1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng bài tập hình vẽ trong chương trình hóa vô cơ lớp 10

18 339 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 3,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học ngày nay các bài tập hóa học phải phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh nhằm vừa củng cố kiến thức lý thuyết, vừa rèn kỹ

Trang 1

MỤC LỤC

Mục lục 1

Phần I Đặt vấn đề 2

I Lý do chọn đề tài 2

II Mục đích nghiên cứu của đề tài 3

III Nhiệm vụ của đề tài 3

IV Khả năng áp dụng của đề tài 3

Phần II Giải quyết vấn đề 4

I Những vấn đề lý luận chung 4

II Thực trạng của vấn đề 5

III Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề 5

1 Sử dụng bài tập hình vẽ để khắc sâu tính chất vật lý 5

2 Sử dụng bài tập hình vẽ để khắc sâu tính chất hóa học 8

3 Sử dụng bài tập hình vẽ để hình thành và phát triển kỹ năng thực hành 9

4 Một số bài tập vận dụng 13

IV Hiệu quả của SKKN 16

Phần III Kết luận 17

1 Kết luận 17

2 Hướng phát triển của đề tài 17

Tài liệu tham khảo 18

Trang 2

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lý do chọn đề tài

Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm nên các thí nghiệm hoá học đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc giảng dạy và học tập môn hóa học ở trường phổ thông Bên cạnh đó, việc giải các bài tập thực nghiệm cũng là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong việc học tập môn hóa học Thông qua việc giải các bài tập sẽ giúp học sinh củng

cố, vận dụng và nắm vững hơn những kiến thức lý thuyết đã học

Tuy nhiên, trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học ngày nay các bài tập hóa học phải phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh nhằm vừa củng cố kiến thức lý thuyết, vừa rèn kỹ năng thực hành cho học sinh, tăng khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống và sản xuất

Trong trường trung học phổ thông, thí nghiệm giúp học sinh làm quen với những tính chất, mối liên hệ và quan hệ có tính qui luật giữa các đối tượng nghiên cứu, giúp làm cơ sở để nắm vững các qui luật, các khái niệm khoa học và biết cách khai thác chúng Đối với bộ môn Hóa học, thí nghiệm giữ vai trò đặc biệt quan trọng như một

bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy – học Thí nghiệm hóa học có tác dụng phát triển tư duy, giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng và củng cố niềm tin khoa học của học sinh, giúp hình thành những đức tính tốt của người lao động: ngăn nắp, trật tự, gọn gàng Vì vậy, khuynh hướng chung của việc cải cách bộ môn hóa học là tăng tỉ lệ giờ cho các thí nghiệm và nâng cao chất lượng các bài thí nghiệm

Việc sử dụng bài tập thực nghiệm vào các giờ thực hành thí nghiệm nếu được thực hiện tốt thì không những giúp học sinh củng cố và vận dụng những kiến thức đã học trên lớp mà còn rèn luyện các kỹ năng thực hành cho học sinh: các thao tác lấy hóa chất, lắp dụng cụ thí nghiệm, cẩn thận khi tiếp xúc với hóa chất Thông qua các thí nghiệm đó, học sinh được đóng vai trò như các nhà nghiên cứu, tìm tòi, phân tích một mẫu chất nào đó Điều này đã gây được hứng thú học tập cho học sinh đối với bộ môn hóa học Việc kết hợp giữa lý thuyết với thực hành là một nguyên tắc trong giáo dục Đặc biệt, đối với môn học có tính thực nghiệm cao như Hóa học thì vấn đề thực hành hóa học hay việc sử dụng các bài tập khác mang tính chất thực nghiệm thực sự rất cần thiết

Việc xây dựng các bài tập thực nghiệm Hóa học có ý nghĩa quan trọng trong việc gắn liền lý thuyết với thực hành Loại bài tập này vừa mang tính chất lý thuyết, vừa mang tính chất thực hành Muốn giải được loại bài tập này học sinh phải nắm vững lý thuyết, vận dụng lý thuyết và cần sự chú ý quan sát trong quá trình làm thí nghiệm thực hành và vận dụng những kĩ năng, kĩ xảo thực hành để tìm phương án giải quyết Qua thực tế giảng dạy hơn 12 năm ở trường THPT Phú Lộc tôi nhận thấy việc sử dụng bài tập thực tiễn hóa học nói chung và bài tập hình vẽ nói riêng sẽ đáp ứng được

phần lớn các yêu cầu trên Vì vậy, tôi chọn viết sáng kiến kinh nghiệm với đề tài: “Sử dụng bài tập hình vẽ trong chương trình Hóa Vô cơ Lớp 10”.

