1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Biện pháp hoàn thiện cơ chế thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Hải Phòng

123 327 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình có thể kể đến như: “Chiến lược phát triển bảo hiểm xã hội phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020”1999 của tác giả Nguyễn Huy Ban; “Lộ trình và giải phá

Trang 1

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta về vấn

đề an sinh xã hội Nhiệm vụ chủ yếu của chính sách BHXH là tổ chức thực hiện tốt các chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, khám chữa bệnh BHYT, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động

và nhân dân trên phạm vi cả nước

Thực hiện Bộ Luật lao động trong đó có Chương XII về bảo hiểm xã hội (BHXH) nhất là từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 12/NĐ-CP ngày 23/01/1995 thì các đối tượng tham gia đóng, hưởng BHXH đã được mở rộng đến tất cả các thành phần kinh tế Vì vậy, số lao động tham gia BHXH tăng hàng năm khoảng 7,5%; Số thu BHXH tăng bình quân hàng năm 10%, quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước Đây là bước chuyển đổi căn bản về sự nghiệp BHXH từ cơ chế bao cấp chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước sang cơ chế quỹ BHXH chủ yếu dựa trên nguồn thu do người lao động, người sử dụng lao động đóng góp để chi trả các chế độ BHXH Tính đến hết năm 2009, cả nước có 9,1 triệu người tham gia BHXH bắt buộc đạt trên 82% số đối tượng phải tham gia

Tuy đạt được những thành tựu đáng kể, song trên thực tế hoạt động BHXH bắt buộc ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, nhất là ở công tác thu BHXH

từ đó ảnh hưởng đến việc thực hiện chế độ, chính sách BHXH cho người lao động nói chung và việc thực hiện công tác quản lý thu BHXH nói riêng Biểu hiện: Lao động chưa tham gia BHXH bắt buộc có số lượng đáng kể, tập trung chủ yếu ở khu vực ngoài nhà nước như: Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh,

tổ hợp tác, người buôn bán nhỏ trốn tránh không tham gia BHXH cho người lao động hoặc còn cố tình tìm mọi cách trốn đóng BHXH; nợ đọng BHXH thời gian dài; thậm chí có những đơn vị sử dụng lao động lạm dụng quỹ BHXH,

Trang 2

lạm dụng tiền đóng BHXH của người lao động để làm vốn sản xuất kinh doanh Một trong những nguyên nhân cơ bản là chúng ta chưa xây dựng được một cơ chế thu, chi đồng bộ và hiệu quả

Với tư cách là một cán bộ đang làm thực tiễn trong lĩnh vực BHXH của thành phố Hải Phòng, để góp phần xây dựng một cơ chế thu, chi BHXH hợp

lý, hiệu quả tác giả chọn vấn đề “Biện pháp hoàn thiện cơ chế thu bảo hiểm

xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Hải Phòng " làm đề tài luận văn thạc

sỹ kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu

Thời gian qua, lĩnh vực BHXH thu hút được sự quan tâm đông đảo của

các nhà nghiên cứu Các công trình có thể kể đến như: “Chiến lược phát triển

bảo hiểm xã hội phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020”(1999) của tác giả Nguyễn Huy Ban; “Lộ trình và giải pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo nghị định 01/2003/NĐ-CP ngày 9/1/2003”(2004) của tác giả Dương Xuân Triệu; “Cơ sở khoa học để hoàn thiện qui chế tài chính đối với BHXH Việt Nam”(1999) của tác giả Phạm

Thành; “Hoàn thiện quy chế quản lý tài chính và chế độ kế toán trong hệ thống

BHXH Việt Nam”(2005) của tác giả Nguyễn Phước Tường; “Thực trạng quản

lý thu BHXH hiện nay và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu”(1996) của tác giả Nguyễn Cao Châu; “Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý thu chi BHXH trên địa bàn tỉnh Nghệ An”(1998) của tác giả

Trần Quốc Toàn; “Mô hình thực hiện BHXH ở một số nước trên thế giới và

những bài học có thể vận dụng vào Việt Nam” (2007) của tác giả Đào Thị Hải

Nguyệt; “Xây dựng chiến lược phát triển ngành BHXH Việt Nam đến năm

2020”(2006) của tác giả Dương Xuân Triệu; “Hoàn thiện quy chế thu BHXH”(2005) của tác giả Nguyễn Tiến Quyết: “Thực hiện các chế độ BHXH theo Luật BHXH- Thực trạng và giải pháp” (2009) của tác giả Nguyễn Anh

Trang 3

Minh; “Nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra trong hệ thống BHXH Việt

Nam”(2010) của tác giả Nguyễn Minh Hải; “Hoàn thiện quy trình quản lý thu, quy trình cấp và quản lý sổ BHXH”(2010) của tác giả Dương Xuân Triệu

Song chưa có công trình nào đề cập đến “Biện pháp hoàn thiện cơ chế thu

bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Hải Phòng

3 Mục tiêu nghiên cứu

Luận giải cơ sở khoa học, đánh giá tổng quát thực trạng cơ chế thu BHXH trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013 và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện cơ chế thu BHXH bắt buộc đến năm 2015, tầm nhìn 2025 tại

thành phố Hải Phòng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Những quy phạm pháp luật về BHXH liên

quan đến cơ chế thu BHXH, các quy định nghiệp vụ về cơ chế thu BHXH của BHXH Việt Nam được áp dụng trên địa bàn thành phố Hải Phòng

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các vấn đề về thu, nộp BHXH của

người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan BHXH, các yếu tố ảnh hưởng đến số thu BHXH, đối tượng nộp BHXH, phương thức thu, quy trình tổ chức quản lý thu, nguyên nhân trốn tránh nộp BHXH, những biện pháp chống thất thu BHXH

Phạm vi của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng cơ chế thu BHXH bắt buộc (không nghiên cứu quỹ khám chữa bệnh, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp, BHXH đối với người lao động làm việc trong các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang), trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 4

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác- Lê nin

Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp tổng hợp, so sánh, thống

kê, phân tích số liệu từ năm 2008 đến năm 2013, nhằm phân tích hoạt động quản

lý thu, mở rộng đối tượng thu và đề ra các biện pháp chống thất thu BHXH, nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH trên địa bàn thành phố Hải Phòng

6 Dự kiến đóng góp của luận văn

- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề về BHXH, BHXH bắt buộc và hoàn thiện cơ chế thu BHXH bắt buộc

- Phân tích thực trạng và rút ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế về cơ chế thu BHXH bắt buộc trên địa bàn thành phố Hải Phòng

- Luận văn đã đề xuất phương hướng và giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện cơ chế thu BHXH, tăng số lao động được tham gia BHXH, tăng mức thụ hưởng từ các chế độ, chính sách BHXH của người lao động, góp phần làm tăng số thu, hoàn thiện cơ chế thu BHXH bắt buộc trên địa bàn thành phố Hải Phòng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được cấu trúc bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện cơ chế thu Bảo hiểm

xã hội bắt buộc

Chương 2: Thực trạng cơ chế thu BHXH trên địa bàn thành phố Hải

Phòng

Chương 3: Định hướng và biện pháp nhằm hoàn thiện cơ chế thu BHXH

trên địa bàn thành phố Hải Phòng

Trang 5

1.1.1 Lịch sử ra đời, quan niệm về BHXH và BHXH bắt buộc

1.1.1.1 Tính tất yếu khách quan sự ra đời của Bảo hiểm xã hội bắt buộc

Trong quá trình sinh tồn con người phải lao động để làm ra của cải vật chất, nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu nhất là ăn, ở, mặc, đi lại, v.v Nhưng trong thực tế, không phải lúc nào con người cũng gặp may mắn, thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường Trái lại, có rất nhiều trường hợp con người gặp khó khăn, trắc trở, rủi ro xảy ra do điều kiện tự nhiên, môi trường sống, hoặc điều kiện khách quan như: ốm đau, tai nạn, mất việc làm, già yếu, không có khả năng lao động, tử vong

Vì vậy, từ xa xưa con người đã có ý thức san sẻ, cưu mang, đùm bọc lẫn nhau Sự tương trợ cộng đồng dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau như: việc lập quỹ tương tế, các hội đoàn bằng tiền hoặc bằng hiện vật để trợ giúp lẫn nhau

Lúc đầu, sự trợ giúp này là thụ động, cục bộ, không ổn định và không chắc chắn Trong quá trình phát triển công nghiệp, đội ngũ làm công ăn lương tăng nhanh, cuộc sống của họ phụ thuộc vào thu nhập do lao động làm thuê mang lại Chính vì thế, mất việc làm hoặc gặp rủi ro như ốm đau, bệnh tật đã trở thành mối đe dọa khủng khiếp đối với họ

Bảo hiểm xã hội như một tấm lưới che đỡ cuộc sống của con người, để họ không rơi xuống “đáy” đời sống xã hội

Trang 6

Trước sức ép của người lao động và để duy trì lực lượng làm công ăn lương, giới chủ buộc phải từng bước cam kết đảm bảo cho người lao động có một khoản thu nhập nhất định gọi là trợ cấp để họ trang trải những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi gặp rủi ro Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế - xã hội Do vậy, Nhà nước

đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng để hỗ trợ một phần khi không có việc làm, ốm đau, tai nạn Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung có sự quản lý giám sát của Nhà nước

Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên được thế giới quan niệm là BHXH đối với người lao động Như vậy, BHXH ra đời và phát triển là một tất yếu khách quan và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của mỗi quốc gia, mọi thành viên trong xã hội đều thấy cần thiết tham gia BHXH, nó trở thành quyền lợi và nhu cầu không thể thiếu của người lao động

