Lý do chọn đề tài Trong một nền kinh tế mở, chính sách điều hành tỷ giá hối đoái được xem như là một công cụ để chính phủ các nước giảm thiểu tác động của những cú sốc do biến động khách
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-[ \ -
PHẠM THỊ PHƯƠNG LINH
GIẢI PHÁP CHO CHÍNH SÁCH ĐIỀU HÀNH
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-[ \ -
PHẠM THỊ PHƯƠNG LINH
GIẢI PHÁP CHO CHÍNH SÁCH ĐIỀU HÀNH
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kinh tế tài chính – ngân hàng
Mã số : 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2011
Trang 3Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các đồ thị
Mở đầu
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1.1 Tỷ giá hối đoái 1
1.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái 1
1.1.2 Phân loại tỷ giá hối đoái 1
1.1.3 Vai trò của tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế 2
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái 3
1.1.5 Ý nghĩa kinh tế của tỷ giá hối đoái 6
1.2 Chính sách tỷ giá hối đoái 7
1.2.1 Chính sách tỷ giá hối đoái và nội dung của chính sách tỷ giá hối đoái 7
1.2.2 Các chế độ tỷ giá hối đoái 8
1.2.3 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến nền kinh tế 9
1.2.3.1 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đối với cán cân thương mại 9
1.2.3.2 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đối với lạm phát 10
1.2.3.3 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đối với đầu tư quốc tế và nợ nước
ngoài 11
12.3.4 Tác động của chính sách tỷ giá đến hiện tượng đô la hóa 12
1.2.4 Ý nghĩa và mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái 12
1.3 Tác động của chính phủ đến việc điều hành chính sách tỷ giá hối đoái 13
1.3.1 Các công cụ điều hành điều hành tỷ giá hối đoái của chính phủ 13
1.3.2 Biện pháp can thiệp của chính phủ vào chính sách tỷ giá hối đoái 15
1.3.2.1 Các lý do của việc can thiệp vào ngoại hối 15
Trang 41.3.2.3 Can thiệp gián tiếp của chính phủ 17
1.3.3 Cách thức điều chỉnh sự mất cân bằng tỷ giá hối đoái của chính phủ 18
1.4 Cơ chế tỷ giá ở một số nước Châu Á – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 20
1.4.1 Trung quốc 20
1.4.2 Malaysia 22
1.4.3 Thái Lan 22
1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 22
Kết luận chương 1 23
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2000 - 2010 2.1 Thực trạng chính sách điều hành tỷ giá hối đoái trong giai đoạn từ 2000 – 2006 24
2.1.1 Chính sách điều hành tỷ giá hối đoái trong giai đoạn 2000 – 2006 24
2.1.2 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến sự tăng trưởng trong nền kinh tế 25
2.2 Thực trạng chính sách điều hành tỷ giá hối đoái giai đoạn từ 2007 – 2010 27
2.2.1 Diễn biến kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2007 - 2010 27
2.2.2 Thực trạng chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam giai đoạn 2007 - 2010 36
2.2.2.1 Chính sách điều hành tỷ giá hối đoái năm 2007 36
2.2.2.2 Chính sách điều hành tỷ giá hối đoái năm 2008 38
2.2.2.3 Chính sách điều hành tỷ giá hối đoái năm 2009 40
2.2.2.4 Chính sách điều hành tỷ giá hối đoái năm 2010 42
2.3 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến nền kinh tế trong giai đoạn 2007 - 2010 44
2.3.1 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến lạm phát trong nền kinh tế 44
2.3.1.1 Trong năm 2007 và nửa đầu năm 2008, chính sách tỷ giá chưa linh hoạt làm cho cung tiền trong nước tăng cao 44
Trang 5khiến cho kinh tế trong nước nhập khẩu lạm phát và đối mặt với nỗi lo giảm phát 45
2.3.1.3 Tác động của lạm phát gia tăng đến lãi suất và sự tác động của hai biến này đến tỷ giá hối đoái 46
2.3.2 Tác động chính sách tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại 47
2.3.2.1 Một số bất cập trong lĩnh vực xuất nhập khẩu tại Việt Nam 47
2.3.2.2 Phân tích tác động của chính sách điều hành tỷ giá đến cán cân thương mại 48
2.3.4 Tác động chính sách tỷ giá hối đoái đến đầu tư quốc tế và nợ nước ngoài 50
2.3.4.1 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến đầu tư quốc tế 50
2.3.4.2 Tác động chính sách tỷ giá hối đoái đến nợ nước ngoài 52
2.3.5 Tác động chính sách tỷ giá hối đoái đến tình trạng đôla hóa trong nền kinh tế 54
2.4 Những thành công và những vấn đề còn bất cập trong chính sách điều hành tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập 56
2.4.1 Những thành công của Nhà nước trong việc điều hành tỷ giá hối đoái 56
2.4.2 Những vấn đề còn bất cập trong chính sách điều hành tỷ giá hối đoái 56
2.4.3 Nguyên nhân của những tồn tại trong chính sách điều hành tỷ giá hối đoái 57
Kết luận chương 2 57
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI VIỆT NAM 3.1 Định hướng chung cho chính sách tỷ giá hối đoái tại Việt Nam 59
3.2 Bài toán tỷ giá hối đoái cho nền kinh tế Việt Nam 60
3.2.1 Chính sách tỷ giá hối đoái cho tình trạng thâm hụt cán cân thương mại 60
3.2.2 Chính sách tỷ giá hối đoái với nợ nước ngoài 63
3.2.3 Chính sách tỷ giá hối đoái cho bài toán kiềm chế lạm phát 65
3.2.3.1 Sử dụng hiệu quả các công cụ can thiệp tỷ giá hối đoái 65
3.2.3.2 Xây dựng các công cụ dự báo tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại tệ 67
Trang 63.2.4.1 Tăng cường giám sát và kiểm soát hoạt động của các dòng vốn vào và ra 68
3.2.4.2 Quản lý tốt thị trường ngoại hối 70
3.2.4.3 Hoàn thiện thị trường bảo hiểm rủi ro tài chính 73
3.2.5 Khắc phục tình trạng đôla hóa và nâng cao vị thế đồng Việt Nam 74
3.2.5.1 Các giải pháp xuất phát từ thị trường tiền tệ 74
3.2.5.2 Các biện pháp hành chính của nhà nước 75
3.2.5.3 Minh bạch và công khai hóa thông tin 76
3.3 Một số kiến nghị trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN 77
3.3.1 Tăng cường vai trò kiểm tra, rà soát và giám sát của nhà nước 77
3.3.2 Nâng cao hiệu quả sử dụng các chính sách điều hành kinh tế của nhà nước 78
3.3.2.1 Đối với chính sách điều hành tỷ giá hối đoái 78
3.3.2.2 Xem xét mối tương quan giữa các chính sách để có sự phối hợp các chính sách đạt hiệu quả cao 79
Kết luận chương 3 80
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Hình 1.1: Tác động của việc gia tăng lạm phát ở Mỹ đến giá trị cân bằng của đồng bảng Anh 3
Hình 1.2: Tác động của sự gia tăng lãi suất ở Mỹ đến giá trị cân bằng của đồng bảng Anh 4
Hình 1.3: Tác động gia tăng thu nhập của Mỹ lên giá trị cân bằng của đồng bảng Anh 5
Hình 1.4: Sự biến thiên của cán cân thương mại (đường cong J) khi một quốc gia phá giá với điều kiện Marshall – Lerner đã thỏa ……… 20
Hình 2.1: Tỷ giá bình quân giai đoạn 1995 – 2008 24
Hình 2.2: Tăng trưởng GDP thực tế và lạm phát 1990-2008 25
Hình 2.3: Giá trị xuất, nhập khẩu của Việt Nam 1986-2008 26
Hình 2.4: Biến động vốn FDI và số dự án đầu tư từ năm 1998 - 2008 26
Hình 2.5: Hệ số ICOR trong các giai đoạn 29
Hình 2.6: CPI từ tháng 1/2006 đến 1/2011 29
Hình 2.7: Nguyên nhân gia tăng lạm phát 30
Hình 2.8: Biến động lãi suất trong giai đoạn 2008 – tháng 2/2011 32
Hình 2.9: Tỷ giá giao dịch của VND với các ngoại tệ năm 2008 38
Hình 2.10: Biến động tỷ giá USD/VND trong giai đoạn 1/2009 – 8/2010 41
Hình 2.11: Biến động tỷ giá từ tháng 1/2009 – 1/2011 43
Hình 2.12: Tốc độ tăng cung tiền và GDP của 3 nước từ năm 2004 - 2007 45
Hình 2.13: Biểu đồ thu hút vốn FDI từ năm 2008 – 2010 51
Hình 2.14: Lượng vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán giai đoạn 2007 - 2010 51
Hình 2.15: Tỷ lệ tăng trưởng vốn đầu tư giai đoạn 2001 – 2010 52
Hình 2.16: Cơ cấu dư nợ nước ngoài của chính phủ phân loại theo tiền tính đến 31/12/2009 54
Hình 2.17: Ngoại tệ chiếm 20% nguồn tiền lưu thông tại Việt Nam 54
Hình 3.1: Tỷ giá danh nghĩa, tỷ giá thực và nhập siêu giai đoạn 2000 – 1/2011 60
Trang 8Bảng 2.1: Mất giá của VND so với USD trong giai đoạn 2000 – 2006 24
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng GDP 28
Bảng 2.3: Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 2007-2010 28
Bảng 2.4: Xuất, nhập khẩu và cán cân thương mại giai đoạn 2006 - 2010 33
Bảng 2.5: Dự trữ ngoại hối giai đoạn 2007 - 2010 35
Bảng 2.6: Biến động biên độ tỷ giá và TGBQLNH giai đoạn 2007- tháng 2/2011 36
Bảng 2.7: Tác động của sự điều chỉnh tỷ giá đến cán cân thương mại 48
Bảng 2.8: Tỷ lệ nợ nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 2005 – 2009 53
Trang 9CNY : Nhân dân tệ
CPI : Chỉ số giá tiêu dùng
EUR : Euro
FDI : Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
FII : Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội hay sản lượng quốc gia HKD : Đồng đôla Hồng Kông
IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế
JPY : Yên Nhật
LSCB : Lãi suất cơ bản
MLR : Đồng Ringit Malaysia
NHNN : Ngân hàng nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTW : Ngân hàng trung ương
SGD : Đồng đô la Singapore
TGBQLNH : Tỷ giá bình quân liên ngân hàng
THB : Bath Thái Lan
Trang 101 Lý do chọn đề tài
Trong một nền kinh tế mở, chính sách điều hành tỷ giá hối đoái được xem như là một công cụ để chính phủ các nước giảm thiểu tác động của những cú sốc do biến động khách quan từ tình hình kinh tế bên ngoài gây ra trong quá trình hội nhập
Tỷ giá hối đoái là vấn đề phức tạp, có liên quan mật thiết đến các biến trong nền kinh
tế như lạm phát, lãi suất, cán cân thương mại, đôla hóa v.v và việc thực hiện mục tiêu kinh
tế vĩ mô Chính vì vậy, tỷ giá hối đoái luôn là vấn đề thời sự nóng bỏng và là mối quan tâm của tất cả các nước, bên cạnh đó tỷ giá hối đoái còn có tác động mạnh và ảnh hưởng đến nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng và mối quan hệ kinh tế quốc tế nói chung, đặc biệt là quan
hệ thương mại giữa các nước với nhau
Việc xác định được một chính sách điều hành tỷ giá hối đoái thích hợp với từng giai đoạn của nền kinh tế sẽ giúp quốc gia chủ động trước những biến động bất thường của kinh tế thế giới và hạn chế được những cú sốc trong nền kinh tế Từ đó giúp ổn định tiền tệ, ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát, cải thiện thâm hụt cán cân thương mại, thu hút đầu tư, tạo dựng lòng tin vào đồng nội tệ, vào chính sách điều hành kinh tế của nhà nước Riêng tại Việt Nam trong giai đoạn vừa qua chính sách điều hành tỷ giá hối đoái mặc dù đã cho thấy một vai trò nhất định nhưng vẫn còn đó những tồn tại và hạn chế cần được khắc phục, trong thời gian tới đòi hỏi chính sách tỷ giá cần được điều hành linh hoạt hơn, bám sát thị trường hơn và hiệu