Trang 3

II Mục đích nghiên cứu của đề tài

Nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong việc học tập, tạo được niềm say mê, hứng thú học tập cho học sinh và nâng cao chất lượng, hiệu quả quá trình giảng dạy môn Hóa học nói chung và Hóa học lớp 10 nói riêng Đồng thời thông qua đề tài này với mong muốn bản thân và các đồng nghiệp giảng dạy bộ môn hóa học có thể vận dụng để mở rộng loại bài tập này cho các bài dạy khác trong chương trình hoá học phổ thông (kể cả hóa học vô cơ và hóa học hữu cơ)

III Nhiệm vụ của đề tài

- Tìm hiểu cơ sở lí luận về bài tập hóa học; phương tiện trực quan; bài tập có sử dụng hình vẽ

- Nắm vững cơ sở lí luận của việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

- Nghiên cứu cấu trúc chương trình, nội dung kiến thức chương trình hóa học THPT ban cơ bản và nâng cao nhất là nghiên cứu phần Hóa học vô cơ lớp 10

- Phân tích hệ thống bài tập có sử dụng hình vẽ trong SGK, SBT trung học phổ thông

- Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hoá học có sử dụng hình vẽ chương trình hóa vô cơ lớp 10 cơ bản và nâng cao

- Đề xuất việc sử dụng hệ thống bài tập có hình vẽ trong dạy học hóa học

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của hệ thống bài tập đã

đề xuất

IV Khả năng áp dụng của đề tài

Đề tài này có thể sử dụng trong hầu hết các tiết học như: dạy bài mới, ôn tập – luyện tập, thực hành của chương Halogen; oxi – lưu huỳnh Hóa học lớp 10 cơ bản và nâng cao Ngoài ra còn có thể dùng các bài tập hình vẽ này để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trong học kỳ II lớp 10

Trang 4

PHẦN II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Những vấn đề lý luận chung

Trong xã hội ngày nay, trước sự bùng nổ thông tin, sự phát triển của khoa học và công nghệ như vũ bão thì việc dạy học không chỉ đơn thuần là truyền thụ kiến thức mà phải dạy phương pháp học tập cho học sinh Bản thân học sinh phải có phương pháp nghiên cứu mà cốt lõi là phương pháp tự học Việc học là nhiệm vụ của học sinh mà không ai có thể làm thay được Để học tốt các môn học nói chung và môn Hóa học nói riêng thì trước hết cần có đó là sự nỗ lực của bản thân học sinh, ý chí vươn lên trong học tập của người học và sau đó là một phương pháp học tập hợp lý

Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy ở trường THPT cho thấy có nhiều học sinh bị động trong học tập, thường gặp phải các “chướng ngại nhận thức” và có cảm giác chán nãn trong học tập

Theo tác giả Nguyễn Cương – NXB GD 2007 về Phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông và đại học cho thấy, để tạo được tính tích cực chủ động, niềm say mê hứng thú học tập cho học sinh người giáo viên cần phải:

- Đặt cho học sinh những câu hỏi, những bài tập có tính chất nêu vấn đề và học sinh giải quyết vấn đề thông qua suy nghĩ, trao đổi và thảo luận hoặc thông qua các thí nghiệm,

- Đề ra các công việc cho học sinh có tính chất nghiên cứu kết hợp với sự tái hiện kiến thức cũ

- Sử dụng đồng thời và hợp lý các phương tiện trực quan như các đồ dùng dạy học của môn học

- Tạo ra được các tình huống “có vấn đề” để kích thích được lòng ham muốn, đam

mê khoa học của học sinh

Hóa học – môn khoa học thực nghiệm – là môn học mà những con người “công nghiệp” trong tương lai cần phải vận dụng rất nhiều vào thực tiễn Vì thế, học sinh cần phải được rèn luyện kỹ năng thực hành, có vốn kiến thức sâu rộng về sản xuất hóa học ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông Thế nhưng, vì lí do nào đó mà không phải lúc nào người thầy cũng dạy được cho các em theo kiểu “học đi đôi với hành” Cho nên, những hình vẽ sẽ là ngôn ngữ diễn tả ngắn gọn nhưng rất hiệu quả bản chất của thực tiễn hóa học, để giúp học sinh gắn lí thuyết với thực tiễn nhiều hơn Trong những năm gần đây Bộ GD & ĐT đã tăng cường câu hỏi thực tiễn trong các đề thi tốt nghiệp THPT, đề thi Đại học và Cao Đẳng Tuy nhiên, những bài tập hóa học có