1.1.1.2 Quan niệm về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội bắt buộc

Bảo hiểm và BHXH đã hình thành rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài người và đã được nhiều nhà khoa học đề cập, nghiên cứu một cách sâu sắc dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau Bảo hiểm xã hội đã xuất hiện

và phát triển cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại Theo

Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) thì nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) là nước đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ bảo hiểm ốm đau vào năm

1883, đánh dấu sự ra đời của BHXH Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới

đã thực hiện chính sách BHXH và coi nó là một trong những chính sách xã hội quan trọng nhất trong hệ thống chính sách bảo đảm an sinh xã hội Mặc dù đã

có quá trình phát triển tương đối dài, nhưng cho đến nay còn có nhiều khái

Trang 7

niệm về BHXH, chưa có khái niệm thống nhất Bởi lẽ, BHXH là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như kinh tế, xã hội, pháp lý

Theo từ điển Bách khoa: "BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp một

phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo, an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội" [1]

Công ước 102 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm về

BHXH như sau: “BHXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên

của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, và chết; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con” Khái niệm này đã phản ánh được sự kết hợp hai mặt của BHXH là

mặt kinh tế và mặt xã hội

Còn theo khái niệm của BHXH Việt Nam: “BHXH là sự bảo vệ của xã

hội đối với người lao động thông qua việc huy động các nguồn đóng góp để trợ cấp cho họ, nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn, thất nghiệp, mất khả năng lao động, tuổi già và chết.” [2]

Theo quy định tại Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội: BHXH là sự bảo đảm

thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH

Trang 8

Như vậy, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động, khi họ gặp phải biến cố, rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết; gắn liền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia BHXH đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm đảm bảo mức sống cơ bản cho bản thân người lao động và những người ruột thịt của người lao động trực tiếp phải nuôi dưỡng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội

Có 2 loại BHXH: bắt buộc và tự nguyện

BHXH tự nguyện là loại hình BHXH mà đối tượng tham gia hoàn toàn tự nguyện đóng góp mức phí và thụ hưởng theo quy định

Bảo hiểm xã hội bắt buộc là gì? Theo quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm

xã hội: Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao

động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia

1.1.2 Đặc điểm và nguyên tắc của bảo hiểm xã hội bắt buộc

1.1.2.1 Đặc điểm của BHXH bắt buộc

Cùng với quá trình phát triển, tiến bộ của loài người, BHXH bắt buộc được coi là một chính sách xã hội quan trọng của bất kỳ nhà nước nào, nhằm bảo đảm an toàn cho sản xuất, cho đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người trong xã hội Với tư cách là công cụ quan trọng nhất để quản lý xã hội, nhà nước phải can thiệp và tổ chức bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động, đặc biệt là để giải quyết mối quan hệ thuê mướn lao động giữa chủ và thợ Yêu cầu giới chủ phải thực hiện những cam kết đảm bảo điều kiện làm việc và nhu cầu đời sống vật chất, tinh thần cho giới thợ, trong đó có nhu cầu

về tiền lương, về chăm sóc y tế, về chăm sóc khi bị ốm đau, tai nạn, trả lương khi người lao động đến tuổi hưu Đồng thời bản thân người lao động cũng phải có trách nhiệm giành một khoản thu nhập chi trả cho bản thân mình khi có

Trang 9

những rủi ro xảy ra Mặt khác, nhà nước được coi như là một người chủ sử dụng lao động của mọi người lao động, vì vậy người sử dụng lao động không

đủ để trang trải cho những khoản chi cho người lao động khi họ gặp phải rủi ro thì Nhà nước phải có trách nhiệm trích một phần ngân sách để bảo đảm đời sống cơ bản cho người lao động Như vậy, có thể rút ra đặc điểm cơ bản của BHXH bắt buộc khác với loại hình BHXH tự nguyện ở những điểm như sau:

Một là, BHXH bắt buộc được hình thành trên cơ sở quan hệ lao động,

giữa các bên cùng tham gia và được hưởng BHXH Nhà nước ban hành các chế độ, chính sách BHXH bắt buộc, tổ chức ra cơ quan chuyên trách, thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động sự nghiệp BHXH Chủ sử dụng và người lao động

có trách nhiệm đóng góp để hình thành quỹ BHXH bắt buộc Người lao động (bên được BHXH) và gia đình của họ được cung cấp tài chính từ quỹ BHXH bắt buộc khi họ có đủ điều kiện theo chế độ BHXH quy định Đó chính là mối quan hệ của các bên tham gia BHXH Đây là điểm khác biệt căn bản của BHXH bắt buộc so với các loại hình BHXH tự nguyện khác

Hai là, phân phối trong BHXH bắt buộc là phân phối không đều, nghĩa là

không phải ai tham gia BHXH bắt buộc cũng được phân phối với số tiền giống nhau Phân phối trong BHXH bắt buộc vừa mang tính bồi hoàn vừa không mang tính bồi hoàn Những biến cố xảy ra mang tính tất nhiên đối với con người là thai sản (đối với lao động nữ), tuổi già và chết, trong trường hợp này, BHXH bắt buộc phân phối mang tính bồi hoàn vì người lao động đóng BHXH chắc chắn được hưởng khoản trợ cấp đó Còn trợ cấp do những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm, những rủi ro xảy ra trái ngược với ý muốn của con người như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, là

sự phân phối mang tính không bồi hoàn; có nghĩa là chỉ khi nào người lao động gặp phải tổn thất do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì mới được hưởng khoản trợ cấp đó

Trang 10

Ba là, BHXH bắt buộc hoạt động theo nguyên tắc "cộng đồng - lấy số

đông bù cho số ít" tức là dùng số tiền đóng góp nhỏ của số đông người tham gia BHXH để bù đắp, chia sẻ cho một số ít người với số tiền lớn hơn so với số đóng góp của từng người, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro gây tổn thất

Bốn là, hoạt động BHXH bắt buộc là một loại hoạt động dịch vụ công,

mang tính xã hội cao; lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động Đây là điểm khác biệt rõ rệt của BHXH bắt buộc so với các loại hình BH mang tính kinh doanh khác Vì, với các loại hình dịch vụ BH khác, hoạt động của nó là tối đa hóa lợi nhuận, các công ty BH, các tập đoàn BH cả trong nước và nước ngoài thực hiện hoạt động kinh doanh hoàn toàn vì mục đích lợi nhuận Hoạt động BHXH bắt buộc là quá trình tổ chức, triển khai thực hiện các chế độ, chính sách BHXH của tổ chức quản lý sự nghiệp BHXH đối với người lao động tham gia và hưởng các chế độ BHXH Là quá trình tổ chức thực hiện các nghiệp vụ thu BHXH bắt buộc đối với người sử dụng lao động và người lao động; giải quyết các chế độ, chính sách và chi BHXH cho người được hưởng; quản lý quỹ BHXH và thực hiện đầu tư bảo tồn và tăng trưởng quỹ BHXH

1.1.2.2 Nguyên tắc của BHXH bắt buộc

BHXH bắt buộc có những nguyên tắc hoạt động mang tính phổ biến

và nhất quán đó là:

Thứ nhất, BHXH bắt buộc là một hình thức hoạt động nhằm phân tán rủi

ro, hỗ trợ lẫn nhau giữa những đơn vị, cá nhân cùng tham gia bảo hiểm thực hiện theo nguyên tắc "cộng đồng - lấy số đông bù cho số ít" Vì vậy, dịch vụ bảo hiểm cần phải có đông người tham gia mới đạt được mục đích phân tán rủi

ro, tổn thất Số người tham gia bảo hiểm càng đông thì mức độ tổn thất được phân tán càng rộng, mức độ gánh chịu tổn thất của từng thành viên càng ít hơn

Trang 11

Hình thành được quỹ bảo hiểm tập trung càng lớn, mức độ an toàn quỹ bảo hiểm càng cao, đảm bảo đủ nguồn lực tài chính đáp ứng yêu cầu chi trả càng kịp thời, đầy đủ hơn cho người được thụ hưởng

Thứ hai, quỹ BHXH bắt buộc được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp

của những bên tham gia bảo hiểm Quỹ phải được tính toán cân đối thu - chi một cách khoa học dựa trên quy luật số lớn để xác định mức đóng góp của đối tượng tham gia và mức hưởng thụ do quỹ phải chi trả; sao cho quỹ phải được

ổn định, vững chắc trong bất kỳ hoàn cảnh nào vẫn phải đảm bảo đủ nguồn lực tài chính để chi trả kịp thời, đầy đủ các khoản bồi thường, trợ cấp cho đối tượng được thụ hưởng

Thứ ba, quỹ BHXH bắt buộc được quản lý và sử dụng theo chế độ tài

chính và luật pháp của nhà nước quy định Quỹ tạm thời nhàn rỗi được thực hiện các hoạt động đầu tư vừa góp phần cung cấp nguồn vốn để phát triển kinh

tế - xã hội; vừa để bảo toàn và tăng trưởng quỹ Khi thực hiện hoạt động đầu tư quỹ phải đảm bảo an toàn; hạn chế rủi ro, thất thoát quỹ đến mức thấp nhất, đạt hiệu quả kinh tế - xã hội và đảm bảo khả năng thanh toán linh hoạt

1.1.3 Vai trò của BHXH bắt buộc

1.1.3.1 Vai trò của BHXH bắt buộc đối với người lao động và gia đình

họ

Ở bất kỳ hoàn cảnh, thời điểm nào, rủi ro luôn luôn rình rập, đe dọa cuộc

sống của mỗi người gây gánh nặng cho cộng đồng và xã hội Rủi ro phát sinh hoàn toàn ngẫu nhiên, bất ngờ không lường trước được nhưng xét trên phương diện xã hội, rủi ro là một tất yếu Phòng ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực của rủi ro đối với con người và xã hội là nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của BHXH bắt buộc, có thể thấy một số vai trò của BHXH bắt buộc đối với cá nhân:

