Mối quan hệ đầu tư theo chiều rộng và chiều sâu ĐTCR và ĐTCS là 2 hình thức của quá trình tái sản xuất mở rộng ĐTCR là nền tảng, là cơ sở, là bước đi đầu tiên ssể ĐTCS ĐTCR tích luỹ vốn
Trang 1BÀI TIỂU LUẬNTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH TẾ ĐẦU TƯ
-***** -Đề tài:
MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ THEO
CHIỀU RỘNG VÀ ĐẦU TƯ THEO CHIỀU SÂU
Giảng viên hướng dẫn : PGS Từ Quang Phương : TS Phạm Văn Hùng
Nhóm sinh viên : nhóm 14
Lớp chuyên ngành : kinh tế đầu tư 49D
Hệ : Chính quy
Hà nội, tháng 04 năm 2010
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương I : cơ sở lý luận đầu tư chiề rộng và đầu tư chiều sâu
I/ Những vấn đề cơ bản của đầu tư và phân loại đầu tư
1 Khái niệm về đầu tư và dầu tư phát triển
2 Đăc điểm của đầu tư phát triển
3 Vai trò của đầu tư phát triển
4 Phân loại đầu tư phát triển
II/ Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu
1 Đầu tư theo chiều rộng
Khái niệm đầu tư theo chiều rộng
Đặc điểm đầu tư theo chiều rộng
Ưu điểm
Nhược điểm
2 Đầu tư theo chiều sâu
khái niệm đầu tư theo chiều sâu
Đặc điểm đầu tư theo chiều sâu
Ưu điểm
Nhược điểm
3 Mối quan hệ đầu tư theo chiều rộng và chiều sâu
ĐTCR và ĐTCS là 2 hình thức của quá trình tái sản xuất mở rộng ĐTCR là nền tảng, là cơ sở, là bước đi đầu tiên ssể ĐTCS
ĐTCR tích luỹ vốn để ĐTCS
Cơ sở ĐTCR tạo ta sẽ quyết định chất lượng ĐTCS
ĐTCR giúp lực chọn chiến lược và phương thức ĐTCS có hiệu quả
Trang 3ĐTCR giúp lựa chọn được công nghệ thích hợp
4 ĐTCS thúc đẩy sự phát triển của DN, tạo điều kiện phát triển chiều sâu
ĐTCS tạo vốn và công nghệ thích hợp cho ĐTCR
ĐTCS thúc đẩy phát triển DN => ĐTCR
ĐTCS tăng sức cạnh tranh của DN
ĐTCS tạo uy tín cho DN
ĐTCS làm cho sức tiêu dung trong tương lai ngày càng tăng
5 ĐTCR và ĐTCS là hai hình thức đầu tư đan xen, bổ sung lẫn nhau trong hoạt động đầu tư Trong đó ĐTCS là chiến lược lâu dài
ĐTCR và ĐTCS có mối quan hệ đan xen lẫn nhau
Kết quả của ĐTCR tác động đến ĐTCS và ngược lại
ĐTCS là chiến lược lâu dài
Chương II : thực trạng mối quan hệ đầu tư theo chiều rộng và chiều sâu ngành dệt may việt nam
1.Thực trạng đầu tư theo chiều rộng là nền tảng, bước đi đầu tiên củadoanh nghiệp
1.1.Tạo điều kiện tích lũy vốn để đầu tư theo chiều sâu.
1.2.Đầu tư theo chiều rộng tạo điều kiện tích lũy kinh nghiệm để tiến hành lựa chọn chiến lược và phương thức đầu tư theo chiều sâu có hiệu quả.
1.3 Trong quá trình đầu tư theo chiều rộng, ngành quan sát, tiếp thu được trình độ công nghệ của ngành và các doanh nghiệp dệt may nước ngoài, từ đó lựa chọn hình thức đầu tư theo chiều sâu phù hợp.
2.Đầu tư theo chiều sâu là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp mởrộng sản xuất, lại tiếp tục đầu tư theo chiều rộng
2.1.Đầu tư chiều sâu tăng sức canh tranh của Doanh nghiệp.
Trang 42.2 Đầu tư theo chiều sâu tạo vốn và công nghệ thích hợp cho đầu tư chiều rộng.
2.3 Đầu tư theo chiều sâu tạo uy tín cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tiếp tục đứng vững trên thị trường.
3.Đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu có mối quan hệ chặt chẽ, đan xen lẫn nhau, không tách rời nhau Trong đó đầu tư theo chiều sâu là chiến lược lâu dài.
Chương III giải pháp mối quan hệ đầu tư theo chiều rộng và chiều sâu
1 Giải pháp cho phần ĐTCR là cơ sở nền tảng của ĐTCS
1.1 Hoàn thiện chính sách năng lực quản lí nhà nước
1.2 Giải pháp về đầu tư
1.3 Về vấn đề học hỏi tích lũy kinh nghiệm:
2.Đầu tư theo chiều sâu là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp mởrộng sản xuất, lại tiếp tục đầu tư theo chiều rộng
2.1 Giải pháp về công nghệ
2.2.Giải pháp phát triển nguồn nhân lực
2.3 Giải pháp về cung ứng nguyên phụ liệu
2.4 Giải pháp thị trường
3 Giải pháp về mối quan hệ: ĐTCR và ĐTCS có mối quan hệ chặtchẽ, đan xen, không thể tách rời, trong đó đầu tư theo chiều sâu là chiến lượclâu dài của tổng công ty thép Việt Nam:
K ẾT LU ẬN
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế thế giới đang phảigánh chịu những thiệt hại nặng nề do tác động của cuộc khủng hoảng ngànhtài chính lớn nhất trong lịch sử, xuất phát từ Mỹ Sự phá sản của hàng loạtngân hàng, công ty trên thế giới đã ảnh hưởng tới đời sống người dân, hàngtriệu người lao động bị mất việc làm Thực trạng đó cũng đang gây ảnhhưởng lớn tới nền kinh tế nước ta.Trong mọi lĩnh vực kinh tế công nghiệp,
du lịch, nông nghiệp, nông thôn Theo đó, sản xuất nông nghiệp giảm sút;giá cả nguyên vật liệu tăng, trong khi đó sản phẩm làm ra không tiêu thụđược đã ảnh hưởng rất lớn tới đời sống của người dân Trước tình hìnhđó,Chính phủ đã và đang triển khai nhiều biện pháp cấp bách nhằm bảo vệ
và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế đất nước trước sự khủng hoảng củanền kinh tế toàn cầu Nhiều dự án, kế hoạch nhằm hỗ trợ, kích cầu cho nềnkinh tế đang được triển khai đồng bộ từ trung ương đến địa phương Trong
đó, đặc biệt chú trọng tới việc hỗ trợ tạo điều kiện phát triển sản xuất, kinhdoanh của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, khối doanh nghiệp tư nhân,doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua việc triển khai dự án “hỗ trợ lãi xuất vayvốn cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh”; Để đạt đượchiệu quả cao nhất trong việc sử dung vốn cũng như góp phần vào việc khắcphục hậu quả khủng hoảng kinh tế các doanh nghiệp phải xác định được vấn
đề đầu tư xét theo cơ cấu tái sản xuất là đầu tư theo chiều rộng hay chiều sâu
để phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp,khả năng cạnh tranh, khoahọc kĩ thuật, tình hình cung cầu trên thị trường.Nhằm đưa ra sự hiểu biết sâusắc cho doanh nghiệp về vấn đề đầu tư sản xuất này, đó là nguyên nhân mànhóm em lựa chọn đề tài: “mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu
tư theo chiều sâu”
Trang 7NỘI DUNG Chương I: cơ sở lý luận đầu tư theo chiều rộng và đầu tư
theo chiều sâu
I/ Những vấn đề cơ bản của đầu tư và phân loại đầu tư:
1.Khái niệm:
Đầu tư: là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực ở hiện tại với
kỳ vọng đem lại cho nền kinh tế và xã hội những kết quả (hoặc lợi ích) trongtương lai lớn hơn các nguồn lực đã được sử dụng để đạt được các kết quả(hoặc lợi ích) đó
Khái niệm đầu tư có nhiều cách hiểu khác nhau
Theo cách hiểu thiên về tài sản: đầu tư là quá trình bỏ vốn để tạo ratiềm lực sản xuất kinh doanh dưới hình thức các tài sản kinh doanh, dó cũng
là quá trình quản trị tài sản để sinh lợi
Theo cách hiểu thiên về tài chính: đầu tư là 1 chuỗi hoạt động chi tiêu
để chủ đầu tư nhận về 1 chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn và sinh lời
Theo cách hiểu thiên về tiến bộ khoa học kỹ thuật: đầu tư là quá trìnhthay đổi phương thức sản xuất thông qua việc đổi mới và hiện đại hóaphương tiện sản xuất để thay thế lao động thủ công
Đầu tư phát triển: Là bộ phận cơ bản của đầu tư,là việc chi dùng vốn
trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ranhững tài sản vật chất và tài sản trí tuệ,gia tăng năng lực sản suất,tạo thêmviệc làm và vì mục tiêu phát triển
2.Đặc điểm của đầu tư phát triển:
+Qui mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tưphát triển thường rất lớn.Cần có giải pháp tạo vốn và huy dộng vốn, kếhoạch, quy hoạch đầu tư chính xác
Trang 8+ Thời kỳ thực hiện đầu tư kéo dài: bắt đầu khởi công đến khi dự ánhoàn thành.
+Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài: tính từ khi đưa côngtrình vào hoạt động cho đến khi hếtthời hạn sử dụng va đào thải công trình
+Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trìnhxây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên, do
đó, quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tưchịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng
+Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao Lúc ít cung thì giá cao nhưng khicung đã nhiều lên thì giá thành sẽ giảm xuống Sau thời gian dài đầu tư thìdoanh thu sẽ giảm so với trước Khi đó lợi nhuận sẽ giảm và sẽ dẫn đến rủiro
3.Vai trò đầu tư phát triển
+ Đối với nền kinh tế:
- Tác động đến tổng cầu của nền kinh tế:
Để tạo ra sản phẩm cho xã hội trước hết cần phải đầu tư Đầu tư là 1yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của nền kinh tế.Theo số liệu củangân hàng thế giới thì đầu tư chiếm từ 24-28% trong cơ cấu tổng cầu của tất
cả các nước trên thế giới Đối với tổng cầu thì đầu tư thể hiện rõ trong ngắnhạn Xét theo mô hình kinh tế vĩ mô đầu tư là bộ phận chiếm tỷ trọng lớntrong tổng cầu Khi tổng cung chưa kịp thay đổi gia tăng đầu tư (I) làm chotổng cầu (AD) tăng nếu các yếu tố khác không đổi.Phương trình tổng cầu:
AD=C+ I+ G +X - M
- Tác động đến tổng cung của nền kinh tế:
Tổng cung của nền kinh tế bao gồm 2 nguồn chính là cung trong nước
và cung từ nước ngoài Bộ phận chủ yếu cung trong nước là 1 hàm các yếu
tố sản xuất :vốn, lao động, công nghệ thể hiện qua phương trình sau:
Trang 9Q=F(K,L,T,R…)
Như vậy tăng quy mô của vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làmtăng tổng cung của nền kinh tế nếu các yếu tố khác không đổi.Mặ khac tácđộng của vốn đầu tư còn được thực hiện thông qua hoạt động đầu tư nângcao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ…Do đó đầu tư gián tiếplàm tăng tổng cung của nền kinh tế Xét theo trình tự thời gian sau giai đoạnthực hiện đầu tư là giai đoạn vận hành kết quả đầu tư.Khi thành quả của đầu
tư phát huy tác dung, các năng lực mới đi vào hoạt động và làm cho tổngcung đặc biệt tổng cung dài hạn tăng
Tác động của đầu tư đến tổng cung tổng cầu
- Tác động đến tăng trưởng kinh tế:
Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chấtlượng tăng trưởng Tăng quy mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý lànhững nhân tố rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư ,tăng năngsuất nhân tố tổng hợp ,tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng công nghiệp hoá hiện đại hoá ,nâng cao sức cạnh tranh của nền kinhtế…do đó nâng cao chất lượng của nền kinh tế Biểu hiện tập trung của mối
Trang 10quan hệ giữa đầu tư phát triển với tăng trưởng kinh tế thẻ hiện ở công thứctính hệ số ICOR Hệ số ICOR được tính:
ICOR = (tỉ lệ vốn đầu tư/GDP) / (tốc độ tăng trưởng kinh tế)
Hệ số ICOR của nền kinh tế cao hay thấp chịu ảnh hưởng của nhiều nhântố: Thứ nhất do thay đổi cơ cấu đầu tư ngành
Thứ hai sự phát triển của khoa học công nghệ
Thứ ba do thay đổi cơ chế chính sách và phương pháp quản lý
- Tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của các
bộ phận cấu thành nền kinh tế Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế xảy ra khi có
sự phát triển không đồng đều về quy mô,tốc độ giữa các ngành, vùng.Những cơ cấu kinh tế chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân bao gồm cơ cấungành lãnh thổ, theo thành phần kinh tế Đối với cơ cấu lãnh thổ, đầu tư cótác dụng giải quyết những mất cân dối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ,đưa những vùng kém phát triển tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị … củanhững vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạo thúc đẩy nhữngvùng khác cùng phát triển
Đầu tư góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp quy luật vàchiến lược phát triển xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ, tạo ra sự cândối mới trên phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành,vùng phát huynội lực của nền kinh tế, trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực Đối với cơcấu ngành, đầu tư vốn vào ngành nào, quy mô đầu tư từng ngành nhiều hay
ít, việc sử dụng vốn hiệu quả cao hay thấp … đều ảnh hưỏng đến tốc độ pháttriển, đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền đềvật chất để phát triển các ngành mới … do đó, làm dịch chuyển cơ cấu kinh
tế ngành
Trang 11+ Đối với doanh nghiệp:
- Tác động đến việc phân bổ vốn đầu tư của các doanh nghiệp:
Nguồn vốn của các doanh nghiệp bao gồm 2 nguồn chính : Nguồn vốnbên trong và nguồn vốn bên ngoài Nguồn vốn bên trong hình thành từ phầntích luỹ từ nội bộ doanh nghiệp ( vốn góp ban đầu, thu nhập giữ lại ) và phầnkhấu hao hàng năm.Nguồn vốn này co ưu điểm là đảm bảo tính độc lập chủđộng không phụ thuộc vào chủ nợ, hạn chế rủi ro về tín dụng Nguồn vốnbên ngoài hình thành từ việc vay nợ hoặc phát hành chứng khoán ra côngchúng thông qua 2 hình thức tài trợ chủ yếu: tài trợ gián tiếp qua các trunggian tài chính ( ngân hàng thương mại , các tổ chức tín dụng ) hoặc tài trợtrực tiếp (qua thị trường vốn: thị trường chứng khoán,hoạt động tín dụng thumua…)
- Tác động đến khoa học công nghệ:
Đầu tư là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới vàphát triển khoa học công nghệ của 1 doanh nghiệp và 1 quốc gia.Công nghệbao gôm các yếu tố cơ bản : phần cứng ( máy móc thiết bị ), phần mềm ( cácvăn bản tài liệu các bí quyết…),yếu tố con người, yếu tố tổ chức … Muốn cócông nghệ phải đầu tư vào các yếu tố cấu thành Trong mỗi thời kỳ, cácnước có bước đi khác nhau để đầu tư phát triển công nghệ Trong giai đoạnđầu, các nước đang phát triển, do có nhiều lao động và nguyên liệu, thườngđầu tư các loại công nghệ sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu, sau đó,giảm dần hàm lượng lao động nguyên liệu trong sản xuất và tăng dần hàmlượng vốn thiết bị và tri thức thông qua việc đầu tư công nghệ hiện đại hơn
và đầu tư đúng mức để phát triển nguồn nhân lực Đến giai đoạn phát triển,
xu hướng đầu tư mạnh vốn thiết bị và gia tăng hàm lượng tri thức chiếm ưuthế tuyệt đối Tuy nhiên, quá trình chuyển từ giai đoạn thứ nhất sang giaiđoạn thứ ba cũng là quá trình chuyển từ đầu tư ít sang đâu tư lớn, thay đổi
Trang 12cơ cấu đầu tư Không có vốn đầu tư đủ lớn sẽ không đảm bảo sự thành côngcủa quá trình chuyển đổi và sự phát triển của khoa học và công nghệ.
