1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh long an giai đoạn 2011 2015 tầm nhìn năm 2020

72 407 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Long An đến năm 2015 tầm nhìn 2020 có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực đối với sự nghiệp ph

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN N

  

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

QUY HOẠCH-PHÁT TRIỂN NGUỒN

NHÂN LỰC TỈNH LONG AN GIAI ĐOẠN

2011-2015 TẦM NHÌN NĂM 2020

GVHD : Thầy Võ Thành Tâm

SVTH : Châu Hoài Bão

MSSV : 107204703 LỚP : KTLĐ & QLNNL 1 KHÓA : 33

NIÊN HỌC : 2007 – 2011

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NĂM 2011

Trang 2

 



Trang

Lời cảm ơn

Nhận xét của cơ quan thực tập

Nhận xét của giáo viên hướng dẫn

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của quy hoạch 1

2 Mục đích, yêu cầu và phạm vi quy hoạch 1

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Kết cấu của quy hoạch 2

CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC 3

I Khái niệm và vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển KT-XH 3

1 Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 3

a Khái niệm nguồn nhân lực 3

b Khái niệm phát triển nguồn nhân lực 4

2 Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển KT-XH 4

II Các nhân tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực tỉnh Long An 6

1 Những nhân tố trong nước 6

2 Những nhân tố bên ngoài 6

III Các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực và yêu cầu khi đánh giá 7

1 Các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực 7

2 Các yêu cầu khi đánh giá 9

IV Kinh nghiệm thực tiễn phát triển nguồn nhân lực ở một số nước trong khu vực 10

1.Singapo 10

2 Indonexia 12

3 Thái Lan 13

Trang 3

TÓM TẮT CHƯƠNG I 14

CHƯƠNG II : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH LONG AN 15

I Giới thiệu về tỉnh Long An 15

1 Vị trí địa lý 15

2 Điều kiện tự nhiên 16

a Địa hình và khí hậu 16

b Sông hồ và tài nguyên nước 16

c Sự phù hợp của đất đai cho phát triển 16

d.Tài nguyên khoáng sản 17

e.Tài nguyên rừng 17

f.Tài nguyên thủy sản 17

II Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Long An 17

1 Về tăng trưởng kinh tế 17

1.1 Trong lĩnh vực Nông - Lâm – Ngư 17

1.2 Trong lĩnh vực công nghiệp 19

1.3 Trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ 20

2 Về văn hoá - đời sống xã hội 20

3 Về y tế- bảo vệ sức khoẻ 21

4 Về công tác giáo dục – đào tạo 21

III Sự tất yếu của việc phát triển nguồn lực lao động ở tỉnh Long An 21

1 Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội cùng với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế 21

2 Sự cần thiết phát triển thị trường lao động 22

3 Mở rộng kinh doanh và hội nhập quốc tế 23

TÓM TẮT CHƯƠNG II 23

CHƯƠNG III : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở TỈNH LONG AN 24

I Thực trạng về số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực tỉnh Long An 24

1 Thực trạng về số lượng nguồn nhân lực tỉnh Long an 24

1.1 Dân số và tình hình phân bổ dân số tỉnh Long An 24

1.2 Cơ cấu nguồn nhân lực của tỉnh Long An 24

a Dân số và nguồn lao động 24

b Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi 25

Trang 4

c Cơ cấu theo dân tộc 25

d Cơ cấu theo tôn giáo 25

1.3 Đánh giá, phân tích nguồn có khả năng cung lao động 25

II Hiện trạng về chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Long An 26

1.Trình độ học vấn của nhân lực 26

2 Trình độ chuyên môn - kỹ thuật 26

3 Đặc điểm tâm lý - xã hội và những kỹ năng mềm của nhân lực 28

II Thực trạng về tình hình sử dụng nguồn nhân lực của tỉnh Long An 28

1 Trạng thái hoạt động của nhân lực 29

2 Trạng thái việc làm của nhân lực 29

III Thực trạng đào tạo nhân lực của tỉnh Long An 31

1.Thực trạng hệ thống đào tạo 31

1.1 Hệ thống dạy nghề 31

a) Mạng lưới cơ sở dạy nghề 31

b) Năng lực tuyển sinh đào tạo nghề 31

c) Cơ cấu ngành nghề, hình thức đào tạo 31

1.2 Hệ thống các trường trung cấp chuyên nghiệp 32

1.3 Hệ thống các trường đại học, cao đẳng 32

2 Kết quả đào tạo nhân lực 32

IV Đánh giá tổng quan những mặt mạnh, hạn chế, thách thức và thời cơ đối với nhân lực của tỉnh Long An 33

1 Những điểm mạnh của nhân lực tỉnh Long An 34

2 Những điểm yếu của nhân lực tỉnh Long An 34

3 Nguyên nhân 34

a Nguyên nhân của điểm mạnh 35

b Nguyên nhân của điểm yếu 35

4 Thời cơ 35

5 Thách thức 36

Tóm tắt chương III 37

CHƯƠNG IV : PHƯƠNG HƯỚNG - GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH LONG AN 38

I Phương hướng phát triển nhân lực thời kỳ 2011-2020 38

1 Quan điểm phát triển nhân lực 38

2 Mục tiêu phát triển nhân lực 38

2.1 Mục tiêu chung 38

Trang 5

2.2 Mục tiêu cụ thể 38

3 Dự báo cung cầu lao động đến năm 2020 39

3.1 Dự báo cung lao động thời kỳ 2011 – 2020 39

3.2 Dự báo cầu lao động thời kỳ 2011-2020 39

3.3 Dự báo nhu cầu lao động qua đào tạo 40

4 Phương hướng phát triển nhân lực thời kỳ 2011-2020 40

4.1 Nâng cao trình độ học vấn của nhân lực 40

4.2 Nâng cao trình độ chuyên môn-kỹ thuật của nhân lực 41

4.3 Tạo việc làm, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tiến bộ và nâng cao hiệu quả sử dụng lao động 42

4.4 Hợp lý hoá phân bố nhân lực theo lãnh thổ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội các địa bàn trong tỉnh Long An 42

II Giải pháp phát triển nhân lực thời kỳ 2011-2020 42

1 Dự báo nhu cầu vốn và giải pháp huy động vốn cho phát triển nhân lực 42

1.1 Nhu cầu vốn để đào tạo nhân lực công nhân kỹ thuật 42

1.2 Khả năng huy động vốn 43

2 Đổi mới lý nhà nước về phát triển nhân lực 43

2.1 Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về phát triển nhân lực 43

2.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về giáo dục, đào tạo và pháp luật về phát triển nhân lực 44

2.3 Hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực, đổi mới phương pháp quản lý, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động bộ máy quản lý 44

2.4 Cải tiến và tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành về phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh Long An 44

3 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách và công cụ khuyến khích và thức đẩy phát triển nhân lực 45

3.1 Chính sách đầu tư và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế 45

3.2 Chính sách tài chính và sử dụng ngân sách cho phát triển 45

3.3 Chính sách việc làm, bảo hiểm, bảo trợ xã hội 46

3.4 Chính sách huy động các nguồn lực trong xã hội cho phát triển nhân lực 46

3.5 Chính sách đãi ngộ và thu hút nhân tài 47

3.6 Chính sách phát triển thị trường lao động và hệ thống công cụ, thông tin thị trường lao động 49

Trang 6

4 Mở rộng, tăng cường sự phối hợp và hợp tác để

phát triển nhân lực 49

4.1 Sự phối hợp và hợp tác với các cơ quan, tổ chức Trung ương 49

4.2 Sự phối hợp và hợp tác với các tỉnh bạn 50

4.3 Mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế 50

Tóm tắt chương IV 50

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của quy hoạch

Với diện tích 4.492 km2, dân số gần 1,5 triệu người, Long An vừa là tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, vừa là một tỉnh thuộc ĐBSCL Long An đóng vai trò nối kết giữa miền Đông và Tây Nam bộ, là vùng giãn nở công nghiệp và đô thị của Thành phố Hồ Chí Minh Vì vậy, có thể hình dung Long An là chiếc cầu nối giữa thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh Tây Nam Bộ và cũng là cầu nối giữa thị trường nội địa và quốc tế thông qua hệ thống cảng biển và các cảng sông nội địa Đây là điều kiện thuận lợi để Long

An phát triển kinh tế, giao thương hàng hóa trong nước và nước ngoài

Trong giai đoạn 2006-2010, Long An đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao, các ngành sản xuất, kinh doanh đều phát triển mạnh, hầu hết đều đạt và vượt các chỉ tiêu kế hoạch 5 năm đã đề ra Tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân trong giai đoạn 2006-2010 đạt 11,8% (dự kiến trong năm 2010, GDP của tỉnh từ 12,5-13,0%), cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: tỷ trọng khu vực Nông-Lâm-Ngư nghiệp giảm từ 42,6% năm 2005 xuống còn 36,7% năm 2010; khu vực Công nghiệp - xây dựng tăng từ 27,9% lên 34,8%; khu vực Thương mại - dịch vụ ổn định ở mức 29,5% Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Long An

có đến 23 khu công nghiệp (11 khu đã đi vào hoạt động) và 43 cụm công nghiệp, hệ thống

cơ sở hạ tầng của tỉnh ngày càng hoàn chỉnh, thu nhập bình quân đầu người năm 2010 khoảng 23,2 triệu đồng/năm

Bên cạnh những thành tựu đạt được trong thời gian qua, Long An cũng gặp không ít khó khăn và thách thức trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Một trong những thách thức hàng đầu đặt ra là việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực của tỉnh như một nhân tố quan trọng đối với phát triển kinh tế Với hơn 800.000 lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế, Long An có một lợi thế với nguồn lao động trẻ dồi dào Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, trình độ tay nghề còn thấp, và đó là thách thức lớn đến sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Long An

Ngoài ra, mạng lưới các cơ sở đào tạo theo ngành nghề trên địa bàn chưa đảm bảo năng lực đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội do quy mô hoạt động còn hạn chế, đội ngũ cán bộ, giảng viên chưa đủ mạnh, ngành nghề đào tạo chưa nhiều, cơ sở vật chất đào tạo nghề còn nhiều hạn chế

Vì thế, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Long An đến năm 2015 tầm nhìn

2020 có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực đối với sự nghiệp phát triển kinh tế tỉnh Long An nói riêng và của cả nước nói chung

2 Mục đích, yêu cầu và phạm vi quy hoạch

2.1 Mục đích, yêu cầu

Xây dựng quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Long An với mục tiêu chung là xây dựng một đội ngũ nhân lực phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh,

Trang 8

của Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long và của cả nước trong thời gian tới Với các mục tiêu

cụ thể sau:

- Cập nhật hệ thống số liệu nguồn nhân lực của tỉnh đã qua đào tạo và chưa qua đào tạo giai đoạn 2006-2010, nhằm phân tích, đánh giá một cách đầy đủ, chính xác thực trạng phát triển và các tiềm năng nguồn nhân lực của tỉnh để tiếp tục xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực đến năm 2015 và tầm nhìn 2020 Đồng thời tìm ra những khó khăn, hạn chế thách thức cần khắc phục trong giai đoạn tới

- Dự báo nhu cầu, xác định phương hướng và luận chứng hệ thống các giải pháp phát triển nhân lực của tỉnh đến năm 2020 với tách riêng 2 thời kỳ 2011-2015 và 2016-2020 (bao gồm quan điểm, mục tiêu, phương hướng và hệ thống các giải pháp) để có được nguồn nhân lực trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của tỉnh trong sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế

- Đề xuất các cơ chế, chính sách phù hợp và xây dựng một hệ thống các giải pháp đồng bộ về: vốn đầu tư, định hướng đào tạo, nhu cầu đào tạo, mạng lưới cơ sở đào tạo phát triển nguồn nhân lực, sự phối hợp với các ban ngành của tỉnh và tỉnh bạn để thực hiện quy hoạch

