1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong mô hình điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng methadone (Nghiên cứu trường hợp cơ sở điều trị Methadone

36 427 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 112,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌCKHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊTUYẾT“VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG MÔ HÌNH ĐIỀU TRỊTHAY THẾCÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHAD

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC

KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊTUYẾT“VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG MÔ HÌNH ĐIỀU TRỊTHAY THẾCÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN

BẰNG METHADONE”

(Nghiên cứu trường hợp cơ sởđiều trịMethadone xã hội hóa quận Kiến An, thành phốHải Phòng)

LUẬN VĂN THẠC SĨCÔNG TÁC XÃ HỘI

Chuyên ngành Công Tác Xã Hội

Mã số: 60 90 0101 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Văn Tùng

HÀ NỘI –2016

Trang 2

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đềtài 7

2 Tổng quan vềvấn đềnghiên cứu 8

3 Ý nghĩa khoa học của đềtài 18

4 Mục đích và nhiệm vụnghiên cứu 19

5 Đối tượng và khách thểnghiên cứu 206 Phạm vi nghiên cứu 20

7 Câu hỏi nghiên cứu 21

8 Giảthuyết khoa học 21

9 Phương pháp nghiên cứu 21

NỘI DUNG 2

7 CHƯƠNG 1: CƠ SỞLÝ LUẬN VỀVAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG MÔ HÌNH ĐIỀU TRỊVÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU27 1 Cơ sở lý luận 19

1.1 Các khái niệm công cụ 27

1.1.1 Vai trò của nhân viên công tác xã hội 27

1.1.2 Khái niệm vềmô hình điều trịthay thếcác chất dạng thuốc phiện bằng methadone 28

1.1.3 Ma túy Error! Bookmark not defined

1.1.4.Nghiện và người nghiện ma túy Error! Bookmark not defined

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu Error! Bookmark not defined

1.2.1 Lý thuyết hệthống sinh thái Error! Bookmark not defined

1.2.2 Lý thuyết vai trò Error! Bookmark not defined

Trang 3

1.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu, vềngười nghiện ma túy và công tác cai nghiện

ma túy trên địa bàn quận Kiến An –HPError! Bookmark not defined

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG QUY TRÌNH ĐIỀU TRỊTHAY THẾCÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE QUẬN KIẾN AN, TP HẢI PHÒNGError! Bookmark not defined

2.1 Khái quát chung vềquá trình thực hiện phương pháp điều trịcai nghiện ma túy bằng methadone tại cơ sởxã hội hóa quận Kiến An, thành phốHải

Phòng Error! Bookmark not defined

2.1.1 Sựhình thành Error! Bookmark not defined

2.1.2 Cơ cấu tổchức và nhiệm vụcủa cơ sởđiều trịError! Bookmark not defined.2.1.3 Kết quảthực hiện Error! Bookmark not defined

2.2 Quy trình điều trị Error! Bookmark not defined

2.2 Thực trạng vai trò của nhân viên công tác xã hộiError! Bookmark not defined.2.2.1 Vai trò là người tư vấn Error! Bookmark not defined

2.2.1.1 Thực trạng thực hiện vai trò tư vấnError! Bookmark not defined

2.2.2 Vai trò là người giáo dục Error! Bookmark not defined

2.2.3 Vai trò là người tạo môi trường thuận lợiError! Bookmark not defined.2.2.4 Vai trò người điều phối, kết nối dịch vụError! Bookmark not defined

2.2.5 Vai trò biện hộ Error! Bookmark not defined

2.2.6 Vai trò là người đánh giá và giám sátError! Bookmark not defined

.CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG MÔ HÌNH ĐIỀU TRỊCAI NGHIỆN MA TÚY BẰNG METHADONE Error! Bookmark not defined

3.1 Kì vọng và giải pháp nâng cao vai trò tư

vấn Error! Bookmark not defined

3.1.1 Kì vọng nâng cao vai trò tư vấn Error! Bookmark not defined

Trang 4

3.1.2 Giải pháp nâng cao vai trò tư vấn Error! Bookmark not defined.

3.2 Kì vọng và giải pháp nâng cao vai trò giáo dụcError! Bookmark not defined.3.2.1 Kì vọng nâng cao vai trò giáo dục Error! Bookmarknot defined

3.2.2 Giải pháp nâng cao vai trò giáo dục Error! Bookmark not defined

3.3 Kì vọng và giải phápnâng cao vai trò là người tạo môi trườngthuận

lợi Error! Bookmark not defined

3.3.1 Kì vọng nâng cao vai trò là người tạo môi trường thuận lợiError! Bookmarknot defined

3.3.2 Giải pháp nâng cao vai trò là người tạo môi trường thuận lợiError!

Bookmark not defined

3.4 Kì vọng và giải pháp nâng cao vai trò là người điều phối, kết nối dịch

vụ Error! Bookmark not defined

3.4.1 Kì vọng nâng cao vai trò là người điều phối, kết nối dịch vụError!

Bookmark not defined

3.4.2 Giải pháp nâng cao vai trò là người điều phối, kết nối dịch vụError!

Bookmark not defined

3.5 Kì vọng và giải pháp nâng cao vai trò là người biện hộError! Bookmark not defined

3.5.1 Kì vọng nâng cao vai trò là người biện hộError! Bookmark notdefined.3.5.2 Giải pháp nâng cao vai trò là người biện hộError! Bookmark not defined.3.6 Kì vọng và giải pháp nâng cao vai trò là người đánh giá, giám sátError!