Đầu tư là nhân tố quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của các
doanh nghiệp Để tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho bất kỳ cơ sở sản xuất
và cung ứng dịch vụ nào đều cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng,mua sắm, lăp đặt thiết bị, tiến hành các xây dựng cơ bản khác và thực hiệncác chi phí gắn liền với các hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vậtchất kỹ thuật vưà mới dược tạo raa Đây chính là biểu hiện củ thể của hoạtđộng đầu tư Đối với các đơn vị đang hoạt động, khi cơ sở vật chất kỹ thuật
bị hao mòn, hư hỏng cần phải tiến hành sữa chữa hoặc thay mới Hoặc phảiđổi mới để thích ứng với sự phát triển khoa học kỹ thuật
4 Phân loại đầu tư phát triển
+ Theo bản chất của đối tượng đầu tư: Đầu tư cho các đối tượng vậtchất (Đầu tư tài sản vật chất hoặc tài sản thực như nhà xưởng ,máy móc thiếtbị…) và đầu tư cho các đối tượng phi vật chất (đầu tư tài sản trí tuệ vànguồn nhân lực như đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế…)
Đầu tư cho đối tượng vật chất là điều kiện tiên quyết, co bản làm tăngtiềm lực cho nền kinh tế, đầu tư tài sản chí tuệ và các nguồn nhân lực là điềukiện tất yếu để đảm bảo cho đầu tư các đối tượng vật chất tiến hành thuận lợ
và đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao
+ Theo phân cấp quản lý: Đầu tư phát triển được chia thành đầu tưtheo các dự án quan trọng quốc gia,dự án nhom A,B,C.Dự án quan trọngquốc gia do quốc hội quyết định, dạ án nhom A do thủ tướng chính phủquyết định, nhóm B và C do bộ trưởng
+ Theo lĩnh vực hoạt động của các kết quả đầu tư: Đầu tư phát triểnsản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng.Các hoạt động đầu tư này có quan hệ tương hỗ với nhau
Trang 13+ Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư: Đầu tư cơ bản vàđầu tư vận hành
Đầu tư cơ bản nhằm tái sản xuất các tài sản cố định
Đầu tư vận hành nhằm tạo ra các tài sản lưu động cho các cơ sở sảnxuất kinh doanh dịch vụ mới hình thành, tăng thêm tài sản lưu động cho các
+ Theo thời gian thực hiện và phat huy tác dụng của các kết quả đầutư: Đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn Đầu tư dài hạn thường chứa đựngnhững yếu tố khó lường, rủi ro lớn nên cần có những dụ báo dài hạn khoahọc Rủi ro đối vơi đầu tư ngắn hạn cũng rất lớn
+ Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư: Đầu tư trực tiếp và đầu tư giántiếp
+ Theo nguồn vốn trên phạm vi quốc gia: Đầu tư bằng nguồn vốntrong nước và đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài Cách phân loại này có tácdụng chỉ ra vai trò của từng nguồn vốn trong quá trình phát triển kinh tế xãhội của đất nước
+ Theo vùng lãnh thổ: Đầu tư phát triển của các vùng lãnh thổ, cácvùng kinh tế trọng điểm, đầu tư phát triển khu vực thành thị và nông thôn…
Trang 14II/ mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
1 Đầu tư theo chiều rộng:
1.1 Khái niệm: Đầu tư theo chiều rộng (ĐTCR) là hình thức đầu tư
trên cơ sở mở rộng, nâng cấp, cải tạo cơ sở vật chất kĩ thuật hiện có và đầu
tư mới nhưng với kĩ thuật, công nghệ thấp hơn mức trung bình tiên tiến củangành, vùng
1.2 Đặc điểm:
ĐTCR là mở rộng sản xuất căn cứ vào số lượng, tăng quy mônhưng không tăng năng suất Đó là việc mở rộng sản xuất bằng cách tăngthêm số lượng một hoặc cả 4 yếu tố đầu vào(K, L, R, T) nhưng cơ cấu tổchức các yếu tố đó là không thay đổi Do đó số lượng sản phẩm làm ra nhiềuhơn trước đó nhưng hao phí tính cho một đơn vị sản phẩm là không đổi hoặcthậm chí là nhiều hơn trước
ĐTCR là đầu tư xây dựng mới nhà cửa, cấu trúc hạ tầng theothiết kế được phê duyệt lần đầu, làm tăng thêm lượng tài sản vật chất thamgia vào quá trình sản xuất kinh doanh Tuy vậy tính kĩ thuật của công trình
đó vẫn dựa trên những thiết kế có sẵn chưa được cải tạo và hiện đại hoá
Là hoạt động mua sắm máy móc thiết bị để đổi mới thay đổi nhữngthiết bị cũ theo một dây chuyền công nghệ đã có trước VD 1 nhà máy luyệngang hiện tại đang có 1 dây truyền sản xuất gồm cá thiết bị chính 2 lò cao120m3 và 100m3, máy thêu liên kết 27m2, máy đúc gang liên tục Sang năm
2009 nhà máy quyết định mở rộng sản xuất bằng cách mua thêm 1 lò cao120m3, 1 máy thêu liên kết 27m3 thì đây là việc nhà máy thực hiện ĐTCR
Là hoạt động tăng thêm lao động, công nhân, nhưng không tăng taynghề, kinh nghiệm, kĩ năng lao động Lao động được thuê thêm có trình độ
Trang 15tương tự đội ngũ lao động đã có trong DN Việc tăng thêm lao động ở đâychỉ tăng về số lượng chứ không tăng về chất lượng lao động cũng như cơcấu tổ chức quản lý lao động.
