Những người tham gia vào lựa chọn giới tính và công nghệ họ sử dụng để lựa chọn và kiểm soát giới tính thai nhi là bằng chứng xác thực mà báo cáo đưa ra để thảo luận về chính sách, xây d
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯƠNG THỊ YẾN NGỌCVIỆC LỰA CHỌN GIỚI TÍNH THAI NHICỦA NHỮNG CẶP VỢ CHỒNG SINH
CON THEO Ý MUỐN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN HỌC
Giảng viên hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thu
Hương
Hà Nội-2016
Trang 2MỤC LỤC
2DANH MỤC TỪVIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ 4
PHẦN MỞĐẦU 5
1 Lý do chọn đềtài 5
2 Tổng quan vềđềtài nghiên cứu 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 11
5 Mụcđíchnghiên cứuvà câu hỏi nghiên cứu 18
6 Cấu trúc luận văn 19
CHƯƠNG 1 CƠ SỞLÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀTÀI 201.1Các khái niệm và thuật ngữkhoa học 20
1.1.1Gia đình đình và sinh đẻ 20
1.1.2Tỷsốgiới tính khi sinh, lựa chọn giới tính trước sinh 21
1.1.3Các thực hành lựa chọn giới tính thai nhi phổbiến ởViệt Nam hiện nay 23
1.2Khung lý thuyết áp dụng 25
1.2.1Lý thuyết chức năng 25
1.2.2Lý thuyết Nhân học biểu tượng/ diễn giải 26
1.3Thực trạng mất cân bằng giới tính ởViệt Nam và trên thếgiới
27Tiểu kết chương 1 Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 2 BỐI CẢNH VĂN HÓA DẪN TỚI HÀNH VI LỰA CHỌN GIỚI TÍNH TRƯỚC SINH Error! Bookmark not
defined.2.1.Ý niệm vềgiá trịcủacon cái trong gia đìnhError! Bookmark not defined 32.1.1.Giá trịmang tính kinh tếcủa con cái Error! Bookmark not defined
2.1.2.Vai trò duy trì nòi giống Error! Bookmark not defined
Trang 32.1.3.Nhân tốgắn kết cuộc hôn nhân của cha mẹ Error! Bookmark not defined.
2.2.Ý niệm vềgiá trịcủa con trai trong gia đình Error! Bookmark not defined.2.2.1.Giá trịmang tính kinh tế Error! Bookmark not defined
2.2.2.Bổn phận nối dõi tông đường.Error! Bookmark not defined
2.2.3.Vai trò xã hội, nhân tốgắn kết và đảm bảo hôn nhân bền vững của cha
mẹ Error! Bookmark not defined.Tiểu kết chương
2 Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 3 HÀNH TRÌNH TÌM KIẾM CON TRAI Error! Bookmark not defined.CỦA CÁC CẶP VỢCHỒNG Error! Bookmark not defined
3.1Sinh và có con trai là ước muốn và “trọng trách” không thểchối
bỏ Error! Bookmark not defined
3.1.1.Có con trai: định kiến và kỳvọng xã hội Error! Bookmark not defined.3.1.2.Hành trình tìm kiếm con trai và điều phải đánh đổi Error! Bookmark not defined
3.2.Chúng ta có thểvượt lên định kiến Error! Bookmark not defined
3.2.1.Định kiến không trừmột ai Error! Bookmark not defined
3.2.2.Vai trò của nam giới trong cương vịngười chồng Error! Bookmark not defined
4Tiểu kết chương 3 Error! Bookmark not defined
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 33PHỤLỤC ẢNH Error! Bookmark not defined.3
Trang 44DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu trường hợp 9
Bảng 1.1: SRB ởmột sốquốc gia và khu vựctrên thếgiới 27
Bảng 1.2: Tỷsốgiới tính khi sinh thời kỳ1999 –2011 29
Bảng 1.3: SRB phân theo vùng thời kỳ2011 –2015 29
Bảng 1.4: SRB phân theo thành thị, nông thôn thời kỳ2000 –2014 31
Biểu đồ1.1: SRB theo vùng và nông thôn/thành thịnăm 2009 32
Bảng 2.1: Mục đích khách hàng đến khám tại phòng khám thầy
Phong Error! Bookmark not defined