quả hơn Chính vì vậy, với đề tài “Giải pháp cho chính sách điều hành tỷ giá hối đoái tại
Việt Nam” sẽ phản ánh rõ hơn thực trạng chính sách tỷ giá hối đoái trong các giai đoạn phát
triển tại Việt Nam và những vấn đề còn bất cập của việc điều hành tỷ giá hối đoái Từ đây, các giải pháp về chính sách điều hành tỷ giá sẽ được đưa ra nhằm góp phần xây dựng kinh tế bền vững, ổn định và đủ lực chống lại cú sốc từ bên ngoài
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cần đạt được các mục đích sau
• Làm sáng tỏ những nhận thức cơ bản về tỷ giá hối đoái và các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách điều hành tỷ giá hối đoái
• Điểm lại một cách khách quan quá trình điều hành chính sách tỷ giá hối đoái của NHNN trong thời gian qua (giai đoạn 2000 – 2010)
• Đánh giá tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến các nhân tố trong nền kinh tế
Trang 11• Đề xuất một số giải pháp xây dựng chính sách tỷ giá hối đoái hoàn thiện hơn cho mục tiêu kinh tế phát triển ổn định và bền vững trong thời gian tới
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những biến động của tỷ giá và chính sách điều hành tỷ giá của NHNN trong giai từ 2000 đến năm 2010, trong đó, đặc biệt phân tích và đánh giá kỹ sự biến động của tỷ giá, sự của điều hành tỷ giá của nhà nước và tác động tỷ giá đến nền kinh tế của trong giai đoạn sau khi Việt Nam gia nhập WTO (2007 – 2010) Từ đây, có thể định hướng cho chính sách điều hành tỷ giá hối đoái, với hy vọng chính sách điều hành tỷ giá đúng đắn sẽ
là đòn bẩy giúp cho kinh tế Việt Nam tăng trưởng vững mạnh, và VND sẽ trở thành đồng chuyển đổi trong tương lai
3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp được dùng trong bài chủ yếu là phương pháp liệt kê, mô tả các sự kiện,
so sánh, đối chiếu… đồng thời kết hợp với các học thuyết kinh tế hiện đại, các kinh nghiệm điều hành chính sách tỷ giá của các nước trên Châu Á, từ đó đưa ra phương hướng hoàn thiện
cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái tại Việt Nam
4 Cấu trúc đề tài
Đề tài gồm 3 chương
Chương 1: Tổng quan về chính sách điều hành tỷ giá hối đoái
Chương 2: Chính sách điều hành tỷ giá hối đoái tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Chương 3: Giải pháp trong điều hành chính sách tỷ giá hối đoái tại Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1.1 Tỷ giá hối đoái
1.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái
Hối đoái: là sự chuyển đổi từ một đồng tiền này sang một đồng tiền khác, chẳng hạn
từ VND sang USD hay sang EUR.v.v Sự chuyển đổi này xuất phát từ yêu cầu thanh toán giữa các cá nhân, các công ty, các tổ chức thuộc hai quốc gia khác nhau và dựa trên tỷ lệ nhất định của hai đồng tiền Tỷ lệ đó gọi là tỷ giá hối đoái hay gọn hơn là tỷ giá
Tỷ giá hối đoái: là sự so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền của hai nước khác nhau Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái là giá của một đồng tiền này tính bằng giá của một đồng tiền khác
Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ Tỷ giá hối đoái một mặt nó phản ánh sức mua của đồng nội tệ, mặt khác nó thể hiện cung cầu ngoại hối
Ở Việt Nam, Pháp lệnh ngoại hối được quy định tại khoản 10 điều 3 Nghị định 160/2006 NĐ-CP ngày 18/12/2006 của Chính phủ có định nghĩa: “ Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam”
1.1.2 Phân loại tỷ giá hối đoái
Có rất nhiều loại tỷ giá khác nhau tùy thuộc vào từng tiêu thức phân loại khác nhau
Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá hối đoái bao gồm:
Tỷ giá chính thức: là một loại tỷ giá do NHTW của mỗi nước công bố Tỷ giá hối đoái này được công bố hàng ngày vào đầu giờ làm việc của NHTW Dựa vảo tỷ giá này các NHTM và các tổ chức tín dụng sẽ ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi Ở một số nước như Pháp tỷ giá hối đoái chính thức được ấn định thông qua nhiều giao dịch vào thời điểm xác định trong ngày
Tỷ giá kinh doanh: là tỷ giá dùng để kinh doanh, mua bán ngoại tệ Tỷ giá này do các NHTM hay các tổ chức tín dụng đưa ra Cơ sở xác định tỷ giá này là tỷ giá chính thức
do NHTW công bố xem xét đến các yếu tố liên quan trực tiếp đến kinh doanh như: cung cầu ngoại tệ, tỷ suất lợi nhuận, tâm lý của người giao dịch đối với ngoại tệ cần mua hoặc bán
Tỷ giá kinh doanh bao gồm tỷ giá mua, tỷ giá bán, tỷ giá chợ đen (tỷ giá được hình thành bên ngoài thị trường ngoại tệ chính thức)
Căn cứ vào tiêu thức, thời điểm thanh toán
Tỷ giá giao nhận ngay là tỷ giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận ngoại tệ được thực hiện ngay trong ngày hôm đó hoặc một vài ngày sau Loại tỷ giá này do tổ chức tín dụng yết giá tại thời điểm giao dịch hoặc do hai bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảo trong
Trang 13biên độ do NHNN quy định Việc thanh toán giữa các bên phải được thực hiện trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo sau ngày cam kết mua bán
Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn là tỷ giá giao dịch do tổ chức tín dụng yết giá hoặc do hai bên tham gia giao dịch tự tính toán và thỏa thuận với nhau nhưng phải đảm bảo trong biên
độ quy định về tỷ giá hiện hành của NHNN tại thời điểm ký kết hợp đồng
Thường là giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận ngoại tệ được thực hiện theo hợp đồng (1, 3, 6 tháng…)
- Tỷ giá mở cửa: tỷ giá mua bán ngoại tệ của chuyến giao dịch đầu tiên trong ngày
- Tỷ giá đóng cửa: tỷ giá mua bán ngoại tệ của hợp đồng ký kết cuối cùng trong ngày
Căn cứ vào tiêu thức giá trị của tỷ giá, tỷ giá được chia thành tỷ giá danh nghĩa và
tỷ giá thực
Tỷ giá danh nghĩa là tỷ giá được niêm yết và có thể trao đổi giữa hai đồng tiền mà không đề cập đến tương quan sức mua giữa chúng
Tỷ giá thực là tỷ giá đã được điều chỉnh theo sự thay đổi trong tương quan giá cả của nước
có đồng tiền yết giá và giá cả hàng hóa của nước có đồng tiền định giá
Quan hệ giữa hai loại tỷ giá này được thể hiện qua cách tính sau:
En x Pb/ Pf = Er
Er: Tỷ giá hối đoái thực
En: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
Pb: Giá cả ở nước có đồng tiền yết giá
Pf: Giá cả ở nước có đồng tiền định giá
Căn cứ vào phương tiện chuyển ngoại hối, tỷ giá được phân thành hai loại:
Tỷ giá điện hối: là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện Đây là tỷ giá cơ sở để xác định các loại
tỷ giá khác
Tỷ giá thư hối là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư
Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế, tỷ giá được chia thành 5 loại:
Tỷ giá séc là tỷ giá mua bán các loại séc ngoại tệ
Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu trả tiền ngay bằng ngoại tệ
Tỷ giá hối phiếu có kỳ hạn là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu có kỳ hạn bằng ngoại tệ
Tỷ giá chuyển khoản là tỷ giá mua bán ngoại hối bằng cách chuyển khỏan qua ngân hàng
Tỷ giá tiền mặt là tỷ giá mua bán ngoại hối được thanh toán bằng tiền mặt
1.1.3 Vai trò của tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế
Đối với từng quốc gia hay nhóm quốc gia (nếu có sự liên kết hay có đồng tiền chung) thì tỷ giá hối đoái mà họ quan tâm hàng đầu chính là tỷ giá của chính đồng tiền quốc
Trang 14gia đó hay nhóm quốc gia đó (đồng nội tệ) với đồng tiền của các quốc gia khác (đồng ngoại tệ) Tỷ giá hối đoái giữ vai trò quan trọng đối với mọi nền kinh tế Sự vận động của nó có tác động sâu sắc mạnh mẽ tới mục tiêu, chính sách kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia thể hiện trên hai điểm cơ bản sau:
* Tỷ giá hối đoái và ngoại thương: tỷ giá giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ là quan trọng đối với mỗi quốc gia vì trước tiên nó tác động trực tiếp đến giá cả hàng hoá xuất nhập khẩu của chính quốc gia đó Khi một đồng tiền của quốc gia tăng giá (tăng trị giá so với đồng tiền khác) thì hàng hoá nước đó ở nước ngoài trở nên đắt hơn và hàng hoá của nước ngoài tại nước đó trở nên rẻ hơn Ngược lại, khi đồng tiền một nước sụt giá, hàng hoá của nước đó tại nước ngoài trở nên rẻ hơn trong khi hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở nên đắt hơn (khi các yếu tố khác không thay đổi) Tỷ giá tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu vì vậy nó tác động đến cán cân thanh toán quốc tế, gây ra thâm hụt hoặc thặng dư
* Tỷ giá hối đoái và sản lượng, công ăn việc làm và lạm phát Tỷ giá hối đoái không chỉ quan trọng là tác động đến ngoại thương mà thông qua đó, tỷ giá sẽ có tác động đến các khía cạnh khác của nền kinh tế như mặt bằng giá cả trong nước, lạm phát, khả năng sản xuất, công ăn việc làm hay thất nghiệp…
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái
Tỷ lệ lạm phát tương đối: Sự thay đổi trong tỷ lệ lạm phát tương đối có thể ảnh
hưởng đến các hoạt động thương mại, đến lượt nó những hoạt động thương mại này tác động lên cầu tiền và cung tiền, và vì thế tác động đến tỷ giá hối đoái
Nếu lạm phát của Mỹ đột ngột tăng lên đáng kể trong khi lạm phát ở Anh vẫn duy trì như cũ (giả định là công ty Anh và Mỹ đều bán hàng hoá có thể thay đổi lẫn nhau) Sự tăng vọt lạm phát bất thình lình ở Mỹ sẽ gây ra một sự gia tăng nhu cầu của Mỹ đối với nhu cầu hàng hoá Anh, tạo ra sự gia tăng nhu cầu của của Mỹ đối với đồng bảng Anh Thêm vào đó,
sự tăng vọt trong lạm phát Mỹ sẽ làm giảm nhu cầu của người Anh đối với hàng hoá Mỹ và
vì thế làm giảm cung đồng bảng Anh để mua hàng Và (minh hoạ hình 1.1)
S2 S
D D2
Giá trị đồng bảng
Số lượng đồng bảng
Hình 1.1: Tác động của việc gia tăng lạm phát ở Mỹ đến giá trị cân bằng của đồng bảng Anh
Trang 15Mức độ giảm giá trị thực sự của đồng bảng Anh sẽ phụ thuộc vào mức độ dịch chuyển của đường cung và đường cầu trong thực tế
