Đây sẽlà bài học quý báu cho sựnghiệp giáo dục của tỉnh trong giai đoạn tiếp theo và cũng là hướng phát triển chung cho sựnghiệp giáo dục nước nhà.Trên ý nghĩa đó, tôi chọn vấn đề“Đảng b
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀNỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -BÙI THỊTHU HƯƠNG
ĐẢNG BỘTỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠOGIÁO DỤC MẦM NON TỪNĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sửĐảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn ThịMai Hoa
Hà Nội -2016
Trang 2MỤC LỤC
MƠĐẦU
5 Chương 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC ĐỐI VỚI GIÁO DỤC MẦM NON TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000 16
1.1 Những căn cứ xác định chủ trương và chủ trương của Đảng bộ tỉnh 16
1.1.1 Những căn cứ xác định chủ trương 16
1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh 27
1.2 Chỉ đạo thực hiện 31
1.2.1 Tổchức hoạt động dạy và học 31
1.2.2 Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộquản lý 36
1.2.3 Phát triển quy mô, mạng lưới trường lớp và xây dựng cơ sởvật chất 40
1.2.4 Thực hiện xã hội hóa và công bằng trong giáo dục 42
Tiểu kết chương 1 46
Chương 2: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC ĐỐI VỚI GIÁO DỤC MẦM NON TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 51
2.1 Đặc điểm tình hình và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc 51
2.1.1 Đặc điểm tình hình 51
2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc 55
2.2 Chỉ đạo thực hiện 61
2.2.1 Tổchức hoạt động dạy và học 61
2.2.2 Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộquản lý 67
2.2.3 Pháttriển quy mô, mạng lưới trường lớp và xây dựng cơ sởvật chất 73
2.2.4 Thực hiện xã hội hóa và công bằng trong giáo dục 77
Tiểu kết chương 2 80
Trang 3Chương3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 83
3.1 Nhận xét 83
3.1.1 Ưu điểm 83
3.1.2 Hạn chế 94
3.2 Một số kinh nghiệm 98
Tiểu kết chương 3 111
KẾT LUẬN 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC 126
Trang 4DANH MỤC CHỮVIẾT TẮT
Cụm từđầy đủCụm từviết tắtCơ sởvật chất
CSVC Đảng Cộng sản Việt NamĐảng CSVNGiáo dục mầm non
GDMNGiáo dục và Đào tạo
GD&ĐTHội đồng nhân dân
HĐNDỦy ban nhân dân
UBNDXã hội hóa giáo dục
XHHGD
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
1BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH VĨNH PHÚC
2MỘT SỐ CHỈ BÁO PHÁT TRIỂN MẪU GIÁO NĂM 2010
3MỘT SỐ CHỈ BÁO PHÁT TRIỂN MẪU GIÁONĂM 2010
4CÁC CHỈTIÊU VỀPHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON CỦA TỈNH VÀ CẢNƯỚC
5QUY MÔ HỌC SINH QUA CÁC NĂM HỌC
6TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI TRƯỜNG LỚP
Trang 61 Lý do chọn đềtàiGiáo dục được coi là hoạt động đặc thù của xã hội loài người Từkhi hình thành, tồn tại và phát triển xã hội loài người đã đạt được những thành tựu, những bước tiến vĩ đại như ngày nay chính là nhờkết quảcủa một quá trình lao động, sáng tạo, đấu tranh và cải thiện thếgiới của mình Đểđạt được những kết quảnày, đó là nhờquá trình giáo dục thường xuyên, liên tục và không ngừng sáng tạo của các thếhệkếtiếp nhau.Giáo dục đặc biệt cần thiết đối với sựphát triển của mỗi cá nhân và của toàn xã hội Con người được vũ trang bằng những tri thức hiện đại sẽlà động lực cơ bản của sựphát triển kinh tế-xã hội Do vậy giáo dục giữvai trò cốt tửđối với mỗi quốc gia, phát triển giáo dục phải đi trước kinh tế Ngày nay, loài người tiến bộđang khao khát hướng tới một mục tiêu phát triển kinh tếxã hội nhằm nâng caođáng kểchất lượng cuộc sống cho con người trong sựnghiệp kết hợp hài hoà giữa điều kiện vật chất và điều kiện tinh thần, giữa mức sống cao và nếp sống đẹp, vừa an toàn, vừa bền vững cho tất cảmọi người, cho thếhệhiện tại và tương lai.Đểđạt được những mục tiêu tốt đẹp trên đây, cần phải tìm cho được một động lực cơ bản của sựphát triển Trong thời đại hiện nay, khi mà trí tuệđã trởthành yếu tốhàng đầu thểhiện quyền lực và sức mạnh của một quốc gia thì các nước trên thếgiới đều ý thức được rằng,giáo dục không chỉlà phúc lợi xã hội