1.3 Ưu điểm:
ĐTCR không cần nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ mới,giảm được chi phí về thời gian, tiền bạc nghiên cứu vì dựa vào cơ sở khoahọc, công nghệ ban đầu
ĐTCR tạo ra cho nền kinh tế hệ thống công trình xây dựng hoạtđộng trong nhiều năm, tăng việc làm, giảm thất nghiệp Vì ĐTCR với việc
mở rộng sản xuất mua thêm máy móc thiết bị thì đồng thời cũng phải thuêthêm lao động và vì ĐTCR có đặc điểm là vốn tang nhanh hơn lao động
ĐTCR phù hợp với điều kiện của những nước nghèo, những doanhnghiệp mới thành lập Đặc trưng của những nước nghèo là nhiều lao độngnhưng đa số là lao động phổ thông năng lực và trình độ không cao, nghèonên nguồn vốn để đầu tư không nhiều do vậy ĐTCR là hợp lý Còn DN mớithành lập thì cũng chưa có nhiều vốn và kinh nghiệm hoạt động nên cầnĐTCR gia tăng sx những sp đã có sẵn trên thị trường để từng bước tích luỹvốn và công nghệ
Khi thị trường chưa bão hoà, khách hàng có tiềm năng lớn thì ĐTCRphát huy ưu thế đó là:Tạo điều kiện cho Doanh nghiệp gia tăng sản xuất quy
mô sản xuất tăng, sản phẩm làm ra nhiều do đó mở rộng thị trường chiếmđược thị phần nhanh chóng
Trang 16đáo do ĐTCR chỉ làm gia tăng số lượng sản phẩm mà không làm tăng tínhđộc đáo của sản phẩm vì vẫn với công nghệ cũ không thay đổi được mẫu
mã, chất lượng sản phẩm và vì vậy khi mà thị trường đã bão hoà kháchhàng trở nên khó tính thì sản phẩm do ĐTCR khó có thể tiêu thụ được
Nếu ĐTCR trong thời gian dài sẽ dẫn đến hiện tượng là sản phẩm làm
ra quá nhiều trong khi cầu chưa tăng thậm chí là giảm thì sẽ gây ứ đọng sảnphẩm dẫn đến dư cung gây lãng phí nguồn lực
ĐTCR không chú trọng áp dụng công nghệ hiệu quả về kinh tế, kĩthuật và bảo vệ môi trường.Vì vậy nếu cứ ĐTCR thì sẽ gây ô nhiễm môitrường, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên mà không tìm ra được nguồnnguyên liệu thay thế
2 Đầu tư theo chiều sâu:
2.1 Khái niệm: Đầu tư theo chiều sâu (ĐTCS) là là hình thức đầu tư
trên cơ sở hiện đại hoá, đồng bộ hoá, đầu tư mới các cơ sở vật chất kĩ thuậtcủa doanh nghiệp nhưng với công nghệ và kĩ thuật từ mức trung bình tiêntiên trở lên so với ngành, vùng nền kinh tế
ĐTCS gắn liền với đổi mới kĩ thuật công nghệ nhưng không phải làmột Xét hàm sản xuất Coubb-Douglas thì Y= TFP*K^a*L^(1-a) thì ĐTCS
Trang 17làm tăng yếu tố TFP- yếu tố năng suất tổng hợp mà các yếu tố quyết định tớităng trưởng TFP không phải chỉ có tiến bộ KHCN mà còn là sự nâng caochất lượng nguồn nhân lực, cơ cấu tổ chức hợp lý.
ĐTCS là thực hiện tổng thể các biện pháp kĩ thuật nhằm cơ khí hoá, tựđộng hoá các bộ phận sản xuất đang hoạt động, thay thế những thiết bị cũ đãhao mòn hoặc lạc hậu bằng những thiết bị mới có năng suất, hiệu quả caohơn
ĐTCS là bố trí lại toàn bộ hoặc một bộ phận dây truyền sản xuất, pháttriển nguồn nhân lực, nâng cấp đổi mới bộ máy quản lý cũng như phươngpháp quản lý phù hợp với cộng nghệ mới hơn so với trước
2.3 Ưu điểm:
ĐTCS làm giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động và nângcao hiệu quả đầu tư đó là cùng một lượng các yếu tố đầu vào nhưng đầu ranhiều hơn
ĐTCS tạo ra sản phẩm mới chất lượng cao, mẫu mã đẹp giá thành hạ
do áp dụng công nghệ cao NSLĐ tăng nên tạo được sức cạnh tranh trên thịtrường giúp DN nâng cao vị thế tạo thương hiệu cho DN
Thời gian thực hiện ngắn hơn so với đầu tư chiều rộng do khốilượng công việc ít đa dạng hơn
ĐTCS chú trọng bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ápdụng hệ thống thông tin, mô hình quản lý hiện đại
ĐTCS chú trọng áp dụng những công nghệ hiệu quả về 3 mặt kĩ thuật,kinh tế và môi trường
2.4 Nhược điểm:
ĐTCS đòi hỏi vốn lớn cần phải tích luỹ lâu dài do vậy không nên thựchiện ở các doanh nghiệp có quy mô nhỏ
Trang 18ĐTCS cần phải có đội ngũ trí thức cao, nghiên cứu chính xác vì phải
NC tìm ra những công nghệ mới, cần học hỏi nhưng phải biết chọn lọcnhững kinh nghiệm từ các công nghệ trước của các nước
Độ rủi ro cao hơn và mạo hiểm hơn Vì trước tiên là ĐTCR cho nênkhi tung sản phẩm ĐTCS thì sản phẩm đó đã có nhiều trên thị trường chonên phải có những điểm nổi bật, ưu thế thật sự hơn hẳn mới có thể chiếmđược thị phần Nếu không thì sẽ không bán được SP, DN không thu hồiđược vốn và có lợi nhuận để trang trải cho các khoản vay trước đó, DN sẽ bịphá sản
ĐTCS không đồng bộ tương thích với nội dung đầu tư thì sẽ gây lãngphí
ĐTCS không chú trọng phát triển nguyên vật liệu nên khi ĐTCS cầnchú ý xem xét làm sao phải đồng bộ giữa công suất của máy móc thiết bị vớicác yếu tố đầu vào của sản xuất VD hiện ở Việt Nam có một số nhà máysản xuất đường như nhà máy đường Quảng Bình được đầu tư công nghệ vớicông suất thiết kế lớn nhưng lại thiếu mía cho sản xuất làm cho nhà máy đóhoạt động chỉ với 50% công suất thiết kế hoặc thậm chí là phải đóng cửahoặc di chuyển đến vùng có nhiều nguyên liệu như nhà máy đường LinhCảm
3 Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu:
Đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu luôn luôn là hai mặtcủa vấn đề, chúng luôn gắn liền với nhau trong quá trình hoạt động củadoanh nghiệp nói riêng cũng như toàn bộ nền kinh tế xã hội nói chung.Không thế có doanh nghiệp nào mà đầu tư chỉ mỗi chiều rộng hay chỉ đầu
tư theo chiều sâu mà nó luôn luôn phải kết hợp với nhau và tạo tiền đề cho
Trang 19nhau trong quá trình phát triển của nền kinh tế sau đây chúng ta sẽ nghiêncứu mối quan hệ của chúng trong quá trình sản xuất và phát triển.
