Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam Giải pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nghiên cứu này là của riêng tôi Những số liệu trong nghiên cứu là có thật, do tôi thu thập tại đơn vị thực tập và tài liệu trên các trang thông tin điện tử của Tổng cục Hải Quan, Tổng cục thống kê, Hiệp hội dệt may Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của đề tài chƣa từng đƣợc công bố trên bất kỳ tạp chí hay công trình khoa học nào Các bài báo trích dẫn đều là những tài liệu đă đƣợc công nhận
Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2014
SINH VIÊN
NGUYỄN KHẮC ANH
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
BẢNG TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI NGHĨA v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM 3
1.1 Ngành công nghiệp dệt may ở các nước đang phát triển 3
1.1.1 Vai trò của ngành công nghiệp dệt may đối với các nước đang phát triển 3
1.1.2 Kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp dệt may ở một số nước trên thế giới 3
1.1.3 Lý thuyết về gia công 5
1.1.3.1 Định nghĩa gia công quốc tế 5
1.1.3.2 Vai trò của gia công quốc tế 6
1.1.3.3 Đặc điểm của gia công quốc tế 7
1.1.3.4 Các loại gia công quốc tế 8
1.1.3.5 Xu hướng phát triển của gia công trong lĩnh vực dệt may 9
1.2 Hiện trạng công nghiệp dệt may Việt Nam 11
1.2.1 Vị trí ngành công nghiệp dệt may trong nền kinh tế 11
1.2.2 Hiện trạng năng lực ngành dệt may Việt Nam 13
1.2.2.1 Năng lực sản xuất của ngành dệt may Việt Nam 13
1.2.2.2 Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp dệt may Việt Nam 15
1.2.3 Hoạt động gia công dệt may của Việt Nam 16
1.2.4 Triển vọng phát triển công nghiệp dệt may của Việt Nam 17
CHƯƠNG 2 NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP DỆT MAY CỦA VIỆT NAM TỪ TPP 20
2.1 Khái quát về Hiệp định hợp tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương 20
Trang 32.1.1 Hiệp định TPP và tiến trình đàm phán của Việt Nam 20
2.1.1.1 Khái quát về TPP 20
2.1.1.2 Các đối tác tham gia 21
2.1.1.3 Quá trình tham gia đàm phán TPP của Việt Nam 21
2.1.1.4 Phạm vi điều chỉnh của TPP 22
2.1.2 Các quy định liên quan trực tiếp tới dệt may trong TPP 23
2.1.2.1 Cam kết về thuế 23
2.1.2.2.Quy định về xuất xứ 24
2.2 Những cơ hội từ TPP đối với ngành dệt may Việt Nam 26
2.2.1 Cơ hội tiếp cận thị trường các nước thành viên TPP với thuế suất ưu đãi 26 2.2.2 Tăng năng lực cạnh tranh, thúc đầy phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may 27
2.2.3 Tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư vào ngành dệt may 28
2.3 Những thách thức từ TPP đối với ngành dệt may Việt Nam 29
2.3.1 Các doanh nghiệp FDI có thể hưởng ưu đãi từ TPP so với các doanh nghiệp dệt may 100% vốn nội địa 29
2.3.2 Mất thị trường trong nước đối với hàng dệt may trung và cao cấp từ các nước TPP 31
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP ĐỂ DỆT MAY VIỆT NAM TẬN DỤNG CƠ HỘI TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG TPP 33
3.1 Bài học kinh nghiệm từ tận dụng cơ hội mở cửa thị trường 33
3.1.1 Bài học kinh nghiệm từ tận dụng cơ hội mở cửa thị trường khi Việt Nam gia nhập WTO 33
3.1.2 Kinh nghiệm mở cửa thị trường từ hợp tác song phương với Hoa Kỳ 35
3.1.3 Bài học kinh nghiệm 38
3.2 Giải pháp từ phía cơ quan nhà nước 41
3.2.1 Tạo cơ chế khuyến khích đầu tư vào các ngành phụ trợ 41
3.2.2 Thuận lợi hóa thương mại để giúp giảm chi phí 42
Trang 43.2.2.1 Thuận lợi khi cấp C/O điện tử 43
3.2.2.2 Thuận lợi khi làm thủ tục Hải quan 44
3.2.3 Đào tạo nguồn nhân lực 47
3.3 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 49
3.3.1 Hiện đại hóa công nghệ 49
3.3.2 Có chiến lược dài hạn 51
3.3.3 Hình thành các liên kết trong ngành 53
3.3.4 Quan tâm thích đáng thị trường nội địa 53
KẾT LUẬN 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 5BẢNG TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI NGHĨA
Giá thành bao gồm cước vận chuyển và phí bảo hiểm Giá thành chỉ bao gồm chi phí sản xuất
Tổ chức thương mại thế giới Hiệp định đa sợi
Thủ tướng chính phủ Ngân hàng thế giới Đầu tư trực tiếp nước ngoài Liên Minh Châu Âu
Tập đoàn dệt may Việt Nam Hiệp định thương mại
Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch
Trang 6Biểu đồ3.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại
Biểu đồ3.2: Giá trị xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam giai
Biểu đồ3.3: Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam
39
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ngành dệt may thường được gắn với giai đoạn phát triển ban đầu của nền kinh tế và đóng vai trò chủ đạo trong quá trình công nghiệp hoá ở nhiều nước Ở các nước đang phát triển hiện nay, ngành dệt may đang góp phần phát triển nông nghiệp và nông thôn, là phương tiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp Ngành dệt may Việt Nam có lịch sử phát triển từ lâu đời và hiện nay là một trong những ngành sản xuất mũi nhọn, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xă hội đất nước Với tốc độ tăng trưởng khá cao và tương đối ổn định qua các năm, trung bình trong giai đoạn 2002-2010 khoảng 22%/năm, dệt may hiện đang là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, năm 2012 xuất khẩu dệt may đạt doanh thu gần 20 tỷ USD, chiếm 15% GDP, năm 2013 đạt trên 20 tỉ USD Sản phẩm dệt may của Việt Nam đă có mặt tại 180 quốc gia và vùng lănh thổ trên thế giới, trong đó thị trường xuất khẩu lớn nhất là Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản
Thành công của ngành dệt may Việt Nam có được là nhờ một phần đóng góp không nhỏ của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế tạo điều kiện để dệt may Việt Nam mở rộng thị trường, tìm kiếm cơ hội mới cũng như giảm các rào cản thương mại Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, kim ngạch xuất khẩu dệt may hàng năm liên tục tăng cao, từ mức 5,9 tỉ USD của năm 2006 lên mức 15,8 tỉ USD trong năm 2011, tăng trung bình 21,7%/năm
Hiện nay, Việt Nam đang trong tiến trình đàm phán, tham gia ký kết hiệp định hợp tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mở ra cơ hội phát triển cho kinh tế Việt Nam nói chung và ngành dệt may nói riêng Hiệp định TPP hứa hẹn sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho dệt may Việt Nam phát triển khi các rào cản thương mại tiếp tục được rỡ bỏ, tuy nhiên, đi kèm với các cơ hội bao giờ cũng tồn tại không ít những thách thức Làm thế nào để ngành dệt may Việt Nam tận dụng tốt những cơ hội và hạn chế các tác động tiêu cực khi Hiệp định TPP
Trang 8được kư kết đang là câu hỏi được đặt ra đối với các doanh nghiệp dệt may,
các nhà nghiên cứu cũng như nhà quản lư ở Việt Nam Do đó, đề tài: “Giải
pháp tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam”