Bảng 2.2: Thống kê LCGTTS phân theo độtuổiError! Bookmark not defined
Trang 55PHẦN MỞĐẦU
1 Lý do chọn đề tài“Chủ trương đẻ hai con của nhà nước là tuyệt vời nhưng hạn chế đẻ ít thì người dân phải tìm, phải chọn, có nhiều người đi nạo thai bảy lần Bà hàng xóm ở cạnh nhà tôi nạo thai chục lần, gần chết Bà ấy bảo cao tuổi vẫn phải hoạt động, vẫn nạo thai, nếu không chồng đánh, nó bóp cổ, chạy sang nhà tôi kêu:
“chị ơi, cứu em” Già 52 tuổi rồi mà vẫn bị bóp cổ phải đẻ” Câu chuyện về người hàng xóm được một nữ lãnh đạo xã tại Hưng Yên kể lại trong cuộc nghiên cứu định tính về “Sự ưa thích con trai ở Việt Nam” (UNFPA, 2011) đã gợi mở tính chất phức tạp trong hành vi sinh đẻ của gia đình Việt Đó không chỉ là bài toán giảm mức sinh mà còn chứa đựng yếu tố tâm lý, văn hóa truyền thống trong bối cảnh y học, khoa học công nghệ phát triển như hiện nay Hệ quả trực tiếp của những điều này chính là sự mất cân bằng giới tính khi sinh (sau đây viết tắt
làCBGTKS).Những ca mất CBGTKS đầu tiên ở Việt Nam được ghi nhận vào năm
1999 với 107,0 bé trai trên 100 bé gái (gso.gov.vn).Chỉ trong hơn một thập niên, tỷ
số giới tính khi sinh (SRB)ở nước ta đã tăng lên 112,3 (2012) (gso.gov.vn)và được
dự báo sẽ lên đến đỉnh điểm là 115 vào năm 2020 (TCTKVN, 2009).Hiện tượng nam hóa một cách bất thường về mặt nhân khẩu học đã gây ra những tác động nghiêm trọng về kinh tế -xã hội (UNFPA, 2011) mà bằng chứng rõ ràng nhất là sự thiếu hụt nghiêm trọng nữ giới trong độ tuổi kết hôn ở Trung Quốc và Hàn Quốc
Trang 6trong hơn mộtthập niên trở lại đây Đó là kết quả của tâm lý ưa thích con trai, chính sách giảm sinh cùng sự làm dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật (Gulmoto, 2009), dẫn đến việc LCGTTS LCGTTS dù là bé trai hay bé gái cũng là biểu hiện của sự bất bình đẳng giới Ngược lại, chínhtình trạngbất bình đẳngvềgiới đã làm nảy sinh tâm
lý ưa chuộng con trai và LCGTTS.Cũng như một số quốc gia châu Á khác, những quan điểm của hệ tư tưởng Nho giáo đã ăn sâu bén rễ vào đời sống văn hóa, tinh thần người Việt, trở thành bệ đỡ vững chắc cho hệ thống thân tộc cùng hình thức
cư trú bên nội(UNFPA, 2011)
6Những giá trị mà con trai mang đến, khi đó trở thành kỳ vọng, mong mỏi của cả ông bà, cha mẹ, quy định tập quán sinh đẻ trong gia đình Việt Nam truyền thống (Hồ Ngọc Châm, 2011).Thành công của chiến dịch dân số-kế hoạch hóa gia
đình(KHHGĐ) do Đảng và Nhà nước Việt Nam vận động từ cuối thập niên 80 với khẩu hiệu mỗi gia đình chỉ nên sinh từ một đến hai con (theo điều 2, Quy định về một số chính sách dân số và KHHGĐ, 1988) (thuvienphapluat.vn)đã làm giảm số con của mỗi gia đình, điều này đồng nghĩa với nguy cơ không có con trai tăng lên (Trần Thị Thanh Loan, 2012) Trong bối cảnh khoa học –kỹ thuật phát triển như hiện nay, người ta có thể dễ dàng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế hỗtrợ
LCGTTS để vừa có thể sinh ít con mà vẫn đảm bảo có con trai Mặc dù những hậu quả mà mất CBGTKS gây ra đã được nhà nước đẩy mạnh tuyên truyền trong thời gian gần đây nhưng “từ nhận thức đến thay đổi hành vi là cả một quá trình, không thể thay đổi trong một sớm một chiều” [19, tr.41].Trước thực trạng này, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện (UNFPA, 2009, 2011, 2012; Vũ Thị Cúc, 2012; Trần Minh Hẳng, 2012; Trần Thị Thanh Loan, 2012) để đưa ra bức tranh toàn cảnh