mà thực sựlà đòn bẩy quan trọng cho sựphát triển kinh tếxã hội Vịtrí của giáo dục ngày càng có ý nghĩa quyết định đối với sựphát triển của mỗi cá nhân, gia đình, xã hội và của mỗi quốc gia dân tộc nhất là trong thời đại kinh tếtri thức hiện nay.Nhận thức rõ được vai trò, vịtrí của giáo dục đối với sựphát triển của con người và đất nước nên ngay từkhi thành lập cho đến thời điểm hiện tại, Đảngđã đặc biệt quan tâm đến phát triểngiáo dục, điển hình là Nghịquyết Hội nghịlần thứII BCHTƯkhóa VIII đã coi GD&ĐTlà quốc sách hàng đầu và nhấn mạnh: Thực sựcoi GD&ĐTlà quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc giáo dục –đào tạo cùng
với khoa học công nghệlà nhân tốquyết định tăng trưởng kinh tếvà phát triển xã hội Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển.Trong thời đại khoa học công
nghệphát triển chóng mặt, hàm lượng trí tuệkhoa học kết tinh trong sản phẩm hàng hóa ngày càng tăng,tài năng, trí tuệ, năng lực và bản lĩnh của con người không phải ngẫu nhiên mà có, mà phải trải qua một quá trình tích luỹvà đào tạo có hệthống Qúa trình này bắt nguồn từgiáo dục Chính vì vậy, Đảng CSVNchỉrõ nhhiệm vụvà mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng con người và thếhệthiết tha,
Trang 7gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường, xây dựng và bảo vệTổquốc, thực hiện sựnghiệp CNH -HĐH, giữgìn
và phát huy các giá trịvăn hóa của dân tộc là những người kếthừa xây dựng
CNXH.Như vậy, giáo dục có tác động to lớn đến toàn bộđời sống vật chất và tinh thần của xã hội Trong đó,giáo dục mầmnon giữmột vai trò quan trọng trong
hệthống giáo dục quốc dân Đó là nền tảng tạo ra năng lực và trí tuệViệt Vĩnh Phúc cửa ngõ phía Đông của Thủđô Hà Nội, nơi chuyển tiếp giữa đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tếtrọng điểm Bắc Bộvới các tỉnh trung du miền núi phía Bắc và xa hơn là Trung Quốc Vĩnh Phúc chịu tác động rất lớn đến quá trình vùng, có nhiều thuận lợi trong giao lưu,trao đổi hàng hoá và phát triển các loại hình dịch vụ Vĩnh Phúc nằm trên tuyến đường quốc lộ2 và tuyến đường sắt Hà Nội –Lào Cai, liền kềvới sân bay quốc tếNội Bài, nằm ởđiểm đầu trục giao thông đường sắt và đường bộĐông –Tây, từtrung tâm miền Bắc thông ra cảng Hải Phòng và cảng nước sâu Cái Lân.Vịtrínày rất tiện lợi vềgiao thông toảđi khắp mọi miền đất nước tạo điều kiện đểVĩnh Phúc phát triển kinh tế.Trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế-xã hội, Đảng bộtỉnh Vĩnh Phúc đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục Đảng bộtỉnh đã đưara những chủtrương đểnâng cao chất lượng giáo dục, đẩy mạnh việc ứng dụng khoa
học-kỹthuật trong nhà trường Trong quá trình phát triển giáo dục của tỉnh Vĩnh Phúc,giáo dục mầm non đã đạt được những bước phát triển vượt bậc Do đó, nghiên cứu sựlãnh đạo của Đảng bộtỉnh Vĩnh Phúc đối với sựnghiệp phát triển giáo dục mầm non có ý nghĩa quan trọng Đây sẽlà bài học quý báu cho sựnghiệp giáo dục của tỉnh trong giai đoạn tiếp theo và cũng là hướng phát triển chung cho
sựnghiệp giáo dục nước nhà.Trên ý nghĩa đó, tôi chọn vấn đề“Đảng bộtỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo giáo dục mầm non từnăm 1997 đến năm 2010”làm đềtài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sửĐảng CSVN Ngoài ra, kết quảnghiên cứu của luận văn còn phục vụcho việc nghiên cứu hoặc giảng dạy những vấn đềcó liên quan.2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đềtàiGD&ĐTlà một trong những yếu tốvô cùng quan trọng, nó có tính chất quyết định đến sựsuy vong hay hưng thịnh của mỗi quốc gia Do tính chất quan trọng của vấn đềnên trên thếgiới cũng như trong nước đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu dưới các góc độkhác nhau, tiêu biểu là các nhóm nghiên cứu sau:Nghiên cứu vềgiáo dục và đào tạo ởViệt Nam Tổchức văn hóa –khoa học –giáo dục của Liên Hợp Quốc có dựán “Nghiên cứu tổng thểvềgiáo dục –đào tạo Phân tích nguồn lực VIE 89/022”