được chọn để nghiên cứu nhằm góp phần đi tìm câu trả lời cho vấn đề trên
2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Khóa luận nghiên cứu hoạt động của ngành dệt may Việt Nam và những tác động của Hiệp định TPP tới dệt may Việt Nam khi TPP được ký kết
Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của khóa luận nhằm đưa ra các giải pháp nhằm tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP đối với ngành dệt may Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu thực trạng hoạt động dệt may của Việt Nam và những tác động từ Hiệp định TPP
3 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu hoạt động của ngành dệt may Việt Nam từ năm
1994 đến nay, các cam kết về dệt may trong đàm phán hiệp định TPP
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu sử dụng đựơc vận dụng tổng hợp từ các phương pháp:
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp diễn dịch
- Phương pháp quy nạp, suy luận logic
5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận có
3 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan chung về ngành dệt may Việt Nam Chương 2 Những cơ hội và thách thức đối với công nghiệp dệt may của Việt Nam từ TPP
Chương 3 Giải pháp để dệt may Việt Nam tận dụng cơ hội tiếp cận thị trường TPP
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ NGÀNH DỆT MAY VIỆT
NAM
1.1 Ngành công nghiệp dệt may ở các nước đang phát triển
1.1.1 Vai trò của ngành công nghiệp dệt may đối với các nước đang phát triển
Công nghiệp dệt may là ngành sử dụng nhiều lao động giản đơn phát huy được lợi thế của những nước có nguồn lao động dồi dào với giá nhân công rẻ Đặc biệt ngành công nghiệp may đòi hỏi vốn đầu tư ít nhưng tỉ lệ lãi khá cao Chính vì vậy sản xuất hàng dệt may thường phát triển mạnh và có hiệu quả rất lớn đối với các nước đang phát triển và đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa Khi một nước trở thành nước công nghiệp có trình
độ công nghệ cao, giá lao động cao, sức cạnh tranh trong sản xuất hàng dệt may giảm thì họ sẽ vươn tới những ngành công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật cao hơn, tốn ít lao động, lợi nhuận cao hơn Công nghiệp dệt may lại phát huy vai trò ở các nước khác kém phát triển hơn Lịch sử phát triển của ngành dệt may của thế giới cũng là lịch sử chuyển dịch của công nghiệp dệt may từ khu vực phát triển sang khu vực kém phát triển hơn do có sự chuyển dịch về lợi thế so sánh Như vậy không có nghĩa là sản xuất dệt may không còn tồn tại ở các nước phát triển mà thực tế ngành dệt may đă phát triển ở mức cao hơn, giai đoạn cao hơn, sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao
1.1.2 Kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp dệt may ở một số nước trên thế giới
Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, hầu hết các nước đều tập trung phát triển công nghiệp nhẹ làm nền tảng cho phát triển công nghiệp nặng sau này Trong đó, công nghiệp dệt may thường được coi trọng
và có nhiều điều kiện phát triển mạnh Công nghiệp dệt may phát triển tạo ra thị trường để phát triển công nghiệp dệt may Theo nghiên cứu của Viện kinh
tế và thương mại quốc tế về kinh nghiệm phát triển ngành dệt may của một số nước Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc
Trang 10Ở Nhật Bản, ngành công nghiệp dệt may đã xuất hiện vào những thập
kỷ 50 và 60 của thế kỷ XIX Đến năm 1913, nước này đã xuất khẩu hàng loạt các mặt hàng nguyên phụ liệu dệt may như tơ sống, vải lụa, và hàng dệt bông với kim ngạch xuất khẩu chiếm 55% tổng giá trị xuất khẩu cả nước Và đến
1929 tỷ lệ này được nâng lên 66%, riêng tơ sống chiếm 40% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước (2009) Trong thời kỳ đầu của công nghiệp hóa thì ngành kéo sợi và ngành dệt vải đă trở thành công nghiệp hiện đại quan trọng trong nền kinh tế của Nhật Bản Đến cuối thập niên 1970, ngành dệt may của Nhật Bản đã bắt đầu giảm đi do xu hướng công nghiệp hóa liên tục đã làm tăng lương trong nước và các chi phí sản xuất khác, làm cho các nhà sản xuất vải may mặc của Nhật mất lợi thế cạnh tranh trên thị trường thế giới
Trung Quốc có ngành công nghiệp dệt may là ngành có truyền thống phát triển lâu đời Ngay từ khi mới thực hiện quá trình công nghiệp hóa, dựa trên lợi thế về truyền thống lâu đời và nguồn lao động dồi dào, Chính phủ Trung Quốc đã coi dệt may và công nghiệp hỗ trợ dệt may là những ngành công nghiệp mũi nhọn và tập trung hỗ trợ phát triển Nhờ vậy, ngành dệt may Trung Quốc đă phát triển nhanh chóng với mức tăng trưởng 500% từ năm
1990 đến năm 2008, giá trị sản lượng tăng từ 10 tỷ USD lên tới 50 tỷ USD, sử dụng 15 triệu nhân công, sản xuất 25 tủ m2 vải Ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may của Trung Quốc đă gặt hái được rất nhiều những thành công đáng chú ý Ngành sản xuất vải bông, với bề dày hơn 2000 năm phát triển, đã phát triển với tốc độ chóng mặt Hàng năm, sản lượng bông của Trung Quốc lên đến 6 triệu tấn, chiếm 1/3 sản lượng bông toàn thế giới Nguồn cung cấp bông dồi dào đã làm cơ sở vững chắc cho việc phát triển mạng lưới sản xuất nguyên liệu cho ngành may mặc của Trung Quốc
Đối với Hàn Quốc, công nghiệp dệt may đã trở thành ngành công nghiệp quan trọng Trong những năm 1960, Hàn Quốc tập trung sản xuất hàng hóa sơ cấp như lụa Nhưng từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX, Hàn Quốc đă thành công trong việc xây dựng và củng cố vị trí của mình trên thị trường hàng dệt may thế giới Đến năm 2004, Hàn Quốc đã đứng thứ tư thế giới về
Trang 11xuất khẩu hàng dệt, năm 2005 đứng thứ 5 và năm 2006 giữ vị trí thứ sáu về ngành hàng này trong thương mại quốc tế, sau Trung Quốc, EU, Thổ Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ và Ấn Độ Đặc biệt, Hàn Quốc còn là quốc gia đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu vải sợi tổng hợp, chiếm 8,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới về mặt hàng này Không những thế, Hàn Quốc còn nhanh chóng nổi lên như một quốc gia dẫn đầu về thời trang trong khu vực, vượt qua các đối thủ đi trước như Nhật Bản, Hồng Kông, v.v Sự thành công này thể hiện sự đúng đắn trong đường lối phát triển ngành dệt may và CNHT dệt may của Hàn Quốc
Kinh nghiệm các nước thành công trong phát triển dệt may nói chung
và sản xuất nguyên phụ liệu dệt may nói riêng là: Tận dụng các lợi thế so sánh của nước mình ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa để phát triển kinh tế và đă lựa chọn ngành dệt may và CNHT dệt may, ngành thu hút nhiều lao động, giá nhân công rẻ, hàng hóa tập trung cho xuất khẩu để phát triển cho bước đi khởi đầu
1.1.3 Lý thuyết về gia công
1.1.3.1 Định nghĩa gia công quốc tế
