nhân không đủ khả năng tham gia
Đối với từng nền kinh tế cụ thể, cùng dựa trên nền tảng lý luận của “ kinh tế học dòng chính”, song mỗi nước thiên về hướng khác nhau Chẳng hạn ở Mỹ có xu hướng thị trường tự vận động thì ở Nhật Bản, Hàn Quốc, vai trò can thiệp của Nhà nước khá sâu Như vậy, có thể rút ra một nhận định là các nước đi muộn hơn các nước tư bản công nghiệp, cần thiết có “chính sách cơ cấu” rất cụ thể của chính phủ để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa Đối với vùng ĐBSCL, để đạt được tăng trưởng hiệu quả cần xác định một cơ cấu hợp lý, có thể ứng dụng việc phân tích các yếu tố đầu vào xác định “ngành có tương lai” và “ ngành không có tương lai” để điều chỉnh cơ cấu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trang 151.2.2 Lý thuyết cất cánh (phát triển kinh tế phân kỳ)
Theo Rostow chia sự phát triển của nền kinh tế ra làm 5 giai đoạn và đặc trưng phát triển các ngành trong từng giai đoạn Năm giai mà Rostow chia gồm:
- Giai đoạn 1: Xã hội truyền thống cũ, có năng suất lao động xã hội thấp, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và xã hội kém phát triển
- Giai đoạn 2: Giai đoạn chuẩn bị cất cánh, đặc trưng của giai đoạn này là:
+ Đã có một tầng lớp chủ xí nghiệp đủ khả năng thực hiện đổi mới
+ Cơ cấu hạ tầng phát triển, đặc biệt là giao thông
+ Đã bắt đầu xuất hiện các cực tăng trưởng, tức là hình thành các khu vực
có khả năng lôi kéo nền kinh tế (leading sectors)
- Giai đoạn 3: Giai đoạn cất cánh, đáp ứng 3 yêu cầu sau đây:
+ Nâng cao tỷ lệ đầu tư mới hoặc bằng 5% lên hơn 10% trong NNP
+ Phát triển một số ngành chế tác với tốc độ tăng trưởng cao
+ Hình thành một số cơ cấu chính trị, xã hội và thể chế…thuận lợi để thúc đẩy mạnh mẽ khu vực sản xuất hiện đại, nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
- Giai đoạn 4: Giai đoạn chuyển tới sự chín muồi về kinh tế, thể hiện:
Trang 161.2.3 Lý thuyết nhị nguyên
Lý thuyết nhị nguyên do A.Lewis chủ xướng, tư tưởng cơ bản của lý thuyết cho rằng ở các nước đang phát triển có trạng thái nhị nguyên của nền kinh tế, tức là có hai khu vực song song tồn tại, bao gồm:
- Khu vực kinh tế truyền thống, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, khu vực này
có tình trạng dư thừa lao động
- Khu vực kinh tế du nhập được hiểu là khu vực công nghiệp hiện đại Khu vực này có năng suất lao động cao, tích lũy lớn, tạo khả năng tự phát triển không phụ thuộc vào trình độ chung (dù còn rất thấp kém) của nền kinh tế sở tại
Theo lý thuyết này, trong quá trình công nghiệp hóa, công nghiệp được đặc biệt
ưu tiên phát triển mạnh và là khu vực thu hút lao động từ nông nghiệp vì vậy, mối tương quan trong phát triển của 2 khu vực nông nghiệp và công nghiệp không được chú trọng Tuy nhiên, trên thực tế Việt Nam trong thời gian qua cho thấy, để phát triển khu công nghiệp tập trung liên doanh với nước ngoài đã phải lấy đất nông nghiệp, giảm chỗ làm việc của nông dân song không thu hút được một cách thỏa đáng số lao động từ nông nghiệp ở khu vực đã lấy đất
Nghiên cứu cho vùng ĐBSCL, Vùng cũng đang hình thành hai khu vực : truyền thống và hiện đại Do vậy, tìm hiểu lý thuyết có thể ứng dụng xem xét khả năng phát triển khu vực công nghiệp hiện đại nhằm thu hút lao động từ nông nghiệp Việc xác định được một cơ cấu hợp lý giữa công nghiệp hiện đại với công nghiệp nhỏ nông thôn, cơ cấu hợp lý giữa công nghiệp và nông nghiệp phải dựa trên việc phân tích đặc tính của nguồn lao động của vùng, xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động; có như vậy,
cơ cấu ngành kinh tế đó mới tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vùng theo hướng tích cực
