1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

64 282 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 649 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 1

Luận văn CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG QUÁ TRÌNH HỘI

NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

Trang 2

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẠNH TRANH:

1 Khái niệm :

2 Phân loại thị trường :

Khi xem xét trên giác độ cạnh tranh hay độc quyền tức là xem xét hành vi của thị trường, các nhà kinh tế chia thị trường như sau : Thị trường cạnh tranh hoàn hoả, thị trường độc quyền, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo bao gồm có cạnh tranh độc quyền và độc quyền tập đoàn

Khi phân loại thị trường, các nhà kinh tế sử dụng các tiêu thức cơ bản sau :

 Số lượng người bán và người mua : Đây là tiêu thức rất quan trọng xác định cấu trúc thị trường Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh độc quyền

có nhiều người bán và người mua Mỗi người trong số họ chỉ bán (Hoặc mua) một phần rất nhỏ trong lượng cung thị trường Trong thị trường độc quyền bán thì một ngành chỉ có một người bán (Người sản xuất) duy nhất Trong thị trường độc quyền mua chỉ có một người mua duy nhất Trong thị trường độc quyền mua chỉ có một người mua duy nhất Trong thị trường độc quyền bán tập đoàn chỉ có một vài người bán, còn trong thị trường độc quyền mua tập đoàn chỉ có một số người mua

 Loại sản phẩm : Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, sản phẩm đồng nhất, trong thị trường cạnh tranh độc quyền sản phẩm khác nhau Trong thị trường độc quyền tập đoàn, sản phẩm có thể giống nhau hoặc khác nhau một ít Trong thị trường đọc quyền sản phẩm là đồng nhất

 Sức mạnh thị trường của người bán và người mua Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, người bán và người mua không có ảnh hưởng đến giá thị trường của sản phẩm, nghĩa là họ không có sức mạnh thị trường Trong thị trường độc quyền bán ( mua ) họ có ảnh hưởng đến rất lớn đến giá thị trường sản phẩm Trong thị trường độc quyền tập đoàn, người bán ( mua ) có ảnh hưởng đến giá thị trường của sản phẩm ở một mức độ nào đó

 Các trở ngại gia nhập thị trường : Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo các trở ngại gia nhập thị trường là rất thấp Ngược lại, trong thị trường độc quyền bán ( mua ) tập đoàn có những trở ngại đáng kể đối với việc gia nhập thị trường Chẳng hạn trong các ngành sản xuất ô tô luyện kim … việc xây dựng nhà máy mới là rất tốn kém Đó chính là trở ngại lớn đối với việc gia nhập thị trường Còn trong điều kiện độc quyền thì việc gia nhập thị trường là cực kì khó khăn

 Hình thức cạnh tranh giá : Trong cạnh tranh hoàn hảo không có sự cạnh tranh phi giá Trong cạnh tranh độc quyền cũng như trong độc quyền tập đoàn, các nhà sản xuất sử dụng nhiều hình thức cạnh tranh phi giá như quảng cáo, phân biệt sản phẩm Các nhà độc quyền cũng quảng cáo để thu hút thêm khách hàng

Trang 3

2.1 Thị trường cạnh tranh hoàn hảo :

 Khái niệm : Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường trong đó các hãng đều nhỏ bé nên không ảnh hưởng gì đến giá cả thị trường Có nghĩa là không cần biết sản phẩm được sản xuất d

 Đặc trưng của thị trường cạnh tranh hoàn hảo :

- Có nhiều người mua người bán độc lập với nhau Thị trường cạnh tranh hoàn hảo đòi hỏi có nhiều người mua va người bán mà mỗi người trong số họ hành động độc lập với tất cả những người khác Số người bán vào mua được gọi là nhiều khi những giao dịch bình thường của một người mua hoặc người bán không ảnh hưởng gì đến giá mà ở đó các giao dịch được thực hiện

- Tất cả các đơn vị hàng hoá trao đổi được coi là giống nhau Dễ nhận thấy trong các thị trường thực tế có đặc trưng này Chẳng hạn thị trường than đá thuộc cùng một cấp chất lượng hoặc thị trường xăng mỗi đơn vị là bản sao y hệt của một đơn vị bất kì khác Bởi vậy, người mua không bao giờ phải quan tâm họ mua các đơn vị sản phẩm đó của ai

- Tất cả người mua và bán đều có hiểu biết đầy đủ về các thông tin liên quan đến việc trao đổi Thị trường cạnh tranh hoàn hảo đòi hỏi tất cả người bán và mua đều có liên hệ với tất cả những người trao đổi tiềm năng, biết tất cả các đặc trưng của các mặt hàng trao đổi, biết tất cả giá mà người bán đòi và người mua trả Mọi người có liên hệ mật thiết với nhau và thông tin giữa họ là liên tục

- Không có gì cản trở việc họ gia nhạp và rút khỏi thị trường Thị trường cạnh tranh hoàn hảo ở mỗi thời điểm mỗi người đều phải được tự do trở thành người bán hoặc người mua, đựoc tự do gia nhập thị trường và được trao đổi ở cùng một mức giá mà những người trao đổi hiện hành Tương tự, nó đòi hỏi không có trở ngại nào ngăn không cho một người nào đó không là người mua hoặc là người bán trong thị trường và vị thế rút lui khỏi thị trường

 Đặc trưng của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo :

- Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo có thể bán tất cả sản phẩm của mình ở mức giá thị trường đang thịnh hành, nếu doanh nghiệp đặt giá cao hơn gia thị trường thì doanh nghiệp đó không bán được sản phẩm nào vì người tiêu dùng sẽ mua của người khác Theo nghĩa đó, doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo không có sức mạnh thị trường, tức là không có khả năng kiểm soát giá thị trường đối với sản phẩm của mình bán Sản lượng của doanh nghiệp là nhỏ so với cung thị trường vì thế doanh nghiệp không có ảnh hưởng đáng kể đến tổng sản lượng hoặc giá trên thị trường

- Các doanh nghiệp cạnh tranh riêng lẻ có thể bán hết sản lượng của mình ở giá thị trường đang thịnh hành, Đây là một đặc trưng nổi bật của việc không có sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp Tất cả các doanh nghiệp cạnh tranh không có ảnh hưởng độc lập đến giá thị trường Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo đứng trước đường cầu nằm ngang đối với sản lượng của mình Cần phân biệt đường cầu thị trường và đường cầu mà một doanh nghiệp cụ thể phải đối mặt Đường cầu thị trường luôn là một đường dốc xuống dưới

Sản lượng của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo : Giả định tối đa hoá lợi nhuận thường được sử dụng trong kinh tế vi mô vì nó mô tả hành động của doanh nghiệp

Trang 4

một cách chính xác ở một mức độ hợp lí và tránh được những phức tạp không cần thiết khi phân tích Chúng ta bắt đầu nghiên cứu quyết định sản lượng tối đa hoá lợi nhuận của một doanh nghiệp bất kì dù doanh nghiệp này hoạt động trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo hay không mà doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến giá thị trường Vì lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí nên tìm ra sản lượng tối

đa hoá lợi nhuận ta phải phân tích chi phí và doanh thu của nó Tổng doanh thu là :

TR = Pq Tổng chi phí cũng phụ thuộc vào sản lượng do đó lợi nhuận của doanh nghiệp là : pi = TR (q) – TC (q) Để tối đa hoá lợi nhuận khi doanh nghiệp sẽ chọn sản lượng sao cho chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng sản lượng là lớn nhất

Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

Trang 5

2 Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo

Hành vi cạnh tranh có các đặc trưng cơ bản sau:

- Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo có thể bán tất cả sản lượng của mình ở mức giá thị trường đang thịnh hành, nếu doanh nghiệp đặt giá cao hơn thì doanh nghiệp sẽ không bán được tý nào vì người tiêu dùng sẽ mua của người khác Theo nghĩa đó, doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo không có sức mạnh thị trường, tức là không có khả năng kiểm soát giá thị trường đối với sản phẩm mình bán Sản lượng của doanh nghiệp là nhỏ so với cung thị trường, vì thế doanh nghiệp không có ảnh hưởng đáng kể đến tổng sản lượng hoặc giá trên thị trường

