Vì vậy trong quá trình dạy tác phẩm văn học chúng ta cần chútrọng trang bị cho học sinh những tri thức về văn học sử để khám phá vẻ đẹp củavăn học nghệ thuật.. Để nghiên cứu, tìm tòi các
Trang 1Sáng kiến kinh nghiệm_Vi Thị Huệ
I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Mở đầu bài tiểu luận “ Tiếng nói văn nghệ”- 1948, Nguyễn Đình Thi đã viết: “Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ” Tác giả khẳng định các tác phẩm nghệ thuật đều lấy chất liệu từ hiện
thực khách quan của đời sống Đó là những sự việc, những câu chuyện mà tác giảtừng nghe hoặc chứng kiến, nhưng khi đưa vào tác phẩm, tác giả đã có sự lựachọn, sắp xếp theo mục đích của mình chứ không phải là sự sao chép giản đơn,
“chụp ảnh” nguyên xi thực tại ấy Nội dung của tác phẩm văn nghệ thường là cácvấn đề chủ yếu trong xã hội Khi sáng tạo một tác phẩm, dù chất liệu chỉ là nhữngcâu chuyện về những con người sống ở ngoài đời nhưng nghệ sĩ đã gửi vào đó mộtcái nhìn, một lời nhắn nhủ của riêng mình Đó là tư tưởng, tấm lòng của ngườinghệ sĩ Đó là cách giải quyết các vấn đề mà tác giả đề cập đến trong tácphẩm Qủa đúng như vậy, văn học nghệ thuật có chức năng phản ánh hiện thựccuộc sống xã hội Tác phẩm văn học chính là đứa con tinh thần của nhà văn Tácphẩm được viết ra thời đại nào thường mang dấu ấn lịch sử và những biến động xãhội của thời đại đó Vì vậy trong quá trình dạy tác phẩm văn học chúng ta cần chútrọng trang bị cho học sinh những tri thức về văn học sử để khám phá vẻ đẹp củavăn học nghệ thuật Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy ở học sinhTHCS các em khá thờ ơ với hoàn cảnh lịch sử cũng như thời gian tác phẩm vănhọc ra đời, bởi vậy mà khả năng cảm thụ tác phẩm văn học và kĩ năng nghị luậnvăn học chưa có chiều sâu Để nghiên cứu, tìm tòi cách dạy hữu hiệu, cách truyềncảm hứng văn chương tới các em, giúp các em học tốt hơn, cảm thụ tốt hơn các tác
phẩm văn học tôi đã thực hiện đề tài sáng kiến cải tiến kỹ thuật: Trang bị cho học sinh trung học cơ sở tri thức văn học sử để khám phá vẻ đẹp văn học nghệ thuật.
2 Mục đích nghiên cứu.
Văn học có một ưu thế đặc biệt là văn học tác động trước nhất vào tìnhcảm, vào nhận thức của con người Mà sự tác động này lâu dài nhất và bền chặtnhất Trong thực tế, người giáo viên ngữ văn phải nắm chắc tri thức văn học sử đểthông qua đó giúp học sinh khám phá nét đẹp của văn học nghệ thuật nói chung vàhình tượng nghệ thuật nói riêng
3 Đối tượng nghiên cứu.
Đề tài “Trang bị cho học sinh THCS tri thức về văn học sử để khám phá
vẻ đẹp của văn học nghệ thuật” được nghiên cứu, thực hiện bồi dưỡng cho học
sinh ở cấp THCS, đặc biệt là học sinh 9 trường THCS Minh Sơn là lớp tôi trực
Trang 2tiếp giảng dạy (Dành cho học sinh đại trà và cả ôn thi học sinh giỏi bộ môn Ngữvăn).