-Kiến nghị với Chính Phủ, Bộ ngành liên quan giúp Long An thực hiện tốt quy hoạch phát triển nhân lực của tỉnh Long An đến năm 2015 và tầm nhìn 2020 một cách thiết thực và hiệu quả

2.2 Phạm vi quy hoạch

Toàn bộ nhân lực trên địa bàn tỉnh với những nội dung về phát triển trí lực (bao gồm trình độ học vấn, trình độ chuyên môn-kỹ thuật, kỹ năng làm việc, quản lý…), tình hình sử dụng nhân lực, trong đó đặt trọng tâm vào các nhóm đối tượng đặc biệt có vai trò quyết định

và đột phá trong phát triển nhân lực và phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh (nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý, nhân lực khoa học-công nghệ, công nhân kỹ thuật và doanh nhân)

3 Phương pháp nghiên cứu

Dựa vào dữ liệu những năm trước đổng thời kết hợp các phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp, dự báo để thực hiện chuyên đề

4 Kết cấu của quy hoạch

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Long An giai đoạn 2011- 2015 tầm nhìn năm 2020 gồm 4 phần chính :

Chương 1: Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực

Chương 2: Tổng quan tình hình kinh tế-xã hội tỉnh Long An

Chương 3: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tỉnh Long An

Chương 4: Phương hướng – Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tỉnh Long An

Trang 9

CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC

I Khái niệm và vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển KT-XH

1 Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

a Khái niệm nguồn nhân lực

Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực

Theo Liên Hợp Quốc thì: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”

Ngân hàng thế giới (World Bank) cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân” Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên

Tổ chức lao động quốc tế thì cho rằng : “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn

bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”

Nguồn nhân lực ở đây được hiểu theo hai nghĩa:

Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn

bộ dân cư có thể phát triển bình thường

Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho

sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động

Kinh tế phát triển cho rằng: “Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động”

Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng

Như vậy theo khái niệm này, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động Đó là những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong

độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học…

Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị có thể hiểu :

“Nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã

Trang 10

hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục

vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước”

b Khái niệm phát triển nguồn nhân lực

Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên đặc biệt”, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế

Bởi vậy việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm

vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tư cho con người là đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững

Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực

Theo quan niệm của Liên hiệp quốc: “Phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống nguồn nhân lực”

Có quan điểm cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con người,

cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội”

Một số tác giả khác lại quan niệm: “Phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt: thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệ thống phân công lao động

và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế- xã hội”

Từ những luận điểm trình bày trên, có thể kết luận rằng :

“Phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực Nói một cách khái quát nhất, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh tế- xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người”

2.Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển KT-XH

Trong mối quan hệ giữa nguồn nhân lực với phát triển kinh tế thì nguồn nhân lực luôn luôn đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế trong các nguồn lực để phát triển kinh tế

Theo nhà kinh tế người Anh, William Petty cho rằng: “Lao động là cha, đất đai là

mẹ của mọi của cải vật chất”; C.Mác cho rằng: “ Con người là yếu tố số một của lực lượng sản xuất” Trong truyền thống Việt Nam xác định: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” Nhà tương lai học người Mỹ Avill Toffer nhấn mạnh vai trò của lao động tri thức, theo ông

Trang 11

ta: “Tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; chỉ có trí tuệ của con người thì khi sử dụng không những không mất đi mà còn lớn lên”.( Power Shift-Thăng trầm quyền lực- Avill Toffer)

Thứ nhất là, nguồn nhân lực là nguồn lực chính quyết định quá trình tăng trưởng và

phát triển kinh tế- xã hội, là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác

Giữa nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học công nghệ… có mối quan hệ nhân quả với nhau, nhưng trong đó nguồn nhân lực được xem là năng lực nội sinh chi phối quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật ở chỗ, nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố hữu hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả Vì vậy, con người với tư cách là nguồn nhân lực, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực và là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Ngày nay một quốc gia có thể không giàu về tài nguyên, điều kiện thiên nhiên không mấy thuận lợi nhưng nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững nếu hội đủ bốn điều kiện :

+ Một là, quốc gia đó biết đề ra đường lối kinh tế đúng đắn

+ Hai là, quốc gia đó biết tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó

+ Ba là, quốc gia đó có đội ngũ công nhân kỹ thuật tay nghề cao và đông đảo

+ Bốn là, quốc gia đó có các nhà doanh nghiệp tài ba

Thứ hai là, nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của

sự nghiệp CNH-HĐH; là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công, là sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao Đối với nước ta đó là một quá trình tất yếu

để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN

Khi đất nước ta đang bước vào giai đoạn CNH-HĐH rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri thức trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, do đó yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và phát triển bền vững Đảng ta đã xác định phải lấy việc phát huy chất lượng nguồn nhân lực làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững

Thứ ba là, nguồn nhân lực là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy

tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước nhằm phát triển bền vững

Thứ tư là, chất lượng của nguồn nhân lực là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 12

Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lớn

II Các nhân tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực tỉnh Long An

Phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển KT-XH của tỉnh nhanh và bền vững theo hướng “Công nghiệp - Thương mại dịch vụ - Nông nghiệp” sẽ là yếu tố cơ bản quyết định sự chuyển dịch cơ cấu lao động của tỉnh trong thời gian tới

Định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Long An trong thời gian tới sẽ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó ưu tiên phát triển những ngành có giá trị gia tăng cao, hạn chế thu hút đầu tư và đầu tư vào những ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày

Hiện nay, Long An với dân số gần 1,5 triệu người và trên 900.000 người trong lực lượng lao động Nên thời kỳ 2011-2020 được xem là thời kỳ lao động với cơ cấu “vàng” của tỉnh Vì thế, nếu khai thác tốt thời kỳ này sẽ góp phần tạo ra của cải vật chất và tích lũy lớn cho tương lai của tỉnh Long An Tuy nhiên, với nguồn nhân lực trẻ dồi dào cũng đặt ra nhiều thách thức như: số lượng đông mà chất lượng thấp sẽ dẫn đến nguy cơ thất nghiệp cao

và với số lượng lớn, gây áp lực đến xã hội, tệ nạn xã hội và trở thành gánh nặng về an sinh

xã hội khi số lao động này già đi

Việc ứng dụng khoa học, công nghệ, dây chuyền, thiết bị, máy móc mới đòi hỏi lao động ngành nghề, kiến thức và trình độ kỹ năng lao động cao hơn, thay đổi cơ cấu lao động theo trình độ nghề và kỹ năng lao động Lợi thế về nguồn lao động dồi dào, giá rẻ sẽ dần mất đi và sẽ trở thành bất lợi nếu chưa qua đào tạo, vì thế đòi hỏi công tác đào tạo và tái đào tạo phải đổi mới và phù hợp với nhu cầu của xã hội

Nhận thức được tầm quan trọng và vai trò của lực lượng lao động đối với sự nghiệp phát triển kinh tế nên tỉnh Long An đã không ngừng đề ra các chương trình, chính sách thu hút và đãi ngộ nhân tài để góp phần củng cố và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Long An

2.Những nhân tố bên ngoài

Trong xu hướng toàn cầu hóa, sẽ tạo điều kiện áp dụng rộng rãi sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin nên mọi quốc gia đều có cơ hội trao đổi hợp tác, liên kết quốc tế trong việc thu hút đầu tư vào phát triển giáo dục - đào tạo ở nước ta, tạo tiền đề cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam nói chung và tỉnh Long

An nói riêng

Trang 13

Ngoài ra, xu hướng hội nhập quốc tế tạo ra sự phân công lao động quốc tế trong các khâu của quá trình sản xuất để tạo ra một thành phẩm, tạo điều kiện cho việc chuyên môn hóa lao động và phát huy lợi thế của tỉnh

Với vị trí địa lý thuận lợi, Long An là nơi có môi trường đầu tư hấp dẫn Vì thế để chuẩn bị cho sự tiếp nhận đầu tư từ nước ngoài, và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này, Long An cần đi trước trong việc phát triển nguồn nhân lực để tiếp nhận, trang bị kiến thức,

kỹ năng quản lý, tổ chức lao động tiên tiến, phong cách làm việc hiện đại của một xã hội phát triển

III Các tiêu chí đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực và yêu cầu khi đánh giá

1 Các tiêu chí đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực

Cơ cấu nhân lực

Cơ cấu nhân lực là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về nguồn nhân lực

Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau như : cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi.v.v… Cơ cấu nguồn nhân lực của một quốc gia nói chung được quyết định bời

cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế theo đó sẽ có một tỷ lệ nhất định nhân lực Chẳng hạn như

cơ cấu nhân lực lao động trong khu vực kinh tế tư nhân của các nước trên thế giới phổ biến

là 5-3-1 cụ thể là 5 công nhân kỹ thuật, 3 trung cấp nghề và 1 kỹ sư Đối với nước ta cơ cấu này có phần ngược tức là số người có trình độ đại học, trên đại học nhiều hơn số công nhân

kỹ thuật

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là điều kiện tiên quyết trong thực hiện các nhiệm vụ

và tạo ra sản phẩm công việc Trình độ là mức độ về sự hiểu biết, về kỹ năng được xác định hoặc đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nào đó thể hiện ở văn bằng chứng chỉ mà nhân lực nhận được thông qua quá trình học tập Tiêu chí đánh giá trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân lực gồm hai loại:

- Tiêu chí về trình độ văn hoá: trình độ văn hoá của nhân lực là mức độ tri thức của nhân lực đạt được thông qua hệ thống giáo dục Hiện nay trình độ văn hoá ở nước ta được chia thành các cấp độ từ thấp đến cao (tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông trung học)

- Tiêu chí về trình độ đào tạo nghề nghiệp: trình độ đào tạo nghề nghiệp của nhân lực là trình độ chuyên môn của nhân lực đã được đào tạo qua các trường lớp với văn bằng chuyên môn phù hợp với công việc được giao Trình độ đào tạo nghề nghiệp ứng với hệ thống văn bằng hiện nay được chia thành các trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, trên đại học

Kỹ năng nghề nghiệp

Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế Kỹ năng nghề nghiệp bao giờ cũng gắn với một hoạt động cụ thể ở một lĩnh vực cụ thể như kỹ năng ra quyết định, kỹ năng phối hợp, kỹ năng viết báo cáo, kỹ năng

Trang 14

soạn thảo văn bản Đây là sản phẩm của quá trình tư duy kết hợp với việc tích luỹ kinh nghiệm thông qua đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, công tác

Kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng nhân lực khi thực thi nhiệm vụ Nhân lực cần có những kỹ năng nhất định để thực thi nhiệm vụ Tuy nhiên, có những kỹ năng cần thiết cho mọi nhân lực và có những kỹ năng không thể thiếu đối với một nhóm nhân lực nhất định phụ thuộc vào tính chất công việc mà họ đảm nhận Việc phân chia kỹ năng nghề nghiệp thành các nhóm là cơ sở để xác định nội dung bồi dưỡng kỹ năng cho các nhóm nhân lực khác nhau Căn cứ vào kết quả mà các kỹ năng hướng đến thì kỹ năng nghề nghiệp đối với nhân lực có thể chia thành các nhóm sau:

- Nhóm kỹ năng liên quan đến đề xuất, ban hành, thực hiện và kiểm tra các chính sách, các quyết định quản lý như kỹ năng thu thập, tổng hợp, phân tích và đánh giá thông tin; kỹ năng triển khai quyết định quản lý; kỹ năng phối hợp; kỹ năng đánh giá dư luận

- Nhóm kỹ năng quan hệ, giao tiếp như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng lắng nghe,

kỹ năng thuyết phục, kỹ năng tiếp dân

- Nhóm kỹ năng tác nghiệp cá nhân như kỹ năng viết báo cáo, kỹ năng bố trí lịch công tác, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng thuyết trình