Lãi suất tương đối: Thay đổi trong lãi suất tương đối tác động đến đầu tư chứng
khoán nước ngoài, đến lượt nó đầu tư chứng khoán nước ngoài lại ảnh hưởng đến cung và cầu tiền và vì thế ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái Giả định rằng lãi suất của Mỹ tăng trong khi lãi suất của Anh giữ nguyên không đổi Trong trường hợp này, các công ty Mỹ có khả năng sẽ giảm nhu cầu của họ đối với đồng bảng Anh vì giờ đây lãi suất của Mỹ hấp dẫn hơn một cách tương đối so với lãi suất Anh và vì thế có ít đầu tư vào các khoản ký gởi tại ngân hàng Anh Vì lãi suất của Mỹ giờ đây hấp dẫn hơn đối với các công ty Anh với khoản tiền vượt trội nên cung bảng Anh (bởi các công ty Anh) sẽ tăng khi họ thiết lập nhiều hơn các khoản ký gửi vào ngân hàng Mỹ Do một sự dịch chuyển vào bên trong của đường cầu bảng Anh và dịch chuyển ra phía ngoài của đường cung đồng bảng Anh nên tỷ giá cân bằng sẽ giảm Nếu lãi suất Mỹ giảm một cách tương đối so với lãi suất Anh, sẽ có sự dịch chuyển ngược lại
Hình 1.2 Tác động của sự gia tăng lãi suất ở Mỹ đến giá trị cân bằng của đồng bảng Anh
S S2
D2 D
Giá trị đồng bảng
Số lượng đồng bảng
Lãi suất thực: Trong khi lãi suất cao tương đối có thể thu hút dòng vốn nước ngoài
(để đầu tư vào các chứng khoán có lãi suất cao) thì lãi suất cao này có thể phản ánh dự kiến lạm phát cao Vì lạm phát cao có thể đặt áp lực giảm giá lên đồng tiền của nước đó nên không khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài trong việc đầu tư vào các chứng khoán định danh bằng đồng tiền này Vì lý do đó, cần thiết phải xem xét lãi suất thực, là lãi suất danh nghĩa đã điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát Theo hiệu ứng Fisher:
Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa - Tỉ lệ lạm phát
Chúng ta thường so sánh lãi suất thực giữa các quốc gia để đánh giá những biến động của tỷ giá hối đoái bởi lẽ nó kết hợp giữa lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát mà cả hai nhân tố này đều ảnh hưởng đến tỷ giá Khi các nhân tố khác không đổi, sẽ có một tương
Trang 16quan cao giữa chênh lệch lãi suất thực của hai quốc gia với tỷ giá của hai đồng tiền của hai nước đó
Để minh hoạ tác động tiềm ẩn của lãi suất lên tỷ giá, vào năm 1997 và 1998 lãi suất dài hạn ở Nhật xấp xỉ là 2% so với giữa 6% và 7% ở Mỹ Trong suốt thời kỳ này, đồng Yên Nhật đã giảm giá đáng kể so với đô la Mỹ dẫn đến thời kỳ đồng Yên Nhật có giá trị thấp trong vòng 7 năm vì dòng vốn từ Nhật Bản đã chảy sang Mỹ để kiếm lời trên lãi suất cao ở
Mỹ Dòng chảy vốn đã tạo ra một mức cung lớn của đồng Yên được chuyển đổi sang đô la
Mỹ trên thị trường ngoại hối trong suốt thời kỳ này
Thu nhập tương đối: Nhân tố thứ ba tác động đến tỷ giá hối đoái là mức thu nhập
tương đối Giả định rằng thu nhập của Mỹ tăng đáng kể trong khi thu nhập của Anh vẫn không thay đổi Hãy xem xét tác động của bối cảnh này lên (1) đường cầu bảng Anh (2) đường cung bảng Anh và (3) tỷ giá cân bằng Đầu tiên, đường cầu bảng Anh sẽ dịch chuyển
ra phía ngoài phản ánh một sự gia tăng trong thu nhập của Mỹ và vì thế làm tăng nhu cầu về hàng hoá Anh của người Mỹ Thứ hai đường cung bảng Anh không đổi Vì thế tỷ giá cân bằng của đồng bảng Anh tăng lên như trong hình 1.3
S
D D2
Giá trị đồng bảng
Số lượng đồng bảng
Hình 1.3: Tác động gia tăng thu nhập của Mỹ lên giá trị cân bằng của đồng bảng Anh
Kiểm soát của chính phủ Chính phủ của nước ngoài có thể tác động đến tỷ giá cân
bằng qua nhiều cách khác nhau như (1) áp đặt những rào cản về ngoại hối (2) áp đặt những rào cản về ngoại thương (3) can thiệp vào thị trường ngoại hối và (4) tác động đến những biến động vĩ mô như lạm phát, lãi suất và thu nhập quốc dân
Kỳ vọng Nhân tố thứ năm tác động đến tỷ giá hối đoái là kỳ vọng của thị trường
vào tỷ giá tương lai Giống như các thị trường tài chính khác, thị trường ngoại hối phản ứng lại với các thông tin trong tương lai có liên quan đến tỷ giá Ví dụ, tin về gia tăng lạm phát tiềm ẩn ở Mỹ có thể làm những nhà đầu cơ bán đô la do dự kiến đồng đô la sẽ giảm giá trong tương lai Điều này gây áp lực giảm giá đồng đô la ngay lập tức
Nhiều nhà đầu tư định chế thực hiện vị thế tiền tệ dựa trên biến động lãi suất dự kiến
ở các nước khác nhau Ví dụ các nhà đầu tư định chế có thể đầu tư một cách thường xuyên
Trang 17ngân quỹ vào Canada nếu họ dự kiến lãi suất của Canada tăng; một gia tăng như thế sẽ thu
hút vốn vào Canada nhiều hơn tạo tạo áp lực tăng giá đô la Canada Bằng cách thực hiện
mua bán tiền dựa vào kỳ vọng, họ có thể đạt được lợi ích từ sự thay đổi trong giá trị của đô
la Canada vì họ sẽ mua đô la Canada trước khi sự thay đổi xảy ra Đương nhiên là có rủi ro
xảy ra trong trường hợp như thế vì kỳ vọng có thể sai, nhưng vấn đề ở đây là kỳ vọng có thể
ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái vì chúng thúc đẩy các nhà đầu tư định chế thực hiện các vị thế
ngoại tệ
Trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 – 1998, nhiều NHTM trên thế
giới đã bán tháo các đồng tiền các nước Châu Á để mua những đồng tiền khác vì họ đánh
giá rằng đồng tiền các nước Châu Á được đánh giá cao hơn giá trị thực của chúng Hành vi
này đã gây sức ép giảm giá đồng tiền của các nước Châu Á và các ngân hàng thương mại đã
bị một số người chỉ trích là đã hành động làm tăng thêm sự yếu kém của đồng tiền này Tuy
nhiên, khi các ngân hàng hành động như thế, thì họ đã đẩy giá trị thị trường của tiền tệ đúng
với giá trị thực của nó Như vậy, các ngân hàng đã làm cho thị trường ngoại hối hiệu quả
hơn, có nghĩa là ở đó, giá thị trường của tiền tệ điều chỉnh theo thông tin hợp lý mà những
thông tin này ảnh hưởng tới kỳ vọng Tóm lược các yếu tố có thể tác động đến tỷ giá hối
Cầu ngoại
tệ của cư dân Mỹ Cung ngoại
dịch của chính phủ
Trang 181.1.5 Ý nghĩa kinh tế của tỷ giá hối đoái
* So sánh sức mua giữa các đồng tiền
Tỷ giá hối đoái phản ánh tương quan giá trị giữa hai đồng tiền, thông qua đó có thể
so sánh giá cả tại thị trường trong nước và trên thế giới, đánh giá năng suất lao động, giá thành sản phẩm trong nước với các nước khác
* Vai trò kích thích và điều chỉnh xuất nhập khẩu
Thông qua cơ chế tỷ giá, chính phủ sử dụng tỷ giá để tác động đến xuất nhập khẩu trong từng thời kỳ, khuyến khích những ngành hàng, chủng loại hàng hóa tham gia hoạt động kinh tế đối ngoại, hạn chế nhập khẩu nhằm thực hiện định hướng phát triển cho từng giai đoạn
* Điều tiết thu nhập trong hoạt động kinh tế đối ngoại
Phân phối lại thu nhập giữa các ngành hàng có liên quan đến kinh tế đối ngoại và giữa các nước có liên quan về kinh tế với nhau
Như khi tỷ giá cao, tức là giảm sức mua của đồng tiền trong nước so với đồng tiền nước ngoài, điều này có tác dụng giúp cho nhà xuất khẩu có thêm lợi thế để cạnh tranh tăng thêm thu nhập cho nhà xuất khẩu, bên cạnh đó hạn chế được tình trạng nhập khẩu
* Tỷ giá còn là công cụ cạnh tranh trong thương mại, thị trường tiêu thụ hàng hóa, khai thác nguyên liệu của nước khác với giá rẻ
1.2 Chính sách điều hành tỷ giá hối đoái
1.2.1 Chính sách tỷ giá hối đoái và nội dung của chính sách tỷ giá hối đoái
1.2.1.1 Chính sách tỷ giá hối đoái
* Chính sách: là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (James Anderson 2003)
* Khái niệm chính sách tỷ giá hối đoái: là một thể thống nhất định hướng và giải pháp của nhà nước đảm bảo ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối nhằm đạt được mục tiêu kinh tế xã hội đã dự định
Hay nói cách khác chính sách tỷ giá hối đoái là một hệ thống các công cụ dùng để tác động vào cung cầu ngoại tệ trên thị trường từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá nhằm đạt được những mục tiên cần thiết
Về cơ bản, chính sách tỷ giá hối đoái tập trung vào hai vấn đề:
• Lựa chọn chế độ tỷ giá
• Điều chỉnh tỷ giá hối đoái
Trang 191.2.1.2 Nội dung của chính sách tỷ giá hối đoái
* Thứ nhất là việc ấn định mức giá cho đồng bản tệ Việc ấn định này trước hết là dựa trên cơ sở thừa nhận mức tỷ giá đã có từ trước, tiếp theo là phải theo dõi mức giá biến động của đồng bản tệ ở thời điểm hiện tại và đưa ra những điều chỉnh phù hợp
* Thứ hai là chế độ tỷ giá hối đoái sẽ phải tuân thủ những quy định của chế độ tỷ giá
đã lựa chọn và những điều chỉnh của nhà lập chính sách đề ra trong từng thời kỳ tương ứng với trình độ phát triển của quốc gia đó Trong trường hợp lựa chọn chế độ tỷ giá có sự quản
lý của nhà nước thì chính sách tỷ giá phải luôn luôn tuân theo mọi sự điều tiết của nhà nước
* Thứ ba việc xác định hệ thống các công cụ điều chỉnh tỷ giá phải nhằm thực hiện các mục tiêu của chính sách tỷ giá nói riêng, các chính sách tiền tệ, chính sách tài chính và chính sách kinh tế nói chung Các công cụ được chọn phải được thực hiện đồng bộ với các công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô với sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả và thống nhất
1.2.2 Các chế độ tỷ giá hối đoái
Chế độ tỷ giá hối đoái là các loại hình tỷ giá được các quốc gia áp dụng, lựa chọn Bao gồm các quy tắc xác định phương thức mua bán ngoại tệ giữa các thể nhân hay pháp nhân trên thị trường
1.2.2.1 Chế độ tỷ giá cố định
Tỷ giá cố định: là một chế độ tỷ giá hối đoái mà trong đó NHTW tuyên bố sẽ duy trì
tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền của quốc gia mình với một đồng tiền nào đó hoặc theo một rổ các đồng tiền nào đó ở một mức cố định không đổi Bằng cách thường xuyên can thiệp vào thị trường ngoại tệ để thực hiện các hoạt động mua hay bán lượng dư cung hay dư cầu ngoại
tệ với mức tỷ giá hối đoái cố định đã công bố
Đặc trưng của chế độ tỷ giá hối đoái cố định như sau:
* Về cơ bản, những lực cung – cầu vẫn tồn tại trên thị trường ngoại tệ và chi phối số lượng cung, cầu ngoại tệ trên thị trường
* NHTW cam kết sẽ duy trì tỷ giá hối đoái ở một mức cố định nào đó bằng cách: Nếu cung trên thị trường lớn hơn cầu ở mức tỷ giá cố định đó thì NHTW sẽ đảm bảo mua hết lượng
dư cung ngoại tệ Nếu cung trên thị trường nhỏ hơn cầu ở mức tỷ giá cố định đó thì NHTW