sử dụng hình vẽ trong chương trình hóa học phổ thông hiện nay chưa được sử dụng một cách phổ biến, có hiệu quả trong quá trình dạy học, các tài liệu hiện hành còn ít quan tâm đến loại bài tập này và cũng chưa được nhiều giáo viên sử dụng Như vậy, vấn đề là làm thế nào để học sinh sử dụng ngày càng nhiều và có hiệu quả những bài tập hóa học có hình vẽ Nếu sử dụng tốt các bài tập có hình vẽ sẽ góp phần đa dạng hệ thống bài tập hóa học và nâng cao kết quả học tập cho học sinh

II Thực trạng của vấn đề

Trang 5

Trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu, tôi nhận thấy, hiện nay việc tổ chức tiến hành thí nghiệm và xây dựng nên các bài tập thực nghiệm ứng dụng vào trong các bài thí nghiệm của giáo viên các trường THPT còn nhiều hạn chế:

- Còn ít làm thí nghiệm (vì thời gian chuẩn bị mất nhiều thời gian, thiếu dụng cụ và hóa chất, ) nên chất lượng giờ dạy chưa cao Học sinh ít được làm (quan sát) thí nghiệm, dẫn đến khó hiểu bài và không thích học bộ môn

- Thao tác thí nghiệm chưa linh hoạt, còn hạn chế về sử dụng những thiết bị mới và hiện đại

Học sinh ở các trường THPT, trong các tiết thí nghiệm thực hành đôi khi làm thí nghiệm còn sai nguyên tắc, chưa nắm được các yêu cầu về các thao tác trong làm thí nghiệm như:

+ Dùng tay trực tiếp cầm ống nghiệm (không dùng kẹp)

+ Cách sắp xếp dụng cụ hóa chất còn lộn xộn, thiếu khoa học

+ Lấy hóa chất xong quên không đậy nắp

+ Lấy quá ít hoặc quá nhiều hóa chất

+ Dụng cụ học sinh làm thí nghiệm rửa không sạch

+ Dùng giấy lau khô ống nghiệm

+ Cách thực hiện các thao tác thí nghiệm như kẹp ống nghiệm, rửa ống nghiệm, đun nóng ống nghiệm, lấy hóa chất chưa đúng,…

III Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề

Bài tập hình vẽ, tranh ảnh về các thí nghiệm hóa học là loại bài tập mang tính trực quan, có tác dụng to lớn trong việc phát huy trí lực của học sinh Nó có tác dụng tạo điều kiện để phát triển tư duy khoa học cho học sinh Khi giải loại bài tập này bắt buộc học sinh phải phân tích, tổng hợp các kiến thức về cấu tạo, tính chất vật lý, tính chất hóa học của các chất, biết cách lắp ráp các thiết bị thí nghiệm, Từ đó lập luận đưa ra kết quả phù hợp Chúng ta có thể sử dụng bài tập hình vẽ cho một số trường hợp sau

1 Sử dụng bài tập hình vẽ để khắc sâu kiến thức về tính chất vật lý

Bài tập 1: Để kiểm tra kiến thức của học sinh về tính chất vật lý của SO2 ta có thể dùng hai cách hỏi sau:

Cách 1: Hỏi dưới dạng tự luận : Nêu tính chất vật lý của SO2?

Hoặc hỏi dưới dạng trắc nghiệm : Tính chất vật lý của khí SO2 là

A chất khí nặng hơn không khí và không tan trong nước

B chất khí nhẹ hơn không khí và không tan trong nước

C chất khí nhẹ hơn không khí và không tan trong nước

D chất khí nặng hơn không khí và tan nhiều trong nước

Với loại câu hỏi này học sinh cần nhớ lại các kiến thức về tính chất vật lý của SO2 đã học là có thể trả lời được ngay

Cách 2: Khí SO2 được thu bằng cách nào trong các cách ở hình vẽ sau

Trang 6

A Cách (1)

B Cách (2)

C Cách (3)

D (1) hoặc (3)

Bài tập này sẽ kích thích ngay trí tò mò của học sinh: tại sao lại có các cách thu khí như vậy? điều kiện để có thể thu được một chất khí bằng các hình vẽ tương ứng?