Tất cả các kỹ năng nêu trên đều chịu ảnh hưởng quan trọng của trình độ chuyên môn, khả năng cá nhân và kinh nghiệm công tác của nhân lực trong quá trình thi hành công

vụ Bởi vậy, đây là nội dung phức tạp trong quá trình đánh giá chất lượng nhân lực, dễ gây nhầm lẫn với trình độ chuyên môn nghiệp vụ Vì vậy, khi đánh giá theo tiêu chí này cần xác định các kỹ năng tốt phục vụ cho hoạt động; các kỹ năng chưa tốt, chưa đáp ứng được yêu cầu; các kỹ năng cần thiết mà nhân lực chưa có, các kỹ năng không cần thiết mà nhân lực có

Tính chuyên nghiệp

Tính chuyên nghiệp của nhân lực thể hiện ở kết quả thực hiện công việc được giao, khả năng thích ứng và khắc phục khó khăn khi thực thi công vụ với tính kỷ luật cao, vô tư không vụ lợi trong việc chấp hành và thừa hành pháp luật được đặt trong mối quan hệ và sự hợp tác với đồng nghiệp, công dân, tổ chức Tính chuyên nghiệp của một người làm một nghề nhất định luôn gắn với đặc thù của nghề đó Bởi vậy, xác định tính chuyên nghiệp của nhân lực phải gắn với đặc thù của hoạt động công vụ, đảm bảo thực thi công vụ với hiệu quả cao nhất

Để đánh giá tính chuyên nghiệp cần phân tích sản phẩm đầu ra mà nhân lực đã thực hiện, đối chiếu với kết quả của các nhân lực khác cùng thực hiện hoạt động đó trong bối cảnh tương tự để xác định hiệu quả làm việc của nhân lực Tiêu chí này có liên quan trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan nhà nước, nên cần đặc biệt chú trọng và coi đó

là tiêu chí cơ bản

Đạo đức công việc

Trang 15

Đạo đức là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh

và đánh giá cách ứng xử của con người trong mối quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội

Nó được xã hội đánh giá về hành vi thái độ, cách ứng xử của nhân lực khi làm việc

Dư luận xã hội đánh giá các biểu hiện đạo đức của nhân lực qua sự tán thành hay không tán thành, ca ngợi hay phê phán hoạt động của nhân lực Sự tán thành hay phê phán

đó luôn gắn với mục tiêu xã hội, lợi ích của toàn dân và tính nhân văn Tuy nhiên, sự đánh giá cụ thể còn phụ thuộc vào các yếu tố chi phối hành vi trong công việc như: hành vi đó có đúng pháp luật không? Hiệu quả cao không? Thể hiện thái độ ứng xử đúng mực không? Hành vi đó “có lý” và “có tình” không?

Sức khoẻ

Thể lực là cơ sở nền tảng để phát triển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ của con người vào hoạt động thực tiễn Tất cả nhân lực đều phải có sức khoẻ, dù làm công việc gì, ở đâu Sức khoẻ là nền tảng quan trọng cho mọi hoạt động Chất lượng đội ngũ nhân lực biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần, thái độ, động cơ và ý thức lao động

Sức khoẻ của nhân lực là một tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng nhân lực Sức khoẻ là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên Hiện nay, Bộ Y tế quy định ba trạng thái sức khoẻ của người lao động: loại A là loại có thể lực tốt, loại B là trung bình, loại C là yếu Nhân lực phải đảm bảo sức khoẻ mới có thể duy trì việc thực hiện công việc liên tục với áp lực cao

2.Các yêu cầu khi đánh giá

Tính phù hợp: tính phù hợp thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau như sự phù

hợp giữa các chỉ số đánh giá với mục tiêu trong mỗi tổ chức hoặc mối liên hệ giữa công việc đã được xác định thông qua phân tích công việc với các chỉ số đánh giá thiết kế trong phiếu đánh giá.v.v…

Tính nhạy cảm: tính nhạy cảm đòi hỏi hệ thống đánh giá phải có những công cụ đo

lường chuẩn xác các mức độ khác nhau của sự hoàn thành công việc hay không hoàn thành công việc, tức là đạt được hay không đạt được mục tiêu

Tính tin cậy: thể hiện sự nhất quán của các đánh giá trong toàn bộ quá trình đánh

giá cho dù chúng được thực hiện với phương pháp nào Tức là hệ thống đánh giá phải đảm bảo sao cho đối với mỗi đối tượng đánh giá thì kết quả đánh giá của các chủ thể đánh giá khác nhau phải thống nhất về cơ bản

Tính đƣợc chấp nhận: tính này thể hiện và cũng đặt ra đòi hỏi với hệ thống đánh

giá mà trong đó các chỉ số đánh giá phải được đối tượng đánh giá chấp nhận, tức là thuyết phục được họ

Tính thực tiễn : thể hiện ở việc các phương pháp đánh giá phải khả thi với những

công cụ đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện không chỉ với đối tượng đánh giá mà cả với nhà quản lý

Trang 16

Tính không lỗi : đánh giá nguồn nhân lực là hoạt động của con người do vậy

thường hay gặp phải các lỗi như: thiên vị, xu hướng trung bình, thái cực, định kiến, ảnh hưởng của các sự kiện gần nhất.v.v…để tránh các lỗi này các nhà khoa học đã nghiên cứu

và đưa ra yêu cầu về tính không lỗi của hệ thống đánh giá

IV Kinh nghiệm thực tiễn phát triển nguồn nhân lực ở một số nước trong khu vực

Hiện nay trên thế giới có những nước có trình độ phát triển nguồn nhân lực rất cao

cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng như: Nhật Bản, Hoa Kỳ và một số nước Tây Âu, bên cạnh

đó có một số nước mới phát triển, có những đặc điểm kinh tế - xã hội, văn hoá gần giống nước ta như: Indonexia, Malayxia, Singapore, Thái Lan… Nhận thức được tầm quan trọng này ngoài việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực nói chung, các quốc gia thành viên Asean rất coi trọng vấn đề phát triển nguồn nhân lực và coi đây là một nhân tố quyết định thúc đẩy

sự đổi mới bộ máy nhà nước, đào tạo không chỉ nhằm đạt hiệu quả cao nhất đối với các nhiệm vụ hiện tại mà còn chuẩn bị nguồn lực cho các yêu cầu trong tương lai

Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của các nước trên thế giới giúp chúng ta có thể vận dụng những điểm tương đồng trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay nói chung và ở tỉnh Long An nói riêng

Để thực hiện những mục tiêu trên, từ đầu những năm 60 chính phủ tiến hành sát nhập các trường của từng nhóm cộng đồng dân tộc lại với nhau và thực hiện thống nhất chương trình giảng dạy trong cả nước Từ năm 1966, chính phủ quy định tất cả học sinh ở cấp tiểu học buộc phải học song ngữ (Tiếng Anh và tiếng mẹ đẻ) Đó là bước ngoặt quan trọng không những tạo dựng bản sắc dân tộc quốc gia Singapo, mà còn tạo ra sự bình đẳng,

cơ hội tìm kiếm công ăn việc làm Vì trước đó những học sinh tốt nghiệp trường Anh ngữ

dễ kiếm công ăn việc làm hơn và có mức lương cao hơn so với các học sinh tốt nghiệp trường Hoa hay trường Malai hoặc trường Tamin Từ năm 1968 trở đi, tất cả học sinh nam

và một nửa học sinh nữ ở cấp trung học lớp dưới bắt buộc học thêm các môn khoa học và

kỹ thuật thường thức Tất cả các học sinh ở cấp trung học lớp trên bắt đầu được đào tạo hướng nghiệp Trong giáo dục và đào tạo, chính phủ rất coi trọng giáo dục pháp luật, chú trọng đến các môn khoa học tự nhiên, khoa học ứng dụng, khoa học quản lý kinh tế và nghiệp vụ kinh doanh Chính phủ luôn luôn động viên những người lao động học tập người

Trang 17

Nhật, vươn lên thành người lao động kiểu mẫu Ngoài việc giáo dục kiến thức khoa học, kỹ thuật và pháp luật, Chính phủ luôn chủ trương giáo dục văn hóa truyền thống và tinh thần đoàn kết dân tộc quốc gia Đây là một trong những mắt xích cơ bản của chiến lược phát triển nguồn nhân lực mà chính phủ Singapo đã và đang theo đuổi

Từ cuối những năm 70, đầu những năm 80, Singapo bước sang giai đoạn cải tổ cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại hóa công nghệ và sử dụng nhiều chất xám, mà người ta thường gọi là: “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai tại Singapo” Một trong những biện pháp để thực hiện chương trình cải tổ là tăng cường phát triển những nguồn năng lực chủ đạo của đất nước, trong đó việc nâng cao kỹ xảo và thể lực cho người lao động là hướng được ưu tiên Yêu cầu thích nghi nguồn nhân lực với giai đoạn phát triển mới này đã đặt ra cho Singapo nhiều thách thức

Để khắc phục những yếu điểm của mình và đáp lại những thách thức trên, ngay từ đầu những năm 80 Singapo đã triển khai “Cương lĩnh hành động đến năm 1999” Mục tiêu của cương lĩnh này là biến Singapo đến cuối thế kỷ XX trở thành một nước có nền văn minh toàn diện, một xã hội có độ chín về văn hóa, một thành phố hoàn hảo, một xã hội ưu việt Một phần trong cương lĩnh này nhấn mạnh đến việc cần thiết đầu tư phát triển và thích nghi nguồn nhân lực, nhằm đối phó với những thách thức về cạnh tranh của các nước đã phát triển Để làm được việc này, chính phủ Singapo đã áp dụng những biện pháp sau đây:

- Tiến hành cải cách giáo dục ở cấp phổ thông, như tăng cường giảng dạy Anh ngữ

và Hoa ngữ, khuyến khích và phát động phong trào học thêm ngoại ngữ thứ 3 (như tiếng Nhật, Đức, hoặc Pháp)

- Tăng cường giờ dạy các môn khoa học kỹ thuật và tin học trở thành môn học bắt buộc ngay từ cấp phổ thông

- Tăng cường giảng dạy khoa học ứng dụng, khoa học quản lý, nghiệp vụ kinh doanh và computer hóa ở cấp đại học

- Tăng cường giáo dục Khổng giáo và văn hóa Phương Đông trong các trường trung học và đại học, nhằm tạo cho lớp trẻ có tính thích nghi cao trong một xã hội công nghiệp đầy sôi động, nhằm hạn chế chủ nghĩa các nhân ích kỷ, nâng cao tính tập thể và kỷ luật

- Mở rộng hệ thống các trường dạy nghề, các trung tâm đào tạo năng lực chuyên môn và các trung tâm nghiên cứu ứng dụng, từ cấp nhà nước đến các ngành và công ty, trong đó chú trọng mở rộng hệ thống các trường dạy nghề công nghiệp và các trường đại học

Trang 18

giảng viên và chương trình giảng dạy để thành lập các trung tâm đào tạo và nghiên cứu tại nước này Cách làm này không những tạo thêm nguồn vốn cho phát triển nguồn nhân lực,

mà còn là một trong những cách thức tốt nhất cho lực lượng lao động tiếp cận và lĩnh hội một cách nhanh chóng những kiến thức và công nghệ tiên tiến nhất của thế giới Từ những năm 80 có nhiều trung tâm nghiên cứu và đào tạo do người nước ngoài giúp đỡ được xây dựng ở nước này, như Học viện Nhật-Singapo, Học viện Pháp-Singapo, Học viện Đức-Singapo, Trường Mỹ-Singapo,.v.v…Ngoài ra, chính phủ còn khuyến khích các tổ chức cộng đồng quyên góp tiền của xây trường học cho con em mình