và dựán “Báo cáo đánh giá tình hình giáo dục –đào tạo Việt Nam hiện nay”được tiến hành trong 2 năm 1991, 1992 Ngân hàng thếgiới (WB) cùng với
BộGD&ĐTViệt Nam tổchức hội thảo với chủđề“Lựa chọn chính sách cải cách
Trang 8giáo dục đào tạo” tại Hà Nội (8/1993) Những công trình này chủyếu nghiên cứu vềsựtác động của các nguồn lực, các chính sách lớn đến GD&ĐTtại Việt
Nam.Nghiên cứu vềgiáo dục và giáo dục mầm non ởViệt Nam Năm 1999,cuốn sáchGiáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa XXI, của Phạm Minh Hạc do nhà xuất bản Chính trịquốc gia Hà Nội in ấn đã tập trung trình bày
tính chất của nền giáo dục, nguyên lý, nội dung, hệthống giáo dục ởViệt Namqua các giai đoạn lịch sử, từgiáo dục mầm non đến giáo dục đại học, phân tích mối quan hệgiữa giáo dục và việc phát triển nguồn nhân lực, các nguồn lực phát triển giáo dục và những suy nghĩ vềphương hướng phát triển giáo dục trong thời gian tới.Cũng trong năm 1999, Nxb Chính trịQuốc gia, Hà Nội phát hành cuốn sách Vềvấn đềgiáo dục -đào tạocủa Thủtướng Phạm Văn Đồng Cuốn sách là tập hợp các bài viết nhằm quán triệt những tư tưởng, quan điểm vềgiáo dục -đào tạo của Đảng từng bước thực hiện đường lối giáo dục đó, thúc đẩy sựnghiệp công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Thủtướng luôn đặt giáo dục là quốc sách hàng đầu, là tương lai của dân tộc Muốn phát triển giáo dục phải kết hợp nhiều yếu tố, trong đó có việc phân luồng học sinh, đổi mới phương pháp dạy học Đây cũng là một công trình với nội dung chuyên sâu vềgiáo dục Năm 1999, nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội cho in cuốn sách Phương pháp phát triển trí tuệcho trẻem (mầm non
và tiểu học)của tác giảNguyễn Công Khanh, đây là tài liệu hướng dẫn, tư vấn có chiều sâu, dựa trên những trải nghiệm, thực nghiệm những ý tưởng nghiên cứu, triết lí, mô hình giáo dục mới Cuốn sách là một tài liệu bổích nhằm giúp giáo viên, các bậc phụhuynh hiểu biết tốt hơn vềsựphát triển tâm –sinh lí trẻmầm non, tiểu học; cung cấp những tri thức, phương pháp, giúp giáo viên, phụhuynh hiểu được sựphát triển trí tuệcủa trẻ; đồng thời nắm được các phương pháp giáo dục trí
tuệcụthểnhư biết cách thiết lập các câu hỏi, các bài tập/ tình huống/ nhiệm vụ kĩ năng tổchức trò chơi đểtrẻtích cực khám phá, tương tác, trải nghiệm nhằm kích hoạt sựphát triển trí tuệngay từtuổi ấu thơ, nuôi dưỡng phát triển thành tài năng khi trẻtrưởng thànhNăm 2008, Nxb Chính trịquốc gia, Hà Nội phát hành cuốn sách Giáo dục đào tạo quốc sách hàng đầu, tương lai của dân tộc của cốThủtướng Phạm Văn
Đồng Nội dung cuốn sách là tập hợp từnhững bài nói và viết chọn lọc của
cốThủtướng Phạm Văn Đồng Theo cốThủtướng, GD&ĐTlà nhân tốcó tầm quan trọng bậc nhất, góp phần “không chỉlàm nên sựnghiệp của một con người mà cònlà động lực làm nên lịch sửcủa cảmột dân tộc Những trăn trởcủa
cốThủtướng cũng chính là những điều mà giáo dục cần quan tâm đểđào tạo ra những người có ích cho xã hội Do vậy, cuốn sách sẽlà tài liệu tham khảo cho
Trang 9những vấn đềliên quan đến giáo dục.Những công trình chuyên khảo trên đã khái quát được lịch sửcủa nền giáo dục Việt Nam Từđó, các tác giảđưa ra những định hướng phát triển nền giáo dục đất nước Tuy nhiên, những công trình này chưa đềcập cụthểđến tình hình, thực trạng riêng của giáo dục mầm non ởcác địa