Bookmark not defined

3.6.1 Kì vọng nâng cao vai trò là người đánh giá, giám sátError! Bookmark not defined

3.6.2 Giải pháp nâng cao vai trò là người đánh giá, giám sátError! Bookmark not defined

KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined.TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined

Trang 5

PHỤLỤC Error! Bookmark not

defined

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tổng kết sốlượng bệnh nhân Error! Bookmark not defined

.Bảng 2.2: Mức độtư vấn các vấn đềcho bệnh nhân của nhânviên tư vấnError! Bookmark not defined

Bảng 2.3: Các hình thức nhân viên tư vấn đưa ra mục tiêu cho bệnh nhânError! Bookmark not defined

Bảng 2.4: Đánh giá của bệnh nhân vềmức độthực hiện các kỹnăng tư vấn của nhânviên tư vấn Error! Bookmark not defined.Bảng 2.5: Mức độnắm bắtvềphương pháp điều trịvà các kỹnăng của gia đình bệnh nhân mà nhân viên tư vấn cung cấp Error! Bookmark not defined

Bảng 2.6: Mức độgiáo dục các kỹnăng cho bệnh nhân của nhân viên tư

vấn Error! Bookmark not defined.Bảng 2.7: Đánh giá vềmức độgiáo dục các loại hình tìm kiếm việc làm cho bệnh nhân của nhân viên tư vấn Error! Bookmark not defined

Bảng 2.8: Các kỹnăng nhân viên tư vấn giáo dục cho gia đình bệnh nhânError! Bookmark not defined

Bảng2.9: Những nội dung mà gia đình bệnh nhân được tư vấn, hướng dẫn đểcải thiện mối quan hệvới bệnh nhân Error! Bookmark not defined

Bảng2.10: Các phương pháp hỗtrợcủa chính quyền địa phương mà bệnh nhân được tiếp cận Error! Bookmark not defined

Bảng2.11: Các vấn đềmà bệnh nhân được nhân viên tư vấn và cơ sởđiều trịtạo điều kiệnthuận lợi Error! Bookmark not defined

.Bảng2.12: Kết quảđiều tra mức độtìm kiếm nguồn lực của nhân viên tư

vấn Error! Bookmark not defined.Bảng 2.13: Tỉlệbệnh nhân được nhân viên tư vấn kết nối dịch vụnhưng không thành công Error! Bookmark not defined

Bảng2.14: Đánh giá của gia đình bệnh nhân vềsựphù hợp của các dịch vụdo nhân viên tư vấn kết nốicho bệnh nhân Error! Bookmark not defined

Trang 6

Bảng 2.15: Những vấn đềbệnh nhân từng gặp cần đƣợc biện hộ Error! Bookmark not defined.

Bảng 2.16: Những vấn đềbệnh nhân đƣợc nhân viên tƣ vấn biện hộ Error! Bookmark not defined

Bảng 2.17: Thực trạng hiểu biết vềLuật trợgiúp pháp lý củabệnh nhân.Error! Bookmark not defined

Bảng 2.18: Tần suất bệnh nhân đƣợc nhân viên tƣ vấn đánh giá vềtiến độđiều trị Error! Bookmark not defined

Bảng 2.20: Mức độlàm việc củanhân viên tƣ vấn với gia đình Error! Bookmark not defined

Bảng 2.21: Mức độthu thập thông tin từcán bộnhân viênError! Bookmark not defined

Bảng 2.22: Đánh giá của bệnh nhân vềkết quảthực hiện vai trò đánh giá và giám sát của nhân viên tƣ vấn Error! Bookmark not defined

Trang 7

nhân Error! Bookmark not defined.

Biểu đồ2.6: Mức độtuân thủcủa bệnh nhân nhằm giảm nguy cơ điều trị Error! Bookmark not defined

Biểu đồ2.7: Mức độcung cấp thông tin vềphương pháp điều trịcho gia đình bệnh nhâncủa nhân viên tư vấn Error! Bookmark not defined.Biểu đồ2.8: Các nội dung nhân viên tư vấn cung cấp cho gia đình và mức độứng dụng vào thựctiễn Error! Bookmark not defined.Biểu đồ2.9: Thực trạngvai trò tạo thuận lợi của nhân viên tư vấn ởgiai đoạn chưa tham gia điều trị Error! Bookmark not defined.Biểu đồ2.10: Sốlượngdịch vụmà bệnh nhân được kết nốibởi nhân viên tư

vấn Error! Bookmark not defined

Biểu đồ2.11:Các dịch vụmàgia đình được kết nốibởi nhân viên tư vấn Error! Bookmark not defined

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tàiNghiện ma túy đang là một vấn đề phức tạp, những hậu quả do

tệ nạn ma túy gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến bản thân, gia đình người

nghiện, đến tình hình phát triển kinh tế

-xã hội và an ninh trật tự của đất nước

[7]SốngườinghiệnởViệtNamngàycàngtăngvàchưacóxuhướnggiảm.Đếnnăm2015,tổngsốngườinghiệnmatúytănglênkhoảng204.400người,trung bình mỗi năm tăng khoảng 7.000 người)

Người nghiện ma túy đã có ở 100% các tỉnh, thành phố, gần 90% quận, huyện và khoảng 70% số xã, phường, thị trấn [7] Vậy nhưng, công tác cai nghiện coi

người nghiện ma túy là người mắc tệ nạn xã hội và áp dụng các hình thức xử phạt,giáo dục tại xã phường thị trấn, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc bị xử lý hình sự có kết quả rất hạn chế khi số người tái nghiện gần như tuyệt đối [7]

Tiếp thu những tiến bộ của thế giới trong công tác cai nghiện, thay đổi cách ứng xửvới người nghiện ma túy, coi họ là người mắc bệnh mãn tính.Và thay vì xử phạt thì tổ chức chữa bệnh cho phù hợp với những nhóm đốitượng nghiện ma túy khác nhau Vì vậy, chính sách, pháp luật về cai nghiện ma túy của Việt Nam từng bước được cải thiện đáng kể

Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 được sửa đổi, bổ sung năm 2008, tại Điều 34a quy định: “Biện pháp can thiệp giảm tác hại củanghiện ma túy được triển khai trong nhóm người nghiện ma túy thông qua chương trình, dự án phù hợp với điều kiện kinh tế

-xã hội [5] Theo đó, vào năm 2008, chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuộc phiện bằng methadone đã được thí điểm ở Việt Nam.Ngày 27/12/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2596/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề

án đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam đến năm 2020

Trong đó quan điểm về cai nghiện được nhấn mạnh và làm cơ sở cho việc xây dựng và triển khai đề án Nghiện ma túy là bệnh mãn tính do rối loạn của bộ não, điều trị nghiện là một quá trình lâu dài bao gồm tổng thể các can thiệp hỗ trợ về y

tế, tâm lý, xã hội làm thay đổi nhận thức, hành vi nhằm giảm tác hại của nghiện và giảm tình trạng sử dụng ma túytrái phép [18]

Trang 9

Theo đó, cần thiết phải mở rộng chương trình điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng methadone khắp các tỉnh/thành phố, tạo mọi điều kiện cho người nghiện tiếp cận với phương pháp điều trị mới này.

Tại quận Kiến An, thành phố Hải Phòng có khoảng gần 2500 người nghiện ma túy, chiếm20% số người nghiện trên toàn thành phố Trung tâm cai nghiện thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng methadone xã hội hóa Quận Kiến An -Hải Phòng được thành lập vào năm 2011 Đến cuối năm 2015 trung tâmcó 387 bệnh nhân đang điều trị [7]

Sau 5 năm cơ sở thực hiện phương pháp điều trị cai nghiện mới này đã đạt được nhiều ưu điểm và kết quả vượt trội, nhưng những kết quả đạt được chủ yếu ở khíacạnh y tế mà sự tác động của methadone mang lại Bên cạnh đó vẫn còn nhiều tồn tại và nhiều vấn đề cần phải giải quyết liên quan tới các vấn đề xã hội như: tính đến ngày 15/1/2015 có 33 bệnh nhân bị bắt do vi phạm pháp luật, 5 bệnh nhân tử vong do sốc thuốc và tự tử vì ảo giác khi sử dụng ma túy đá, 37 bệnh nhân không tuân thủ điều trị buộc phải ra khỏi chương trình, 5 bệnh nhân bị rối loạn tâm thần,

14 bệnh nhân được xét duyệt nhưng không tham gia điều trị Bệnh nhân điều trị trước 06 tháng xét nghiệm có kết quả dương tính với Heroin trung bình các tháng 17%, sau 06tháng là 11% Tình trạng hôn nhân chỉ có 52% bệnh nhân có vợ chồng,còn lại 30,5% độc thân, 5,5 % ly thân và 12% ly hôn Tình trạng có việc làm ổn định chỉ có 6,5%, lao động tự do không ổn định 71% và không có việc làm là 22,5% Tình trạng kinh tế, hộ nghèo và hộ khó khăn chiếm tới 46%

Tình trạng bệnh nhân tụ tập trước cơ sở điều trị rủ rê, lôi kéo nhau sử dụng ma túy tổng hợp, gây rối trật tự an ninh vẫn diễn ra thường xuyên và cần công an vào cuộc[26] Những vấn đề còn tồn tại chứng minh một điều là các giải pháp thực hiện chobệnh nhân cai nghiện tái hòa nhập xã hội chưa mang lại kết quả tốt Với vai trò chính yếu hiện nay của nhân viên tư vấn là tư vấn về sức khỏe và tâm lý thì việc kết nối bệnh nhân với cộng đồng xã hội, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho bệnh nhântái hòa nhập bền vững là điều rất khó khăn

Chính vì vậy, để phần nào giải quyết được những tồn tại liên quan tới cai nghiện thành công và hòa nhập xã hội bền vững của bệnh nhân chúng tôi tiến hànhnghiên cứu“Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong mô hình điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng methadone” (Nghiên cứu trường hợp cơ sở xã hội hóa quận Kiến An, Hải Phòng)

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứuNghiện ma túy và vấn đềcai nghiện ma túy là đềtài được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu, trong đó các nhà xã hội

Trang 10

học và tâm lý học cũng có nhiều công trình nghiên cứu lớn vềcác vấn đềtâm lý xã hội của người nghiện Và trong những năm gần đây, phương pháp điều trịthay thếcác chất dạng thuốc phiện bằng methadone đượcxem

là phương pháp tối ưu trong điều trịcai nghiện Chính vì vậy có nhiều công trình nghiên cứu theo nhiều hướng nghiên cứu khác nhau quan tâm tới vấn đềnày Có thểkểđến những hướng nghiên cứu sau:

2.1 Hướng nghiên cứu tâm lý học xã hội vềngười nghiện ma túyTâm lý học xã hội và hành vi của người nghiện ma túy có các nhà khoa học trên thếgới quan tâm như: Nhà khoa học Carroll nghiên cứu vềliệu pháp thay đổi hành vi lệthuộc vào

ma túy (1996) và đưa ra kết luận rằng: Phòng chống tái nghiện bằng cách giảm sựlệthuộc vào ma túy của người đã cai nghiện ma túy có hiệu quảhơn là không có sựđiều trịvà cũng hiệu quảnhư những liệu pháp tâm lý Vì tâm lý của người