sẽ đảm bảo cung cấp một lượng ngoại tệ bằng với lượng dư cầu Và NHTW sẽ thực hiện hoạt động mua bán lượng dư cung hay cầu đó với tư cách như là người mua bán cuối cùng – người điều phối
* Những dự báo về thay đổi tỷ giá trên thị trường là bằng zero (ngoại trừ những trường hợp đặc biệt khi thị trường dự báo là chính phủ sẽ thay đổi mức tỷ giá cố định)
Trang 20Chế độ tỷ giá cố định được một số nước áp dụng như Trung Quốc từ những năm 80 của thập niên 20 Đáng chú ý là Thái Lan với cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ tháng 7/1999 do áp dụng chế độ tỷ giá cố định quá lâu Nước ta trước năm 1991đã áp dụng chế độ
tỷ giá này Nói chung chế độ tỷ giá này chỉ phù hợp với một thời gian nào đó mà thôi Hiện nay chế độ tỷ giá hối đoái này coi như không được áp dụng trên thế giới
1.2.2.2 Chế độ tỷ giá thả nổi tự do (chế độ tỷ giá hối đoái sạch, thuần khiết…):
Tỷ giá hối đoái được xác định hoàn toàn dựa trên tương quan (mối quan hệ) cung cầu giữa các đồng tiền trên thị trường ngoại hối mà không cần đến bất cứ sự can thiệp nào của NHTW
Chế độ tỷ giá thả nổi là chế độ mà trong đó tỷ giá hối đoái được xác định và vận hành một cách tự do theo quy luật thị trường mà trực tiếp là quy luật cung - cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ
Đặc trưng của chế độ tỷ giá thả nổi
* Tỷ giá hối đoái được xác định và thay đổi hoàn toàn tùy thuộc vào cung cầu ngoại tệ trên thị trường
* NHTW hoàn toàn không có bất cứ một tuyên bố, một cam kết nào về việc điều hành và chỉ đạo tỷ giá
* NHTW không có bất kỳ sự can thiệp trực tiếp nào vào thị trường ngoại tệ (đương nhiên vẫn có thể can thiệp một cách gián tiếp để làm giảm bớt những biến động mạnh của tỷ giá trên thị trường nhằm giảm bớt tác hại đối với nền kinh tế bằng các biện pháp thuần túy kinh
tế như tham gia mua bán ngoại tệ trên thị trường theo giá cả do thị trường quyết định và với
tư cách như một nhà kinh doanh giao dịch bình thường)
1.2.2.3 Chế độ tỷ giá linh hoạt có sự quản lý của nhà nước
Là chế độ tỷ giá mà trong đó, tỷ giá hối đoái tự xác định trên thị trường theo quy luật cung cầu, chính phủ chỉ can thệp vào thị trường khi tỷ giá có những biến động mạnh
Đặc trưng của chế độ này như sau:
* Tỷ giá được xác định và thay đổi hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường
* NHTW tuyên bố một mức biến động cho phép đối với tỷ giá và chỉ can thiệp vào thị trường với tư cách là người mua bán cuối cùng khi tỷ giá có sự biến động mạnh vượt mức cho phép Cách thức thường thấy ở các nước hiện nay là xác định một tỷ giá hối đoái chính thức và một biên độ giao động, nếu tỷ giá trên thị trường giao động vượt quá biên độ cho phép so với tỷ giá chính thức thì NHTW sẽ can thiệp vào thị trường nhằm duy trì chênh lệch
tỷ giá trên thị trường và tỷ giá chính thức vẫn chỉ nằm trong biên độ cho phép
Trang 21* Nếu tình hình kinh tế có những thay đổi lớn thì mức tỷ giá hối đoái, biên độ giao động cho phép được nhà nước xác định và công bố lại
1.2.3 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến nền kinh tế
Tỷ giá được xem là một công cụ kinh tế vĩ mô quan trọng trong việc điều tiết cán cân thương mại trong nền kinh tế của một quốc gia Việc thay đổi chính sách điều hành tỷ giá có ảnh hưởng đến toàn bộ các hoạt động trong nền kinh tế
1.2.3.1 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đối với cán cân thương mại:
Tỷ giá hối đoái là một yếu tố hết sức nhạy cảm, phản ánh sức mua giữa đồng tiền của quốc gia này và quốc gia khác thông qua quan hệ thương mại quốc tế Chính vì vậy, việc điều chỉnh trong chính sách tỷ giá tác động trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, là hai bộ phận chủ yếu cấu thành cán cân thương mại
Với chính sách tỷ giá định giá thấp nội tệ sẽ có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu Bởi khi tỷ giá được điều chỉnh cao hơn trước sẽ buộc các nhà nhập khẩu phải tính toán trước khi nhập khẩu, hạn chế nhập khẩu những mặt hàng không thiết yếu Nhập khẩu giảm sẽ khuyến khích sử dụng những nguyên nhiên vật liệu có sẵn, có thể thay thế và hàng hóa sản xuất trong nước do chi phí nhập khẩu tăng Trong khi đó, nếu chỉ xét riêng về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và xuất khẩu thì việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo hướng giảm giá đồng nội tệ sẽ đảm bảo mục tiêu kích thích xuất khẩu (vì có rất nhiều yếu tố tác động đến khả năng xuất khẩu của một nước: khả năng cạnh tranh của nền kinh tế
và của các mặt hàng xuất khẩu trên thị trường quốc tế, chủng loại, trình độ công nghệ…) Điều này giúp cải thiện được cán cân thương mại từ trạng thái thâm hụt trở về trạng thái cân bằng hay thặng dư Và ngược lại, khi NHTW áp dụng chính sách tỷ giá định giá cao nội tệ
sẽ có tác dụng kiềm hãm xuất khẩu và kích thích nhập khẩu, đưa cán cân thương mại từ trạng thái thặng dư về trạng thái cân bằng hay thâm hụt
Từ những kết quả phân tích ở trên thấy rằng, tỷ giá là một biến số kinh tế, tác động đến hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế, nhưng hiệu quả ảnh hưởng của chính sách tỷ giá lên các hoạt động khác nhau là rất khác nhau Trong đó, hiệu quả tác động của chính sách tỷ giá lên hoạt động xuất nhập khẩu là rõ ràng và nhanh chóng, chính vì vậy, trong điều kiện mở cửa, hợp tác, hội nhập và tự do hóa thương mại, các quốc gia luôn sử dụng tỷ giá trước hết như là công cụ hữu hiệu để điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch
vụ của mình
1.2.3.2 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đối với lạm phát
Khi xem xét chính sách tỷ giá tác động như thế nào đến lạm phát, ta cần xem xét biến động của đồng tiền ảnh hưởng như thế nào đến lạm phát
Trang 22Chính sách tỷ giá theo hướng giảm giá đồng nội tệ: việc giảm giá đồng nội tệ có thể
cải thiện được cán cân tài khoản vãng lai, tài khoản vốn, cải thiện được khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng hóa sản xuất trong nước, làm giảm thất nghiệp Tuy nhiên khi áp dụng chính sách đồng nội tệ yếu nó lại đưa đến lạm phát cao Cụ thể là các công ty trong nước có thể tăng giá bán hàng hóa của mình mà không sợ các nhà ngoại quốc cạnh tranh Bên cạnh
đó, các hộ gia đình trong nước phải trả hàng tiêu dùng nhập khẩu với mức gia tăng cùng với
tỷ lệ phá giá Tương tự như vậy, các nhà xuất khẩu sử dụng các đầu vào nhập khẩu bao gồm nguyên, nhiện, vật liệu, máy móc, thiết bị cũng bị tổn thất vì phải chấp nhận mức giá cao hơn Kết quả là mức giá chung của nền kinh tế trở nên cao hơn, có thể châm ngòi cho sự gia tăng lạm phát, đặc biệt trong trường hợp một nền kinh tế nhỏ, mở cửa với thế giới bên ngoài
có xuất khẩu và nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao trong GDP Như vậy, tác dụng thực tế của biện pháp phá giá tỷ giá danh nghĩa sẽ nhanh chóng mất tác dụng và chẳng bao lâu tỷ giá thực tế chẳng còn thấp nữa và khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng hóa trong nước cũng không được cải thiện
Chính sách tỷ giá theo hướng nâng giá đồng nội tệ: một đồng nội tệ mạnh sẽ khuyến
khích người tiêu dùng và các doanh nghiệp của nước đó mua hàng từ các nước khác, từ đó làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước, buộc các nhà sản xuất trong nước không được tăng giá Vì vậy, lạm phát dự kiến sẽ xảy ra nếu các điều kiện khác không đổi Trong khi chính sách tỷ giá đồng nội tệ mạnh là giải pháp đối với lạm phát cao nhưng nó lại gây ra thất nghiệp lớn do giá cả hàng hóa nước ngoài hấp dẫn, tiêu thụ hàng hóa trong nước
sẽ giảm đi
1.2.3.3 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đối với đầu tư quốc tế và nợ nước ngoài
Ö Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đối với đầu tư quốc tế
Đầu tư nước ngoài vào một quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có chính sách điều hành tỷ giá của NHTW mỗi nước
Với chính sách định giá thấp nội tệ sẽ thu hút được nhiều đầu tư nước ngoài Khi nội
tệ được định giá thấp, nghĩa là mỗi đồng ngoại tệ sẽ đổi được nhiều nội tệ hơn, làm hấp dẫn các nhà đầu tư
Với chính sách định giá cao nội tệ sẽ hạn chế đầu tư nước ngoài Khi nội tệ được định giá cao, nghĩa là mỗi đồng ngoại tệ sẽ đổi được ít nội tệ hơn, hạn chế các nhà đầu tư Hơn nữa, khi nội tệ được định giá quá cao sẽ tiềm ẩn một cuộc phá giá nội tệ, khiến cho các nhà đầu cơ có thể rút vốn ồ ạt để bảo toàn giá trị, kết quả là có thể gây nên khủng hoảng tài chính-tiền tệ
Trang 23Ö Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến nợ nước ngoài
Nợ nước ngoài của một nước bao gồm toàn bộ khoản tiền gốc và lãi phải trả cho người nước ngoài khi đến hạn Giá trị nợ nước ngoài tính bằng ngoại tệ là không đổi, nhưng giá trị này quy nội tệ sẽ thay đổi phụ thuộc vào biến động tỷ giá Nếu tỷ giá giảm thì giá trị phải trả bằng nội tệ sẽ giảm, còn nếu tỷ giá tăng thì giá trị phải trả bằng nội tệ sẽ tăng Như vậy, nếu khoản nợ nước ngoài không được sử dụng hiệu quả thì khi tỷ giá tăng sẽ làm gia tăng gánh nặng nợ nước ngoài của một quốc gia và rất dễ đẩy nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ như một số nước đang phát triển
1.2.3.4 Tác động của chính sách tỷ giá đến hiện tượng đô la hóa
Tỷ giá tăng, nội tệ mất giá so với ngoại tệ, gây nên tình trạng mất lòng tin vào nội tệ của người dân – nguyên nhân chính gây nên hiện tượng đô la hóa Đô la hóa là quá trình một nước sử dụng đồng tiền của nước khác có tính ổn định hơn làm phương tiện thanh toán
và cất trữ giá trị Quá trình đô la hóa xảy ra là do nội tệ có tỷ lệ lạm phát cao và không ổn định trong thời gian dài, là nguyên nhân chính làm cho tỷ giá tăng Tỷ giá tăng làm tăng rủi
ro đối với tài sản tài chính ghi bằng nội tệ, kết quả là dân chúng sẽ chuyển các tài sản tài chính bằng nội tệ sang một đồng tiền nước ngoài ổn định hơn hoặc chuyển thành tài sản thực (thường là bất động sản hoặc là vàng)
1.2.4 Ý nghĩa và mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái
* Ý nghĩa của chính sách tỷ giá hối đoái
Chính sách tỷ giá hối đoái là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của chính sách tiền tệ và có nhiệm vụ ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát, góp phần tăng trưởng kinh tế ở mức