Gia công quốc tế là một phương thức khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương của nhiều nước trên thế giới Gia công quốc tế có thể được quan niệm theo nhiều cách khác nhau nhưng theo cách hiểu chung nhất thì gia công quốc tế là hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành ra thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công) Như vậy trong hoạt động gia công quốc tế hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất
Như vậy, gia công quốc tế là sự cải tiến đặc biệt các thuộc tính riêng của đối tượng là động (nguyên liệu hoặc bán thành phẩm) được tiến hành một cách sáng tạo và có ý thức nhằm tạo cho sản phẩm một giá trị sử dụng nào đó Bên đặt gia công có thể giao toàn bộ nguyên vật liệu hoặc chỉ nguyên vật liệu chính hoặc bán thành phẩm có khi cả máy móc thiết bị, chuyên gia cho bên
Trang 12nhận gia công Trong trường hợp không giao nhận nguyên vật liệu chính thì bên đặt gia công có thể chỉ định cho bên kia mua nguyên vật liệu ở một địa điểm nào đó với giá cả được ấn định từ trước hoặc thanh toán thực tế theo hoá đơn Còn bên nhận gia công có nghĩa vụ tiếp nhận hoặc mua nguyên liệu đó tiến hành gia công, sản xuất theo đúng yêu cầu của bên đặt gia công cả về số lượng chủng loại, mẫu mă, thời gian Sau khi hoàn thành quá trình gia công thì giao lại thành phẩm cho bên đặt gia công và nhận một khoản phí gia công theo thỏa thuận từ trước Khi hoạt động gia công vượt ra ngoài biên giới quốc gia gọi là gia công quốc tế Khi hoạt động gia công vượt ra ngoài biên giới quốc gia gọi là gia công quốc tế Các yếu tố sản xuất có thể đưa vào thông qua nhập khẩu để phục vụ quá trình gia công Hàng hóa sản xuất ra không phải để tiêu dùng trong nước mà để xuất khẩu thu ngoại tệ chênh lệch giá phụ liệu cung cấp tiền công và chi phí đem lại Thực chất gia công xuất khẩu là hình thức xuất khẩu lao động nhưng là lao động dưới dạng sử dụng thể hiện trong hàng hóa chứ không phải xuất khẩu nhân công ra nước ngoài
1.1.3.2 Vai trò của gia công quốc tế
Ngày nay gia công quốc tế khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương của nhiều nước Đối với bên đặt gia công, phương thức này giúp họ lợi dụng được giá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận gia công Đối với bên nhận gia công, phương thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân lao động trong nước hoặc nhận được thiết bị hay công nghệ mới về cho nước mình, nhằm xây dựng một nền công nghiệp dân tộc Nhiều nước đang phát triển đă nhờ vận dụng phương thức gia công quốc tế mà có được một nền công nghiệp hiện đại, chẳng hạn như Hàn Quốc, Thái Lan, Xingapo…
a Đối với nước đặt gia công
- Khai thác được nguồn tài nguyên và lao động từ các nước nhận gia
công
- Có cơ hội chuyển giao công nghệ để kiếm lời
b Đối với nước nhận gia công
Trang 13- Góp phần từng bước tham gia vào quá trình phân công lao động quốc
tế, khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh Thông qua phương thức gia công quốc tế mà các nước kém phát triển với khả năng sản xuất hạn chế có cơ hội tham gia vào phân công lao động quốc tế, khai thác được nguồn tài nguyên và giải quyết được vấn đề việc làm cho xă hội Đặc biệt gia công quốc tế không những cho phép chuyên môn hoá với từng sản phẩm nhất định mà còn chuyên môn hoá trong từng công đoạn, từng chi tiết sản phẩm
- Tạo điều kiện để từng bước thiết lập nền công nghiệp hiện đại và quốc tế hoá:
- Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá
- Nâng cao tay nghề người lao động và tạo dựng đội ngũ quản lư có kiến thức và kinh nghiệm trong việc tham gia kinh doanh trên thị trường quốc
tế và quản lư nền công nghiệp hiện đại
- Góp phần tạo nguồn tích luỹ với khối lượng lớn
- Tiếp thu những công nghệ quản lý và công nghệ sản xuất hiện đại thông qua chuyển giao công nghệ Đối với Việt Nam nhờ vận dụng được phương thức này đă khai thác được mặt lợi thế rất lớn về lao động và đă thu hút được thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và giải quyết được công ăn việc làm cải thiện đời sống nhân Nâng cao tay nghề và kiến thức cho người lao động Tiếp cận và học hỏi các kiểu quản lý mới, mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng cường các mối quan hệ kinh tế đối ngoại với các nước, góp phần thúc đẩy nhanh công việc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
1.1.3.3 Đặc điểm của gia công quốc tế
- Trong gia công quốc tế hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất
- Mối quan hệ giữa bên đặt gia công và bên nhận gia công được xác định trong hợp đồng gia công Trong quan hệ hợp đồng gia công, bên nhận gia công chịu mọi chi phí và rủi ro của quá trình sản xuất gia công
Trang 14- Trong quan hệ gia công bên nhận gia công sẽ thu được một khoản tiền gọi là phí gia công còn bên đặt gia công sẽ mua lại toàn bộ thành phẩm được sản xuất ra trong quá trình gia công
- Trong hợp đồng gia công người ta quy định cụ thể các điều kiện thương mại như thành phẩm, về nguyên liệu, giá cả gia công, về nghiệm thu,
về thanh toán, về việc giao hàng
- Về thực chất, gia công quốc tế là một hình thức xuất khẩu lao động nhưng là lao động được sử dụng, được thể hiện trong hàng hóa chứ không phải là xuất khẩu lao động trực tiếp
Từ những đặc điểm trên ta có thể thấy gia công quốc tế có nhũng ưu điểm, nhược điểm sau:
Ưu điểm:
- Không phải bỏ nhiều chi phí, vốn đầu tư, ít chịu rủi ro
- Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động
- Có điều kiện học hỏi kinh nghiệm quản lư, tiếp cận với công nghệ kư thuật của các nước khác
Nhược điểm:
- Tính bị động cao
- Nguy cơ biến thành băi rác công nghệ
- Quản lý định mức gia công và thanh lư hợp đồng không tốt sẽ tạo điều kiện đưa hàng trốn thuế vào Việt Nam
- Giá trị gia tăng thấp
1.1.3.4 Các loại gia công quốc tế
a Theo quyền sở hữu nguyên liệu, gia công quốc tế có các hình thức
sau:
- Bên đặt gia công theo nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất và chế tạo sẽ thu hồi thành phẩm và trả phí gia công Trong trường hợp này quyền sở hữu về nguyên vật liệu vẫn thuộc
về bên đặt gia công
Trang 15- Bên đặt gia công bán đứt nguyên vật liệu cho bên bên gia công và sau thời gian chế tạo sẽ thu hồi thành phẩm Trong trường hợp này thì quyền sở hữu sẽ thuộc về bên nhận gia công
- Ngoài ra, người ta còn có thể kết hợp, trong đó bên đặt gia công chỉ giao những nguyên liệu chính còn bên nhận gia công cung cấp nguyên liệu phụ
b Theo giá cả gia công
- Theo giá thực tế, trong đó bên đặt gia công thanh toán toàn bộ cho bên
nhận ra công những chi phí thực tế và tiền thù lao gia công
- Theo giá thị trường, trong đó người ta xác định được một giá định mức cho mỗi sản phẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức Dù chi phí thực tế là bao nhiêu đi chăng nữa thì hai bên vẫn thanh toán với nhau
theo định mức tính sẵn
c Theo số bên tham gia quan hệ gia công
