1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ hậu phương từ năm 1965 đến năm 1975

27 421 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 113,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rút ra bài học kinh nghiệm cho công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội ngày nay khi Đảng và Nhà nước đã nhấn mạnh đồng thời thực hiện hai nhiệm vụchiến lược: xây dựng và bảo vệTổquốc.Với nhữn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC

KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

GIÁP THỊTHUỲĐẢNG BỘTỈNH HÀ TÂY LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤHẬU PHƯƠNG TỪNĂM

1965 ĐẾN NĂM1975

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LỊCH

SỬĐẢNG

Mã số: 60 22 03 15 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Kim Đỉnh

Hà Nội -2016

Trang 2

1.1 Chủtrương của Đảng bộHà Tây 9

1.1.1 Những căn cứxác định chủtrương của Đảng bộtỉnh Hà Tây9

1.1.2 Chủtrương của Đảng bộtỉnh Hà Tây27

1.2 Quá trình chỉđạo thực hiện 30

1.2.1 Xây dựng tiềm lực hậu phương vềmọi mặtvà bảo vệhậu phương30

1.2.2 Công tác giao thông vận tải30

1.2.3 Tích cực chi viện cho tiền tuyếnError! Bookmark not defined

Tiểu kết chương 1 Error! Bookmark not defined

Chương 2 ĐẢNG BỘTỈNH HÀ TÂY LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNHTHỰC HIỆN NHIỆM VỤHẬU PHƯƠNG TỪNĂM 1969 ĐẾN NĂM 1975Error!

Bookmark not defined

2.1 Hoàn cảnh lịch sửmới và nhiệm vụđặt ra cho Đảng bộtỉnh Hà

Tây Error! Bookmark not defined

2.1.1 Hà Tây bước vào giai đoạn mớiError! Bookmark not defined

2.1.2 Chủtrương của Trung ương Đảng và của Đảng bộtỉnh Hà TâyError!

Bookmark not defined

2.2 Quá trình chỉđạo thực hiện Error! Bookmark not defined

2.2.1 Xây dựng tiềm lực hậu phương vềmọi mặtvà bảo vệhậu phươngError! Bookmark not defined

2.2.2 Công tác giao thông vận tảiError! Bookmark not defined

2.2.3 Tích cực chi viện cho tiền tuyếnError! Bookmark not defined

Tiểu kết chương 2 Error! Bookmark not defined

Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINHNGHIỆM 60

Trang 3

3.2.2 Đảng bộđã xác định đúng thời cơ, chủđộng chiến đấu và có những phương

án thích hợp đểcó được thắng lợi72

3.2.3 Thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng, xây dựng bộmáy chính quyền và đội ngũcán bộvững mạnh đồng thời coi trọng vai trò của nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân74

Tiểu kết chương 3 77

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤLỤC Error! Bookmark not defined

DANH MỤC CÁC TỪVIẾT TẮ

TBBT: Ban Bí thư

Trang 4

CTPH: Chiến tranh phá hoại

ĐLĐVN: Đảng Lao động Việt NamGTVT: Giao thông vận tải

HTX: Hợp tác xã

NXB: Nhà xuất bản

PKND: Phòng không nhân dân

UBHC: Ủy ban Hành chính

VNDCCH: Việt Nam Dân chủ Cộng hòaVNCH: Việt Nam Cộng hòa

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

1 Lý do chọn đềtàiTrong chiến tranh, bên nào có sức mạnh áp đảo thì bên đó giành thắng lợi Muốn có sức mạnh thì ngoài yếu tố binh khí, kĩ thuật, tư tưởng, con người còn phải kể đến một nhân tố có vai trò hết sức quan trọng là hậu phương của cuộc chiến tranh Sự chi viện của hậu phương cho tiền tuyến là một yếu tố thường xuyên quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh, vì hậu phương là nơi xây dựng và

dự trữ tiềm lực của chiến tranh về cả mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá và khoa học kĩ thuật, là nơi chi việnnhân lực, vật lực, là chỗ dựa tinh thần cho tiền tuyến.Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ đã chấm dứt ách thốngtrị tàn bạo hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới ở Việt Nam Để làm nên chiến tích vang dội ấy không thể không nói tới vai trò của hậu phương miền Bắc đã hết lòng, hết sức chi viện cho tiền tuyến miền Nam Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IVĐLĐVN chỉ rõ: “Không thể nào có sự thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nếu không có miền Bắc xã hội chủ nghĩa, suốt 16 năm qua luôn luôn cùng một lúc phải làm hai nhiệm vụ chiến lược”[26, tr.490] Hà Tây là tỉnh có vị trí quan trọng,là hậu phương trực tiếp của Thủ đô, là áo giáp bảo vệ suốt