Trang 12

Thứ nhất, BHXH bắt buộc có vai trò ổn định thu nhập cho người lao động

và gia đình họ Khi tham gia BHXH bắt buộc, người lao động phải trích một khoản phí nộp vào quỹ, khi gặp rủi ro, bất hạnh như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình tăng lên hoặc phải ngừng làm việc tạm thời

Do vậy, thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế rơi vào tình cảnh khó khăn, túng quẫn Nhờ có chính sách BHXH bắt buộc mà họ được nhận một khoản tiền trợ cấp đó bù đắp lại phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm để đảm bảo

ổn định thu nhập, ổn định đời sống, tạo cho người lao động luôn yên tâm làm việc

Thứ hai, ngoài việc đảm bảo đời sống kinh tế, BHXH bắt buộc tạo được

tâm lý an tâm, tin tưởng Khi đó tham gia BHXH bắt buộc góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân

1.1.3.2 Vai trò của BHXH bắt buộc đối với xã hội

Thứ nhất, tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao

động và người lao động, mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH bắt buộc Tuy nhiên, mối quan hệ này thể hiện trên giác độ khác nhau Người lao động tham gia BHXH bắt buộc với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình, đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc là để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho người lao động nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH bắt buộc

Thứ hai, BHXH bắt buộc thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, tạo cho

những người bất hạnh có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để

Trang 13

khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của

“Chân - Thiện - Mỹ” nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng” BHXH bắt buộc là yếu tố tạo nên sự hòa đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, cuộc sống công bằng, bình yên

Thứ ba, BHXH bắt buộc thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn

nhau tương thân tương ái của cộng đồng Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố quan trọng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho một xã hội phát triển lành mạnh và bền vững

Thứ tư, BHXH bắt buộc giúp phần thực hiện bình đẳng xã hội: trên giác

độ xã hội, BHXH bắt buộc là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho người lao động Trên giác độ kinh tế, BHXH bắt buộc là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng Nhờ sự điều tiết này người lao động được thực hiện bình đẳng không phân biệt các tầng lớp trong

xã hội

1.1.3.3 Vai trò BHXH bắt buộc đối với nền kinh tế thị trường

Thứ nhất, khi chuyển sang cơ chế thị trường, thì sự phân tầng giữa các lớp

trong xã hội trở nên rõ rệt Đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các ngành nghề khác nhau trong xã hội Nhưng rủi ro xảy ra trong cuộc sống không loại trừ một ai, nếu rơi vào những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì cuộc sống của họ trở nên bần cùng, túng quẫn BHXH bắt buộc đã góp phần ổn định đời sống cho họ và gia đình họ

Thứ hai, đối với các doanh nghiệp, khi những người lao động không may

gặp rủi ro thì đã được chuyển giao cho cơ quan BHXH bắt buộc chi trả Nhờ

Trang 14

vậy tình hình tài chính của các doanh nghiệp được ổn định hơn Hệ thống BHXH bắt buộc đã bảo đảm ổn định xã hội tạo tiền đề để phát triển kinh tế thị trường

Thứ ba, khi tham gia BHXH bắt buộc cho người lao động sẽ phát huy tinh

thần trách nhiệm, gắn bó tận tình của người lao động trong các doanh nghiệp làm cho mối quan hệ thị trường lao động được trở nên lành mạnh hơn, thị trường sức lao động vận động theo hướng tích cực góp phần xây dựng và có kế hoạch phát triển chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường

Thứ tư, quỹ BHXH bắt buộc do các bên tham gia đóng góp được tích tụ

tập trung rất lớn, phần quỹ nhàn rỗi được đem đầu tư cho kinh tế tạo ra sự tăng trưởng, ph¸t triển kinh tế và tạo công ăn việc làm cho người lao động

Thứ năm, BHXH bắt buộc vừa tạo động lực cho các thành phần kinh tế

phát triển, nhưng mặt khác tạo ra sự bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư thông qua hệ thống phân phối lại thu nhập góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động Các bên tham gia BHXH bắt buộc đều phải đóng góp vào quỹ Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số người lao động tham gia BHXH bắt buộc khi họ bị

giảm hoặc mất thu nhập Theo quy luật “số đông bù số ít” BHXH bắt buộc

thực hiện phân phối lại thu nhập cả theo chiều dọc và chiều ngang Thực hiện chức năng này BHXH bắt buộc góp phần thực hiện công bằng xã hội

1.2 KHÁI NIỆM VỀ CƠ CHẾ,CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH, NHÂN

TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ CHẾ THU BHXH BẮT BUỘC

1.2.1 Khái niệm cơ chế

Theo Từ điển Tiếng Việt (Nxb Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học năm 1998)

"cơ chế” là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện” Tương tự như vậy, các tác giả của cuốn Đại từ điển Tiếng Việt cho rằng cơ chế là cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện

Trang 15

Về phương diện khoa học, nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm "cơ chế” Trong cuốn Sổ tay về phát triển, thương mại và WTO (Nxb Chính trị quốc gia năm 2004), các nhà khoa học cho rằng “cơ chế là một phương thức, một hệ thống các yếu tố làm cơ sở, đường hướng cho sự vận động của một sự vật hay hiện tượng” Nói cách khác, cơ chế là hệ thống các mối quan hệ hữu cơ, liên quan đến cách thức tổ chức, hoạt động, cách thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng Cơ chế là một quá trình, một hệ thống, là tổng thể các yếu tố tạo nên

sự hoạt động của sự vật, hiện tượng

1.2.2 Khái niệm thu BHXH và cơ chế thu BHXH bắt buộc

Thu BHXH là một thuật ngữ thuộc phạm trù tài chính, một khâu tài chính tồn tại độc lập trong hệ thống tài chính BHXH Công tác thu BHXH tham gia vào quá trình tạo lập quỹ BHXH, quỹ tài chính này nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro, từ đó đảm bảo sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội

Từ những khái niệm cơ chế ở trên có thể hiểu: Cơ chế thu BHXH bắt

buộc là mối quan hệ tổng thể giữa các biện pháp, hình thức có phương pháp thu BHXH bắt buộc theo chính sách hiện hành nhằm mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời BHXH của các đối tượng bắt buộc phải tham gia

Một cơ chế thu BHXH bắt buộc được coi là hợp lý khi các bộ phận trong

cơ chế mang tính hệ thống, đồng bộ ăn ý, không mâu thuẫn, không làm hạn chế tác động tích cực của nhau Cơ chế thu BHXH bắt buộc giữ vai trò quan trọng, quyết định đến sự thành công của quá trình thu BHXH bắt buộc, từ đó quyết định đến sức mạnh quỹ BHXH bắt buộc đảm bảo cho việc chi trả cho các chế độ

trợ cấp hiệu quả nhất

1.2.3 Những yếu tố cấu thành cơ chế thu BHXH bắt buộc

Trang 16

1.2.3.1 Xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh cơ chế thu BHXH bắt buộc

Để tiến hành quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội, Nhà nước với tư cách

là chủ thể quản lý phải sử dụng các công cụ quản lý tác động lên các chủ thể quản

lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý của mình Trong hệ thống các công cụ quản lý

và điều chỉnh kinh tế - xã hội của Nhà nước thì luật pháp là công cụ đặc biệt quan trọng

Luật pháp, chính sách và các quy định liên quan đến thu BHXH là công cụ quan trọng để cơ quan BHXH thực hiện việc thu BHXH, đồng thời

cơ quan BHXH dùng công cụ này để tác động lên các đối tượng thu và thụ hưởng BHXH nhằm đạt mục tiêu quản lý của mình Chính vì vậy, bộ phận cấu thành đầu tiên của cơ chế thu BHXH phải nói đến chính là hệ thống luật pháp, chính sách trong lĩnh vực thu BHXH

Luật pháp, chính sách và các quy định liên quan đến thu BHXH là sự thể chế hóa thành quyền và nghĩa vụ đối với các đối tượng liên quan đến thu và thụ hưởng BHXH Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến cơ chế thu BHXH, ngoài vai trò của luật pháp nói chung cần phải đạt được hai mục đích: Tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động thu BHXH, đồng thời bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của người được thụ hưởng BHXH

1.2.3.2 Tổ chức thực hiện thu BHXH bắt buộc Thứ nhất, quy định đối tượng tham gia BHXH bắt buộc

Bao gồm người lao động là công dân Việt Nam và người sử dụng lao

động: Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc gồm:

- Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên

Trang 17

- Người lao động đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà chưa nhận bảo hiểm xã hội một lần trước khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng ( hợp đồng với tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp được phép hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, hợp đồng với doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận thầu, công trình ở nước ngoài, hợp đồng cá nhân)

Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc gồm:

- Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp

- Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước

- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác

- Tổ chức, đơn vị hoạt động theo quy định của pháp luật

- Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật Hợp tác

- Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn,

sử dụng và trả công cho người lao động

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam

Thứ hai, xác định căn cứ và phương thức thu BHXH bắt buộc

* Căn cứ thu BHXH bắt buộc

Trên cơ sở các văn bản quy định của Nhà nước về tiền lương làm căn cứ đóng BHXH như: Điều 149 - Bộ Luật Lao động, Luật BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ và các Thông tư, Văn bản quy định, hướng dẫn cụ thể hoá, hoặc giải thích rõ các vấn

đề liên quan đến tiền lương làm căn cứ thu BHXH của người lao động, được quy định cụ thể như sau:

Trang 18

- Tiền lương hàng tháng làm căn cứ thu BHXH là tiền lương, tiền công theo ngạch, bậc hoặc lương theo cấp bậc, chức vụ, lương hợp đồng; các khoản chức vụ, thâm niên chức vụ bầu cử, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có)

- Người lao động hưởng lương theo chế độ tiền lương thuộc hệ thống thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định, được tính theo mức tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm thu BHXH