nghiện luôn thèm nhớma túy và bịma túy điều khiển dẫn đến những hành vi thõa mãn, thú tính đi ngược với chuẩn mực đạo đức xã hội Chính vì vậy, nhà khoa học cho rằng muốn phòng chống tái nghiện cần thiết phải giảm sựlệthuộc vào tâm lýtừđó thay đổi hành vi sửdụng ma túy Nghiên cứu này cũng đềcập đến các liệu pháp tâm lý bao gồm có tư vấn tâm lý, tham vấn tâm lý giúp người nghiện có thểcai nghiện hiệu quả[30].Một nghiên cứu khác của Dựán MATCH (1997) cho thấy rằng ba biện pháp can thiệp mà họđã kiểm nghiệm (thay đổi hành vi nhận thức, thúc đẩy động cơ và phương pháp 12 bước nhằm giảmsựlệthuộc vào chất matúy) đều hiệu quảnhư nhau Tuy nhiên dựán cũng cho thấy, dựa vào từng loại ma túy được sửdụng khác nhau mà tình trạng lệthuộc của người nghiện vào ma túy là khác nhau và cần phải có những phương pháp điều trịkhác nhau Nghiên cứu chỉrõđược mỗi loại ma túy có cơ chếgây nghiện khác nhau, gây ra sựlệthuộc khác nhau,tác động đến tâm lý của người nghiện khác nhau, ảnh hưởng đến sức khỏe người sửdụng khác nhau Chính vì vậy, ởmỗi loại ma túy cần thiết phải có những biện pháp cụthểtác động vào cơ chếđồng vận của từng loại ma túy và phương pháp tâm lý là quan trọng không thểthiếu trong cai nghiện bất cứloại ma túy nào [24].Trong công tác điều trị, đánh giá tổng kết của hội đồng quốc gia vềma túy của thủtướng Australia xuất bản năm 2001 thểhiện được tính hiệu quảcủa các chương trình cai nghiện là chống lại sựlệthuộc vào ma túy

Chính vì vậy các biện pháp phải làm sao giúp người nghiện không còn lệthuộc vào

ma túy nữa Và đánh giá cũng cho rằng ma túy là chất kích thích thần kinh khiến cho người nghiện ma túy bịảnh hưởng nghiêm trọng vềtâm lý, thần kinh, cần thiết phải có những biện pháp chữa trịvềtâm thần cho họ Và biện

Trang 11

pháp chữa trịtâm thần cần phải đặt lên hàng đầu trước khi đi vào điều trịlệthuộc vềthểchấtcho người nghiện [34].ỞViệt Nam, tác giảNguyễn Minh Tuấn nghiên cứu vềcác loại ma túy chủyếu, sựphụthuộc của người nghiện ma túy vào các loại

ma túy, tác động và tác hại của chúng đối với con người Ông đã nghiên cứu

vềsựlệthuộc vào các loại ma túy khác nhau của người nghiện và đưa ra kết luận rằng: rượu là một loại chất gây nghiện mạnh, gây dung nạp, phụthuộc cơ thểvà tâm thần, gây độc cho tâm thần

Thuốc lá là loại chất gây nghiện nhẹvà gây phụthuộc chủyếu vềtâm thần Các chất dạng thuốc phiện là những loại ma túy mạnh và bịcấm sửdụng, gây dung nạp và phụthuộc vềcơ thểvà tâm thần mạnh Canabis (hoạt tính THC: tetra hydro

canabinol, không gây dung nạp và phụthuộc cơ thể), Amphetamine và các

chếphẩm là sản phẩm tổng hợp được đóng viênhoặc bột trắng dễhòa tan trong nước, gây sựdung nạp và phụthuộc vềtâm thần mạnh nhưng không gây

sựphụthuộc vềcơ thể, không có hội chứng cai vềcơ thể Cocaine và Crack gây phụthuộc tâm thần nhưng không gây phụthuộc vềcơ thể Các thuốc giải lo âu, gây ngủnhư (benzodiazépine và barbituriques) gây dung nạp, phụthuộc cơ thểlẫn tâm thần, gây ngộđộc tâm thần Ma túy gây ngộđộc tâm thần mạnh và thay đổi cơ chếtâm lý bình thường của con người

Vì vậy, cai nghiện ma túy không đơn giản là cắt cơn chongười nghiện mà còn là giải độc tâm thần cho họ[19].Nghiên cứu của tác giảTrần Viết Nghị, Chủtịch hội Tâm thần học Việt Nam Nghiên cứu vềcác phương pháp điều trịnghiện các chất dạng thuốc phiện phổbiến trên thếgiới và Việt Nam

Ông đã đưa ra những chất dạng thuốc phiện, phân tích sựlệthuộc vào các chất dạng thuốc phiện của người nghiện ma túy Từđó phân tích các phương pháp điều trịcai nghiện và tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu của từng phương pháp, tìm ra những phương pháp cai nghiện phù hợp với đặc điểm của tình hình nghiện ma túy ởViệt Nam hiện nay Những phương pháp cai nghiện phù hợp nhưng theo ông đểthành công trong công tác cai nghiện là một câu hỏi lớn chưa

có giải đáp, các biện pháp chỉphần nào đó giúp bệnh nhân cắt cơn tạm thời,

cóthểchống tái được trong một thời gian ngắn mà chưa phải là biện pháp lâu dài [24].Nghiên cứu của tác giảTrịnh Văn Tùng vềquản lý và điều trịngười nghiện ma túy dựa vào cộng đồng và tại cộng đồng từtrước và sau khi áp dụng các Nghịđịnh

