Nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng như vậy của việc sửdụng TBDH trong giảng dạy bộ môn Vật lí nói chung và Vật lí lớp 9 nói riêng, tôi đã chọn đề tài “ Rèn kĩ năng sử dụng thiết bị th
Trang 1Rèn kĩ năng sử dụng thiết bị thí nghiệm môn Vật lí cho học sinh lớp 9 Trường THCS
xã Minh Sơn bằng phương pháp thí nghiệm Vật lí”- Đoàn Thị Bích Hạnh
MỤC LỤC
QUI ƯỚC VIẾT TẮT 2
I PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài, SKCTKT 3
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
II.PHẦN NỘI DUNG 1 Cơ sở lí thuyết 5
2 Cơ sở thực tiễn .7
3 Nội dung đề tài, SKCTKT 9
4 Các giải pháp thực hiện 9
5 Kết quả thực hiện 25
III PHẦN KẾT LUẬN 1 Những kết luận, đánh giá cơ bản nhất vể đề tài, SKCTKT 27
2 Các đề xuất, kiến nghị 28
IV DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 2QUI ƯỚC VIẾT TẮT
Trang 3I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài, sáng kiến cải tiến kĩ thuật:
Việc đổi mới PPDH hiện nay là một yêu cầu hàng đầu đặt ra chongành giáo dục ở tất cả các quốc gia trên thế giới Trong thời đạibùng nổ thông tin khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão nhiều trithức đem dạy ở bậc phổ thông đã nhanh chóng bị lạc hậu Vì vậycần phải lựa chọn nội dung dạy như thế nào để HS không nhữngchiếm lĩnh được tri thức mới đồng thời phải hình thành năng lực tựhọc, tự phát triển Vì vậy đổi mới PPDH phải theo xu hướng tích cựchoá quá trình nhận thức của HS, năng lực thực hành, năng lực tựnghiên cứu Muốn đạt được hiệu quả đó thì không có cách nào khác
là phải nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH trong giáo dục
TBDH là phương tiện và là một trong các điều kiện cần thiết để
GV thực hiện được một trong các nội dung giáo dục, giáo dưỡng vàphát triển trí tuệ, khơi dậy tố chất thông minh của HS Trong quá trìnhdạy học TBDH vừa là công cụ giúp GV truyền tải thông tin, điều khiểnhoạt động nhận thức của HS, vừa là nguồn tri thức đa dạng vàphong phú
Nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng như vậy của việc sửdụng TBDH trong giảng dạy bộ môn Vật lí nói chung và Vật lí lớp 9
nói riêng, tôi đã chọn đề tài “ Rèn kĩ năng sử dụng thiết bị thí
nghiệm môn Vật lí cho học sinh lớp 9 Trường THCS xã Minh
Sơn bằng phương pháp thí nghiệm Vật lí” làm nội dung đề tài
sáng kiến cải tiến kĩ thuật của mình
2 Mục đích nghiên cứu:
Hình thành cho HS kĩ năng sử dụng thiết bị thí nghiệm môn Vật lí
9 thông qua phương pháp thí nghiệm vật lí, từ đó vận dụng thànhthạo và linh hoạt trong việc tiến hành một thí nghiệm Vật lí, nângcao hiệu quả học tập của bộ môn, giúp các em ghi nhớ kiến thức lâudài và vững chắc trong quá trình học tập, hình thành năng lực tự học,
tự phát triển
3 Đối tượng nghiên cứu: Thiết bị thí nghiệm môn vật lí Lớp 9
4 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện với học sinh khối
9 trường THCS xã Minh Sơn- Hữu Lũng - Lạng Sơn
Trang 45 Phương pháp nghiên cứu :
Quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
-Nghiên cứu lí luận: Các tài liệu nói về TBDH, liên quan đến việc phương pháp sử dụng TBDH môn Vật lí
- Phương pháp điều tra sư phạm:
+ Điều tra trực tiếp bằng dự giờ phỏng vấn
+ Điều tra gián tiếp bằng cách sử dụng phiếu điều tra
- Phương pháp quan sát sư phạm
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm : Áp dụng đề tài vào thực tếdạy và học, từ đó thu thập thông tin để điều chỉnh cho phù hợp với mục đích và đối tượng nghiên cứu
II PHẦN NỘI DUNG
1 Cơ sở lí thuyết :
Hiện nay có nhiều tên gọi khác nhau về TBDH Các tên gọi sauđây thường được sử dụng trong ngôn ngữ nói và viết hiện nay:
-Thiết bị giáo dục
Trang 5- Đồ dùng dạy học
- Thiết bị dạy học
- Dụng cụ dạy học
- Phương tiện dạy học
Có nhiều định nghĩa về TBDH, song dấu hiệu chung có thểhiểu là TBDH là tất cả những phương tiện vật chất cần thiết cho giáoviên và học sinh tổ chức và tiến hành hợp lí, có hiệu quả quá trìnhgiáo dưỡng và giáo dục ở các môn học nói chung và môn vật lí nóiriêng (theo Lotx Klinbơ- Đức)
Theo các chuyên gia thiết bị giáo dục Việt Nam: TBDH là thuậtngữ chỉ một vật thể hoặc hoặc một tập hợp đối tượng vật chất màngười GV sử dụng với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt độngnhận thức của HS, còn đối với HS thì đó là nguồn tri thức, là cácphương tiện giúp HS lĩnh hội các khái niệm, định luật, thuyết khoahọc, hình thành ở họ các kĩ năng, kĩ xảo, đảm bảo cho việc thựchiện mục tiêu dạy học
Còn nói đến vai trò của TBDH, V.P Golov đã nêu rõ: "Phươngtiện dạy học là một trong những điều dạy học quan trọng nhất đểthực hiện nội dung giáo dưỡng, giáo dục và phát triển HS trong quátrình dạy - học"
TBDH hướng dẫn hoạt động nhận thức của HS thông qua việcđặt các câu hỏi gợi mở của GVđể :
- Nhận biết tên gọi, tính năng của thiết bị
- Lắp ráp thiết bị để tiến hành thí nghiệm
- Nhận biết thu thập và phân tích kết quả thí nghiệm
Thông qua làm việc với TBDH, HS phát triển khả năng tự lực,ghi nhớ kiến thức, kĩ năng:
- Kĩ năng sử dụng các thiết bị kĩ thuật
- Kĩ năng thu thập dữ liệu
- Kĩ năng quan sát, phân tích, tổng hợp và kết luận
Sử dụng các TBDH trong khi tiến hành các thí nghiệm, thựchành giúp rèn luyện tính kiên trì, cẩn thận, khéo léo, cần cù và trungthực của HS
Trang 6Việc sử dụng hiệu quả các TBDH phụ thuộc rất nhiều vàotrình độ sự sáng tạo mang tính nghệ thuật của mỗi GV và sự hỗ trợhiệu quả của viên chức thiết bị trường học Giá trị lớn nhất củaphương tiện dạy học nằm ở sự tác động của chúng tới các giácquan học sinh nhất là thị giác và thính giác Các nhà nghiên cứukhoa học đã tổng kết mức độ ảnh hưởng của các giác quan tới trình
độ tiếp thu tri thức của học sinh là
20 % nhận được qua quá trình nghe giảng
30 % nhận được qua quá trình nhìn được
50 % nhận được qua quá trình nghe và nhìn được
80 % nhận được qua quá trình nói
90 % nhận được qua quá trình nói và làm
Điều đó khẳng định sự cần thiết hỗ trợ đắc lực của TBDH trong cácgiờ học , nó không chỉ mang lại hiệu quả cao cho các hoạt động dạyhọc mà nó còn kích thích trí tò mò, lòng ham hiểu biết tham vọngkhám phá khoa học, gây hứng thú học tập cho học sinh, làm chokhông khí giờ học sôi nổi, vui vẻ, hào hứng, thoải mái hơn, kết quảchất lượng giờ học sẽ được nâng cao Sử dụng hợp lí đúng lúc,đúng chỗ sẽ mang lại hiệu quả cao trong quá trình dạy học Nếukhông biết cách sử dụng hoặc sử dụng không đúng lúc đúng chỗđúng mục đích, không hợp lý thì các phương tiện dạy học sẽ có tácdụng ngược lại, nó trở thành vật lạ đối với học sinh làm phân tán quátrình học tập của học sinh; Nếu thực hiện không thành công thì cácthí nghiệm sẽ trở thành phản khoa học, làm mất lòng tin với học sinh