độ cao, bền vững
Chính sách tỷ giá hối đoái gắn kết chặt chẽ với mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, chính vì vậy thực hiện tốt chính sách điều hành tỷ giá sẽ góp phần điều hành tốt các chính sách kinh tế khác
Với chính sách tỷ giá hối đoái phù hợp với bối cảnh của nền kinh tế sẽ có tác dụng tăng sức cạnh tranh của hàng hóa nội địa trên thị trường quốc tế cũng như là bảo vệ những ngành, những lĩnh vực cần thiết trong nước
Ổn định tỷ giá cũng đồng nghĩa với sự ổn định tiền tệ, điều này sẽ tác động đến những dòng chảy ngoại tệ vào và ra của mỗi quốc gia
* Mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái:
Trong một nền kinh tế mở, động cơ hoạch định chính sách kinh tế là những mục tiêu cân đối bên trong và cân đối bên ngoài Trong khi, tỷ giá hối đoái lại là một yếu tố có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến những cân đối này nên cũng có thể nói rằng việc hoạch định
Trang 24chính sách tỷ giá hối đoái cũng phải trực tiếp nhắm đến hai mục tiêu là: phải giữ vững thế
cân bằng nội và cân bằng ngoại
Chính sách tỷ giá phải đảm bảo được vai trò trọng yếu cho việc cải thiện tích cực và
ổn định cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại tệ
Nâng cao uy tín, đảm bảo đầy đủ chủ quyền tiền tệ quốc gia cùa VND, kiểm soát hiện tượng đôla hóa và từng bước nâng cao tính chuyển đổi của đồng Việt Nam
Chính sách tỷ giá phải gắn liền với thực tế đặc thù của mỗi nền kinh tế và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước nhằm đem lại hiệu quả và lợi ích cao nhất cho đất nước và cho nền kinh tế đó
1.3 Tác động của chính phủ đến việc điều hành chính sách tỷ giá hối đoái
1.3.1 Các công cụ điều hành tỷ giá hối đoái của chính phủ
1.3.1.1 Nhóm công cụ trực tiếp
Mua bán ngoại hối trên thị trường (nghiệp vụ thị trường mở nội tệ): Đây là nghiệp
vụ dễ dàng thực hiện và có tác động trực tiếp đến tỷ giá hối đoái Nghiệp vụ này tác động trực tiếp đến cung tiền trong nước, NHTW đóng vai trò là người mua bán tiền tệ trực tiếp cuối cùng trên thị trường liên ngân hàng tại một mức tỷ giá nào đó Để công cụ này có hiệu quả thì quốc gia phải có lượng dự trữ ngoại tệ lớn
Trong lưu thông, khi mà ngoại tệ bị thừa dẫn đến ảnh hưởng đến đồng VND bị định giá cao làm ảnh hưởng đến xuất khẩu thì NHTW tiến hành mua mua ngoại tệ vào và đẩy VND ra nhằm làm tỷ giá ổn định Ngược lại, khi tính thanh khoản của các tài sản tài chính
bị giảm xuống do thị trường thiếu VND thì NHTW cũng tiến hành hút ngoại tệ vào và bơm VND ra lưu thông Hoặc khi nền kinh tế phát triển mạnh thu hút các luồng vốn ngoại tệ chảy vào cùng với các luồng kiều hối đổ về làm cho lượng ngoại tệ tăng lên và khi đầu tư vào Việt Nam thì phải quy đổi lượng vốn ngoại tệ này sang VND nên NHTW sẽ mua lượng ngoại tệ này và bơm VND ra ngoài Tuy nhiên như vậy sẽ gia tăng áp lực lạm phát khi đó chính phủ sẽ phát hành các công cụ nợ để hút lượng VND từ lưu thông về nhằm chi tiêu cho các dự án quốc gia, nếu chính phủ không có khả năng hút ngoại tệ nữa thì khi đó NHTW sẽ
ra tay phát hành các loại công cụ nợ như tín phiếu và hối phiếu để hút VND về như vậy áp lực lạm phát sẽ được giảm thiểu
Biện pháp kết hối: là việc chính phủ quy định với các thể nhân và pháp nhân có
nguồn thu ngoại tệ phải bán một tỷ lệ nhất định trong một thời hạn nhất định cho các tổ chức được phép kinh doanh ngoại hối Biện pháp này áp dụng trong thời kỳ khan hiếm ngoại tệ giao dịch trên thị trường ngoại hối Mục đích của biện pháp này là tăng cung ngoại tệ để đáp
Trang 25ứng nhu cầu ngoại tệ cho thị trường, hạn chế hành vi đầu cơ và giảm áp lực phá giá đồng nội
tệ
1.3.1.2 Nhóm công cụ gián tiếp
Lãi suất tái chiết khấu: phương pháp lãi suất tái chiết khấu để điều chỉnh tỷ giá hối
đoái là phương pháp được sử dụng vừa mang tính cấp bách vừa mang tính chiến lược lâu dài trong mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế
Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất mà NHTW đánh vào các khoản tiền cho các NHTM vay để đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngắn hạn hoặc bất thường của các ngân hàng này Lãi suất tái chiết khấu là một công cụ của chính sách tiền tệ để điều chỉnh lượng cung tiền và nó có tác động đến tỷ giá hối đoái Đây là một công cụ điển hình đạt được nhiều hiệu quả cao trong các công cụ tác động gián tiếp đến tỷ giá Khi NHTW tăng lãi suất chiết khấu thì mặt bằng lãi suất thị trường sẽ tăng, hấp dẫn các luồng vốn ngoại tệ chạy vào làm nội tệ lên giá
và ngược lại khi NHTW giảm lãi suất chiết khấu thì mặt bằng lãi suất thị trường sẽ kém hấp dẫn, dẫn đến tình trạng các luồng ngoại tệ rút ra khỏi nước này và đầu tư ở các nước khác, làm cho cung ngoại tệ giảm trong khi cầu ngoại tệ không đổi và làm cho tỷ giá sẽ tăng lên Ngoài ra, tăng lãi suất tái chiết khấu ở tình hình Việt Nam là một biện pháp hiệu quả để giúp cho các ngân hàng có thể chủ động trên thị trường tránh việc dựa dẫm vào NHNN đồng thời giúp cho việc gom các khoản tiền dư thừa do dân cư đang nắm giữ để hạn chế lạm phát nếu
có nguy cơ xảy ra
Thuế quan: Thuế quan là một trong những công cụ phổ biến nhất mà chính phủ dùng
để hạn chế hay kích thích xuất nhập khẩu, loại thuế này buộc các nhà nhập khẩu phải nộp một tỷ lệ nhất định theo giá trị hàng hóa nhập khẩu trên cơ sở giá quốc tế, vì vậy giá hàng nhập khẩu cao hơn giá hàng sản xuất trong nước Điều này làm tăng cầu hàng nội, đồng nội
tệ có xu hướng tăng giá và tỷ giá có xu hướng giảm
Thuế quan cao có tác dụng hạn chế nhập khẩu, cầu ngoại tệ giảm, nội tệ lên giá, làm giảm sức ép lên tỷ giá Do đó, kéo tỷ giá đi xuống dần dẫn đến thế cân bằng trên thị trường hối đoái Khi thuế quan thấp sẽ có tác dụng ngược lại Vì vậy, không nên áp đặt một mức thuế quan quá cao để tránh làm giảm khả năng xuất khẩu (do nội tệ lên giá), thuế quan cũng gây ra tệ nạn buôn lậu, thuế càng cao buôn lậu càng tăng và những điều này làm giảm phúc lợi chung, giảm hiệu quả khai thác nguồn lực của nền kinh tế Nhưng đối với những nước có nền sản xuất non trẻ thì thuế quan cũng là một cách để bảo hộ trước sự tấn công của hàng hóa nước khác
Trang 26Hạn ngạch (hạn chế số lượng): là quy định một nước về số lượng cao nhất của một
mặt hàng hay một nhóm hàng được phép xuất hoặc nhập từ một thị trường trong một thời gian nhất định thông qua hình thức giấy phép
Hạn ngạch có tác dụng hạn chế nhập khẩu do đó có tác dụng lên tỷ giá tương tự như thuế quan Dỡ bỏ hạn ngạch có tác dụng làm tăng nhập khẩu và sẽ tác động lên tỷ giá giống như thuế quan thấp Tuy nhiên, hiện nay các nước ít sử dụng hạn ngạch mà sử dụng thuế quan để thay thế cho hạn ngạch và đây cũng là quy định khi gia nhập WTO
Giá cả: Thông qua hệ thống giá cả, chính phủ có thể trợ giá cho những mặt hàng
xuất khẩu chiến lược hay trong giai đoạn đầu sản xuất Trợ giá xuất khẩu làm cho khối lượng xuất khẩu tăng, làm tăng cung ngoại tệ, nội tệ lên giá Chính phủ cũng có thể bù giá cho một số mặt hàng nhập khẩu thiết yếu, bù giá làm tăng nhập khẩu, nội tệ giảm giá
Trợ cấp chia làm 2 loại: trực tiếp bổ trợ tức là trực tiếp chi tiền cho nhà xuất khẩu và gián tiếp bổ trợ tức là ưu đãi về tài chính và một số mặt hàng cho nhà xuất khẩu như ưu đãi
về thuế trong nước, thuế xuất khẩu… Đây được xem là một thủ đoạn để lũng đoạn thị trường thế giới
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các NHTM: Khi thị trường khan hiếm
ngoại tệ thì NHTW có thể tăng dự trữ ngoại hối đối với các khoản ngoại tệ huy động được của các NHTM, chi phí huy động ngoại tệ tăng cao NHTM phải hạ lãi suất huy động để tránh bị lỗ, điều này khiến cho việc nắm giữ ngoại tệ trở nên kém hấp dẫn so với việc nắm giữ nội tệ tăng cung ngoại tệ trên thị trường, tỷ giá giảm
1.3.2 Biện pháp can thiệp của chính phủ vào chính sách tỷ giá hối đoái
1.3.2.1 Các lý do của việc can thiệp vào ngoại hối Mức khống chế hay “quản lý” một đồng
nội tệ thay đổi giữa các NHTW Ba lý do chính để các NHTW quản lý các tỷ giá hối đoái là:
* Làm dịu bớt các biến động tỷ giá hối đoái:
* Thiết lập các biên độ tỷ giá hối đoái ẩn: Một vài NHTW nỗ lực duy trì tỷ giá đồng
nội tệ trong vòng các biên độ không chính thức, hay ẩn Báo chí thường trích dẫn lời các nhà phân tích dự đoán là một đồng tiền sẽ không tụt dưới mức hay tăng trên mức chuẩn nào đó vì NHTW sẽ can thiệp để điều này không xảy ra Ví dụ: Hệ thống Dự trữ Liên bang đã sử dụng biên độ tỷ giá hối đoái ẩn này để can thiệp vào thị trường giữa năm 1983 và 1985 trong một
nỗ lực đảo ngược áp lực tăng giá của USD, từ năm 1986 đến đầu năm 1988 để đảo ngược áp lực giảm giá của đồng đô la Điều này cho thấy rằng hệ thống Dự trữ Liên bang có thể đã thiết lập các giới hạn ẩn cho đồng đô la Tuy nhiên, ngay cả khi có các giới hạn, các giới hạn này cũng sẽ được điều chỉnh qua thời gian
Trang 27* Ứng phó với các xáo trộn tạm thời: Trong một vài trường hợp, một NHTW có thể
can thiệp để cô lập giá trị của một đồng tiền khỏi một xáo trộn tạm thời Ví dụ, tin giá dầu sẽ tăng có thể đưa đến dự kiến là giá trị đồng yên Nhật sẽ giảm trong tương lai, vì Nhật chuyển đổi đồng yên sang đô la để mua dầu của các nước xuất khẩu dầu Các nhà đầu cơ thị trường ngoại hối có thể đổi đồng yên lấy đô la dự phòng cho sự giảm giá này Vì vậy chính phủ Nhật
có thể can thiệp để bù trừ áp lực giảm giá tức thời của đồng yên do các giao dịch thị trường này
1.3.2.2 Can thiệp trực tiếp của chính phủ
Đây là phương pháp can thiệp trực tiếp của NHTW lên thị trường ngoại hối nhằm
thực hiện điều chỉnh tăng giá hoặc giảm giá đồng nội tệ Thí dụ: Phương pháp can thiệp trực
tiếp của Hệ thống Dự trữ liên bang để buộc USD giảm giá là bán USD ra thị trường, đổi USD lấy ngoại tệ khác trong thị trường ngoại hối Phương pháp được gọi là “làm tràn ngập thị trường bằng đô la” và sẽ gây áp lực giảm giá đồng đô la
Can thiệp trực tiếp thường có hiệu quả nhất khi có một nỗ lực phối hợp giữa các NHTW Nếu tất cả các ngân hàng cùng đồng thời tăng giá hay giảm giá đồng đô la theo cách vừa mô tả trên, họ có thể áp đặt một áp lực lớn hơn đối với giá trị đồng đô la