phương.Nghiên cứu vềsựlãnh đạo của Đảng và Đảng bộđịa phương đối với giáo dụcDưới góc độkhoa học lịch sử, những năm gần đây đã có một sốkhóa luận và luận văn tốt nghiệp của sinh viên, học viên chuyên ngành Lịch sửĐảng
CSVNnghiên cứu vềsựlãnh đạo của một sốĐảng bộđịa phương trong việc thực hiện nhiệm vụphát triển giáo dục -đào tạo Một sốluận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sửĐảng CSVNviết vềlĩnh vực này như: Đảng bộtỉnh Hòa Bình lãnh đạo
sựnghiệp giáo dục –đào tạo (1991 -2000)của tác giảLương ThịHòe, luận văn Thạc
sĩ Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998;Nguyễn ThịThanh, Đảng bộtỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo sựnghiệp giáo dục đào tạo từnăm 1997 đến năm 2006, Luận văn Thạc sĩchuyên ngành Lịch sửĐảng CSVN, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn –ĐHQGHN, 2011; Nguyễn ThịPhương Thảo, Quản lý bồi dưỡng hiệu trưởng các trường mầm non tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng chuẩn hoá,Luận văn Thạc sĩGiáo dục học, 2013; Đảng Bộtỉnh Hưng Yên lãnh đạo sựnghiệp giáo dục -đào tạotừnăm 1997 đến năm 2006của tác giả
Phạm Hồng Thiết, luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009; Đảng bộthành phốVĩnh Yên (Vĩnh Phúc) lãnh đạo sựnghiệp giáo dục và đào tạo từnăm
1997 đến năm 2010của tác giảTrần Thanh Long, luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013 Trong đó đáng chú ý là luận văn của Nguyễn ThịThanh, Đảng bộtỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo sựnghiệp giáo dục đào tạo từnăm 1997 đến năm
2006, Luận văn Thạc sĩchuyên ngành Lịch sửĐảng CSVN, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn –ĐHQGHN, 2011 Luận văn đã trình bày một cách hệthống đường lối, chủtrương của Đảng vềgiáo dục –đào tạo Phân tích quá trình vận dụng của Đảng bộtỉnh Vĩnh Phúc khi đềra chủtrương, giải pháp thực hiện phát triển giáo dục –đào tạo ởđịa phương từnăm 1997 đến năm 2006 Đánh giá khách quan những thành tựu, hạn chếcủa giáo dục –đào tạo ởVĩnh Phúc Tổng kết một sốkinh nghiệm chủyếu của quá trình Đảng bộtỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo sựnghiệp giáo dục –đào tạo, làm cơ sởgóp phần đổi mới và phát triển giáo dục –đào tạo.Năm 2013, tác giảTrần Thanh Long đã làm luận văn Đảng bộthành phốVĩnh Yên (Vĩnh Phúc) lãnh đạo sựnghiệp giáo dục và đào tạo từnăm 1997 đến năm 2010 Luận văn đã trình bày có hệthống các quan điểm, chủtrương, biện pháp và kết quảđạt được của Đảng
bộthành phốVĩnh Yên trong việc lãnh đạo, chỉđạo sựnghiêp GD&ĐTtừnăm 1997
Trang 10đến năm 2010 Nghiên cứu GD&ĐTởthành phốVĩnh Yên từnăm 1997 đến năm 2010: tình hình GD&ĐTcủa thành phốtrước 1997, những thành tựu cơ bản đốivới sựnghiệp GD&ĐTởthành phốVĩnh Yên.Nghiên cứu vềgiáo dục Vĩnh Phúc, sựlãnh đạo củaĐangbộVĩnh Phúc đối với giáo dục và giáo dục mầm nonNăm 2011,UBND Tỉnh Vĩnh Phúc đã xây dựng kếhoạch “Quy hoạch phát triển giáo dục đào tạo tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” Đây là một công trình
nghiên cứu vềtình hình phát triển giáo dục của tỉnh Vĩnh Phúc từkhi tái lập cho đến năm 2020 Công trình đã chỉra được các chính sách của
Đảng bộtỉnh Vĩnh Phúc trong việc phát triển GD&ĐTvà dựbáo tình hình phát triển đến năm 2030 Năm 2012, Tỉnh ủy, HĐND,UBNDtỉnh Vĩnh Phúc đã cho in cuốn Địa chí Vĩnh Phúc Địachí Vĩnh Phúc -là một công trình liên nghành địa-lịch sử, địa-kinh tế, địa-văn hóa, địa-xã hội khai thác triệt đểcác nguồn tư liệu thành văn: chính sử, văn học dân gian, địa bạ, hương ước, thần tích, sắc phong, kểcảđiền dã, đồng thời kết hợp chặt chẽvới kết quảđiều tra nghiên cứu củacác ngành khoa học khác vềmảnh đất và con người Vĩnh Phúc Cuốn sách tập trung làm rõ những nét