1.2.4 Lý thuyết về thay đổi cơ cấu của Hollis Chenery
Chenery dựa vào các công trình nghiên cứu về sự phát triển của nhiều quốc gia từ giai đoạn 1950 đến 1973 kết luận rằng : Tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong GDP
có xu hướng giảm dần, trong khi tỷ trọng công nghiệp trong GDP có xu hướng tăng dần tương ứng với GNP/người tăng dần Những quốc gia có GNP/người nhỏ hơn
Trang 17600USD được Chenery xếp vào giai đoạn trước của quá trình phát triển (kém phát triển), còn những quốc gia có thu nhập từ 600-3.000USD được xếp vào giai đoạn giữa (chuyển tiếp phát triển) và thu nhập trên 3000 USD được xếp vào giai đoạn sau (phát triển) Đặt trưng của từng giai đoạn phát triển chính là cơ cấu GDP và sự thay đổi giai đoạn từ thấp lên cao khi sự thay đổi cơ cấu GDP theo hướng tỷ trọng GDP nông nghiệp giảm dần
So với cách phân loại giai đoạn phát triển của Rostow, lý thuyết của Chenery trình bày giản đơn hơn và cụ thể hơn, nhất là dễ dàng lượng hóa đặc trưng của từng giai đoạn phát triển Mặc dù những mốc GNP/người để đánh giá một quốc gia đang ở giai đoạn nào của quá trình phát triển là không chính xác trong thực tế, nhưng đã nhận diện được cột mốc chuyển từ giai đoạn kém phát triển sang giai đoạn chuyển tiếp phát triển Lý thuyết này của Chenery có ý nghĩa quan trọng đối với các nước đang phát triển nhận diện được thời điểm nào, khu vực nào của nền kinh tế cần được ưu tiên phát triển Như vậy, nghiên cứu lý thuyết Chenery sẽ giúp đưa ra định hướng phát triển cơ cấu ngành kinh tế phù hợp với từng giai đoạn, việc xác định đúng hướng phát triển ngành kinh tế sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng
1.2.5 Lý thuyết phát triển cân đối liên ngành
Những người ủng hộ quan điểm phát triển cân đối (như R Nurkse, Rosenstein - Rodan) cho rằng muốn đạt tăng trưởng cao và cơ cấu kinh tế tiến bộ phải phát triển cân đối tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân Để đạt sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế đòi hỏi phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành nhằm giảm tối đa sự tắc nghẽn của nền kinh tế Theo như luận cứ của quan điểm phát triển cân đối thì, trong quá trình sản xuất đầu ra của ngành này là đầu vào của ngành kia như vậy sự phát triển cân đối đòi hỏi sự cân bằng trong cung cầu Như vậy, xác định một cơ cấu phù hợp với tăng trưởng hiệu quả cho vùng ĐBSCL sẽ phải dựa trên việc phát triển mối nối liên kết giữa các ngành và việc phát triển cân đối trong nội bộ ngành
1.2.6 Lý thuyết phát triển không cân đối hay “cực tăng trưởng”
Lý thuyết này phân tích sự hạn chế của các nhân tố phát triển như: vốn, lao động
kỹ thuật, khoa học – công nghệ, thị trường… của các nước đang phát triển, mặt khác là những hạn chế không cho phép phát triển cân đối, các nhà kinh tế theo đuổi lý thuyết
Trang 18này còn nhấn mạnh lợi thế do phát triển không cân đối đem lại, từ đó khuyến khích tập trung phát triển các ngành có điều kiện về nguồn lực Khái niệm “cực tăng trưởng” ở đây có nghĩa là những ngành, những lĩnh vực có tác dụng như “đầu tàu” lôi kéo toàn
bộ nền kinh tế phát triển
Sự hình thành các cực tăng trưởng như các động lực cho toàn bộ nền kinh tế là phương thức phù hợp với điều kiện hạn chế về nguồn lực (vốn, công nghệ, nguồn nhân lực, thị trường…) Như vậy, đối với việc nghiên cứu gắn chuyển dịch cơ cấu ngành với tăng trưởng kinh tế cần xem xét thế mạnh nguồn lực của Vùng, từ đó nắm bắt lợi thế để định hướng phát triển các ngành mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng theo đúng hướng
1.2.7 Lý thuyết “đàn sếu bay”