Can thiệp không đạt mục tiêu Can thiệp trực tiếp của NHTW trong các thị trường hối
đoái không phải lúc nào cũng đạt được mục tiêu Thí dụ, NHTW Châu Âu đã can thiệp vào một số thời điểm trong năm 2000 để giảm giá USD và tăng giá trị EUR Các nhà giao dịch ngoại hối đã ước đoán là chính phủ các nước này đã sử dụng nhiều tỷ USD dự trữ mỗi lần để mua đồng euro Tuy nhiên, đồng đô la chỉ tạm thời giảm giá nhẹ và rồi lại tăng giá trở lại ngay sau đó Các nỗ lực này đã gặp phải thất bại Số đô la Mỹ dự trữ mà ngân hàng này bán
ra đã không bù trừ được mức cầu đô la Mỹ cao của các công ty, các nhà đầu cơ và sự suy thoái liên tục của nền kinh tế các nước Châu Âu
Can thiệp đạt mục tiêu Trong vài trường hợp, sự can thiệp của NHTW có thể có một
tác động rất mạnh Thí dụ: Như vào cuối tháng 2 năm 1985, các NHTW Châu Âu đã tung ra bán ước khoảng 1,5 tỷ đô la trong thị trường hối đoái, làm cho USD rớt giá trong một ngày hơn bất kỳ ngày nào khác trong 3 năm rưỡi đó Tuy nhiên, ngay cả trong các trường hợp giống như trường hợp này, khi ảnh hưởng của sự can thiệp rất lớn, nó cũng chỉ là tạm thời
Can thiệp không vô hiệu hoá so với can thiệp vô hiệu hoá Khi NHTW can thiệp vào
thị trường hối đoái mà không điều chỉnh sự thay đổi trong mức cung tiền tệ, điều này được
gọi là can thiệp không vô hiệu hoá Thí dụ, nếu ngân hàng Dự trữ Liên bang đổi USD lấy
ngoại tệ trong các thị trường hối đoái nhằm hạ giá USD, mức cung tiền sẽ gia tăng
Trang 28Nếu NHTW muốn can thiệp vào thị trường hối đoái trong khi vẫn duy trì mức cung tiền tệ Ngân hàng sử dụng can thiệp vô hiệu hoá bằng cách áp dụng đồng thời các giao dịch trong thị trường ngoại hối và các hoạt động trên thị trường mở Thí dụ, nếu ngân hàng Dự trữ Liên bang muốn giảm giá USD mà không ảnh hưởng đến mức cung đồng đô la, Ngân hàng (1) đổi đô la lấy ngoại tệ và (2) bán một số chứng khoán kho bạc hiện có để đổi lấy đô la Hiệu quả thuần là gia tăng lượng trái phiếu chính phủ do các nhà đầu tư nắm giữ và suy giảm trong cán cân ngoại hối của ngân hàng
1.3.2.3 Can thiệp của gián tiếp của chính phủ
Can thiệp gián tiếp thông qua chính sách của chính phủ
NHTW có thể tác động đến đồng nội tệ của mình một cách gián tiếp bằng cách tác động đến các yếu tố có ảnh hưởng đến đồng nội tệ Thí dụ, Ngân hàng Dự trữ Liên bang có thể cố gắng hạ thấp lãi suất ở Mỹ để làm nản lòng các nhà đầu tư ngoại quốc trong việc đầu
tư vào chứng khoán Mỹ, do đó tạo áp lực giảm USD Hay để tăng giá USD, Ngân hàng Dự trữ Liên bang có thể cố gắng tăng lãi suất Ngân hàng Dự trữ Liên bang đã sử dụng chiến lược này trong suốt những năm 2000 cùng với can thiệp trực tiếp vào thị trường hối đoái
Can thiệp gián tiếp qua các hàng rào Một chính phủ cũng có thể tác động một cách
gián tiếp đến các tỷ giá hối đoái bằng cách áp đặt các hàng rào đối với tài chính và mậu dịch quốc tế Thí dụ, nếu chính phủ Mỹ muốn tăng giá USD, họ có thể đánh thuế trên hàng nhập nhằm làm giảm nhập khẩu Hành động này sẽ làm giảm nhu cầu của Mỹ đối với các ngoại tệ
và tạo áp lực tăng giá USD Chính phủ cũng có thể áp dụng hạn ngạch đối với hàng nhập để đạt cùng kết quả trên Thứ ba, chính phủ có thể giảm hay miễn thuế đánh trên bất kỳ thu nhập nào do đầu tư ở Mỹ của các nhà đầu tư ngoại quốc Biện pháp này sẽ gia tăng nhu cầu của nước ngoài đối với USD để mua chứng khoán Mỹ
Nhiều hàng rào khác có thể được chính phủ áp dụng Bất cứ hàng rào nào làm tăng giá đồng nội tệ sẽ được sử dụng để hoặc (1) làm gia tăng nhu cầu của nước ngoài đối với đồng tiền đó, hoặc (2) làm nản lòng các công ty và người tiêu dùng trong việc đổi đồng nội tệ
để lấy các ngoại tệ khác Các hàng rào tài chính và mậu dịch quốc tế cũng có thể được áp đặt
để làm giảm giá đồng nội tệ Thí dụ: Chẳng hạn như việc chính phủ Mỹ có thể đánh thuế cao thu nhập từ việc mua chứng khoán Mỹ của các nhà đầu tư, do đó làm giảm nhu cầu của ngoại quuốc đối với các chứng khoán tính bằng đô la Mỹ
Trả đũa sự can thiệp gián tiếp qua các hàng rào của chính phủ Một vấn đề chính của
việc sử dụng các hàng rào là chính phủ các nước khác có thể gặp khó khăn do các hàng rào này và sẽ trả đũa lại bằng các hàng rào của họ Thí dụ, hãy xem trường hợp Mỹ và Anh buôn bán với nhau số lượng rất lớn và cả hai nước đều đang phải chịu suy thoái Chính phủ Liên
Trang 29bang của mỗi nước có thể muốn kích thích nền kinh tế của nước mình bằng cách hạ giá đồng nội tệ và gia tăng mức cầu của nước ngoài đối với sản phẩm nội địa của mình Trong nỗ lực làm hạ giá USD so với GBP chẳng hạn, chính phủ Mỹ có thể đánh thuế trên thu nhập từ chứng khoán Mỹ của các nhà đầu tư Anh Hành động này sẽ làm giảm nhu cầu của Anh đối với USD và vì vậy làm giảm giá trị USD Tuy nhiên, chính phủ Anh có thể cố gắng ngăn cản GBP tăng giá bằng cách đánh thuế trên thu nhập từ chứng khoán Anh của các nhà đầu tư Mỹ Hành động này sẽ làm giảm nhu cầu của Mỹ đối với GBP và do đó tạo áp lực hạ giá GBP Do
sự cạnh tranh giữa hai nước để làm giảm giá trị đồng nội tệ của mình (hay ít nhất ngăn không cho nó tăng giá), cả hai nước có thể cùng bị thiệt hại Hơn nữa, các hàng rào có thể dẫn đến việc mối quan hệ giữa hai chính phủ xấu đi
Tác động của chính phủ đến tỷ giá hối đoái
Tỷ lệ lãi suất
tương ứng
Tỷ lệ lạm phát tương ứng
Mức độ thu nhập quốc gia tương đương
Dòng chảy vốn
quốc tế
Tỷ giá hối đoái Thương mại quốc tế
Sức hút của các hàng hoá mua bán quốc tế
Sự can thiệp của chính phủ
Sức hút của các
chứng khoán giao
dịch quốc tế
ngạch
1.3.3 Cách thức điều chỉnh sự mất cân bằng tỷ giá hối đoái của chính phủ
Theo thống kê của quỹ tiền tệ IMF, trong hầu hết các trường hợp ở các nước đang phát triển, sự mất cân bằng trong tỷ giá hối đoái xảy ra dưới dạng lên giá thực của đồng nội
tệ làm mất khả năng cạnh tranh quốc tế thể hiện ở việc tăng giá hàng xuất khẩu và giảm giá hàng nhập khẩu, dẫn đến một sự thâm hụt ngày càng lớn trong cán cân thanh toán vãng lai
Trang 30Kết quả là một sự mất cân bằng ngoại tệ đã xảy ra và việc quay trở lại mục tiêu cân bằng ngoại đã được tiến hành bằng sự điều chỉnh tương quan giá cả giữa hàng hóa xuất nhập khẩu thông qua biện pháp cơ bản là thực hiện phá giá
Phá giá đồng tiền: về nguyên lý, mục đích của phá giá là để tăng khả năng cạnh
tranh quốc tế và cải thiện tình hình cán cân thương mại trong tài khoản vãng lai Lập luận được nêu ra là phá giá sẽ giúp tăng giá hàng nhập khẩu và giảm giá hàng xuất khẩu Tuy nhiên, để thực hiện việc phá giá thành công cũng cần có hàng loạt các điều kiện đi kèm
* Điều kiện Marshall – Lerner: theo lý thuyết Marshall – Lerner thì không phải bao giờ việc phá giá làm tăng xuất khẩu, làm giảm nhập khẩu cũng đều cải thiện cán cân thương mại Điều kiện Marshall – Lerner chỉ ra là: khi nào mà độ co giãn của đường cầu xuất khẩu cộng với độ co giãn của đường cầu nhập khẩu lớn hơn 1 thì phá giá mới giúp cải thiện được cán cân thương mại
Điều kiện Marshall – Lerner cũng hàm chỉ việc chọn thời điểm phá giá cũng rất quan trọng Nếu giá hàng nhập khẩu đang thấp và có xu hướng hạ, phá giá sẽ có lợi vì hàng nhập khẩu sẽ không tăng giá lên nhiều, nhờ đó hạn chế tăng giá thành sản xuất nội địa với đầu vào nhập khẩu, và hạn chế mặt trái của phá giá là gây nên lạm phát Bên cạnh đó, nếu như nhu cầu trên thị trường thế giới đối với hàng xuất khẩu của quốc gia tiến hành phá giá đang
ở mức cao và có xu hướng gia tăng thì đây cũng là một thời điểm tốt để phá giá vì nó sẽ nhanh chóng làm tăng xuất khẩu cả về số lượng và giá cả
* Các điều kiện kinh tế trong nước: ngoài việc thỏa mãn điều kiện Marshall – Lerner, để thực hiện phá giá thành công, cần thiết phải có một số các điều kiện kinh tế đi kèm như: chi phí sản xuất trong nước nói chung và tiền lương nói riêng không được chỉ số hóa theo tỷ giá danh nghĩa, chính phủ phải kiên quyết thực thi một chính sách tài chính, tiền tệ thắt chặt Có như vậy, việc phá giá mới không làm thay đổi lớn mức giá cả nội địa, do đó mới thực sự làm thay đổi tương quan giá cả
* Dự trữ ngoại tệ: một quốc gia khi điều kiện Marshall – Lerner và các điều kiện khác nếu thuận lợi, thì trong thực tế có thể tiến hành nhằm giúp cải thiện cán cân thanh toán vãng lai, tiến tới lập lại mục tiêu cân bằng ngoại Tuy nhiên, khi thực hiện phá giá cán cân thanh toán vãng lai sẽ càng bị xấu đi trong thời gian đầu, và chỉ phục hồi sau một thời gian nhất định
Tình hình biến động trong cung cầu thanh toán vãng lai khi một quốc gia tiến hành phá giá với điều kiện Marshall – Lerner đã thỏa mãn được các nhà khoa học thống kê và mô
tả tổng quát thành một đường cong gọi là đường cong hình chữ J Đường cong J hàm ý trong thời gian đầu khi tiến hành phá giá cần thiết phải có một chính sách tiền tệ thắt chặt và một lượng dự trữ ngoại tệ đủ lớn để can thiệp nhằm duy trì mức tỷ giá mới vì cán cân thanh
Trang 31toán vãng lai xấu đi sẽ tạo ra một áp lực tiếp tục làm tăng tỷ giá và làm nền kinh tế rơi vào một vòng luẩn quẩn của phá giá và lạm phát
Cán cân vãng lai
J
Hình 1.4: Sự biến thiên của cán cân thương mại (đường cong J) khi một quốc gia phá giá với điều kiện Marshall – Lerner đã thỏa
Các giải pháp khác: Ngoài biện pháp phá giá, vấn đề diều chỉnh khi có sự mất cân
bằng ngoại còn có thể tiến hành bằng các hình thức khác nhau:
Thuế nhập khẩu và trợ cấp xuất khẩu: đánh thuế nhập khẩu sẽ làm tăng giá hàng
nhập khẩu, làm giảm nhập khẩu và trợ cấp cho xuất khẩu sẽ làm tăng xuất khẩu Từ đó, cải thiện được cán cân thương mại Như vậy việc kết hợp giữa tăng thuế nhập khẩu và trợ cấp xuất khẩu sẽ có tác dụng như việc phá giá mặc dù vẫn có những điểm khác sau: thứ nhất, phá giá tác động tới cả thương mại hữu hình lẫn vô hình Thứ hai, phá giá sẽ có ảnh hưởng tới cả lãi suất trong nước Thứ ba, phá giá không ảnh hưởng tới thu chi tài chính Thứ tư, phá giá hầu như ảnh hưởng tới mọi mặt của nền kinh tế
Chính sách thu nhập và tiết kiệm: việc giảm thu nhập hoặc tăng tỷ lệ tiết kiệm nội
địa có tác động làm thay đổi nhu cầu tiêu dùng đối với hàng hóa và sẽ làm thay đổi mặt bằng giá nội địa so với giá thế giới nên cũng sẽ có tác động như phá giá Tuy nhiên sẽ có tác động làm giảm sản xuất và sản lượng