Trang 12

111/2013/NĐ-CP và 221/2013/NĐ-CP của Chính phủ Nghiên cứu được thực hiệntại Hưng Yên Tác giảđã đưa ra một sốkết luận: Thứnhất: quản lí và điều trịngườinghiện ma túy dựa vào cộng đồng và tại cộng đồng đã đạt được một sốkết quảtích cực ởcấp độcá nhân.Thứ2:ởcấp độgia đình của người nghiện ma túy, những phần được và mất thành hai phần rõ nét Nếu như gia đình, người thân cảm thấy có sựhiện hữu thường trực của người nghiện ma túy tại nhà riêng thì những chi phí vềthời gian, công sức theo dõi đối tượng nàytăng lên trong khi lao động, việc làm

và thu nhập của gia đình có xu hướng giảm

Thứ3: ởcấp độcộng đồng, hầu như chỉcó những cái mất mà không có cái được bởi

vì dường như sựtập trung thái quá vào quyền của người nghiện ma túy với tư cách là người bệnh vô hình dung đã tạo ra một nỗi lo cho cộng đồng vềsự“lây lan của bệnh” và làm cho các nhóm xã hội yếu thếkhác trong cộng đồng bịrơi vào quênlãng mặc dù họcũng rất cần được bảo vệnhất là trẻem đối tượng đông đảo và tương lai của xã hội.Thứ4: mô hình quản lý và điều trịnày đòi hỏi một lối thoát bềnvững hơn [22]

“Nghiên cứu nguyên nhân tái sử dụng, tái nghiện ở người cai nghiện ma

tuý”doôngLêTrungTuấn-ChủtịchHộiđồngQuảnlýViệnnghiêncứuTâmlýngườisửdụngmatúy(PSD),làmchủnhiệm.Theoông,người nghiện chịu hai sự lệ thuộc rất rõ ràng, sự lệ thuộc về thể chất

và sự lệ thuộc về tâm lý Quá trình nghiện đã được tự động ghi nhớ vào trong não bộ.ĐềtàivậndụngcáchọcthuyếttâmlývềđườngliênhệthầnkinhtạmthờicủaPavlov,thuyếthệthốngchứcnăngcủaAnokhinvàonghiêncứuvấnđềnghiệnvàtáinghiệnmatuý.Nghiêncứuđượcthựchiệntại7TrungtâmChữabệnhGiáodụcvàLaođộngXãhộithuộc6tỉnh,thànhphố:VĩnhPhúc,HảiPhòng,PhúThọ,HảiDương,ThanhHóavàNghệAn,vớisựthamgiacủa1329họcviêncainghiện.Ông

LêTrungTuấnđãphânloại4nhómnguyênnhândẫntớihànhvitáisửdụng,táinghiệnởngườicainghiệnmatúy

Nhómnguyênnhântừcáchìnhảnhtrựcquan(nhữngngườiliênquantrongquátrìnhsửdụngmatúy,cácđồvật,dụngcụsửdụngmatúy,cácđịađiểmtừngsửdụngmatúy).Nhómcáccảmxúc,nhómtìnhhuốngvàhànhvinguycơ.Cáctácnhântrongcácnhómnguyênnhâncómứcđộảnhhưởngkhônggiốngnhautrongviệckhiếnchongườinghiệnmatúytáisửdụng,táin

Trang 13

kimtiêm,nơimuabánmatúy,quánnướchayngồivớibạnnghiện,khibịkìthịxalánh,khitrầmuấtcôđơn,khigặplạinhómbạnbècùngnghiện,khisửdụngcácchấtkíchthíchkhác[26].2

2 Hướng nghiên cứu tập trung vào hiệu quảchương trình điều trịmethadoneTrên thếgiới, điều trịnghiện các CDTP bằng thuốc methadone (gọi tắt là điều trịthay thếbằng methadone) được triển khai tại Mỹtừnăm 1965 [42] Đây là một giải pháp mới trong hoạt động can thiệp dựphòng lây nhiễm HIV đã được triển khai trên 80 quốc gia, vùng lãnh thổtrên thếgiới như Úc, Mỹ, Hà Lan, Ấn Độ, Thái Lan,

Myanmar, Trung Quốc, Hồng Kông Toàn thếgiới đã có trên 1.000.000 người được điều trịthay thế Chương trình điều trịmethadone đã góp phần giảm đáng kểtội phạm, giảm sựlây truyền HIV trong nhóm người nghiện ma tuý và từnhóm người nghiện ma tuý ra cộng đồng Nhiều nghiên cứu đã chứng minh chương trình có hiệu quảtrong việc làm giảm sửdụng heroin [31],[33],[32], , dựphòng lây nhiễm HIV, tăng tuân thủđiều trịARV và giảm tỷlệtửvong trong sốnhững bệnh nhân tham gia điều trịmethadone [32] Tổchức Y tếthếgiới (WHO) đã nghiên cứu vềkết quảđiều trịthay thếbằng methadone tại các nước mới triển khai chương trình methadone từđầu thập niên 2000 như ởTrung quốc, Thái Lan, Indonesia [32] Trên các tạp chí chuyên đề, và trên các diễn đàn quốc tếnhư Hội nghịAIDS

2011 Busan Các nhà nghiên cứu Trung quốc, Thái Lan, Indonesia cũng đã báo cáohiệu quảcủa điều trịthay thếtình trạng nghiện chất dạng thuốc phiện trong lĩnh vực HIV/AIDS và dựphòng tại một sốcác nước đang phát triển hoặc đang chuyển đổi ởchâu Á, Đông Âu Tiêu chí đánh giá của các nghiên cứu này đều tập trung vào

5 yếu tốkểtrên [31].Chương trình methadone cũng làm giảm các hành vi nguy cơ làm lây nhiễm HIV như tiêm chích ma túy, sửdụng chung bơm kim tiêm, có nhiềubạn tình hay bán dâm [25]

Điều trịthay thếbằng methadone đường uống làm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm người nghiện các CDTP do giảm việc tiêm chích, giảm tỷlệsửdụng chung bơm kim tiêm Nghiên cứu tại Mỹcho thấy người nghiện ma túy không được điều trịbằng methadone có tỷlệhuyết thanh dương tính với HIV tăng từ21% tới trên 51% sau 5 năm theo dõi