về tình hình mất CBGTKS ở Việt Nam, chỉ rakhía cạnh văn hóa của tâm lý chuộng con trai, hậu quả của việc dư thừa nam giới và xây dựng giải pháp nhằm đứa SRB trở lại mức cân bằng Những nghiên cứu này chủ yếu xét đến việc nạo phá thai nhằm loại bỏ các bé gái mà ít quan tâm đến việc lựa chọn giới tính thai nhi trước khi mang thai.Hiện nay, có rất nhiều phương pháp lựa chọn giới tính thai nhi và các cặp vợ chồng có thể dễ dàng tìm hiểu qua các phương tiện thông tin đại chúng, phổ biến nhất là internet Áp dụng Đông y là một trong số các phương pháp ấy.Đây
là một quan niệm toàn diện, thống nhất, chỉnh thể trong công tác phòng bệnh, chẩn đoán bệnh và chữa bệnh, dựa trên nền tảng kết hợp lý luận các học thuyết âm
dương, ngũ hành và thiên nhân hợp nhất[45; tr 27].Tuy nhiên, phần lớn các cặp vợ chồng đều có sự kết hợp giữa uống thuốc Bắc với một số cách khác
72 Tổng quan về đề tài nghiên cứuMất CBGTKS là một vấn đề nhân khẩu học, nảy sinh từ những hệ quả của văn hóa truyền thống trong bối cảnh đời sống kinh tế
Trang 7-xã hội hiện đại Các nghiên cứu về tình trạngnàyvì thế mà thường đi từ cách tiếp cận cấu trúc xã hội, ràng buộc xã hội để thấy được rõ sự chi phối của các khuôn mẫu, chuẩn mực về gia đình trong xã hội đến tập quán, khuynh hướng sinh con trong gia đình Việt (Nguyễn Văn Chính, 1999; UNFPA, 2011; Vũ Thị Cúc, 2012) Nguyễn Văn Chính là một nhà Nhân họcđã dành nhiều quan tâm đến vai trò chi phối của các khuôn mẫu, chuẩn mực trong xã hội về gia đình đến việc sinh đẻ từ cuối thập kỷ 90.Kếtquả nghiên cứu trường hợp tại làng Giaocủa ôngđăng trên tạp chí Xã hội học (1999)bàn về mối quan hệ giữa tỉ lệ sinh cao và vấn đề sử dụng lao động trẻ em trong xã hội nông thôn Trong đó, yếu tố cấu trúc gia đình, các ràng buộc văn hóa và các giá trị xã hội của trẻ em là nguyên nhân cơ bản của tình trạng mức sinh cao.Trước tình trạng gia tăng đáng kể của SRB từ đầu thế kỷ 21 đến nay
ở Việt Nam, Quỹ dân số Liên hợp quốcđã thực hiện một số nghiên cứu định tính về thực trạng này ở nước ta Các kết quả nghiên cứuđã làm nổi bật những yếu tố xã hội, văn hóa và sức khỏe tác động đến tỷsố giới tính khi sinh ở Việt Nam để thấy được tâm lý ưa thích con trai trong mối liên hệ với tình trạng mất
CBGTKS(UNFPA, 2011) Những người tham gia vào lựa chọn giới tính và công nghệ họ sử dụng để lựa chọn và kiểm soát giới tính thai nhi là bằng chứng xác thực
mà báo cáo đưa ra để thảo luận về chính sách, xây dựng và điều chỉnh tâm lý, hành
vi yêu thích con trai dẫn đến sự mất cân bằng giới tính ở Việt Nam hiện nay.Một nghiên cứu kháccủa Vũ ThịCúc(tạp chí nghiên cứu Giới và Gia đình,
2012)làtổng quan một số kết quả nghiên cứu đã có về vấn đề lựa chọn giới tính thai nhi ở Việt Nam dưới góc độ nhân tố tác động Đó là quan niệm gia trưởng, chính sách KHHGĐ, sự phát triển của y học hiện đại Tác giả chỉ ra rằng mặc dù nhà nước đã quan tâm, ban hành nhiều chính sách cụ thể để kiểm soát việc lựa chọn giới tính thai nhi nhưng hiệu quả của pháp luật hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế.Mất CBGTKS là hệ quả của ba yếu tố: tâm lý ưathích con trai, dịch vụ y tế hỗ trợ