1.4 Cơ chế tỷ giá ở một số nước Châu Á – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.4.1 Trung Quốc
Là một nước trong khu vực Châu Á nhưng Trung Quốc có nền kinh tế phát triển vượt bậc và mau lẹ từ một nước thực hiện thể chế kinh tế kế hoạch tập trung cao độ phát triển sang kinh tế thị trường XHCN và hội nhập kinh tế thế giới
Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc
Giai đoạn từ 1994 - 2005 Để khắc phục các khó khăn trên thị trường ngoại hối do
thị trường tự phát gây nên, để thực hiện kế hoạch mở cửa kinh tế đối ngoại, đồng thời tạo điều kiện cải thiện cán cân thương mại, Trung Quốc đã đưa tỷ giá chính thức lên ngang bằng với tỷ giá thị trường Việc điều chỉnh thống nhất hai loại tỷ giá được thực hiện từ ngày
Trang 3201/01/1994 Trung Quốc đã cho đồng nhân dân tệ phá giá tới 35%, tỷ giá chính thức được điều chỉnh từ mức 5,7 NDT/USD lên 8,7 NDT/USD Kèm theo đó là các quy định xóa bỏ chế độ tự giữ ngoại hối, các doanh nghiệp thực hiện chế độ kết hối ngoại tệ 100%, các doanh nghiệp có nhu cầu ngoại tệ thanh toán hàng nhập khẩu được mua ngoại tệ tại các ngân hàng được phép Riêng các giao dịch phi thương mại không được phép mua ngoại tệ của các ngân hàng Trung Quốc cho phép thành lập thị trường ngoại tệ liên ngân hàng với trung tâm chính tại Thượng Hải và một số chi nhánh tại các thành phố lớn để thực hiện các giao dịch giao ngay trên thị trường Từ năm 1994 đến 2005 Trung Quốc đã thực hiện chuyển đổi tỷ giá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, tuy nhiên trên thực tế Trung Quốc vẫn thực hiện cơ chế tỷ giá cố định gắn với đồng USD
Giai đoạn từ tháng 7/2005 đến nay: năm 2005 NHTW Trung Quốc đã công bố thay
đổi chế độ tỷ giá Tỷ giá sẽ được xác định dựa trên một rổ các đồng tiền (Basket) nhưng các thành phần và tỷ trọng các đồng tiền không được đưa ra trong lần công bố này Đồng thời với việc neo tỷ giá theo một rổ tiền tệ, NHTW Trung Quốc cho phép biên độ dao động hàng ngày của các tỷ giá song phương là 0,3% Ngày 9/8/2005, trong bài phát biểu khai mạc trụ
sở thứ 2 của NHTW tại Thượng Hải, Thống đốc NHTW Trung Quốc ZhouXia Chuan đã công bố 11 đồng tiền trong rổ, trong đó các đồng tiền chính là đôla Mỹ, Euro, Yên Nhật và đồng Won Hàn Quốc và các đồng Bảng Anh, Ruble Nga và Baht Thái cũng có mặt trong rổ tiền tệ nhưng có tỷ trọng nhỏ hơn nhiều
Tuy nhiên, căn cứ vào số liệu thực tế của tỷ giá đa phương danh nghĩa của đồng CNY, Guonan và McCauley đã cho rằng tỷ giá này đã dao động với biên độ 2%/ năm (B – Band) và mức độ thay đổi theo ngày là 0,06% (C – Crawl)
Có thể thấy rằng, chế độ tỷ giá của Trung Quốc là một dạng của chế độ tỷ giá BBC (Basket, Band and Crawl Regime) – là chế độ tỷ giá dựa vào rổ tiền tệ với biên độ dao động rộng được điều chỉnh định kì) So với lý thuyết thì biên độ dao động của tỷ giá (B-band) là khá nhỏ chỉ là 2%/ năm Mặc dù tỷ giá song phương CNY/USD giảm giá nhưng tỷ giá đa phương danh nghĩa của CNY lại có xu hướng tăng dần Như vậy, Trung Quốc vẫn duy trì được lợi thế cạnh tranh thương mại quốc tế so với các quốc gia bạn hàng Do đó, đã góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế và thặng dư của cán cân thương mại của Trung Quốc: Cán cân thương mại Trung quốc luôn duy trì mức tăng xuất khẩu cao hơn nhập khẩu, đến năm 2008, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt lên đứng thứ ba thế giới, chỉ sau Mỹ và Đức Đến cuối năm 2009, Trung quốc đã thay thế Đức trở thành nền kinh tế xuất khẩu hàng đầu thế giới sau Mỹ Trung quốc vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP cao trong nhiều năm liên tục, tính đến cuối năm 2008 đã vươn lên vị trí thứ ba thế giới sau Mỹ và Nhật, năm
Trang 332009 vẫn đạt tỷ lệ tăng trưởng GDP trên 8% Dự trữ ngoại hối của Trung quốc đứng đầu thế giới
1.4.2 Malaysia
Malaysia sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Đông Nam Á, kể từ ngày 01/09/1998, Malaysia áp dụng cơ chế tỷ giá cố định với USD và duy trì tỷ giá công bố MLR/USD ở mức 3,8 Tỷ giá giao dịch trên thị trường được giao động trong biên độ 2% áp dụng với EUR, HKD, JPY, SGD và USD Các đồng tiền khác được phép giao động trong biên độ 3% Vì vậy, IMF phân Malaysia vào nhóm nước có cơ chế cố định truyền thống Từ ngày 21/06/2005, NHTW Malaysia công bố thả nổi có quản lý MLR trên cơ sở tham chiếu theo rổ tiền tệ nhưng không công bố rổ tiền tệ và tỷ trọng của các đồng tiền trong rổ Dựa trên thực tế điều hành tỷ giá của Malaysia, kể từ năm 2006, IMF chuyển Malaysia từ nước
có cơ chế cố định truyền thống sang nước có cơ chế thả nổi có quản lý không định trước
1.4.3 Thái Lan
Trong cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ năm 1997, Thái Lan đã phải thả nổi đồng Bath Thái Lan (THB) vào ngày 02/07/1997 Thế nhưng, từ ngày 30/01/1998, nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ gây hại đến các NHTM, NHTW Thái Lan đã đưa
ra quy định buộc các NHTM bắt buộc phải duy trì ít nhất 6% số dư tiền gửi ngoại tệ của người không cư trú dưới 3 hình thức: (i) ít nhất 2% duy trì tại NHTW, (ii) tối đa 2,5% bằng tiền mặt và (iii) các giấy tờ có giá theo quy định Từ năm 2000, Thái Lan ban hành luật kiểm soát ngoại tệ, theo đó Thái Lan áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý không định trước với nguyên tắc tỷ giá được xác định dựa trên cung - cầu trên thị trường ngoại tệ Tỷ giá tham chiếu THB/USD công bố ngày càng được xác định trên cơ sở tỷ giá giao dịch trung bình ngày hôm trước Cơ quan quản lý tiền tệ sẽ tham gia vào thị trường ngoại tệ khi thấy cần thiết
1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ chính sách điều hành tỷ giá hối đoái của các nước trong khu vực, là những nước khá tương đồng về chính sách đổi mới kinh tế và thời gian đổi mới, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:
ª Thứ nhất: cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái cần phải hướng đến thực hiện tốt các mục tiêu kinh tế vĩ mô của đất nước, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại tệ, hướng tới phát triển kinh tế bền vững
ª Thứ hai: phải duy trì một chính sách tỷ giá phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia trong từng giai đoạn Một chính sách tỷ giá được coi là phù hợp bao gồm:
Trang 34• Lựa chọn thời điểm phá giá đồng nội tệ phù hợp.Thành công trong việc phá giá tiền tệ thể hiện rõ nét ở thời điểm phá giá và mức điều chỉnh tỷ giá hối đoái Nhờ sự nhạy bén trong chính sách tỷ giá mà Trung Quốc đã đạt được sự ổn định giá cả trong nước
và cân bằng tài chính tiền tệ bên ngoài
• Duy trì tỷ giá phù hợp với mục tiêu phát triển theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy việc duy trì tỷ giá trong thời gian dài cùng với sự phá giá hợp lý CNY đã tạo ra sự phát triển tối ưu cho nền kinh tế
ª Thứ ba: Để hạn chế tác động tiêu cực từ các giao dịch vốn đối với nền kinh tế trong nước thì các cơ quan chức năng cần phải:
- Chọn lọc, thẩm định kỹ các dự án đầu tư bằng vốn (FDI)
- Quản lý chặt chẽ dòng vốn luân chuyển của các khoản đầu tư ngắn hạn (FII)
- Giám sát chặt chẽ các khoản vay nợ nước ngoài
ª Thứ tư: Quản lý ngoại hối chặt chẽ nhằm hạn chế tình trạng USD hóa, mọi khoản thu nhập
từ xuất khẩu, đầu tư… đều phải chuyển về nước và nguồn ngoại tệ của đất nước được tập trung vào một đầu mối duy nhất là NHTW thông qua hệ thống các tổ chức tín dụng trên cả nước; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về quản lý ngoại hối
ª Thứ năm: Vào thời điểm nền kinh tế khu vực hay toàn cầu rơi vào khủng hoảng, để đảm bảo an toàn cho thị trường tài chính trong nước, việc quản lý chặt chẽ và theo sát diễn tiến trên thị trường ngoại hối là một giải pháp xem xét thực hiện, bên cạnh đó cũng cần nên nới lỏng chính sách tiền tệ nhằm giảm bớt tác động do siết chặt ngoại hối gây ra
ª Thứ sáu: Việc tự do hóa giao dịch vốn và quản lý nợ vay không chặt chẽ đối với các nước đang phát triển sẽ dẫn đến hậu quả mất kiểm soát dòng vốn ngoại tệ, nguy cơ mất khả năng thanh toán cao Bên cạnh đó, sự chênh lệch lớn giữa dòng vốn đầu tư nước ngoài ngắn hạn so với dòng vốn dài hạn (vốn dài hạn ít hơn nhiều so với vốn ngắn hạn) sẽ gây ra tình trạng bất
ổn trong thị trường tài chính trong nước là rất cao Vì vậy cần ưu tiên thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp hơn so với đầu tư gián tiếp nhằm tạo sự ổn định cho nền kinh tế
ª Thứ bảy: không nên neo giữ quá lâu đồng bản tệ với một đồng ngoại tệ mạnh Tỷ giá cần được xác lập trên cơ sở một rổ ngoại tệ để tránh được cú sốc trong nền kinh tế
Kết luận chương 1
Nội dung trình bày tại chương 1 là một hệ thống hóa những lý luận cơ bản về tỷ giá hối đoái và chính sách điều hành tỷ giá hối đoái Cơ sở lý thuyết ở chương 1 sẽ là nền tảng cho việc phân tích, nhận xét và đánh giá tình hình thực tiễn trong chính sách điều hành tỷ giá hối đoái của NHNN Việt Nam trong giai đoạn hội nhập ở chương 2
Trang 35Chương 2: CHÍNH SÁCH ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 Thực trạng chính sách điều hành tỷ giá hối đoái trong giai đoạn 1999 - 2006
2.1.1 Chính sách điều hành tỷ giá hối đoái trong giai đoạn 1999-2006
Kể từ năm 1999, với dấu mốc lịch sử quan trọng trong việc thay đổi chính sách tỷ giá của NHNN từ việc chuyển từ chế độ tỷ giá cố định với công cụ điều hành chủ yếu là hành chính sang một chế độ tỷ giá mới linh hoạt và mang tính thị trường cao hơn Bên cạnh
đó, với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế bền vững nên trong giai đoạn này với chính sách tiền tệ hợp lý, chính sách điều hành tỷ giá hối đoái luôn theo chiều hướng giảm giá VND đã góp phần không nhỏ trong việc hỗ trợ các mục tiêu trên
Bảng 2.1: Mất giá của VND so với USD trong giai đoạn 2000 - 2006
Sự mất giá của VND (%) 3,46 3,9 1,98 1,56 0,84 0,86 1
Nguồn: Phân tích tỷ giá USD/ VND của ngân hàng Techcombank