Bước sang đầu thế kỷ XXI, Singapo lại đưa ra cương lĩnh xây dựng “Vườn trường toàn cầu” và “Kế hoạch nhân lực thế kỷ XXI”, trong đó nhấn mạnh đến mục tiêu biến Singapo trở thành trung tâm “chất xám” đứng đầu thế giới về cả đào tạo nguồn nhân lực, thu hút nhân tài và phát minh công nghệ mới Những tài năng trên thế giới, nhất là các giáo

sư, tiến sỹ, các nhà quản lý giỏi, học sinh, sinh viên tốt nghiệp loại ưu tú được chính phủ nước này mời chào, trong đó có cả việc trao quyền công dân Singapo

2 Indonexia

Trong những thập kỷ trở lại đây, Indonexia trở thành một nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Nhà nước có chính sách đầu tư thích đáng cho giáo dục – đào tạo và đặc biệt có sự cải cách mạnh mẽ chương trình đào tạo cho phù hợp với yêu cầu về khoa học kỹ thuật Đưa giáo dục kỹ thuật vào bậc trung học, bên cạnh đó áp dụng hệ thống trung học phổ thông đã tạo nên định nghề sớm cho học sinh Những học sinh theo học giáo dục kỹ thuật khi tốt nghiệp đã có một trình độ tay nghề nhất định có thể tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh Trong thực tế chất lượng đào tạo kỹ thuật phụ thuộc vào các môn học thuộc chương trình giảng dạy có phù hợp với việc chuyên môn hoá sản xuất của vùng có trường này Có sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và xí nghiệp trong vấn đề giảng dạy, thực tập thì chất lượng đào tạo nghề rất cao Chính phủ quan tâm đến đào tạo nghề tại các

xí nghiệp, hình thức này chủ yếu vừa học vừa làm, học và hành được gắn kết một cách chặt chẽ, học sinh dễ tiếp thu và tay nghề được nâng lên một cách nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu của công việc

Luật pháp Indonexia quy định phải có một hệ thống quản lý, kiểm tra và phát triển giáo dục đại học công và tư Hệ thống các trường đại học đặt dưới sự kiểm tra của nhà nước Nếu trường đại học nào đó được hội đồng thanh tra nhà nước đánh giá là tốt trong ba năm liên tục thì Chính phủ sẽ hỗ trợ kinh phí

Công tác đào tạo công chức cho nền công vụ ở Indonexia cũng rất được coi trọng bao gồm 2 nội dung chính: Đào tạo tiền công vụ và đào tạo qua công việc Các cơ quan có thể cử công chức của mình đi học ở các cơ sở đào tạo hay cao học của nhà nước hay tư nhân hoặc các chương trình ngoài nước, đây là chương trình rất được quan tâm, Chính phủ Indonexia rất coi trọng việc cử công chức đi học tập tại nước ngoài theo các chương trình

do các nguồn trong nước hoặc các nhà tài trợ Giáo dục và đào tạo công vụ là một bộ phận quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực, trong tổng thể phát triển bộ máy nhà nước và phát triển quốc gia

Trang 19

Năm 1969 luật đại học được ban hành và cho phép thành lập các trường đại học tư Nét nổi bật của giáo dục đại học ở Thái Lan là đại học tư phát triển mạnh Bộ đại học là cơ quan điều phối các hoạt động của các trường đại học tư, trình lên Chính phủ những kiến nghị thông qua thư ký hội đồng trường đại học tư, thường các thư ký hội đồng là người của

Bộ đại học

Việc đào tạo và phát triển công chức cũng được Chính phủ Thái Lan ưu tiên hàng đầu trong trong phát triển quốc gia, đồng thời ngân sách chi cho các hoạt động đào tạo và phát triển là các khoản đầu tư của nhà nước Mới đây trong khuôn khổ Hội nghị các nước Asean về các vấn đề công vụ Thái Lan đã thành lập một Trung tâm nguồn về phát triển lãnh đạo thực hiện các công việc như thu thập thông tin, dữ liệu, đã tổ chức một cuộc hội thảo về

“Các nhà lãnh đạo làn sóng mới” nhằm trao đổi về vấn đề xây dựng các nhà quản lý năng động và có hiệu quả đáp ứng cho những biến đổi và thách thức đặt ra trong vùng, trong khu vực

Qua những kinh nghiệm trên cho thấy nhà nước Việt Nam cần đặc biệt quan tâm đến phát triển giáo dục nghề nghiệp, coi đó là chìa khoá cho sự thành công của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá Kết hợp một cách hài hoà giữa đầu tư trực tiếp của Nhà nước cho công tác giáo dục, đào tạo nghề nghiệp với huy động các nguồn lực khác Về tài chính Nhà nước thành lập Quỹ phát triển nguồn nhân lực và trực tiếp cung cấp tài chính chủ yếu cấp cho giáo dục – đào tạo Chính sách khuyến khích các doanh nghiệp và khu vực tư nhân tham gia đào tạo nghề nghiệp Chuyển hướng mạnh từ đào tạo nguồn lực lao động đại trà sang đào tạo chuyên sâu, chú trọng đến kỹ thuật viên lành nghề và cán bộ quản lý Tăng cường ban hành cơ chế mở về giáo dục đào tạo để đảm bảo đào tạo nghề nghiệp thích ứng với nhu cầu của thị trường lao động

Trang 20

TÓM TẮT CHƯƠNG I

Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực đã cho chúng ta có một cái nhìn tổng quan về khái niệm và vai trò của nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Nước ta đang trong quá trình CNH-HĐH, tiếp cận nền kinh tế tri thức thì vấn đề nguồn nhân lực phải được đặt lên hàng đầu Và tỉnh Long An với định hướng phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới là công nghiệp hoá, hiện đại hóa, trong đó

ưu tiên phát triển những ngành có giá trị gia tăng cao, hạn chế thu hút đầu tư và đầu tư vào những ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày Định hướng này đòi hỏi một lực lượng lao động có tay nghề, kiến thức và trình độ kỹ năng lao động cao hơn Học hỏi và chọn lọc những kinh nghiệm của các nước mới phát triển trong khu vực Asean sẽ giúp tỉnh Long An rút ngắn và đạt được những mục tiêu đề ra về các chính sách phát triển nguồn nhân lực

Trang 21

CHƯƠNG II : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI

LONG AN

I Giới thiệu về tỉnh Long An

1 Vị trí địa lý

Long An là một trong những tỉnh thuộc vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, trước đây

do 3 tỉnh sát nhập lại là: Kiến Tường, Hậu Nghĩa và Long An Phía Đông giáp với Thành phố Hồ Chí Minh và sông Soài Rạp, Phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Bắc giáp tỉnh Tây Ninh và tỉnh SVâyRiêng-Campuchia, phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang

Tỉnh Long An có vị trí địa lý khá đặc biệt là tuy nằm ở vùng ĐBSCL song lại thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam (VPTKTTĐPN), được xác định là vùng kinh tế động lực có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam Long

An có đường ranh giới quốc gia với Campuchia dài : 137,7 km, với hai cửa khẩu Bình Hiệp (Mộc Hóa) và Tho Mo (Đức Huệ) Long An là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ với ĐBSCL, nhất là có chung đường ranh giới với TP Hồ Chí Minh, bằng hệ thống giao thông đường bộ như : quốc lộ 1A, quốc lộ 50, các đường tỉnh lộ : ĐT.823, ĐT.824, ĐT.825 v.v Đường thủy liên vùng và quốc gia đã có và đang được nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới, tạo động lực và cơ hội mới cho phát triển Ngoài ra, Long An còn được hưởng nguồn nước của hai hệ thống sông Mê Kông và Đồng Nai

Long An có 14 đơn vị hành chính bao gồm: thị xã Tân An (nay là thành phố Tân An), huyện Bến Lức, huyện Cần Đước, huyện Cần Giuộc, huyện Châu Thành, huyện Đức Hòa, huyện Đức Huệ, huyện Mộc Hóa, huyện Tân Hưng, huyện Tân Thạnh, huyện Tân Trụ, huyện Thạnh Hóa, huyện Thủ Thừa và huyện Vĩnh Hưng

BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH LONG AN

Trang 22

Tỉnh Long An nằm cận kề với Thành phố Hồ Chí Minh, với vị trí cầu nối giữa hai vùng là: Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam gồm: Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bà Rịa Vũng Tàu - Bình Dương và Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, lại giáp ranh biên giới với nước bạn Campuchia nên rất thuận lợi cho việc giao thương, đầu tư chuyển giao công nghệ, tiêu thụ hàng hoá nông sản phẩm

Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có những tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế -

xã hội của Long An, nó vừa là thị trường tiêu thụ lớn, vừa là trung tâm hỗ trợ đầu tư, kỹ thuật, kinh nghiệm quản trị và chuyển giao công nghệ, thông tin cho Long An Yếu tố này là lợi thế trong giao lưu kinh tế, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và thu hút vốn đầu tư

Nguồn tài nguyên du lịch của tỉnh phân bố tập trung và kề với Thành phố Hồ Chí Minh, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển khu du lịch sinh thái, các hoạt động dịch vụ

du lịch đáp ứng nhu cầu du lịch cuối tuần

Vùng Nam Long An có điều kiện đất đai thuận lợi phát triển công nghiệp và hệ thống giao thông thuận tiện đối với Thành phố Hồ Chí Minh, nên về mặt kinh tế có khả năng liên kết chặt chẽ với sự phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh và cả Nam Bộ

2 Điều kiện tự nhiên

a Địa hình và khí hậu

Địa hình tỉnh Long An chủ yếu bằng phẳng Các khu vực đất thấp chiếm tới 66% diện tích tự nhiên Cao độ trung bình 0.75m, cao nhất là 6.5m ở Đức Hòa Địa hình có xu thế thấp dần từ tây lên bắc, ra phía đông và phía nam Địa hình tỉnh Long An được chia thành ba khu vực chính: khu vực phù sa cổ dọc biên giới, khu vực đồng bằng ngập nước và khu vực cửa sông từ phía bắc quốc lộ 1A xuống đông nam của tỉnh

Tỉnh nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, nhiệt độ ôn hòa, nắng nhiều và gắt, tốt cho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Nhiệt độ trung bình ở đây là

27oC, thấp nhất vào tháng Giêng và cao nhất vào tháng Năm Lượng mưa trung bình là 1.447,7 – 1.886 mm/năm, chia làm hai mùa rõ rệt, từ tháng 5 tới tháng 11 và từ tháng 12 đến tháng 4 Độ ẩm không khí trung bình là 79-82% Số giờ nắng mỗi năm là 2.718 giờ Đây là những điều kiện lý tưởng để sản xuất và canh tác quanh năm

b Sông hồ và tài nguyên nước

Long An có 4 sông chính là vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây, sông Vàm Cỏ và sông Rạch Cát Các sông này và kênh rạch khác trong tỉnh đóng vai trò là kênh cấp thoát nước quan trọng đối với sản xuất và sinh hoạt của người dân trong tỉnh

Mạng lưới mặt nước trong tỉnh đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, GTVT và hoạt động thường nhật của người dân cũng như tác động tới môi trường, thiên tai và quan cảnh

c.Sự phù hợp của đất đai cho phát triển

Trang 23

Hầu hết đất đai của tỉnh Long An được phát triển từ phù sa hỗn hợp nên đất mềm và rỗng Ở các khu vực thấp, có sự tích tụ của các vật liệu độc hại nên đất bị chua phèn Có 6 nhóm đất chính của tỉnh Đây là điển hình của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long nơi đất bị nhiễm phèn và nhiễm mặn, không phù hợp cho phát triển nông nghiệp

d.Tài nguyên khoáng sản

Các tài liệu điều tra, nghiên cứu địa chất cho đến nay cho thấy Long An là tỉnh nghèo khoáng sản, ngoại trừ một số ít than bùn tập trung ở các vùng trũng Đồng Tháp Mười, trữ lượng than thay đổi theo từng vùng và chiều dày lớp than từ 1,6 – 6m, ước tính khoảng 2,5 triệu tấn Ngoài ra tỉnh còn có những mỏ đất sét, trữ lượng cát khoảng 11 triệu

m3 và có trữ lượng nước khoáng ở độ sâu từ 40 – 100m đang được khai thác

e.Tài nguyên rừng

Sau nhiều năm cố gắng phục hồi, toàn tỉnh Long An hiện có khoảng 64.642 ha đất

có rừng chủ yếu là rừng tràm Ngoài ra có cây bạch đàn, cây điều, tràm gió, bàng lá…tập trung ở 3 huyện: Vĩnh Hưng, Tân Thạnh và Mộc Hoá