từ phía Nam đến Tây bắc của Hà Nội, đồng thời, nơi đây cũng là cửa ngõ nối Thủ

đô Hà Nội với vùng núi Tây Bắc Ngày 21 -4 năm 1965, BTV Quốc hội đã phê chuẩn quyết định số 103-NQ/TVQH Về việc hợpnhất Hà Đông -Sơn Tây thành tỉnh Hà Tây Ngay sau khi hợp nhất, Tỉnh ủy đã nắm rõ vai trò của hậu phương và đưa ra nhiệm vụ: tiếp tục cải tạo và phát triển nông nghiệp, trên cơ sở không ngừng phát triển các ngành kinh tế khácnhằm từng bước nâng cao đời sống nhân dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng, sẵn sàng chi viện cho cáchmạng Việt Nam Songsong với nhiệm vụ đó là việc thực hiện tốt khẩu hiệu “Tiền tuyến gọi Hà Tây sẵn sàng, tiền tuyến cần bao nhiêu, Hà Tây có bấy nhiêu”, bên cạnh đó, còn có các phong trào “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”

đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trong tỉnh.Đã có biêtbaonhiêuchangtrai, côgaiHà Tâyđasănsangdânghiêntuôithanhxuâncuaminh,

Trang 6

yếu và điều kiện tựnhiên riêng của mình, Hà Tâyđược xác định là một căn cứ, hậu phương vững chắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹcứu nước Cùng chung sức với quân dân miền Bắc, nhân dân Hà Tây hăng hái thi đua sản xuất, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, nhằm xây dựng và bảo vệhậu phương miền Bắc xã hội chủnghĩavững chắc và lớn mạnh.Chi viện to lớn vềngười và củacho tiền tuyến miền Nam,góp phần cùng quân dân miền Nam đánh bại đếquốc Mỹxâm lược Do đó đềtài sẽgiúp lý giải một cách khoa học rằng, tại sao phải đối đầu với đếquốc Mỹcó tiềm lực kinh tế, quốc phòng lớn mạnh, quân đội, vũ khí hiện đại nhưng dân tộc ta vẫn giành được thắng lợi? Trong những nguyên nhân làm nên thắng lợi này có vai trò quyết định của hậu phương miền Bắc nói chung, hậu phương Hà Tây nói riêng.Cho đến nay chưa có công trình nào mang tính chất chuyên khảo vềhậu phương Hà Tây dưới góc độlịch sửĐảng Rút ra bài học kinh nghiệm cho công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội ngày nay khi Đảng và Nhà nước

đã nhấn mạnh đồng thời thực hiện hai nhiệm vụchiến lược: xây dựng và bảo

vệTổquốc.Với những lý do trên,tôi chọn đềtài “Đảng bộtỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện nhiệm vụhậu phương từnăm 1965 đến năm 1975”làm đềtài Thạc sỹlịch sử, chuyên ngành lịch sửĐảng Cộng sản Việt Nam.2 Lịch sửnghiên cứu liên quan đến đềtài

Cho đến nay, sốlượng công trình nghiên cứu vềviệc thực hiện nhiệm vụhậu phương của miền Bắc nói chung và hậu phương Hà Tây nói riêng rất phong phú và đa dạng, mỗi công trình lại có mục đích, góc độnghiên cứu khác nhau nhưng hầu như công trình nào cũng ít nhiều đềcập đến hậu phương, trong đó có vấn đềhậu phương

Hà Tây Mối quan hệkhăng khít giữa hậu phương và tiền tuyến được thểhiện rõ nét bằng những thắng lợi vẻvang của nhân dân Việt Nam.Trên cơ sởcác tài liệu đềcập đến Lịch sửViệt Nam giai đoạn (1954-1975) gián tiếp có liên quan đến đềtài như:

“Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 -1975 thắng lợi và bài học”của Ban chỉđạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộchính trị(2000), hay các tập sách tổng kết lại lịch sửcuộc kháng chiến chống Mỹcứu nước của toàn dân tộc do