Điều hành chính sách tỷ giá hối đoái tại Việt Nam trong giai đoạn này được xem là khá sự thành công của NHNN Với cơ chế tỷ giá thả nổi nhưng có sự điều tiết của nhà nước: hàng ngày NHNN đều công bố TGBQLNH, dựa trên cơ sở đó, các NHTM sẽ tự xây dựng tỷ giá giao dịch áp dụng trong hệ thống của mình; trong suốt 6 năm qua biên độ giao động tỷ giá VND/USD chỉ được điều chỉnh mở rộng một lần (ngày 01/07/20002 room tỷ giá được
mở rộng ra từ +/- 0,15 lên +/0,25%); NHNN điều tiết và can thiệp vào thị trường chủ yếu thông qua các hoạt động trên thị trường mở Chính điều này đã làm cho tình hình tỷ giá được phản ánh và được điều chỉnh kịp thời theo cung – cầu, hạn chế được những biến động mạnh gây hại trên thị trường Tạo sự bình ổn trên thị trường ngoại hối, góp phần ổn định hệ thống tài chính trong nước, tạo ra sự ổn định trong môi trường kinh tế
Hình 2.1: Tỷ giá bình quân giai đoạn 1995 - 2008
Nguồn: Chính sách tỷ giá và nợ công của Việt Nam - Ngân hàng Vietinbank
Trang 362.1.2 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến sự tăng trưởng trong nền kinh tế
Nhờ vào chính sách điều hành tỷ giá được giữ tương đối ổn định trong giai đoạn này
đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước, GDP trung bình hàng năm đạt 7,5%
Đối với lạm phát: trong điều hành chính sách tiền tệ, mục tiêu chủ yếu của NHNN
vẫn là kiềm chế lạm phát, vì vậy mà chính sách tỷ giá giữa VND với các đồng ngoại tệ mạnh có quan hệ thương mại, đầu tư và vay nợ với Việt Nam cũng được giữ tương đối ổn định Cụ thể, mức tỷ giá mua bán của NHTM với khách hàng cuối tháng 7/2005 so với đầu tháng 1-2003, tỷ giá VND/EUR tăng 17,6%; VND/JPY (Yên Nhật) tăng 7,2%; VND/GBP (Bảng Anh) tăng 10,3%; VND/USD tăng 2,9% Và kết quả thu được trong giai đoạn này
là lạm phát được kiểm soát khá thành công và với mức lạm phát này đã góp phần kích thích
sự phát triển của nền kinh tế
Hình 2.2: Tăng trưởng GDP thực tế và lạm phát 1990-2008 (Đvt: %)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Về phía cán cân thương mại: Với chính sách tỷ giá hướng về khuyến khích xuất
khẩu, hạn chế nhập khẩu đã góp phần cải thiện cán cân thương mại trong những năm này, nhập siêu đã giảm rất nhiều so với 10 năm trước kia, bình quân những năm trong giai đoạn này là 15%/năm trong khi giai đoạn 1993 - 1998 tỷ lệ này chiếm trên dưới 30% Sự thâm hụt trong cán cân thương mại đã được bù đắp bởi thặng dư trong cán cân vốn và lượng kiều hối chuyển về nước ngày càng nhiều hơn Bên cạnh đó, với kinh tế ngày càng phát triển, chính trị ổn định đã thu hút lượng khách du lịch vào Việt Nam ngày càng nhiều và lượng ngoại tệ thu về từ nguồn này cũng rất lớn Chính việc cầu ngoại tệ trong những năm này thấp, cung ngoại tệ càng tăng lên đã góp phần làm cho tỷ giá ổn định hơn
Trang 37Hình 2.3: Giá trị xuất, nhập khẩu của Việt Nam 1986-2008
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Đối với thu hút đầu tư: chính sự ổn định trong chính sách tiền tệ, kinh tế tăng trưởng
tốt đã tạo sự an tâm đối với doanh nghiệp trong nước và xây dựng lòng tin của các nhà đầu
tư nước ngoài Vì vậy, dòng vốn nước ngoài đã bắt đầu có sự gia tăng mạnh hơn qua các năm, điều này đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp của đất nước
Hình 2.4: Biến động vốn FDI và số dự án đầu tư từ năm 1998 - 2008
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Ngoài ra, với tình hình ngoại tệ cung vượt cầu đã góp phần làm cho dự trữ ngoại hối quốc gia tăng lên nhiều nhất từ trước tới nay (đạt trên 14 tuần nhập khẩu) Vì vậy, với mức quỹ dự trữ ngày càng tăng sẽ gia tăng lực cho kinh tế trong nước để chống lại các biến động
từ bên ngoài
Đối với tình trạng đôla hóa: Chính sách tỷ giá được điều hành đúng hướng tạo nên
sự ổn định trên thị trường ngoại hối, tỷ giá không có sự biến động mạnh đã góp phần hạn chế tình trạng đôla hóa trong nền kinh tế Bên cạnh đó, sự kết hợp hài hòa giữa tỷ giá và lãi suất đã làm giảm thiểu tình trạng đầu cơ làm lũng đoạn thị trường khi lãi suất tiền gửi nội tệ
Trang 38tại NHTM cùng kỳ hạn gấp 2-3 lần lãi suất USD, trước mức lãi suất hấp dẫn của VND người dân đã không còn nhu cầu găm giữ ngoại tệ, tỷ trọng tiền gửi USD trong tổng tiền gửi tại các NHTM trong một số năm gần đây có xu hướng giảm và niềm tin vào đồng tiền trong nước được nâng cao Chính điều này cũng tác động trở lại góp phần làm cho cung - cầu ngoại tệ trên thị trường ngày càng ổn định hơn
Với những thành tựu đạt được trong giai đoạn này đã khiến cho sức mua của đồng Việt Nam cũng được tăng cường và kỳ vọng vào khả năng chuyển đổi của VND vẫn còn là mục tiêu trung và dài hạn Khi đồng tiền quốc gia - nội tệ ổn định xét trên quan hệ với các ngoại tệ mạnh, thì sẽ tạo lòng tin cho các đơn vị kinh doanh trong và ngoài nước, tạo sự an tâm cho đông đảo dân chúng, người dân mạnh dạn bỏ vốn ra làm ăn, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việc đầu cơ vàng của người dân hầu như không còn, việc đầu cơ và cất
trữ ngoại tệ đã giảm mạnh
Nhìn chung, sau ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính tại Thái Lan năm 1997, kinh tế Việt Nam đã phải nỗ lực rất nhiều để đạt được những kết quả khả quan trong giai đoạn này Và có thể nói, chính sự điều hành đúng đắn trong đường lối và chính sách kinh tế
đã nâng cao vị thế kinh tế Việt Nam Một trong những thành công của các chính sách không thể không kể đến nghệ thuật điều hành chính sách tỷ giá của NHNN, bởi chính sự ổn định tỷ giá đã góp phần tạo tiền đề cho kinh tế có những bước phát triển vượt bậc, gia tăng tiềm lực
cho đất nước
2.2 Thực trạng chính sách điều hành tỷ giá hối đoái giai đoạn từ 2007 – 2010
Ngày 07/11/2006, Việt Nam chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO Vì vậy, sẽ có những cơ hội và thách thức rất lớn trong phát triển kinh tế khi mà các biến số trong nền kinh tế sẽ phải chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ những biến động trên thế giới, điều này đòi hỏi chính sách điều hành kinh tế cần có sự suy xét kỹ, lựa chọn hợp lý và linh hoạt hơn để kinh tế trong nước vẫn ổn định và hoàn thành tốt mục tiêu kinh tế - xã hội
đã đề ra
2.2.1 Diễn biến kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2007-2010
* Tốc độ tăng trưởng kinh tế: năm 2007 được đánh giá là năm có nền kinh tế tăng trưởng
nóng khi mà tốc độ tăng trưởng cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây Tuy nhiên, bước sang các năm 2008 và 2009, dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho hầu hết tình hình kinh tế - tài chính của các nước trên thế giới đều lâm vào tình trạng khủng hoảng và suy thoái, kinh tế của Việt Nam vẫn không thoát khỏi được quy luật chung này (tốc độ tăng trưởng đã có sự suy giảm mạnh)
Trang 39Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng GDP
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ Tổng cục thống kê
Tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đều đạt trên kế hoạch đã đề ra qua các
năm nhưng trên thực tế, theo đánh giá của các tổ chức kinh tế thế giới thì năng lực cạnh
tranh của Việt Nam đã bị thụt lùi từ 70/132 (năm 2008 – 2009) xuống còn 75/133 (năm
2009 – 2010), bởi thực chất mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam những năm qua dựa quá
nhiều vào việc tăng vốn đầu tư và phát triển chiều rộng, trong khi phân bổ nguồn lực chưa
hợp lý, hiệu quả đầu tư thấp, chất lượng tăng trưởng chưa cao đã tác động xấu đến các cân
đối lớn của nền kinh tế như thâm hụt cán cân vãng lai kéo dài, thâm hụt ngân sách lớn, nợ
công tăng nhanh, nhập siêu cao, mất cân đối ngoại tệ
* Các luồng vốn đầu tư nước ngoài
Bảng 2.3: Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 2007 – 2010
Ngay sau động thái mở cửa kinh tế của nhà nước, dòng vốn đầu tư nước ngoài đã
liên tục chảy mạnh vào Việt Nam trong năm 2007 và nửa đầu năm 2008, điều này đóng góp
rất lớn tới sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn này Song dòng chảy này đã
bị chặn đứng lại khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra, hầu hết các dòng vốn FDI
và FII đều có sự tháo lui về nước từ nửa cuối năm 2008 và cho đến nay vẫn chưa thể phục
hồi tốt được
Hiện nay, Việt Nam vẫn theo đuổi mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư, trong đó FDI
chiếm gần 20% tổng đầu tư toàn xã hội, khu vực FDI đóng góp khoảng 20% cho GDP, 40%
kim ngạch xuất khẩu (chưa kể dầu thô) và 3,5% lao động trực tiếp cho nền kinh tế Và cũng
theo thống kê, Việt Nam là một nước có mức độ phụ thuộc vào FDI cao nhất trong khu vực,
do vậy với sự suy giảm mạnh dòng vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn vừa qua đã tác
động tiêu cực đến nền kinh tế (tốc độ tăng trưởng GDP, xuất khẩu và việc làm )
Trang 40Mặc dù, việc thu hút vốn là một chỉ tiêu quan trọng, nhưng hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn này mới thực sự là yếu tố cần quan tâm hàng đầu (bởi trong thời gian qua, hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư của Việt Nam đã giảm sút mạnh) Dòng vốn đổ vào càng nhiều thì lại đòi hỏi phải biết chọn lọc và giải pháp sử dụng hiệu quả dòng vốn này, thúc đẩy
sự phát triển của đất nước Vì vậy,trong bối cảnh kinh tế vĩ mô hiện nay, nên khuyến khích những nguồn vốn có khả năng tạo ra nguồn ngoại tệ để giúp cân bằng cán cân thanh toán, đồng thời cũng cần ngăn chặn những dòng vốn mang tính đầu cơ để giảm thiểu những rủi ro tiềm tàng
Hình 2.5: Hệ số ICOR trong các giai đoạn
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê
* Lạm phát: trong thời gian 2007-2010, lạm phát của Việt Nam đã có những chuyển biến
bất thường và khó kiểm soát khi phải gánh chịu hàng loạt các tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và sự rối loạn trong chính sách điều hành kinh tế của nhà nước
Hình 2.6: Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam từ tháng 1/2006 đến 1/2011
Nguồn: Tổng cục thống kê
Một số nguyên nhân ảnh hưởng mạnh đến tình trạng lạm phát tại Việt Nam:
+ Tăng trưởng tín dụng đã đạt kỷ lục (năm 2006 là 29,7%, năm 2007 tăng dư nợ cao nhất trong nhiều năm qua 43,7%, một số NHTM tăng trên 70%) - cung tiền trong nước tăng cao (cung tiền năm 2005 là 23,4%, năm 2006 là 33,6%, năm 2007 là 53,8%, tổng cộng 3