- Tiền lương hàng tháng làm căn cứ thu BHXH của người lao động làm việc trong các đơn vị liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo mức lương ghi trong hợp đồng lao động, nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định tại thời điểm đóng

* Phương thức và mức thu BHXH bắt buộc

Mức thu không thấp hơn mức lương tối thiểu chung và không cao hơn 20 lần mức lương tối thiểu chung tại thời điểm đóng;

Hàng tháng, người sử dụng lao động trích nộp trên quỹ tiền lương, tiền công của người lao động theo mức quy định chậm nhất vào ngày cuối tháng; Trong thời gian phải truy đóng, nếu người lao động bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và có khám, chữa bệnh thì người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm bồi hoàn chi phí cho người lao động; mức truy đóng tính theo mức lương tối thiểu tại thời điểm đóng;

Người sử dụng lao động đăng ký tham gia BHXH tại nơi đóng trụ sở chính; người lao động tự đóng BHXH tại BHXH quận, huyện nơi cư trú

Thứ ba, xây dựng quy trình thu BHXH bắt buộc

*Người sử dụng lao động và người lao động kê khai hồ sơ tham gia BHXH bắt buộc

Trang 19

Người lao động: Căn cứ hồ sơ gốc kê khai 03 bản “Tờ khai tham gia BHXH bắt buộc” (Mẫu số 01-TBH) nộp cho người sử dụng lao động; Trường hợp đã được cấp sổ BHXH thì không phải kê khai mà chỉ nộp sổ BHXH Người sử dụng lao động: Kiểm tra, đối chiếu Tờ khai tham gia BHXH bắt buộc với hồ sơ gốc của từng người lao động; ký xác nhận và phải chịu trách nhiệm về những nội dung trên Tờ khai của người lao động

Lập 02 bản “Danh sách lao động tham gia BHXH bắt buộc” (Mẫu số TBH) và bản sao quyết định thành lập hoặc chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép hoạt động; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì nộp bản hợp đồng lao động

02a-Trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng, người sử dụng lao động phải nộp toàn bộ hồ

sơ theo quy định đã nêu ở trên và sổ BHXH bắt buộc của người lao động (nếu có) cho cơ quan BHXH

Cơ quan BHXH: Tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra số lượng, tính hợp pháp của các loại giấy tờ và hoàn thiện các thủ tục rồi chuyển trả người lao động Trường hợp hồ sơ chưa đủ, cơ quan BHXH phải hướng dẫn cụ thể để đơn vị hoàn thiện

Cơ quan BHXH: Tiếp nhận, kiểm tra, thẩm định hồ sơ; ký, đóng dấu vào danh sách lao động tham gia BHXH; các Tờ khai (nếu có), thông báo cho đơn

vị đóng BHXH cho người lao động

* Lập và giao kế hoạch thu BHXH bắt buộc

- Bảo hiểm xã hội huyện: Căn cứ tình hình thực hiện năm trước và khả năng mở rộng trong năm tới lập 02 bản "Kế hoạch thu BHXH bắt buộc" năm sau, gửi 01 bản đến BHXH tỉnh trước ngày 05/11 hàng năm

Trang 20

- Bảo hiểm xã hội tỉnh: Lập 02 bản "Kế hoạch thu BHXH bắt buộc" năm sau (Mẫu số 13-TBH), gửi BHXH Việt Nam 01 bản trước ngày 15/11 hàng năm

1.2.3.3 Quản lý thu BHXH bắt buộc

- BHXH tỉnh và BHXH huyện không được sử dụng tiền thu BHXH bắt buộc vào bất cứ mục đích gì (trường hợp đặc biệt phải được Tổng Giám đốc

BHXH Việt Nam chấp thuận bằng văn bản)

- Hàng quý, BHXH tỉnh (Phòng Kế hoạch-Tài chính) và BHXH huyện gửi thông báo quyết toán cho phòng Thu hoặc bộ phận Thu;

- BHXH Việt Nam thẩm định số thu BHXH bắt buộc theo 6 tháng hoặc hàng năm đối với BHXH tỉnh

* Phân cấp quản lý thu BHXH bắt buộc

- Bảo hiểm xã hội Việt Nam (Ban Thu BHXH) chịu trách nhiệm tổng hợp, phân loại đối tượng tham gia BHXH bắt buộc ; Hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức, quản lý thu BHXH bắt buộc ; Kiểm tra, đối chiếu tình hình thu nộp BHXH bắt

buộc, cấp sổ BHXH và thẩm định số thu BHXH bắt buộc

- Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là BHXH tỉnh)

+ Bảo hiểm xã hội tỉnh (phòng Thu BHXH) trực tiếp thu: Các đơn vị do Trung ương quản lý đóng trụ sở trên địa bàn tỉnh, thành phố; Các đơn vị trên địa bàn do tỉnh quản lý; Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức quốc tế; Lao động hợp đồng thuộc doanh nghiệp lực lượng vũ trang; Các đơn

vị đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; Những đơn vị BHXH huyện không đủ điều kiện thu thì BHXH tỉnh trực tiếp tổ chức thu

Trang 21

+ Phòng Thu BHXH có trách nhiệm: Tổ chức, hướng dẫn thu BHXH bắt buộc; Định kỳ quý, năm thẩm định số thu BHXH bắt buộc đối với BHXH huyện; Phối hợp với phòng Kế hoạch Tài chính lập và giao kế hoạch, quản lý tiền thu BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh quản lý

- Bảo hiểm xã hội quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là BHXH huyện) trực tiếp thu BHXH bắt buộc: Các đơn vị trên địa bàn do huyện quản lý; Các đơn vị khác do BHXH tỉnh giao nhiệm vụ thu; Hướng dẫn, tổ chức thực hiện quản lý thu, nộp BHXH bắt buộc;

* Quản lý tiền thu BHXH bắt buộc

- Thu BHXH bắt buộc bằng hình thức chuyển khoản, trường hợp cá biệt phải thu bằng tiền mặt thì cơ quan BHXH phải nộp tiền vào ngân hàng ngay trong ngày

- Không được sử dụng tiền thu BHXH bắt buộc để chi cho bất cứ việc gì; Không được áp dụng hình thức gán thu bù chi tiền BHXH bắt buộc đối với các đơn vị Mọi trường hợp thoái thu, truy thu BHXH bắt buộc để cộng nối thời gian công tác chỉ được thực hiện sau khi có sự chấp thuận bằng văn bản của BHXH Việt Nam

- Chậm nhất vào ngày cuối tháng, cơ quan, đơn vị quản lý đối tượng phải nộp đủ số tiền đã được xác định vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH nơi đăng ký tham gia BHXH bắt buộc Nếu chậm nộp từ 30 ngày trở lên so với

kỳ hạn phải nộp thì ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật xử phạt hành chính về BHXH, cơ quan, đơn vị còn phải nộp tiền lãi theo mức lãi suất tiền vay quá hạn do ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tại thời điểm truy nộp

- Bảo hiểm xã hội huyện chuyển tiền thu BHXH bắt buộc về tài khoản chuyên thu của BHXH tỉnh vào ngày 10 và ngày 25 hàng tháng Riêng tháng cuối năm

Trang 22

chuyển toàn bộ số tiền thu BHXH bắt buộc của huyện về BHXH tỉnh trước 24 giờ ngày 31/12

- Hàng tháng BHXH tỉnh chuyển tiền thu BHXH bắt buộc về tài khoản chuyên thu của BHXH Việt Nam vào các ngày 10, 20 và ngày cuối tháng Nếu

số dư trên tài khoản chuyên thu của BHXH tỉnh quá 5 tỷ đồng, thì BHXH tỉnh phải chuyển bổ sung ngay về BHXH Việt Nam Riêng tháng cuối năm chuyển hết số tiền thu BHXH bắt buộc về BHXH Việt Nam trước 24 giờ ngày 31/12 Quy trình thu-nộp BHXH bắt buộc được tổng quát qua hình sau:

Trang 23

Hình 1.1: Quy trình thu

Thu

Danh sách lao động, quỹ lương

Tài chính chớnh

Thanh toán ốm đau, thai sản

Chứng từ chuyển tiền Theo thời gian và nội dung chứng từ

Hạch toán kế toán Theo thời gian và nội dung chứng từ

Sổ chi tiết số phải thu BHXH, BHYT, BHTN

Sổ chi tiết tiền đóng

Xác định nợ tính lãi

Xác định nợ tính lãi

Sổ chi tiết tiền lãi

Thông báo (08-TBH) Báo cáo thu BHXH,

Trang 24

1.2.3.4 Kiểm tra, thanh tra, kiểm soát thu BHXH bắt buộc

Công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát thu là một trong những nội dung quan trọng của cơ chế thu BHXH bắt buộc, vì nó bảo đảm cho việc thu BHXH bắt buộc được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, đồng thời bảo đảm cho việc sử dụng nguồn thu đúng mục tiêu đề ra

Công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát thu BHXH bắt buộc được thực hiện bởi chính cơ quan BHXH, đồng thời có sự phối hợp của nhiều cơ quan, ban, ngành khác Trong đó, chịu trách nhiệm chính là thủ trưởng của các đơn

vị Quá trình thực hiện thu BHXH bắt buộc, thủ trưởng của các đơn vị phaỉ thường xuyên tự kiểm tra, đối chiếu với chế độ, chính sách về quản lý thu, bảo đảm thu đúng, thu đủ đúng với chính sách và chế độ quy định Cơ quan bảo hiểm cấp trên và các cơ quan liên ngành có trách nhiệm tổ chuc thực hiện chế

độ kiểm tra thường xuyên, định kỳ và không định kỳ đối với các đơn vị, cá nhân có nghĩa vụ thu, nộp và sử dụng BHXH bắt buộc