Để giải được bài tập này cũng đòi hỏi học sinh phải nhớ lại các kiến thức của SO2 đó là:

- SO2 có bị oxi hóa trong không khí ở điều kiện thường không?

- SO2 nặng hay nhẹ hơn không khí?

- SO2 có tan nhiều trong nước không?

Khi đó học sinh sẽ lập luận:

- SO2 nặng hơn không khí SO / kk2 64

32

- SO2 tan nhiều trong nước ⇒ không thể thu được bằng phương pháp đẩy nước

- SO2 không bị oxi hóa trong không khí ở điều kiện thường

⇒ có thể thu bằng phương pháp đẩy không khí

Như vậy, học sinh nhận ra ngay chỉ có cách (hình 2) mới phù hợp

⇒ Chọn phương án B

Trong hai cách trên thì với cách 2, khi quan sát hình vẽ mang tính trực quan hơn, rèn được tư duy suy luận cho học sinh hơn Từ đó sẽ giúp học sinh khắc sâu và nhớ lâu kiến thức hơn

Bài tập 2: Các hình vẽ sau mô tả các cách thu khí thường được sử dụng khi điều chế

và thu khí trong phòng thí nghiệm

Trong các chất khí : H2, NH3, SO2, HCl, N2 Hình 3 có thể dùng để thu được những chất khí là

Tương tự như bài tập 1, để giải được bài tập này cũng đòi hỏi học sinh phải nhớ lại kiến thức về các khí tan được trong nước và các khí không tan hoặc tan ít trong nước

Học sinh phân tích : Hình 3 thu khí bằng phương pháp đẩy nước ⇒ các khí phải không tan trong nước

Như vậy, học sinh biết chỉ có các khí H2, N2 không tan trong nước

⇒ Chọn phương án A

Bài tập 3: Trong các hình vẽ mô tả cách thu khí clo sau, hình vẽ nào đúng?

Trang 7

Tương tự bài tập 1, bài tập này học sinh dựa vào tính chất vật lí và hoá học của khí clo là:

- Nặng hơn không khí và không tác dụng với không khí (dCl / kk2 = 71 ≈ 2, 45)

32

- Khả năng hòa tan, tác dụng với H2O

- Khí clo là một khí độc, phải dùng bông tẩm NaOH để tránh sự phân tán của Cl2 ra ngoài

Từ đó, học sinh biết được phương pháp thu khí clo trong phòng thí nghiệm là phương pháp đẩy không khí

⇒ Chọn phương án Hình 1

Bài tập 4: Trong các hình vẽ sau, xác định hình vẽ đúng nhất mô tả cách thu khí HCl

trong phòng thí nghiệm

Bài tập này yêu cầu học sinh nắm được tính chất vật lí và tính chất hóa học của khí HCl

- Nặng hơn không khí, không tác dụng với không khí

- Tan nhiều trong nước

Trang 8

Na2SO3

SO2

SO2

Bông tẩm NaOH

Từ đó, học sinh thấy rằng phương pháp thu khí HCl trong phòng thí nghiệm là phương pháp đẩy không khí, được mô tả bằng hình 2 và trong thí nghiệm này phải dùng bông tẩm dung dịch NaOH để xử lý khí HCl khi đầy ống nghiệm sẽ bay ra phòng thí nghiệm

⇒ Chọn phương án Hình 2

2 Sử dụng bài tập hình vẽ để khắc sâu kiến thức về tính chất hóa học

Bài tập 5: Cho hình sơ đồ điều chế khí SO2 như hình vẽ: Giáo viên (GV) có thể nêu các câu hỏi cho học sinh (HS) thảo luận các vấn đề sau:

- GV: Hãy cho biết vì sao phải dùng bông tẩm

NaOH ở miệng bình thu khí?

- HS: Khí SO2 đầy thì sẽ thoát ra ngoài, gây độc

(SO2 là một khí độc)

⇒ dùng bông tẩm NaOH để hấp thu khí SO2 và

không cho khí SO2 thoát ra ngoài

- GV: Vì sao phải dùng dung dịch NaOH, nếu

dùng các dung dịch Ca(OH)2, H2SO4 thay cho

NaOH được không?