Người khởi xướng lý thuyết này là giáo sự Kaname Akamatsu đã lý giải sự “bắt kịp” (catch up) của các nước đang phát triển đối với các nước tiên tiến Trong sự đuổi kịp này, vấn đề cơ cấu ngành có ý nghĩa quan trọng Quá trình “bắt kịp” này được chia thành 4 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: các nước kém phát triển nhập hàng công nghiệp chế biến từ các nước phát triển và xuất khẩu trở lại một số sản phẩm thủ công, nông nghiệp
- Giai đoạn 2: Các nước chậm phát triển tiếp nhận đầu tư của các nước phát triển
để tự chế tạo lấy các hàng hóa công nghiệp tiêu dùng mà trước đây vẫn phải nhập Ðây
là giai đoạn tích lũy tư bản và mô phỏng công nghệ chế tạo của các nước phát triển
- Giai đoạn 3: Những sản phẩm công nghiệp thay thế nhập khẩu ở giai đoạn 2 đã
có thể trở thành những sản phẩm xuất khẩu Khoảng cách giữa những nước đi sau với các nước phát triển không còn bao xa, vì vậy mà số lượng và qui mô mặt hàng xuất khẩu ngày càng mở rộng
- Giai đoạn 4: xuất khẩu hàng công nghiệp tiêu dùng bắt đầu giảm xuống, nền công nghiệp đã đạt trình độ ngang bằng với các nước phát triển và bắt đầu chuyển giao một số sản phẩm công nghiệp tiêu dùng cho các nước kém phát triển hơn
Như vậy, với việc phân chia quá trình công nghiệp hóa của các nước đi sau thành các giai đoạn khác nhau trong mối liên quan với các nền kinh tế khác theo mô
Trang 19hình “đàn sếu bay” hay theo lý thuyết khoảng cách công nghệ và vòng đời sản phẩm thì quan điểm chuyển dịch cơ cấu ngành của các lý thuyết này có nhiều điểm tương đồng với lý thuyết phát triển không cân đối: các “cực tăng trưởng” trong các lý thuyết này thay đổi theo từng giai đoạn và nhân tố có ý nghĩa quyết định sự thay đổi này là lợi thế so sánh trong quan hệ ngoại thương; ngoài ra việc “bắt kịp” nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào việc lựa chọn các “cực tăng trưởng” trong mỗi gian đoạn nhất định
1.2.8 Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu của Moise Syrquin
Có thể tóm tắt lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế của M Syrquin gồm ba giai đoạn: (1) sản xuất nông nghiệp, (2) công nghiệp hóa, và (3) nền kinh tế phát triển
- Giai đoạn 1: có đặc trưng chính là sự thống trị của các hoạt động của khu vực khai thác, đặc biệt là nông nghiệp, như là nguồn lực chính trong việc gia tăng sản lượng của các hàng hóa khả thương (tradables)
- Giai đoạn 2: có đặc điểm nổi bật là tầm quan trọng trong nền kinh tế đã được chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực chế biến và chỉ tiêu chính để đo lường
sự dịch chuyển này là đóng góp của khu vực chế biến vào tăng trưởng kinh tế chung ngày càng tăng lên Sự đóng góp vào tăng trưởng của nhân tố vốn vẫn được giữ ở mức cao trong hầu hết giai đoạn 2 do có sự gia tăng mạnh của tỷ lệ đầu tư
- Giai đoạn 3: là giai đoạn giảm sút tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong cơ cấu GDP hay trong cơ cấu lực lượng lao động Khu vực dịch vụ trở thành khu vực quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP cũng như cơ cấu lao động Ở giai đoạn này, đóng góp vào tăng trưởng của nhân tố vốn giảm xuống, và có
sự suy giảm trong tốc độ gia tăng dân số nên nhân tố đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng là nhân tố tổng năng suất nhân tố (Total Factor Productivity - TFP)
Có thế nói rằng, lý thuyết chuyển dịch cơ cấu của M Syrquin là một bức tranh tổng thể khá chính xác về sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thế giới thời
kỳ hiện đại Thực tiễn phát triển kinh tế thế giới thời gian qua đã cho thấy rằng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới đã và đang chuyển qua bốn giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Nông nghiệp – Công nghiệp – Dịch vụ