cơ bản vềđất đai, địahình, sông núi, khí hậu, con người, truyền thống lịch sử, quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, luật lệ, hệthống chính trị, an ninh, quốc phòng và các mối liên hệgắn bó giữa các lĩnh vực đó trên nền địa lý tỉnh Vĩnh Phúc, kểtừthời tiền sử, sơ sửđến năm
2010.Năm 2009, SởGD&ĐTVĩnh Phúc cho in cuốn “Lịch sửgiáo dục Vĩnh
Phúc”,ghi lại những chủtrương, đường lối của Đảng và Nhà nước qua từng giai đoạn và quá trình thực hiệnchủtrương đó của Vĩnh Phúc Công trình đã chỉra
những thành tựu, những hạn chếcủa nền giáo dục Vĩnh Phúc từnăm 1945 đến
nay.Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên chủyếu đềcập vềmột sốkhía cạnh vềvấn đềGD&ĐTtrên cảnước nói chung và ởcác địa phương nói riêng Cho đến nay chưa có công trình lịch sửchuyên khảo nào nghiên cứu vềsựlãnh đạo của Đảng bộtỉnh Vĩnh Phúc thực hiện nhiệm vụphát triển giáo dục mầm non
những năm 1997 -2010 Các công trình nghiên cứu trên là cơ sởquan trọng đểtác giảkếthừa, tiếp cận các sựkiện lịch sửvà cung cấp những gợi ý cần thiết đểphân tích
và so sánh trong quá trình thực hiện luận văn.3 Mục tiêu và nhiệm vụnghiên
cứu3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Làm sáng tỏsựlãnh đạo của Đảng bộtỉnh Vĩnh Phúc đối vớigiáo dục mầm non những năm 1997 –2010; từđó, rút ra một sốkinh nghiệm có giá trịtham khảo cho hiện tại.3.2 Nhiệm vụnghiên cứu-Trình bày một cách hệthống các chủtrương, biện pháp và giải pháp tronglãnh đạophát triển giáo dục mầm non củaĐảng bộtỉnh Vĩnh Phúc từnăm 1997 đến năm 2010.-Phân tích ưu điểm, hạn chếtrongsựlãnh đạo
Trang 11của Đảng bộđối với GDMN những năm 1997 -2010.-Đúc rút một sốkinh nghiệm
có giá trịtham khảo cho hiện tại từsựlãnh đạo của Đảng bộđối với GDMN
những năm 1997 -2010.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu4.1 Đối tƣợng nghiên cứu-Sựlãnh đạo của Đảng bộtỉnh Vĩnh Phúc đối vớiGDMN những năm 1997 –
2010, bao gồm chủtrương và sựchỉđạo thực hiện.4.2 Phạm vi nghiên cứu-Không gian: Luận vănnghiên cứu ởđịa bàn tỉnh Vĩnh Phúc-Thời gian: Luận văngiới hạn phạm vi thời gian nghiên cứu từnăm 1997 (từkhi tái lậptỉnh Vĩnh Phúc) đến năm
2010 (Đại hội đại biểu Đảng bộtỉnh Vĩnh Phúc lần thứXV).-Nội dung nghiên cứu:+ Những điều kiện ảnh hưởng đến sựphát triển GDMNcủa tỉnh Vĩnh Phúc.+ Những chủtrương vềphát triển giáo dục của Đảng+ Công tác lãnh đạophát triển GDMN của Đảng bộtỉnh Vĩnh Phúc.5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu-Các văn kiện Đảng từnăm 1996 đến năm 2010, nhất là các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVIII (1996), IX (2001), X (2006), XI (2011) của Đảng.-Các văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộtỉnh Vĩnh Phúctừnăm
1997 đến năm 2010.-Các Nghịquyết chuyên đề, Báo cáo tổng kết Công tác phát triển GDMN của tỉnh Vĩnh Phúc hàng năm từnăm 1997 đến năm 2010.-Các sách, báo, tạp chí nghiên cứu vềphát triển giáo dục.5.2 Phương pháp nghiên cứuĐểhoàn thành mục đích và nhiệm vụnghiên cứu, ngoài việc sửdụng rộng rãi các phương pháp phổquát của khoa học lịch sửnhư lịch sử, logic, phân tích, tổng hợp, luận văn còn sửdụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản ngành xã hội nhân văn như lịch
sử, logic, phân tích, khái quát hóa, đối chiếu, thống kê, so sánh, hệthống
hóa 6.Đóng góp của luận văn-Hệthống hóanhững chủtrương, chính sách của Đảng bộtỉnh Vĩnh Phúc vềphát triển GDMN từ1997 –2010 Từnhững thành công và hạn chế, rút ra kinh nghiệm có giá trịtham khảo cho giai đoạn vềsau.-Bổsung thêm nguồn tài liệu vềlịch sửđịa phương.-Góp phần tổng kết thực tiễnphát triển GDMN ởcác địa phương, cụthểlà ởtỉnh Vĩnh Phúc.-Kết quảcủa Luận văn có thểsửdụng làm tài liệu phục vụnghiên cứu, hoặc giảng dạy đối với những vấn đềcó liên quan.7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mởđầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụlục, luận văn bao gồm 3 chương:Chương 1:Chủtrương và sựchỉđạo của Đảng bộtỉnh Vĩnh Phúc đối với GDMN từnăm 1997 đến năm 2000.Chương 2:Sựlãnh đạo của Đảng bộtỉnh Vĩnh Phúc đối với giáo dục mầm non từnăm 2001 đến năm 2010.Chương 3:Nhận xét và một sốkinh nghiệm