Với nhóm người nghiện ma túy được điều trịbằng methadone, tỷlệnày chỉtăng từ13% đến 21% Metzger DS và cộng sựđã tiến hành một nghiên cứu trong 18

Trang 14

tháng vềnhóm người sửdụng ma túy có HIV âm tính tham gia điều trịmethadone

không điều trịmethadone, kết quảcho thấy sau 18 tháng, tỷlệcó HIV dương tính trong nhóm bệnh nhân điều trịmethadone là 3,5% và tỷlệnày ởnhóm không được điều trịmethadone là 22%Như vậy, các nghiên cứu trên Thếgiới cho thấy điều trịnghiện các CDTP bằng thuốc methadone có hiệu quảtrong việc làm giảm nguy

cơ lâynhiễm HIV và các hậu quảdo sửdụng ma túy gây ra

Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy hiệu quảtương tựnhư nhiều nghiên cứu trước đó trên thếgiới Đó là việc giảm sửdụng ma túy bất hợp pháp, tăng khảnăng lao động, giảm chi tiêu cho việc mua ma túy, giảm hành vi sai phạm và cải thiện sức khỏe thểchất, tâm thần Báo cáo gần đây nhất của tỉnh Điện Biên cũng đã cho thấy nhiều kết quảkhảquan vềhiệu quảcủa chương trình Sau 3 năm triển khai chương trình điều trịmethadone tại Điện Biên cho thấy chỉcòn 7,3% người sửdụng ma túy không thường xuyên, tỷlệbệnh nhân tuân thủđiều trịtốt là 78,5% Hầu hết các bệnh nhân đánh giá vềchương trình điều trịmethadone và đánh giá chất lượng hoạt động của cơ sởđiều trịmethadone là tốt và rất tốt (>98%) [25].Nghiên cứu của tác giảHoàng Đình Cảnh và Nguyễn Thanh Long vào năm

2009 cho biết rằng, điều trịbằng methadone đã đem lại nhiều kết quảkhảquan Cụthể, từkhi bắt đầu điều trịđến thời điểm 2009, chưa có bệnh nhân nào xuất hiện các tác dụng phụnghiêm trọng Tác dụng phụhay gặp nhất là táo bón (61%),các triệu chứng khác như suy giảm tình dục, mất ngủ, buồn nôn chiếm

tỷlệthấp (10%)

Tuy nhiên, các triệu chứng này lại nhanh chóng mất đi theo thời gian điều trịcủa bệnh nhân Chưa có bệnh nhân nàobịtửvong do tác dụng phụcủa thuốc Ngoài ra, tỷlệnhiễm HIV trong nhóm bệnh nhân trước điều trịlà 37,6% tại thời điểm năm

2008, đến năm 2009, tỷlệnày đã giảm rất rõ rệt Thêm vào đó, trước thời gian điều trịmethadone có 24% bệnh nhân tại Hải Phòngvà 44% bệnh nhân tại TP HồChí Minh sửdụng chung bơm kim tiêm, nhưng đến thời điểm nghiên cứu lại không còn Tỷlệbệnh nhân sửdụng bao cao su khi quan hệtình dục ởbệnh nhân điều trịbằng methadone tăng lên đáng kể(tăng lên khoảng 19% trong khoảng thời gian trước và sau điều trịmethadone)

Bệnh nhân còn được cải thiện vềthểchất: 390 bệnh nhân được nghiên cứu tăng khoảng 2-4 kg sau 3 tháng điều trị(chiếm 74,8%), 114 bệnh nhân thất nghiệp tìm được việc làm sau 6 tháng điều trị, chứng

Trang 15

tỏrằng khi tham gia vào chương trình điều trịbằng methadone, các bệnh nhân đó

đã quan tâm hơn đến bản thân và gia đình mình [9]

Tác giảVũ Văn Công trong nghiên cứucủa mình ởHải Phòng năm 2009 Nghiên cứu cho thấy điều trịthay thếbằng thuốc methadone đã đem lại hiệu quảvới việc giảm tỷlệsửdụng ma túy và dùng chung bơm kim tiêm trong cộng đồng người nghiện chất ma túy Tỷlệbệnh nhân phụthuộc vào ma túy giảmrõ rệt, sốngày trung bình bệnh nhân dùng heroin trước khi vào điều trịmethadone so với sau điều trịmethadone 30 ngày, 30-60 ngày và trên 60 ngày là 29,1; 12,4; 2,3 và 0,5

Tỷlệbệnh nhân trước khi vào điều trịmethadone sửdụng chung bơm kim tiêm khi chích ma túy là 24% đã giảm xuống còn 12,7% chỉsau 3 tháng điều trị Bệnh nhân tái hòa nhập được với cuộc sống cộng đồng, bệnh nhân tìm được việc làm là 15,3% [25].Tuy nhiên, nghiên cứu của Vũ Việt Hưng lạichỉra rằng, nhiều bệnh nhân có xu hướng từbỏđiều trịdo họthấy rằng methadone có tác dụng gây nghiện như heroin Bệnh nhân cảm thấy khó chịu khi bịcác tác dụng phụnhư ra mồhôi, hay khô miệng làm họthấy chán ăn Tác dụng phụcủa methadone đã ảnh hưởng đến tâm lý của một sốbệnh nhân đang điều trị Sựnghi ngại vềthuốc ảnh hưởng đến sức khỏe của họvà ngoài ra bệnh nhân cảm thấy khó khăn và ngại với việc hằng ngày phải đi đến cơ sởy tếđểuống thuốc [28]