và việc giảm mức sinh Trong đó, yếu tố tâm lý, nhận thức của người dân được xem như vấn đề cốt lõi (Guilmoto, 2009) Một số nghiên cứu(Trần Thị Thanh Loan, 2012; UNFPA, 2012) đã cung cấp quan điểm, thái độ cũng như nhận thức của người dân về vấn đề mất CBGTKS ở Việt Nam Nghiên cứu trường hợptại Hưng YêncủaTrần Thị Thanh Loan đã đưa ra nhận thức của những người tham gia trả lời nghiên cứu về nguyên nhân và hậu quả của tình trạng mất cân bằng giới tính đang diễn ra hiện nay(Tạp chí nghiên cứu Giới và Gia đình, 2012) Người dân nhận thức rất rõ việc dư thừa nam giới làm gia tăng thêm nhiều vấn đề xã hội, không những không cải thiện được vị thế của phụ nữ mà còn đẩy phụ nữ đến chỗ yếu thế hơn.Báo cáo “Nghiên cứu về giới, nam tính và sự ưa thích con trai ở Nepal
và Việt Nam” (UNFPA, 2012) đã cung cấp cái nhìn tổng thể từ góc độ của nam
Trang 8giới ở Việt Nam và Nepal về vấn đề bình đẳng giới, thái độ với trải nghiệm về bạo lực, thái độ với pháp luật và chính sách về quyền và sứckhỏe sinh sản (SKSS), tâm
lý ưa thích con trai Trong báo cáo này, nhận thức về tầm quan trọng của con trai –con gái của nam giới được đặt trong tương quan các yếu tố dẫn đến tâm lý ưa thích con trai ở Việt Nam và Nepal.Đi từ Nhân học y tế là một hướng tiếp cận mới về mất CBGTKS ở Việt Nam(Trần Minh Hằng, 2012).Luận án Tiến sĩ “Nạo phá thai lựa chọn giới tính thai nhi ở Việt Nam:nghiên cứu trường hợp tại một bệnh viện ở
Hà Nội” của Trần Minh Hằngđã chỉ ra những yếu tố tạo áp lực khiến các cặp vợ chồng mong muốn và lựa chọn giới tính cho con Cụ thể, họ đã lựa chọn giới tính thai nhi trước khi thụ thai, xác định giới tính trong thời gian mang thai và nạo phá thai khi không đạt được kết quả như mong muốn Tác giả cũng đãnhấn mạnh đến vấn đềnạo phá thai để lựa chọn giới tính thai nhi, nêu bật mâu thuẫn giữa thực tế và chính sách, đồng thời đưa ra một số khuyến nghị, đề xuất cụ thể nhằm khắc phục
và hạn chế tình trạng này.Các tài liệu nói về gia đình, cấu trúc gia đình cũng như những chuẩn mực trong giađình Việt khá nhiều Trong đó, việc sinh con trai được bàn đến như một lối suy
9nghĩ đã trở thành khuôn mẫu, quy định vị thế cũng như hành vi của các thành viên trong gia đình và xã hội Khi mang thai, việc dễ dàng sử dụng dịch vụ siêu âm chẩn đoán giới tính và nạo phá thai sàng lọc giới tính trước sinh trở nên dễ dàng hơn đã dẫn đến mất CBGTKShiện nay Tuy vậy, vấn đề lựa chọn giới tính trước khi mang thai bằng can thiệp y học để cá nhân khẳng định vị thế của mình vẫn chưa được bàn đến nhiều.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứuĐối tượng nghiên cứuLCGGTS là việc can thiệp có chủ đích để con sinh ra mang giới tính như mong muốn Hiện nay, ở Việt Nam có khá nhiều phương pháp LCGTTS được các cặp vợ chồng áp dụng, bao gồm cả trước khi thụ thai (sẽ được trình bày cụ thể hơn trong chương 1) và trong quá trình mang thai Do những hạn chế về mặt thời gian, nguồn lực tài chính cũng như chuyên môn nên trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ
đi vào nghiên cứu những cặp vợ chồng sử dụng Đông y (uống thuốc Bắc, có kết hợp với một số biện pháp khác) để LCGTTS mà chưa tiến hành nghiên cứu ở
nhóm đối tượng sử dụng Tây y, cầu tự hay các biện pháp khác.Tên đối tượng