Trang 12Chương 1CHỦTRƯƠNG VÀ SỰCHỈĐẠO CỦA ĐẢNG BỘTỈNH VĨNH
PHÚCĐỐI VỚI GIÁO DỤC MẦM NON TỪNĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000
1.1 Những căn cứxác định chủtrương và chủtrương của Đảng bộtỉnh1.1.1.Những căn cứxác định chủtrương*Điều kiện tựnhiên, kinh tế-xã hộiVĩnh Phúc là tỉnh thuộc Vùng kinh tếtrọng điểm Bắc Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, phía Tây giáp Phú Thọ, phía Nam và phía Đông giáp thủđô Hà Nội
Tỉnhcó diện tích tựnhiên 1.231.0 km2, với 9 đơn vịhành chính, trong đó 1 Thành phố(Vĩnh Yên), 1 thịxã (Phúc Yên) và 7 huyện: Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Tam Đảo, Bình Xuyên, Vĩnh Tường, Yên Lạc Tỉnh lỵcủa Vĩnh Phúc là thành phốVĩnh Yên, cách trung tâm thủđô Hà Nội 50km và cách sân bay quốc tếNội Bài 25km Vĩnh Phúc nằm trên Quốc lộsố2, tuyến đường sắtHà Nội -Lào Cai và tuyến đường cao tốc Xuyên Á Côn Minh-Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng đang được xây dựng, là cầu nối giữa tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), vùng trung du miền núi phía Bắc với Thủđô Hà Nội Quá trình công nghiệp hóa –hiện đại hóa trong những năm qua đã tạo ra cho Vĩnh Phúc những lợi thếmới vềvịtrí địa lý Tỉnh có tốc
độphát triển công nghiệp rất nhanh và trởthành một bộphận cấu thành của vành đai phát triển công nghiệp các tỉnh phía Bắc Tỉnh Vĩnh Phúc chịu ảnh hưởng mạnh mẽtrước sựlan toảcủa các khu công nghiệp và đô thịlớn thuộc Hà Nộinhư Bắc Thăng Long, Nội Bài, Sóc Sơn Sựhình thành và phát triển các tuyến hành lang giao thông quốc tếvà quốc gia liên quan đến Vĩnh Phúc đã và đang đưa tỉnh xích gần hơn với các trung tâm kinh tế, công nghiệpvà những thành phốlớn của đất nước và quốc tếnhư: hành lang kinh tếCôn Minh -Hà Nội -Hải Phòng, Quốc lộ2 -Việt Trì -Hà Giang -
Trung Quốc, hành lang đường 18 và trong tương lai là đường vành đai IV thành phốHà Nội Vĩnh Phúc nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng gò đồi trung du với vùng đồng bằng Châu thổSông Hồng, địa hình thấp dần từTây Bắc xuống Đông Nam và chia làm 3 vùng sinh thái:đồng bằng, trung du và vùng núi Vùng núicó diện tích tựnhiên 65.300 ha (chiếm 53,1% tổng diện tích của tỉnh), bao gồm phần lớn diện tích huyện Lập Thạch (17 xã), huyện Sông lô (17 xã), huyện Tam Đảo (9 xã) và 4 xã thuộc huyện Bình Xuyên, 1 xã thuộc thịxã Phúc Yên Vùng có địa hìnhphức tạp, khó khăn cho việc xây dựng cơ sởtrường lớpvà việc đi lại đến trường của học sinh Vùng trungduchạy dài từTây Bắc xuống Đông –Nam, có diện tích tựnhiên khoảng 24.900 ha (chiếm 20,2% tổng diện tích của tỉnh), bao trùm phần lớn diện tích huyện Tam Dương (13 xã) và Bình Xuyên (15 xã), thành phốVĩnh Yên (6 phường xã), một phần huyện Lập Thạch, Sông Lô (11 xã), thịxã Phúc Yên
Trang 13Vùng đồng bằngcó diện tích 32.900 ha (chiếm 26,7% tổng diện tích của tỉnh), bao gồm các huyện Yên Lạc (17 xã) và Vĩnh Tường (29 xã) Đây là vùng có địa hình bằng phẳng, trình độphát triển kinh tế, xã hội và kết cấu hạtầng khá hơn vùng miền núi, thuận tiện cho việc xây dựng cơ sởtrường học và việc đến trường của học sinh.Do yêu cầu của công tác quản lý, các cơ sởGDMN thường được tổchức theo địa bàn đơn vịhành chính Vì vậy, việc tổchức hành chính cấp cơ sở(sốlượng các đơn vịhành chính cấp huyện, xã/phường và thôn của tỉnh) có tác động nhất định đến tổchức mạng lưới và sốlượng cơ sởgiáo dục Trường mầm non (mẫu giáo) thường được tổchức theo phạm vi một thôn (vùng nông thôn) hoặc tổdân phố(khu vực đô thị).
Tỉnh có 9 huyện, thịxã và thành phốthuộc tỉnh Toàn tỉnh có 112 xã (nông thôn) và
25 phường, thịtrấn (đô thị) Trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội và đô thịhoá, sốđơn vịhành chính có thểthay đổi và theo đó sốlượng cơ sởgiáo dục cũng sẽbiến động theo xu hướng tăng lên đểphù hợp với quy mô dân sốvà đặc điểm tổchức xã hội trên địa bàn.Là tỉnh được thiên nhiên ưu đãi, có vịtrí phát triển kinh tếthuận lợi, tiếp giáp với thủđô Hà Nội, Vĩnh Phúc có nhiều lợi thếtrong phát triển kinh tế-
xã hội Từkhi tái lập tỉnh (năm 1997) đến năm 2010, Vĩnh Phúc đã đạt được những thành tựu quan trọng vềtăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) giai đoạn (2001-2005) tăng bình quân 15%, giai đoạn (2006-2010) tăng 18% Bình quân trong 10 năm (2001-2010) tăng 16,5%/năm (cao gấp 2,35 lần) so với tốc độtăng trưởng bình quân của cảnước (7%) Nền kinhtếcủa tỉnh ngày càng mởrộng vềquy mô, tạo điều kiện thuận lợi trong giải quyết việc làm và phát triển nhân lực Vĩnh Phúc Cùng với tốc độtăng trưởng nhanh của nền kinh tế, GDP bình quân đầu người trong tỉnh cũng tăng nhanh, cụthể: Năm 2001, GDP bình quân đầu người (theo giá thực tế) mới đạt 3,83 triệu đồng, nhưng đến năm
2005 đã đạt 9,1 triệu đồng; đến năm 2010 GDP/người của tỉnh đạt tới 33,6 triệu đồng (tương đương 1.766 USD) tăng bình quân 30,3%/năm, tăng 3,7 lần so với năm 2005; cao gấp 1,51 lần mức bình quân chung cảnước (đạt 22,2 triệu đồng/người-tương đương 1.170 USD/người) và đứng trong vùng kinh tếtrọng điểmBắc Bộsau 2 tỉnh, thành là Hà Nội và Hải Phòng.Tăng trưởng kinh tếcủa Vĩnh Phúc luôn đạt mức độcao, điều đó cho thấy nền kinh tếcủa tỉnh ngày càng mởrộng vềquy mô, tạo điều kiện thuận lợi trong phát giáo dục đào tạo trong
tỉnh.Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có hơn11 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa sốvới 95,72% dân số, còn lại là các dân tộc thiểu sốnhư: Sán Dìu,Cao Lan, Nùng, Dao, Tày, Mường, Ngái, Lào, Hoa, Thái chiếm 4,28% dân số Trong sốcác dân tộc thiểu sốcó dân tộc Sán Dìu chiếm tỷlệdân sốcao nhất
Trang 14(3,93% tổng sốdân), các dân tộc khác chỉchiếm dưới 0,08% dân số Do đó, chính sách đối với đồng bào các dân tộc trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo phải được quan tâm thực hiện Cộng đồng xã hội, dân cư tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều giá trịvăn hóa ưu việt Các giá trịvăn hóa truyền thống lưu lại thông qua các di tích lịch sửvăn hoá
đa dạng, cùng với nền văn hoá phi vật thểcũng đa dạng, hấp dẫn (hệthống các lễhội, các trò chơi dân gian, văn hoá nghệthuật, thi ca, ẩm thực ) tạo nên nền tảng
cơ sởvững chắc đểphát triển nhanh, bền vững mạng lưới cơ sởgiáo dục, đào tạo của tỉnh Người dân Vĩnh Phúc hiếu học,cầu thị có ý thức tìm tòi, đổi mới và sáng tạo trong nhiều năm qua đó là động lực cơ bản đểphát triển nhanh, bền vững
vềkinh tế, xã hội và giáo dục, đào tạo trên địa bàn tỉnh.Tỉnh Vĩnh Phúc vẫn mang đậm dấu ấn của văn hóa Hùng Vương và Kinh Bắc, ThăngLong, nền văn hóa dân gian đặc sắc, truyền thống khoa bảng, với lối sống xã hội và chuẩn mực đạo đức luôn được giữgìn và phát huy cho đến ngày nay Tất cảnhững đặc điểm xã hội nêu trên là cơ sởgốc tạo nên sức mạnh cho tỉnh trong phát triển sựnghiệp giáo dục, đào tạo và kinh tế-xã hội ởmỗi thời kỳ Sựtăng trưởng vềkinh tế, cải thiện vềđời sống vật chất của nhân dân cùng với những giá trịvăn hóa truyền thống trong những năm qua đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sựphát triển giáo dục –đào tạo, y tế, văn hóa và thực hiện chính sách xã hội.*Thực trạng phát triển giáo dục mầm non của tỉnh Vĩnh Phúc trước năm 1997Giáo dục đào tạo có nhiệm vụquan trọng là: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo con người phát triển toàn diện, có trí tuệcao,