Trang 20+ Giai đoạn 2: Công nghiệp – Nông nghiệp – Dịch vụ
+ Giai đoạn 3: Công nghiệp – Dịch vụ – Nông nghiệp
+ Giai đoạn 4: Dịch vụ – Công nghiệp – Nông nghiệp
Như thế, tầm quan trọng của khu vực dịch vụ tại bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng tuỳ thuộc phần lớn vào giai đoạn phát triển đương thời
1.3 Một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
có Việt Nam) trong thời kỳ 1965-1998 Nghiên cứu của T.Gylfason và G.Zoega cho thấy mối quan hệ nhân quả : khi tăng trưởng chậm có thể kìm hãm chuyễn dịch cơ cấu ngành kinh tế đúng như chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có thể thúc đẩy tăng trưởng K.Yilmaz (2005) trong luận án “cơ cấu công nghiệp và thị trường lao động: nghiên cứu về tăng năng suất” cho thấy tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đối với tăng trưởng năng suất trong thời kỳ nghiên cứu (1965-1999) là rất nhỏ
Theo PGS.TS.Ngô Doãn Vịnh (2005) cơ cấu giữa các ngành lớn phản ánh các tương quan tỷ lệ, vai trò, vị trí của mỗi nhóm ngành và liên hệ giữa chúng trong nền kinh tế Cơ cấu theo nhóm ngành lớn phản ánh trình độ phân công lao động xã hội theo ngành ở cấp cao nhất và trình độ phát triển của sức sản xuất Khi xem xét cơ cấu ngành kinh tế phải chú ý đến tỷ trọng hay mức đóng góp của các sản phẩm chủ lực cho nền kinh tế, cũng như các sản phẩm chứa hàm lượng công nghệ cao, hàm lượng chất xám cao đến mức nào và chú ý tới cơ cấu nội bộ ngành của các ngành kinh tế
Nghiên cứu của NL.Hương (2008) dựa trên nghiên cứu của M.Peneder (2002) và T.Gylfason & G.Zoega (2004) và bộ số liệu của 61 tỉnh giai đoạn 1999-2003 cho thấy rằng: lao động và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là hai yếu tố có tác động lớn nhất
Trang 21đến sự biến động của GDP trong giai đoạn nghiên cứu; trong giai đoạn 1999-2003, khi
tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm 1% thì trung bình quy mô GDP tăng khoảng 1,33% (các biến khác không đổi) Dựa trên nghiên cứu của M.Peneder (2002) và T.Gylfason
& G.Zoega (2004) và nghiên cứu của NL.Hương (2008) xây dựng mô hình hồi quy ước lượng tác động chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng cơ cấu kinh tế cho vùng ĐBCSL Dạng hàm hồi quy cụ thể như sau:
Trong đó:
- DSLD: dân số trong độ tuổi lao động, đơn vị nghìn người
- VDT/GDP: tỷ lệ vốn đầu tư xã hội trên tổng sản phẩm quốc nội, đơn vị tính % -TTNN: tỷ trọng GDP ngành nông nghiệp trong tổng GDP, đơn vị %
Kết luận chương 1
Từ việc nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về gắn chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế với tăng trưởng và kinh nghiệm từ các nghiên cứu liên quan:
- Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề quan trọng của lý luận về phát
triển kinh tế Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế gắn liền với tốc độ và tiến trình tăng trưởng của nền kinh tế
- Các lý thuyết nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế xoay quanh vấn đề…Cho thấy, nghệ thuật của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế chính là bố trí chiến lược cho từng
bộ phận (công nghiệp, nông nghiệp, nhân lực…) và triển khai đồng bộ việc khai thác các yếu tố về nguồn lực và ưu thế (bên trong, bên ngoài) Cơ cấu ngành kinh tế của cả nước
và của mỗi vùng (tỉnh) không phải lúc nào cũng đồng nhất với nhau mà có sự khác biệt nhất định về tính chất Chính vì vậy khi hoạch định chính sách cơ cấu cho một vùng (tỉnh) cần phải lưu ý phân biệt rõ tính chất cơ cấu ngành của cả nước và vùng (tỉnh) mới đảm bảo được tính khoa học Do vậy, việc phân tích đặc điểm của các yếu tố đầu vào như yếu tố địa lý, nguồn lao động, kết cấu hạ tầng, bối cảnh phát triển…là vô cùng