4 Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài được nghiên cứu trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn và đưa vàothực hiện tại trường THCS xã Minh Sơn Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện cókiểm tra và điều chỉnh kịp thời
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu khảo sát, nắm bắt tình hình thực tiễn và đúc rút kinhnghiệm thực tiễn giảng dạy hàng năm để tìm ra giải pháp chung
Đề tài được thực hiện bằng cách đem lý thuyết áp dụng vào thực tế Vì vậycác phương pháp được áp dụng chủ yếu:
+ Phương pháp thuyết trình giảng giải;
+ Vấn đáp, gợi mở, tìm tòi;
+ Hướng dẫn thực hành,
+ Luyện nói và luyện viết
II PHẦN NỘI DUNG
1 Cơ sở lý thuyết
Mặc dù tri thức văn học sử có vai trò rất quan trọng trong hoạt động đọc hiểu các tác phẩm văn học; tuy nhiên, việc vận tri thức văn học sử vào dạy đọc -hiểu bộ phận văn học này ở trường THCS còn gặp rất nhiều khó khăn
-Trong nội bộ môn Ngữ văn, văn học sử là một trong những nội dung HS íthứng thú nhất Bởi đây là những tri thức mang tính khái quát cao, cung cấp dunglượng thông tin lớn gắn với nhiều thành phần kiến thức liên ngành và liên môn.Chính vì vậy, thường khô khan và khó tiếp thu hơn so với các bộ phận tri thứckhác
2 Cơ sở thực tiễn: (Thực trạng vấn đề dạy – học ngữ văn ở trường THCS xã Minh Sơn)
2.1 Kết quả khảo sát
* Tình hình dạy các tiết văn học
Trang 3- Khi giảng các tác phẩm văn học, một số giáo viên thường không chú tâmvào các bài khái quát, các phần mục tìm hiểu tác giả, tác phẩm, hoặc nhắc đến mộtcách qua loa, sơ sài, không liên hệ với phần văn bản và cũng không phục vụ choviệc đọc - hiểu văn bản Bản thân người dạy cũng chưa thấy hết được mối quan hệgắn bó chặt chẽ, tác động lẫn nhau giữa tri thức văn học sử với tri thức đọc - hiểutác phẩm văn học Chưa xác định đúng vai trò của tri thức văn học sử trong dạyđọc - hiểu tác phẩm văn học nên một số giáo viên thường có xu hướng tách rờivăn bản ra khỏi sợi dây liên hệ với yếu tố bên ngoài tác phẩm như: tác giả, hoàncảnh sáng tác, bối cảnh xã hội ; chỉ chú trọng đi sâu tìm hiểu nội dung, hình thứcbên trong văn bản.
- Bên cạnh đó, sức ép của thời gian so với dung lượng kiến thức quá lớn màgiáo viên phải thực hiện trong giờ đọc - hiểu cũng là một trở ngại không nhỏ đốivới việc vận dụng tri thức văn học sử Không những thế, so với các môn học kháctrong nhà trường, đồ dùng dạy học của môn Ngữ văn rất ít ỏi và không phong phú:Thường chỉ một vài bức tranh minh họa tác phẩm, tranh chân dung một số tác giảlớn như Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh,
- Mặt khác, tài liệu tham khảo môn Ngữ văn trong nhà trường rất hạn hẹp,hầu hết chỉ trang bị cho người dạy SGK và sách giáo viên, thiếu các tài liệu nghiêncứu, hướng dẫn về phương pháp cần thiết Do vậy đã hạn chế tầm nhận thức vàphương pháp dạy học của giáo viên trong giảng dạy
* Tình hình học các tiết văn học
- Do sách giáo khoa hiện nay biên soạn theo quan điểm “tam thể nhất hợp” không theo từng giai đoạn văn học Vì vậy khi dạy văn giáo viên thường băm náttác phẩm để tìm ra cho được cái tích hợp ở trong đó mà quên đi giá trị tư tưởngcủa tác phẩm Cho nên khi làm bài học sinh rất lúng túng và thường mắc phảinhững lỗi sau:
+ Thường theo văn mẫu rồi ghi lại một cách nguyên xi hoặc cắt xén mà tahay gọi là chiết ghép
+ Phân tích nhưng thờ ơ với hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
+ Lôi tác phẩm về hiện tại để phân tích, dễ dẫn đến hiện đại hoá tác phẩm,hiện đại hoá nhân vật