nghiên cứu đã được thay đổi đểđảm bảo nguyên tắc ẩn danh.Ngoài hai trường hợp
là cặp vợ chồng LCGTTS được lựa chọn để thực hiện nghiên cứu trường hợp, các kết quả nghiên cứu còn được thu thập từ gia đình, họ hàng, hàng xóm của hai
trường hợp này Phỏng vấn sâu cũng được tiến hành trên những cặp vợ chồng có thực hành LCGTTS khác mà tác giả tiếp cận được.Bảng 1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu trường hợpTrường hợp 1Trường hợp 2Trường hợp 3Thông
tinChồngVợChồngVợChồngVợTênPhúcLanTuấnHạnhDũngThanh
Trang 910Tuổi504845433327Nghề nghiệpNông dânNông dânKinh doanhLao động tự doCông nhânCông nhânQuê quánBắc GiangHưng YênSơn LaYên BáiNơi cư
trúBắc GiangHà NộiBắc NinhSố con3 con gái, 1 con trai2 con gáiChưa có conMục đíchĐã LCGTTS thành côngLCGTTSChữa vô sinh, hiếm muộnLCGTTS đồng nghĩa với việc các cặp vợ chồng có thể mong muốn và sử dụng biện pháp để sinh con trai hoặc con gái như ý muốn Thực tế tại địa bàn nghiên cứu cũng như các thống kê, dự báo về SRB ở Việt Nam (TCTKVN) ở Việt Nam hiện nay là bằng chứng cho thấy các bé trai được ưa thích và lựa chọn nhiều hơn hẳn so với các bé gái Trong nghiên cứu này, tác giả chỉ đi vào nghiên cứu việc lựa chọn sinh con trai của các cặp vợ chồng.Phạm vi nghiên cứuKhông gian: phòng khám Đông ycủa thầy Phong, 61 tuổi (tên người cấp tin đã được thay đổi để đảm bảo nguyên tắc ẩn danh)tại Quế Võ, Bắc Ninh Đây là một phòng khám cá nhân, có thời gian hoạt động từ 7h30 đến 18h tất cả các ngày trong tuần, do thầy Phong trực tiếp đảm nhận
từ việc bắt mạch, kê đơn, bốc thuốc Khách hàngđến khám thuộc nhiều đối tượng khác nhau nhưng đại đa số đều ở Đồng bằng sông Hồng –khu vực có SRB cao nhất
cả nước(xem bảng 1.3).Thời gianđiền dã: Do đề tài đi vào nghiên cứu trường hợp nên tác giả cần có thời gian tìm kiếm, tiếp cận và tạo dựng lòngtin với đối tượng nghiên cứu Để làm được điều đó, tác giả đã đến các phòng khám Đông y để tìm kiếm các cặp vợ chồng có thực hiện LCGTTS, sau đóviệc thực hiệnnghiên cứu sâumới có thể tiến hành Vì vậy, thời gian nghiên cứu được chia thành hai giai đoạn:
11-Từ 5-9/2015: Khảo sát tại phòng khám Đông ynhằm thu thập những thông tin định lượng, tìm kiếm và tạo dựng mối quan hệ đối với chủ thể nghiên cứu.-Từ 7/2015 –12/2015: Khảo sát, nghiên cứu theo cặp đối với những cặp vợ chồngđược lựa chọn để nghiên cứu sâu.4 Phương pháp nghiên cứu4.1.Phương pháp nghiên cứuPhương pháp điền dã.Tác giả trực tiếp tới địa bàn nghiên cứu, quan sát thực trạng LCGTTS tại một phòng khám Đông y, tìm kiếm và tiếp cận các cặp vợ chồng
có LCGTTS để từ đó thực hiện nghiên cứu trường hợp.Phương pháp câu
chuyệncuộc đời.Mục tiêu của phương pháp này là tìm hiểu các cặp vợ chồng được nghiên cứu trong bối cảnh thời gian dài, từ khi họ kết hôn cho đến khi họ quyết định can thiệp LCGTTS(đối với những cặp vợ chồng LCGTTS) hoặc quá trình chữa trị vô sinh, hiếm muộn (nghiên cứu trường hợp vô sinh, hiếm muộn)để thấy suy nghĩ của bản thân họ về việc này diễn ra như thế nào trong suốt thời gian đó và
có sự thay đổi gì trong nhận thức đó hay không? Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện Do đặc thù của đề tài nghiên cứu, việc tiếp cận địa bàn và đối tượng nghiên cứu gặp nhiều khó khăn, mẫu nghiên cứu được lựa chọn dựa trênsự thuận lợi, tính dễ tiếp cận và đồng thuận của đối tượng nghiên cứu Việc nghiên