Khi ý thức và trình độ tự giác chấp hành nộp BHXH của người lao động chưa cao, khi mà họ chưa nhận thức được quyền lợi và nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc thì khi đó vai trò kiểm tra, thanh tra, kiểm soát thu BHXH bắt buộc còn đóng vai trò quan trọng trong cơ chế thu BHXH bắt buộc Có thể nói rằng còn có chính sách thu BHXH bắt buộc thì còn phải chú ý, đề cao và thực hiện kiểm tra, thanh tra, kiểm soát thu BHXH bắt buộc

1.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế thu BHXH bắt buộc

1.2.4.1 Hệ thống thể chế, chính sách về thu BHXH bắt buộc qua từng thời kỳ

Ở mỗi thời kỳ phát triển khác nhau của nền kinh tế, với thể chế kinh tế khác nhau, thì cơ chế thu BHXH bắt buộc cũng khác nhau Cụ thể như, từ năm

1980 - 1990 việc thu BHXH bắt buộc do Bộ Tài chính thực hiện và được tính

Trang 25

vào khoản thu ngân sách Nhà nước mà không có quỹ BHXH độc lập Thời kỳ này, việc chi chế độ hưu trí, mất sức lao động và tử tuất do Ngân sách nhà nước đảm nhiệm, được tinh trong kế hoạch chi ngân sách hàng năm Từ sau

1995, cùng với sự phát triển kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, cơ chế thu BHXH bắt buộc được cải cách cho phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Vì thế, các văn bản pháp lý về cơ chế thu BHXH bắt buộc ở từng thời kỳ phải phù hợp với bối cảnh lịch sử cụ thể của đất nước, mà chủ yếu là phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội

Thể chế về cơ chế thu BHXH bắt buộc, bao gồm các văn bản pháp luật quy định về: Tổ chức bộ máy quản lý công tác thu; các quy định về thu BHXH; trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong chu trình thu BHXH; mối liên hệ giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thu BHXH

Nếu Nhà nước và ngành BHXH xây dựng được các quy tắc, quy định, các văn bản pháp quy hướng dẫn thu BHXH bắt buộc càng chặt ché, càng đầy đủ, đồng bộ, toàn diện càng phù hợp với điều kiện thực tế, điều kiện kinh tế của người lao động thì thu BHXH bắt buộc càng có hiệu quả và do đó càng góp phần đảm bảo cuộc sống ổn định và không ngừng nâng cao Ngược lại nếu Nhà nước và ngành BHXH không xây dựng, ban hành được các quy định, quy tắc, văn bản pháp quy về BHXH bắt buộc chặt chẽ, đồng bộ thì thu BHXH bắt buộc sẽ càng kém hiệu quả và không đạt được yêu cầu, mục đích đề ra

1.2.4.2 Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Đây là nhân tố có ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đến cơ chế thu BHXH

và kết quả thu BHXH bắt buộc Thực tế cho thấy, những nơi có nguồn thu BHXH lớn là những địa phương có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn

Trang 26

so với nơi khác Chẳng hạn như, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là những địa phương có nguồn thu BHXH bắt buộc rất lớn Đó là bởi vì, ở những địa phương này kinh tế - xã hội phát triển, nơi tập trung nhiều doanh nghiệp lớn, nơi mà người dân có mức thu nhập cao hơn, dẫn đến hiểu biết và ý thức chấp hành nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc của người lao động cao hơn

Mặt khác, nếu hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, thì người sử dụng lao động cũng sẽ tự giác, có trách nhiệm với nguôn nhân lực của doanh nghiệp, nên sẽ có ý thức nộp đúng, nộp đủ nghĩa vụ đóng góp BHXH bắt buộc của họ cho người lao động, khắc phục được hiện trạng phổ biến hiện nay là cố

tình trốn tránh tham gia BHXH và nợ đọng tiền đóng BHXH kéo dài

Bởi vì trong quá trình tái sản xuất xã hội thì mới xuất hiện là cơ sở quyết định phân phối, trao đổi, tiêu dùng Chỉ khi có điều kiện về kinh tế khá, thì người lao động mới có điều kiện, mới có ý thức tham gia BHXH bắt buộc Chính vì vậy các nước có nền kinh tế phát triển thì BHXH của họ ngày càng phát triển theo Ngược lại, ở các nước có nền kinh tế thấp kém, lạc hậu, thu nhập của dân trí thấp thì BHXH cũng không thể phát triển được

1.2.4.3 Năng lực tổ chức, quản lý, điều hành, thực hiện công tác thu BHXH bắt buộc

Đây là nhân tố phản ánh trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả công tác quản

lý, điều hành, khai thác nguồn thu của cơ quan BHXH; là quá trình vận dụng, triển khai chủ trương, chính sách BHXH bắt buộc để tổ chức thực hiện vào mỗi địa phương theo những mục tiêu đã định

Thực tế cho thấy, nhiều tỉnh, địa phương trên cả nước có điểm tương đồng

về phát triển kinh tế – xã hội, nhưng nơi nào năng lực tổ chức, điều hành công tác thu BHXH tốt, thì hiệu quả thu sẽ cao, ít có hiện tượng bỏ sót nguồn thu, thu thiếu, chây ỳ nợ đọng trong các nguồn thu

Trang 27

Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy được thiết lập hoàn chỉnh, vận hành đồng

bộ, từng bộ phận thực hiện tốt chức năng và quyền hạn trách nhiệm của mình thì công tác thu BHXH sẽ đạt kết quả tốt

Nhân tố chính này thể hiện phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ quản

lý, điều hành và cán bộ thu BHXH bắt buộc Nếu đội ngũ cán bộ này có năng lực, chuyên môn vững, phẩm chất đạo đức tốt thì năng lực, tổ chức quản lý điều hành thực hiện thu BHXH bắt buộc sẽ đạt kết quả cao và ngược lại

1.2.4.4 Trình độ nhận thức và ý thức trách nhiệm của người tham gia BHXH bắt buộc

Theo quy định của Luật BHXH, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc ở nước ta bao gồm tất cả những người lao động trong các thành phần kinh tế có

sử dụng từ 10 lao động trở lên Quỹ BHXH bắt buộc được hình thành từ việc đóng BHXH của người sử dụng lao động và người lao động, được quản lý thống nhất, tập trung, độc lập với ngân sách nhà nước và được Nhà nước bảo

hộ

Như thế có thể thấy, trình độ nhận thức và ý thức chấp hành việc nộp BHXH bắt buộc của người lao động là nhân tố có ảnh hưởng mạnh mẽ tới nguồn thu BHXH Hiện nay thực tế cho thấy, số người tham gia BHXH bắt buộc chỉ chiếm một tỷ trọng khiêm tốn trong tổng số lao động xã hội

Mặt khác, nguồn thu BHXH còn chịu ảnh hưởng lớn từ ý thức trách nhiệm của người sử dụng lao động Thời gian vừa qua, hiện tượng trốn tránh đóng BHXH bắt buộc cho người lao trở thành hiện tượng phổ biến ở nhiều nơi,

số tiền nợ đọng của các chủ doanh nghiệp lên tới con số nhiều tỷ đồng đã gây không ít khó khăn cho ngành bảo hiểm Rõ ràng nếu chủ doanh nghiệp nhận thức và thực hiện đúng trách nhiệm của mình thì hiệu quả công tác thu BHXH

Trang 28

bắt buộc sẽ đạt kết quả cao và ngược lại nếu chủ doanh nghiệp trốn tránh trách nhiệm của mình sẽ dẫn đến khó khăn cho công tác thu BHXH

1.2.4.5 Mức độ, hiệu quả đôn đốc kiểm tra giám sát và chế độ thưởng phạt đối với đội ngũ thực hiện và đối tượng tham gia BHXH bắt buộc

Trong nền kinh tế thị trường nói chung, nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên CNXH nói riêng thì khi mà trình độ,

ý thức của con người còn hạn chế, thì con người luôn chỉ chú ý đến lợi ích riêng, lợi ích trước mắt, chưa chú ý đến lợi ích lâu dài, lợi ích chung của xã hội Do đó, tính tự giác của con người kể cả người sử dụng lao động, kể cả người lao động tức là đối tượng tham gia BHXH bắt buộc chưa cao Vì vậy muốn thu BXHH bắt buộc có hiệu quả, thu đúng, thu đủ, thu kịp thời thì bên cạnh tính tự giác phải luôn đi đôi với việc đôn đốc thường xuyên, kiểm tra giám sát kịp thời Đồng thời phải luôn gắn liền với chế độ khen chê kịp thời, thưởng phạt nghiêm minh; thưởng phạt cả về vật chất, tinh thần đối với đội ngũ thực hiện thu BHXH bắt buộc và cả những người sử dụng lao động, và người lao động tham gia BHXH bắt buộc

Nếu ở địa phương nào công tác này thực hiện hoạt động tốt thì hiệu quả thu BHXH bắt buộc sẽ cao và ngược lại nếu ở địa phương nào công tác này thực hiện kém thì hiệu quả thu BHXH bắt buộc sẽ kém và xảy ra tình trạng nợ đọng thu BHXH kéo dài

1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ TỈNH, THÀNH PHỐ VỀ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ THU BHXH BẮT BUỘC

1.3.1 Kinh nghiệm của một số tỉnh, thành phố

1.3.1.1 Kinh nghiệm của BHXH Thành phố Hà Nội

Trang 29

Là một trong những địa phương có nguồn thu BHXH lớn nhất cả nước (chỉ sau TP Hồ Chí Minh) BHXH Hà Nội là một trong những đơn vị dẫn đầu

cả nước về những thành tích đã đạt được trong công tác thu BHXH bắt buộc

Tuy nhiên, thời gian qua cũng như hiện nay, BHXH Hà Nội đã và đang đối mặt với một thách thức rất lớn là: Nợ đọng BHXH bắt buộc kéo dài với số lượng lớn của nhiều đơn vị doanh nghiệp Tính đến tháng 6/2013, tổng số tiền

nợ BHXH bắt buộc của các đơn vị với BHXH thành phố Hà Nội lên tới 542,6

tỷ đồng, chiếm 5,2% tổng số thu năm 2013, trong đó nợ từ 12 tháng trở lên chiếm tới 245,3 tỷ đồng