- Các doanh nghiệp cạnh tranh riêng lẻ có thể bán hết sản lượng của mình ở giá thị trường đang thịnh hành Đây là đặc trưng nổi bật của việc không có sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp Tất cả các doanh nghiệp cạnh tranh không có ảnh hưởng độc lập đến giá thị trường Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo có sản lượng quá nhỏ so với dung lượng thị trường do đó các quyết định sản lượng của doanh nghiệp không có ảnh hưởng đáng kể đến giá Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo đứng trước đường cầu nằm ngang đối với sản lượng của mình Cần phân biệt đường cầu, thị trường và đường cầu mà một doanh nghiệp cụ thể phải đối mặt Đường cầu thị trường luôn là một đường dốc xuống dưới Hình V.1a biểu thị trường cầu doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo còn hình V.1b là đường cầu thị trường

Hình V.1 Đường cầu của doanh nghiệp cạnh tranh

hoàn hảo và đường cầu thị trường

d Giá (P)

Sản lượng (q) (a)

Giá (P)

Sản lượng Q (b)

Trang 6

3 Sản lượng của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo

Giả định tối đa hoá lợi nhuận thường được sử dụng trong kinh tế vi mô vì nó

mô tả hành vi của doanh nghiệp một cách chính xác ở một mức độ hợp lý và tránh được những phức tạp không cần thiết khi phân tích

Ta hãy bắt đầu bằng việc nghiên cứu quyết định sản lượng tối đa hoá lợi nhuận của một doanh nghiệp bất kỳ dù doanh nghiệp này hoạt động trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo hay trong một thị trường nào đó mà doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến giá Vì lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh nghiệp thu và chi phí nên để tìm ra sản lượng tối đa hoá lợi nhuận ta phải phân tích doanh thu và chi phí của nó Tổng doanh thu là TR = P.q Tổng chi phí cũng phụ thuộc vào sản lượng Do đó lợi nhuận của doanh nghiệp là:

(q) = TR(q) - TC(q)

Để tối đa hoá lợi nhuận doanh nghiệp sẽ chọn sản lượng sao cho chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng sản lượng là lớn nhất Hình V.2 cho thấy đường tổng doanh thu là đường thẳng, vì với một mức giá đã cho, tổng doanh thu tỷ lệ thuận với sản lượng

Độ dốc của nó là doanh thu cận biên Độ dốc này cho thấy tổng doanh thu tăng thêm bao nhiêu khi sản lượng tăng thêm một đơn vị Vì có chi phí cố định và chi phí biến đổi nên tổng chi phí không phải là đường thẳng Độ dốc của nó là chi phí cận biên - cho thấy tổng chi phí tăng bao nhiêu thì sản lượng tăng thêm 1 đơn vị TC(q) dương hạn Ở các mức sản lượng thấp, lợi nhuận âm ( < 0) vì doanh thu không đủ để bù đắp chi phí Doanh thu cận biên lớn hơn chi phí cận biên nói lên

Chi phÝ, doanh thu,

lî i nhuËn

S¶n l­ î ng (q) 0

Trang 7

rằng tăng sản lượng sẽ làm tăng lợi nhuận, khi sản lượng tăng lợi nhuận có thể dương (với q > q0) và tăng cho đến tận khi sản lượng đạt tới q* Ở đó doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên, q* là sản lượng tối đa hoá lợi nhuận Khoảng cách thẳng đứng giữa đường TR và đường TC, (đoạn AB) ở điểm này là lớn nhất nói cách khác,

(q) đạt điểm cực đại của nó Sau mức sản lượng q*, doanh thu cận biên nhỏ hơn chi phí cận biên, lợi nhuận giảm, điều này phản ánh tổng chi phí tăng nhanh hơn tổng doanh thu

Ta cũng có thể chứng minh quy tắc này bằng đại số như sau:

 = TR - TC

 đạt cực đại ở điểm mà một đơn vị sản lượng gia tăng làm cho  không thay đổi, nghĩa là /q = 0

q TC q

MC(q) = P

Lựa chọn sản lượng trong ngắn hạn

Hình V.3 cho thấy đường cầu (D) mà doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo gặp

và các đường tổng chi phí bình quân (ATC), chi phí biến đổi bình quân (AVC) và chi phí cận biên (MC) của doanh nghiệp

Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo tối đa hoá lợi nhuận ở q* vì ở đó MC = P Nếu doanh nghiệp sản xuất mức sản lượng q1, ở đó MC < P thì doanh nghiệp có thể tăng lợi nhuận bằng cách tăng sản lượng Diện tích gạch chéo giữa q1 và q* là phần lợi nhuận bị mất do chỉ sản xuất ở q1

Ket-noi.com kho tài li ệ u mi ễ n phí

Trang 8

Hình V.3 Doanh nghiệp cạnh tranh thu được lợi nhuận dương

Ở mức sản lượng cao hơn, chẳng hạn q2, ở đó MC > MR, như vậy giảm sản lượng sẽ làm tăng lợi nhuận vì tiết kiệm được phần chi phí vượt quá phần tăng trong tổng doanh thu Diện tích gạch chéo giữa q* và q2 là lợi nhuận bị mất do sản xuất ở

q2

Hình này còn cho ta thấy lợi nhuận ngắn hạn của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo Khoảng cách AB là hiệu số giữa giá và tổng chi phí bình quân ở mức sản lượng q*, đó là lợi nhuận bình quân (lợi nhuận tính trung bình cho một đơn vị sản lượng) Đoạn BC là tổng sản lượng sản xuất ra Vì thế diện tích hình chữ nhật ABCD là tổng lợi nhuận của doanh nghiệp

Tuy nhiên trong ngắn hạn không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có lãi Hình V.4 cho thấy một tình huống trong đó chi phí cố định quá cao làm cho tổng chi phí bình quân tăng nhanh nhưng chi phí biến đổi bình quân và chi phí cận biên vẫn giữ nguyên Ở sản lượng tối ưu q*, giá thấp hơn tổng chi phí bình quân, như vậy đoạn

AB là khoản lỗ bình quân Hình chữ nhật ABCD bây giờ biểu thị tổng thua lỗ Trường hợp này doanh nghiệp có hai sự lựa chọn trong ngắn hạn: Sản xuất hoặc đóng cửa (ngừng) sản xuất tạm thời Doanh nghiệp có thể sản xuất và chịu lỗ trong ngắn hạn vì doanh nghiệp hy vọng rằng sẽ kiếm được lợi nhuận trong tương lai, khi

Gi¸ Lî i nhuËn bÞ mÊt

v× q < q* 1

MC ATC

Lî i nhuËn bÞ mÊt v× q < q* 2

AVC B

D

C

S¶n l­ î ng

q 1 q2 q*

Trang 9

giá của sản phẩm tăng hoặc chi phí sản xuất giảm Trong hai phương án trên doanh nghiệp sẽ chọn phương án nào có lợi hơn

Hình V.4 Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo chịu lỗ Trong hình V.4 ta thấy nếu doanh nghiệp sản xuất ở mức sản lượng q* doanh nghiệp sẽ bị lỗ một khoản bằng diện tích hình chữ nhật ABCD, nếu doanh nghiệp đóng cửa sản xuất doanh nghiệp sẽ mất toàn bộ chi phí cố định là diện tích hình chữ nhật ABCD Vì AE là chi phí cố định bình quân vì thế doanh nghiệp nên tiếp tục sản xuất thì sẽ bị mất ít hơn là đóng cửa sản xuất

Như vậy chi phí cố định không liên quan đến quyết định sản lượng của doanh nghiệp trong ngắn hạn nhưng lại là yếu tố quyết định đối với việc xem xét có nên dời bỏ ngành trong dài hạn hay không