và gây khó khăn trong việc truyền thụ kiến thức của giáo viên
2 Cơ sở thực tiễn và thực trạng của việc hướng dẫn HS
sử dụng TBDH môn Vật lí ở trường THCS xã Minh Sơn:
2.1 Cơ sở thực tiễn của nhà trường :
Trường THCS Minh Sơn có cơ sở vật chất phục vụ cho việcgiảng dạy tương đối đầy đủ, có phòng học bộ môn riêng dành chomôn Vật lí, đồ dùng và sách giáo khoa tương đối đầy đủ Tuy nhiêncác TBDH của môn Vật lí hiện tại được sắp xếp chung trong một khochứa với diện tích nhỏ, chưa đảm bảo sạch sẽ và có thể sắp xếpđược gọn gàng khoa học, thuận tiện cho quá trình lấy và sử dụng
Trang 7Các em HS nhìn chung ngoan, tương đối chịu khó học tập Cóđầy đủ sách vở, đồ dùng học tập phục vụ cho bộ môn ngay từ đầunăm.
Đội ngũ giáo viên giảng dạy bộ môn Vật lí có 6 đồng chí
2.2.Thực trạng việc hướng dẫn và làm thí nghiệm Vật lí của giáo viên và học sinh trường THCS Minh Sơn
Qua thực tế cho thấy những năm gần đây việc dạy học môn Vật
lí đã có những bước tiến đáng kể về nhận thức, nội dung và phươngpháp dạy học Song bên cạnh đó mặc dù là một môn bộ môn khoahọc thực nghiệm nhưng việc dạy học môn Vật lí ở nhà trường vẫncòn tồn tại tình trạng:
- Một số các bài dạy chưa có đủ dụng cụ thí nghiệm cần thiết chohọc sinh
- Kĩ năng làm thí nghiệm của học sinh vẫn còn hạn chế
- Dụng cụ thí nghiệm còn thiếu hoặc không đồng bộ, chất lượngkém
- Trường chưa có cán bộ phụ trách phòng thí nghiệm được đàotạo có chuyên môn
- Một số giáo viên không quan tâm đúng mức đến việc sử dụngTBDH trong quá trình lên lớp, ngại làm thí nghiệm vì mất nhiều thờigian hoặc nếu có làm thì thường là làm thí nghiệm cho HS quan sát,không tổ chức cho HS được trực tiếp làm
Bản thân tôi, được sự quan tâm, động viên chỉ đạo sát sao củaBan giám hiệu, đồng thời xác định được vai trò quan trọng của TBDHđối với bộ môn, trong quá trình giảng dạy tôi luôn quan tâm đến sửdụng TBDH trong các giờ lên lớp, chú ý phát huy tối đa vai trò của
HS trong việc sử dụng TBDH để các em luôn hứng thú tích cực hơntrong mỗi giờ lên lớp Bên cạnh đó tôi còn tích cực làm thêm đồ dùngphục vụ công tác giảng dạy, vì vậy đã có thói quen sử dụng đồ dùngdạy học trong từng bài học, tiết học cũng như một số kinh nghiệmnhất định trong việc hướng dẫn HS có kĩ năng sử dụng TBDH
Về phía học sinh đa số các em ngoan, ý thức tốt có tư chất
để hiểu được cách làm thí nghiệm và làm thí nghiệm song kĩ nănglàm thí nghiệm của học sinh vẫn còn hạn chế Bên cạnh đó còn cómột số học sinh thiếu hứng thú với môn học, không tập trung, cònlàm việc riêng trong khi giáo viên hướng dẫn làm thí nghiệm Và hơn
Trang 8nữa do chưa định hình được ý đồ thí nghiệm, mục đích thí nghiệm vàchưa chú ý đến kết quả thí nghiệm dẫn đến các em chưa chủ độngđược trong khi làm thí nghiệm.
Có tình trạng như trên theo tôi xuất phát từ nguyên nhân là các
em chưa có được kĩ năng và phương pháp, chưa biết cách để thựchiện một thí nghiệm vật lí từ đó các em chưa có sự tập trung chú ýcần thiết khi làm thí nghiệm
Qua khảo sát thực tế trước khi bắt đầu thực hiện đề tài tôi thu được kết quả như sau:
Chưa làm được thí nghiệm
3.1 Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài
3.2 Cơ sở thực tiễn và thực trạng của việc hướng dẫn HS sửdụng TBDH môn Vật lí ở trường THCS xã Minh Sơn
3.3 Các giải pháp để thực hiện tốt phương pháp thí nghiệmVật lí đối với HS lớp 9 nhằm mục đích rèn kĩ năng sử dụng TBDHcho HS lớp 9 trường THCS Minh Sơn
Trang 9GV đặt câu hỏi để học sinh phát hiện được nội dung kiến thức cần nghiên cứu, từ đó tiếp tục nêu câu hỏi để học sinh nêu rõ mục đích của thí nghiệm là gì để học sinh hiểu được và tập trung vào mục đích đó.
Bước 2: Cho HS tìm hiểu đầy đủ chức năng của từng bộ phận
có trong dụng cụ thí nghiệm được sử dụng
Giáo viên giới thiệu đầy đủ dụng cụ trong thí nghiệm như tên gọi, đặc điểm mềm, dẻo, đàn hồi, chịu lửa, chịu lực, nhằm giúp các em hiểu được tác dụng của mỗi đồ dùng và sử dụng các thiết bị được hiệu quả và an toàn.
Ví dụ với đồ dùng bằng thuỷ tinh như thấu kính, kính lúp, cần phải nhẹ tay tránh bị vỡ; Cần thực hiện các biện pháp an toàn khi làm thí nghiệm phần điện hoặc điện từ học, chẳng hạn cần tránh ánh sáng đèn la de chiếu vào mắt vì rất nguy hiểm cho mắt; khi tiếp xúc mạch điện cần chú ý các điểm tiếp nối để đảm bảo an toàn điện,
Bước 3: Cho HS thảo luận về các bước của việc tiến hành,
những yêu cầu cần đo đạc hay quan sát trong mỗi bước thí nghiệmnày
+ Yêu cầu học sinh nêu trình tự tiến hành thí nghiệm Giáoviên chốt lại và truyền tải tới các em các bước tiến hành chi tiết ngắngọn
+ Giáo viên thao tác mẫu rõ ràng, không lúng túng để HS theo dõi.
+ Phát dụng cụ cho các nhóm: Nhóm trưởng nhận dụng cụ, phân công nhiệm vụ cho các thành viên.
+ Nhóm trưởng điều khiển nhóm tiến hành thí nghiệm Các nhóm học sinh tiến hành thí nghiệm (Theo các bước được thống nhất và được chuẩn bị trên bảng phụ hoặc phiếu giao việc của GV)
Lưu ý trong nhóm các HS đều phải được giao nhiệm vụ Giáo viên theo dõi chung và giúp đỡ nhóm gặp khó khăn, nếu cần thì giáo viên yêu cầu cả lớp ngừng thí nghiệm để hướng dẫn, bổ sung Cần tránh trường hợp một số em chuyên làm thí nghiệm, một số em chuyên ghi chép.
Bước 4: Xử lí kết quả thu được từ thí nghiệm, rút ra các kết luận về sự vật, hiện tượng hoặc quá trình vật lí như
là những kiến thức mới.
Cả nhóm cùng dựa vào kết quả thí nghiệm để thảo luận tìm ra kiến thức mới Với những thí nghiệm có tính toán
: Mỗi học sinh tính toán độc lập theo số liệu đã thu được và so sánh trong nhóm để kiểm tra lại.
Từng nhóm trình bày kết quả, các nhóm khác nêu câu hỏi traođổi, tranh luận để thống nhất
Chú ý : Trong phần này nếu kết quả thí nghiệm có sự sai số
nhỏ thì GV phải giải thích thật rõ cho các em để gây được niềm tincủa học sinh vào thí nghiệm Có thể đưa ra một số gợi ý về việc giảithích có sự sai số trong thí nghiệm như sau:
Kết quả thí nghiệm có sai số có thể do cách đặt mắt quan sátđọc kết quả Cũng có thể là do các thiết bị đo chỉ mang tính tươngđối đó cũng là nguyên nhân thường hay gặp ở các thí nghiệm Ví dụ:khi đặt mắt để đọc số chỉ của am pe kế, vôn kế không nhìn vuônggóc Hoặc có thể là do các thiết bị thí nghiệm lâu không dùng
Trang 10đến hoặc bảo quản không tốt dẫn đến các tính chất lý, hóa của nó bịảnh hưởng Ví dụ như : các điện trở nếu lâu không sử dụng đến thìgiá trị của nó không còn đúng giá trị đã ghi trên nhãn mác nữa Hoặccác vôn kế, ampe kế ở vật lý 7, 9 nếu lâu không dùng đến kết quả đocũng không còn chính xác do ảnh hưởng của môi trường bên ngoàidẫn đến điện trở của chúng bị thay đổi,
Trên cơ sở đó giúp học sinh tin tưởng vào khoa học và có ýthức, kinh nghiệm hơn khi xử lý các kết quả thí nghiệm
Bước 5 Tổng kết thí nghiệm:
- Giáo viên phân tích kết quả của học sinh và giải đáp thắc mắc.
- Cho học sinh tự đánh giá lẫn nhau về ý thức, tác phong tham gia thực hành.
- Giáo viên rút kinh nghiệm về các mặt như ý thức, thái độ, hiệu quả khi làm thí nghiệm của cả lớp.
4.2 Giải pháp thứ hai: Chuẩn bị chu đáo về các đồ dùng, thiết bị cần thiết cho thí nghiệm trước giờ lên lớp Hướng dẫn học sinh làm thực hành trước.
Phải chuẩn bị các bảng biểu ghi các bước tiến hành hoặc ghi
các số liệu đo được Nếu việc thực hiện thí nghiệm có nhiều bướcnhỏ thì nên chuẩn bị phiếu giao việc trong đó ghi chi tiết các bướcthực hiện và yêu cầu cho từng bước Ví dụ như:
THÍ NGHIỆM NGHIÊN CỨU SỰ TẠO RA ÁNH SÁNG MÀU BẰNG TẤM LỌC MÀU
Phiếu giao việc số 1 (dùng cho hoạt động 3)
Các em hãy thực hiện thí nghiệm lần lượt theo các bước sau, ghi kết quả quan sát được và hoàn thành nhận xét bằng cách điền vào chỗ trống “ ” :
Bước Nội dung công việc Người thực hiện Ghi chú
Trang 11Phiếu giao việc số 2 (dùng cho hoạt động 3)
Các em hãy thực hiện thí nghiệm lần lượt theo các bước sau, ghi kết quả quan sát được và hoàn thành nhận xét bằng cách điền vào chỗ trống “ ” :
Bướ
Người thực
1 Chiếu 1 chùm sáng đỏ qua tấm lọc màu
2 Chiếu 1 chùm sáng đỏ qua tấm lọc màu lục
->được ánh sáng màu Tiến
3 Chiếu 1 chùm sáng đỏ qua tấm lọc màu lam
->được ánh sáng màu Huyền
THÍ NGHIỆM NGHIÊN CỨU SỰ PHÂN TÍCH ÁNH SÁNG TRẮNG
Phiếu giao việc (dùng cho hoạt động 2)
Các em hãy thực hiện thí nghiệm lần lượt theo các bước sau, ghi kết quả quan sát được và hoàn thành nhận xét bằng cách điền vào chỗ trống “ ” :
-> sau lăng kính ta quan sát được
Dải màu này gồm
Nam
Trang 122 Chắn trước khe sáng tấm lọc màu đỏ -> thấy có
Bên cạnh đó để đạt được hiệu quả cao trong việc chuẩn bị, sử dụng và tiến hành thí nghiệm đặc biệt là trong các giờ thực hành tôi hướng dẫn học sinh làm thực hành trước Vào các buổi chiều trước những tiết học thực hành tôi cho một nhóm các em đến lớp và phòng thiết bị tự chuẩn bị dụng cụ, hướng dẫn cách sử dụng dụng cụ, như vậy đa số các
em đã biết mục tiêu của giờ thực hành sắp học Giáo viên hướng dẫn học sinh việc lắp ráp, cách tiến hành thí nghiệm, những lưu ý về cách sử dụng để đảm bảo an toàn cho người và dụng cụ tránh hỏng hóc trên cơ sở đó học sinh biết cách
sử dụng dụng cụ và chủ động hơn trong giờ thực hành hôm sau.
Và để thực hiện tốt công việc này, ngay từ đầu năm học trên cơ sở kiểm tra khảo sát, phân loại học sinh tôi đã cho thành lập nhóm cốt cán môn Vật lí ở mỗi đơn vị lớp, đồng thời phân công nhiệm vụ cho các nhóm học sinh cứ đến tiết học nào có thí nghiệm thì trước giờ vào lớp chịu trách nhiệm lên phòng thiết bị lấy đồ nghiệm đã chuẩn bị từ hôm trước Lớp trưởng chịu trách nhiệm phân công nhiệm vụ cho từng nhóm lần lượt theo tuần.
Với cách làm như vậy sẽ giúp các em rèn luyện kĩ năng quan sát, đo lường phổ biến và năng lực thực hiện những thí nghiệm vật lí tốt hơn trong giờ thực hành đồng thời khích lệ được tinh thần tập thể, ý thức trách nhiệm Giáo viên thì tiết kiệm được thời gian chuẩn bị, vận chuyển Thực tế khi tôi áp dụng biện pháp này các em tỏ ra rất hứng thú, thích được tận tay chọn dụng cụ thí nghiệm và tích cực hơn trong học tập.
4.3 Giải pháp thứ ba: Trao đổi trong tổ nhóm
Với mỗi thí nghiệm của bài học, tôi luôn suy nghĩ tới các tình huống không thành công, từ đó tìm nguyên nhân
để khắc phục và trao đổi với các đồng nghiệp về các tình huống này để rút kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau.
2 Ví dụ minh họa một số thí nghiệm cụ thể trong chương trình Vật lí 9
2.1-Ví dụ 1: Bài 1 “Sự phụ thuộc của cường độ dòng điện vào hiệu điện thế giữa hai đầu dây dẫn”
Thí nghiệm: Tìm hiểu sự phụ thuộc của I vào U giữa 2 đầu dây dẫn :
a) Khó khăn khi học sinh thực hiện:
Thao tác lắp mạch điện còn lúng túng
Trang 13Nhiều học sinh lắp sai chốt của am pe kế và vôn kế vào mạchđiện dẫn đến không đo được cường độ dòng điện và hiệu điện thế vìkim quay ngược.
b) Hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm theo trình tự sau để khắc phục sai sót trên:
+ Yêu cầu tìm hiểu sơ đồ mạch điện hình 1.1/sgk để hiểu rõcách mắc từng dụng cụ
+ Yêu cầu học sinh kể tên, nêu công dụng, cách mắc các dụng
cụ đó trong sơ đồ, bổ sung chốt dương (+), chốt (-) vào các dụng cụ
đo trên sơ đồ mạch điện Việc làm này sẽ giúp các em chú ý lắpđúng các chốt của am pe kế và vôn kế vào mạch điện khi tiến hànhthí nghiệm
* Mục đích thí nghiệm
+ Yêu cầu xác định mục đích thí nghiệm, đó là: Tìm hiểu sự phụthuộc của cường độ dòng điện vào hiệu điện thế giữa hai đầu dâydẫn
Bước 1: Mắc mạch điện theo sơ đồ hình 1.1/sgk ( chú ý các chốt của ampe kế và vôn kế)
Bước 2: Đo I tương ứng với U = 3V -> Ghi kết quả vào bảng 1Bước 3: Đo I tương ứng với U = 6V-> Ghi kết quả vào bảng 1Bước 4: Đo I tương ứng với U = 9V-> Ghi kết quả vào bảng 1Bước 5: Đo I tương ứng với U = 12V ->Ghi kết quả vào bảng 1 + Yêu cầu các nhóm nhận dụng cụ, phiếu giao việc, phân côngngười thực hiện và tiến hành thí nghiệm, ghi kết quả vào bảng 1