Trang 10cứu trường hợp, trong điều kiện nhân lực và tài chính hạn chế chỉ có thể thực hiện được ở một số ít đối tượng có sự đồngthuận cao và nhiệt tình giúp đỡ tác giả.Số lượng mẫu: 3 Trong đó: 2 trường hợp LCGTTS và 1 trường hợp vô sinh, hiếm muộn Thông tin về đối tượng nghiên cứu:đã trình bày trong phần đối tượng và phạm vi nghiên cứu.Phươngpháp phân tích mạng lưới xã hội, vốn xã hội:Mục đích: Nghiên cứu sâu đến mức tối đa có thể những cặp đôi này để thu được kết quả sâu sắc hơn, hiểu được sâu sa động cơ, tâm lí, nhận thức của họ xoay quanh
12việc sinh con theo ý muốn Tìm hiểu các nguồn lực kinh tế, vốn tri thức, mối quan hệ xã hội có tác động như thế nào đến việc suy nghĩ và quyết định can thiệp LCGTTS.Số lượng mẫu: 3, trong đó, 2 mẫu sinh con theo ý muốn và 1 mẫu chữa
vô sinh, hiếm muộn.Phương pháp phân tích dữ liệu diễn ngôn:Phân tích suy nghĩ, tâm lí của các cặp được nghiên cứu thông cách thái độ, giao tiếp hàng ngày của họ
về vấn đề con cái, gia đình, rộng hơn là yếu tố văn hóa, xã hội để thấy được mức
độ quan tâm đến giới tính cho của con họ Họ muốn có con trai hay con gái hay đủ
cả trai lẫn gái do ý thích cá nhân hay giới tính của con còn chứa đựng những mong muốn, kỳ vọng nào khác của cha mẹ Phương pháp quan sát:Quan sát những cặp đôi tìm đến hai phòng khám được lựa chọn làm địa bàn nghiên cứu để thấy được thái độ, tâm trạng của họ khi đến đây.4.2.Khó khăn và thách thức trong tiếp cận nghiên cứuSRB hay nạo phá thai lựa chọn giới tính là những vấn đề nổi cộm, được UNFPA và một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam quan tâm Việc LCGTTS cũng đã được bàn đến rất nhiều trong các báo cáo của UNFPA, tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu trường hợp về những cặp vợ chồng LCGTTS Đây không phải vấn đề quá nhạy cảm, song việc tiếp cận địa bàn nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu cũng có một số khó khăn, hạn chế nhất định.4.2.1.Khó khăn khi tiếp cận địa bàn nghiên cứu và đối tượng nghiên cứuPhòng khámĐông yđầu tiên mà tác giả tìm đến là của thầy Đông, ở Yên Phong –Bắc Ninh(tên người cấp tin đã được thay đổi
để đảm bảo nguyên tắc ẩn danh) Đây là một phòng khám theo mô hình gia đình,
có quy mô khá lớn và chuyên môn hóa với nhà xe, nơi lấy số thứ tự và chờ khám, người khám, người bốc thuốc riêng Bệnh nhân đến khám sau khi gửi xe ở nhà con trai thầy Đông sẽ được phát số thứ tự khám do số lượng khách khá đông Sau đó, khách ngồi đợi trong sân nhà thầy, chờ đến lượt vào khám Thầy sẽ trực tiếp bắt mạch,kê đơn cho từng người Sau khi khám xong, khách ra ngoài tiếp tục ngồi đợi con trai thầy (cũng là thầy thuốc) bốc thuốc Tùy vào
13tình trạng sức khỏe từng người và nhu cầu, khoảng cách địa lí xa hay gần, mỗi người thường được kê chín hoặc 18 thang thuốc Tác giả biết đến phòng khám của thầy Đông nhờ sự giới thiệu của một người quen và được cảnh báo rằng: “cẩn thận