Số tiền nợ nói trên đã phản ánh cơ chế thu BHXH bắt buộc còn nhiều bất cập, công tác thu BHXH còn nhiều khó khăn nhất là những doanh nghiệp nhà nước chuyển sang cổ phần thuộc các ngành giao thông, xây dựng, dệt may…tìm mọi cách đối phó Lý do các doanh nghiệp đưa ra là: ảnh hưởng của suy thoái kinh tế việc sản xuất kinh doanh đình trệ, công trình xây dựng đã hoàn thành nhưng chủ đầu tư chưa thanh toán dẫn đến doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, không có khả năng đóng BHXH bắt buộc cho người lao động

Trước tình hình đó, BHXH Hà Nội đã triển khai rất nhiều biện pháp, như: Kiến nghị với UBND thành phố Hà Nội cho thành lập tổ công tác liên ngành chỉ đạo thu hồi nợ BHXH, với thành phần bao gồm: Thanh tra thành phố; Sở lao động – thương binh và xã hội; Sở Y tế; Sở Kế hoạch - đầu tư; Sở Tài chính; Cục thuế; Liên đoàn lao động Với những đơn vị cố tình nợ đọng kéo dài, BHXH Hà Nội kiên quyết hơn trong xử lý bằng cách khởi kiện ra tòa các đơn

vị, doanh nghiệp này, buộc doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ của mình với người lao động Với biện pháp mạnh mẽ này, BHXH Hà Nội đã thu hồi được 4

tỷ đồng sau khi khởi kiện thành công 9 doanh nghiệp ra tòa, bao gồm: Công ty TNHH một thành viên sản xuất thương mại và xuất khẩu lao động; Công ty tư vấn và xây dung Đông Hải; Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Nghe

Trang 30

nhìn Hà Nội; Công ty TNHH sản xuất, xuất nhập khẩu đầu tư; Công ty cổ phần

tư vấn xây dung Thương mại á Âu; Công ty cổ phần dịch vụ cơ điện lạnh TSC; Công ty cổ phần Hà Sơn; Công ty cổ phần Cavico xây dựng cầu hầm; Công ty

cổ phần đầu tư và xây dựng công trình giao thông 874

1.3.1.2 Kinh nghiệm của BHXH tỉnh Gia Lai

Ngày 01/01/2007 Luật BHXH chính thức có hiệu lực Ngày 27/7/2007 Tổng giám đốc BHXH Việt Nam ban hành quyết định số 902/QĐ-BHXH về việc ban hành quy định quản lý thu BHXH bắt buộc, BHXH tỉnh Gia Lai đã chủ động phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh tổ chức hội nghị tập huấn hướng dẫn các đơn vị sử dụng lao động thực hiện chính sách BHXH theo quy định của luật Ký kết quy chế phối hợp trong việc thực hiện chính sách BHXH với Sở Lao động và thương binh xã hội tỉnh, đẩy mạnh công tác tuyên truyền những nội dung mới của luật, đưa trang thông tin điện tử BHXH Gia Lai đi vào hoạt động, nhằm tuyên truyền kịp thời và giải thích những thắc mắc của người lao động, chủ sử dụng lao động trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Chỉ đạo BHXH các huyện, thị, thành phố chủ động, tích cực phối hợp với các ngành có liên quan như phòng Lao động - Thương binh và xã hội, Chi cục thuế tổ chức điều tra các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hợp tác xã, các cơ sở bán công, dân lập đang hoạt động, nhằm nắm chắc số lượng lao động đang làm việc thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc để có kế hoạch khai thác và mở rộng đối tượng, giao chỉ tiêu kế hoạch thu cho các huyện, thị xã, thành phố Đồng thời tiến hành phân cấp các đơn vị

sử dụng lao động có số lượng lao động nhỏ cho BHXH huyện, thị xã, thành phố quản lý nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người lao động và đơn vị sử dụng lao động

Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 1.412 đơn vị sử dụng lao động tham gia BHXH, với 610.645 người, so với cuối năm 2006 trước khi Luật BHXH có

Trang 31

hiệu lực, đã tăng thêm 144 đơn vị, 10.084 người, đặc biệt số lao động ngoài quốc doanh tăng 41 đơn vị, với số lao động tăng 1.314 người

Theo quy định của Luật BHXH, tỷ lệ trích BHXH bắt buộc từ năm 2009 trở về trước là 20% mức tiền lương, tiền công của người lao động, đơn vị nộp 18% cho cơ quan BHXH 2% số phải nộp đơn vị được giữ lại để chi trả kịp thời

2 chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản cho người lao động Thực tiễn trong quá trình triển khai thực hiện tại Gia Lai hầu hết các đơn vị đều có công văn gửi cơ quan BHXH không giữ lại 2%, mà thực hiện đầy đủ 20%, chỉ duy nhất có một đơn

vị thực hiện giữ lại Nguyên nhân của việc không giữ lại 2%, mà thực hiện đầy

đủ 20% đó là: Do đơn vị có số lao động nhỏ, ốm đau, thai sản ít xảy ra đối với đơn vị, kế toán phụ trách kiêm nhiệm, nên không theo dõi kịp thời việc quyết toán và chuyển trả lại số tiền 2% được giữ lại Xuất phát từ thực tiễn trên, BHXH Gia Lai đã thực hiện việc thu BHXH bắt buộc của người lao động theo mức tỷ lệ bằng 20% tiền lương, tiền công của người lao động Nếu đơn vị có phát sinh ốm đau, thai sản thì lập thủ tục chuyển đến cơ quan BHXH thanh toán, thời gian giải quyết chế độ trợ cấp không quá 15 ngày kể từ ngày cơ quan BHXH nhận hồ sơ

1.3.1.3 Kinh nghiệm của BHXH tỉnh Vĩnh Phúc

Bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập theo Quyết định số 1608 ngày 16/9/1997 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Sau hơn 16 năm xây dựng và phát triển, BHXH tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được những thành tựu to lớn, có nhiều tiến bộ cả về phạm vi bảo hiểm và chất lượng bảo hiểm Năm 1997 BHXH tỉnh Vĩnh Phúc quản lý 281 đầu mối, với 19.720 cán bộ, công nhân lao động, tổng thu BHXH đạt gần 16,5 tỷ đồng Đến hết năm 2009, tổng số đầu mối thu BHXH đã lên tới 1.835 đơn vị với 352.083 cán bộ, công nhân lao động; thực hiện chi trả lương hưu cho trên 03 vạn đối tượng và chi trả các chế độ BHXH ngắn hạn cho trên 10 vạn công nhân lao động số tiền là 512

Trang 32

tỷ đồng Tổng số tiền thu BHXH trong hơn 12 năm là 1.529 tỷ đồng số chi cho các đối tượng thụ hưởng trên 2.500 tỷ đồng

Có được thành công ấy là nhờ sự quyết tâm cao không ngại khó khăn gian khổ, từng bước đi lên tự hoàn thiện mình Thời gian qua BHXH tỉnh Vĩnh Phúc

đã không ngừng phấn đấu hoàn thiện cơ chế thu BHXH bắt buộc, cụ thể như: Ngay từ đầu các năm BHXH tỉnh đã chủ động phối hợp với Sở kế hoạch - Đầu

tư, BQL các KCN và Cục thuế tỉnh để cung cấp danh sách các đơn vị đã được cấp giấy phép kinh doanh, đồng thời tiến hành rà soát từ đó phân công Phòng thu và BHXH các huyện, thành, thị xã tiến hành nắm số lượng đơn vị đang hoạt động để vận động và thực hiện các biện pháp cần thiết yêu cầu các đơn vị sử dụng lao động thực hiện nộp BHXH bắt buộc cho người lao động theo quy định của pháp luật Vì thế, công tác thu BHXH bắt buộc đã được quan tâm và chú trọng hơn nhằm đảm bảo cho nguồn quỹ BHXH tránh được những thất thu, thất thoát đáng tiếc xảy ra Do vậy, mà tổng thu BHXH bắt buộc liên tục tăng qua các năm, với số thu năm sau cao hơn năm trước, đây cũng thể hiện rõ số người tham gia BHXH từ năm 1998 đến năm 2009 tăng lên nhanh chóng

Đối với khối lao động ngoài quốc doanh, khối lao động thuộc Doanh nghiệp liên doanh nhờ tích cực tuyên truyền kết hợp với các văn bản thông tư hướng dẫn quy định bắt buộc phải đăng kí tham gia BHXH bắt buộc cho người lao động (đối với doanh nghiệp có sử dụng từ 10 lao động trở lên và với những hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên) được phổ biến đến các doanh nghiệp nên đối tượng tham gia BHXH bắt buộc cũng dần tăng lên

Đối với khối lao động xã phường, đến ngày 31/1/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 09/1998/NĐ-CP về việc thực hiện BHXH bắt buộc đối với cán bộ xã phường, cùng với sự vận động của BHXH tỉnh mà đã đạt được những kết quả tốt góp phần quan trọng nâng cao nguồn quỹ BHXH bắt buộc

1.4 CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CƠ CHẾ THU BHXH BẮT BUỘC

Trang 33

1.4.1 Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh cơ chế thu BHXH bắt buộc

Để tiến hành quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội, Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý phải sử dụng các công cụ quản lý tác động lên các chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý của mình Trong hệ thống các công cụ quản lý và điều chỉnh kinh tế - xã hội của Nhà nước thì luật pháp là công cụ đặc biệt quan trọng