2.2 Kết quả kiểm tra đánh giá:
Trước khi thực hiện đề tài trên, tôi đã tiến hành kiểm tra tình hình,thực trạng của học sinh qua quá trình đọc, hiểu văn bản và bằng bài kiểmtra, khảo sát chất lượng đầu năm, cụ thể kết quả như sau:
Trang 4sinh: 48 em 4= 8,3% 13 = 27,1% 25 = 52,1% 6 = 12,5%
- Đội tuyển học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 gồm 4 em
Từ cơ sở thực tiễn trên, tôi nhận thấy để góp phần nâng cao chất lượng bộmôn Ngữ văn đồng thời cung cấp cho học sinh những kiến thức văn học sử cơ bản nhằm giúp học sinh yêu thích và cảm thụ đúng nội dung, ý nghĩa tác phẩm văn họcnghệ thuật Vì vậy, trong các giờ dạy Ngữ văn cần giúp học sinh nắm bắt kiếnthức văn học sử Dạy để học sinh nắm được hoàn cảnh xã hội mà tác phẩm đó rađời Thấy được tác phẩm văn học là tấm gương phản chiếu hiện thực xã hội đươngthời Thấy được giá trị tư tưởng của tác phẩm mà tác giả gửi gắm vào trong đó
3 Nội dung đề tài, Sáng kiến nghiên cứu thực hiện
3.1 Những vấn đề cần giải quyết: giáo viên cần giúp học sinh hiểu:
- Chức năng phản ánh hiện thực cuộc sống xã hội của văn học nghệ thuật( qua các giai đoạn phát triển của văn học): Như trên đã nói mỗi tác phẩm vănhọc chính là đứa con tinh thần của nhà văn Tác phẩm được viết ra thời đại nàothường mang dấu ấn lịch sử và những biến động xã hội của thời đại đó Vì vậytrong quá trình dạy tác phẩm văn học giáo viên cần chú trọng trang bị cho học sinhnhững tri thức về văn học sử để giúp các em khám phá vẻ đẹp của văn học nghệthuật, hiểu tác phẩm văn học nghệ thuật thực sự là sợi dây đồng cảm kì diệu giữanghệ sĩ với bạn đọc thông qua những rung động mãnh liệt, sâu xa của trái tim, nógiúp cho đời sống tinh thần của con người phong phú hơn, đẹp đẽ hơn
- Ưu thế đặc biệt của văn học là tác động trước nhất vào tình cảm, vào nhậnthức của con người: người giáo viên ngữ văn phải nắm chắc tri thức văn học sử đểthông qua đó giúp học sinh khám phá nét đẹp của văn học nghệ thuật nói chung vàhình tượng nghệ thuật nói riêng cũng như khả năng kì diệu của nó tác động đếnvới người đọc, người nghe Bởi con đường của văn nghệ đến với người đọc là conđường từ trái tim đến với trái tim Tác phẩm văn học chứa đựng tình cảm yêu ghét,vui buồn của con người trong đời sống thường ngày Tư tưởng của nó không khôkhan, trừu tượng mà trữ tình, lắng sâu, thấm thía những cảm xúc, những nỗi niềm
- Cách áp dụng kiến thức văn học sử vào cảm thụ văn học ( nhất là khi làmbài văn biểu cảm về tác phẩm văn học ở lớp 7 và nghị luận văn học ở lớp 9) củahọc sinh: Qua phần tựluận trong các bài kiểm tra 45 phút, kiểm tra học kì, đặcbiệt qua các bài viết tập làm văn thì có thể khẳng định rằng phần lớn HS chưabiết cách áp dụng văn học sử vào cảm thụ tác phẩm văn học, hầu như các emchưa làm nổi bật được giá trị tư tưởng của tác phẩm mà tác giả gửi gắm vàotrong đó mà chỉ cảm nhận với ý kiến chủ quan của chính mình Vì vậy bài cảm thụchưa có sức thuyết phục, chưa cuốn hút, thiếu hấp dẫn, thiếu cảm xúc…nhiềukhi chỉ lànhững văn bản sao chép máy móc, thậm chí chép mà không hiểuvấn đề
Trang 53.2 Các vấn đề nghiên cứu
Để giúp học sinh THCS hiểu rõ hơn đồng thời khám phá vẻ đẹp của các tácphẩm văn học nghệ thuật thông qua việc hiểu và nắm bắt kiến thức văn học sử(Chủ yếu là văn học viết Việt Nam), trong đề tài tôi trình bày các nội dung sau:
a) Các giai đoạn phát triển của văn học viết Việt Nam để áp dụng vào tìm hiểu các tác phẩm văn học trong từng giai đoạn.