Trang 11không người ta tưởng là nhà báo người ta đuổi đấy” Lần đầu đến đây, tác giả chưa giới thiệu về đề tài nghiên của mình mà đến với tư cách khách hàng, lấy số và xếp hàng vào khám như những cặp vợ chồng khác (cùng với một người nam, đóng giả làm vợ chồng) Để có thể thực hiện nghiên cứu, tác giả cần phải khảo sát tại địa bàn trong thời gian dài và tìm kiếm đối tượng nghiên cứu Việc đóng giả làm khách hàng không thể thực hiện được bởi tác giả sẽ bị thầy hoặc người trông xe nhớ mặt
Và điều quan trọng là cách làm này vi phạm đạo đức trong nghiên cứu Vì vậy, sau hai lần đóng vai khách hàng, tác giả đã trình bày rõ mục đích nghiên cứu với thầy Đông nhưng thầy từ chối giúp đỡ Bởi lẽ, lượng người đến khám mỗi ngày ở đây khá đông, đặc biệt là vào hai ngày cuối tuần Phòng mạch của thầy hoạt động có giấy phép và được hiệp hội Đông y Bắc Ninh thông qua nhưng trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn có khá nhiều luồng ý kiến trái chiều về chất lượng Vì vậy, dù đã giới thiệu mình là nhà nghiên cứu và đảm bảo tính bảo mật của thông tin thu thập được nhưng thầy Đông vẫn nghi ngờ và từ chối giúp đỡ.Không nhận được
sự hợp tác từ phía chủ phòng khám, tác giả đã vận dụng các mối quan hệ xã hội của bản thân và tìm được ba cặp vợ chồng có can thiệp để sinh con theo ý muốn Việc nghiên cứu sâu có thể tiến hành với hai trên ba cặp vợ chồng này nhưngngoài nghiên cứu trường hợp,điều tác giả muốn là làm một thống kêđịnh lượng về những đối tượng lựa chọn giới tính thai nhi lại không thể thực hiện được.Dưới sự gợi ý của một người bạn, tác giả đã sử dụng mạng xã hội để tìm kiếm đối tượng nghiên cứu Một điều thú vị là tất cả các bài đăng tin giới thiệu cụ thể về mục đích, mong muốn của tác giả trên một số trang mạng như Facebook, diễn đàn webtretho,
lamchame đều không nhận được bất cứ phản hồi nào Nhưng khi bài đăng chuyển sang dạng: “Có ai đang có nhu cầu sinh con trai cho em xin địa chỉ lấy
Trang 12huốc và kinh nghiệm?”hoặc “Có mẹ nào biết chỗ bốc thuốc đẻ con trai hay chữa vô sinh hiếm muốn không?”thì nhận được rất nhiều phản hồi, chia sẻ kinh nghiệm của thành viên diễn đàn Bốn bài đăng trên fan pagewebtretho có tổng số 57 bình luận của năm thành viên, tác giả nhận được một tin nhắn và một cuộc điện thoại; hai bài đăng trên fan pagelamchame cũng nhận được 12 bình luận của hai thành viên Điều này cho thấy rằng tâm lý chung của các thành viên trên mạng xã hội chỉ quan tâm đến những người có cùng mục đích sinh con theo ýmuốn giống như họ và sẵn sàng
tư vấn, chia sẻ kinh nghiệm rất nhiệt tình, nhưng lại e dè công việc của các nhà nghiên cứu và báo giới Nếu không ngại ngùng, người ta cũng sẽ bàng quan, không quan tâm Về sau, khi trực tiếp đến một phòng khám Đông ykhác ởQuế Võ, Bắc Ninh, tác giả cũng gặp phản ứng tương tự như vậy của các cặp vợ chồng đến
khám.Việc tìm kiếm đối tượng nghiên cứu trên mạng cho hội cho thấy những khả quan bước đầu, có thể tìm kiếm được một số lượng người lựa chọn giới tính thai nhi Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu định lượng có thể không mang tính bao quát do mẫu không mang tính đại diện Trong số chín phản hồi tác giả nhận được trong vòng một tuần, có năm trường hợp LCGTTS và bốntrường hợp hiếm muộn và cảchín trường hợp đều ở độ tuổi dưới 35, trình độ học vấn Đại học Các đối tượng nghiên cứu tìm kiếm được trên mạng xã hội chỉ tập trung vào một số nhóm như dân công sở, người có trình độ học vấn cao, trẻ tuổi và sống tập trung ở khu vực thành phố, thị xã, thị trấn Những người cũng lựa chọn giới tính thai nhi nhưng sống ở vùng nông thôn, làm các công việc lao động chân tay và ở độ tuổi trung niên bị bỏ qua bởi nhóm đối tượng này phần lớn đều không sử dụng internet Nếu