Luật pháp, chính sách và các quy định liên quan đến thu BHXH là công

cụ quan trọng để cơ quan BHXH thực hiện việc thu BHXH, đồng thời cơ quan BHXH dùng công cụ này để tác động lên các đối tượng thu và thụ hưởng BHXH nhằm đạt mục tiêu quản lý của mình Chính vì vậy, bộ phận cấu thành đầu tiên của cơ chế thu BHXH phải nói đến chính là hệ thống luật pháp, chính sách trong lĩnh vực thu BHXH

Luật pháp, chính sách và các quy định liên quan đến thu BHXH là sự thể chế hóa thành quyền và nghĩa vụ đối với các đối tượng liên quan đến thu và thụ hưởng BHXH Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến cơ chế thu BHXH, ngoài vai trò của luật pháp nói chung cần phải đạt được hai mục đích: Tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động thu BHXH, đồng thời bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của người được thụ hưởng BHXH

1.4.2 Về tổ chức thực hiện thu BHXH bắt buộc

Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc

Việc xác định thành viên tham gia hệ thống BHXH bao gồm NLĐ và NSDLĐ là 1 trong những nhiệm vụ lớn và quan trọng nhất của việc quản lý thu BHXH

Theo quan điểm của tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì “đối tượng tham gia BHXH phải là những người lao động nằm trong độ tuổi được quy định

Trang 34

trong luật định, đang làm việc, hoạt động trong 1 lĩnh vực nào đó để tạo ra sản phẩm xã hội và tạo ra thu nhập cho bản thân” Vì vậy, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc bao gồm những NLĐ nằm trong diện phải tham gia BHXH bắt buộc theo luật định và có sự tham gia của người SDLĐ Việc xác định NSDLĐ không gặp nhiều khó khăn như việc xác định NLĐ, do người SDLĐ phần lớn là các doanh nghiệp, tổ chức có tư cách pháp nhân, vì vậy cơ quan BHXH phối hợp với các cơ quan cấp phép cho các doanh nghiệp hoạt động sẽ nắm được những người SDLĐ

Trong hoạt động quản lý thu BHXH , khi quản lý việc đăng ký tham gia vào hệ thống BHXH của người SDLĐ, cơ quan BHXH cần đưa ra các tiêu thức yêu cầu bắt buộc người SDLĐ có trách nhiệm cung cấp như: Tên người SDLĐ, Loại hình hoạt động kinh doanh theo pháp luật, số lượng lao động thuộc đơn vị quản lý, quỹ lương…

Việc quy định như trên sẽ giúp cơ quan BHXH thống nhất trong công tác quản lý thu BHXH bắt buộc

Về phía NLĐ lần đầu tham gia hệ thống BHXH cần phải cung cấp cho cơ quan BHXH những thông tin như: đầy đủ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, giới tính,địa chỉ, tên người SDLĐ…

Ngoài ra, NLĐ cũng có thể cung cấp thêm những thông tin như: tên của cha, mẹ, số chứng minh thư, tên của chồng hoặc vợ…

Mục tiêu của việc cung cấp những thông tin này nhằm để tránh sự trùng lặp Số đăng ký của NLĐ và người tham gia BHXH cũng phải là duy nhất, không thể sảy ra trường hợp 2 người tham gia có cùng 1 số đăng ký Thông thường, số đăng ký được mã hoá bằng một dãy ký tự Trong quá trình quản lý,

mã số được sử dụng để kiểm tra, số đăng ký càng ngắn càng tốt

Tiền lương bình quân làm căn cứ đóng BHXH

Trang 35

Theo quy định, mức đóng BHXH bắt buộc thường căn cứ vào tiền lương của NLĐ và quỹ lương toàn doanh nghiệp Tuỳ theo điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ mà quy định tỷ lệ đóng cho phù hợp

Như vậy, để quản lý được mức đóng, trước hết cơ quan quản lý Nhà nước

về BHXH phải xây dựng được mức đóng phù hợp với cả người SDLĐ và cả NLĐ Tương quan tỷ lệ đóng trong người SDLĐ và NLĐ không được quá chênh lệch Bên cạnh đó mức đóng BHXH phải được xây dựng trên cơ sở khiến người SDLĐ không muốn trốn tránh, không thể trốn trách nhiệm tham gia BHXH bắt buộc cho NLĐ

Hơn nữa, cơ quan BHXH cần phải quản lý, theo dõi chặt chẽ diễn biến thu nhập của từng cá nhân NLĐ trong từng đơn vị SDLĐ Thường xuyên thực hiện kiểm soát đối chiếu tổng quỹ lương của đơn vị SDLĐ hàng tháng, trên cơ sở đó tính số tiền đơn vị SDLĐ phải nộp quỹ BHXH

Do đặc thù trong công tác thu BHXH là phải thu của nhiều đối tượng tham gia BHXH, với nhiều hình thức khác nhau như: tiền mặt, chuyển khoản séc, uỷ nhiệm chi Vì vậy, với mỗi hình thức chuyển tiền đều phải quản lý chặt chẽ đảm bảo tránh nhầm lẫn, thất thoát Với hình thức chuyển khoản và các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, việc phối hợp với hệ thống ngân hàng, kho bạc phải hết sức chặt chẽ, đảm bảo việc cập nhật số tiền đã chuyển của các đơn vị chính xác, tránh nhầm lẫn và kịp thời với hình thức chuyển tiền thu bằng tiền mặt phải đảm bảo nguyên tắc quản lý thu, chi tiền mặt, cơ quan BHXH có trách nhiệm hướng dẫn đơn vị nộp thẳng vào ngân hàng, kho bạc Nếu trường hợp đặc biệt không thể chuyển được ngay, kế toán thu BHXH phải thực hiện việc vào sổ sách, viết hoá đơn thu chi tiền mặt và chuyển kịp thời về tài khoản chuyển thu tại ngân hàng, kho bạc

Phương thức và mức đóng BHXH

Các hệ thống BHXH sử dụng nhiều phương thức thu, nộp khác nhau như :

Trang 36

- Thẻ dán tem: phương thức này hiện nay ít được áp dụng vì nó chỉ phù hợp với điều kiện mà hệ thống BHXH thực hiện thu và chi BHXH theo 1 tỷ lệ thống nhất

- Hệ thống thu các khoản đóng góp theo sổ lượng, đây là phương thức được áp dụng rộng rãi ở các nước hiện nay

Phương thức thu từ sổ lương được chủ sử dụng lao động nộp bằng tiền mặt cho cơ quan BHXH trong khoảng thời gian đều nhau thông qua hệ thống ngân hàng hoặc các thể chế tài chính tiền tệ nào đó, thường là hàng tháng, phụ thuộc vào chu kỳ thanh toán tiền lương của đơn vị sử dụng lao động Việc thực hiện phương thức thu các khoản đóng góp BHXH như thế nào cho hợp lý cần phải có sự thoả thuận trong cơ quan BHXH với các đơn vị sử dụng lao động và phải được kiểm soát cẩn thận cả danh sách người lao động cũng như số tiền lương thực nộp cho toàn bộ lao động trong đơn vị tham gia BHXH cũng như từng người lao động

Vấn đề quan trọng của việc quản lý các khoản thu nộp BHXH là có thủ tục nhận tiền an toàn, trách sự thất thoát

1.4.3 Về quản lý thu BHXH bắt buộc

Phân cấp quản lý thu:

Giám đốc BHXH cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức thực hiện thu BHXH và chỉ đạo BHXH cấp huyện thu BHXH của tất cả các đơn vị sử dụng lao động có tài khoản và trụ sở đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo phân cấp quản lý như sau:

- BHXH cấp tỉnh tổ chức thu BHXH của các đơn vị sử dụng lao động đóng trên địa bàn tỉnh, bao gồm:

+ Các đơn vị do trung ương quản lý;

+ Các đơn vị do tỉnh trực tiếp quản lý;

+ Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

Trang 37

sở, phải có văn bản đề nghị và có ý kiến của cơ quan BHXH cấp tỉnh nơi đóng trụ sở chính

Lập và giao kế hoạch hàng năm:

- Đối với đơn vị sử dụng lao động: Hàng năm đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm đối chiếu số lao động, quỹ tiền lương và mức nộp BHXH thực tế

cả tháng 9 với danh sách lao động, quỹ tiền lương trích nộp BHXH tại thời điểm đó với cơ quan BHXH trực tiếp quản lý trước ngày 10/10 hàng năm

- Đối với cơ quan BHXH:

+ BHXH tỉnh: lập 02 bản dự toán thu BHXH, BHYT đối với NSDLĐ do tỉnh quản lý , đồng thời tổng hợp toàn tỉnh, lập 02 bản “Kế hoạch thu BHXH, BHYT bắt buộc” năm sau (mẫu số 13 – TBH), gửi BHXH Việt Nam 01 bản trước ngày 15/11 hàng năm

Căn cứ dự toán thu của BHXH Việt Nam giao, tiến hành phân bổ dự toán thu BHXH cho các đơn vị trực thuộc BHXH tỉnh trước ngày 20/01 hàng năm + BHXH Việt Nam căn cứ tình hình thực tế kế hoạch năm trước và khả năng phát triển lao động năm sau của các địa phương, tổng hợp, lập, giao dự

Trang 38

toán thu BHXH, BHYT cho BHXH tỉnh và BHXH thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và ban cơ yếu Chính phủ trước ngày 10/01 hàng năm

Quản lý tiền thu BHXH:

- BHXH tỉnh không được sử dụng tiền thu BHXH, BHYT vào bất cứ mục đích gì (Trường hợp đặc biệt phải được tổng giám đốc BHXH Việt Nam chấp thuận bằng văn bản.)