- Gia công hai bên, một bên nhận gia công và một bên đặt gia công
- Gia công nhiều bên, hay còn gọi là gia công chuyển tiếp, trong đó bên nhận gia công là một số doanh nghiệp mà sản phẩm gia công của đơn vị trước
là đối tượng gia công của đơn vị sau
1.1.3.5 Xu hướng phát triển của gia công trong lĩnh vực dệt may
a.Những thay đổi cơ bản trong thương mại hàng dệt may thế giới
Trong giai đoạn hiện nay, các cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang từng bước phát triển không ngừng và tạo đà phát triển cho các ngành công nghiệp của từng quốc gia mỗi ngày một tiến xa hơn, không một ngành công nghiệp của quốc gia nào chỉ kinh doanh ở thị trường nội địa đặc biệt là ngành dệt may Do thị trường hàng dệt may thế giới đă có những thay đổi cơ bản và có ảnh hưởng tới mọi quốc gia có ngành dệt may phát triển Tại vòng đàm phán Uruguay (1994) của tổ chức thương mại thế giới (WTO) hiệp định
về hàng dệt may (ATC) ra đời thay thế hiệp định đa sợi (MFA) Theo ATC buôn bán các sản phẩm dệt may sẽ hoà nhập trở lại theo nguyên tắc không phân biệt đối xử WTO, chấm dứt các trường hợp ngoại lệ trong buôn bán
Trang 16quốc tế các sản phẩm này Tuy nhiên chỉ các thành viên WTO mới phải tuân theo các quy định ATC (đối với nước nhập khẩu) và được hưởng lợi ích của hiệp định(đối với nước xuất khẩu ) Ngoài ra quá trình tự do hoá thương mại đối với các sản phẩm dệt may được thể hiện trên 2 nội dung chính:
Một là mỗi nước nhập khẩu có quyền lựa chọn bất cứ sản phẩm nào trong 4 loại: sợi, vải, sản phẩm dệt và quần áo vào danh mục hội nhập theo các quy định thông thường của GATT Thông thường các sản phẩm được mỗi nước lựa chọn là những sản phẩm ít nhạy cảm đối với mỗi nước đó
Hai là hiệp định ATC đă ra một công thức gia tăng tốc độ hạn ngạch đối với các sản phẩm còn bị hạn chế theo các thảo thuận song phương trước đây của MFA Hiệp định cũng cho phép các nước thành viên có thể áp dụng các biện pháp tự vệ tạm thời đối với các sản phẩm chưa chịu sự điều chỉnh.Nhưng các nước cần phải chứng minh rằng các sản phẩm này đang được nhập khẩu với số lượng lớn, làm thiệt hại nghiêm trọng hay có nguy cơ làm thiệt hại sản xuất các sản phẩm tương tự trong nước Như vậy những thay đổi cơ bản trong thương mại hàng dệt may thế giới từ trước MFA đến ATC được diễn ra theo hướng tạo cơ hội, tiếp cận thị trường nhập khẩu cho các sản phẩm dệt may xuất khẩu thông qua việc áp dụng hạn ngạch và tạo cơ hội thâm nhập thị trư-ờng nhập khẩu cho các nước xuất khẩu thông qua việc bãi bỏ dần các hạn chế song phương
b Ảnh hưởng của những thay đổi thương mại hàng dệt may thế giới với cục diện cạnh tranh xuất khẩu hiện nay
Những thương lượng trong khuôn khổ các thành viên của GATT và sau này là WTO đă thay đổi đối với những nước nhập khẩu phải nhượng bộ Cụ thể là loại bỏ MFA, sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may ở hầu hết các nước xuất khẩu đều tăng Với việc thực hiện ATC, xuất khẩu từ các nước bị hạn chế theo MFA song các nước áp đặt hạn ngạch sẽ tăng 26% đối với hàng may mặc và 10% đối với hàng dệt Đồng thời sản xuất và xuất khẩu hàng may ở các nước xuất khẩu lớn( các nước đă phát triển và mới phát triển ) có thể bị
Trang 17thu hẹp do giảm khả năng cạnh tranh vì giá lao động đă tăng cao tương đối so với suất đầu tư
Tuy nhiên theo ATC thước đo về hội nhập của hàng dệt may trong các giai đoạn đều được tính bằng tổng khối lượng nhập khẩu chứ không phải tính riêng cho các mặt hàng đang bị hạn chế Thực tế ở các nước không phải tất cả các hàng dệt may đều bị hạn chế nhập khẩu, do đó các nước nhập khẩu sẽ đa vào hội nhập trước hết là các mặt hàng không bị hạn chế hoặc ít bị hạn chế, hoặc các sản phẩm có khối lượng lớn nhưng giá trị gia tăng thấp Trên phư-ơng diện xem xét về cạnh tranh hàng dệt may trong thương mại quốc tế, thì ATC cũng đang bộc lộ những ảnh hưởng của nó đến cục bộ cạnh tranh giữa các nước và các khối khác Cơ hội xuất khẩu sẽ gia tăng cho tất cả các nước Trong khi Bắc Mỹ và EU là thị trường nhập khẩu lớn của thế giới thì chính các nước xuất khẩu khác cũng sẽ là một thị trường nhập khẩu tiềm năng
Cạnh tranh xuất khẩu giữa các nước ngày càng mở rộng quyết liệt hơn
và sẽ đi đến khai thác triệt để hơn các lợi thế tại thành sức mạnh cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu Như vậy cục diện cạnh tranh xuất khẩu hàng dệt may trong xu thế tự do hoá thương mại sẽ có xu hướng trở lại gần hơn với sức cạnh tranh thực của nó Hơn nữa nó phát triển theo cả chiều rộng (cạnh tranh giữa các quốc gia) và theo chiều sâu (cạnh tranh theo mặt hàng, nhóm hàng) cạnh tranh xuất khẩu hàng dệt may không chỉ là cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu với nhau trên thị trường nhập khẩu mà nước xuất khẩu này hòng phải đối mặt với cạnh tranh của nước xuất khẩu khác ở chính ngay thị trường nội địa
1.2 Hiện trạng công nghiệp dệt may Việt Nam
1.2.1 Vị trí ngành công nghiệp dệt may trong nền kinh tế
Với ngành dệt may Việt Nam, kể từ khi Chính phủ ban hành chính sách đổi mới, thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế và triển khai chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đến nay đă có sự phát triển vượt bậc Dệt may Việt Nam đã vươn lên trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, dẫn đầu cả nước về kim ngạch xuất khẩu Theo Tổng cục thống kê, với gần 4.000
Trang 18doanh nghiệp và khoảng 2,5 triệu lao động, năm 2012 dệt may Việt Nam đă tạo doanh thu gần 20 tỷ USD, chiếm 15% GDP Trong điều kiện kinh tế còn nhiều bất ổn, xuất khẩu dệt may giai đoạn 2010 – 2013 vẫn giữ được tăng trưởng tốt Năm 2013, theo thống kê của Hiệp hội dệt may Việt Nam, ngành dệt may đã đạt kim ngạch xuất khẩu trên 20 tỷ USD, tăng 79% so với năm
2010 và 18% so với năm 2012 Đây là kết quả hết sức đáng khích lệ trong điều kiện khó khăn của cả nước Điều này đă chứng tỏ những nỗ lực của các doanh nghiệp dệt may cũng như những người lao động trong ngành Với kết quả này, Việt Nam đã vươn lên đứng trong top 7 nước xuất và xuất khẩu dệt
may hàng đầu thế giới
Trong 10 năm qua, dệt may Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc Có thể khẳng định, dệt may Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh so với các nước trên thế giới Năm 2010, Việt Nam là nhà xuất khẩu dệt may đứng thứ 2 vào thị trường Mỹ, đứng thứ 3 ở thị trường Nhật Bản và thị trường châu Âu Đây
là 3 thị trường chính, rất quan trọng đối với bất kỳ một nhà xuất khẩu dệt may nào Điều đó khẳng định, vị thế của dệt may Việt Nam trên thị trường thế giới
đã được nâng lên rất nhiều
Ngành dệt may đã đứng vững trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2007-2009 Mặc dù ngành dệt may thế giới giảm sâu 12-15%, nhưng dệt may Việt Nam vẫn duy trì được kim ngạch xuất khẩu không giảm, mà ngược lại còn tăng được thị phần vào cả 3 thị trường chính Chính trong khủng hoảng, Việt Nam vươn lên chiếm vị trí thứ 2 về thị phần tại Mỹ
