1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phát huy vai trò nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.

15 355 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 38,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đường lối Hồ Chí Minh đề tài Phát huy vai trò nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. Phát huy vai trò nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

KHOA KHÁCH SẠN – DU LỊCH

−−−−***−−−−

BÀI THẢO LUẬN NHÓM

Bộ môn: Đường lối CM của Đảng Cộng sản Việt nam

Đề tài: Phát huy vai trò nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.

Trang 2

LỜI MỞ

ĐẦU

Như chúng ta đã biết công nghiệp hoá - hiện đại hoá là con đường tốt nhất để giúp một đất nước phát triển kinh tế, thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu Từ đó làm nền tảng, cơ

sở vật chất và kỹ thuật để xây dựng chủ nghĩa xã hội Đặc biệt đối với một đất nước như Việt Nam ta, kinh tế còn kém phát triển, công nghiệp chậm phát triển, nông nghiệp còn lạc hậu thì sự nghiệp đổi mới công nghiệp hoá - hiện đại hoá là biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì con người, nguồn nhân lực được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự thành công hay thất bại, tính hiệu quả của quá trình này Để đạt được sự phát triển, tính hiệu quả của quá trình Công nghiệp hóa –hiện đại hóa thì cần phải có những chính sách phát triển con người, nâng cao chất lượng nguồn lao động và cách phân bổ, sử dụng hợp lí Xuất phát từ thực tế đất nước trước và sau đổi mới, cũng như nắm bắt được xu hướng đầu tư và phát triển của các nước trên thế giới Từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức được ngày càng đầy đủ hơn vai trò của yếu tố con người trong sự phát triển kinh

tế-xã hội Chính vì vậy, trong bài thảo luận bộ môn Đường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam, nhóm 1 xin được trình bày những quan niệm của mình để cô và các bạn hiểu được rõ hơn vai trò cũng như tầm quan trọng của việc phát huy và sử dụng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta hiện nay là một điều hết sức cần thiết

Trang 3

Nội Dung

I Tổng quan về Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

1.1 Một số khái niệm:

1.1.1 Khái niệm Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

Hội nghị Trung ương lần thứ 7 khóa VII (1994) đã có bước đột phá mới trong nhận thức khi lần đầu tiên đưa ra khái niệm CNH-HĐH:

"Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năn suất lao động xã hội cao"

1.1.2 Khái niệm nguồn nhân lực

"Nguồn nhân lực" hay "Nguồn lực con người" là khái niệm được hình thành trong quá trình xem xét, nghiên cứu yếu tố con người với tư cách là nguồn lực cơ bản trong phương thức sản xuất, là yếu tố chính trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội

"Nguồn nhân lực" là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước

1.2 Mục tiêu và quan điểm chủ trương phát huy nguồn nhân lực của Đảng thời kỳ CNH-HĐH đất nước

1.2.1 Mục tiêu:

Về mục tiêu cơ bản của CNH-HĐH là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp

có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng - an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 4

Về mục tiêu cụ thể, để thực hiện mục tiêu trên Đại hội X xác định mục tiêu đẩy mạnh CNH-HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

1.2.2.Quan điểm về công nghiệp hóa – hiện đại hóa của Đảng

-Giữ vững độc lập tự chủ, đi đôi với hợp tác, mở rộng, hợp tác quốc tế, đa phương hóa,

đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế Dựa vào nguồn lực trong nước là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực từ bên ngoài, xây dựng một nền kinh tế mở cửa hội nhập hướng mạnh về sản xuất cho xuất khẩu, đồng thời thay thế sản phẩm nhập khẩu cho có hiệu quả

- CNH-HĐH là sự nghiệp của toàn dân, được mọi thành phần kinh tế tham gia, trong đó nền kinh tế nhà nước là chủ đạo

- Lấy việc phát huy yếu tố con người làm chủ đạo, tăng trưởng kinh tế gắn liền với cải thiện đời sống người dân, tăng cường dân chủ, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội

- Khoa học công nghệ là động lực của CNH-HĐH, kết hợp công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở những khâu có tính chất quyết định

- Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội tổng thể là tiêu chuẩn cơ bản để xây dựng phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư phát triển và công nghệ, đầu tư có chiều sâu để khai thác tối

đa nguồn lực hiện có, trong phát triển mới ưu tiên phát triển quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh, đồng thời xây dựng một số công trình qui mô lớn thật cần thiết và có hiệu quả

- Kết hợp chặt chẽ toàn diện, phát triển kinh tế quốc phòng

II, Vai trò của nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa 2.1 Con người là yếu tố chủ chốt sử dụng các nguồn lực khác phục vụ trong sự nghiệp CNH-HĐH.