Đáng chú ý là các nguồn từ tài nguyên động thực vật của hệ sinh thái rừng tràm trên đất trũng, phèn ở Long An đã bị khai thác và tàn phá Trước đây hơn 0,5 triệu ha của vùng trũng Đồng Tháp Mười (trong đó phần thuộc tỉnh Long An đã chiếm xấp xỉ 56% diện tích)

là vùng sinh thái rừng (chủ yếu là rừng tràm) ngập phèn Đây là nơi nổi tiếng phong phú về các loài động vật thiên nhiên như: trăn, rắn, rùa, cá, ong mật và rất nhiều loài chim nước trú ngụ nhưng đã bị khai thác và tàn phá nặng nề Vì vậy, cần có biện pháp bảo vệ, khôi phục,

mở rộng diện tích rừng thích hợp, tạo điều kiện phát triển ngành du lịch Nên mục tiêu phát triển ngành lâm nghiệp là trồng mới cây phát tán giai đoạn 2005 – 2010 là 7,2 triệu cây, giai đoạn 2010 – 2015 là 10 triệu cây, tỷ lệ che phủ chung đạt 20,7% trong đó riêng của rừng đạt 19%

f.Tài nguyên thủy sản

Nghề nuôi trồng thủy sản khá phát triển, đặc biệt là nuôi tôm sú, cua lột ở huyện Cần Đước, Cần Giuộc Diện tích đất nuôi trồng thủy sản là 43.999 ha, giảm so với năm

2005 là 6.893 ha Diện tích đất nuôi trồng thủy sản chiếm 1,6% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh

II Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Long An

Trang 24

Mặc dù ngành trồng trọ tăng trưởng ổn định với tốc độ tăng 4,7% trong giai đoạn 2005-2009 nhưng ngành lâm nghiệp lại giảm 0,1%/năm còn ngành ngư nghiệp tăng 2,1% trong giai đoạn này

Năm 2008, tỉnh Long An có tổng số 370.000 ha đất nông nghiệp, giảm so với 378.000 ha năm 2005 Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp chiếm 82%, tiếp đến là đất lâm nghiệp (16%) và đất nuôi trồng thủy sản(2%) Trong giai đoạn 2005-2008, đất trồng thủy sản tăng nhẹ Tuy vậy, đất trồng lúa khá ổn định ở mức 290.000 ha năm 2005 và 287.000 ha năm 2008

Các loại cây trồng chủ yếu gồm các giống lúa và và các loại cây khác như rau, cây

ăn quả, ngô, mía đường, đậu phộng, điều, v.v…Lúa là cây trồng quan trọng nhất và sản lượng đã tăng từ 1,6 triệu tấn năm 2000 lên 2,2 triệu tấn năm 2009 Trong giai đoạn này, năng suất lúa cũng tăng từ 2,5 tấn/ha lên 4,7 tấn/ha

Gạo và hạt điều là các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Long An Năm 2008, xuất khẩu gạo và hạt điều đạt kim ngạch 217 triệu USD, chiếm 25% tổng kim ngach xuất khẩu của tỉnh là 886 triệu USD

Lâm nghiệp

Long An có diện tích rừng lớn thứ 3 của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long Tính tới cuối năm 2005, diện tích rừng của tỉnh là 68.748 ha, chiếm 15,3% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh, tập trung các huyện vùng Đồng Tháp Mười Các loại cây rừng chính là rừng và bạch đàn Rừng Long An góp phần quan trọng vào việc bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học ở các vùng đất ngập nước của vùng Đồng Tháp Mười Long An là tỉnh có diện tích rừng tram lớn nhất trong vùng ĐBSCL Lợi nhuận từ cây tràm từng lên tới 20 triệu đồng/ha trong giai đoạn 1998-2005 khi giá gỗ tràm còn cao trên thị trường Tuy nhiên, lợi nhuận thay đổi rất lớn tùy thuộc vào thị trường Cần thúc đẩy phá triển công nghệ chế biến gỗ để sản xuất gỗ ép, nâng cao hiệu quả kinh tế từ cây tràm và cây xà cừ Một số doanh nghiệp có

kế hoạch sử dụng gỗ cao su kết hợp với gỗ tràm để sản xuất gỗ nội thất

Tràm gió

Trang 25

Ngư nghiệp

Long An là tỉnh có tiềm năng phát triển thủy sản đa dạng Về mặt môi trường nước, tỉnh có vùng nước ngọt khoảng 30.000 ha, vùng nước lợ: 10.000 ha và vùng nước ngọt-lợ theo mùa: khoảng 20.000 ha Ngoài diện tích mặt nước của các sông, kênh, rạch và ao, mương v.v… diện tích mặt ruông cũng có thể nuôi trồng thủy sản Vào mùa lũ, khu vực Đồng Tháp Mười có khoảng 100.000 ha bị ngập sâu trên 1m và kéo dài 3-4 tháng cũng là tiềm năng lớn có thể khai thác nuôi thủy sản như lươn, cá lóc, cá rô, cua, v.v…

Khai thác thủy sản của tỉnh bao gồm khai thác hải sản và khai thác thủy sản nội địa

Do tỉnh chưa có ngư trường nên chủ yếu các tàu thuyền của Long An khai thác hải sản tại các tỉnh lân cận như Tiền Giang, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau với phương thức đánh bắt ven

bờ Khai thác thủy sản nội địa tập trung tại các huyện vùng Đồng Tháp Mười, đặc biệt là vào mùa lũ

Theo báo cáo của chi cục thủy sản ( Sở NNPTNT Long An), qua 4 năm 2006-2009, diện tích nuôi trồng thủy sản đã giảm đi 5.900 ha, chủ yếu là do giảm diện tích nuôi tôm nước lợ Tuy nhiên, do người nuôi tôm đã chuyển đổi mô hình nuôi nên tuy diện tích có giảm nhiều nhưng sản lượng tôm nước lợ giảm không đáng kể

Cùng với tốc độ mở rộng các khu, cụm công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn tỉnh, đặc biệt các huyện vùng hạ như Cần Giuộc, Cần Đước, Châu Thành, Tân Trụ, khu vực nuôi và diện tích nuôi trồng thủy sản nước lợ đã bị thu hẹp dần ở vùng Hạ Năm 2005, diện tích nuôi tôm nước lợ của huyện Cần Đước là 3.626 ha nhưng đến năm 2009 diện tích nuôi tôm nước lợ chỉ còn 2.042 ha, giảm 1.584 ha Tương tự, diện tích nuôi tôm ở huyện Cần Giuộc cũng giảm từ 5.029 ha năm 2005 xuống còn 1.476 ha năm 2009 Trong những năm tới, vùng nuôi trồng thủy sản nước lợ sẽ còn tiếp tục giảm và cần được quy hoạch lại

để sản xuất thủy sản được ổn định hơn

1.2 Trong lĩnh vực công nghiệp

Do Long An nằm giáp TP.HCM nên tăng trưởng công nghiệp của TP.HCM có thể ảnh hưởng tới các loại hình công nghiệp của Long An bởi các cơ sở công nghiệp ở TP.HCM muốn tìm kiếm địa điểm mở rộng hoặc xây dựng cơ sở sản xuất mới ở Long An Dù có sự khác nhau về tỷ trọng của từng ngành nhưng cơ cấu sản xuất công nghiệp cơ bản của tỉnh Long An có môi trường đầu tư tốt hơn môi trường đầu tư của TP.HCM – nơi chi phí sản xuất ngày càng tăng, Long An có thể thu hút các cơ sở công nghiệp của TP.HCM chuyển địa điểm sản xuất sang tỉnh Long An

Tính tới tháng 5/2010, tỉnh có 23 khu công nghiệp với tổng diện tích 9.775 ha, trong

đó 4 khu đã được Chính Phủ phê duyệt nhưng chưa triển khai do thiếu quy hoạch sử dụng đất tới năm 2010( bao gồm KCN Thế Kỷ (120 ha), KCN Phú Long (292 ha), KCN Long Hậu 3 (1.165 ha), KCN Hựu Thạnh (550 ha), 2 khu đang xây dựng ( đã triển khai một phần, bao gồm KCN DNN- Long Phú 3 với 94 ha, còn 168 ha, KCN Phú An Thạnh đã triển khai

392 ha, còn 300 ha) Hiện nay đang xây dựng 19 KCN với diện tích 7.097 ha và 42 cụm công nghiệp với tổng diện tích 5712 ha Tính tới nay đã có 12 KCN được tỉnh giao đất

Trang 26

( tổng diện tích 3.439 ha) và 14 CCN được tỉnh giao đất (1.415 ha) Theo đó, tổng diện tích đất giao cho các KCN và CCN là 4.854 ha

Việc phát triển rầm rộ các khu và cụm công nghiệp là nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng mong muốn của tỉnh Tuy nhiên, cần đảm bảo sự cân bằng giữa khuynh hướng thiên

về nông nghiệp và phát triển công nghiệp ồ ạt Vì vậy, cần đẩy mạnh các biện pháp nâng cao vị thế công nghiệp của tỉnh Điều này đòi hỏi phát triển bền vững và cung ứng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của ngành công nghiệp cũng như những ngành dịch vụ hổ trợ

1.3 Trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ

Hình thức kinh doanh bán sỉ và bán lẻ chiếm khoảng 27% Theo đó, ngành giao thông vận tải, thông tin liên lạc, trung gian tài chính và bất động sản cũng chiếm tỷ lệ cao

Cụ thể như tốc độ tăng trưởng lĩnh vực bất động sản khá cao so với các ngành khác Có rất nhiều khu công nghiệp mới và các cụm công nghiệp đang được xây dựng Chính điều này

đã góp phần phát triển lĩnh vực kinh doanh bất động sản Trong ngành này, thành phần kinh

tế hộ gia đình đóng góp 79% tỉ trọng sản lượng, tiếp theo là thành phần kinh tế tư nhân với 12% Quy mô đầu tư theo số lao động mỗi đơn vị kinh doanh cũng rất khác nhau tùy hình thức sở hữu Đơn vị quốc doanh trung bình là 219, còn khối tư nhân là 9 Thành phần kinh

tế hộ gia đình chỉ là 1,6 Năng suất tính theo giá trị sản xuất của cơ sở kinh doanh cũng khác nhau xét theo từng hình thức sở hữu, tỷ lệ thuận với số lượng lao động Các đặc điểm chính bao gồm:

+ Doanh thu bán lẻ chiếm đa số trong tổng giá trị sản xuất của KV III (hơn 80%), tiếp đó là ngành kinh doanh nhà hàng và khách sạn (14%) Ngành du lịch và dịch vụ vẫn chiếm tỷ trọng thấp

+ Giá trị sản xuất khu vực nội địa chiếm 99% tổng số Vai trò của đầu tư phát triển

du lịch vẫn còn hạn chế

+ Khu vực kinh tế hộ gia đình chiếm tỷ trọng 79% trong tổng số, tiếp theo là khu vực kinh tế tư nhân( 12%) Tỷ trọng khu vực kinh tế nhà nước còn khá hạn chế

Kinh tế địa phương với sự hoạt động năng nổ của đầu tư hộ gia đình sẽ trở nên mạnh

mẽ và tiếp tục phát triển khi nền kinh tế tăng trưởng Tuy nhiên, thực tế cho thấy Long An vẫn chưa cung ứng được các dịch vụ chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp hiện đại và các nhóm có thu nhập cao