Theo thống kê của Hiệp hội dệt may Việt Nam sau khi có tín hiệu phục hồi khủng hoảng, riêng năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của dệt may Việt Nam đã tăng 21,7% Trước khủng hoảng, mục tiêu của dệt may Việt Nam là xuất khẩu đạt 9,1 tỉ USD năm 2008, 10,2 tỉ năm 2009 và 11,5 tỉ năm 2010
Do khủng hoảng tài chính toàn cầu, dệt may Việt Nam mất đi 1 năm không tăng (năm 2009 chỉ đạt 9,2 tỉ USD), nhưng hết 2010, đã được 11,2 tỉ Tức là trong năm 2010, dệt may Việt Nam đã gần như bù lại được mức tăng 1 năm chịu ảnh hưởng của khủng hoảng, khắc phục được 80% hiệu ứng của khủng hoảng và đến hết 2012 sẽ quay trở lại kế hoạch chiến lược, phấn đấu đạt khoảng 12,9 tỉ USD (kế hoạch trước kia là 13 tỉ USD) Đặc biệt là với kết quả
Trang 19xuất khẩu năm 2010, dệt may Việt Nam đă lọt vào top 5 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới, về đích sớm 4 năm so với kế hoạch
Qua đó hoàn toàn có thể khẳng định, dệt may Việt Nam đă xây dựng được lợi thế cạnh tranh tương đối tốt trên thị trường dệt may thế giới, có thị trường và khách hàng truyền thống ổn định nên giữ được mức tăng trưởng như vậy
Trong cơ cấu xuất khẩu hàng Việt Nam năm 2012 có thể thấy xuất khẩu hàng dệt may chiếm tỉ trọng lớn do có mức độ thâm dụng lao động cao, được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1.1: Tỉ trọng một số mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam năm
2012
Kim Ngạch (Tỉ USD)
Tỉ trọng (%)
1.2.2.1 Năng lực sản xuất của ngành dệt may Việt Nam
Sản xuất dệt may của cả nước hiện có gần 7.000 doanh nghiệp, hàng trăm nghìn cơ sở kinh tế tập thể, tổ sản xuất, hộ gia đình và cá thể Trong đó,
có hơn 70% các doanh nghiệp dệt may là doanh nghiệp vừa và nhỏ, số lao động dưới 300 người Ngành này đă thu hút trên 1,2 triệu lao động đang làm
Trang 20việc tại các doanh nghiệp, hàng triệu lao động ở các cơ sở khác Giá trị sản xuất tính theo giá thực tế của ngành dệt may chiếm khoảng 8,3% tổng giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, lớn thứ hai sau ngành sản xuất chế biến thực phẩm Trong hai khu vực, kinh tế trong nước chiếm 40,4%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 59,6% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam
Đặc trưng của ngành sản xuất sản phẩm dệt may Việt Nam là nguyên, phụ liệu sản xuất hầu hết phải nhập khẩu do nguồn cung trong nước không đủ
và không đáp ứng được yêu cầu của cácdoanh nghiệp sản xuất Mặc dù từ năm 2009, Việt Nam đă bắt đầu xuất khẩu vải, sợi, xơ polyester, phụ liệu sang một số cường quốc dệt may trên thế giới như Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha… Thống kê của Tổng cục thuống kê cho thấy, thông thường, nhu cầu về nguyên liệu nhập khẩu để bảo đảm sản xuất cần đến 95% xơ bông, 70% sợi tổng hợp, 40% sợi xơ ngắn, 40%vải dệt kim và 60% vải dệt thoi, dẫn đến bìnhquân khoảng 70% nguyên, phụ liệu dệt mayViệt Nam đang phải nhập khẩu Từ đó, có thể thấy ngành công nghiệp dệt may Việt Nam gần như hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài
Theo đánh giá của các nhà kinh tế, giá cả sản phẩm dệt may Việt Nam thường cao hơn giá sản phẩm cùng loại của Trung Quốc khoảng 20%.ViệtNam phải chịu chi phí cao do khoảng 70%nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất phải nhập khẩu Thêm nữa, máy móc thiết bị mới nhập khẩu nên đang ở giai đoạn phải khấu hao nhanh nhằm có cơ hội tiếp tục đổi mới công nghệ, trình độ quản lý kém, năng suất lao động thấp, chỉ đạt 50-70% so với năng suất lao động trong khu vực, công nghệ lạc hậu hơn khoảng 5 năm.Việc nhiều doanh nghiệp thiếu vốn kinh doanh phải vay vốn ngắn hạn để đầu tư phát triển và trả lăi vay vốn cao khiến tăng chi phí sản xuất kinh doanh cũng làm giảm khả năng cạnh tranh về giá của sản phẩm dệt may Việt Nam Ngoài
ra, tiền lương công nhân và các chi phí khác ởViệt Nam như điện, nước, viễn thông, vận tải…, đang có xu hướng tăng cùng với những yếu kém trong tổ
Trang 21chức và quản lư khiến hoạt động sản xuất và xuất khẩu phát sinh những lăng phí không đáng có làm ngành dệt may Việt Nam gặp nhiều khó khăn
1.2.2.2 Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Theo Hiệp hội dệt may Việt Nam, dệt may hiện là một trong những ngành kinh tế lớn nhất cả nước với 4.000 doanh nghiệp, doanh thu đạt 20 tỷ USD/năm, chiếm 15% GDP và hiện Việt Nam nằm trong top 5 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới
Số liệu của Hiệp hội dệt may Việt Nam (Vitas) cho thấy, tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may năm 2013 đạt 20,023 tỷ USD, với tốc độ tăng 18%, trong đó hai mặt hàng chính của ngành đều đạt được mức tăng trưởng khá (mặt hàng dệt và may mặc đạt 17,891 tỷ USD, tăng 18,6%; mặt hàng xơ sợi dệt các loại đạt 2,132 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ) Với 14,885 tỷ USD giá trị nhập khẩu cho sản xuất, năm 2013 ngành dệt may Việt Nam đă xuất siêu 5,138 tỷ USD
Sản phẩm dệt may của Việt Nam đã có mặt tại 180 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó thị trường xuất khẩu lớn nhất là Hoa Kỳ, Châu
Âu, Nhật Bản Hiệp hội dệt May Việt Nam (Vitas) cho biết, tăng trưởng thị trường dệt may thế giới trong năm 2013 vẫn còn ở mức rất thấp, ở những thị trường xuất khẩu dệt may lớn của Việt Nam như Mỹ tăng trưởng nhập khẩu chỉ khoảng 3,6%, EU chỉ tăng 0,5%, Hàn Quốc tăng 9%, Nhật Bản giảm hơn 0,5% so với năm 2012 Nhưng dệt may Việt Nam vẫn giữ được tăng trưởng thuận lợi ở các thị trường lớn, xuất khẩu vào Mỹ đạt 8,6 tỷ USD tăng 14,2%,
EU đạt gần 2,7 tỷ USD tăng 8,8%, Nhật Bản đạt hơn 2,4 tỷ USD tăng trên 20,5%, Hàn Quốc đạt 1,87 tỷ USD tăng gần 44% Ngoài 4 thị trường đạt trên
1 tỷ USD là Mỹ, Nhật Bản, EU, Hàn Quốc, hiện ngành dệt may Việt Nam cũng rất quan tâm đến hai thị trường lớn là Ấn Độ và Trung Đông
Với tăng trưởng xuât khẩu dệt may liên tục trong những năm gần đây thì thị phần xuất khẩu dệt may Việt Nam cũng đă tăng lên Hiện nay, dệt may Việt Nam chiếm khoảng 4% thị phần cung ứng hàng dệt may cho toàn cầu Tại thị trường Mỹ, nơi Trung Quốc vốn giữ thị phần xuất khẩu số 1 tại đây
Trang 22với hơn 50% thị phần trước đây, nay đă giảm mạnh chỉ còn 37% Dệt may Việt Nam hiện đă tăng thị phần tại Mỹ, hiện giữ vị trí thứ 2 với khoảng 9% Thị phần hàng dệt may Việt Nam ở Nhật khoảng 4-5% và khoảng 1% thị
phần ở EU (Nguồn Hiệp hội dệt may Việt Nam)
Hiệu quả và sức cạnh tranh của ngành dệt may còn thấp, do hiệu quả đầu tư, năng suất lao động còn thấp, chất lượng, mẫu mã chuyển biến chưa nhiều Sản xuất và xuất khẩu dệt may chủ yếu khai thác lợi thế về giá nhân công còn rẻ Do vậy, tiền lương của người lao động còn thấp, cường độ lao động cao Hàng dệt may của Việt Nam còn bị cạnh tranh trên sân nhà với hàng nhập khẩu và cạnh tranh ở các thị trường xuất khẩu với các nước khác, nhất là Trung Quốc, Pakistan