Trước hết các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý… tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, chịu sự tác động của con người Chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực khi kết hợp với nguồn lực con người thông qua sự hoạt động

ý thức của con người Bởi lẽ con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ

và ý chí biết lợi dụng các nguồn lực khác gắn kết chúng lại với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp cũng tác động vào quá trình CNH-HĐH Các nguồn lực khác chịu sự cải tạo, khai thác của con người và nói đúng hơn thì chúng đều phục vụ nhu cầu, lợi ích của con người nếu con người biết cách tác động và chi phối

Ai cũng biết muốn tiến hành CNH-HĐH phải có vốn và tài nguyên nhưng chúng chỉ trở thành nguồn lực quan trọng và cần thiết của sự phát triển khi nó nằm trong tay những

Trang 5

người biết sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả cao Sự giầu có về tài nguyên thiên nhiên và những lợi thế về vị trí địa lý cũng sẽ mất đi nếu như chủ nhân của nó không có năng lực khai thác…xét đến cùng thì nếu như không tồn tại sự hiện diện của người lao động và vị trí của họ thì mọi nguồn lực đều trở thành vô nghĩa Vì thế trong các yếu tố thì yếu tố con người quan trọng nhất

2.2 Các nguồn lực khác là có hạn, có thể bị cạn kiệt khi khai thác.

Trong khi đó nguồn lực con người mà cốt lõi là trí tuệ lại là nguồn lực vô tận

Tính vô tận của trí tuệ con người biểu hiện ở chỗ nó có khả năng không chỉ tái sinh, tự sản sinh về mặt sinh học mà còn đổi mới, không ngừng phát triển về chất nếu biết chăm

lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý Đó là cơ sở làm cho năng lực và nhận thức hoạt động thực tiễn của con người phát triển như một quá trình vô tận Nhờ vậy con người đã từng bước làm chủ tự nhiên, khám phá ra những tài nguyên mới và sáng tạo ra những tài nguyên vốn không có sẵn trong tự nhiên, tạo ra những hệ thống công cụ sản xuất mới Chính sự phát triển không ngừng của công cụ sản xuất từ thủ công đến cơ khí và ngày nay là tự động hoá mà xã hội loài người đã chuyển qua các nền văn minh từ thấp đến cao Điều đó nói lên trình độ vô tận của con người, của sức mạnh nguồn nhân lực

Ngoài ra, kinh nghiệm của nhiều nước và thực tiễn của chính nước ta cho thấy sự thành công của CNH phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch định đường lối chính sách cũng như tổ chức thực hiện, tức là phụ thuộc vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, của nguồn nhân lực Nói tóm lại, yếu tố con người là yếu tố tiên quyết quyết định sự thành bại của quá trình CNH, đồng thời đó cũng là mục tiêu hướng tới của quá trình này Để thực hiện hiệu quả CNH đất nước, chúng ta phải lấy việc phát huy nguồn lực con người Việt Nam đặc biệt là con người hiện đại làm yếu tố cơ bản cho việc phát triển nhanh, bền vững Nguồn nhân lực ở vai trò chủ thể tham gia vào quá trình CNH - HĐH không chỉ cần sự cần cù, trung thành, nhiệt tình quyết tâm, mà điều quan trọng hơn là có trí tuệ khoa học, ý chí chiến thắng cái nghèo nàn lạc hậu, tính năng động luôn thích ứng với hoàn cảnh, ý thức

1.3 Trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn

Trước hết có thể nói rằng xã hội loài người tồn tại và phát triển dựa vào hai nguồn

tài nguyên là: thiên nhiên và con người Và cái quý nhất trong nguồn tài nguyên con người là trí tuệ

Với trí tuệ của mình, từ lâu con người đã biết dựa vào thiên nhiên mà sống, biết tác động cải tạo tự nhiên để đem lại sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của mình Như con người thời cổ đại biết cách dùng đồ đồng, đồ sắt, kim loại làm đồ dùng từ săn bán đến trồng trọt Các vị vua Ai Cập dùng trí tuệ của mình xây dựng nên các kim tự tháp độ sộ và