2 Về văn hoá - đời sống xã hội

Thực hiện việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ngày càng đi vào chiều sâu Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư đạt được nhiều kết quả thiết thực, số ấp, khu phố văn hoá ngày càng tăng Văn hoá, văn nghệ, thông tin, báo chí, thể dục thể thao, giải trí được quan tâm đầu tư xây dựng

cơ sở vật chất, đổi mới về nội dung và hình thức hoạt động, góp phần quan trọng vào việc đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hoá của nhân dân Sóng phát thanh truyền hình phủ kín toàn tỉnh, báo Đảng được phát hành đến tận cơ sở, đội ngũ văn nghệ sỹ được quan

Trang 27

tâm chăm sóc; các giá trị văn hoá được bảo tồn, giữ gìn và phát triển Xã hội hoá hoạt động thể thao thành tích cao có chuyển biến mới

Giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo thông qua đào tạo nghề, sàn giao dịch việc làm, thực hiện đề án xuất khẩu lao động, đặc biệt là kết hợp lồng ghép với chương trình mục tiêu quốc gia, hoạt động thu hút đầu tư trong nước, nước ngoài của tỉnh…đã giải quyết việc làm cho trên 150.000 lao động, xuất khẩu 1.893 lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 25% lên 36%, giảm tỷ lệ lao động không có việc làm từ 5,4% xuống còn 4,48%, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu lao động; tăng tỷ trọng lao động phi nông nghiệp từ 46% lên 55% và tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm từ 54% xuống còn 45%

3 Về y tế- bảo vệ sức khoẻ

Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của nhân dân được cải thiện rõ rệt Hệ thống

cơ sở khám chữa bệnh từ tỉnh đến cơ sở được tập trung đầu tư xây dựng, đội ngũ y bác sỹ được quan tâm đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm từng bước đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân Công tác

y tế dự phòng, chăm sóc sức khoẻ ban đầu, các chương trình y tế quốc gia được triển khai thực hiện tốt, khống chế được các loại dịch bệnh Chính sách y tế cho người nghèo được quan tâm thực hiện

Công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em có tiến bộ, công tác dân số đạt kết quả tốt, tỷ lệ tăng dân số giảm còn 1,34% (chỉ tiêu là 1,4%) Năm 2009 tỷ lệ xã có bác sỹ đạt 90,5% (kế hoạch là 100%), duy trì 100% xã có y sỹ hoặc nữ hộ sinh gắn với củng cố mạng lưới y tế Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi năm 2009 giảm còn dưới 14,58%

4 Về công tác giáo dục – đào tạo

Đầu tư cho giáo dục ngày càng tăng, quy mô phát triển giáo dục tiếp tục phát triển,

số lượng học sinh và đội ngũ giáo viên tăng Chất lượng giáo dục toàn diện có chuyển biến, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục được đào tạo, chuẩn hoá, khắc phục cơ bản tình trạng thiếu giáo viên Kết quả phổ cập giáo dục tiểu học được giữ vững, công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở được triển khai mạnh

Toàn tỉnh đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, tiếp tục thực hiện các biện pháp, củng cố nâng cao kết quả đạt được, đồng thời triển khai thực hiện phổ cập trung học cơ sở

Đã đầu tư nâng cấp và xây mới trên 2000 phòng học, xoá bỏ tình trạng học ba ca và trường tạm bợ tranh, tre, lá Tuy nhiên công tác giáo dục – đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển xã hội, chất lượng giáo dục toàn diện chưa cao, trình độ dân trí còn thấp Công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở một số nơi còn chạy theo thành tích, ngành giáo dục chậm triển khai thực hiện quy hoạch phát triển hệ thống trường trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Long An

III Sự tất yếu của việc phát triển nguồn lực lao động ở tỉnh Long An

1 Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội cùng với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 28

Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá có tác động lớn đến chất lượng dân số và nguồn nhân lực Công nghiệp hoá - hiện đại hoá và đô thị hoá đã tác động đến thay đổi cơ cấu dân số thành thị, nông thôn, phản ánh xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của các vùng, thúc đẩy dòng di chuyển dân cư, lao động từ nông thôn đến thành thị và các khu công nghiệp Cuộc sống thành thị với hệ thống giáo dục, đào tạo phát triển, điều kiện sản xuất công nghiệp giao lưu với thế giới hiện đại đã tạo điều kiện cải thiện nhanh chóng chất lượng dân số và chất lượng nguồn nhân lực

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và phát triển lao động kỹ thuật có mối quan hệ biện chứng, khách quan, tác động qua lại lẫn nhau, không thể tách rời trong nền kinh tế quốc dân thống nhất Điều này xuất phát từ tính tất yếu khách quan của chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hoá và hội nhập đòi hỏi phải có sự hội nhập giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, đồng thời trong chiến lược công nghiệp hoá - hiện đại hoá rút ngắn phải chuẩn bị trước một đội ngũ lao động kỹ thuật để đi ngay vào nền kinh tế tri thức

Xu hướng cơ bản có tính quy luật của chuyển dịch cơ cấu lao động ở Long An trong quá trình chuyển từ nền kinh tế truyền thống sang nền kinh tế hiện đại, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là:

- Giảm cả tuyệt đối và tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tuyệt đối và tỷ trọng lao động công nghiệp – xây dựng và dịch vụ

- Tăng tỷ trọng lao động tham gia sản xuất hàng hoá cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu

- Giải phóng lao động ở các ngành có năng suất lao động và giá trị lao động thấp, chuyển sang ngành có năng suất lao động và giá trị lao động cao, nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, hiện đại

- Tăng tỷ trọng lao động trong các ngành, các lĩnh vực đòi hỏi lao động có trình độ văn hoá ngày càng cao và lao động qua đào tạo, kể cả lao động chuyên môn và lao động kỹ thuật nhằm tăng hàm lượng chất xám trong sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao

2 Sự cần thiết phát triển thị trường lao động

Phát triển giáo dục, đào tạo là nhân tố quan trọng có tác động rất lớn đến chất lượng dân số và chất lượng nguồn nhân lực trong những năm qua Việc cơ cấu lại hệ thống giáo dục, xã hội hoá giáo dục đã đem lại những thành tựu đáng kể trong giáo dục Sự phát triển giáo dục, đào tạo có tác động đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thể hiện ở trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn - kỹ thuật của dân số hoạt động kinh tế (những người 15 tuổi trở lên đang làm việc và thất nghiệp đang tìm việc làm) không ngừng được nâng lên

Trong cơ chế thị trường sự biến động và di chuyển lao động kỹ thuật là hiện tượng phổ biến Cơ cấu lao động kỹ thuật trong nền kinh tế hiện đại có xu hướng ngày càng tăng,

sự chuyển dịch từ đội ngũ được đào tạo kỹ năng hẹp chỉ có một vài kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu sang được đào tạo nhiều kỹ năng (đa kỹ năng) nhất là các kỹ năng mới do áp dụng công nghệ cao, đòi hỏi như sử dụng máy vi tính, thiết bị tự động hoá, kiểm tra chất

Trang 29

lượng sản phẩm theo chuẩn quốc tế…đặc biệt lao động kỹ thuật còn phải có kỹ năng giải quyết, xử lý các vấn đề sự cố kỹ thuật và công nghệ phát sinh, kỹ năng làm việc theo nhóm trong môi trường đa văn hoá, đa sắc tộc…

Trong kinh tế thị trường cơ cấu lao động kỹ thuật xét về mặt quan hệ lao động có 3 hình thức chủ yếu là tự làm, thành viên hợp tác xã và làm công ăn lương (có quan hệ lao động) Xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động định hướng cho đào tạo lao động kỹ thuật chủ yếu là phục vụ cho việc xác định chiến lược và các hướng trọng tâm đào tạo để đáp ứng kịp thời cho nhu cầu sản xuất và thị trường lao động

3 Mở rộng kinh doanh và hội nhập quốc tế

Thế giới đã bước vào thế kỷ 21, thế kỷ mà cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ phát triển với tốc độ vũ bão, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ tin học, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu và công nghệ năng lượng Cùng với sự phát triển của cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ, nền kinh tế tri thức ngày càng chiếm ưu thế trong nền kinh tế thế giới, xu thế toàn cầu hoá và hội nhập trở thành một xu thế khách quan tất yếu đối với tất cả các nước Trong bối cảnh đó, để tiến hành thắng lợi công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước trong điều kiện tiềm lực kinh tế còn nhỏ bé, tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn thấp, cần phải xác định phát triển nguồn nhân lực, trong đó phát triển giáo dục đào tạo, đào tạo nghề là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, có như vậy thì Long An mới có thể mở rộng kinh doanh quan hệ quốc tế và hội nhập cùng các nước trong khu vực cũng như các tỉnh bạn

TÓM TẮT CHƯƠNG II

Đây là bức tranh tổng quát về tỉnh Long An bao gồm vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế- xã hội… Qua đó thấy được những thuận lợi và những khó khăn đang tồn tại của tỉnh Từ những đặc điểm này cùng với xu hướng CNH- HĐH đất nước thì thách thức

về nguồn nhân lực ngày càng cam go Trước tình hình này, để tiến hành thắng lợi công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước trong điều kiện tiềm lực kinh tế còn nhỏ bé, tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn thấp, cần phải xác định phát triển nguồn nhân lực, trong đó phát triển giáo dục đào tạo, đào tạo nghề là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, có như vậy thì Long An mới có thể mở rộng kinh doanh quan hệ quốc tế và hội nhập cùng các nước trong khu vực cũng như các tỉnh bạn

Để có giải pháp phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Long An trong giai đoạn

2011-2015 và tầm nhìn 2020, chúng ta cần đánh giá thực trạng nguồn nhân lực ở tỉnh Long An trong thời gian qua

Trang 30

CHƯƠNG III : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở

TỈNH LONG AN

I Thực trạng về số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực tỉnh Long An

1 Thực trạng về số lượng nguồn nhân lực tỉnh Long an

1.1 Dân số và tình hình phân bổ dân số tỉnh Long An

Tổng dân số tỉnh Long An là khoảng 1,438 triệu người, chiếm 10,1% dân số vùng

kinh tế trọng điểm phía Nam và 8,1% dân số Vùng đồng bằng sông Cửu Long Tốc độ tăng

dân số trung bình trong những năm qua khoảng 1%/năm và tốc độ đô thị hóa vẫn tăng

trưởng ổn định từ 16,2% năm 2000 lên 17,4% năm 2008, tuy nhiên vẫn còn thấp hơp so với

bình quân cả nước (28,1%) cũng như mức bình quân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

(58,0%) và của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (21,5%) Tỷ lệ sinh ở mức 17,4% và tỷ lệ

người sinh con thứ ba ở mức 8,3%

Phân bổ dân số: có khoảng 56,1% dân số sống tại Vùng kinh tế trọng điểm (bao gồm

thành phố Tân An, huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Đước và Cần Giuộc), đây cũng là vùng

phát triển hơn so với các khu vực khác của tỉnh Mức đô thị hóa tại vùng kinh tế trọng điểm

này (21,3%) cao hơn so với vùng Đồng Tháp Mười (13,9%) và vùng Hạ (7,8%)

Quy mô dân số tỉnh Long An vào loại trung bình so với các tỉnh Vùng Đồng bằng

Sông Cửu Long, năm 2005 chiếm 8,2%, năm 2010 là 8,1% dân số cả Vùng Đồng bằng

Sông Cửu Long, với mật độ dân số trung bình khoảng 323 người/km2 Do quy mô diện tích

của tỉnh Long An lớn nên mật độ dân số đạt thấp, năm 2010 mật độ dân số của tỉnh chỉ bằng

72,9% so với mật độ của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

Phụ lục bảng 1 : Dân số và mật độ dân số tỉnh Long An

1.2 Cơ cấu nguồn nhân lực của tỉnh Long An

a Dân số và nguồn lao động

Tổng dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh Long An năm 2010 đạt 930.510 người

(63,8% dân số), lao động ngoài độ tuổi khoảng 507.959 người (36,2% tổng

dân số)