4 Đường cung ngắn hạn của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo

Đường cung của doanh nghiệp cho thấy doanh nghiệp sẽ sản xuất sản lượng nào ở mỗi mức giá Như ta đã thấy, các doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo sẽ tăng sản lượng đến điểm mà ở đó giá bằng chi phí cận biên, và sẽ đóng cửa nếu giá nhỏ hơn chi phí biến đổi bình quân Vì thế, với những mức sản lượng dương (q > 0) đường cung ngắn hạn của doanh nghiệp là một phần của đường chi phí cận biên cắt đường chi phí biến đổi bình quân ở điểm chi phí biến đổi bình quân tối thiểu nên đường cung của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo là đường chi phí cận biên trên điểm chi phí biến đổi bình quân tối thiểu

AR = MR = P AVC

B E

q*

F

C D

S¶n l­ î ng

Gi¸

MC AC

AVC

Trang 10

Hình V.5 Đường cung ngắn hạn của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo

Với bất kỳ mức giá nào lớn hơn chi phí biến đổi bình quân, sản lượng tối đa hoá lợi nhuận được đọc trực tiếp trên hình V.5 Ví dụ, ở giá P1 lượng cung sẽ là q1, ở giá P2 lượng cung sẽ là q2 Với những giá thấp hơn chi phí biến đổi bình quân tối thiểu sản lượng tối ưu bằng không

Đường cung ngắn hạn của các doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo dốc lên do

sự có mặt của quy luật hiệu suất giảm dần đối với một hoặc nhiều yếu tố sản xuất Giá thị trường tăng sẽ làm cho các doanh nghiệp trong ngành tăng sản lượng Giá cao hơn làm cho phần sản lượng gia tăng có lãi và làm tăng tổng lợi nhuận, vì giá đó

áp dụng cho tất cả các đơn vị sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra

5 Đường cung ngắn hạn của thị trường

Đường cung ngắn hạn của thị trường cho thấy số lượng sản phẩm mà ngành

sẽ sản xuất trong ngắn hạn ở mỗi mức giá Sản lượng của ngành là tổng lượng cung của tất cả các doanh nghiệp Vì thế đường cung thị trường là tổng chiều ngang của các đường cung của các doanh nghiệp

Thặng dư sản xuất trong ngắn hạn

Một khái niệm tương tự thặng dư dùng được áp dụng cho các doanh nghiệp Nếu chi phí cận biên tăng dần thì giá của sản phẩm sẽ cao hơn chi phí cận biên đối với mỗi đơn vị sản phẩm sản xuất ra trừ đơn vị cuối cùng Như vậy doanh nghiệp thu được thặng dư từ tất cả các đơn vị, trừ đơn vị cuối cùng Thặng dư sản xuất là phần diện tích nằm trên đường cung và nằm dưới đường giá Hình V.6a biểu thị

Trang 11

thặng dư sản xuất của một doanh nghiệp, hình V.6b biểu thị thặng dư sản xuất trên thị trường

Hình V.6 Thặng dư sản xuất

6 Lựa chọn sản lượng trong dài hạn

Trong dài hạn doanh nghiệp có thể thay đổi tất cả các đầu vào, bao gồm cả quy mô nhà máy Doanh nghiệp có thể bắt đầu sản xuất (nghĩa là gia nhập ngành) hoặc đóng cửa sản xuất (nghĩa là rút khỏi ngành) Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo ta giả định rằng các doanh nghiệp có thể gia nhập hoặc dời bỏ ngành mà không

có một hạn chế pháp lý hoặc một chi phí đặc biệt nào

Hình V.7 cho thấy cách thức mà một doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo ra quyết định về sản lượng tối đa hoá lợi nhuận trong dài hạn Các đường tổng chi phí bình quân ngắn hạn (SAC) và chi phí cận biên ngắn hạn (SMC) là đủ thấp để doanh nghiệp thu được lợi nhuận dương được cho bởi diện tích hình chữ nhật ABCD, bằng việc sản xuất sản lượng q1, ở đó chi phí cận biên ngắn hạn bằng giá bán p1 và bằng doanh thu cận biên (MR) Đường chi phí bình quân dài hạn (LAC) phản ánh sự có mặt của hiệu suất tăng của quy mô cho đến mức sản lượng q2 và hiệu suất giảm của quy mô ở những mức sản lượng lớn hơn q2 Đường chi phí cận biên dài hạn (LMC) cắt đường chi phí bình quân dài hạn (LAC) ở q2 - điểm tối thiểu của chi phí bình quân dài hạn

(b)

Gi¸

PS P*

Gi¸

D C G

P = MR 1

Trang 12

Hình V.7 Lựa chọn sản lượng trong dài hạn Nếu doanh nghiệp tin rằng giá thị trường sẽ ở mức P1 thì nó sẽ mở rộng quy

mô của nhà máy để sản xuất mức sản lượng q3, ở đó LMC = P1 Khi sự mở rộng kết thúc thì lợi nhuận bình quân của doanh nghiệp sẽ tăng từ AB đến EF, và tổng lợi nhuận sẽ tăng từ ABCD lên EFGD Sản lượng q3 tối đa hoá lợi nhuận cho doanh nghiệp

Lưu ý rằng giá trị thị trường cao hơn thì lợi nhuận doanh nghiệp thu được cũng cao hơn Tương tự, khi giá thị trường giảm từ P1 đến P2 thì lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giảm xuống bằng không

7 Cân bằng cạnh tranh dài hạn

Giá cân bằng dài hạn ban đầu của sản phẩm là P1 ở hình V.8b (xác định ở giao đỉnh của đường cung S1 và đường cầu D) Hình V.8a cho thấy rằng các doanh nghiệp thu được lợi nhuận dương vì chi phí bình quân dài hạn tối thiểu bằng giá P2

(ở sản lượng q2) Khoản lợi nhuận dương này khuyến khích các doanh nghiệp mới gia nhập ngành, làm cho đường cung dịch chuyển đến S2 Cân bằng dài hạn xảy ra ở giá P2 Vì doanh nghiệp thu được lợi nhuận bằng không, không có động cơ khiến các doanh nghiệp gia nhập hoặc rút khỏi ngành

Trang 13

Hình V.8 Cân bằng cạnh tranh dài hạn Như vậy, cân bằng dài hạn xảy ra khi tất cả các doanh nghiệp trong ngành tối

đa hoá được lợi nhuận, không có doanh nghiệp nào có động cơ gia nhập hoặc rút khỏi ngành vì tất cả các doanh nghiệp trong ngành đều thu được lợi nhuận bằng không, giá của sản phẩm ở mức mà lượng cung của ngành bằng lượng cầu của tất cả những người tiêu dùng

III ĐỘC QUYỀN

Trong phần này chúng ta sẽ nghiên cứu độc quyền bán và độc quyền mua Độc quyền bán là một thị trường trong đó chỉ có một người bán nhưng có nhiều người mua Độc quyền mua là một thị trường trong đó có nhiều người bán nhưng chỉ có một người mua

1 Độc quyền bán

a) Nguyên nhân dẫn đến độc quyền bán

Một doanh nghiệp có thể chiếm được vị trí độc quyền bán nhờ một số nguyên nhân cơ bản sau:

- Đạt được tính kinh tế của quy mô, yếu tố quan trọng quyết định cấu trúc thị trường là sản lượng ở mức quy mô tối thiểu có hiệu quả so với cầu của thị trường Quy mô tối thiểu có hiệu quả là sản lượng mà tại đó đường chi phí bình quân dài hạn của một doanh nghiệp ngừng đi xuống Như vậy nếu một doanh nghiệp đạt được tính kinh tế của quy mô thì việc mở rộng sản lượng của nó sẽ loại bỏ được các đối thủ và cuối cùng sẽ là người bán duy nhất trên thị trường nếu mức sản lượng có chi phí bình quân dài hạn tối thiểu của nó là đủ lớn để đáp ứng cầu thị trường