1.2.3 Hoạt động gia công dệt may của Việt Nam
Việt Nam với nguồn lao động, tận dụng ưu thế về lao động từ nhiều năm qua hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu chủ yếu theo hình thức gia công cho nước ngoài và xuất hàng sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu Theo Tổng cục Hải quan, năm 2012, tỉ trọng 2 loại hình này chiếm hơn 96% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may cả nước Chuỗi sản xuất của ngành từ khâu kéo sợi, dệt, nhuộm và may nhưng đến nay may vẫn là chính, với nguyên liệu chủ yếu nhập khẩu Cả nước hiện có 5,1 triệu cọc sợi và hàng năm sử dụng khoảng 820.000 tấn nguyên liệu gồm bông tự nhiên chiếm 420.000 tấn và xơ các loại chiếm 400.000 tấn Thế nhưng năm 2012, bông nhập khẩu là 415.000 tấn chiếm 99% và bông trong nước chỉ đáp ứng được 1% tương ứng 5.000 tấn Về xơ các loại, tổng nhập khẩu năm 2012 là 220.000 tấn, chiếm 54% Ngành may năm 2012 có nhu cầu sử dụng khoảng 6,8 tỷ mét vải trong khi tổng sản lượng vải sản xuất trong nước đạt khoảng 0,8 tỷ mét, nhập khẩu 6 tỷ mét, tương đương 88%
Theo tính toán sơ bộ, khoảng 70% hàng dệt may xuất khẩu của VN được thực hiện theo phương thức cắt, ráp và hoàn thiện (CMT) Trong số 4.000 doanh nghiệp hiện có, có 650 doanh nghiệp nước ngoài, số doanh nghiệp Việt Nam còn lại đa phần thực hiện phương thức CMT Tình trạng này
Trang 23nếu không cải thiện trong ngắn và trung hạn sẽ khó khai thác được lợi thế do TPP và FTA mang lại nếu công thức “từ sợi trở đi” hoặc yêu cầu cao về quy tắc xuất xứ được áp dụng Trong dài hạn, điểm yếu của ngành dệt may không kích thích được người lao động, dễ bị tổn thương khi xuất hiện những thị trường lao động giá rẻ hơn và điều quan trọng hơn là không tạo được sự phát triển bền vững của ngành
Hiện nay xu hướng phát triển ngành dệt may đă có nhưng chuyển biến
rơ rệt Thế giới hình thành ba khu vực sản xuất chính là Trung Quốc, nhóm các nước Tây Nam Á (Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Thổ Nhĩ Kỳ) và khối ASEAN, các khu vực sản xuất này đồng thời cũng là những trung tâm tiêu thụ lớn của thế giới và Việt Nam nằm trong số đó Sự cạnh tranh khốc liệt giữa các trung tâm này đă thúc đẩy sự ra đời của các khối liên kết khu vực kèm theo những biện pháp bảo hộ mậu dịch trong mỗi khối
Bên cạnh đó là sự lên ngôi của ngành thời trang quyết định quá trình phát triển của ngành dệt may toàn cầu Việc rút ngắn vòng đời sản phẩm của ngành thời trang đă tạo ra sự thay đổi căn bản trong các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị cũng như thời gian đáp ứng đơn hàng và dệt may Việt Nam không nằm ngoài xu hướng này
Trước bối cảnh mới, để tiếp tục duy trì vị thế, tạo dựng ngành dệt may Việt Nam phát triển ổn định, bền vững trong chuỗi dệt may toàn cầu đòi hỏi phải có những thay đổi căn bản Đó là vải phải sản xuất trong nước, ngành thiết kế cần được củng cố và nâng cấp, thị trường nội địa cần phải quản lư, khai thác, phương thức gia công cần được thu hẹp
1.2.4 Triển vọng phát triển công nghiệp dệt may của Việt Nam
Hiện nay khu vực Tây Thái Bình Dương là thị trường rất lớn của ngành dệt may Việt Nam Theo thống kê của Hiệp hội dệt may Việt Nam thì có đến 60% thị phần xuất khẩu của dệt may Việt Nam tập trung hầu hết vào các nước thuộc khối TPP nên khi tham gia TPP chúng ta sẽ được hưởng những ưu đăi đáng kể về thuế quan và đây cũng là khu vực có tiềm năng phát triển lớn cho ngành dệt may của Việt Nam
Trang 24Đây là yếu tố thuận lợi cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam mở rộng thị phần xuất khẩu, đặc biệt là ở thị trường Hoa Kỳ, bởi hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào Hoa Kỳ hiện chịu thuế suất khoảng 17% - 18%, khi TPP được ký kết thuế suất này sẽ giảm dần xuống 0% Với các quy tắc xuất
xứ có khuyến khích sử dụng nhiều nguyên liệu nội khối TPP, nên trong dài hạn điều này sẽ thúc đẩy Việt Nam đầu tư vào khâu sản xuất nguyên liệu, cụ thể là sản xuất sợi, dệt nhuộm Và điều quan trọng là dệt may Việt Nam sẽ có thêm cơ hội xây dựng ngành phụ trợ cho mình
Trao đổi về việc đàm phán TPP trong chuyến thăm chính thức Việt Nam hồi tháng 12/2013 của Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định, Việt Nam sẽ hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ trong tiến trình này và mong rằng cần có sự linh hoạt phù hợp với trình độ phát triển của mỗi nước Trong đó, quan tâm đến lợi ích cốt lơi của Việt Nam, điều này phù hợp với quan điểm của các nhà lănh đạo các nước thành viên TPP là hướng tới một Hiệp định cân bằng về quyền lợi của các thành viên
Lợi thế của dệt may Việt Nam trước ngưỡng cửa TPP đó là ngoài sự đồng lòng của các doanh nghiệp trong nước, Việt Nam còn nhận được hỗ trợ rất lớn từ phía Hiệp hội nhà nhập khẩu và người tiêu dùng Hoa Kỳ Bởi khi đă gia nhập TPP thì Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ chung khối, lúc đó bản thân người tiêu dùng Hoa Kỳ sẽ được lợi khi hàng dệt may Việt Nam nhập khẩu vào Hoa
Kỳ được hưởng thuế suất ưu đăi, điều đó có nghĩa là người tiêu dùng Hoa Kỳ
sẽ được dùng hàng dệt may Việt Nam với giá rẻ hơn
Theo tính toán của các chuyên gia, nếu gia nhập thị trường TPP, ngành dệt may Việt Nam sẽ tăng gấp ba kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ, tức
từ mức 8,6 tỷ USD năm 2013 sẽ tăng lên khoảng hơn 20 tỷ USD trước năm
2020
Vấn đề hiện tại là ngành dệt may Việt Nam còn phụ thuộc phần lớn vào nguồn nguyên, phụ liệu nhập khẩu Do vậy, muốn phát triển nguồn nguyên, phụ liệu trong nước đòi hỏi sự gắn kết giữa các doanh nghiệp trong ngành, tức
là hình thành và nâng cao chuỗi liên kết giữa các doanh nghiệp, khép kín quy
Trang 25trình sản xuất từ sợi - dệt - nhuộm hoàn tất - may, chuyển dần từ hình thức gia công sang làm hàng FOB (mua nguyên liệu, bán thành phẩm) và ODM (tự thiết kế, sản xuất và bán sản phẩm) Điều này sẽ giúp tăng tỷ lệ nội địa hóa của ngành, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, giảm nhập siêu Dự kiến, ngành dệt may Việt Nam sẽ đạt tỷ lệ nội địa hóa khoảng 60% vào năm 2015
và 70% vào năm 2020 Khi đó, việc hưởng lợi từ thuế suất mới thực sự phát huy tác dụng
Thực tế, tại Việt Nam, nhiều doanh nghiệp FDI (doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) cũng đã đầu tư sản xuất các nguyên, phụ liệu ngành dệt may để đón đầu TPP từ mấy năm trước Đây là điều mà các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần ý thức rất rõ để có hướng đi phù hợp để nắm lấy cơ hội của mình khi gia nhập TPP
Trang 26CHƯƠNG 2 NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÔNG
NGHIỆP DỆT MAY CỦA VIỆT NAM TỪ TPP