Dân số nằm trong tuổi lao động cao luôn có hai mặt, nếu tỉnh phát triển mạnh kinh

tế, tạo ra nhiều việc làm thì đây là lực lượng quan trọng để phát huy sức mạnh, nhưng nếu

nền kinh tế phát triển chậm, không tạo ra nhiều việc làm thì đây lại là “tác nhân tiêu cực”

trong xã hội

Nhận xét :

Dân số chia theo trong và ngoài độ tuổi lao động, đến năm 2010 dân số trong độ tuổi

lao động là: 930.510 người, chiếm 63,8%, dân số ngoài độ tuổi lao động là 507.959, chiếm

36,2%

Đồng bào dân tộc thiểu số năm 2010 là 4.422 người, chiếm 0,3% dân số toàn tỉnh

Trang 31

Dân số nữ của tỉnh đông hơn dân số nam, đây là quy luật chung của cả thế giới và của nước ta, Long An cũng tuân thủ đúng theo quy luật này Đến 2010, dân số nam khoảng 711.073 người, chiếm 49,4% dân số, dân số nữ 724.993 người, chiếm 50,6%

Dân số thành thị ước đến 2010 đạt 251.368 người chiếm 17,53% so với tổng dân số, dân số nông thôn lần lượt là 1.185.528 người chiếm 82,47% tổng dân số

Điều này chứng tỏ tốc độ đô thị hóa tỉnh Long An vẫn còn chậm, dân cư vẫn chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn

Phụ lục bảng 2: Dân số và cơ cấu dân số tỉnh Long An

b Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi

Nhóm tuổi từ 30 – 44 đạt tỷ lệ cao nhất 42,96%, tiếp đến là nhóm tuổi từ 15 – 29 đạt 33,62% cuối cùng là nhóm tuổi từ 45 – 59 đạt 23,42% Nhìn chung lực lượng lao động của tỉnh tương đối trẻ và gần đạt thời kỳ “dân số vàng”, tức là nhóm dân số trong độ tuổi lao động cao hơn gần gấp đôi nhóm dân số ở độ tuổi phụ thuộc

Lực lượng lao động phân bố tại khu vực thành thị là 168.634 người, trong đó số lao động nữ là 85.553 người (chiếm tỷ lệ 50,7%), lực lượng lao động phân bố tại khu vực khu vực nông thôn là 761.876 người, trong đó số lao động nữ là 364.254 (chiếm 49,27%)

Phụ lục bảng 3: Cơ cấu lao động theo nhóm tuổi năm 2010

c Cơ cấu theo dân tộc

Phụ lục bảng 4 : Số lượng và cơ cấu nguồn nhân lực theo dân tộc

d Cơ cấu theo tôn giáo

Long An, có khoảng 46 trong tổng số 54 dân tộc anh em trên cả nước sinh sống Tuy nhiên, Long An không được xem là tỉnh đa sắc tộc, bởi vì với gần 100% dân số trong nguồn nhân lực của tỉnh thuộc về 3 dân tộc chính (99,96%): dân tộc Kinh chiếm đa số với 99,692%, tiếp theo là dân tộc Hoa chiếm 0,187%, dân tộc Khơ me đứng thứ 3 với 0,0832% còn lại 18 dân tộc khác chỉ chiếm số lượng rất ít

Nhận xét

Về Tôn giáo: theo kết quả tổng điều tra dân số mới nhất ngày 1/4/2010 của tỉnh Long An thì toàn tỉnh Long An có 125.118 người theo đạo phật chiếm tỷ lệ 8,7% 44.418 người theo đạo Cao Đài chiếm tỷ lệ 3,1%; có 31.160 người theo đạo Công Giáo chiếm 2,16% hầu hết những người dân có đạo đều sống hòa đồng, đoàn kết và chấp hành đúng chủ trương tự do tín ngưỡng

Phụ lục bảng 5 Dân số theo tôn giáo

1.3 Đánh giá, phân tích nguồn có khả năng cung lao động

Giai đoạn 2000 – 2010 tỷ lệ tăng dân số bình quân của tỉnh Long An là 0,9%/năm

Dự báo tỷ lệ tăng dân số thời kỳ 2011 - 2020 sẽ đạt 0,7%/năm, tuy nhiên tỷ lệ tăng dân số bình quân qua các thời kỳ của tỉnh Long An là khác nhau và theo quy luật tăng dân số của

Trang 32

các nước sẽ có xu hướng giảm Nhưng nhóm dân số này sẽ không tham gia vào lực lượng lạo động của tỉnh trong giai đoạn 2011-2020 do nằm trong nhóm độ tuổi phụ thuộc Nguồn cung lao động của tỉnh trong thời gian tới sẽ có độ tuổi được sinh trong giai đoạn 1995-2005 tức là khoảng 230.000 người

Nguồn cung tăng do tăng dân số cơ ho ̣c: Long An được xem là tỉnh có nền kinh tế đang phát triển với 82,5% dân số sống ở vùng nông thôn chuyên sống bằng các ngành nghề nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi nhỏ lẻ Nhưng do tỉnh đã áp dụng những biện pháp

hỗ trợ người dân để phát triển kinh tế địa phương nên mức độ di cư đến các nơi có khu công nghiệp khác như: Bình Dương, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh không cao chỉ khoảng 1% dân

số, và số người dịch cư đến sống ở tỉnh khoảng 0,5% dân số (Nguồn: Qui hoạch tổng thể phát triển KTXH của tỉnh) Như vậy nguồn cung lao động do thay đổi dân số cơ học là không đáng kể

II Hiện trạng về chất lƣợng nguồn nhân lực tỉnh Long An

+ Từ 36 tuổi trở lên: 81.530/6.224.415 chiếm tỷ lệ 13,10%

Tổng số người 11 -14 tuổi trong diện điều tra PCGDTH: 82.959

Số người chưa hoàn thành tiểu học: 1.930, tỉ lệ 2.33%

Số người đã hoàn thành chương trình tiểu học: 81.029, tỉ lệ : 97.67%

Tốt nghiệp trung học cơ sở: 18.457 học sinh

Tốt nghiệp trung học phổ thông : 10.424 học sinh

Nhìn chung, trình độ học vấn phổ thông của lực lượng lao động tỉnh Long An cao hơn mức trung bình của các tỉnh khu vực Tây Nam bộ và tương đương với mức trung bình của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Phụ lục bảng 6 : Trình độ của lực lượng lao động

2 Trình độ chuyên môn - kỹ thuật

Tính chung cả tỉnh, tỷ lệ qua đào tạo nói chung của lực lượng lao động đã tăng từ 29% năm 2005 lên khoảng 50% năm 2010 Trong đó: tỷ lệ đã qua đào tạo nghề tăng từ 18%

Trang 33

lên 30% Bình quân hàng năm tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng 4%/năm; tỷ lệ đã qua đào tạo nói chung của lực lượng lao động tỉnh Long An cao hơn so với mức bình quân chung của cả nước

Nhóm lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ đại học trở lên chiếm tỷ trọng 3,06% trong tổng số lao động đang làm việc và ngày càng có xu hướng tăng

Theo số liệu năm 2010, lực lượng lao động tham gia hoạt động kinh tế của tỉnh Long

An là 851.861 người, chiếm 58,58% trong tổng số dân Số lao động qua đào tạo là 425.925 người chiếm gần 50% so với lực lượng lao động và tăng hơn 20 % so với năm 2005 Mặc

dù tăng nhưng số lao động qua đào tạo nghề chiếm một tỷ lệ thấp 30% Trong đó lao động

nữ chỉ chiếm 49% trong số lao động qua đào tạo, có nghĩa là nguồn lao động của tỉnh đang hoạt động trong các ngành nghề kinh tế có chất lượng tương đối thấp ảnh hưởng đến năng suất, hiệu quả làm việc cũng như tiến trình phát triển chung của tỉnh, đòi hỏi phải có một chiến lược đào tạo nghề nhằm nâng cao chất lượng lao động đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động

Lao động chia theo nhóm ngành: Trong tổng số 851.861 người có việc làm thường

xuyên trong 12 tháng qua có 340.744 người hoạt động chính trong các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chiếm 40%; 268.336 người hoạt động chính trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 31,5% và 242.781 người hoạt động chính trong các ngành dịch vụ (kể cả dịch

vụ sản xuất và đời sống) chiếm 28,5%

Lao động chia theo thành phần kinh tế: Trong tổng số lao động toàn tỉnh tập trung

nhiều nhất ở khu vực thành phần kinh tế ngoài Nhà nước, với 802.453 người chiếm 94,2%, trong đó: Thành phần kinh tế hỗn hợp có 138.905 người chiếm 17,31% Thành phần kinh tế

tư nhân có 584.185 người chiếm 72,80% Thành phần kinh tế nước ngoài có 79.362 người chiếm 9,89%

Lao động trong khu vực Nhà nước 49.408 người chiếm 5,8% lực lượng lao động toàn tỉnh Nhìn chung nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị của tỉnh có những bước phát triển qua từng năm Đối với cấp tỉnh, cán bộ trưởng, phó Sở ngành đạt 97% có trình độ đại học chuyên môn trở lên, 98,8% có trình độ cao cấp lý luận chính trị; cán bộ trưởng, phó phòng Sở 82,6% có trình độ đại học chuyên môn trở lên, 66,6% có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên; cấp huyện cán bộ chủ chốt huyện đạt 91,2% có trình độ đại học chuyên môn trở lên, 97,8% có trình độ cao cấp lý luận chính trị; đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã (Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch HĐND và UBND) 64% có trình độ trung cấp chuyên môn, 94% trung cấp lý luận chính trị trở lên; công chức chuyên môn đạt 75,7% có trình độ

từ trung cấp chuyên môn trở lên

Tuy nhiên năng lực đội ngũ cán bộ tuy có nâng lên, nhưng chưa đồng bộ giữa kiến thức lý luận chính trị và kiến thức chuyên môn nghiệp vụ và chưa đồng đều giữa các cấp, các ngành Trình độ, năng lực của một số cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi nhiệm vụ mới, còn yếu về tin học, ngoại ngữ, kiến thức về quản lý kinh tế

Trang 34

Cơ cấu lao động chia theo vùng: Khu vực lực lượng lao động hiện nay tập trung rất

đông ở các huyện phía Nam, đặc biệt là các huyện giáp ranh Thành phố Hồ Chí Minh như Đức Hoà, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc do đây là một lợi thế so sánh quan trọng của tỉnh trong việc thu hút đầu tư của nước ngoài cũng như các nhà đầu tư trong nước từ Thành phố

Hồ Chí Minh chuyển về

Phụ lục Bảng 7 Lao động chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (năm 2010) Phụ lục Bảng 8 Hiện trạng lao động theo trình độ đào tạo

Phụ lục Bảng 9 Số lao động được đào tạo hàng năm trong thời gian qua

3 Đặc điểm tâm lý - xã hội và những kỹ năng mềm của nhân lực

Nhìn chung nguồn nhân lực của tỉnh mang đậm phong cách và truyền thống của người phương Đông, quen với tác phong làm việc của nền sản xuất nhỏ lẻ, chưa quen với tác phong làm việc của nền sản xuất công nghiệp, hiện đại Ý thức tổ chức kỷ luật nhìn chung là tốt Lực lượng này chủ yếu làm việc theo sự phân công của cấp trên Khi có sự hướng dẫn thì họ luôn có tinh thần hợp tác, phối hợp để hoàn thành công việc được giao (ví dụ: làm việc theo dây chuyền, theo nhóm, tổ…), đức tính của người lao động là cần cù, chịu khó, thông minh

Trong những năm gần đây, công tác tuyên truyền, công tác quản lý được tăng cường, hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của người dân nói chung và người lao động nói riêng được nâng lên Thói quen làm việc tuân thủ những quy định, có kỷ luật đã có bước tiến bộ, đặc biệt trong các doanh nghiệp công nghiệp chế biến có quy mô lớn, doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó các doanh nghiệp không ngừng mở rộng sản xuất, cộng với công tác giáo dục, các quy trình quản lý chất lượng, quản lý lao động khoa học, tiên tiến được áp dụng nên tinh thần kỷ luật, năng suất lao động được nâng lên