có, việc tham gia các diễn đàn, mạng xã hội của họ cũng rất hạn chế Mặc dù có một vài người khá nhiệt tình khi biết được mục đích nghiên cứu của tác giả nhưng
Trang 13việc sử dụng mạng xã hội để thực hiện nghiên cứu không khả quan Một thành viên trên fan pagewebtretho đã giới thiệu tác giả đến phòng khám của thầy P ở Đình Trám –Bắc Giang Tuy nhiên, do bốc thuốc Bắc chỉ là nghề phụ của thầy nên
khách hàng nếu muốn đến khám thường phải
15hẹn lịch trước với thầy Vì vậy, phòng khám của thầy rất vắng khách, việc tiến hành nghiên cứu ở đây cũng không thuận lợi.Trong lúc đang gặp khó khăn khi tìm kiếm và tiếp cận địa bàn nghiên cứu, thông qua một người quen, tác giả được giới thiệu đến phòng khám của thầy Phong ở Quế Võ, Bắc Ninh May mắn rằng thầy Phong trước khi quay trở về nhà học nghề bốc thuốc gia truyền vốn là một nhà văn, nhà báo nên ngay khi tác giả trình bày về đề tài nghiên cứu, thầy đã hiểu và đồng ý
để tác giả hàng ngày đến quan sát,làm các công việc phục vụ cho đề tài.Khác với phòng khám của thầy Đông, phòng khám của thầy Phong chỉ có một mình thầy làm việc, từ bắt mạch, kê đơn đến bốc thuốc Thầy cũng là người khá khó tính Nếu lượng khách đến khám đông, công việc nhiều, khách hàng thắc mắc quá nhiều thì
có thể bị thầy đuổi về Vì vậy, trong gần một tháng đầu tiên, dù được thầy tạo điều kiện,song công việc chính của tác giả khi đến đây là phụ giúp thầy bốc thuốc Vào những ngày vắng khách và xen kẽ trong lúc thầy Phong bắt mạch, tác giả tranh thủ làm quen, giới thiệu với các cặp vợ chồng đến khám Việc trao đổi cụ thể với các đối tượng nghiêncứu chỉ thực hiện được khi tác giả trực tiếp đến nhà của họ.Khó khăn khi tiếp cậnđối tượng nghiên cứuMặc dù được thầy Phong tạo điều kiện giúp
đỡ, giới thiệu với khách hàng: “Đây là sinh viên đang làm luận văn về vấn này, không phải nhà báo nên có hỏi gì các cháu cứ trả lời” nhưng lại một lần nữa, tác giả vấp phải sự e dè, thờ ơ từ phía các cặp đôi Họ đùn đẩy cho nhau và từ chối giúp đỡ tác giả Nếu có, sự giúp đỡ ấy thường không đủ để tiến hành nghiên cứu sâu Hầu hết các cặp vợ chồng sinh con theo ý muốn đều mang tâm lý bàng quan khi có ai đó hỏi về vấn đề này với mục đích tìm hiểu, “hỏi để biết”, để nghiên cứu Tuy nhiên, họ lại rất sẵn sàng tâm sự, chia sẻ với những người cùng hoàn cảnh Đây là phản ứng thường gặp, không chỉ đối với những người ở độ tuổi trung niên
mà ngay cả với những người trẻ tuổi, hiện đại và không gặp mặt trực tiếp như khi tác giả đặt vấn đề nghiên cứu trên mạng xã hội Điều này xuất phát từ tâm lý
mongmuốn tìm kiếm một sự đồng cảm của mỗi cá nhân Người ta cho rằng
16chỉ những người cũng giống như mình mới cần biết, có thể biết và hiểu được câu chuyện của mình Việc có ai đó nghiên cứu về lựa chọn giới tính thai nhi hay sinh con theo ý muốn có vẻ như không liên quan đến họ, mà liên quan đến ai đó, rằng nhà nghiên cứu sẽ tìm hỏi những người khác chứ không phải là mình Việc “bị” tìm hiểu, nghiên cứu dường như phiền phức và vô bổ đối với họ Bởi lẽ, họ sẽ không