Tuy nhu cầu điều trịmethadone tại huyện TừLiêm là rất lớn, họnhận thức được tham gia là giúp bản thân, người thân và gia đình, nhưng việc tiếp cận chương trình của họlại gặp phải nhiều khó khăn, cản trở Đó là vì tâm lý của chính người nghiện lo ngại vềthủtục vì phải có xác nhận của công an, họsợphải đi cai nghiện bắt buộc, sợbịảnh hưởng đến công việc, học tập khi tham gia Một sốbệnh nhân khác chưa tin tưởng vào điều trị, sợnghiện methadone

Ngoài ra, còn do yếu tốlà một sốgia đình thiếu kiến thức vềđiều

trịmethadone Tại địa phương, thiếu đi công tác truyền thông vềchương trình, thời gian chờđợi xét duyệt lâu làm nhiều người không thểtham gia vào chương trình [28]

Vào năm 2014, tổchức FHI 360 đã có một nghiên cứu đánh giá định tính và định lượng với quy mô rộng đánh giá hiệu quảcủa chương trình thí điểm điều trịnghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone tại Hải Phòng và thành phốHồChí Minh Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm theo dõi và đánh giá các kết quảcủa chương trình điều trịthay thếcác chất dạng thuốc phiện bằng methadone theo thời gian thông qua các nghiên cứu lặp lại Nghiên cứu tập trung vào: sựthay đổi của tình trạng sửdụng ma túy bao gồm

Trang 16

cảtình trạng sửdụng bơm kim tiêm, sựthay đổi hành vi tình dục bao gồm loại bạn tình và tỉlệsửdụng bao cao su, nâng cao hành vi/sựtương tác xã hội bao gồm việc giảm sựtham gia vào các hoạt động tội phạm và sựthành công trong việc tái hòa nhập với xã hội, sức khỏe thểchất, tâm thần của bệnh nhân và chất lượng cuộc sống [25].Nghiên cứu của tổchức FHI đã đưa ra những kết luận: Thứnhất: tỷlệduy trì trong chương trình thí điểm methadone cao trong thời gian 2 năm nghiên cứu, cao hơn rất nhiều tỷlệduy trì được báo cáo trong các chương trình methadone củacác nước khác Thứhai: hầu hết bệnh nhân thểhiện sựtuân thủđiều trịtốt, và tỷlệbệnh nhân bỏliều nhiều hơn 5 ngày là rất nhỏvà cũng giảm theo thời gian Thứba: báo cáo tác dụng phụdo methadone cũng giảm theo thời gian, từ75,2% bệnh nhân trong vòng 3 tháng đầu xuống còn 6,34% sau 24 tháng điều trị Thứtư: liều methadone trung bình hằng ngày trong chương trình cao hơn (105,7mg) so với liều methadone trung bình sửdụng ởcác nghiên cứu thực hiện ởcác quốc gia khác Thứnăm: điều trịbằng methadone giảm đáng kểviệc dùng ma túy bất hợp pháp trong các bệnh nhân, trong sốnhững người vẫn tiếp tục sửdụng heroin, tần suất tiêm chích giảm mạnh

Thứsáu: methadone làm giảm hành vi nguy cơ nhiễm HIV trong các bệnh nhân Bên cạnh việc giảm tần suất tiêm chích, tỷlệdùng chung bơm kim tiêm cũng

giảm.Thứbảy: tình trạng sức khỏe thểchất và tâm thần của bệnh nhân cũng được cải thiện đáng kểtrong thời gian nghiên cứu

Thứtám: chất lượng cuộc sống của bệnh nhân tăng lên đáng kể, đặc biệttrong giai đoạn 3 tháng đầu sau khi bắt đầu điều trị[25].Như vậy, hướng nghiên cứu tập trung vào hiệu quảcủa chương trình điều trịbằng methadone cho chúng ta thấy kết quảtích cực vềmọi mặt đối với bản thân, gia đình người nghiện và toàn xã hội

Đồngthời cũng cho chúng ta thấy chương trình điều trịnày đang trởthành phương pháp cai nghiện chính hiện nay Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần có những nghiên cứu chuyên môn đa chiều hơn đểnhìn nhận phương pháp này đa chiều hơn

Trang 17

2.3 Hướng nghiên cứu vềkiếnthức, thái độvà hành vicủa người nghiện ma túy điều trịbằng methadoneHiện nay, tại nước ta có rất nhiều các nghiên cứu vềkiến thức,hành vicủa người nghiện ma túy Tuy nhiên nghiên cứu liên quan đến kiến thức, thái độvà hànhvicủa những người nghiện ma túy đang được điều trịbằng thuốc methadone là rất ít Phần lớn vấn đềnày chỉđược tìm hiểu bằng cách lồng ghép vào một dựán nào đó, chứhầu như chưa có sựtập trung chuyên biệt

riêng.Vềkiến thức, trong nghiên cứu “Mô tảthực trạng cung cấp dịch vụy tếchươngtrình dùng thuốc thay thếmethadone can thiệp trong nhóm nghiện chích ma túy tại thành phốHà Nội” năm 2012 Các tác giảđã cho thấy nhóm đối tượng nghiên cứu còn thiếu hiểu biết vềnguyên nhân cũng như nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS Với câu hỏi luôn sửdụng bao cao su đúng cách khi quan hệtình dục dựphòng lây nhiễm HIV là 86,3% Còn khi quan hệtình dục đường hậu môn phòng được lây nhiễm HIV tỷlệtrảlời đúng chỉlà 59,5% 72% trảlời đúng câu hỏi dùng chung bơm kim tiêm khi tiêm chích ma túy làm tăng nguy cơ nhiễm HIV Còn với các câu hỏi khác, tỷlệcó kiến thức đúng chỉtừ67,3%-72,3% [4].Một nghiên cứu khác vào năm