Trang 22cần thiết trong việc xác định được thế mạnh kinh tế của vùng, những yếu tố này sẽ tạo tiền đề cho chuyển dịch cơ cấu theo hướng hợp lý, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- Mặc dù cơ cấu kinh tế mang tính khách quan, tính lịch sử xã hội nhưng lại chịu tác động, chi phối rất lớn bởi mục tiêu của Nhà nước Nhà nước có thể tác động gián tiếp lên tỷ lệ của cơ cấu ngành kinh tế bằng các định hướng phát triển, đầu tư, những chính sách khuyến khích hay hạn chế phát triển các ngành nghề nhằm bảo đảm sự cân đối của nền kinh tế theo mục đích đề ra trong từng giai đoạn nhất định
- Đối với vùng ĐBSCL, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của Vùng đã được phê duyệt định hướng thực hiên, nên trọng tâm bài viết là nghiên cứu giải pháp để xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Vùng phù hợp với mục tiêu tăng trưởng, tạo động lực
để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho Vùng trong giai đoạn nay đến 2020
Trang 23CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÙNG
ĐBSL THỜI KỲ 2000-2010
Từ những cơ sở lý thuyết ở chương một, chương này đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng bằng phương pháp hồi quy và thông kê mô tả Thông qua việc phân tích sẽ xác định một số yếu tố đầu vào đẩy nhanh việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho Vùng trong giai đoạn 2010 - 2020
2.1 Đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng Vùng giai đoạn 2000-2010
2.1.1 Ước lượng tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng
Giới thiệu mô hình
Để ước lượng tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đối với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ở vùng ĐBSCL, bộ số liệu được sử dụng sẽ là bộ số liệu ở cấp tỉnh, dạng hàm được sử dụng là hàm hồi quy dữ liệu bảng (panel data) có hiệu ứng cố định Việc sử dụng mô hình kinh tế lượng với bộ số liệu dưới dạng dữ liệu bảng trong nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tăng trưởng đã được Islam đề xuất lần đầu tiên vào năm 1995 và sau đó đã được áp dụng rộng rãi Sử dụng bộ số liệu dữ liệu bảng sẽ cho phép kiểm soát được vấn đề không đồng nhất giữa các đối tượng nghiên cứu (ở đây là các tỉnh) vì bộ số liệu dữ liệu bảng sẽ cho phép chỉ thể hiện vấn đề không đồng nhất ở hệ số chặn Dạng hàm hồi quy tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tới GDP ở Vùng được xây dựng dựa trên nghiên cứu của M Peneder (2002) và T Gylfason & G.Zoega (2004) và nghiên cứu của Nguyễn Lan Hương (2007)
Dạng hàm hồi quy cụ thể như sau:
lnGDPi,t = a + b1 lnDSLDi,t + b2 VDT/GDPi,t-1 + b3ln(gVDTi,t) + b4TTNNi,t-1 + ei,t
Trang 24Biến phụ thuộc GDPi,t được đo bằng GDP của tỉnh i, ở năm t Các biến giải thích được đưa vào để giải thích các tác động quan trọng ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế là:
Biến thể hiện ảnh hưởng của lao động tới tăng trưởng kinh tế là biến tổng dân số trong độ tuổi lao động (lnDSLD) Tại quy mô dân số xem xét, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động càng cao thì GDP có xu hướng tăng trưởng cao hơn do một nhân tố đầu vào sản xuất quan trọng là lao động tăng Vì vậy, b1 được kỳ vọng mang dấu dương Tác động của vốn đầu tư (vốn vật chất) được thể hiện ở hai biến là tỷ lệ đầu tư/GDP năm trước đó và tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư Như vậy, các hệ số b2 và b3
sẽ thể hiện tác động trong ngắn hạn và dài hạn của vốn đầu tư đối với tăng trưởng và các hệ số này được kỳ vọng sẽ có dấu dương
Biến thể hiện tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành tới GDP là biến tỷ trọng GDP của ngành nông nghiệp trong tổng GDP năm trước đó Khi nền kinh tế phát triển,
cơ cấu ngành chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp và dịch vụ trong GDP, do vậy, dấu của b4 được kỳ vọng là dấu âm
Số liệu và mô tả biến
Để hồi quy hàm trên, bộ số liệu sử dụng là số liệu của 13 tỉnh, thành phố, trong
khoảng thời gian từ 2000 -2010 Số liệu được xử lý từ niên giám thống kê của các tỉnh
- GDP cố định được tính theo giá năm 1994, đơn vị tỷ đồng;
- Dân số trong độ tuổi lao động: Ký hiệu DSLD, đơn vị nghìn người, được xử lý
từ nguồn số liệu niêm giám thống kê các tỉnh, các điều tra dân số việc làm
- Hệ số giảm phát đầu tư (investment delator): do số liệu về hệ số giảm phát đầu
tư không có sẵn nên tác giả sử dụng hệ số giảm phát của nền kinh tế (GDP deflator) làm biến xấp xỉ thay thế Vốn đầu tư xã hội giá cố định được tính bằng cách lấy vốn đầu tư xã hội giá hiện hành/hệ số giảm phát đầu tư, đơn vị tỷ đồng
- Tỷ lệ vốn đầu tư xã hội trên GDP: ký hiệu VDT/GDP, đơn vị %; tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư: ký hiệu gVDT, đơn vị %
Trang 25- Tỷ trọng GDP ngành nông nghiệp trong GDP: ký hiệu TTNN, đơn vị %
Kết quả ước lượng
Kết quả kiểm định Hausman test
Để xem xét viêc nên sử dụng phương pháp fixed model hay random model để xử
lý mô hình, ta thực hiện kiểm định Hausman test, được kết quả như bảng sau:
Prob>chi2 = 0,98>0,05 sử dụng random model
Kết quả ước lượng mô hình theo phương pháp random model
Trang 26của các tỉnh là 35% Theo kỳ vọng dấu của b4 là dấu âm, nhưng hồi quy cho kết quả dương, cho thấy rằng nông nghiệp là thế mạnh của các tỉnh vùng ĐBSCL, tăng tỷ trọng nông nghiệp vẫn có khả năng làm cho quy mô GDP tăng lên Khi tỷ trọng nông nghiệp tăng 1% điểm thì GDP sẽ tăng 0,0051%/năm
- Mô hình 2: Xét tác động của tỷ trọng nông nghiệp và lao động đến giá trị gia tăng của các tỉnh trong thời kỳ 2000-2010 R-sq=0,62 khả năng dùng lao động và tỷ trọng nông nghiệp giải thích cho tăng trưởng của các tỉnh vùng ĐBSCL là 62% Khi tỷ trọng nông nghiệp tăng lên 1% điểm và quy mô lao động tăng lên 1% thì quy mô GDP tăng lên 0,0093%/năm
- Mô hình 3: Xét tác động của tỷ trọng nông nghiệp, lao động trong độ tuổi, tốc
độ tăng vốn đầu tư đến đến tăng trưởng kinh tế Với P-value=0,99 ta thấy xét về mặt thống kê với mức ý nghĩa 5%, hệ số b3 không có ý nghĩa Hay trong thời kỳ 2000-210, tức trong ngắn hạn, tốc độ tăng vốn không tác động đến GDP của các tỉnh vùng ĐBSCL
-Mô hình 4: Xét tác động của tỷ trọng nông nghiệp, lao động trong độ tuổi, tốc
độ tăng vốn đầu tư, tỷ lệ vốn đầu tư trên GDP đến đến tăng trưởng kinh tế Với value=0,678, xét về mặt thống kê với mức ý nghĩa 5%, hệ số b2 không có ý nghĩa Hay trong thời kỳ 2000-2010, vốn không tác động đến quy mô GDP
P-Như vậy, Đối với kết quả hồi quy, mô hình 2 được xem xét, cho thấy tỷ trọng nông nghiệp và quy mô lao động là hai yếu tố có tác động đến quy mô GDP 13 tỉnh vùng ĐBSCL và việc sử dụng vốn đầu tư của Vùng trong giai đoạn 2000-2010 là chưa hiệu quả, chưa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Điều này cho thấy vai trò của ngành nông nghiệp đối với tăng trưởng kinh tế của Vùng ĐBSCL Trong xu thế công nghiệp hóa của đất nước thì nông nghiệp của Vùng vẫn được xem là thế mạnh trong giai đoạn 2000-2010
2.2.2 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Vùng và tăng trưởng giai đoạn 2000-2010
Nền kinh tế vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 - 2010 có những bước phát triển vượt bậc Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt trên 7,2% năm; với tốc độ tăng