2.1 Khái quát về Hiệp định hợp tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương
2.1.1 Hiệp định TPP và tiến trình đàm phán của Việt Nam
2.1.1.1 Khái quát về TPP
Hiệp định hợp tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – còn gọi là TPP) là một Hiệp định thương mại tự do nhiều bên, được ký kết với mục tiêu thiết lập một mặt bằng thương mại tự do chung cho các nước khu vực châu Á Thái Bình Dương Hiệp định này được ký kết ngày 3/6/2005, có hiệu lực từ 28/5/2006 giữa 4 nước Singapore , Chile, New Zealand, Brunei (vì vậy Hiệp định này còn gọi là P4)
(Trans-Đây là một hiệp định thương mại tự do nhiều bên, được kí kết với mục thiết lập mặt bằng thương mại tự do chung cho các nước khu vực Thái Bình Dương Hiệp định TPP hiện nay được kỳ vọng sẽ trở thành một khuôn khổ thương mại toàn diện, có chất lượng cao và là khuôn mẫu cho các Hiệp định thế kỷ XXI
Tháng 9/2008, Hoa Kỳ tỏ ý định muốn tham gia đàm phán TPP, sau đó tháng 11/2008 các nước Australia, Peru cũng tuyên bố tham gia, tiếp đến là Canada tham gia vào tháng 10/2012 và mới đây nhất, Nhật Bản tham gia đàm phán vào tháng 3/2013 Việt Nam đă tuyên bố tham gia TPP với tư cách là thành viên đầy đủ từ ngày 13/11/2010
Kể từ đó, các vòng đàm phán TPP được lên lịch và diễn ra cho đến nay Các nước vẫn đang tiếp tục bàn thảo nhằm đạt sự thống nhất rộng rãi và đi đến ký kết hiệp định cuối cùng
Mục tiêu dự kiến của TPP: trở thành khuôn khổ thương mại toàn diện với chất lượng cao và là “ mô hình “ của hiệp định thương mại của thế kỉ XXI, bao trùm khi vực châu Á-Thái Bình Dương Với sự tham gia của các
Trang 27nền kinh tế lớn trên thế giới (như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia ), TPP trở thành khu vực kinh tế hơn 790 triệu dân, đóng góp 40% GDP và chiếm 1/3 thương mại toàn cầu
Nếu như Hiệp định WTO mang tính đàm phán một chiều, Việt Nam phải mở cửa thị trường cho các nước thành viên WTO và không có quyền đòi hỏi họ mở cửa cho mình thì Hiệp định TPP là một hiệp định “có đi có lại” Tức là, các nước muốn mình mở thị trường cho họ và họ cũng mở thị trường cho Việt Nam
2.1.1.2 Các đối tác tham gia
Cho đến nay, đă có 12 nước tham gia vào các vòng đàm phán chính thức của TPP, đó là: Australia, Brunei, Chile, New Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ, Việt Nam, Malaysia, Canada, Mexico và Nhật Bản
Với sự tham gia của các nền kinh tế lớn trên thế giới (như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia ), TPP trở thành khu vực kinh tế hơn 790 triệu dân, đóng góp 40% GDP và chiếm 1/3 thương mại toàn cầu Trong tương lai,
số lượng các bên tham gia đàm phán có thể thay đổi tùy theo tình hình và quan điểm ở mỗi nước
2.1.1.3 Quá trình tham gia đàm phán TPP của Việt Nam
Từ năm 2006, qua nhiều kênh, Singapore đă rất tích cực mời Việt Nam tham gia P4 Trước những cân nhắc cả về khía cạnh kinh tế và chính trị, Việt Nam chưa nhận lời mời này
Tuy nhiên, với việc Mỹ quyết định tham gia TPP và trước khi tuyên bố tham gia TPP, Mỹ đă mời Việt Nam cùng tham gia Hiệp định này, Việt Nam lại một lần nữa cân nhắc việc tham gia hay không tham gia TPP
Đầu năm 2009, Việt Nam quyết định tham gia Hiệp định TPP với tư cách thành viên liên kết Tháng 11 năm 2010, sau khi tham gia 3 phiên đàm phán TPP với tư cách này, Việt Nam đă chính thức tham gia đàm phán TPP
Cho tới nay, Hiệp định TPP đă trải qua 19 vòng đàm phán, lần lượt được tổ chức tại các nước tham gia trong đó có vòng đàm phán thứ 7 tại Việt Nam (tháng 6 năm 2011) Ngoài ra, các bên cũng tiến hành nhiều cuộc họp
Trang 28giữa kì và các hội nghị khác mà gần đây nhất là Hội nghị Bộ trưởng các nước TPP họp tại Singapore (tháng 2/2014)
Về nội dung đàm phán, hiện các nhóm đàm phán bao gồm cả Việt Nam
đã bước vào giai đoạn thảo luận thực chất trên cơ sở các đề xuất và văn bản thể hiện quan điểm của mỗi quốc gia thành viên trong từng lĩnh vực cụ thể thuộc phạm vi của Hiệp định Chúng ta đã đạt được những tiến bộ nhất định trong việc thu hẹp khoảng cách về quan điểm trong các lĩnh vực như mở cửa thị trường đối với hàng công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, đầu tư,v.v
Ngoài các nội dung đàm phán mang tính truyền thống trong các FTA trên, cùng với các quốc gia thành viên, Việt Nam cũng thảo luận nhiều đề xuất và biện pháp để thúc đẩy hợp tác trong các vấn đề liên quan tới hoạch định chính sách, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, phát triển chuỗi cung cấp và sản xuất giữa các nước thành viên, nâng cao sự tham gia của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào quá trình lưu thông hàng hóa giữa các quốc gia thành viên TPP, cũng như thúc đẩy sự phát triển chung của các quốc gia thành viên
Với mục tiêu duy trì tính “mở” của Hiệp định TPP, tức là có cơ chế kết nạp thêm thành viên mới trong tương lai và các bên có thể tiếp tục đàm phán những vấn đề phát sinh sau khi Hiệp định có hiệu lực, các nhóm đàm phán cũng đang nỗ lực đưa ra nhiều đề xuất và biện pháp liên quan để bảo đảm Hiệp định sẽ mang lại lợi ích nhiều nhất cho tất cả những nước đang và sẽ tham gia Hiệp định
2.1.1.4 Phạm vi điều chỉnh của TPP
Phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này rất rộng và phức tạp, với các vấn
đề thương mại và phi thương mại đan xen
Bản thân hiệp đinh P4 (promotion, place, price, product) đã có cam kết mạnh về thuế quan và nhiều vấn đề phi thuế quan như xuất xứ hàng hóa, các biện pháp phòng vệ thương mại, sở hữu trí tuệ, mua sắm công, chính sách cạnh tranh…và cả những vấn đề phi thương mại như lao động, môi trường
Trang 29TPP đang tiếp tục phát triển từ nền gốc của P4 với 12 nước hiện đang tham gia đàm phán và trong tương lai số đối tác sẽ tăng thêm, nên chắc chắn phạm vi sẽ còn lớn hơn nữa Hiệp định TPP được kỳ vọng là một “FTA của thế kỷ XXI” với phạm vi điều chỉnh rộng cùng với xu hướng đàm phán tự do mạnh mẽ được cụ thể hóa trên những lĩnh vực sau:
- Thuế quan: Cắt giảm hầu hết các dòng thuế (ít nhất 90%), thực hiện ngay hoặc thực hiện với lộ trình rất ngắn
- Dịch vụ: Tăng mức độ mở cửa các loại dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tài chính
- Đầu tư: Tăng cường các quy định liên quan đến đầu tư nước ngoài và bảo vệ nhà đầu tư
- Quyền sở hữu trí tuệ: Tăng mức độ bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ cao hơn so với các mức trong WTO (WTO+)
- Các biện pháp về Xác định các thành viên có thể hoặc không thể áp đặt các hạn chế đối với những hàng hóa nhập khẩu nhất định (SPS), Hàng rào
kỹ thuật thương mại (TBT): siết chặt các yêu cầu về vệ sinh dịch tễ và rào cản
kỹ thuật
- Cạnh tranh và mua sắm công: tăng cường cạnh tranh, đặc biệt trong lĩnh vực mua sắm công
- Ngoài ra còn có một số lĩnh vực khác như các chính sách của chính quyền về vấn đề môi trường, lao động, chống tham nhũng, doanh nghiệp nhà nước, công đoàn,