- Hàng quý, BHXH tỉnh (Phòng Kế hoạch – Tài chính quyết toán số tiền 2% đơn vị được giữ lại, xác định số tiền chênh lệch thừa, thiếu, đồng thời gửi thông báo quyết toán cho phòng thu hoặc bộ phận thu để được thực hiện thu kịp thời số tiền người SDLĐ chưa chi hết vào tháng đầu của quý sau

- BHXH Việt Nam thẩm định số thu BHXH, BHYT theo 6 tháng hoặc hàng năm đối với BHXH tỉnh

Thông tin báo cáo:

- BHXH tỉnh mở sổ chi tiết thu BHXH, BHYT bắt buộc (mẫu 07 – TBH); thực hiện ghi sổ theo hướng dẫn sử dụng mẫu biểu

- BHXH tỉnh thực hiện chế độ báo cáo tình hình thu BHXH bắt buộc (mẫu

số 09, 10, 11–TBH) định kỳ như sau: báo cáo tháng trước ngày 25 hàng tháng; báo cáo quý trước ngày cuối tháng đầu quý sau; báo cáo năm trước ngày 15/02 năm sau

Quản lý hồ sơ, tài liệu:

- BHXH tỉnh cập nhật thông tin, dữ liệu của người tham gia BHXH, BHYT để kịp thời phục vụ cho công tác nghiệp vụ và quản lý

- BHXH tỉnh xây dựng hệ thống mã số đơn vị tham gia BHXH áp dụng trong địa bàn tỉnh theo hướng dẫn của BHXH Việt Nam Mã số tham gia BHXH tỉnh cấp cho đơn vị để đăng ký tham gia BHXH được sử dụng thống nhất trên hồ sơ, giấy tờ, sổ sách và báo cáo nghiệp vụ

Trang 39

- BHXH các cấp tổ chức phân loại, lưu trữ và bảo quản hồ sơ, tài liệu thu BHXH đảm bảo khoa học để thuận tiện khai thác, sử dụng Thực hiện ứng dụng CNTT để quản lý người tham gia BHXH, cấp sổ BHXH cho người tham gia

1.4.4 Kiểm tra, kiểm soát thu BHXH bắt buộc

Thu BHXH là 1 nội dung của tài chính BHXH, mà thông thường bất kỳ hoạt động nào liên quan đến tài đều rất dễ mắc phải tình trạng gây thất thoát,

vô ý hoặc cố ý làm sai Vì vậy, với nhiệm vụ mà người quản lý phải đảm bảo

đó là: kiểm tra, hoạt động thu BHXH đã được đánh giá hoạt động 1 cách kịp thời và toàn diện Nhờ có hoạt động quản lý sát sao mà công tác kiểm tra, đánh giá luôn được sát thực tiễn với quá trình thu, hoạt động thu sẽ được điều chỉnh kịp thời sau khi có sự đánh giá

Trang 40

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CƠ CHẾ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HẢI PHÒNG

VÀ SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI HẢI PHÒNG

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của TP Hải Phòng ảnh hưởng tới cơ chế thu BHXH bắt buộc

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Hải Phòng là một thành phố ven biển, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông và đảo Hải Nam - cách huyện đảo Bạch Long

Vĩ khoảng 70 km Thành phố cách thủ đô Hà Nội 102 km về phía Đông Đông Bắc Điểm cực Bắc của thành phố là xã Lại Xuân thuộc huyện Thủy Nguyên; cực Tây là xã Hiệp Hòa, huyện Vĩnh Bảo; cực Nam là xã Vĩnh Phong, huyện Vĩnh Bảo; và cực Đông là đảo Bạch Long Vĩ

Hải Phòng có diện tích đất là 1507,57 km²,trong đó diện tích đất liền là 1208,49 km² Tổng diện tích đất sử dụng là 152,2 nghìn ha trong đó đất ở chiếm 8,61%; đất dùng cho nông nghiệp chiếm 33,64%; đất lâm nghiệp chiếm 14,45%; còn lại là đất chuyên dụng

Thời tiết Hải phòng mang tính chất cận nhiệt đới ẩm đặc trưng của thời tiết miền Bắc Việt Nam: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông khô và lạnh,

có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt Nhiệt độ trung bình vào mùa

hè là khoảng 32,5 °C, mùa đông là 20,3 °C và nhiệt độ trung bình năm là trên 23,9 °C Lượng mưa trung bình năm là khoảng 1600 – 1800 mm Độ ẩm trong không khí trung bình 85 - 86%

2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Ngày đăng: 01/04/2017, 18:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bảo hiểm xã hội Hải Phòng (2006, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011), Báo cáo tổng kết công tác BHXH các năm và phương hướng nhiệm vụ năm tiếp theo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội Hải Phòng (2006, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011)
18. Chính phủ (2007), Nghị định 135/2007/NĐ-CP ngày 16/8/2007 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội 19. Chính phủ (2006), Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12năm 2006 hướng dẫn một số điều của Luật BHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2007), "Nghị định 135/2007/NĐ-CP ngày 16/8/2007 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội "19. Chính phủ (2006), "Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12
Tác giả: Chính phủ (2007), Nghị định 135/2007/NĐ-CP ngày 16/8/2007 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội 19. Chính phủ
Năm: 2006
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2006
29. Luật kinh doanh Bảo hiểm (2001), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật kinh doanh Bảo hiểm
Tác giả: Luật kinh doanh Bảo hiểm
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2001
1. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1999), Quyết định số 2902/1999/QĐ- BHXH ngày 23 tháng 11 năm 1999 về việc ban hành quy định quản lý thu BHXH thuộc hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam Khác
2. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1999), Quyết định số 2903/1999/QĐ- BHXH ngày 24 tháng 11 năm 1999 về việc ban hành quy định quản lý chi trả các chế độ BHXH thuộc hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam Khác
4. Bộ Tài chính - Tổng Công đoàn Việt Nam (1962), Thông tư liên bộ số 17- TT/LB ngày 9 tháng 6 năm 1962 hướng dẫn cách thức tính nộp kinh phí cho quỹ BHXH Khác
5. Bộ Tài chính (1998), Thông tư số 85/1998/TT-BTC ngày 25 tháng 6 năm 1998 hướng dẫn quy chế quản lý tài chính đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam Khác
6. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2007),Thông tư 03/2007/TT- BLĐTBXH ngày 30/01/2007 hướng dẫn một số điều của Nghị định 152/2006/NĐ-CP Khác
7. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2008), Thông tư 19/2008/TT- LĐTBXH ngày 23/9/2008 sửa đổi một số điều của Thông tư Khác
8. Chính phủ (1995), Nghị định số 12-CP ngày 26 tháng 1 năm 1995 về việc ban hành Điều lệ BHXH Khác
9. Chính phủ (1995), Nghị định số 19-CP ngày 26 tháng 2 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Bảo hiểm xã hội Việt Nam Khác
10. Chính phủ (1996), Nghị định số 38/CP ngày 25 tháng 6 năm 1996 quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động Khác
11. Chính phủ (1998), Nghị định số 93/1998/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 1998 về việc sửa đổi, bổ sung một số diều của Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26 tháng 1 năm 1995 của Chính phủ Khác
12. Chính phủ (1999), Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8 tháng 7 năm 1999 về việc ban hành quy chế quản lý đầu tư và xây dựng Khác
13. Chính phủ (1999), Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ về chính sách khuyến kích xã hội hóa đối với hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao Khác
14. Chính phủ (1999), Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 1 tháng 9 năm 1999 về việc ban hành quy chế đấu thầu Khác
15. Chính phủ (2000), Nghị định số 12/2000/ NĐ-CP ngày 5 tháng 5 năm 2000 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP Khác
16. Chính phủ (2002), Quyết định 100/2002/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2002 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam Khác
17. Chính phủ (2007), Nghị định số 68/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ qui định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Quy trình thu - Biện pháp hoàn thiện cơ chế thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Hình 1.1 Quy trình thu (Trang 23)
Hình công đoàn cơ sở, hiện nay cơ quan văn phòng BHXH thành phố có các tổ  công  đoàn,  các  huyện,  quận  có  công  đoàn  bộ  phận  trực  thuộc  công  đoàn  BHXH thành phố - Biện pháp hoàn thiện cơ chế thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Hình c ông đoàn cơ sở, hiện nay cơ quan văn phòng BHXH thành phố có các tổ công đoàn, các huyện, quận có công đoàn bộ phận trực thuộc công đoàn BHXH thành phố (Trang 45)
Bảng 2.1: Số đơn vị và số lao động tham gia BHXH bắt buộc năm 2013 - Biện pháp hoàn thiện cơ chế thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Bảng 2.1 Số đơn vị và số lao động tham gia BHXH bắt buộc năm 2013 (Trang 52)
Bảng 2.2 : Lãi suất chậm đóng BHXH bắt buộc - Biện pháp hoàn thiện cơ chế thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Bảng 2.2 Lãi suất chậm đóng BHXH bắt buộc (Trang 59)
Hình 2.5  Diễn biến lãi suất chậm đóng - Biện pháp hoàn thiện cơ chế thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Hình 2.5 Diễn biến lãi suất chậm đóng (Trang 60)
Bảng 2.4: Kết quả thu BHXH, BHYT, BHTN bắt buộc thời gian 2008- - Biện pháp hoàn thiện cơ chế thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Bảng 2.4 Kết quả thu BHXH, BHYT, BHTN bắt buộc thời gian 2008- (Trang 70)
Bảng 2.5: Tình hình quản lý thu BHXH bắt buộc (2003 - đến 09/2014) - Biện pháp hoàn thiện cơ chế thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Bảng 2.5 Tình hình quản lý thu BHXH bắt buộc (2003 - đến 09/2014) (Trang 73)
Bảng 2.6 Tình hình thu theo khối, loại hình - Biện pháp hoàn thiện cơ chế thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Bảng 2.6 Tình hình thu theo khối, loại hình (Trang 76)
Bảng 3.1 Dự kiến tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm : - Biện pháp hoàn thiện cơ chế thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Bảng 3.1 Dự kiến tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm : (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w