- Bắng phát minh sáng chế (bản quyền) Luật về bằng phát minh sáng chế (bản quyền) cho phép các nhà sản xuất có được vị trí độc quyền bán về một sản phẩm hoặc một quy trình công nghệ mới trong một khoảng thời gian nhất định

Trang 14

- Kiểm soát các yếu tố (đầu vào) sản xuất Một doanh nghiệp có thể chiếm được vị trí độc quyền bán nhờ quyền sở hữu một loại đầu vào (nguyên liệu) để sản xuất ra một loại sản phẩm nào đó

- Quy định của Chính phủ Một doanh nghiệp có thể trở thành độc quyền hợp pháp nếu nó là người duy nhất được cấp giấy phép sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm dịch vụ nào đó Chẳng hạn đường sắt Việt Nam, Bưu điện Việt Nam

b) Đường cầu và doanh thu cận biên trong độc quyền bán

Là người sản xuất duy nhất đối với một loại sản phẩm, nhà độc quyền bán có

vị trí độc nhất trên thị trường Nhà độc quyền bán có sự kiểm soát toàn diện đối với

số lượng sản phẩm đưa ra bán Nhưng điều này không có nghĩa là nó muốn đặt giá cao bao nhiêu cũng được vì mục đích của nó là tối đa hoá lợi nhuận Đặt giá cao sẽ

có ít người mua và lợi nhuận thu được sẽ ít hơn

Vì là người duy nhất bán một hàng hoá hoặc dịch vụ cụ thể trên thị trường, nhà độc quyền bán đứng trước đường cầu thị trường - một đường cầu dốc xuống dưới về phía phải Đường cầu thị trường chính là đường doanh thu bình quân (AR) của doanh nghiệp Khi đường cầu dốc xuống thì giá và doanh thu bình quân luôn lớn hơn doanh thu cận biên vì tất cả các đơn vị đều được bán ở cùng một giá Tăng lượng bán thêm một đơn vị thì giá phải giảm xuống, như vậy tất cả các đơn vị bán ra đều phải giảm giá chứ không phải chỉ một đơn vị bán thêm Đường doanh thu cận biên vì thế luôn nằm dưới đường cầu, trừ điểm đầu tiên, như mô tả ở hình V.9

Hình V.9 Đường cầu và doanh thu cận biên

c) Quyết định sản lượng của Nhà độc quyền

D Giá

Sản lượng

MR

Ket-noi.com kho tài li ệ u mi ễ n phí

Trang 15

Ở phần II ta thấy một doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận phải sản xuất mức sản lượng sao cho doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên Lời giải này cũng được

áp dụng cho bài toán sản lượng của nhà độc quyền bán Ở hình V.10, đường cầu thị trường D là đường doanh thu bình quân của doanh nghiệp Đường doanh thu cận biên và các đường chi phí bình quân và cận biên cũng đã được biểu thị trong hình này Doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên ở sản lượng Q* Từ đường cầu ta tìm

ra giá tương ứng P* của mức sản lượng Q* này

Hình V.10 Tối đa hoá lợi nhuận của Nhà độc quyền bán Làm thế nào để biết Q* là sản lượng tối đa hoá lợi nhuận? Giả sử sản lượng nhỏ hơn Q1 chẳng hạn, lúc đó giá tương ứng sẽ là P1 Như biểu thị trên hình doanh thu cận biên (MR) cao hơn chi phí cận biên (MC) Nếu nhà độc quyền bán sản lượng nhiều hơn Q1 một ít thì sẽ thu thêm được lợi nhuận bổ sung (MR - MC) và nhờ đó tổng lợi nhuận tăng Nhà độc quyền bán có thể tăng sản lượng để tăng tổng lợi nhuận cho đến tận sản lượng Q*, ở đó lợi nhuận bổ sung từ việc sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm bằng không Như vậy sản lượng nhỏ hơn (Q1) không phải là sản lượng tối đa hoá lợi nhuận, ngay cả khi sản lượng đó cho phép nhà độc quyền bán đặt giá cao hơn Nếu sản xuất mức sản lượng Q1 tổng lợi nhuận của nhà độc quyền bán sẽ nhỏ hơn mức cực đại một khoản bằng phần gạch chéo dưới đường MR

và trên đường MC, giữa Q1 và Q2 Tương tự, sản lượng lớn hơn, Q2 chẳng hạn, cũng không phải là sản lượng tối đa hoá lợi nhuận, ở sản lượng Q2 này chi phí cận biên

MC cao hơn doanh thu cận biên MR, do đó nếu nhà độc quyền bán sản xuất ít đi

D

AC MC Gi¸

S¶n l­ î ng

Q 1 Q 2

P 2

P 1 P*

Q*

Trang 16

một ít thì lợi nhuận thu được sẽ tăng thêm (MC - MR) Nhà độc quyền có thể làm cho lợi nhuận tăng thêm nữa bằng việc giảm bớt phần sản lượng phía sau Q*, phần lợi nhuận tăng thêm do sản xuất Q* chứ không phải Q2 là phần diện tích gạch chéo nằm dưới đường MC và trên đường MR, giữa Q* và Q2

Quy tắc ngón tay cái vè định giá

Như ta đã biết, để tối đa hoá lợi nhuận, nhà độc quyền bán phải sản xuất mức sản lượng mà tại đó MR = MC

Trong độc quyền bán không có đường cung Nói cách khác, không có mối

quan hệ 1:1 giữa giá và sản lượng Bởi vì quyết định sản lượng của Nhà độc quyền phụ thuộc không chỉ vào chi phí cận biên mà còn vào hình dáng của đường cầu Do

đó, sự dịch chuyển của đường cầu không kéo theo một loạt các mức giá và các mức sản lượng như với đường cung cạnh tranh hoàn hảo Trong độc quyền bán, sự dịch chuyển của cầu có thể dẫn đến thay đổi giá mà sản lượng không thay đổi, như biểu thị ở hình V.11a, hoặc sự thay đổi trong sản lượng mà giá không đổi, như biểu thị ở hình V.11b, hoặc thay đổi trong cả sản lượng cả giá

MC Gi¸

Trang 17

Hình V.11 Sự chuyển dịch của cẩu dẫn đến giá thay đổi hoặc

lượng thay đổi chứ không phải cả hai

Sức mạnh độc quyền

Sự khác nhau cơ bản giữa doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo và doanh nghiệp độc quyền bán là doanh nghiệp độc quyền bán có sức mạnh thị trường Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo phải đặt giá bằng chi phí cận biên còn doanh nghiệp độc quyền bán đặt giá cao hơn chi phí cận biên Vì thế sức mạnh độc quyền bán được đo bằng chỉ số Lerner, gọi là mức độ của sức mạnh độc quyền Lerner (do Abba Lerner đưa ra năm 1934)

P

Mất không từ sức mạnh độc quyền

Vì sức mạnh độc quyền tạo ra giá cao hơn và sản lượng sản xuất ra thấp hơn

so với cạnh tranh hoàn hảo nên ta dễ thấy người tiêu dùng bị thiệt hại còn người sản xuất thì được lợi Nhưng nếu coi phúc lợi của người tiêu dùng và của người sản xuất như nhau thì cả người tiêu dùng và người sản xuất tính thành một tổng thể sẽ không được lợi bằng trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo Có thể thấy điều này khi so sánh thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất được tạo ra trong ngành cạnh tranh hoàn hảo và trong ngành độc quyền bán Hình V.12 cho thấy nếu thị trường là cạnh tranh hoàn hảo thì giá và sản lượng sẽ là Pc và Qc Nếu thị trường là độc quyền bán thì giá và sản lượng là Pm và Qm Như vậy so với thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì thị trường độc quyền bán tạo ra phúc lợi ít hơn một phần thặng dư tiêu dùng (diện

Trang 18

tích A) và thặng dư sản xuất (diện tích B) bị mất do chỉ sản xuất ở mức sản lượng

Qm Phần phúc lợi bị mất gọi là mất không

Hình V.12 Mất không từ sức mua độc quyền

2 Độc quyền mua

Ở phần trên ta đã tập trung vào phía người bán của thị trường Bây giờ ta quay lại phía người mua Một số khái niệm: Độc quyền mua đề cập tới thị trường trong đó chỉ có một người mua, độc quyền mua tập đoàn là một thị trường trong đó chỉ có một số người mua

Khi thị trường có một hoặc một số người mua thì người mua có sức mạnh độc quyền mua Đó là khả năng thay đổi giá của hàng hoá Nó cho phép người mua có thể mua hàng hoá ở mức giá thấp hơn giá thịnh hành trong thị trường cạnh tranh

Khi ra quyết định mua bao nhiêu hàng hoá người mua cũng áp dụng nguyên

lý cận biên - mua hàng hoá cho đến số lượng mà đơn vị mua cuối cùng đêm lại giá trị bổ sung, hay lợi ích, đúng bằng chi phí trả cho đơn vị cuối cùng đó

Như ta đã biết, đường cầu của một cá nhân biểu thị giá trị cận biên (hay ích lợi cận biên), là một hàm số của số lượng mua Vì thế đường giá trị cận biên là đường cầu về hàng hoá Nhưng chi phí cận biên của việc mua thêm một đơn vị hàng hoá phụ thuộc vào người mua có sức mạnh độc quyền mua hay không

Khi người mua không có sức mạnh độc quyền mua (người bán cạnh tranh) thì

họ phải chấp nhận giá sẵn có trên thị trường, vì thế chi tiêu cận biên (ME) và chi tiêu bình quân (AE) là không đổi và bằng nhau, số lượng mua được xác định bằng

S¶n l­ î ng

MC Gi¸

Trang 19

việc đặt giá bằng giá trị cận biên (đường cầu) Điều này hoàn toàn tương tự như người bán cạnh tranh (Pc Qc)

Khi người mua có sức mạnh độc quyền mua (người mua độc quyền) thì đường cung thị trường là đường chi tiêu bình quân (AE) của nhà độc quyền mua Chi tiêu bình quân tăng, nếu chi tiêu cận biên nằm trên chi tiêu bình quân Nhà độc quyền mua số lượng Qm mà ở đó các đường chi tiêu cận biên (ME) và giá trị cận biên (ME) (cầu) cắt nhau (hình V.13) Giá trả cho một đơn vị là P*m được xác định

từ đường chi tiêu bình quân (cung)

Hình V.13 Người mua độc quyền

S¶n l­ î ng

S = AE

ME Gi¸

Q*m Qc

Pc

A B

D

P * m

Trang 20

Sức mạnh độc quyền cũng gây ra mất không là diện tích A và B (tương tự như sức mạnh độc quyền bán)

Định giá với sức mạnh thị trường

Tất cả các chiến lược định giá mà ta sẽ xem xét có một điểm chung đó là những cách chiếm thặng dư của người tiêu dùng và chuyển sang cho người sản xuất

Phân biệt giá (gọi tắt của phân biệt đối xử bằng giá)

Phân biệt giá hoàn hảo (còn gọi là phân biệt giá cấp một) Nếu có thể đặt cho

mỗi khách hàng một giá thì doanh nghiệp sẽ đặt cho mỗi khách hàng một mức giá tối đa mà khách hàng đó sẵn sàng trả cho mỗi đơn vị mua, ta gọi giá tối đa này là giá đặt trước của người tiêu dùng Việc đặt cho mỗi khách hàng một mức giá bằng giá đặt trước của họ được gọi là phân biệt giá hoàn hảo Hình V.14 cho thấy nếu doanh nghiệp đặt cho mỗi khách hàng một giá bằng giá đặt trước của họ thì việc mở rộng đến sản lượng Qc sẽ có lợi Khi chỉ một giá được đặt ra là Pm thì lợi nhuận biến đổi (chênh lệch giữa doanh thu và chi phí biến đổi) của doanh nghiệp là diện tích nằm giữa đường doanh thu cận biên và đường chi phí cận biên Bằng việc phân biệt giá hoàn hảo, lợi nhuận này sẽ được mở rộng thành diện tích nằm dưới đường cầu và đường chi phí cận biên

Hình V.14 Phân biệt giá hoàn hảo

Phân biệt giá cấp hai Trong một số thị trường, mỗi người tiêu dùng mua

nhiều đơn vị hàng hoá trong một khoảng thời gian đã cho và cầu của người tiêu dùng giảm dần theo số đơn vị đã mua Khi sự tiêu dùng tăng lên thì sự sẵn sàng thanh toán của họ giảm dần Trong trường hợp này doanh nghiệp có thể phân biệt

S¶n l­ î ng

MC

MR Gi¸

Qc

Pc

D

Pm

Trang 21

đối xử theo số lượng tiêu dùng việc này được gọi là phân biệt giá cấp hai Cơ chế hoạt động của phân biệt giá cấp hai là đặt các mức giá khác nhau cho các số lượng hoặc các khối lượng khác nhau của cùng một hàng hoá hoặc dịch vụ Hình V.15 biểu thị 3 "khối" với ba mức giá tương ứng là P1, P2, P3 Đây cũng là một trường hợp đạt được tính kinh tế của quy mô Tổng chi phí bình quân và chi phí cận biên giảm dần Phân biệt giá cấp hai có thể làm cho người tiêu dùng có lợi bằng việc mở rộng sản lượng và hạ thấp chi phí

Hình V.15 Phân biệt giá cấp hai

Phân biệt giá cấp 3 Hình thức phân biệt giá này chia khách hàng ra thành hai

hoặc nhiều nhóm với các đường cầu riêng biệt Đây là hình thức phân biệt giá phổ biến nhất (áp dụng trong vé máy bay, đồ săn sẵn, rượu ) Các giá tối ưu và sản lượng tối ưu là các giá và các mức sản lượng sao cho doanh thu cận biên từ mỗi nhóm đều bằng chi phí cận biên Hình V.16 cho thấy nhóm 1 có đường cầu D1 bị đặt giá P1, nhóm 2 với đường cầu D2 bị đặt giá P2 Chi phí cận biên phụ thuộc vào tổng sản lượng sản xuất ra (QT)

D

ATC MR

S¶n l­ î ng

Q Q Q

D 1

D2

MR

MrT

Trang 22

Hình V.16 Phân biệt giá cấp ba Lưu ý rằng chi phí cận biên phụ thuộc vào tổng sản lượng sản xuất ra, còn Q1

và Q2 phải được chọn sao cho MR1 = MR2 = MC Phân biệt giá theo thời kỳ và đặt giá cao điểm

Phân biên giá theo thời kỳ là một chiến lược định giá quan trọng được sử

dụng rộng rãi và có liên quan chặt chẽ với phân biệt giá cấp ba Ở đây người tiêu dùng được chia ra thành các nhóm khác nhau với các hàm cầu khác nhau và đặt các giá khác nhau ở những thời điểm khác nhau Ví dụ trong ngành phát hành sách, lúc đầu người ta đặt giá cao và chiếm được thặng dư từ người tiêu dùng có cầu cao về hàng hoá và không sẵn sàng chờ mua Sau đó người ta giảm giá xuống để thu hút số đông trên thị trường Điều này được minh hoạ ở hình V.17

Hình V.17 Phân biệt giá theo thời kỳ

Đặt giá cao điểm Cầu về một số hàng hoá dịch vụ tăng nhanh trong những

khoảng thời gian nhất định trong ngày hoặc trong năm Đặt giá P2 (ở hình V.18) ở thời kỳ cao điểm là có lợi hơn cho doanh nghiệp so với việc chỉ đặt một giá trong

P2

P1Gi¸

MC

Trang 23

suốt các thời kỳ Đây cũng là một việc làm hiệu quả vì chi phí cận biên cao hơn trong thời kỳ cao điểm

Hình V.18 Đặt giá cao điểm

Đặt giá hai phần

Đặt giá hai phần có liên quan đến phân biệt giá và cho ta một biện pháp nữa

để chiếm thêm thặng dư tiêu dùng Bằng đặt giá hai phần, doanh nghiệp đòi người tiêu dùng phải trả trước một khoản phí để có quyền mua sản phẩm, sau đó người tiêu dùng phải trả phí bổ sung cho mỗi đơn vị sản phẩm họ cần tiêu dùng Hình V.19 cho thấy người tiêu dùng có đường cầu D Doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận bằng việc đặt chi phí cận biên và phí gia nhập bằng toàn bộ thặng dư của người tiêu dùng Ví

dụ kinh điển về trường hợp này là vé vào cửa công viên và phí sử dụng trả cho mỗi trò giải trí trong công việc

Ngoài ra còn có nhiều cách khác nữa để chiếm đoạt thặng dư tiêu dùng như bán kèm, bán trói buộc

Trang 24

IV CẠNH TRANH KHÔNG HOÀN HẢO

1 Cạnh tranh độc quyền

Có nhiều ngành trong đó các doanh nghiệp tạo ra những sản phẩm khác nhau

Vì lý do này hoặc lý do khác, người tiêu dùng coi mặt hàng của mỗi doanh nghiệp khác với của các doanh nghiệp khác Sự khác nhau của sản phẩm là do người tiêu dùng nghĩ ra, có thể đúng hoặc không đúng Do đó, một số người tiêu dùng (chứ không phải là tất cả) sẽ trả giá cao hơn cho sản phẩm mà mình thích

Thị trường cạnh tranh độc quyền có hai đặc trưng then chốt:

a) Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau bằng việc bán sản phẩm phân biệt (đã được làm cho khác sản phẩm của các doanh nghiệp khác) các sản phẩm này có thể thay thế cho nhau ở mức độ cao nhưng không phải là thay thế hoàn hảo Nói cách khác, độ co dãn của cầu theo giá là cao nhưng không phải là vô cùng

b) Có sự tự do gia nhập và rút khỏi Doanh nghiệp mới ra nhập thị trường với các mặt doanh nghiệp của mình tương đối dễ dàng và các doanh nghiệp ở trong ngành rời bỏ cũng tương đối dễ nếu các sản phẩm của họ trở nên không có lãi

Cân bằng trong ngắn hạn và trong dài hạn

Giống như trong độc quyền bán, doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền đứng trước đường cầu dốc xuống và có thể có sức mạnh độc quyền bán Tuy vậy điều này không có nghĩa là các doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền chắc chắn thu được lợi nhuận lớn Cạnh tranh độc quyền tương tự như cạnh tranh hoàn hảo ở điểm có sự tự

do gia nhập, vì vậy khả năng thu được lợi nhuận sẽ cuốn hút các doanh nghiệp mới với các mặt hàng cạnh tranh tham gia vào thị trường, làm cho lợi nhuận giảm xuống bằng không

MR

Q SR (a)

Gi¸

S¶n l­ î ng

P LR

MC AC

MR

Q LR (b)

D LR

Trang 25

Hình V.20 Hãng cạnh tranh độc quyền trong ngắn hạn và dài hạn

Hình V.20 biểu thị giá và sản lượng cân bằng của doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền trong ngắn hạn và trong dài hạn Hình V.20a biểu thị cân bằng ngắn hạn

Vì sản phẩm của doanh nghiệp khác với của các đối thủ cạnh tranh nên đường cầu của doanh nghiệp dốc xuống dưới Đây là đường cầu của doanh nghiệp chứ không phải đường cầu thị trường Đường cầu thị trường dốc hơn rất nhiều Sản lượng tối đa hoá lợi nhuận ngắn hạn QSR được xác định ở điểm cắt của đường chi phí bình quân nên doanh nghiệp thu được lợi nhuận, biểu thị bằng diện tích hình chữ nhật gạch chéo

Trong dài hạn, lợi nhuận này sẽ kích thích các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường Khi các doanh nghiệp mới đưa ra các mặt hàng cạnh tranh thì doanh nghiệp đang ở trong ngành sẽ mất đi một phần thị trường và doanh thu sẽ giảm mặc dù đường cầu của nó vẫn là một đường dốc xuống dưới, như biểu thị ở hình V.20b Trong dài hạn các đường chi phí bình quân AC và chi phí cận biên MC cũng có thể dịch chuyển Nhưng để cho đơn giản ta giả định các chi phí này không đổi Đường cầu dài hạn DLR sẽ tiếp xúc với đường chi phí bình quân của doanh nghiệp Ở đây sản lượng tối đa hoá lợi nhuận là QLR, giá là PLR và lợi nhuận bằng không vì P = AC Doanh nghiệp vẫn có sức mạnh độc quyền bán; đường cầu dài hạn của nó dốc xuống

vì mặt hàng cụ thể của doanh nghiệp vẫn là độc nhất Thế nhưng việc gia nhập của các doanh nghiệp mới đã làm cho lợi nhuận của nó giảm xuống bằng không

Nói chung, các doanh nghiệp có thể có chi phí khác nhau và một số mặt hàng

sẽ nổi trội hơn Trong trường hợp này các doanh nghiệp có thể đặt các giá khác nhau một ít và một số doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận nhỏ

So sánh thị trường cạnh tranh độc quyền với thị trường thị trường cạnh tranh hoàn hảo ta thấy trong thị trường cạnh tranh độc quyền giá cân bằng cao hơn chi phí

Trang 26

cận biên Điều này có nghĩa là giá trị của những đơn vị hàng hoá bổ sung đối với người tiêu dùng cao hơn chi phí để sản xuất ra chúng Nếu sản lượng được mở rộng đến điểm mà ở đó đường cầu cắt đường chi phí cận biên thì tổng thặng dư sẽ tăng lên một lượng bằng diện tích phần gạch chéo ở hình V.20b Đó chính là khoản mất không do sức mạnh độc quyền bán gây ra Ngoài ra, doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền hoạt động với công suất thừa, nghĩa là mức sản lượng của nó nhỏ hơn mức sản lượng tối thiểu hoá chi phí bình quân

Như vậy, khi đánh giá thị trường cạnh tranh độc quyền phải so sánh những tính không hiệu quả đã nêu trên với lợi ích mà người tiêu dùng thu được từ tính đa dạng của sản phẩm

2 Độc quyền tập đoàn

Trong thị trường độc quyền tập đoàn, sản phẩm có thể giống hoặc khác nhau Trong thị trường này chí có một số doanh nghiệp sản xuất toàn bộ hay hầu hết tổng sản lượng Trong một số thị trường độc quyền tập đoàn một số hoặc tất cả các doanh nghiệp đều thu được lợi nhuận đáng kể trong dài hạn vì có các hàng rào gia nhập làm cho các doanh nghiệp mới không thể hoặc khó mà gia nhập được vào thị trường

Quản lý một doanh nghiệp độc quyền tập đoàn là rất phức tạp vì các quyết định về giá, sản lượng, quảng cáo và đầu tư bao gồm nhiều cân nhắc chiến lược quan trọng Vì chỉ có một số doanh nghiệp cạnh tranh với nhau nên mỗi doanh nghiệp phải cân nhắc cẩn thận xem các hành động của mình sẽ ảnh hưởng như thế nào đến các doanh nghiệp đối thủ, và các đối thủ sẽ phản ứng thế nào Khi ra quyết định mỗi doanh nghiệp phải cân nhắc phản ứng của doanh nghiệp đối với các quyết định của họ Hơn nữa, các quyết định, các phản ứng, các phản ứng đối với các phản ứng luôn biến động theo thời gian Khi những nhà quản lý của doanh nghiệp đánh giá các kết quả tiềm năng của các quyết định của mình, họ phải giả định rằng các đối thủ cũng là những người hợp lý và thông minh như họ Họ phải đặt mình vào vị trí của các đối thủ và cân nhắc xem sẽ phản ứng như thế nào

Cân bằng trong thị trường độc quyền tập đoàn

Như ta đã thấy trong phần cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền: khi thị trường cân bằng, các doanh nghiệp đang làm điều tốt nhất mình có thể và vì thế không có lý

Trang 27

do nào phải thay đổi giá hoặc sản lượng của mình Thị trường cạnh tranh hoàn hảo cân bằng khi lượng cung bằng lượng cầu vì khi đó mỗi doanh nghiệp đang làm điều tốt nhất mình có thể - doanh nghiệp bán tất cả sản phẩm mình sản xuất ra và tối đa hoá được lợi nhuận Tương tự, nhà độc quyền ở cân bằng khi doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên, vì kho đó nhà độc quyền đang làm điều tốt nhất mình có thể

và tối đa hoá được lợi nhuận

Điều này có thể áp dụng cho thị trường độc quyền tập doàn với một sự biến đổi nhỏ: mỗi doanh nghiệp sẽ muốn làm điều tốt nhất mình có thể, đã cho cái mà đối thủ đang làm nên ta có thể giả định rằng các đối thủ này sẽ làm điều tốt nhất mình

có thể đã cho cái mà doanh nghiệp đang làm Như vậy mỗi doanh nghiệp sẽ làm điều tốt nhất mình có thể tính đến các đối thủ và giả định rằng các đối thủ của mình cuãng đang làm như thế

Nhà toán học John Nash là người đầu tiên giải thích rõ khái niệm này vào năm 1951, vì thế người ta gọi cân bằng này là cân bằng Nash

Cân bằng Nash: Mỗi doanh nghiệp đang làm điều tốt nhất mình có thể đã cho

cái mà đối thủ đang làm

Cân bằng Nash là một cân bằng không hợp tác - mỗi doanh nghiệp ra quyết định sao cho thu được lợi nhuận cao nhất, đã cho hành đọng cảu các doanh nghiệp đối thủ Khi không hợp tác hành động, lợi nhuận mỗi doanh nghiệp thu được cao hơn lợi nhuận lẽ ra thu được trong cạnh tranh hoàn hảo nhưng lại thấp hơn lợi nhuận thu được nếu các doanh nghiệp cấu kết với nhau

Tuy nhiên cấu kết là bất hợp pháp Nhưng nếu hợp tác có thể đem lại lợi nhuận cao hơn thì tại sao các doanh nghiệp không hợp tác bằng cách cấu kết ngầm? nghĩa là, nếu doanh nghiệp và đối thủ của doanh nghiệp đều xác định được giá tối đa hoá lợi nhuận và sẽ thống nhất đặt giá đó nếu doanh nghiệp và đối thủ của doanh nghiệp cấu kết với nhau thì tại sao doanh nghiệp không đặt giá đó và tin rằng đối thủ của mình cũng làm thế? Nếu đối thủ của doanh nghiệp làm thế thì cả 2 sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn Vấn đề là ở chỗ đối thủ của doanh nghiệp có thể không chọn giá ở mức cấu kết Đối thủ của doanh nghiệp có thể không đặt giá ở mức cấu kết, vì

Trang 28

việc chọn giá thấp hơn sẽ tốt hơn cho nó ngay cả khi nó biết rằng doanh nghiệp đang đặt giá ở mức cấu kết

Biểu sau mô tả tóm tắt các kết quả của những khả năng đặt giá khác nhau Trong việc ra quyết định đặt giá, 2 doanh nghiệp đều chơi trò chơi không hợp tác - mỗi doanh nghiệp, một cách độc lập, đang làm điều tốt nhất là mình có thể, có tính đến đối thủ của mình Biểu này được gọi là Matrice lợi nhuận của trò chơi này vì nó cho thấy lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp, đã cho quyết định của doanh nghiệp và của đối thủ của doanh nghiệp

Doanh nghiệp 2 Đặt giá thấp

(P1)

Đặt giá cao (P2)

Góc trên bên trái của Matrice cho thấy rằng nếu cả hai doanh nghiệp cùng đặt giá thấp (P1) thì mỗi doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận là 1 Góc trên bên phải cho thấy rằng nếu doanh nghiệp 1 đặt giá thấp (P1) và doanh nghiệp 2 đặt giá cao (P2) thì doanh nghiệp 1 sẽ thu được lợi nhuận bằng 3 và doanh nghiệp 2 sẽ thu được lợi nhuận bằng không Matrice này cho thấy một cách rõ ràng tại sao các doanh nghiệp không ứng xử theo cách hợp tác để thu được lợi nhuận cao hơn cho dù 2 doanh nghiệp không thể cấu kết Trong trường hợp này, hợp tác có nghĩa là 2 doanh nghiệp cùng đặt giá cao (P2) để thu được lợi nhuận bằng 2 (thay vì bằng 1) Điểm then chốt

ở đây là mỗi doanh nghiệp luôn luôn thu được lợi nhuận cao hơn bằng việc đặt giá thấp cho dù đối thủ đặt giá nào đi nữa Như vậy điều tốt nhất mà doanh nghiệp 1 có thể làm là đặt giá P1 nếu doanh nghiệp 2 đặt giá P1 Nếu doanh nghiệp 2 đặt giá P2thì doanh nghiệp 1 đặt giá P1 vẫn là điều tốt nhất Với doanh nghiệp 2 cũng tương

Trang 29

chơi gọi là "tình thế lưỡng nan của những người tù" minh hoạ vấn đề mà các doanh nghiệp độc quyền tập đoàn gặp phải Tình thế này như sau: hai người tù bị xử về tội hợp tác với nhau trong một hành động phạm tội Họ bị tách riêng ra để hỏi cung trong các phòng khác nhau và không thể thông tin cho nhau được Nếu cả hai cùng thú tội thì mỗi người sẽ bị tù năm năm, nếu không ai thú tội thì khó kết án, như vậy những người tù đều hy vọng cùng thoả thuận tự bào chế để nhận án tù hai năm Mặt khác, nếu một người thú tội và người kia không thú tội thì người thú tội sẽ bị tù một năm, còn người kia sẽ bị tù 10 năm Như vậy cả hai sẽ cùng thú tội

và điều chỉnh hành vi của mình Điều này cho phép các doanh nghiệp xây dựng danh tiếng để gây uy tín Vì thế sự phối hợp và hợp tác của các doanh nghiệp độc quyền tập đoàn đôi khi trở thành phổ biến

Thế nhưng vì việc cấu kết ngầm có xu hướng dễ vỡ nên các doanh nghiệp độc quyền tập đoàn thường mong muốn sự ổn định Điều này giải thích vì sao đặc trưng nổi bật của ngành độc quyền tập đoàn lại có sự cứng nhắc của giá Khi chi phí sản xuất giảm hoặc cầu thị trường giảm các doanh nghiệp cũng không muốn giảm giá vì điều đó có thể phát tín hiệu sai cho các doanh nghiệp đối thủ và vì thế khơi ngòi cho cuộc chiến tranh giá cả Còn khi chi phí hoặc cầu thị trường tăng các doanh nghiệp cũng không muốn tăng giá vì sợ các đối thủ không tăng giá

Mô hình đường cầu gẫy là sự mô tả mức giá cứng nhắc của độc quyền tập đoàn Theo mô hình này, mỗi doanh nghiệp gặp một đường cầu gẫy ở mức giá đang thịnh hành P*, như biểu thị ở hình V.21 Ở các mức giá thấp hơn P* đường cầu

Trang 30

không co dãn vì doanh nghiệp tin rằng nếu doanh nghiệp hạ giá xuống thì các doanh nghiệp cũng sẽ hạ giá của mình vì họ không muốn mất thị trường Như vậy lượng bán chỉ tăng ở chừng mực mà giá thị trường giảm làm tăng tổng cầu thị trường

Vì đường cầu gẫy nên đường doanh thu cận biên của nó bị gián đoạn Do đó chi phí của doanh nghiệp có thể thay đổi mà không gây ra sự thay đổi giá Như biểu thị trong hình, chi phí cận biên có thể tăng nhưng vẫn bằng doanh thu cận biên ở mức sản lượng đó, vì thế giá vẫn đứng ở mức cũ

Hình V.21 Đường cầu gẫy

Mô hình đường cầu gẫy này rất hấp dẫn vì nó đơn giản, nhưng nó lại không cho thấy cách thức mà các doanh nghiệp đặt P* như thế nào và tại sao lại không phải

là một mức giá nào đó khác Mô hình này không giải thích sự cứng nhắc của giá Sự cứng nhắc của giá được giải thích bằng tình thế lưỡng nan của những người tù và bằng sự mong muốn tránh việc cạnh tranh không có lợi của các doanh nghiệp

Phát tín hiệu giá và chỉ đạo giá

Định giá cấu kết ngầm là một việc rất khó khăn vì các doanh nghiệp không được trao đổi với nhau Việc này càng trở nên khó khăn hơn khi chi phí và cầu thay đổi, và do đó mức giá "đúng" cũng thay đổi Phát tín hiệu giá là một hình thức của cấu kết ngầm Ví dụ một doanh nghiệp có thể thông báo rằng nó sẽ tăng giá (có thể thông qua các tài liệu in ấn) và hy vọng rằng các đối thủ sẽ coi là một tín hiệu và các đối thủ cũng phải tăng giá Nếu các doanh nghiệp làm theo thì mô hình chỉ đạo giá

D MC

Trang 31

Chỉ đạo giá cũng có thể là một cách mà các doanh nghiệp độc quyền tập đoàn

xử lý với việc miễn cưỡng thay đổi giá Khi chi phí và cầu thay đổi các doanh nghiệp sẽ thấy cần phải thay đổi giá Khi đó các doanh nghiệp có thể trông chờ vào mức giá mà người chỉ đạo phát tín hiệu về thời gian thay đổi và thay đổi bao nhiêu

Có khi một doanh nghiệp lớn hành động như người chỉ đạo giá, có khi các doanh nghiệp khác cũng có thể hành động như người chỉ đạo giá

Nghiên cứu các loại thị trường, cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền, cạnh tranh độc quyền và độc quyền tập đoàn chúng ta đều thấy chúng có những ưu điểm cần khai thác đầy đủ, nhưng phải nhấn mạnh rằng ở Việt Nam chúng ta phải có những biện pháp chống độc quyền, chống khuynh hướng độc quyền dẫn đến cửa quyền, nhất là các doanh nghiệp Nhà nước, phải có chính sách điều tiết độc quyền trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, nhất là đối với kinh tế Nhà nước Điều đó sẽ góp phần bảo đảm công bằng về kinh tế, công bằng xã hội và bảo đảm văn minh trong kinh tế

Chúng ta chấp nhận xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nên phải chấp nhận cạnh tranh, thậm chí cạnh tranh khốc liệt trên thị trường quốc tế, song chúng ta thực hiện cạnh tranh trong giới hạn của các quan hệ hợp tác hai bên cùng có lợi và bình đẳng, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau, quan tâm đến chính sách xoá đói, giảm nghèo, giảm bớt khoảng cách giàu nghèo, bảo đảm sự công bằng xã hội cũng là một đòi hỏi khách quan của sự bình đẳng giữa con người với con người

3.1 Những vấn đề cơ bản về Ngân hàng thương mại :

Chức năng của Ngân hàng thương mại :

Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính :

Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi phải tiếp xúc với hai loại các nhân và tổ chức trong nền kinh tế : Các cá nhân và tổ chức tạm thời cần dùng vốn để bù đắp vào

Trang 32

thâm hụt trong chi tiêu nghĩa là đầu tư cho chi tiêu và đầu tư vượt quá thu nhập và chính vì thế mà họ cần bổ sung vốn ; và các cá nhân tổ chức có thừa vốn nghĩa là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn số chi tiêu của họ chính vì vậy mà họ đã để dành được một số tiền để tiết kiệm Như vậy ta thấy trong nền kinh tế xuât hiện hai nhóm

đó là những người thừa vốn và thiếu vốn Điều tất yếu là tiền sẽ được dịch chuyển từ những người thừa vốn sang những người thiếu vốn bởi vì cả hai đều có lợi Như vậy, thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm này Nếu dòng tiền di chuyển với điều kiện là phải quay trở lại với một lượng lớn hơn trong khoảng thời gian nhất định nào đó thì đó là mối quan hệ tín dụng Nếu không thì đó là mối quan hệ cấp phát hoặc là hùn vốn

Tuy nhiên là mối quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do sự không phù hợp về quy mô, thời gian, không gian Những người thừa vốn sẽ phải mất nhiều thời gian để tìm được người cần vốn và số vốn đó phải đúng bằng số tiền mình có Và người thiếu vốn cũng như vậy, họ phải mất thời gian và công sức để tìm được người thừa vốn cho mình vay số vốn mình cần Những người thừa vốn cho vay nhiều khi không biết nhiều thông tin người mình cho vay chính vì vậy rủi ro tín dụng rất cao Chính những điều đó đã làm cho quan hệ trực tiếp khó phát triển và tạo điều kiện cho trung gian tài chính ra đời Do trung gian tài chính là những người chuyên môn hoá trong việc nhân tiền gửi và cho vay Họ có đội ngũ chuyên nghiệp về phân tích khách hàng, khả năng thanh toán cũng như là phân tích về độ rủi ro … và điều quan trọng nữa là họ có thể giảm thời gian giao dịch cũng như là công sức để diễn ra hoạt động tín dụng Ví dụ : Người có tiền tiết kiệm đòi 1% cho chi phí giao dịch, 2% rủi ro và 3% thu nhập ròng từ số tiền tiết kiệm mà anh ta đang phải tạm thời bỏ quyền sử dụng Tổng số là anh ta đòi 6% trên tổng số tiền vay Người vay phải chi cho 1% chi phí giao dịch, 6% phải trả cho người cho vay, tổng cộng chi phí tín dụng là 7% Nếu

mà việc sử dụng tiền vay có theer tạo cho anh ta một tỷ suât thu nhập lớn hơn 7% thì quan hệ tài chính tín dụng sẽ được thiết lập Mặt khác do chuyên môn hoá nên trung gian tài chính có thể làm giảm chi phí giao dich Từ 2% giảm xuống còn 1%, chi phí rủi ro từ 2% xuống 1% Trung gian tài chính có thể trả cho người có tiền tiết kiệm 3,5% với cam kết không có rủi ro ( Lớn hơn 3% thu nhập trước đó ) và đòi người sử dụng phải trả là 6,5% (nhỏ hơn trước đó 7% ) Chênh lệch là 6,5% - 3,5% = 3% đó chính là thu nhập của trung gian tài chính Như vậy trung gian tài chính đã làm tăng thu nhập cho người có tiền và làm giảm chi phí cho người cần tiền từ đó mà làm khuyến khich tiết kiệm và đầu tư Trung gian tài chính thực hiện công việc này băng cách là vay vốn của những người có tiền và cho vay những người thiếu vốn Trung gian tài chính đã tập hợp các người tiết kiệm và đầu tư lại vì vậy mà đã giải quyết

Hầu hết các lí thuyết hiện đại đều giải thích sự tồn tại của Ngân hàng thương mại bằng cách chỉ ra sự không hoàn hảo trong hệ thống tài chính Chẳng hạn các khoản tín dụng và chứng khoán không thể chia thành những khoản nhỏ mà mọi người có thể mua Ngân hàng thương mại cung cấp một dịch vụ có giá trị trong việc chia chứng khoán đó thành các chứng khoán nhỏ hơn (dưới dạng tiền gửi) phục vụ cho hàng triệu người

Ngày đăng: 30/03/2017, 22:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w