Lực lượng lao động trong các cơ quan nhà nước nhìn chung đa số có trình độ chuyên môn phù hợp, làm việc cần cù, chịu khó Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận có thói quen làm việc theo sách vở, khuôn mẫu, ít có khả năng sáng tạo, không có những đổi mới mạnh mẽ trong phương pháp, kỹ thuật…

Tình trạng thiếu thợ bậc cao trong các nhà máy xí nghiệp hiện nay là khá phổ biến trong khi không thiếu lực lượng kỹ sư tốt nghiệp từ các trường Cao đẳng - Đại học (Tâm lý người dân và của bản thân học sinh còn mang nặng tư tưởng về bằng cấp, địa vị xã hội do

đó đa số học sinh sau khi học xong THPT thì muốn vào Cao đẳng - Đại học và không muốn vào các trường trung cấp hay trường nghề) Nhưng chính đội ngũ kỹ sư này cũng còn thiếu tính chuyên nghiệp, yếu về thực tế, kỹ năng vận hành máy móc, thiết bị và cả trong quản lý, giao tiếp Đặc biệt là nguồn nhân lực của chúng ta hiện nay còn rất yếu về ngoại ngữ, kỹ năng sáng tạo và hợp tác làm việc trong tập thể

II Thực trạng về tình hình sử dụng nguồn nhân lực của tỉnh Long An

Trang 35

1 Trạng thái hoạt động của nhân lực

Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị liên tục giảm (từ 4,74% năm 2006 xuống 4,2% năm 2010) và là một trong những tỉnh có tỷ lệ thất nghiệp thấp so với tỷ lệ chung của cả nước cũng như vùng tây Nam Bộ Bên cạnh đó, tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở khu vực nông thôn nâng cao rõ rệt ở hầu hết các huyện, thành phố, trong tỉnh và đang ở mức cao

so với nhiều tỉnh trong cả nước (từ 80% năm 2006 lên 85% năm 2010)

Trong những năm qua tình hình kinh tế của tỉnh Long An liên tục có sự phát triển không ngừng, quy mô kinh tế ngày càng lớn mạnh, đồng thời việc thực hiện các chương trình giải quyết việc làm cũng đem lại những hiệu quả tích cực Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm dần từ 1,37% năm 2000 thì đến năm 2005 chỉ còn 0,88% và cho đến năm 2009 tốc độ tăng trưởng giảm xuống chỉ còn 0,72% và năm 2010 là 0,7%

Do đặc thù của vị trí địa lí và do phong tục tập quán của người dân vùng đồng bằng Sông Cửu Long là làm nông nghiệp nên dân số đô thị không có sự biến động nhiều Năm

2001 dân số đô thị là 222.375 người tăng 1,97 % so với năm 2000, thì đến năm 2010 dân số

đô thị là 251.386 người tăng 1,60% so với năm 2009 là 248.007 người

Dân số nông thôn tăng lên rất nhanh năm 2001 là 1.121.759 người thì đến năm 2005

là 1.156.787 người và đến năm 2010 là 1.185.528 người Điều này cho thấy tốc độ đô thị hóa ở Long An vẫn còn chậm thấp chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của mình, vào năm 2001 tốc độ đô thị hóa tăng 16,5% thì đến năm 2008 đô thị hóa tăng 17,4% Mật độ dân số trung bình tăng 295 người/ km2

năm 2000 thì đến năm 2010 đã tăng lên 320 người/km2

Hiện nay tỉnh Long An nói riêng và cả nước nói chung đang rơi vào tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” Trong năm 2009 tỉnh đã tập trung đào tạo và liên kết đào tạo nghề cho thanh niên trong tỉnh và các tỉnh lân cận do đó tỉnh đã nâng cấp trường trung cấp nghề Long

An thành trường cao đẳng nghề Long An và mở rộng diện tích, quy mô để tiếp nhận thêm nhiều học viên để phục vụ cho công cuộc đổi mới trên địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận Nguyên nhân là do đa số người học thích học về các ngành kinh tế như Ngân hàng, Quản trị kinh doanh, kế toán… còn các ngành thiên về kỹ thuật có nhu cầu tuyển dụng rất cao thì lại

ít người học, gây ra tình trạng chênh lệch trong cơ cấu lao động

Ngoài ra còn xảy ra tình trạng phân bố số lượng không đồng đều giữa các vùng miền

và các ngành kinh tế (lao động tập trung nhiều ở thành thị, các khu công nghiệp, thị trấn, khu dân cư…, thiếu cán bộ lao động bậc cao ở các huyện, các xã ở vùng xâu, vùng xa như các huyện ở vùng Đồng Tháp Mười, Cần Đước… ở các ngành như xây dựng, công nghiệp,

y tế…), dẫn đến tỷ trọng mất cân đối về lao động giữa các địa phương và các ngành Tình trạng thiếu người làm việc ở nông thôn đang diễn ra, do phần lớn các thanh niên, lao động trẻ ra khu vực có các khu công nghiệp lớn như TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương…

2 Trạng thái việc làm của nhân lực

Năm 2010, tổng số lao động đang làm việc toàn tỉnh là 851.861 người, lao động được phân bổ trong 3 khu vực (chia theo ngành kinh tế) là: 340.744 người hoạt động chính

Trang 36

trong các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chiếm 40%; 268.336 người hoạt động chính trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 31,5% và 242.781 người hoạt động chính trong các ngành dịch vụ (kể cả dịch vụ sản xuất và đời sống) chiếm 28,5%

So với năm 2000, quy mô, cơ cấu lao động đang làm việc có sự biến đổi:

Sau 10 năm, tổng số lao động tăng 30,62%; tốc độ tăng bình quân mỗi năm là hơn 3%; tốc độ tăng tương đối nhanh lý do là quy mô kinh tế cũng như quy mô sử dụng lao động tương ứng của tỉnh đã ở mức khá lớn Tuy vậy, tốc độ tăng này vẫn đang cao hơn tốc

độ tăng dân số và tốc độ tăng lao động trong độ tuổi hằng năm của tỉnh những năm gần đây, kết quả là có nhiều chỗ làm mới cho người lao động

Lao động trong các khu vực (theo ngành): So với năm 2005, Khu vực Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm 14%; bình quân mỗi năm giảm hơn 2,8%; Khu vực Công nghiệp - Xây dựng tăng hơn 10%, bình quân mỗi năm tăng hơn 2%; và Khu vực Thương mại - Dịch

vụ tăng 3,5%, bình quân mỗi năm tăng 0,7% Tỷ trọng lao động của các khu vực trong tổng

số lao động đang làm việc của năm 2010 và chuyển dịch so với năm 2005 tương ứng là: 40%, 31,5%, và 28,5% Như vậy, nhân lực của các ngành kinh tế có sự biến động khác nhau tạo ra chuyển dịch lao động giữa các ngành trong tổng số nhân lực toàn tỉnh

Ngành nông nghiệp và lâm nghiệp là các ngành có năng suất lao động thấp, thời gian lao động có hiệu quả không cao, người lao động thiếu việc làm và phải làm thêm trong thời gian nông nhàn Đặc biệt, khi ruộng đất canh tác có xu hướng thu hẹp, sản xuất được đầu tư máy móc, thiết bị nâng cao năng suất Vì vậy, quy mô nhân lực trong ngành kinh tế này giảm nhanh Trong 5 năm qua, số lao động nông nghiệp và lâm nghiệp giảm 14% so với tổng số lao động hoạt động kinh tế, bình quân mỗi năm giảm 2,8%, tốc độ giảm này nhanh hơn tốc độ giảm thời kỳ 5 năm trước( tương ứng: năm 2001-2005 giảm 4,6% và bình quân 1 năm giảm 0,92%) Số lao động của các ngành này được bổ sung cho các ngành kinh

tế khác song do trước lực lượng lao động trong khu vực này chiến tỷ trọng lớn nên đến nay

số lượng lao động của các ngành này vẫn chiếm tỷ trọng 40% trong tổng số

Ngành công nghiệp - xây dựng: Đây là ngành kinh tế đang tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho nền kinh tế của tỉnh và cũng là ngành thu hút đông nhân lực thứ 2 sau nhóm các ngành ngành nông và lâm nghiệp Sau 5 năm, tỷ trọng lao động ngành này tăng từ 21% lên 31,5% so với tổng số lao động hoạt động kinh tế, bình quân 1 năm tăng hơn 2% Tốc độ này tăng nhanh so với chu kỳ 5 năm trước (tương ứng: 5 năm tăng 2,5% và bình quân 1 năm tăng 0,5%)

Ngành Thương mại – dịch vụ: Lực lượng lao động trong khu vực này tương đối ít biến động hơn so với các khu vực khác, trong đó lao động tập trung một số ngành quan trọng như: thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng, vận tải kho bãi và thông tin liên lạc, ngành tài chính, kinh doanh bất động sản,… là những ngành có số lao động tăng hằng năm ở mức trên 5% Đáng chú ý là ngành tài chính, tín dụng, ngành dòi hỏi nhân lực chất lượng cao và đang thu hút lực khá nhiều lao động

Ngày đăng: 01/04/2017, 22:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 : Dân số và mật độ dân số tỉnh Long An - Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh long an giai đoạn 2011 2015 tầm nhìn năm 2020
Bảng 1 Dân số và mật độ dân số tỉnh Long An (Trang 58)
Bảng 2. Dân số và cơ cấu dân số tỉnh Long An - Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh long an giai đoạn 2011 2015 tầm nhìn năm 2020
Bảng 2. Dân số và cơ cấu dân số tỉnh Long An (Trang 59)
Bảng 3: Cơ cấu lao động theo nhóm tuổi năm 2010 - Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh long an giai đoạn 2011 2015 tầm nhìn năm 2020
Bảng 3 Cơ cấu lao động theo nhóm tuổi năm 2010 (Trang 60)
Bảng 5. Dân số theo tôn giáo - Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh long an giai đoạn 2011 2015 tầm nhìn năm 2020
Bảng 5. Dân số theo tôn giáo (Trang 62)
Bảng 7. Lao động chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (năm 2010) - Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh long an giai đoạn 2011 2015 tầm nhìn năm 2020
Bảng 7. Lao động chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (năm 2010) (Trang 63)
Bảng 6. Trình độ của lực lƣợng lao động - Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh long an giai đoạn 2011 2015 tầm nhìn năm 2020
Bảng 6. Trình độ của lực lƣợng lao động (Trang 63)
Bảng 8. Hiện trạng lao động theo trình độ đào tạo. Đơn vị : Người - Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh long an giai đoạn 2011 2015 tầm nhìn năm 2020
Bảng 8. Hiện trạng lao động theo trình độ đào tạo. Đơn vị : Người (Trang 64)
Bảng 9. Số lao động đƣợc đào tạo hàng năm trong thời gian qua. - Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh long an giai đoạn 2011 2015 tầm nhìn năm 2020
Bảng 9. Số lao động đƣợc đào tạo hàng năm trong thời gian qua (Trang 65)
Bảng 10. Năng lực các cơ sở đào tạo trên địa bàn trực thuộc Sở ngành quản lý - Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh long an giai đoạn 2011 2015 tầm nhìn năm 2020
Bảng 10. Năng lực các cơ sở đào tạo trên địa bàn trực thuộc Sở ngành quản lý (Trang 66)
Bảng 11. Cơ cấu lực lƣợng lao động theo giới - Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh long an giai đoạn 2011 2015 tầm nhìn năm 2020
Bảng 11. Cơ cấu lực lƣợng lao động theo giới (Trang 68)
Bảng 12 B. Nhu cầu vốn đầu tƣ xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị các cơ sở đào tạo - Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh long an giai đoạn 2011 2015 tầm nhìn năm 2020
Bảng 12 B. Nhu cầu vốn đầu tƣ xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị các cơ sở đào tạo (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w