Bộquốc phòng -Viện lịch sửquân sựbiên soạn như: “Lịch sửkháng chiến chống Mỹcứu nước 1954 -1975” đã được Nhà xuất bản Chính trịQuốc gia, Hà Nội xuất bản Những sách trên, đã khái quát một cách toàn diện cuộc kháng chiến chống Mỹcứu nước trên phạm vi cảnước, khắc họa hậu phương miền Bắc trong những năm tháng chống Mỹ, là nguồn tài liệu quý giá cho tác giảtrong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn.Ban Chỉđạo tổng kết chiến tranh trực thuộc BộChính trịcócuốn “Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước -thắng lợi và bài học” xuất bản năm 1995 ;trình bày khái quát những sựkiện và tiến trình lịch sửchủyếu; những nhận định, đánh giá vềsựlãnh đạo của Đảng đối với chiến tranh cách mạng

Trang 7

Việt Nam; đúc kết những bài học cơ bản trong sựlãnh đạo của Đảng và HồChí Minh.Tác phẩm có đềcập đến vấn đềhậu phương nói chung và hậu phương miền Bắc XHCN nói riêng dưới góc độbài học kinh nghiệm;đồng thời cho rằng hậu phương là một trong những nội dung quan trọng nhất trong lãnh đạo chiến tranh cách mạng của Đảng.Tuy nhiên, vấn đềxây dựng căn cứđịa, thực hiện nhiệm vụhậu phương trong đó có hậu phương miền Bắc XHCN ởtác phẩm này chỉtrình bày mang tính khái lược, tổng quát.

Liên quan trực tiếp đến vấn đềhậu phương, cuốn sách : “Hậu phương lớn, tiền tuyến lớn trong kháng chiến chống Mỹcứu nước (1954 -1975)”của GS.TS Phan Ngọc Liên, NXB Từđiển Bách Khoa, Hà Nội 2005, đã nghiên cứu vềmối quan hệsâu sắc, bền chặt giữa nhiệm vụcách mạng hai miền Nam -Bắc, trong đó từng bài viết đềcập đến những đóng góp cụthểcủa một sốđịa phương (Thanh Hóa, Hải Phòng, Hà Nam) đối với tiền tuyến lớn miền Nam ởnhiều lĩnh vực khác

nhau.Cũng đềcập đến hậu phương trong chiến tranh cách mạng Việt Nam, trong cuốn “Một sốchuyên đềLịch sửĐảng Cộng sản Việt Nam”,tập I, do BộGiáo dục và Đào tạo xuất bản năm 2007 có chuyên đề“Đảng lãnh đạo xây dựng và bảo vệhậu phương, chi viện tiền tuyến thời kỳ1945 -1975” của PGS.TS.Ngô Đăng Tri Chuyên đềcó ba nội dung chính: Vai trò của hậu phương đối với tiền tuyến trong chiến tranh hiện đại; Đảng lãnh đạo xây dựng và bảo vệhậu phương, chi viện tiền tuyến thời kỳ1945 -1975; những nhận xét chung và kinh nghiệm chủyếu vềquá trình Đảng lãnh đạo xây dựng và bảo vệhậu phương Hai tác giảV.I.Lênin và

J.Stalin có tác có nội dung xây dựng hậu phương và nghệthuật chiến tranh “Tầm quan trọng của hậu phương trong chiến tranh cách mạng” “Muốn tiến hành chiến tranh một cách nghiêm chỉnh, phải có một hậu phương được tổchức một cách vững chắc” [83, tr.23], đây là nội dung chủđạo, được Đảng quán triệt và vận dụng vào xây dựng miền Bắc XHCN trởthành hậu phương lớn, tiền đềcho cách mạng miền Nam thành công.Ngoài một số tác phẩm, công trình trên, còn có một số bài viết liên quan đến vấn đề hậu phương miền Bắc như: “Miền Bắc đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ những năm 1965 -1972”của Nguyễn Minh Long; “Tác động quốc tế đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam”của PGS.TS.Trình Mưu; “Vài nét về hậu phương miền Bắc với chiến thắng Buôn Ma Thuột và chiến dịch Tây Nguyên trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975”của Nguyễn Hữu Đạo Tác giả Hồ Khang với bài viết“Hậu phương miền Bắc

chuyển nhanh từ thời bình sang thời chiến -một thành công trong chỉ đạo chiến lược của Đảng thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”, Tạpchí Lịch sử Đảng,

Trang 8

năm 1998.Trong các công trình nêu trên, bài viết của PGS.TS.HồKhang và của Nguyễn Minh Long đã phân tích khá toàn diện vềhậu phương miền Bắc trong hai cuộc chống CTPH cũng như trong toàn bộcuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Tuy nhiên, trong khuôn khổbài báo không thểchuyển tải đầy đủvà

cụthểchủtrương, đường lối cũng như quá trình chỉđạo quân dân miền Bắc xây dựng, bảo vệ, phát huy sức mạnh, vai trò hậu phương miền Bắc trong hai cuộc kháng chiến CTPH (1965 -1972).Đặc biệt, người viết còn tham khảo một sốtài liệu

có liên quan trực tiếp đến đềtài như cuốn “Hà Tây -lịch sửkháng chiến chống thực dân Pháp và đếquốc Mỹ1945-1975” của Tỉnh đội Hà Tây (1994) và cuốn:“Hà Tây chống Mỹcứu nước và xây dựng chủnghĩa xã hội”của Ban Tuyên giáo Tỉnh

ủy Hà Tây Trong hai cuốn này, các tác giảliệt kê xen kẽcác sựkiện, các cuộc chiến đấu của bộđội địa phương, chủlực và dân quân tựvệtrong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹởđịa phương Tuy nhiên, các tác giảcó phần nghiêng vềtrình bày thành tích các trận đánh hơn là dựng lại một bức tranh toàn diện lịch sửcủa cuộc chiến đấu Năm 1992, Tỉnh ủy Hà Tây xuất bản cuốn “Lịch sửĐảng bộtỉnh

Hà Tây” cuốn sách cũng thiên vềviệc ghi lại những chặng đường lịch sửvẻvang của Đảng bộHà Tây mà ít nêu được mối quan hệgiữa hậu phương Hà Tây đối với tiền tuyến miền Nam Tuy vậy, các cuốn sách trên cũng cung cấp nguồn tư liệu phong phú, đáng tin cậy vềcác sựkiện, con sốcụthểđểngười viết sửdụng nghiên cứu luận văn của mình, ngoài những công trình kểtrên hầu hết các huyện, các xã cũng

đã viết lịch sửĐảng bộcủa mình.Bên cạnh đó còn có cuốn Bác Hồvới Hà Tâydo Tỉnh ủy Hà Tây biên soạn và xuất bản góp phần hiểu sâu sắc hơn vềsựquan tâm của Bác Hồvới Hà Tây, Hà Tây

với Bác Hồ Hy vọng rằng, từnhững lời căn dặn của Chủtịch HồChí Minh dành cho Đảng bộvà nhân dân Hà Tây nói riêng, cho đồng bào và chiến sĩ cảnước nói chung, một Thủđô Hà Nội mới sẽđược xây dựng và ngày càng phát triển, xứng đáng với vịthếmột nước Việt Namtrên đường hội nhập.Ngoài ra, còn có những luận văn, luận án liên quan đến vấn đềhậu phương của các địa phương khác trong cảnước, nhữngbản hồi ức và bản viết tay, những ghi nhớcủa những người trong cuộc tuy tản mạn nhưng có giá trịtham khảo góp thêm nhiềusựkiện làm cho lịch sửsinh động hơn, tính nhân dân rõ nét hơn.Nhìn chung, những tác phẩm ởnhững khía cạnh khác nhau đã đềcập đến tầm quan trọng của việc xây dựng hậu phương cho các cuộc kháng chiến, đềcập đến các quan điểm, đường lối, chủtrương

củaĐảng trong việc xây dựng các căn cứđịa hậu phương cho cuộc chiến tranh cách mạng Các công trình tiêu biểu kểtrên, có tác dụng gợi mởhướng nghiêncứu và là

cơ sởgiúp người viết hoàn thành luận văn của mình Trên cơ sởtiếp thu có chọn lọc những thành quảnghiên cứu của các bậc thầy đi trước, người viết đã định hướng