b) Kĩ năng tìm hiểu các kiến thức văn học sử và vận dụng kiến thức văn học
Vì vậy văn học giai đoạn này tập trung đề cao chủ nghĩa yêu nước đólà:
- Khẳng định chủ quyền của đất nước qua bài “Sông núi nước Nam” của LíThường Kiệt:
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
Hay:
Như nước đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
(Bình Ngô đại cáo-Nguyễn Trãi)
- Tự hào về truyền thống đấu tranh chống xâm lược cha ông :
Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
Trang 6Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có.
(Bình Ngô đại cáo-Nguyễn Trãi)
-Tố cáo tội ác của giặc:
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế
Gây binh kết oán trải hai mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi
(Bình Ngô đại cáo-Nguyễn Trãi)
- Căm thù giặc, sẵn sàng xả thân vì đất nước: như “Hịch tướng sĩ” -TrầnQuốc Tuấn
b Giai đoạn từ thế kỷ XVI -> thế kỷ XVII:
Học sinh phải nắm hoàn cảnh lịch sử và xã hội: Đây là giai đoạn xã hộiphong kiến suy tàn, các thế lực phong kiến gây bè kéo cánh chém giết lẫn nhau tạonên các cuộc chiến tranh phi nghĩa như: Chiến tranh Trịnh -Mạc, chiến tranh Trịnh
- Nguyễn kéo dài hàng trăm năm trời khiến cho xương chất thành núi máu chảythành sông
Về văn học giai đoạn này chủ yếu đề cao tư tưởng “Nhân giả vô địch”, tốcáo chiến tranh bênh vực cho người dân vô tội Điển hình cho các tác giả và tácphẩm giai đoạn này gồm có: Nguyễn Bỉnh Khiêm với “Hữu cảm”, hay Nguyễn Dữvới “ Chuyện người con gái Nam Xương”…v.v…
c Giai đoạn thế kỷ XVIII -> đến năm 1858:
Chế độ phong kiến đã đi vào con đường mục ruỗng thối nát Vua quan lo ănchơi xa hoa trụy lạc đời sống nhân dân cực khổ trăm bề Bên cạnh đó lễ giáophong kiến hà khắc đã tước đoạt quyền sống của người phụ nữ, biến họ trở thànhnhững món hàng, những thứ đồ chơi không hơn không kém Đồng tiền đã ngự trịlên nhân phẩm và lương tâm con người, khiến cả xã hội phải chạy theo tiền sốngngược với lương tâm Văn học giai đoạn này chủ yếu tập trung đề cao chủ nghĩanhân đạo gồm có bốn vấn đề sau:
- Lên án các thế lực chà đạp lên quyền sống con người, điển hình là nhân vậtThuý Kiều Một người con gái tài sắc vẹn toàn thế nhưng bị cái xã hội bất công ấy
xô đẩy đưa đến cho nàng một cuộc đời đầy giông bão Vào giai đoạn này thế lựcđồng tiền đã len lỏi khắp mọi ngõ ngách cuộc sống Biến những người như MãGiám Sinh thành những kẻ lưu manh với những hành động táng tận lương tâm
Trang 7Biến những người cầm cân nảy mực của xã hội thành những kẻ “Đầu trâu mặtngựa” v.v…Đúng như nhà thơ Nguyễn Du đã viết :
Một ngày lạ thói sai nha Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.
Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn Làn thu thuỷ, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh Một hai nghiêng nước nghiêng thành…
Không chỉ có ca ngợi vẻ đẹp mà Nguyễn Du còn ca ngợi phẩm chất tốt đẹpcon người đó là tình thương cha mẹ, sự thuỷ chung với người yêu:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng Tin sương luống những rày trông mai chờ
Chân trời góc bể bơ vơ Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Một giá trị nhân đạo đáng chú ý của văn học giai đoạn này, đó là sự thôngcảm, thương cảm cho số phận con người Ở “Truyện Kiều” của Nguyễn Du hay
“Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu ta đều thấy rất rõ Hãy lắng nghe nướcmắt của Tố Như đang chảy trên từng trang viết :
Rường cao rút ngược giây oan
Trang 8Dẫu là đá cũng nát gan lọ người Mặt trông đau đớn rụng rời Oan này còn một kêu trời nhưng xa.
Một giá trị nhân đạo nữa mà văn học giai đoạn này đề cập đó là nói lên niềm
mơ ước một cuộc sống tốt đẹp và công bằng Nhân vật đại diện cho công lý đó là
Từ Hải, Lục Vân Tiên những con người dám “Chọc trời khuấy nước” đạp bằng sựbất công để tìm công lý
d Giai đoạn 1858 -> 1930:
- Hoàn cảnh lịch sử: Thực dân pháp xâm lược nước ta triều đình nhàNguyễn đầu hàng Hưởng ứng chiếu cần vương của Tôn Thất Thuyết phong tràochống pháp nổ ra khắp nơi, nhưng kết quả đều thất bại Pháp lần lượt bình địnhnước ta và tiến hành khai thác thuộc địa Pháp mở một số trường học, văn hoáphương Tây được du nhập vào nước ta
- Văn học giai đoạn này chủ yếu tập trung tố cáo tội ác của giặc Pháp, kêugọi nhân dân đấu tranh, ca ngợi những tấm gương hy sinh vì đất nước Tác giả tiêubiểu là Nguyễn Đình Chiểu với các bài “Chạy giặc”, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”.Nhân vật trong tác phẩm là những người nông dân bình dị, vì yêu nước căm thùgiặc mà đứng lên chống pháp:
- Sau khi bình định xong nước ta, để bình định bản xứ Pháp đã mở trườngđào tạo một số trí thức tây học Dưới tác động của tầng lớp trí thức này, ở nước ta
đã xuất hiện một phong trào “ tây hoá”, vì thế là nho học đã nhường chỗ cho tâyhọc Nhà thơ Nguyễn Bính đã nói về sự thay đổi nhanh chóng này:
Hôm qua em đi tỉnh về Đợi em ở mãi con đê đầu làng Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi Nào đâu cái yếm vải sồi Cái dây lưng đụi nhuộm hồi sang xuân
- Vì vậy khi dạy bài thơ “Ông Đồ” ta phải hiểu được tâm trạng của tác giả
Đó là tâm trạng nuối tiếc cho một thời vàng son của nho học và tâm trạng chua xóttrước sự lạc lõng của chữ nho trong xã hội đang ồ ạt bị tây hoá.Tâm trạng đó cũngđược Tú Xương phản áng qua mỗi trang viết của ông :
Nào có ra gì cái chữ nho Ông nghè ông cống cũng nằm co
Trang 9- Phải nói rằng ở giai đoạn này mọi vấn đề thi cử đều đươc định giá bằngtiền Vì vậy các tri thức nho học họ chán chường trước cái xã hội ấy Chúng ta sẽhiểu hơn qua bài thơ của Nguyễn Khuyến:
Thằng bán tơ kia giở mối ra Làm cho bận đến cụ viên già
Có tiền việc ấy mà xong nhỉ Đời trước làm quan cũng thế a !