- HS: SO2 là một oxit axit nên nó phản ứng với

dung dịch kiềm, không phản ứng với axit nên

có thể thay NaOH bằng một dung dịch kiềm

khác như KOH, Ca(OH)2…

(2NaOH + SO2 → Na2SO3 + H2O và Ca(OH)2 + SO2 → CaSO3 + H2O)

Nhưng không thể dùng các axit như H2SO4 vì H2SO4 không phản ứng với SO2 nên không giữ được SO2

- GV: Khí SO2 không có màu vậy làm thế nào để biết khi nào thì SO2 đầy?

Đến đây đòi hỏi học sinh phải nhớ lại cách nhận ra khí SO2 một cách đơn giản nhất là dùng giấy quỳ tím ẩm Nếu SO2 lên đến miệng bình thì sẽ làm giấy quỳ chuyển sang màu hồng vì

SO2 khi tan trong nước tạo thành axit sunfurơ (SO2 + H2O  H2SO3)

Để kiểm tra các kiến thức đó, GV có thể hỏi dưới dạng trắc nghiệm :

Tính chất nào sau đây không phải là của SO2?

Nếu GV đặt câu hỏi dưới dạng trắc nghiệm thì khi đó sẽ chỉ có tác dụng kiểm tra kiến thức thuộc lòng của học sinh mà thôi

Qua ví dụ trên cho thấy việc giải bài tập bằng hình vẽ đã rèn cho học sinh cách suy luận, cách tái hiện lại các kiến thức về tính chất hóa học của SO2, đặc biệt là việc vận dụng tri thức khoa học vào thực tiễn Không những thế bài tập trên còn giáo dục học sinh về ý thức bảo vệ môi trường (qua việc xử lý không cho SO2 thoát ra trong phòng thí nghiệm, đảm bảo nguyên tắc an toàn thí nghiệm)

Trang 9

Bài tập 6: Cho hình vẽ sau:

Hình vẽ dụng cụ và hóa chất này dùng để

điều chế khí nào sau đây?

Lưu ý: (1) và (2) là các chất phản ứng với

nhau (không phải là chất xúc tác)

Để làm được bài tập này đòi hỏi HS phải biết suy luận theo các mức độ khác nhau:

- Với HS trung bình sẽ nắm được khí trên phải nặng hơn không khí không tan hoặc tan rất ít trong dung dịch H2SO4 đặc, không phản ứng với H2SO4 đặc Như vậy chỉ có

O2 và Cl2 thoả mãn (vì H2 nhẹ hơn không khí, H2S bị oxi hoá bởi H2SO4 đặc)

- Với học sinh khá hơn còn phân tích được dựa vào hình vẽ (1) và (2) là: Hai khí này phải điều chế được bằng cách cho một chất lỏng (hoặc dung dịch) tác dụng với một chất rắn mà không cần đun nóng Điều này chỉ có Cl2 thoả mãn với phản ứng:

2KMnO4 + 16HClđặc → 2KCl + 2MnCl2 + 5Cl2↑ + 8H2O

Với bài tập này, giáo viên có thể khai thác thêm ở học sinh một số kiến thức khác như sau:

- Tại sao phải ghi chú là (1) và (2) là chất phản ứng:

Với học sinh nắm chắc kiến thức sẽ biết ngay nếu không có dữ kiện này thì O2 vẫn thoả mãn với dung dịch (1) là dung dịch H2O2 và chất rắn (2) là MnO2 làm chất xúc tác

- Tại sao lại có bình số (3)?

Bình số (3) là bình rửa khí, có tác dụng làm khô khí Cl2 Đến đây tùy điều kiện tiết dạy giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh về cách làm khô các khí

Như vậy, bài tập này không những dùng củng cố cho học sinh về một số tính chất của O2, H2S, H2, Cl2 mà còn củng cố cho học sinh về cách thu khí, cách rửa khí, cách nhận biết khí đầy,

Thông qua những ví dụ trên cho ta thấy việc giải bài tập hình vẽ sẽ rèn cho học sinh cách suy luận, cách tái hiện các kiến thức về tính chất vật lí, tính chất hóa học, của các chất Hơn thế nữa một bài tập hình vẽ có thể khai thác được nhiều khía cạnh của các vấn đề hóa học và thông qua đó giúp học sinh khắc sâu và nhớ lâu kiến thức hơn