2.1.2 Các quy định liên quan trực tiếp tới dệt may trong TPP
2.1.2.1 Cam kết về thuế
Việc gia nhập Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) là cơ hội lớn cho ngành thương mại Việt Nam, trong đó các doanh nghiệp dệt may sẽ có điều kiện thúc đẩy xuất khẩu và gỡ bỏ hàng rào thuế vốn rất nặng nề như hiện nay, đặc điểm nổi bật của TPP là tự do hóa rộng rãi về hàng hóa, thuế nhập khẩu được xóa bỏ hoàn toàn và phần lớn là xóa bỏ ngay
từ khi Hiệp định có hiệu lực
Trang 30Theo Hiệp hội dệt may Việt Nam (Vitas), hiện nay xuất khẩu hàng dệt may ở Việt Nam đă tăng trưởng vượt bậc Ngành dệt may đă trở thành một trong những ngành sản xuất công nghiệp mũi nhọn về quy mô và tầm vóc với 4.000 doanh nghiệp, doanh thu đạt 20 tỷ USD, chiếm 15% GDP cả nước và trở thành ngành dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu dệt may, chiếm 18% tổng kim ngạch xuất khẩu, đưa Việt Nam vào tốp 5 nước xuất khẩu dệt may lớn trên thế giới
Các chuyên gia kinh tế cho rằng điểm nổi bật nhất của TPP là tự do hóa rộng răi về hàng hóa, thuế nhập khẩu được xóa bỏ hoàn toàn và phần lớn là xóa bỏ ngay từ khi Hiệp định có hiệu lực
Việc gia nhập Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) là việc làm cần thiết và là cơ hội lớn cho ngành thương mại Việt Nam, trong đó các doanh nghiệp dệt may sẽ có điều kiện thúc đẩy xuất khẩu và gỡ
bỏ hàng rảo thuế quan vốn rất nặng nề như hiện nay
2.1.2.2.Quy định về xuất xứ
Để tận dụng được ưu đăi mà TPP đem lại các doanh nghiệp cần nắm rơ các quy tắc trong TPP và đặc biệt là quy tắc xuất xứ trong TPP, đây được coi
là yếu tốt quan trọng nhất khi tham gia TPP
Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong TPP được hiểu là: các sản phẩm xuất khẩu từ một thành viên của TPP sang các thành viên khác đều phải có xuất xứ
"nội khối" Như vậy, những ngành nào, sản phẩm nào, sử dụng các nguyên liệu của các nước thứ ba, ngoài thành viên TPP đều không được hưởng các ưu đãi thuế suất 0% Thực hiện quy tắc xuất xứ hàng hóa trong hiệp định thương mại tự do khác, chúng ta chỉ phải đáp ứng quy tắc chuyển đổi mă số hàng hóa Chẳng hạn, để sản xuất được mũ giày thì chúng ta được phép nhập khẩu tất cả các nguyên phụ liệu mà không trùng với mă HS (mă hang hóa theo quy định của Hải Quan thế giới) của mũ giày đó, từ bên ngoài khu vực mậu dịch tự do
Hơn 50% doanh nghiệp Việt Nam hiện đă đáp ứng được nguyên tắc này Tuy
nhiên, trong hiệp định TPP này lại có thêm quy định về hàm lượng giá trị khu vực, nghĩa là sản phẩm phải đạt tỷ lệ nội địa hóa từ 55% tổng giá trị trở lên
Trang 31Doanh nghiệp chỉ được phép nhập tối đa 45% nguyên vật liệu từ các nước ngoài khối để sản xuất ra một sản phẩm, kể cả chi phí gia công
Theo những đề xuất về xuất xứ hàng hóa trong TPP, thì chúng ta có thể hiểu là các sản phẩm xuất khẩu từ một thành viên của TPP sang các thành viên TPP khác đều phải có xuất xứ "nội khối TPP" Ví dụ, vải từ Việt Nam xuất khẩu vào các thành viên TPP khác, phải có xuất xứ của Việt Nam hoặc
có xuất xứ từ các thành viên khác TPP Khi đó các sản phẩm này mới được hưởng các ưu đăi mà các thành viên TPP dành cho nhau Như vậy, những ngành nào, sản phẩm nào, sử dụng các nguyên liệu của các nước thứ ba, ngoài thành viên TPP đều không được hưởng các ưu đăi nói trên
Như vậy, nếu TPP được ký kết với qui tắc xuất xứ nội khối như trên thì các doanh nghiệp muốn hưởng các ưu đăi trong TPP chỉ có thể chọn hai hướng đi là những ngành gia công chế biến như dệt may, da giày, điện tử, gỗ hiện nay đang nhập khẩu từ các nước thứ 3 ngoài TPP cần được rà soát lại để tăng cường sử dụng các nguyên liệu trong nước hoặc nhập khẩu các nguyên liệu của các nước trong TPP hoặc những ngành sản xuất hiện nay ở trong nước cũng cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh với các hàng hóa từ các nước TPP sẽ được hưởng những ưu đăi rất lớn khi nhập khẩu vào Việt Nam
Đối với Việt Nam mục tiêu lớn nhất khi tham gia TPP là tăng cường lợi thế xuất khẩu sang các nước TPP, thông qua việc các nước này miễn hoặc giảm thuế cho hàng hóa Việt Nam Tuy nhiên, điều này chỉ đạt được nếu hàng hóa của Việt Nam đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cao và phức tạp về quy tắc xuất xứ, bắt buộc phải có nguyên liệu hoặc giá trị chủ yếu từ các nước thành viên Trong khi đó, việc sản xuất hàng hóa xu ất khẩu của Việt Nam lại ph ụ thuộc vào nguyên li ệu nhập khẩu từ các nước ngoài TPP (như Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước ASEAN)
Thực tế thị trường nội khối TPP là rộng lớn, 12 nước nằm trong TPP đang được xem là khối thị trường đầy tiềm năng với 790 triệu dân, có tổng GDP 27 ngàn tỷ USD, đóng góp 40% GDP toàn cầu, chiếm 1/3 tổng kim
Trang 32ngạch toàn cầu, nếu đàm phán thành công Việt Nam kỳ vọng sẽ được hưởng lợi rất nhiều do hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ và các nước tham gia đàm phán ký kết Hiệp định TPP sẽ được cắt giảm gần như toàn bộ 100% thuế quan sẽ mở ra cơ hội lớn cho xuất khẩu Tuy nhiên, với năng lực tự sản xuất và cung ứng nguyên phụ liệu còn hạn chế, thì những yêu cầu về quy tắc xuất xứ hàng hóa lại đang đặt ra thách thức và mối lo ngại cho các doanh nghiệp Việt Nam Có thể nói, quy tắc xuất xứ của TPP vừa là thách thức, vừa
là một cơ hội đối với các ngành sản xuất hàng xuất khẩu của Việt Nam Nếu vượt qua được thách thức, khai thác được cơ hội, Việt Nam sẽ sớm vượt qua được thực trạng là một nước gia công đơn giản, chủ yếu là sử dụng lao động giá rẻ
2.2 Những cơ hội từ TPP đối với ngành dệt may Việt Nam
2.2.1 Cơ hội tiếp cận thị trường các nước thành viên TPP với thuế suất ưu đăi
TPP là cơ hội lớn để các doanh nghiệp Việt Nam phát triển và tăng tính cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài không phải là thành viên của TPP Doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ có cơ hội chiếm ưu thế trên thị trường khi thuế xuất giảm và hạn ngạch dần được xóa bỏ, nhất là ở thị trường Hoa Kỳ
Theo Hiệp hội dệt may Việt Nam, thuế suất đối với các thị trường trọng điểm mà Việt Nam xuất khẩu mặt hàng dệt may đang quá cao Cụ thể, trong thị trường xuất khẩu dệt may của Việt Nam, Hoa kỳ chiếm 50%, Châu Âu chiếm 17%, Nhật Bản 12%, Hàn Quốc 6%, còn lại 2% là các thị trường khác Trong đó, tại thị trường Hoa Kỳ và EU, dệt may Việt Nam đang phải chịu thuế suất lần lượt là 17,5% và 9,6%
Hai thị trường xuất khẩu lớn của ngành dệt may Việt Nam là Hoa Kỳ và Nhật Bản, đây cũng chính là hai nước thành viên trong TPP Việt Nam đă trở thành nước xuất khẩu dệt may lớn thứ 2 vào thị trường Mỹ, sau Trung Quốc Hàng hóa của Việt Nam sẽ có khả năng cạnh tranh cao khi được cắt giảm thuế
so với hàng hóa của các nước khác trong các thị trường này Năm 2012, kim