Trang 9

nên nội dung luận văn và rút ra những đặc điểm riêng biệt của hậu phương Hà Tây trên bình diện chung của hậu phương lớn miền Bắc Tuy nhiên, dưới góc độLịch sửĐảng thì chưa có công trình nào nghiên cứu vềsựlãnh đạo của Đảng bộtỉnh Hà Tây trong công tác thực hiện nhiệm vụhậu phương từnăm 1965 đến năm 1975 Chính vì vậy, đềtài luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu những chủtrương, chính sách chung của Đảng cũng như của Đảng bộHà Tây trong việc thực hiện nhiệm vụhậu phương từnăm 1965 đến năm 1975 và quá trình chỉđạo thực hiện của Đảng bộtỉnh, từđó đưa ra những nhận xét cũng như rút ra những kinh nghiệm quý báu cho những giai đoạn tiếp theo.3 Mục đích và nhiệm vụnghiên cứu

3.1 Mục đíchGóp phần tái hiện sựlãnh đạo của Đảng bộHà Tây và cuộc chiến đấu anh dũng của quân và dân Hà Tâytrong thực hiện nhiệm vụhậu phương từnăm

1965 đến năm 1975, qua đó khẳng định thành tựu, nêu lên hạn chếvà rút ra những kinh nghiệm lịch sử.3.2 Nhiệm vụnghiên cứu-Nghiên cứu Chủtrương của Trung ương Đảng và Đảng bộHà Tây vềthực hiện nhiệm vụhậu phương từnăm 1965 đến năm 1975.-Nghiên cứu sựlãnh đạo của Đảng bộHà Tây với việc thực hiện nhiệm vụhậu phương từnăm 1965 đến năm 1975.-Rút ra những ưu điểm, hạn chếvà đưa ra những kinh nghiệm có giá trịthực tiễn và lịch sử.4.Phương pháp nghiên cứuTrên cơ

sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận vănđược thực hiện chủ yếu bằng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc và các phương pháp cơ bản khác như phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê, so sánh.Luận văncũng đi sâu, làm rõ những sự kiện chủ yếu, quan trọng, phản ánh quá trình thực hiện nhiệm vụhậu phương của Đảng bộ tỉnh Hà Tâydưới tác động các chủ trương của Đảng, các chính sách của Nhà nước bằng phương pháp lịch sử (phương pháp đồng đại, phương pháp lịch đại), phương pháp phân tích, đối chiếu, thống kê Để luận giải và rút ra những kinh nghiệm chủ yếu có giá trị lý luận và thực tiễn,luận vănsử dụng các phương pháp lôgíc -lịch sử, so sánh và hệ thống hóa.Một cách tổng quát, luận vănđược thực hiện chủ yếu bằng phương pháp của khoa học lịch sửdưới góc độ Lịch sử Đảng, ngoài ra, có kết hợp với các phương pháp liên ngành khác Các phương pháp trên được vận dụng phù hợp với từng nội dung của luận văn

5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu5.1.Đối tượng nghiên cứuChủtrương và

sựchỉđạo thực hiện nhiệm vụhậu phương của Đảng bộtỉnh Hà Tâytừnăm 1965 đến năm 1975.5.2 Phạm vi nghiên cứu-Côngtacthực hiện nhiệm

Trang 10

vụhâuphươngtrongkhangchiênchôngMyđươctriênkhaitrênphamvitoanmiênBăc Đềtài không nghiên cứu trên phạm vi rộng mà chỉđisâunghiêncưutrênđịa bàn tỉnh

Hà Tây-Đangbôtỉnh Hà Tâylãnhđạothực hiện nhiệm

vụhâuphươngtrongsuôtthơikỳkhángchiếnchốngMỹ Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu của đềtài được giới hạntrongkhoangthơigiantừnăm 1965 đến năm 1975, đây là giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹxâm lược được đẩy lên đến đỉnh cao.6.Đóng góp của đềtài-Cung cấp những tư liệu lịch sửvềthời kỳthực hiện nhiệm vụjhậu phương, chi viện tiền tuyến của Đảng bộtỉnh Hà Tâytrong cuộc kháng chiến chống Mỹxâm lược từnăm 1965 đến năm 1975.-Những thắng lợi và những thành tựu của Đảng bộHà Tâythời kỳnày sẽlà tài liệu giáo dục truyền thống yêu nước cho thếhệtrẻđịa phương.-Những kinh nghiệm được rút ra có thểđược vận dụng vào công cuộc xây dựng, bảo vệđất nước nói chung và Hà Tâynói riêng.7.Kết cấu của đềtàiNgoài phần mởđầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, đềtài được kết cấu thành 3 chương, 6tiết.Chương 1:Đảng bộtỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện nhiệm vụhậu phương từnăm 1965 đến năm 1968.Chương 2: Đảng bộtỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện nhiệm vụhậu phương từnăm 1969 đến năm 1975Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 1ĐẢNG BỘTỈNH HÀ TÂY LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM

VỤHẬU PHƯƠNG TỪNĂM 1965 ĐẾN NĂM 19681.1 Chủtrương của Đảng bộHà Tây1.1.1 Những căn cứxác định chủtrương của Đảng bộtỉnh Hà Tây1.1.1.1 Khái quát chung vềtỉnh Hà TâyNgày 21 -4 -1965, BTV Quốc hội đã phê chuẩn quyết định số103-NQ/TVQH Vềviệc hợp nhất Hà Đông -Sơn Tây thành tỉnh Hà Tây.Hà Tây nằm ở khu vực trung tâm của vùng Ðồng bằng Bắc Bộ Phía Bắc

giápsông Hồng, ngăn cách vớitỉnh Vĩnh Phúc Phía Nam giáptỉnh Hà Nam, phía Tây giáp các tỉnhPhú ThọvàHoà Bình, phía Đông giáptỉnh Hưng Yên, có diện tích 2.191,9km2với số dân là 2.543,5 nghìn người (2006), mật độ 1.157 người/km2(2006)gồm các dân tộc Kinh, Mường, Dao, Tày cùng sinh sống[77, tr 4].Địa hình:tuy là tỉnh đồng bằng nhưng địa hình Hà Tây khá đa dạng, bao gồm cả đồng bằng và đồi núi Nhìn chung, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Vùng núi đồi phía Tây, có độ caotuyệt đối 300m trở lên, diện tích 704km2, chiếm 1/3 diện tích toàn tỉnh, địa hình dốc trên 250 Cao nhất là đỉnh núi Ba Vì 1.281m, núi Gia Dê thuộc Ba Vì có độ cao 707m, núi Thiên Trù (Mỹ Đức cao 378 m, núi Bộc (Chương Mỹ) cao 245m, núi Thầy (Quốc Oai) cao 105m Các núi đá vôi tập trung ở phía Tây Nam tỉnh, địa hình bị chia cắt rất phức tạp, có nhiều hang động lớn Vùng đồi gò có diện tích trên 530 km2, chủ yếu là đồi thấp (độ cao trung bình

100 m) xen lẫn các thung lũng Vùng đồng bằng phía Đông có diện tích 1.444

Trang 11

km2chiếm 2/3 diện tích toàn tỉnh Độ cao trung bình từ 5 -7 m so với mặt biển Địa hình vùng đồng bằng tương đối bằng phẳng, mang đặc trưng vùng đồng bằng Bắc Bộ với nhiều ô trũng đê viền Đất đai màu mỡ, có điều kiện thâm canh cây lúa nước chonăng suất cao, phát triển rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày[77, tr 5].Đất:Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 2.191,9 km2 Trong đó, đất nông nghiệp chiếm 55,7%, đất lâm nghiệp 6,88%, đất chuyên dùng 18,14%, đất ở đô thị 0,29%, đất ở nông thôn 5,59%, đất chưa sử dụng 13,38% Đất đai Hà Tây có độ phì cao, với nhiều loại địa hình nên có thể bố trí được nhiều loại cây trồng ngắn ngày, dài ngày, cây lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi, cây ăn quả, trồng rừng Vùng đồng bằng thuận lợi cho phát triển cây lương thực, rau đậu, cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi lợn, vịt, thuỷ đặc sản Vùng đồi gò thuận lợi cho trồng cây công nghiệp dài ngày (cà phê, trẩu, sở, thông) cây