3 Sử dụng bài tập hình vẽ để hình thành và phát triển kỹ năng thực hành

Với bài tập 1 như trên, không chỉ giúp học sinh khắc sâu kiến thức hơn mà còn giúp

học sinh nhớ lại các cách thực hành thu chất khí

- Cách 1: Dời chỗ không khí: Thường sử dụng cho các khí có các đặc điểm sau:

+ Không bị oxi hóa trong không khí ở điều kiện thường

+ Nặng hay nhẹ hơn khá nhiều so với không khí

+ Có dấu hiệu để nhận biết khi nào khí đầy bình

Với khí nặng hơn không khí người ta sử dụng ống nghiệm lật ngửa, khí nhẹ hơn không khí người ta sử dụng ống nghiệm úp xuống Ngoài ra, một kỹ năng thực hành được hình thành quan trọng ở đây là khi thu khí phải để đầu vòi gần sát với đáy ống nghiệm

để hiệu suất thu khí cao hơn

Trang 10

- Cách 2: Dời chỗ nước: Thường sử dụng cho chất khí có các đặc điểm sau:

+ Không tan (hoặc ít tan) trong nước, không tác dụng với nước

+ Không tan (hoặc ít tan) trong một dung dịch phổ biến (ví dụ khí clo tan rất ít trong dung dịch NaCl bão hòa)

Tương tự với Bài tập 6 ở trên ta có thể rèn cho học sinh về một số kiến thức thực hành như:

- Phương pháp cho chất lỏng tác dụng với chất rắn

- Cách thu khí, cách nhận biết khí đầy

- Cách xử lí không cho khí thoát ra ngoài

- Cách rửa khí,

Bài tập 7: Để điều chế khí O2 trong phòng thí nghiệm người ta có thể nhiệt phân KMnO4 Dụng cụ vẽ nào đưới đây thích hợp với cách điều chế trên?

Trước khi giải các bài toán này, giáo viên cần kiểm tra học sinh một số kỹ năng như:

- Cách rửa, cách làm khô ống nghiệm và dụng cụ thủy tinh

- Một số kinh nghiệm bảo quản ống nghiệm và dụng cụ thủy tinh khi đun nóng, làm lạnh

- Kỹ thuật nung hỗn hợp chất phản ứng, cách thu khí và một số phương pháp thu khí Giáo viên có thể nêu ra hệ thống câu hỏi để hướng dẫn học sinh thảo luận để đi đến kết quả như sau:

+ GV: Để bảo quản ống nghiệm không bị vỡ khi đun nóng cần phải lưu ý những gì? + HS: Không nên làm lạnh đột ngột (nơi có nước hoặc để nước rơi vào)

+ GV: Nếu để ống nghiệm miệng hướng lên hoặc ngang bằng thì khi nung chất rắn hơi nước sẽ đi đâu?

+ HS: Hơi nước sẽ ngưng tụ lai và chảy xuống đáy ống nghiệm tại vị trí đun nóng Kết hợp với kiến thức về bảo quản ống nghiệm học sinh sẽ rút ra ngay được: Nếu để ống nghiệm miệng hướng lên hoặc ngang bằng với đáy thì sẽ dễ gây vỡ ống nghiệm khi nung chất rắn Vì vậy, học sinh sẽ chọn hình (2)

Qua bài tập này sẽ hình thành cho học sinh kiến thức thực hành hết sức quan trọng là: Khi nung chất rắn thì phải để đáy ống nghiệm phải hơi cao hơn miệng Bài tập này cũng đã hướng dẫn cho học sinh cách nung nóng để làm khô ống nghiệm

Ngày đăng: 31/03/2017, 16:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình vẽ dụng cụ và hóa chất này dùng để - Sử dụng bài tập hình vẽ trong chương trình hóa vô cơ lớp 10
Hình v ẽ dụng cụ và hóa chất này dùng để (Trang 9)
Hình vẽ bên có thể áp dụng để thu được những khí nào trong các khí sau đây? - Sử dụng bài tập hình vẽ trong chương trình hóa vô cơ lớp 10
Hình v ẽ bên có thể áp dụng để thu được những khí nào trong các khí sau đây? (Trang 14)
Bài 7: Hình bên mô tả thí nghiệm điều chế Cl 2  trong phòng thí nghiệm - Sử dụng bài tập hình vẽ trong chương trình hóa vô cơ lớp 10
i 7: Hình bên mô tả thí nghiệm điều chế Cl 2 trong phòng thí nghiệm (Trang 15)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w