Trang 6

huyền bí để làm lăng mộ cho các pharaoh Hay con người dùng trí tuệ của mình tận dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên sáng tạo ra các công cụ lao động giảm thiểu sức người cũng như tăng năng suất lao động, không những vậy, trí tuệ con người còn có thể làm nên những con tàu chinh phục vũ trụ, tìm kiếm những nguồn năng lượng mới, nguồn tài nguyên mới ngoài trái đất Trí tuệ con người có thể chế tạo ra năng lượng hạt nhân thay cho năng lượng phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên như sức nước hay sức gió Con người từ việc phụ thuộc vào thiên nhiên dần biến đổi thiên nhiên phục vụ nhu cầu của mình, biết cách xây dựng những tòa cao ốc, những nhà máy sử dụng máy móc, kỹ thuật với dây chuyền hiện đại Khi lực lượng sản xuất phát triển, đánh dấu bởi những phát minh khoa học, những công nghệ hiện đại thì trí tuệ con người vẫn có sức mạnh áp đảo Những tư duy máy móc, trí tuệ nhân tạo dù rộng lớn đến đâu, dù dưới hình thức hoàn hảo nhất cũng chỉ là một mảng cực nhỏ, một sự phản ánh rất tinh tế thế giới nội tại của con người, chỉ là kết quả của quá trình phát triển khoa học kinh tế, của hoạt động trí tuệ của con người Mọi máy móc dù hoàn thiện, dù thông minh đến đâu cũng chỉ là kẻ trung gian cho hoạt động của con người Do đó con người không những mang trong mình trí tuệ mà còn sáng tạo ra những trí tuệ nhân tạo ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống hàng ngày, làm cho máy móc biết suy nghĩ và hỗ trợ hoặc giải quyết vấn đề thay cho con người… Tuy nhiên rí tuệ con người luôn luôn đã và vẫn là chủ thể duy nhất của mọi hoạt động trong xã hội

Bởi vậy có thể nói, trí tuệ con người có sức mạnh to lớn trong sự phát triển xã hội cũng như trong việc CNH-HĐH đất nước Và hơn thế nữa phải chăng đó là một vai trò quan trọng, quyết định sự thành bại của sự nghiệp đổi mới này? Con người đã làm nên lịch sử của chính mình bằng lao động được định hướng bởi trí tuệ đó Ta đã biết rằng,

“tất cả cái gì thúc đẩy con người đều tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ”, tức là

thông qua trí tuệ của họ

1.4 Kinh nghiệm của Nhà nước và thực tiễn

Từ sự nghiệp đổi mới của chính nước ta trong những năm qua cho thấy, sự thành công của CNh-HĐH phụ thuộc chủ yếu vào hoạch định đường lối chính sách, cũng như tổ chức thực hiện nghĩa là phụ thuộc vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Không có những nhà chính khách, các nhà hoạch định chính sách, các nhà khoa học công nghệ thì khó có thể có được những chính sách và chiến lược phát triển đúng đắn Không có những nhà kinh doanh tài ba thì cũng sẽ không có người sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn vốn, tài nguyên, công nghệ

Qua những phân tích trên chúng ta có thể thấy được rằng, nguồn lực con người (nguồn nhân lực) là nguồn lực có vai trò quyết định sự thành công của quá trình CNH-HĐH đất nước Do vậy muốn công nghiệp hoá - hiện đại hoá được thành công thì phải

Trang 7

đổi mới, quan tâm đến các chính sách đầu tư cho các ngành khoa học, văn hoá, giáo dục nhằm phát triển nguồn lực con người

III, Phát huy nguồn nhân lực trong quá trình cong nghiệp hóa hiện đại hóa. 3.1 Thực trạng nguồn nhân lực nước ta hiện nay.