e Giai đoạn 1930-> 1945:
Đây là giai đoạn Đảng cộng sản ra đời lãnh đạo nhân dân đấu tranh Tạonên các cao trào cách mạng như Xô viết Nghệ tĩnh 1930-1931, phong trào mặt trậnbình dân 1936-1939 Vì vậy văn học giai đoạn này bị phân hoá thành ba dòng vănhoc:
+ Dòng văn học lãng mạn: Đây là dòng văn học có vai trò cải tổ nền vănhọc nước ta Nó phá bỏ phương pháp sáng tác cũng như đề tài sáng tác cũ tạo nênmột bước nhảy vọt cho thơ văn Việt Nam Nó để lại nhiều tác phẩm sông mãi vớithời gian Đây là thời kỳ xuất hiện nhiều cây bút tài hoa như: Thạch Lam, Thế Lữ,Nguyễn Bính, Xuân Diệu …v.v…
+ Dòng văn học hiện thực: Vào giai đoạn này do chính sách bóc lột hà khắccủa chế độ thực dân nửa phong kiến, làm cho đời sống nhân dân cùng cực Họ đã
bị bần cùng hoá như lão Hạc hay bị lưu manh hoá như Chí Phèo Vì vậy đã cónhiều tác giả dám đứng lên dùng ngòi bút của mình tố cáo giai cấp thống trị như:
“Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan, “ChíPhèo” của Nam Cao…v.v…
+ Dòng văn học cách mạng: chủ yếu là do các chiên sĩ cộng sản viết ranhằm mục đích chỉ cho quần chúng thấy được nguyên nhân của sự nghèo khổ,thấy được kẻ thù của dân tộc, kêu gọi nhân dân vùng lên đâú tranh:
Hỡi anh chị em Nam Việt Nông nỗi này ai biết chăng ai ?
Đã non tám chục năm trời Làm thân trâu ngựa cho loài chó dê ( Bài ca cách mạng)
Hoặc nói về ý chí buất khuất của người chiến sĩ:
Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu Dấn thân vô là phải chịu tù đày,
Là gươm kề tận cổ súng kề tai,
Trang 10Là thân sống chỉ coi còn một nửa.
(Trăng trối-Tố Hữu)
Thể hiện tinh thần lạc quan cách mạng:
Rồng quấn vòng quanh chân với tay Trông như quan võ quấn tua vai Tua vai quan võ bằng kim tuyến Tua của ta là một sợi gai
(Dây trói- Hồ Chí Minh)
g-Giai đoạn 1946-> 1954:
- Về lịch sử, cách mạng tháng Tám thành công mở ra một trang sử mới chodân tộc ta Nhưng chính quyền non trẻ đứng trước nhiều thử thách lớn Ngân khốnhà nước trống rỗng, đất nước vừa trải qua nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu, 95%dân số mù chữ, thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta
Nghe theo lời kêu gọi của Bác cả dân tộc lên đường đi kháng chiến:
Ai có súng dùng súng
Ai có gươm dùng gươm
Và đoàn quân vệ quốc lên đường (Tố Hữu)
Trong kháng chiến người lính là “Điểm tựa” của lịch sử:
Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa Vui gì hơn bằng người lính đi đầu Trong đêm tối tim ta làm ngọn lửa (Tố Hữu)
Vinh dự là vậy, thế nhưng trong cuộc kháng ấy người lính phải trải muônngàn gian khổ khó khăn Từ những miền quê nghèo họ đi kháng chiến mang theonhững gì ở nhà họ có :
Chiếc xắc mây anh mang
Em nách mo cơm nếp Lúa níu anh trật dép Anh cúi sửa vội vàng
(Thăm lúa-Trần Hữu Thung)