ăn quả và chăn nuôi đại gia súc Rừng:Rừng Hà Tây không lớn,nhưng rừng tự nhiên (vùng Ba Vì) có nhiều chủng loại thực vật phong phú, đa dạng, quí hiếm Hiện nay, đã xác định được 872 loài thực vật bậc cao thuộc 427 chi nằm trong 90

họ Hà Tây có 2 khu rừng tự nhiên: rừng Quốc gia Ba Vì có diện tích 7.400 ha với chủng loại thực vật phong phú và quí hiếm, 872 loài thực vật bậc cao thuộc 427 chi, trong 60 họ đã được xác định Khu vực rừng tự nhiên thuộc huyện Mỹ Đức (vùng Hương Sơn) cũng bao gồm nhiều chủng loại động, thực vật quý, hiếm[77, tr 6].Như vậy, với sựphân bốvềđịa lý, Hà Tây trởthành địa bàn có tính chất cơ động,

có vịtrí chiến lược vềquân sự, là vành đai, áo giáp bảo vệThủđô trong những năm tháng chiến tranh ác liệt.Ngoài những mặt thuận lợi, trong quá trình phát triển Hà Tây cũng gặp một sốkhó khăn, phức tạp do địa hình phân bốkhông bằng phẳng, thấp dần từTây sang Đông và từBắc xuống Nam, do đó vềmùa mưa thường bịúng lụt, nhất là ởcác huyện phía Nam của tỉnh Do phức tạp vềđịa hình nên trong tỉnh có nhiều vùng kinh tế, văn hóa khác nhau, mặt khác, sựphân bốdân cư không đồng đều và tỷlệ

Trang 12

gia tăng nhanh nên diện tích đất canh tác bịthu hẹp, gây không ít khó khăn cho việc phát triển kinh tế.Giao thông:Với lợi thế nằm ở khu trung tâm của vùng đồng bằng Bắc Bộ, liền kề thủ đô Hà Nội, Hà Tây có hệ thống hạ tầng giao thông rất phát triển Quốc lộ 1 từ Hà Nội qua Hà Tây chạy dài tới thành phố Hồ Chí Minh Quốc lộ 6 qua Hòa Bình nối liền với Tây Bắc Quốc lộ 32 qua Vĩnh Phúc nối Hà Tây với Việt Bắc Quốc lộ 21B từ thành phố Hà Đông đi các huyệnphía Nam của tỉnh, qua Hà Nam Đường cao tốc Láng

-HoàLạclàtuyếngiaothônghuyếtmạchnốiHàNộivới sân bay Hoà Lạc ở huyện Thạch Thất của tỉnh Hà Tây Ngoài đường bộ, hệ thống giao thông đường thuỷ của Hà Tây cũng khá thuận tiện Sông Hồng chảy ở phía Đông của tỉnh, theo chiều Bắc Nam Sông Đà chảy ở vùng Tây Bắc của huyện Ba Vì Ngoài ra, còn có 4 con sông nhỏ chạy trong nội tỉnh tạo thành hệ thống giao thông thủy bộ liên hoàn.Văn hoá -xã hội:Là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống, Hà Tây có một kho tàng văn học dân gian phong phú: ca dao, dân ca, tục ngữ, truyện thơ, truyện cổ tích, truyện cười

có giá trị văn học Người Kinh có hát chèo, hát trống quân, hát cò lả, hát cửa đình, múa rối nước Người Mường có hát xéc bùa, hát ví, hát đúm, hát ru, hát đồng dao Nhạc cụ có trống kèn Cồng chiênglà một loại hình âm nhạc độc đáo của dân tộc Mường Người Dao có múa rùa, múa chung, múa chim Nơi là vùng đất sản sinh ra nhiều danh nhân dân tộc tiêu biểu như Phùng Hưng, Ngô Quyền, Nguyễn Trãi, Phan Huy Chú Đồng thời là mảnh đất bảo tồn nhiều di sản văn hóa dân tộc tiêu biểu là hàng trăm đình chùa, miếu mạo có giá trị về kiến trúc điêu khắc, nghệ thuật tôn giáo.Hà Tây có rất nhiều Lễ hội mang đặc trưng của Lễ hội truyền thống đồng bằng Bắc bộ Việt Nam, mỗi làng, mỗi vùng đều có Lễ hội riêng Mỗi Lễ hội như một bảo tàng văn hoá sống động thể hiện rõ những nét đặc trưng văn hoá dân tộc

Du khách sẽ bắt gặp những nghi lễ tôn thờ các vị thần linh của cư dân nông nghiệp,

để cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu hay để tôn vinh, tưởng nhớ

những vị anh hùng, những người có công lao với đất nước, với làng xã được tôn làm phúc thần bảo hộ Lễ hội cũng là dịp để du khách tham dự vào những trò chơi dân gian như đấu vật, đánh cờ người, thổi cơm thi, kéo co, hội thả diều, hội chọi gà hay xem các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống như hát dô, hátchèo tầu, múa rối nước, múa rối cạn Kinh tế:Hà Tây liền kề Thủ đô Hà Nội, có điều

Trang 13

kiện tự nhiên và vị trí địa lý thuận lợi, đất đai phong phú, cảnh quan đẹpvà cóđiều kiện phát triển để trở thành một khu vực vệ tinh phát triển trên cả 3 lĩnh vực: Nông nghiệp, công nghiệp và du lịch dịch vụ.Trong những năm qua, kinh tế Hà Tây có những bước tiến đáng khích lệ Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỉ trọng công nghiệp từ 34,59% (năm 2002) lên 37,1% (năm 2004) và giảm dần tỉ trọng nông nghiệp từ 35,9% xuống còn 33,6%; dịch vụ giữ mức 29,5%

Cơ cấu lao động cũng có sự chuyển dịch quan trọng, từ 70% năm 2001, giảm

xuống còn 65,8% năm 2004 Trong nông nghiệp, tỉ trọng chăn nuôi tăng lên, cơ cấu mùa vụ có sự thay đổi lớn với việc đưa vụ đông trở thành vụ sản xuất chính Trong công nghiệp, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có tốc độ tăng

20%/năm, kinh tế Nhà nước tăng 27%/năm[77, tr 12].Tỉnh Hà Tây phấn đấu kết hợp hài hoà các nguồn lực bên trong và bên ngoài, nhất là vốn đầu tư, kỹ thuật, công nghệ và nguyên liệu, phát triển mạnh và đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho quá trình trao đổi hàng hoá và phát triển các loại hình dịchvụ.Du lịch:Hà Tây là vùng đất có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, gắn liền với các dấu tích về lịch sử phát triển của dân tộc qua đấu tranh dựng nước và giữ nước như vùng núi cao Ba Vì với huyền thoại Sơn Tinh -Thuỷ Tinh nay là Rừng Quốc gia Ba

Vì, dưới chân núi có nhiều cảnh đẹp, xây dựng các điểm du lịch: Ao Vua,

Khoang Xanh, Suối Tiên, Thác Mơ, Suối Hai, Đồng Mô Dãy núi đá vôi trùng điệp phía Tây Nam tỉnh (Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức) có nhiều hang động độc đáo, kỳ thú, tiêu biểu là động Hương Tích tạonên thắng cảnh Hương Sơn nổi tiếng trong nước và thế giới, hàng năm thu hút hàng vạn khách thập phương đến du lịch

và trẩy hội.Nơi đâycòn có nhiều đình chùa có giá trị cao về mặt kiến trúc, điêu khắc nghệ thuật và tôn giáo: chùa Hương trong động Hương Tích nổi tiếng với danh xưng Nam thiên đệ nhất động, chùa Đậu (Thường Tín), chùa Tây Phương (Thạch Thất) có kiến trúc độc đáo nổi tiếng với 80 vị La Hán, chùa Thầy (Quốc Oai) là nơi tu hành của cao tăng Từ Đạo Hạnh Cùng với hàng trăm di tích khác đều đã được xếp hạng quốc gia như: chùa Bối Khê, chùa Trăm Gian, chùa Trầm, đền Và, chùa Mía, lăng Ngô Quyền, đền Nguyễn Trãi, thành cổ Sơn Tây Tỉnh có

3 cụm du lịch: cụm Sơn Tây -Ba Vì là du lịch văn hoá sinh thái, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, tham quan di tích lịch sử và văn hoá dân gian, nghỉ cuối tuần Cụm chùa Hương là du lịch tín ngưỡng, tham quan di tích lịch sử, cảnh quan thiên

nhiên, du lịch hang động Cụm Hà Đông và phụ cận là du lịch xanh, du lịch văn hoá trong các làng nghề và làng nông nghiệp truyềnthống, du lịch thương

mại.1.1.1.2 Truyền thống yêu nước và phong trào cách mạng ởHà TâyTrong sự nghiệp dựng nướcvà giữ nước lâu dài của dân tộc Việt Nam, nhân dân Hà Tây luôn luôn biểu hiện sáng ngời truyền thống yêu nước bảo vệ tổ quốc thân yêu của mình

Ngày đăng: 01/04/2017, 14:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w