cường tráng vềthểchất, trong sáng vềđạo đức, có kỹnăng nghềnghiệp,lao động có kỷluật, tựchủ, sáng tạo, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu CNXH Đó vừa là động lực vừa là mục tiêu của chủnghĩa xã hội Sựphát triển của giáo dục đào tạo liên quan trực tiếp đến sựhưng thịnh của đất nước, của mỗi địa phương và của từng gia đình.Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục đào tạo, ngay từđầu tỉnh Vĩnh Phúđã có nhiều chủtrương đểphát triển giáo dục, đặc biệt là giáo dục mầm non.Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, được sựchỉđạo sát sao của tỉnh ủy Vĩnh Phú và của BộGD&ĐT, giáo dục Vĩnh Phú đã kịp thời đổi mới Trước hết là xác định rõ mục tiêu giáo dục, đa dạng hóa các loại hình trường học, thực hiện luật chăm sóc trẻem.Trong hệthống giáo dục nói chung, của tỉnh Vĩnh Phúnói riêng, GDMN được coi là một bậc học mang những đặc trưng riêng Do chưa thích ứng kịp thời với sựchuyển đổi của nền kinh tếmới, nên ngành học này còn gặp nhiều khó khăn Trong những năm 80 –90 của thếkỷXX,sốlượng nhà trẻ, mẫu giáo bịthu hẹp nhiều, một sốcơ sởbịtan vỡ Điều này đã kéo theo sốlượng học sinh và giáo viên giảm sút đáng kể Sốlượng học sinh trong toàn tỉnh chỉcòn khoảng 65 –70 %.Tuy nhiên, Tỉnh ủy Vĩnh Phúđã đưa ra những chính sách rõ ràng
Trang 15SởGD&ĐT kết hợp với chính quyền các địa phương mởcác loại hình trường lớp nhà trẻ, mẫu giáo như nhà trẻliên gia, nhà trẻdân lập, nhà trẻbán công đểthu hút các cháu.Với chính sách và biện pháp trên, GDMN dần dần đi vào ổn định và có điều kiện đểphát triển Chỉtrong một thời gian ngắn, sốlượng học sinh đến lớp
đã tăng lên đáng kể Riêng các cháu 5 tuổi đã đến lớp được gần 90%.Chỉtrong năm học 1996 -1997, trong ngành học mầm non toàn tỉnh, sốnhà trẻđã lên tới 70 trường với 1.843 lớp học và 13.450 học sinh[74, tr 3] Trong đó học sinh ngoài công lập chiếm 10.392 học sinh Cũng trong năm học này, trên địabàn toàn tỉnh đã có 149 trường mẫu giáo với 1.284 lớp học và 38.844 học sinh[74,
tr 4].Trong đó học sinh ngoài công lập đạt 37.800 học sinh.Với sốliệu trên, có thểthấy trước năm 1997, trong bậc học mầm non ởtỉnh Vĩnh Phú, giáo dục ngoài công lập đã chiếm ưu thếvà phát triển mạnh.Cùng với việc tăng sốlượng trường, lớp thì đội ngũ giáo viên cũng tăng lên đáng kể, chất lượng đào tạo của đội ngũ giáo viên ngày càng được nâng cao Đến năm 1995,tỉnh Vĩnh Phú có 35 tập thểvới
113 lượt được nhận danh hiệu “Đơn vịlá cờđầu”của ngành giáo dục đào tạo do UBND tỉnh và BộGD&ĐTtặng, trong đó riêng ngành mầm non có 5 tập thể, 27 lượt được nhận danh hiệu[3, tr.5].Vềcơ sởvật chất trường học, quán triệt quan điểm của Đảng “đầu tư cho giáo dục là một hướng chính đầu tư cho phát
triển”,SởGD&ĐT Vĩnh Phú đã tham mưu với lãnh đạo tỉnh cho xây dựng trường học khang trang, sạch đẹp, đồdùng thiết bịdạy học được bổsung cho các trường Tính đến năm học 1996 -1997,toàn tỉnh Vĩnh Phú đã có 3.064 phòng học trong đó riêng bậc học mầm non đã có 979 phòng học với một sốtrang thiết bịdạy và
học[74, tr.4].Đối với con em dân tộc ít người, thấm nhuần đường lối của Đảng, luôn luôn chú ý nâng cao đời sống văn hóa giáo dục cho đồng bào dân tộc thiểu
số, SởGD&ĐT đã kết hợp với chính quyền địa phương mởthêm các trường lớp cho con em đồng bào đi học.Tính đến năm học 1996 –1997,toàn tỉnh đãcó 32.090
người dân tộc; trong đó, có 1.925 cháu ởđộtuổi nhà trẻthì có 213 cháu được vào nhà trẻ(= 11%)[85, tr 8].Có 2.164 cháu ởđộtuổi mẫu giáo thì có 859 cháu được vào lớp mẫu giáo (=40%) Các cháu 5 tuổi có 227/271 cháu vào lớp (= 84%)[85,
tr 9] Từsau ngày đất nước thống nhất, nhờcó đường lối đúng đắn của Đảng CSVN, sựchỉđạo sát sao của Bộgiáo dục đào tạo, của Tỉnh ủy Vĩnh Phú, ngành học GDMN của tỉnh đã có nhiều bước chuyển biến rõ rệt Chất lượng giáo dục dần ổn định Sốlượng học sinh tới lớp ngày càng tăng Cơ sởvật chất trường học dần được quan tâm đầu tư hơn Giáo viên dần yên tâm với nghềnghiệp mình đã chọn Chất lượng giáo dục được bảo đảm