2013 đã chỉra rằng so với trước can thiệp thì tỷlệđối tượng nghiện chích ma túy hiểu biết đúng vềnguy cơ lây nhiễm HIV đã tăng lên rõ rệt Hiểu biết vềnguy cơ nhận máu truyền tăng từ10,3% lên 15,3%, hiểu biết vềtiêm chích ma túy tăng từ58,5% lên 64,5% Ngoài ra, hiểu biết của người nghiện chích ma túy vềtriệu chứng của các bệnh lây truyền qua đường tình dục đã cải thiện đáng kể[13] Vềmặtnhận thức, thái độcủa bệnh nhân cũng có sựchuyển đổi sau khi được điều

trịmethadone Trong một nghiên cứu của Nguyễn Anh Quang (2013), cho thấy tỷlệđối tượng thay đổi nhận thức lợi ích khi tham gia chương trình

methadone đã tăng lên khá nhiều (từ57,3% lên 91,5%) Người điều trịngày càng

có thái độhợp tác và tin tưởng hơn vào phương pháp điều trịnày, một phần là vì hiệu quảmà điều trịbằng methadone đã mang lại, phần khác chính là nhờnhững thay đổi trong thái độcủa nhân viên y tếvà quy trình điều trị Người bệnh hài lòng hơn với quy trình xét nghiệm, thời gian nộp đơn và quy trình tiếp đón bệnh

nhân.Thêm vào đó là sựhài lòng vềthời gian tiếp đón bệnh nhân (tăng từ2,5% lên 3,5%), vềthái độlàm việc của bác sỹtăng từ2,7% lên 3,3% [13]

Nghiên cứu khác vào năm 2012 cũng cho nhận định tương tựkhi đa sốbệnh nhân hiện đang được điều trịcho biết họrất hài lòng và hài lòng với các dịch vụđón tiếp bệnh nhân, thái độbác sỹlàm việc, thái độcủa nhân viên tư vấn Tuy vậy, vẫn còn khoảng 1% bệnh nhân có góp ý thêm Nhưng nhìn chung, hầu hết bệnh nhân chorằng, vềmặt tổng thểthì chương trình điều trịthay thếnghiện các chất CDTP

Trang 18

bằng methadone hữu ích với bản thân họ, đáp ứng được mong muốn của bệnh nhân [25].Ngoài kiến thức và thái độthì hành vi của các bệnh nhân cũng thay đổi khá rõ Trong nghiên cứu của tác giảNguyễn Anh Quang và cộng sựvào năm 2012 cho thấy sau khi điều trịduy trì có tới 98,7% người nghiện chích có quan hệtình dục với vợ/bạn tình trong 1 tháng trởlại đó Trong khi, hành vi sửdụng bao cao su thường xuyên khi quan hệthì có tỷlệtrước điều trịlà 97,8%, cao hơn sau khi điều trịlà 77,2% Trước khi điều trịmethadone, có 8,3% bệnh nhân tại Hà Đông và TừLiêm cho biết có hành vi sửdụng chung bơm kim tiêm Trong quá trình điều trịthì không còn trường hợp nào còn sửdụng chung nữa Mặc dù chưa có đủbằng chứng đểkết luận hiệu quảcủa điều trịmethadone giúp bệnh nhân thay đổi hành vi dùng chung bơm kim tiêm Tuy nhiên có thểthấy việc giảm tần suất tiêm chích

ma túy cũng đã góp phần hạn chếkhảnăng dùng chung bơm kim tiêm, ngay

cảtrong nhóm những bệnh nhân vẫn tiếp tục tiêm chích Thêm vào đó, có sựthay đổi tích cực trong việc sửdụng bao cao su với phụnữbán dâm trước và sau điều trị Tỷlệngười bệnh có sửdụng bao cao su tăng lên từ83,4% lên 87,9% [25]

Tỷlệsửdụng bao cao su được cải thiện đặc biệt có ý nghĩa trong dựphòng lây truyền HIV từquần thểcó tiêm chích ma túy sang các nhóm quần thểkhác.Nghiên cứu của một sốtác giảthuộc Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Hà Nội năm

2013 cho thấy những thay đổi trong hành vi của đối tượng nghiện ma túy Một là tần suất tiêm chích ma túy trong 1 tháng qua của những đối tượng này đã giảm dần.Trong đó, mức độchích 2-3 lần/ngày giảm từ53,3% xuống 45,5%, tần suất tiêm chích trên 3 lần/ngày giảm từ6% xuống 3,2% Thêm nữa, tỷlệđối tượng không bao giờsửdụng chung bơm kim tiêm trong 1 tháng trởlại đã tăng từ93,9% lên 94,7% Nếu vào năm 2012 có tới 7,8% bệnh nhân cho biết có sửdụng chung bơm kim tiêm thì đến thời điểm năm 2013, tỷlệnày đã giảm rất rõ rệt (chỉcòn

0,3%) [4].Nhìn chung, các nghiên cứu này đã cho thấy những thay đổi khá rõ nét theo hướng tích cực vềcác mặt kiến thức, thái độvà thực hành của bệnh nhân khi được tham gia điều

trịmethadone Đây là một tín hiệu đáng mừng, tạo động lực hơn cho không

chỉngười bệnh nghiện ma túy tiếp tục điều trịmethadone lâu dài, mà còn giúp cho các hoạt động liên quan đến điều trịnghiện các chất dạng thuốc phiện bằng

methadone sẽphát triển sâu và rộng hơn trong thời gian tới.Các hướng nghiên cứu trên đã làm rõ được nhiều khía cạnh trong vấn đềnghiện và cai nghiện ma túy Tuynhiên, các khía cạnh chủyếu được tiếp cận dưới góc độy học và khảo sát đểnâng cao nhận thức, thái độ, hành vi của bệnh nhân Hiện chưa có một công trình nghiêncứu nào vềmảng xã hội liên quan đến chương trình điều trịnày Trong khi đó,

Ngày đăng: 31/03/2017, 06:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w