Vấn đề nguồn nhân lực thực chất là vấn đề con người Xây dựng nguồn nhân lực Việt Nam tức là xây dựng con người Việt Nam có đủ tầm vóc, tố chất, tiêu chuẩn, tài đức, đủ sức đảm đương công việc được giao

Theo báo cáo, tính đến 3/2015, dân số Việt Nam vào khoảng 91,9 triệu người, là nước đông dân thứ 14 trên thế giới, thứ 8 Châu Á và thứ 3 khu vực Đông Nam Á Điều này phản ánh nguồn nhân lực của Việt Nam đang phát triển dồi dào Nguồn nhân lực Việt Nam được cấu thành chủ yếu là nông dân, công nhân, trí thức, doanh nhân, dịch vụ và nhân lực của các ngành, nghề

- Nguồn nhân lực từ nông dân:

Nông dân Việt Nam chiếm khoảng 63 triệu người người, chiếm hơn 70% dân số của cả nước Cả nước có khoảng 113.700 trang trại, 7.240 hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thủy sản; có 217 làng nghề, 40% sản phẩm từ các ngành, nghề của nông dân được xuất khẩu đến hơn 100 nước Như vậy, so với trước đây, nông thôn nước ta đã có những chuyển biến tích cực

Tuy nhiên, nguồn nhân lực trong nông dân ở nước ta vẫn chưa được khai thác, chưa được tổ chức đầy đủ Người nông dân chẳng có ai dạy nghề trồng lúa Họ đều tự làm Đến lượt con cháu họ cũng tự làm Có người nói rằng, nghề trồng lúa là nghề dễ nhất, không cần phải hướng dẫn cũng có thể làm được Ở các nước phát triển, họ không nghĩ như vậy Mọi người dân trong làng đều được hướng dẫn tỷ mỷ về nghề trồng lúa trước khi lội xuống ruộng Hiện có từ 80%- 90% lao động nông, lâm, ngư nghiệp và những cán

bộ quản lý nông thôn chưa được đào tạo Điều này phản ánh chất lượng nguồn nhân lực trong nông dân còn rất yếu kém Sự yếu kém này đẫ dẫn đến tình trạng sản xuất nông nghiệp nước ta vẫn còn đang trong tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún, sản xuất theo kiểu truyền thống, hiệu quả sản xuất thấp Việc liên kết "bốn nhà" (nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp) hiện đang còn là hình thức

Tình trạng đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, làm cho một bộ phận lao động ở nông thôn dôi ra, không có việc làm Chính vì nguồn nhân lực trong nông thôn chưa được khai thác, đào tạo, cho nên một bộ phận nhân dân ở nông thôn không có việc làm ở các khu công nghiệp, công trường Tình trạng hiện nay là các doanh nghiệp đang thiếu nghiêm trọng thợ có tay nghề cao, trong khi đó, lực lượng lao động ở nông thôn lại dư thừa rất nhiều; chất lượng lao động rất thấp

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do khâu tổ chức lao động và quy hoạch lao

Trang 8

động trong nông thôn chưa tốt Chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn chưa đồng bộ, chưa mang tínhkhuyến khích và tính cạnh tranh

- Nguồn nhân lực từ công nhân:

Về số lượng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay có khoảng 10 triệu người (kể cả khoảng 500 nghìn công nhân đang làm việc ở nước ngoại, tại trên 40 nước và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề ở nước ngoài và 2 triệu hộ lao động kinh doanh cá thể)

Số công nhân có trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam có khoảng 150 nghìn người Nhìn chung, công nhân có tay nghề cao chiếm tỷ lệ thấp so với đội ngũ công nhân nói chung Trong các ngành nghề của công nhân, tỷ lệ công nhân cơ khí và công nhân làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp nặng còn rất thấp, khoảng 20% trong tổng số công nhân của cả nước, trong khi đó, công nhân trong các ngành công nghiệp nhẹ, chế biến thực phẩm lại chiếm tỷ lệ cao, khoảng 40% Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, việc làm và đời sống của giai cấp công nhân ngày càng được cải thiện Bên cạnh đó, sự phát triển của giai cấp công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, chất lượng, kỹ năng nghề nghiệp; thiếu nhiều các chuyên gia kỹ thuật, công nhân lành nghề; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế; phần lớn công nhân xuất thân từ nông dân, chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống "Địa vị chính trị của giai cấp công nhân chưa thể hiện đầy đủ"

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình đổi mới đã mở ra một giai đoạn lịch sử mới trong sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam Bên cạnh đó, những hạn chế, yếu kém trong phát triển kinh tế - xã hội ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm, đời sống, tâm tư, tình cảm của công nhân; những chính sách về giai cấp công nhân tuy đã ban hành, nhưng chưa sát hợp với tình hình thực

tế của giai cấp công nhân Trong các doanh nghiệp và người sử dụng lao động, không ít trường hợp còn vi phạm chính sách đối với công nhân và người lao động

- Nguồn nhân lực từ trí thức, công chức, viên chức:

Nguồn nhân lực trí thức, tốt nghiệp từ đại học, cao đẳng trở lên là hơn 2,5 triệu người, chiếm khoảng 2,15% dân số Hiện nay, số trường đại học ngày càng tăng, tính đến nay

cả nước có 412 trường đại học, cao đẳng Cùng với đó, số lượng sinh viên ngày càng tăng lên Bên cạnh sự tăng nhanh từ nguồn nhân lực trí thức, công chức, viên chức đã dẫn ra trên đây, thấy rằng, ở Việt Nam hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực từ trí thức, công chức, viên chức còn yếu kém và bất cập Đa số công chức, viên chức làm việc trong các

cơ quan công quyền chưa hội đủ những tiêu chuẩn của một công chức, viên chức như trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng công việc Có 63% tổng số sinh viên tốt nghiệp ra trường chưa có việc làm; không ít đơn

vị nhận người vào làm, phải mất 1-2 năm đào tạo lại Trong số 37% sinh viên có việc làm, thì cũng không đáp ứng được công việc Bằng cấp đào tạo ở Việt Nam chưa được thị trường lao động quốc tế thừa nhận

Trang 9

Ngoài ra, còn có nguồn nhân lực từ các doanh nghiệp khoảng 2 triệu người, trong đó, khối doanh nghiệp trung ương gần 1 triệu người

*Có thể rút ra mấy điểm về thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam:

- Nguồn nhân lực ở Việt Nam khá dồi dào, nhưng chưa được sự quan tâm đúng mức, chưa được quy hoạch, chưa được khai thác, chưa được nâng cấp, còn đào tạo thì chưa đến nơi đến chốn, nhiều người chưa được đào tạo

- Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lượng và chất

- Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức,… chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng nhau thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Có thể đánh giá tổng quát về nhân lực Việt Nam hiện nay là số lượng đông, chất lượng không đông, thể hiện là tay nghề thấp, chưa có tác phong công nghiệp, chưa có những tổng công trình sư, kỹ sư, nhà khoa học thật sự giỏi; chưa có những chuyên gia giỏi; chưa có những nhà tư vấn, nhà tham mưu giỏi; chưa có những nhà thuyết trình giỏi; chưa có những nhà lãnh đạo, nhà quản lý giỏi Báo chí nước ngoài bình luận người Việt Nam khá thông minh, rất nhanh nhạy trong việc nắm bắt và tiếp thu cái mới Tiếc rằng, lại chưa được khai thác đầy đủ, đào tạo chưa bài bản, điều đó ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam

3.2 Ưu điểm và hạn chế của phát huy nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta hiện nay

3.2.1 Ưu điểm

- Lực lượng lao động dồi dào:

Theo số liệu tính đến nay thì nước ta có khoảng hơn 43 triệu người nằm trong độ tuổi lao động, tức chiếm khoảng 51% dân số Mỗi năm có thêm khoảng 1,8 triệu người bước thêm vào độ tuổi lao động ( từ 15 trở lên) trong khi đó số người ra khỏi độ tuổi lao động (

từ 60 trở lên) chỉ là 0,35 triệu người Với một lực lượng lao động dồi dào, giá rẻ như vậy

sẽ là lợi thế lớn để giúp cho phát triển kinh tế đối với một nước đang phát triển như nước ta

- Tỷ trọng lao động: trẻ cao, phần lớn có văn hoán phổ thông

Ở VN mỗi năm số dân bước vào độ tuổi lao động là khá cao (1,8 triệu người), lực lượng lao động trẻ dồi dào và có văn hóa phổ thông có nhiều lợi thế như là có sức khỏe, năng động, có khả năng tiếp thu kiến thức nghề nghiệp dễ dàng,ngay cả đối với các ngành mới và có nhiệt huyết với nghề cao hơn Một nền kinh tế trẻ, năng động và phát triển

- Người Việt vốn có bản tính hiếu học, thông minh,cần cù lao động và đoàn kết

Đó là cơ sở cho việc nắm bắt, tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những sáng tạo, những phát minh, sáng kiến khoa học của nhân loại phục vụ cho sự nghiệp phát triển KT-XH của đất nước Tính cộng đồng, ý thức trách nhiệm với cộng đồng được phát

Trang 10

huy mạnh mẽ có thể hỗ trợ đắc lực không chỉ cho việc truyền bá tay nghề, kinh nghiệm nghề nghiệp mà còn có thể giúp nhau về vốn, tạo dựng và phát triern cơ nghiệp, giúp nhau về công ăn việc làm Đây là một trong những ưu điểm mạnh nhất của lao động Việt Nam

3.2.2 Hạn chế:

- Số lượng đông nhưng tỷ lệ đào tạo thấp

Hiện nay nước ta đang thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề,tay nghề cao Theo kết quả điều tra lao động việc làm thì vẫn còn trên 15% số lao động chưa tốt nghiệp tiểu học trong đó chưa biết chữ chiếm gần 4%, trong số lao động trong nhóm tuổi 15-34 tuổi số người không có chuyên môn kĩ thuật chiếm 84% Thực tế cho thấy,hiện chỉ có khoảng 35% lao động Việt Nam đc qua đào tạo

và tỷ lệ lao động đã có chứng chỉ đào tạo ngắn hạn là 14,4%, 78% thanh niên trong độ tuổi 20-24 khi tham gia vào thị trường lao động chưa được đào tạo nghề hoặc có đào tạo nhưng vẫn bị hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp Bên cạnh đó, những lao động có trình độ cao đã đc đào tạo hiện nay cũng chỉ đáp ứng được 15-20% yêu cầu của doanh nghiệp Điều này dẫn đến việc nhiều doanh nghiệp đang thiếu lao động kỹ thuật Đây là một trong những trở ngại lớn nhất khi tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta

- Đội ngũ cán bộ khoa học trẻ chất lượng còn ít

Dẫn đến việc chuyển bị cho thế hệ kế cận gặp nhiều khó khăn Theo thống kê, hiện nay trong số 61000 giảng viên của các trường đại học, học viện, cao đẳng trong cả nước chỉ có 320 giảng viên có chức danh giáo sư Trong số cán bộ khoa học đang làm việc tại các trường có tới 75% đã quá tuổi 50, số cán bộ dưới 35 tuổi chỉ có 8% Hơn 60% số phó giáo sư và tiến sĩ, hơn 70% phó giáo sư và hơn 90% số giáo sư nằm trong độ tuổi từ

55-60 Điều này nói lên 1 thực trạng, đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học trong các trường đại học cao đẳng, các cơ sở giáo dục đào tạo đang già đi, trong khi đội ngũ kế cận lại có biểu hiện không muốn kế thừa bởi nhiều nguyên nhân Hiện tượng chảy máu chất xám hiện đang là thực trạng chung mà cần phải có những biện pháp để gữ chân người tài

- Cơ cấu bố trí sử dụng nguồn nhân lực còn bất hợp lý:

Mất cân đối tỉ lệ về trình độ nhân lực đã qua đào tạo Theo thống kê ở nước ta cứ có 1 cán bộ tốt nghiệp đại học có 1,16 cán bộ tốt nghiệp trung cấp và 0,92 công nhân kỹ thuật, trong khi đó tỷ lệ này ở thế giới là 1,4 và 10 Nước ta hiện nay cứ 1 vạn dân có 181 sinh viên đại học,trong khi đó của thế giới là 100 Đây chính là thực trạng “ thầy nhiều hơn thợ”

Ngoài ra việc bố trí sử dụng cán bộ còn bất hợp lý giữa các vùng miền, các ngành, 80% cán bộ khoa học công nghệ làm việc ở Hà Nội, ở thành phố HCM chỉ có 12% Bình quân chung của cả nước ta hiện nay là 118 sinh viên/1 vạn dân, nhưng ở Tây Bắc và 1 số vùng miền núi khác chỉ là 17 sinh viên/1 vạn dân Hầu hết các nguồn lao động có chất lượng đều tập trung ở các thành phố lớn, trong khi đó các vùng miền núi, nông thôn lại thiếu trầm trọng

Ngày đăng: 31/03/2017, 22:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w