3.1 đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu là hai hình thức của quá trình tái sản xuất mở rộng
tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại và biến đổi khôngngừng tái sản xuất diễn ra trong từng xí nghiệp gọi là tái sản xuất cá biệt.tổng thể tái sản xuất cá biệt trong mối liên hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫnnhau trong nền kinh tế gọi là tái sản xuất xá hội
xét về quy mô tái sản xuất:
.tái sản xuất giản đơn chỉ là sự lặp lại quá trình sản xuất với quy môkhông thay đổi so với chu kỳ trước
Tái sản xuất mở rộng lại làm cho quy mô của sản xuất ngày càng lớnhơn, quy mô sản xuất của chu kỳ sau , năm sau lớn hơn chu ký trước, nămtrước
Trong tái sản xuất mở rộng được chia làm hai loại : theo chiều rộng vàtheo chiều sâu
tái sản xuất theo chiều rộng là sự tăng lên của sản phẩm do sử dụngnhiều hơn các nguồn lực bao gồm vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên đểsản xuất còn tái sản xuất theo chiều sâu là sự tăng lên của sản phẩm là dotăng năng suất lao động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực.để có tái sản xuất
mở rộng theo chiều sâu, cần phải tiến hành đổi mới công nghệ của sảnxuất( máy móc, thiết bị, quy trình, quy tắc, thông tin và quản lý) Tái sảnxuất phát triển theo chiều sâu còn được gọi là tái sản xuất hiện đại
có thể phân biệt hai loại tái sản xuất trên thông qua hai chỉ tiêu là năngsuất lao động và hiệu quả sử dụng vốn
chỉ tiêu năng suất lao động được tính theo công thức : P= F/ t
Trang 20Trong đó P là năng suất lao động ; F là số lượng sản phẩm, t là sốlượng thời gian lao động để sản xuất ra khối lượng sản phẩm đó Từ đây suy
Từ (1 ) và (2) cho thấy nếu F tăng lên do t hoặc K, hoặc do tăng cả t và
K thì đó là tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng; còn nếu F tăng lên do P và
Lo thì đó là tải sản xuất mở rộng theo chiều sâu
Vậy nên ĐTCR và ĐTCS thực tế là hai hình thức của 1 quá trìnhtái sản xuất mở rộng
Vì ĐTCR và ĐTCS là hai hình thức của cùng một quá trình tái sảnxuất mở rộng nên nó cũng bao gồm nội dung của tái sản xuất:
Đối với hình thức tái sản xuất theo chiều rộng
Tái sản xuất của cải vật chất: ĐTCR là tăng vốn để mua thêm máy
móc thiết bị cùng loại với những máy móc thiết bị mà DN đã có hoặc sửachữa bảo trì các máy móc thiết bị của DN đã và đang dùng cùng với việc đó
là xây dựng thêm nhà xưởng( với công nghệ dây truyền như cũ), tăngnguyên vật liệu đầu vào sau đó đưa chúng vào vận hành tạo ra số lượng sảnphẩm nhiều hơn trước nhưng chất lượng mẫu mã không thay đổi, công suấtlàm việc tính trung bình của từng thiết bị là không thay đổi
Tái sản xuất sức lao động: ĐTCR là thuê thêm lao động có cùng trình
độ tay nghề, kĩ năng với đội ngũ lao động trước đó, mức chi phí doanhnghiệp chi trả cho mỗi công nhân hầu như không thay đổi do giá trị thặng dưcủa lao động tạo ra là không đổi thậm chí là thấp hơn trước
Trang 21Tái sản xuất quan hệ sản xuất: quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý sản
xuất và phân phối sản phẩm là hầu như không đổi
Tái sản xuất môi trường sinh thái: ĐTCR không chú trọng đến vịêc xử
lý chất thải các công nghệ sản xuất tiên tiến hơn để bảo vệ môi trường vì vậymôi trường thường có nguy cơ bị ô nhiễm.Hơn nữa ĐTCR sử dụng themnhiều nguyên vật liệu, năng lượng mà khong có biện pháp kĩ thuật để tiếtkiệm và phục hồi do vậy còn dẫn tới nguy cơ cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên
Đối với hình thức tái sản xuất theo chiều sâu:
Tái sản xuất ra của cải vật chất: ĐTCS là việc sử dụng vốn để mua
sắm them các máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất hiện đại hơn hẳn nhữngcái đã có làm cho sản phẩm làm ra có tính độc đáo chất lượng cao và có thểgiảm được cả giá thành
Tái sản xuất sức lao động: thuê lao động có trình độ cao hoặc đào tạo
lại các lao động đã có trong doanh nghiệp, chi trả đảm bảo mức sống caohơn cho công nhân viên hiệu quả là làm tăng năng suất lao động, chất lượngsản phẩm làm ra
Tái sản xuất quan hệ sx: thay đổi quan hệ sở hữu cũng như quan hệ
quản lý vì công nghệ thay đổi theo nhiều chiều hướng
Tái sản xuất môi trường sinh thái: ĐTCS chú trọng áp dụng những
công nghệ cao tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng, các công nghệ sản xuấtsạch và bảo vệ môi trường
Như vậy đầu tư theo chiều rộng thường được tiến hành khi bắt đầukinh doanh hoặc trong quá trình kinh doanh muốn mở rộng qui mô Đến mộtlúc nào đó dây chuyên công nghệ đã cũ , khó có thể duy trì năng suất hiện
có, chúng ta nên tiến hành đầu tư theo chiều sâu Không một doanh nghiệpnào có thể sử dụng một trong hai phương thức riêng lẻ, mà kết hợp giữa đầu
tư theo chiều sâu và chiều rộng thì mới đạt được hiệu quả tối đa
Trang 22Vậy bước đi của các Doanh nghiệp luôn có cả đầu tư theo chiềurộng và đầu tư theo chiều sâu, bao giờ cũng là ĐTCR trước, sau đó tiến hànhĐTCS, tiếp tục lại ĐTCR ở mức cao hơn… ĐTCR, ĐTCS luôn có quan hệ
chặt chẽ với nhau trong sự phát triển, tồn tại của DN
3.2.ĐTCR là nền tảng, là cơ sở, là bước đi đầu tiền để ĐTCS
Đầu tư theo chiều rộng sẽ là nền tảng , cơ sở, tạo tiền đề đầu tiên chođầu tư theo chiều sâu thề hiện trên các khía cạnh sau đây :
3.2.1 đầu tư theo chiều rộng tạo điều kiện tích luỹ vốn để đầu tư theo chiều sâu:
Một doanh nghiệp muốn tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất kinhdoanh nàođều phải có cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng như nhà xưởng, máy mócthiết bị sản xuất muốn như vậy trước tiên doanh nghiệp phải bỏ vốn ra đểđầu tư mang lại những cơ sở đầu tiên để có thể hoạt động Tuy nhiên đếnmột thời điểm nhất định khi cơ sở hạ tầng cũng như công nghệ trở nên lạchậu, việc tiếp tục đầu tư theo chiều rộng không những không mang lại hiệuquả tăng trưởng mà còn làm cho năng suất của cả nền kinh tế thấp, khôngtạo ra tăng trưởng Nền kinh tế tất yếu sẽ chuyền sang phát triển theo chiềusâu Nếu nền móng được tạo nên nhờ đầu tư theo chiều rộng trước đó tốt thìviệc đầu tư theo chiều sâu sau đó sẽ dễ dàng đạt hiệu quả cao
3.2.2 Cơ sở đầu tư chiều rộng tạo ra sẽ quyết định chất lượng của đầu tư theo chiều sâu:
Doanh nghiệp dựa trên kết quả của hoạt động đầu tư theo chiều rộng
sẽ tiến hành đầu tư theo chiều sâu Nền móng được tạo ra do đầu tư theochiều rộng ban đầu tốt hay không sẽ quyết định việc đầu tư theo chiều sâusau đó có dễ dàng đạt hiệu quả cao hay không Ví như là sau quá trình
Trang 23ĐTCR DN tích luỹ được bao nhiêu vốn và với lượng vốn ấy thì sẽ đủ đểĐTCS mức như thế nào?
3.2.3 ĐTCR giúp lựa chọn chiến lược và phương thức đầu tư theo
chiêù sâu có hiệu quả:
Trong quá trình ĐTCR doanh ngiệp nhận được những thông tin phảnhồi từ thị trường cho biết thị trường đánh giá như thế nào về sản phẩm hiệntại của DN và xu hướng trong tương lai của thị trường Thêm vào đó là DNtrong quá trình sx vừa ĐTCR vừa quan sát hoạt động của các doanh nghiệpkhác tiếp thu kinh nghiệm của cá doanh nghiệp khác Nhờ đó khi tích luỹ đủvốn tiến hành DTCS thì DN sẽ biết được nên đầu tư theo hướng nào, cáchthức đầu tư ra sao tổ chức quản lý như thế nào để đạt hiệu quả tạo ra sảnphẩm với mẫu mã thế nào chất lượng ra sao để phù hợp theo đúng xu hướngcủa thị trường trong tương lai Nếu DN dự đoán đúng ĐTCS hợp lý thì sẽthu được siêu lợi nhuận do có lợi thế của người đi tiên phong
3.2.4 ĐTCR giúp lựa chọn được công nghệ thích hợp.
Đó là việc trong quá trình ĐTCR DN quan sát tìm hiểu các côngnghệ của ngành, các DN khác, biết được vị trí của DN mình so với các DNkhác trong ngành biết điểm mạnh điểm yếu của mình thì sẽ tìm ra được conđường thành công Đồng thời xem phản ứng của thị trường với sản phẩmcủa ngành và của cá DN khác Để từ đó DN mình tổ chức nghiên cứu triểnkhai các công nghệ hiện đại hơn hẳn mức trung bình của ngành, lựa chọnđược những công nghệ làm ra được sản phẩm mới hẳn, độc đáo hơn hẳnnhững sản phẩm đã có của ngành từ đó nâng cao vị thế, uy tín của doanhnghiệp mình và thu lợi nhuận cao nhất
4 Đầu tư theo chiều sâu thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, tạo điều kiện để tiếp tục đầu tư theo chiều rộng.
Trang 244.1 Đầu tư theo chiều sâu tạo vốn và công nghệ thích hợp cho đầu
tư chiều rộng.
Đầu tư theo chiều rộng cần vốn nhiều để trang bị thêm máy mócthiết bị, thuê thêm lao động, thời gian dài, thu hồi vốn lâu, không thay đổi vềcông nghệ Trong khi đó đầu tư chiều sâu lại sinh lời nhanh, trước hết tạovốn làm cơ sở mở rộng sản xuất Sau khi đầu tư chiều sâu, áp dụng côngnghệ hiện đại, DN đang chiếm được lợi thế canh tranh thì mở rộng sản xuất
sẽ tăng thêm lợi nhuận, đồng thời mở rộng thì phần cho DN Công nghệ sửdụng đang là hiện đại hơn công nghệ hiện có cho nên đầu tư theo chiều rộngvới công nghệ đó mà không cần nghiên cứu triển khai công nghệ mới Nhưvậy kết quả của đầu tư chiều sâu là động lực thúc đẩy DN mở rộng sản xuất,dầu tư theo chiều rộng
4.2 ĐTCS giúp phát triển DN tạo điều kiện ĐTCR
4.2.1 Đầu tư chiều sâu tăng sức canh tranh của Doanh nghiệp.
Đầu tư chiều sâu sử dụng công nghệ hiện đại hơn công nghệ hiện có.Công nghệ là kết quả của hoạt động nghiên cứu – phát triển và sảnphẩm đặc trưng của nó quy tụ dưới dạng hoặc là sản phẩm mới, hoặc là vậtliệu mới, hoặc là phương pháp ( quy trình ) mới Công nghệ phải đảm bảotính mới và khả thi
Công nghệ hiện đại hơn công nghệ hiện có tạo ra sức canh tranhcho Doanh nghiệp Trong khi công nghệ hiện thời sử dụng nhiều hơn, tốnnhiều chi phí hơn, thì công nghệ mới tạo ra sự thay đổi, nâng cao năng lựccủa con người, hoặc có thể tạo ra sảp phẩm chất lượng cao, mẫu mã tốt hơn
Từ đó tạo ra sức mạnh canh tranh chiếm lĩnh thị trường
Thứ nhất, đầu ra nhiều hơn với cùng nguồn lực đầu vào
Ta có: Hàm sản xuất có dạng tổng quát
Q = A f( X1, X2,…, Xn); Q = Af (L, K)
Trang 25Với cùng một cơ cấu L, K thì công nghệ cao hơn sẽ mang lại Qlớn hơn
Tức là cùng nguồn lực đầu vào nhưng sử dụng công nghệ hiện đạihơn sẽ cho đầu ra nhiều hơn, tạo lợi thế cho DN
Thứ hai, sản phẩm tạo ra có nét độc đáo, ưư việt
Công nghệ hiện đại hơn không chỉ bao gồm máy móc, thiết bị,dụng cụ kết cấu xây dựng nhà xưởng… mà còn bao gồm : con người, thôngtin ,tổ chức Con người nắm được kỹ năng của công nghệ đó, vận hành côngnghệ đó Thông tin bao gồm kiến thức về bí quyết, bản quyền và quyền sửdụng độc quyền Tổ chức quản lý chủ yếu là cơ cấu điều hành , phối hợpcác hoạt đông của DN Các thành phần này phối hợp, không tách rời tươngtác qua lại với nhau để thực hiện các sự biến đổi nhằm tạo ra sản phẩm.Công nghệ hiện đại sẽ tạo ra sản phẩm có tính ưu việt hơn các sản phẩmcùng loại sản xuất bởi công nghệ khác
Thứ ba, với công nghệ hiện đại hơn DN tạo được thương hiệu
trên thị trường, tạo được sự tin tưởng cho khách hàng Dù phải trả với giácao hơn người tiêu dùng vẫn tiêu dùng sản phẩm của DN đó
4.2.2 Đầu tư theo chiều sâu tạo uy tín cho Doanh nghiệp:
DN sử dụng công nghệ hiện đại, máy móc thiết bị đồng bộ, cùng với
lao động có kỹ năng vận hành, tạo ra những sản phẩm có chất lượng Có thểnói rõ hơn tức là nếu không có những sáng chế sẽ không tạo ra sản phẩm vớiđầy đủ đặc trung như mong muốn, tuy nhiên nếu không có nhãn hiệu thìkhông bán được giá cao Một loại sản phẩm sản xuất ra bởi công nghệ hiệnđại, có nhiều ưu việt, một khi đã tạo được thương hiệu, nhãn hiệu đượcnhiều người biết đến, đảm bảo về uy tín, người tiêu dùng sẽ tin tưởng khi sửdụng Khi uy tín đã có được thì việc huy động vốn (đi vay) cũng dễ dàng
Trang 26hơn, tuyển dụng thêm lao động…thúc đẩy mở rrộng sản xuất đầu tư theochiểu rộng
4.2.3 Sức tiêu dùng kì vọng trong tương lai ngày càng tăng
Với công nghệ hiện đại, lợi thế trong cạnh tranh, sản phẩm độcđáo ưư việt thì DN sẽ kì vọng về sức tiêu dùng trong tương lai Sự kì vọngtiêu dùng tăng thêm trong tương lai, nhất là khi sản phẩm đã có thương hiệu
uy tín trên thị trường thì việc mở rộng sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm hơnđáp ứng nhu cầu tiêu dùng đó sẽ mang lại nhiều hơn lợi nhuận cho DN Đó
là động cơ thúc đẩy DN đầu tư theo chiều rộng
5 ĐTCS và ĐTCR là hai hình thức đầu tư đan xen, bổ sung lẫn nhau trong hoạt động đầu tư Trong đó ĐTCS là chiến lược lâu dài.
5.1 ĐTCR và ĐTCS có mối quan hệ chặt chẽ đan xen lẫn nhau:
Đầu tư theo chiều rộng làm tăng mặt lượng còn đầu tư theochiều sâu tạo ra những biến đổi về mặt chất của quá trình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp cần lựa chọn hình thức đầu tưnào là phù hợp và hình thức đầu tư nào là không thích hợp vào thời điểmnày hoặc có sự kết hợp giữa hai hình thức đầu tư trong cùng một thời điểm
để có được một chính sách đầu tư hợp lý nhằm thu được kết quả và mục tiêu
đã đặt ra
Khi thị trường có nhu cầu ngày càng tăng về mặt số lượng củasản phẩm thì lựa chọn hợp lý cho doanh nghiệp là tiếp tục đầu tư theo chiềurộng để mở rộng sản xuất cung ứng đầy đủ và kịp thời cho thị trường, nếukhông, không những chúng ta bỏ lỡ cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp mà
vô tình còn tạo điều kiện thuận lợi cho đối thủ cạnh tranh cùng sản xuất mặthàng đó
Ngược lại, nếu thị trường yêu cầu ngày càng cao về chất lượngsản phẩm mà doanh nghiệp không đầu tư theo chiều sâu để nâng cao chất
Trang 27lượng và giảm giá thành sản phẩm thì sản phẩm của doanh nghiệp sẽ nhanhchóng lạc hậu và bị thị trường đào thải Chiến lược tốt cho doanh nghiệp làkết hợp đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu một cách hợp lý:ĐTCR trước sau đó khi tích luỹ đủ vốn và thị trường đã bão hoà thì DNthực hiện ĐTCS ĐTCS tạo được lợi thế canh tranh, xác định được tên tuổitrên thị trường, nhu cầu thị trường lại tăng lên về số lượng sản phẩm chấtlượng đó, khi đó DN lại đầu tư chiều rộng Khi thị trường bão hoà DN lạiđầu tư theo chiều sâu, và quá trình đó lại tiếp tục, lập lại và liên tục trongsuốt quá trình hoạt động phát triển của DN
5.2 Kết quả của ĐTCR tác động tới ĐTCS và ngược lại
Nếu ĐTCR tạo ra một cơ sở vật chất không phù hợp và đồng
bộ như nhà xưởng không đúng qui cách, dây chuyền máy móc nhập lúc đầuquá lạc hậu hoặc quá tiên tiến Sự chênh lệch về trình độ công nghệ quá lớn
sẽ dẫn đến tình trạng làm ĐTCS không phát huy được hiệu quả, gây thấtthoát, lãng phí
ĐTCR tràn lan, không đồng bộ, không có trọng tâm, trọngđiểm sẽ làm hạn chế vốn và nguồn lực của doanh nghiệp khi tiến hànhĐTCS
Ngược lại, ĐTCS không hiệu quả sẽ làm cho các doanh nghiệp không có đủđiều kiện để tiếp tục ĐTCR mở rộng sản xuất Nhiều trang thiết bị máy móckhông phù hợp với điều kiện địa lý, khí hậu nước khi tiến hành ĐTCS.Những trang thiết bị hiện đại nhập từ nước ngoài thì chi phí sẽ rất cao dẫnđến giá thành sản phẩm cao Hoặc máy móc quá hiện đại tạo ra những sảnphẩm cũng hiện đại không kém nhưng người tiêu dùng thì không sử dụnghết các tính năng của nó Dù trong trường hợp nào thì sản phẩm của doanhnghiệp cũng khó tiêu thụ, do đó hiệu quả đầu tư là không có, không thu hồiđược vốn, gây lãng phí vốn đầu tư
Trang 285.3 Đầu tư theo chiều sâu là chiến lược lâu dài:
Đối với một nền kinh tế, việc đầu tư theo chiều rộng không thể kéodài quá lâu Bất kỳ nền kinh tế nào không thể tăng trưởng mãi theo chiềurộng bằng cách tăng vô hạn vốn đầu tư, đất đai, lao động, tài nguyên vì cácnguồn này đều có giới hạn Hơn nữa nếu tiếp tục phát triển theo chiều rộng,thiếu chiều sâu thì nền kinh tế sẽ có nguy cơ phụ thuộc nhiều hơn vào nguồnvốn vật chất và các yếu tố bên ngoài
Đối với một doanh nghiệp, việc mở rộng quy mô sản xuất với trình
độ công nghệ như cũ chỉ có thể đến một giới hạn nhất định Doanh nghiệpnếu không đầu tư theo chiều sâu để nâng cao năng lực công nghệ cũng nhưchất lượng sản phẩm thì sẽ nhanh chóng tụt hậu sản phẩm không thể tiêu thụđược dẫn đến không thể tồn tại được là điều tất nhiên Đầu tư theo chiều sâu
có thể nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư bỏ ra theo hướng gia tăng tỷ trọngđóng góp của yếu tố công nghệ - một yếu tố không có giới hạn như nhữngyếu tố khác và tạo ra một nền tảng bền vững cho sự phát triển lâu dài củadoanh nghiệp Vì vậy doanh nghiệp cần vận dụng chiến lược này một cáchhiệu quả trong dài hạn
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ ĐẦU TƯ THEO CHIỀU RỘNG VÀ ĐẦU TƯ THEO CHIỀU SÂU TRONG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
Dệt may được coi là một trong những ngành trọng điểm của nền công nghiệp Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành dệt may Việt Nam hiện nay đang được xem là ngành sản xuất mũi nhọn và có tiềm lực phát triển khá mạnh
Trang 29Với những lợi thế riêng biệt như vốn đầu tư không lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh, thu hút nhiều lao động và có nhiều điều kiện mở rộng thị trường trong và ngoài nước với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế khác nhau Tuy vậy, trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, ngànhdệt may đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, phải cạnh tranh ngang bằng với các cường quốc xuất khẩu lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia,Pakixtan, Hàn Quốc Vì vậy vấn đề đặt ra đối với ngành dệt may hiện nay
là cần tiếp tục đầu tư nâng cao năng lực sản xuất, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam ở thị trường trong nước và ngoài nước
1 Thực trạng đầu tư theo chiều rộng là nền tảng, bước đi đầu tiên của doanh nghiệp
Bất kể một doanh nghiệp nào muốn tiến hành sản xuất kinh doanhcũng phải có những cơ sở vật chất ban đầu như nhà xưởng, máy móc thiếtbị… Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cũng không nằm ngoài điều đó
1.1 Tạo điều kiện tích lũy vốn để đầu tư theo chiều sâu.
Ngành dệt may Việt Nam có nhiều ưu thế để phát triển, trong nhữngnăm qua, ngành đã tập trung phát triển sản xuất hàng dệt may hướng vào thịtrường xuất khẩu Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, trong tháng 5/2009,kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của ta sang EU tuy đã tăng khá mạnhnhưng vẫn giảm 1,94% so với cùng kỳ năm ngoái Tính chung, 5 tháng đầunăm 2009, kim ngạch xuất khẩu giảm 3,6%, đạt 574 triệu USD Ngành côngnghiệp may mặc Việt Nam đang vận hành khá tốt và ít nhiều không bị ảnhhưởng mấy từ khủng hoảng tài chính Việt Nam hiện là nhà cung cấp lớn thứhai cho thị trường Mỹ, sau Trung Quốc Mặc dù giá xuất khẩu trung bìnhgiảm 23% trong 4 năm qua do cạnh tranh gia tăng từ Trung Quốc, nhưngngành may mặc vẫn duy trì tình trạng khá tốt Một trong những lý do đó là
Trang 30sự tham gia tích cực của chính phủ Việt Nam đối với ngành công nghiệpmay mặc với các chính sách xuất khẩu ưu đãi và hỗ trợ doanh nghiệp vàtăng vốn đầu tư để tiếp cận các thị trường xuất khẩu mới, nhất là thị trườngEU.
Từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức WTO, ngành dệt may Việt Nam đãchú trọng phát triển hoạt động xuất khẩu sang các thị trường chuyền thống
để tăng doanh thu Tổng giá trị xuất khẩu hàng dệt may đã tăng liên tục từmức 1,15 tỷ USD vào năm 1996 lên gần 2 tỷ USD vào năm 2001 và xấp xỉ7,8 tỷ USD vào năm 2007 và khoảng 9,1 tỷ USD vào năm 2008 Trong 10tháng đầu năm 2009, dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suythoái kinh tế toàn cầu, ngành dệt may đạt giá trị xuất khẩu gần 7,5 tỷ USD,chỉ giảm khoảng 1,5% so với cùng kỳ năm 2008 Đáng chú ý, giá trị xuấtkhẩu đã tăng khá nhanh kể từ năm 2002 đến nay, với mức tăng trung bìnhtrong giai đoạn 2002-2008 khoảng 22%/năm
Theo thị trường, Hoa Kỳ có mức tăng trưởng xuất khẩu cao nhất, đặcbiệt là kể từ năm 2002 trở lại đây khi Hiệp định Thương mại song phươngViệt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực Chỉ riêng trong năm 2002, giá trị xuất khẩuhàng dệt may vào thị trường Hoa Kỳ đã tăng hơn 21 lần lên hơn 950 triệuUSD, so với mức 45 triệu USD của năm 2001 Kể từ năm 2002 đến nay,xuất khẩu của hàng dệt may vào thị trường Hoa Kỳ cũng luôn tăng trưởngnhanh, đạt mức 3,8 tỷ USD vào năm 2007
Tỷ trọng xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong tổng giá trị xuất khẩu hàng dệtmay của Việt Nam cũng tăng tương ứng, từ mức xấp xỉ 34,6% vào năm
2002 lên gần 50,7% vào năm 2007 Các thị trường chủ yếu khác của hàngdệt may Việt Nam là EU và Nhật Bản Thị trường EU có mức tăng khá ổnđịnh, từ mức 225 triệu USD vào năm 1996 lên 1,5 tỷ USD vào năm 2007.Trong khi đó, xuất khẩu hàng dệt may vào Nhật Bản có diễn biến phức tạp
Trang 31hơn, mặc dù vẫn thể hiện xu hướng tăng: giá trị xuất khẩu năm 2000 là 620triệu USD, giảm xuống còn 514 triệu USD vào năm 2003 và tăng liên tụclên 800 triệu USD vào năm 2007 Chỉ riêng ba thị trường này đã chiếm hơn81% giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam, mặc dù đã giảm so vớimức đỉnh điểm gần 85,9% vào năm 2004
Việc mở rộng tiếp cận thị trường xuất khẩu cũng góp phần tạo điềukiện cho ngành dệt may không ngừng lớn mạnh Tính theo giá so sánh (năm1994), trong giai đoạn 2000-2008, giá trị sản xuất của ngành dệt đã tăng gần2,7 lần, từ gần 10.040 tỷ đồng lên hơn 26.950 tỷ đồng Ngành may mặc thậmchí còn đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh hơn, từ mức 6.040 tỷ đồng lêngần 26.620 tỷ đồng
1.2 Đầu tư theo chiều rộng tạo điều kiện tích lũy kinh nghiệm để tiến hành lựa chọn chiến lược và phương thức đầu tư theo chiều sâu có hiệu quả.
Trong giai đoạn hiện nay khi mà các sản phẩm của ngành dệt mayViệt Nam còn phụ thuộc nhiều vào thị trường nhập khẩu nguyên vật liệu vàmáy móc thiết bị từ nước ngoài thì việc tích lũy kinh nghiệm để tiến hànhđầu tư theo chiều sâu là việc làm cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranhcho các sản phẩm dệt may Việt Nam
Để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, hiện nay ngành dệt may ViệtNam vẫn chủ yếu phải nhập khẩu nguyên vật liệu từ thị trường nước ngoài.Đầu năm 2009, các doanh nghiệp dệt may phải nhập 100% xơ sợi hoá học,90% bông sơ tự nhiên chủ yếu nhập từ Mỹ; 70% vải các loại, 67% sợi dệtcũng là nhập khẩu Theo thống kê, trong tháng 7 năm 2007, kim ngạch nhậpkhẩu nguyên phụ liệu dệt may gồm bông, sợi, xơ đã tăng 32% so với cùng
kỳ năm 2006, đạt trên 200 triệu USD Tháng 6 đạt 250 triệu USD, tăng42,9% so với cùng kỳ năm trước Tính chung 7 tháng đầu năm 2007, nhập
Trang 32khẩu nguyên phụ liệu dệt may đạt khoảng 1,3 tỉ USD, tăng khoảng 15% sovới cùng kỳ năm 2006 Công ty Cổ phần May Phương Đông là một doanhnghiệp có tỷ lệ làm hàng FOB (tham gia vào tất cả các khâu, từ nhập nguyênliệu, thiết kế mẫu cho đến tiêu thụ thành phẩm và chỉ xong trách nhiệm khihàng được giao lên tàu) tới 95%, song phải sử dụng 60 - 70% NPL nhậpkhẩu Ông Nguyễn Khánh Sơn, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Cổ phần Dệtmay Hà Nội cho biết, đơn vị phải nhập khẩu hoàn toàn nguyên liệu sản xuấtvới sản lượng khoảng 20.000 tấn bông, xơ/năm (trị giá 24,5 triệu USD) đểsản xuất các sản phẩm như sợi, vải dệt kim, vải jean, khăn… do nguyên liệutrong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu; sản lượng, diện tích trồng bông còn ít;một số nguyên liệu trong nước sản xuất được nhưng giá lại bằng sản phẩmnhập khẩu trong khi chất lượng không ổn định Theo số liệu thống kê củaTổng cục Hải quan, năm 2009, Việt Nam đã nhập khẩu lượng nguyên phụliệu phục vụ sản xuất trị giá 9,63 tỉ đô la Mỹ, trong đó bông chiếm 417 triệu
đô la, sợi chiếm 723 triệu đô la, vải chiếm 4,1 tỉ đô la, các loại phụ liệuchung cho dệt may và da giày chiếm 2,19 tỉ đô la, chất dẻo làm sợi tổng hợpchiếm 2,2 tỉ đô la Trong năm 2008, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt trên 9
tỷ USD nhưng chỉ tính riêng giá trị vải nhập khẩu trong năm 2008 đã lên đếncon số 4,43 tỷ USD Hiện nay, nhu cầu về nguyên liệu nhập khẩu để đảmbảo sản xuất cần đến 95% xơ bông, 70% sợi tổng hợp, 40% sợi xơ ngắn,40% vải dệt kim và 60% vải dệt thoi Qua đó, có thể thấy rằng cả một ngànhcông nghiệp dệt may gần như hoàn toàn phụ thuộc vào nguyên phụ liệunước ngoài Theo ước tính của các chuyên gia trong ngành, 90% nguyên phụliệu cho ngành sản xuất dệt may của Việt Nam hiện được nhập khẩu từTrung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản
Vấn đề đặt ra đối với ngành dệt may là phải chủ động nguồn nguyênphụ liệu trong nước để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt