1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi thực hiện chính sách “Dồn điền đổi thửa” trên địa bàn xã Đông Hà huyện Đông hưng tỉnh Thái Bình

99 430 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để xác định những vấn đề nêu trên bản thân xin được nghiên cứu đề tài: " Đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi thực hiện chính sách “Dồn điền đổi thửa” trên đị

Trang 1

1 PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài:

Thực hiện Nghị Quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988, đã đưa nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước nhà và của cả tỉnh nói chung, xã Đông Hà huyện Đông hưng nói riêng có nhiều đổi thay Thực hiện Luật đất đai năm

1993 và Nghị Định 64/CP của Chính phủ về giao đất nông nghiệp, cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài, tạo cho người

sử dụng đất an tâm và có kế hoạch đầu tư, cải tạo làm nâng cao hiệu quả sử dụng đất Song bên cạnh đó với thói quen của người dân trong quá trình thực hiện việc giao nhận ruộng đất phải có tốt, xấu, trung bình dẫn đến tình trạng ruộng đất giao bị nhỏ lẻ, manh mún

Khái niệm đất nông nghiệp manh mún được hiểu:

Một là sự manh mún về ô thửa đối với một đơn vị sản xuất (thường là nông hộ), một hộ gia đình, cá nhân có nhiều thửa ruộng, trên nhiều xứ đồng

và diện tích trên một thửa nhỏ Hai là diện tích thẻ hiện trên một vùng sản xuất, diện tích còn nhỏ không tương thích với lực lượng sản xuất và các yếu

tố về phương tiện sản xuất khác Kiểu manh mún trên làm cho việc đầu tư, cải tạo và việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất gặp khó khăn làm cho công lao động bị tăng lên hơn nữa việc tình trạng ruộng đất manh mún còn làm khó khăn trong việc quản lý, quy hoạch và sử dụng đất đai

Trong quá trình sử dụng đất, Đảng và Nhà nước cũng như người sử dụng đất nhận thấy nhiều bất cập, hạn chế, nhất là việc áp dụng các biện pháp khoa học, kỹ thuật vào sản xuất Từ hạn chế trên Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 10/1998/ CT - TTg ngày 20 tháng 2 năm 1998 và Chỉ thị số 18/1999 /CT- TTg ngày 01 tháng 7 năm 1999, khuyến khích nông dân, Chính quyền địa phương các cấp xây dựng phương án chuyển đổi ruộng đất từ thửa nhỏ manh mún dồn thành những thửa lớn thuận tiện cho việc sản xuất nông nghiệp

Trang 2

Thực hiện Chỉ thị trên, Tỉnh Thái Bình đã có Nghị Quyết số 07-NQ/TU ngày

20 tháng 3 năm 2002 của ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Bình; Quyết định

số 18 của UBND tỉnh Thái Bình ngày 27 tháng 3 năm 2002; Hướng dẫn số 03/HD-LN ngày 17 tháng 4 năm 2002 của Sở Địa chính ( nay là Sở Tài nguyên - Môi trường) - Nông nghiệp; hướng dẫn số 07 ngày 07 tháng 5 năm

2002 của UBND huyện Đông hưng về thực hiện việc dồn điền đổi thửa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp Với mục tiêu phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Để xác định mục đích, yêu cầu của công tác "Dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp"Mang lại cho hộ gia đình cá nhân sử dụng đất lợi ích như thế nào? Cái gì được? và cái gì còn hạn chế? Về mặt phát triển kinh tế hộ gia đình, cá nhân nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội nói chung đã đáp ứng được như thế nào Để xác định những vấn đề nêu trên bản thân xin được nghiên cứu đề tài:

" Đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi thực hiện chính sách “Dồn điền đổi thửa” trên địa bàn xã Đông Hà huyện Đông hưng tỉnh Thái Bình "

Với mong muốn làm rõ hơn cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn của công tác dồn điền đổi thửa, từ thửa ruộng nhỏ thành thửa ruộng lớn, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

1.2 Mục đích của đề tài:

1.2.1 Tìm hiểu thực trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Đông

Hà, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

1.2.2 Đánh giá ảnh hưởng của chính sách “Dồn điền đổi thửa” đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân và công tác quản lý

Trang 3

Nhà nước đối với đất nông nghiệp trên địa bàn xã Đông Hà- huyện Đông hưng tỉnh Thái Bình.

1.2.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu, góp phần thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Trang 4

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về Chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh lịch sử phát triển và những thay đổi gần đây.

2.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1981

Lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc và lịch sử phát triển kinh tế của Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề sử dụng đất đai những mâu thuẫn trong chính sách đất đai ( vấn đề tiếp cận đất đai, sở hữu và sử dụng đất đai) đã diễn ra trong suốt thời kỳ là thuộc địa của thực dân pháp; thời kỳ chiến tranh chống Mỹ và các chính sách của Chính phủ từ sau ngày thống nhất đất nước năm 1975

Trước ngày khai sinh nước Việt Nam độc lập (năm 1945), đất nông nghiệp được chia thành 2 loại chính: Đất sở hữu cộng đồng và đất tư hữu Khu vực nông thôn được chia thành hai tầng lớp dựa trên tính chất sở hữu của đất đai đó là địa chủ và tá điền Tầng lớp địa chủ chiếm khoảng 2% tổng dân nhưng chiếm hữu khoảng 50% tổng diện tích đất, trong khi đó 59% hộ nông dân là tá điền không có đất và di làm thuế cho tầng lớp địa chủ Sau năm1945, Chính phủ đã thực hiện chính sách phân chia lại ruộng đất giảm bớt thuế cho nông dân nghèo và tá điền Kết thúc chiến tranh với thực dân pháp( năm 1954) miền Bắc thực hiện chính sách cải cách ruộng đất,mục đích là công hữu hoa ruộng đất của địa chủ người Việt và người Pháp tiến hành chia lại ruộng đất cho hộ nông dân chưa có hoặc có ít ruộng đất với khẩu hiệu "người cày có ruộng" Giai đoạn tiếp theo của chính sách cải cách ruộng đất đó là miền Bắc chuyển sang giai đoạn sở hữu tập thể đất nông nghiệp dưới hình thức hợp tác

xã từng khâu (bậc thấp) và hợp tác xã toàn phần (bậc cao)

Đến năm 1960, khoản 86% hộ nông dân và 68% tổng diện tích đất nông nghiệp đã vào hợp tác xã bậc thấp Trong hợp tác xã này người nông dân vẫn

Trang 5

góp chung đất đai và tư liệu sản xuất khác như ( trâu, bò, gia súc và các công

cụ sản xuất khác) vào hợp tác xã với sự quản lý chung Từ năm 1961 đến năm

1975, có khoảng 20.000 hợp tác xã bậc cao đã ra đời với sự tham gia của hơn 80% hộ nông dân

Miền nam, chính phủ của chính quyền sài gòn cũ thực hiện chương trình cải cách điền địa dưới một hình thức khác, thông qua một hình thức quản lý thuê đất; quy định về mức hạn điền ( năm 1956) và chương trình phân chia lại đất đai ( năm 1970) kết quả là khoảng 1.3 triệu ha đất nông nghiệp được phân chia lại cho hơn một triệu hộ nông dân vào năm 1970 và quá trình này được biết đến với khẩu hiệu "ruộng đất về tay người cày" và hoàn thành vào cuối năm 1974 sau hi thống nhất đất nước năm 1975, chính phủ Việt nam tiếp tục phát triển xã hơn nữa theo hướng tập thể hóa

Sau năm 1975 ở miền Bắc, các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp mở rộng quy mô từ HTX toàn nông thôn đến HTX toàn xã ở miền nam, nông dân vẫn được phép hoạt động dưới hình thức thị trường tự do đến tận năm 1977 đến năm 1978 sau đó cũng từng bước đi theo hướng tập thể hóa Kết quả thực hiện mô hình kinh tế tập thể khác nhau ở các vùng, cụ thể ở vùng đồng bằng sông Cửu long, chỉ có khoảng 6% số hộ nông dân tham gia HTX nông nghiệp Khác với miền Bắc, ở miền Nam hộ nông dân vẫn là đơn vị sản xuất

cơ bản mặc dù họ tham gia HTX nông nghiệp Họ sử dụng chung lao động và các nguồn lực sản xuất nhưng họ tự quyết định trong vấn đề sử dụng các đầu vào sản xuất và áp dụng công nghệ Sau năm 1975, nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh để lại và những hậu quả từ những chính sách trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung và thời kỳ kinh tế trong nông nghiệp Trong thời kỳ sở hữu tập thể trong nông nghiệp, sản xuất giảm do người nông dân thiếu động cơ làm việc, sản lượng nông nghiệp tăng hàng năm ở mức rất thấp

Trang 6

2%Cùng thời điểm này dân số tăng rất nhanh (2,2 - 2,35%/năm) đã dẫn đến việc phải nhập khẩu bình quân hơn một triệu tấn lương thực mỗi năm trong suốt thời kỳ sau chiến tranh Điều đó đã dẫn đến một bộ phận lớn dân số sống trong tình trạng nghèo và đói.

2.1.2 Giai đoạn từ năm 1981 đến năm 1988

Sự thay đổi cơ chế quản lý và sử dụng đất trong lĩnh vực nông nghiệp bắt đầu bằng chỉ thị 100 của ban Bí thư Trung ương Đảng hay còn gọi là Khoán

100 Dưới chính sách khoán 100, các HTX giao đất nông nghiệp đến hộ nông dân và người lao động Những người này có trách nhiệm trong ba khâu của quá trình sản xuất Sản xuất vẫn dưới sự quản lý của HTX, cuối vụ hộ nông dân được trả thu nhập bằng thóc dựa trên sản lượng sản xuất ra và ngày công đóng góp trong 3 khâu của quá trình sản xuất Đất đai vẫn thuộc sở hữu của nhà nước và dưới sự quản lý của HTX Mặc dù còn đơn giản nhưng khoán

100 đã trở thành bước đột phá trong quá trình hướng tới nền kinh tế thị trường Sự ra đời của khoán 100 đã có những ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với sản xuất lúa gạo, tăng 6.3%/ năm Đầu năm

1988, sản xuất lương thực không đáp ứng được yêu cầu nên đã dẫn đến tình trạng một loạt các mâu thuẫn cũng gia tăng trong khu vực nông thôn, đặc biệt

là mối quan hệ đất đai bởi sự "cào bằng" về phân chia và điều chỉnh đất đai Điều này hiển nhiên dặt ra yêu cầu một cuộc cải cách mới trong chính sách đất đai Để giải quyết các vấn đề trên, chính sách đổi mới trong nông nghiệp

đã được thực hiện theo tinh thần của nghị Quyết 10 của Bộ chính Trị vào tháng 4 năm 1988 Với sự ra đời của nghị quyết 10 thường được biết đến với tên khoán 10, người nông dân được giao đất nông nghiệp sử dụng từ 10- 15 năm và lần đầu tiên hộ nông dân được thừa nhận như một đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp Bắt đầu từ thời kỳ này, các tư liệu sản xuất ( máy móc, trâu, bò, gia súc và công cụ khác) được sở hữu dưới hình thức cá thể

Trang 7

Một khía cách khác của chính sách này đó là người nông dân ở miền Nam được giao lại đất họ đã sở hữu trước năm 1975

Tuy nhiên cùng với khoán 10 chưa có luật tương ứng dẫn đến một số quyền

sử dụng đất như chuyển nhượng, cho thuê hoặc thừa kế chưa được luật pháp hóa và thừa nhận Một loạt các vấn đề khác nẩy sinh liên quan đến sản xuất chẳng hạn như trạm điện, hệ thống giao thông nông thôn, thị trường,… mà trước đây thuộc trách nhiệm quản lý của các HTX nông nghiệp để giải quyết các vấn đề này luật đất đai năm 1993 đã ra đời

2.1.3 Sự phát triển của quản lý ruộng đất sau thời kỳ đổi mới

Trong suốt thời kỳ đổi mới, một loạt các chính sách và văn bản luật trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt liên quan đến vấn đề sử dụng đất đai đã ra đời Những chính sách quan trọng nhất là luật đất đai năm 1993, sau

đó là luật đất đai sửu đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2001; Luật đất đai mới năm 2003; nghị định 64/NĐ-CP năm 1993 và nghị định 02/NĐ-CP năm 1994

về quy định trong phân bố đất rừng và đất nông nghiệp Bên cạnh đó cũng có hàng loạt các chính sách liên quan trực tiếp hoặc hỗ trợ gián tiếp đến vấn đề

về đất đai Theo luật đất đai 1993, hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài với 5 quyền: quyền chuyển nhượng, quyền chuyển đổi, quyền cho thuê, quyền thừa kế và quyền thế chấp Người có nhu cầu sử dụng được giao đất trong thời hạn 20 năm đối với cây hàng năm, 50 năm đối với cây lâu năm Việc giao đất sẽ được tiến hành lại tại thời điểm cuối chu kỳ giao đất nếu như người sử dụng đất vẫn có nhu cầu sử dụng Luật đất đai cũng quy định mức hạn điền đối với hộ nông dân, cụ thể đối với cây hàng năm là: 2ha ở miền Bắc và các tỉnh miền Trung; 3 ha đối với các tỉnh phía Nam; đối với cây lâu năm quy định tối đa là 10 ha đối với các xã vùng đồng bằng và 30

ha đối với vùng trung du và miền núi.Cùng với việc giao đất cho các hộ nông dân thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng được cơ quan chức năng

Trang 8

xem xét và cấp cho các nông hộ Đến năm 1998 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho 70% hộ nông dân, cuối năm 2000 con số này là 90% Đối với đất rừng ở khu vực trung du và miền núi nơi có rất nhiều phong tục tập quán thì việc giao đất phức tạp hơn, quá trình cấp giấy chứng nhận diễn ra chậm hơn và vẫn đang được tiếp tục Vào năm 1998, người nông dân được giao thêm hai quyền sử dụng nữa đó là quyền cho thuê lại và quyền được góp vốn đầu tư kinh doanh bằng quyền sử dụng đất.

Năm 2001 những sửa đổi bổ sung Luật đất đai năm 1993 cho phép người

sử dụng đất được tặng cho đất đai cho họ hàng, bạn bè… của họ và được đền

bù nếu bị thu hồi đất Sự bổ sung này cũng đưa ra hàng loạt các thay đổi liên quan đến đất đai và thủ tục đăng ký đất đai Luật đất đai mới ra đời thay thế cho luật đất đai năm 1993 và các sửa đổi bổ sung của luật đất đai được ban hành vào tháng 12 năm 2003 có hiệu lực tháng 7 năm 2004 Đối với đất nông nghiệp không thay đổi thời hạn sử dụng và diện tích hạn điền so với luật đất đai năm 1993; tuy nhiên lần đầu tiên đất đai được xem như là "hàng hóa đặc biệt" có giá trị, chính vì thế có thể chuyển nhượng Luật đất đai mới vẫn khẳng định "đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý" và cũng cần có sự khuyến khích với thị trường bất động sản bao gồm các quyền

sử dụng đối với khu vực thành thị Cá nhân, người nông dân và các tổ chức kinh tế được quyền tham gia vào thị trường này Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt nam từ nam 1981 đến nay đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn Tổng sản lượng nông nghiệp tăng 6,7%/ năm trong suốt giai đoạn 1994- 1999 và khoảng 4,6% giai đoạn 2000- 2003 An ninh lương thực quốc gia không còn

là vấn đề nghiêm trọng nữa và nghèo đói đang từng bước được đẩy lùi

2.1.4 Quyền sử dụng đất đai ở Việt Nam từ Luật đất đai năm 1993 đến năm 2003

Trang 9

Các chính sách đất đai liên quan đến việc giao đất và các quyền của người

sử dụng đất cho phép sự phát triển của thị trường đất đai Điều đó đã mang lại hiệu quả trong việc phân bổ nguồn lực trong điều kiện hiện nay Theo luật pháp của nhà nước Việt Nam, đất đai là tài sản của toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý với tư cách là người đại diện Luật đất đai mới năm 2003 thừa nhận răng chính phủ là "đại diện cho sở hữu toàn dân" Chính vì đất đai thuộc

sở hữu toàn dân nên không thể chuyển quyền sở hữu cho từng cá nhân (hay tổ chức) mặc dù cá nhân hay tổ chức đó (có thể là người nước ngoài - Việt kiều)

có thể sở hữu hoặc chuyển nhượng tài sản trên đất, ví dụ như nhà cửa được xây dựng trên thửa đất đó Các cá nhân (trừ người nước ngoài), hộ nông dân

và các tổ chức có thể sử dụng hoặc chuyển quyền sử dụng đất Những chính sách đổi mới trong quản lý đất đai vào năm 1993 với mục đích giúp người nông dân có được sự đảm bảo trong việc sử dụng đất thông qua việc giao đất nông nghiệp sử dụng ổn định, lâu dài và cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên thời hạn giao đất vẫn còn ngắn và cũng chưa được thay đổi trong luật đất đai mới năm 2003 Điều này còn làm cho người dân vẫn chưa an tâm đầu tư dài hạn trong nông nghiệp Thêm vào đó tính linh hoạt trong sử dụng đất vẫn bị ràng buộc, cá biệt là sự chuyển đổi sang các loại cây trồng khác trên diện tích đất lúa truyền thống Bằng việc tăng tính đảm bảo chắc chắn cho người sử dụng đất; tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận với các nguồn tín dụng thông qua việc cho phép họ có quyền thế chấp quyền

sử dụng đất và quyền sử dụng đất được xem như những mặt hàng có thể đem

ra kinh doanh

2.2 Quan hệ đất đai trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam

Trang 10

Việc đổi mới phương thức điều tiết quan hệ đất đai từ nền kinh tế tự cung

tự cấp sang nền kinh tế thị trường, về thực chất là một quá trình giải phóng sức lao động và sức sử dụng đất đai

Nó gắn liền với quá trình chủ yếu sau:

- Quá trình hình thành thị trường về tư liệu sản xuất, vốn, sức lao động, bất động sản (trong đó có đất đai )và sản phẩm nông nghiệp

- Quá trình hình thành và phát triển của các chủ thể sản xuất- kinh doanh thuộc tất cả các thành phần kinh tế

Hai quá trình này tác động lẫn nhau làm cho quá trình sản xuất - kinh doanh vận động với tốc độ nhanh hơn và được sử dụng có hiệu quả cao hơn

Sự vận động của các quan hệ đất đai - tư liệu sản xuất đặc biệt trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường cũng không nằm ngoài quá trình chung đó.Đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn, từ mô hình HTX tập thể hóa triệt để đất đai và các tư liệu sản xuất khác trong sự điều hành quản lý tập trung - đến sự ra đời của khoán 100, khoán 10 và hội nghị ban chấp hành Trung ương lần thứ VI khẳng định hộ nông dan là đơn vị kinh tế tự chủ Xét

về bản chất đây là sự điều chỉnh một bước rất cơ bản quan hệ sở hữu trong nông nghiệp, trong đó có quan hệ đất đai và các tư liệu sản xuất khác Các hộ nông dân được quyền sở hữu các tư liệu sản xuất, còn đất đai được giao ổn định lâu dài Đây là một bước đột phá có tính chất quyết định làm hồi sinh kinh tế hộ nông dân và sự ra đời đa dạng của hình thức kinh tế hợp tác mới trong nông thôn, nông nghiệp Cùng với sự đổi mới trong chính sách quản lý

vĩ mô của nhà nước, sự đổi mới về quan hệ sở hữu trong nông nghiệp đã góp phần quan trọng vào phát triển nông nghiệp của nước ta trong những năm qua Tuy nhiên bước phát triển kinh tế tiếp theo của nền nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế thị trường đang đặt ra những yêu cầu mới, nảy sinh những mâu thuẫn trong quan hệ đất đai đó là:

Trang 11

- Sự đòi hỏi phân phối bình quân đất đai tạo nên sự manh mún về đất đai (nhất là đồng bằng Bắc Bộ nơi đất chật người đông) với việc phải tích tụ tập trung đất đai tới những quy mô sản xuất hợp lý cho sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế thị trường với mục tiêu hiện đại hóa nền nông nghiệp.

- Sức ép về dân số và lao động ở những vùng đất chật người đông) với việc phải tích tụ tập trung đất đai với quy mô hợp lý cho sản xuất hàng hóa nền nông nghiệp

- Sức ép về dân số và lao động ở những vùng đất chật người đông với sự phân công lao động ở trình độ thấp trong khi ngành nghề dịch vụ còn kém phát triển

- Năng lực vốn, năng lực sản xuất - kinh doanh của một bộ phận không nhỏ còn rất thấp, đặc biệt là trong một thời gian dài trong cơ chế tập trung, bao cấp Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất đai

Xét về xu thế phát triển của nền kinh tế quốc dân trong những năm tới đòi hỏi phải rút bớt lao động và dân số sống bằng nông nghiệp Như vậy quan hệ đất đai phải được nhìn nhận và giải quyết theo quan điểm phát triển

Để tạo cho quan hệ đất đai vận hành trong nền kinh tế thị trường thì trước tiên phải làm rõ mối quan hệ giữa Nhà nước và người nông dân về vấn đề đất đai, việc "người cày có ruộng" là một thành quả vĩ đại của Cách mạng Tuy nhiên quan hệ đất đai trong cơ chế cũ đã bộc lộ tính kém hiệu quả của nó, vấn

đề đặt ra là phải xác định một mối quan hệ cấu trúc mới của quan hệ đất đai

về thực chất là xác định rõ quyền năng của nhà nước và quyền của các hộ nông dân Do tính chất đặc biệt, quan hệ đất đai chứa đựng hai phương diện chủ yếu sau đây;

- Đất đai là lãnh thổ quốc gia, là tài nguyên không thể thay thế được của mỗi quốc gia, là không gian sinh tồn của cả dân tộc Đó là kết quả của quá trình chế ngự thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm của cả dân tộc từ thế hệ này

Trang 12

sang thế hệ khác Do đó cả nhà nước và mọi công dân phải có quyền và nghĩa

vụ bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai

- Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp, nó phải là kết quả đầu tư lao động sống, vốn, sức lao động cải tạo … của con người, trong nhiều trường hợp được truyền từ đời nay sang đời khác ngay trong một gia đình Vì tính chất đặc biệt đó ruộng đất là điều kiện tồn tại chủ yếu của kinh tế hộ nông dân Với tư cách là người lao động, họ phải là chủ thể của quyền sử dụng đất Quan hệ sở hữu đất đai được chế định bởi hai phương diện chủ yếu

đó, thể hiện mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước và nông dân Vai trò của nhà nước thể hiện không chỉ với tư cách là người quản lý tối cao đối với đất đai

mà còn là người quyết định những nội dung của quan hệ sở hữu đất đai với tính cách là chủ sở hữu tối cao (thay mặt toàn dân) đối với toàn bộ đất đai trong lãnh thổ của quốc gia Sự quyết định của nhà nước vào đất đai có thể với những mức độ khác nhau đối với những loại đất khác nhau Dưới sự quản

lý thống nhất của Nhà nước, mỗi thửa đất phải được xác định cụ thể về người

sử dụng nó Như vậy quan niệm đúng đắn về sở hữu về đất đai phải là một thể thống nhất giữa quyền năng tối cao của nhà nước và các quyền cụ thể của chủ

sử dụng đất, khi quyền lợi về đất đai được xác định rõ ràng và mang tính hiện thực, phù hợp với quy luật khách quan thì đó sẽ là cơ sở của một nền nông nghiệp hàng hóa phát triển trong cơ chế thị trường

- Với mục tiêu phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH - HĐH phải đổi mới quan hệ đất đai theo ba tiêu chí chủ yếu sau:

+ Đảm bảo quyền quản lý tối cao của Nhà nước và lợi ích Quốc gia đối với mọi loại đất đai và mọi sự vận động của quan hệ đất đai;

+ Xác định quyền làm chủ thực sự của các hộ nông dân trong sử dụng đất ( bao gồm cả quyền sử dụng ổn định lâu dai, quyền chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp …)

Trang 13

+ Đưa quan hệ đất đai vào quan hệ thị trường có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước để từng bước hình thành thị trường bất động sản.

Sự chuyển đổi quy mô, cơ cấu ruộng đất ở nông thôn hiện nay là bước khởi đầu quan trọng, làm tiền đề cho quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn thông qua sự chuyển đổi ruộng đất tạo ra các ô thửa có quy mô diện tích đủ lớn, song song với việc quy hoạch lại đồng ruộng, hoàn thiện hồ

sơ địa chính, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sử dụng ổn định lâu dài cho hộ nông dân sẽ tạo ra hành lang pháp lý đủ mạnh cho quan hệ đất đai vận động trong cơ chế thị trường, đảm bảo cho nhà nước quản lý được sự vận động này.Việc chuyển đổi quy mô ô thửa cũng tạo ra điều kiện thuận lợi cho quy trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong nông thôn gắn với chuyển đổi cơ cấu kinh tế

Nền nông nghiệp phát triển gắn với quá trình CNH càng đẩy mạnh thì tất yếu sẽ xuất hiện nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo xu thế từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, hoặc từ đất trồng lúa sang đất trông cây công nghiệp, chăn nuôi, nuôi thủy sản… Nếu không thừa nhận quá trình

đó, một mặt sẽ làm cho quá trình này tuột khỏi sự quản lý của Nhà nước đi theo hướng kênh ngầm Mặt khác sẽ ngăn cản sự vận động của quan hệ đất đai theo hướng sử dụng hợp lý hơn, có hiệu quả hơn Việc chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng là điều kiện tiền đề quan trọng trong quan hệ đất đai vận đọng theo quy luật kinh tế khách quan Đất đai được tích tụ tập trung một cách hợp lý vào những người chủ có năng lực sản xuất - kinh doanh thực sự có hiệu quả, đồng thời quá trình này sẽ là một trong những động lực thúc đẩy sự phân công lại lao động ở nông thôn theo hướng "ai giỏi nghề gì làm nghề đấy" từng bước rút bớt lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp, dịch vụ Tuy nhiên nhà nước từng bước có biện pháp hỗ trợ tài chính cho các địa phương để quy hoạch lại đồng ruộng, chuyển đổi cơ cấu sản xuất

Trang 14

khuyến khích nông dân chuyển đổi ruộng đất cho nhau để khắc phục tình trạng manh mún.

2.3 Những kinh nghiệm về tập trung ruộng đất ở một số nước.

Tình trạng manh mún ruộng đất xảy ra ở nhiều nơi và nhiều nước trên thế giới tại các thời kỳ khác nhau của lịch sử phát triển Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng manh mún cũng rất đa dạng, như: Đặc điểm phân bố địa lý, sức ép gia tăng dân số, tính chất của nền nông nghiệp còn kém phát triển, đặc điểm tâm lý của cộng đồng dân cư nông thôn, hệ quả của một hay nhiều chính sách ruộng đất, hoặc sự quản lý lỏng lẻo kém hiệu quả trong công tác quản lý đất đai, … muốn giải quyết triệt để tình trạng này đòi hỏi phải có những hiểu biết cụ thể về nguyên nhân của vấn đề này

Tích tụ và tập trung ruộng đất là một yêu cầu đặt ra trong quá trình HĐH nông nghiệp, nông thôn của các nước Tập trung ruộng đất tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất thâm canh tăng năng suất lao động, tăng khối lượng và tỷ suất nông sản hàng hóa, giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Vì vậy việc tích tụ ruộng đất trong quá trình CNH hầu như đã trở thành quy luật , diễn ra ở nhiều nước Tuy nhiên chủ trương, biện pháp và mức độ tích tụ ruộng đất ở mỗi quốc gia không hoàn toàn giống nhau

CNH-2.3.1 Tích tụ ruộng đất ở một số nước châu á

Các nước châu á bình quân ruộng đất ít, quy mô trang trại nhỏ nên việc tích tụ ruộng đất không thể dễ dàng như ở các nước âu mỹ, ngay ở Nhật bản

là một nước có trình độ công nghiệp hóa cao trong lĩnh vực nông nghiệp cũng

có tình trạng như vậy

a/ Ở Trung Quốc, nhà nước Trung Quốc đã tiến hành cải cách nông

nghiệp và nông thôn từ năm 1978 Quá trình cải cách được chia thành 2 giai

Trang 15

đoạn, giai đoạn 1 từ năm 1978 đến 1984, giai đoạn 2 từ năm 1985 đến 1990 và sau đó có đề ra phương hướng phát triển nông nghiệp và nông thôn cho thập kỷ 90.

Văn kiện số 01 năm 1984 quy định “ Kéo dài thời hạn khoán ruộng đất

để khuyến khích nông dân đầu tư, bồi bổ sức đất, thực hiện thâm canh” Chủ trương này nhằm kiện toàn chế độ khoán sản phẩm đến hộ nông dân, khắc phục tình trạng nông dân "bóc ngắn cắn dài”, sản xuất có tính chất lạm dụng

độ màu mỡ của đất đai Thời hạn khoán ruộng đất từ 15 năm trở lên, đối với loại kinh doanh chu kỳ sản xuất dài có tính chất khai hoang như vườn, rừng, đồi hoang,… thì thời hạn khoán cần phải dài hơn Trước khi kéo dài thời hạn khoán, nếu quần chúng có yêu cầu điều chỉnh ruộng đất thì có thể dựa vào nguyên tắc “đại ổn định, tiểu điều chỉnh” ( nghĩa là, về cơ bản phải ổn định nhưng có thể điều chỉnh một phần nhỏ ruộng đất khoán chưa hợp lý) thông qua thương lượng một cách đầy đủ sau đó tập thể thống nhất điều chỉnh Ngoài ra Văn kiện này còn cho phép hộ nông dân có quyền nhượng ruộng khoán, cụ thể là “khuyến khích từng bước tập trung ruộng đất vào tay những người làm ruộng giỏi”

Chỉ thị số 18 năm 1990 của Trung Quốc quy định “ổn định quan hệ ruộng đất nhận khoán không có nghĩa là không cho phép có sự điều chỉnh về mảnh ruộng và số lượng ruộng khoán, những thửa ruộng quá phân tán, không thuận tiện cho việc canh tác thì có thể căn cứ vào nguyện vọng của quần chúng mà tiến hành điều chỉnh theo nguyên tắc số lượng và giá trị ngang bằng” Trong quá trình thực hiện khoán ruộng đất cho các hộ nông dân, một

số địa phương đã thực hiện việc khoán đất tốt kèm đất xấu, cho nên ruộng đất nhận khoán phân tán, manh mún không thuận tiện cho nông dân canh tác Những năm gần đây một số địa phương đã căn cứ nguyện vọng của quần chúng, tiến hành nhận ruộng đất và điều chỉnh Kết quả đã diễn ra tốt, nhưng cần phải giữ vững hai nguyên tắc:

Trang 16

Một là, tôn trọng nguyện vọng của quần chúng, không được áp đặt

Hai là, phải đảm bảo theo nguyên tắc số lượng và giá trị ngang bằng

Như vậy từ những năm 1978 Trung Quốc đã tiến hành cải cách nông nghiệp, thực hiện hình thức khoán sản lượng đến hộ nông dân mà thực chất là khoán ruộng đất hoàn thành công cuộc thiết kế lại đồng ruộng thông qua chuyển đổi ruộng đất

Tỉnh Sơn Đông của Trung Quốc cũng đã thực hiện chương trình dồn điền đổi thửa từ năm 1988, quy định quy mô tối đa là 4 thửa/hộ, giúp giảm từ 7,6 thửa/hộ xuống còn 3,4 thửa/hộ Khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tăng từ 7 đến 15 % so với trước dồn điền đổi thửa Tuy nhiên, đến năm

1998, đa số nông dân chống đối phong trào này vì dồn điền đổi thửa không phù hợp với điều kiện và chiến lược phát triển sản xuất của nông hộ Qua kinh nghiệm này cho thấy dồn điền đổi thửa cần dựa trên sự tự nguyện của nông dân và áp dụng một cách linh hoạt đối với từng địa bàn, khu vực khác nhau sao cho phù hợp

Không chỉ Trung Quốc, nhiều nước khác cũng nóng vội muốn can thiệp hành chính một lần để giảm chi phí giao dịch vì họ cho rằng nếu để hộ nông dân tự làm thông qua thị trường điều chỉnh thì chi phí sẽ rất cao và mất nhiều thời gian Tuy nhiên, việc can thiệp hành chính này không đảm bảo được rằng ruộng đất sẽ không bị chia nhỏ lại sau dồn điền đổi thửa (bán một lần, chia thừa kế cho con cái, …) Hơn nữa các biện pháp can thiệp hành chính thường phải tiến hành song song với việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thông, nhưng Chính Phủ lại thường thiếu vốn để đầu tư cho việc này

b/ Ở Nhật Bản, xuất phát điểm từ chính sách trước những năm 1960

mỗi hộ nông dân Nhật có nhiều thửa ruộng phân tán, xa nhau quy mô mỗi thửa chỉ từ 500 m2 đến 1000 m2

Trang 17

Vào thời kỳ này, sản xuất nông nghiệp chủ yếu sử dụng lao động thủ công và sức kéo gia sức Đã xuất hiện sự chênh lệch lớn về thu nhập giữa lao động nông nghiệp và lao động của các ngành khác Để chấn hưng nông nghiệp, năm 1961 Chính phủ Nhật Bản đã ban hành Luật cơ bản về nông nghiệp Một trong ba mục tiêu chính của Luật cơ bản nông nghiệp là đưa nông nghiệp từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn Để thực hiện mục tiêu này Bộ nông nghiệp đề ra

“Sự nghiệp xây dựng ruộng đất với ba mục tiêu: rộng, chắc chắn, sâu”

- Rộng: nâng kích thước thửa ruộng lên 0,3 ha

- Chắc chắn: cải tạo nền đất yếu, nhiều bùn, hay mún trên cơ sở kiến thiết xây dựng thoát nước cho từng thửa ruộng và toàn khu vực để có thể sử dụng máy móc thuận lợi

- Sâu: cải tạo tầng canh tác ruộng đất đảm bảo độ dày khoảng 1m (theo các chuyên gia Nhật Bản thì Nhật Bản học tập kinh nghiệm chuyển đổi xử lý đất của Cộng hoà Liên Bang Đức)

Để đáp ứng nhu cầu trên phải làm hai việc:

- Về mặt hành chính: đó là xử lý chuyển đổi đất từ các thửa nhỏ ở xa nhau thành các thửa có kích thước lớn

- Về mặt kỹ thuật: gắn liền với việc xử lý kích thước thửa ruộng là việc xây dựng hệ thống tưới tiêu và san ủi mặt bằng Việc chuyển đổi đất là công việc rất phức tạp vì đất đai thuộc sở hữu tư nhân và việc chuyển đổi phải tiến hành đồng thời với một số biện pháp, công việc khác mới phát huy có hiệu quả Trước khi chuyển đổi phải xây dựng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cho mục đất phi nông nghiệp với yêu cầu ít nhất 8 năm kể từ khi xử lý, không được thay đổi mục đích Việc quy hoạch đất nông nghiệp và mục đích phi nông nghiệp cũng nhằm mục đích kêu gọi đầu tư tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, giảm việc nông dân di cư vào thành phố Giới hạn tối đa cho diện tích này là 30% diện tích toàn khu nông nghiệp

Trang 18

Việc chuyển đổi đất dựa trên nguyên tắc tương ứng về diện tích và giá trị với ba điều kiện:

1) Đất phi nông nghiệp xen kẽ được chuyển đổi ra khu đất quy hoạch cho mục đích phi nông nghiệp

2) Đất được chuyển đổi tương ứng với đất có sẵn về diện tích, vị trí và giá trị trong đó giá trị là yếu tố chính

3) Yêu cầu của một thửa ruộng sau chuyển đổi tối thiểu là 3000m2, nhưng phải tiếp giáp với mương tiêu, mương tưới và đường giao thông

Sự nghiệp chuyển đổi là khó khăn phức tạp vì vậy có nơi làm dần từng bước, lúc đầu từ 500m2 lên 1000m2, sau vài năm lên 2000m2, vài năm sau lên 3000m2

Kết quả là khoảng 2 triệu ha trong 2,7 triệu ha đất trồng lúa nước đã được xử lý, chuyển đổi Số còn lại chủ yếu là đất trồng cỏ Trước chuyển đổi bình quân một hộ có 3,4 thửa ruộng, sau khi chuyển đổi còn 1,8 thửa Việc xử

lý chuyển đổi đất nông nghiệp đã làm tăng hiệu suất của máy nông nghiệp, tăng sức sản xuất của đất đai, làm tăng năng suất lao động của người nông dân, tạo điều kiện phát triển hàng hoá để nâng cao sức cạnh tranh của nông nghiệp Vì vậy, cùng những yêu cầu khác, việc chuyển đổi xử lý đất nông nghiệp đã góp phần quan trọng đưa năng suất lúa từ 3000 kg gạo/ha năm

1960, lên 6000 kg gạo/ha năm 1992 Hiện nay việc chuyển đổi xử lý ruộng đất được tiếp tục khuếch trương lên 1ha hoặc 2 ha, có thể lên tới 3 ha hoặc 6ha, tiến gần đến quy mô thửa ruộng

c/ Ở Đài Loan, sau năm 1949 dân số tăng đột ngột do sự di dân từ trong

lục địa ra Lúc đầu chính quyền Tưởng Giới Thạch thực hiện cải cách ruộng đất theo nguyên tắc phân phối đồng đều ruộng đất cho nông dân Ruộng đất

đã được trưng thu, tịch thu, mua lại của các địa chủ rồi bán chịu, bán trả dần cho nông dân, tạo điều kiện ra đời các trang trại gia đình quy mô nhỏ Năm

Trang 19

1953 ở Đài Loan đã có 679.000 trang trại với quy mô 1,29 ha Đến năm 1961

đã lên tới 823.256 trang trại với quy mô chỉ còn 1,08 ha Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn sau này đòi hỏi phải mở rộng quy mô của các trang trại gia đình nhằm ứng dụng các tiến bộ khoa học để giảm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm Nhưng do người Đài Loan coi ruộng đất là tiêu chí đánh giá vị trí của họ trong xã hội nên mặc dù có thị trường đất đai nhưng ruộng đất vẫn không được trao đổi để có thể tích tụ (có nhiều người tuy là chủ đất nhưng đã chuyển sang làm nghề phi nông nghiệp) Để giải quyết tình trạng này năm 1983 Đai Loan công bố Luật phát triển nông nghiệp trong đó có công nhận phương thức sản xuất uỷ thác của các hộ nông dân, có nghĩa là Nhà nước công nhận quyền chuyển quyền sử dụng đất cho các hộ khác nhưng chủ cũ vẩn được thừa nhận quyền sở hữu Ước tính đã có 75 % số trang trại áp dụng phương thức này để mở rộng quy mô ruộng đất để sản xuất Ngoài ra để mở rộng quy mô các trang trại, trong cùng thôn xóm còn tiến hành các hoạt động hợp tác như làm đất, mua bán chung một số vật tư, trang thiết bị máy móc nông nghiệp; nhưng lại không chấp nhận phương thức tập trung ruộng đất, lao động để sản xuất

Bảng 2.1 Tình hình tích tụ ruộng đất của các trang trại ở một số nước Châu á

Trang 20

2.3.2 Tích tụ ruộng đất ở một số nước Âu mỹ

Các nước Âu Mỹ bình quân ruộng đất trên đầu người khá cao, tốc độ đô thị hóa nhanh, nhu cầu lao động công nghiệp nhiều, chính quyền khuyến khích việc đẩy nhanh tốc độ tích tụ ruộng đất, mở rộng quy mô trang trại bằng các chế độ và chính sách cụ thể, khuyến khích sản xuất kinh doanh của các trang trại lớn Tuy nhiên để tránh tích tụ ruộng đất quá lớn trong tổng địa phương, một số nước như Pháp, Anh có biện pháp quản lý thông qua hội đồng quy hoạch đất đai của tỉnh, huyện, với hội đồng quản trị gồm những đại diện nông dân địa phương, những chuyên viên ruộng đất và hai ủy viên chính phủ Hội đồng này mua đất trên thị trường tạo ra quỹ đất dự trữ và bán lại công khai cho các hộ nông dân mua đất theo giá thị trường

kể từ sau cách mạng nông nghiệp lần thứ 2 cuối thể kỷ 19 đầu thế kỷ

20, một loạt các trang trại nhỏ, manh mún năng suất thấp đã bị loại bỏ thay thế vào đó là các trang trại quy mô vừa năng suất lao động cao Ví dụ ở Pháp năm 1950 có xấp xỉ 2,29 triệu nông hộ với quy đất 14ha/hộ, đến năm 1993 chỉ còn 0,8 triệu hộ với quy mô 35 ha/hộ

Bảng 2.2 Tình hình biến động về số lượng và quy mô trang trại nông nghiệp

ở một số nước Châu Âu

Số lượng, quy mô

(Nguồn: Nguyễn Điền, Nông nghiệp Châu Âu những kinh nghiệm phát triển)

Trang 21

Ở nước Mỹ năm 1950 với quy mô bình quân 86 ha/hộ đến năm 1992 chỉ còn 1,92 triệu hộ với quy mô 198 ha/hộ Tiến trình tích tụ ruộng đất và vốn nhanh chóng của các nông hộ ở các nước phát triển chủ yếu là nhờ thành tựu khoa học công nghệ phát triển trong quá trình cơ giới hoá nông nghiệp của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2.

Ngoài ra có một số nghiên cứu khác trong các nước phát triển về quá trình tập trung hay phân hoá quy mô nông hộ trong đó có quy mô ruộng đất Quy mô ruộng đất được thể hiện qua kinh tế quy mô trong nông nghiệp ở hai khía cạnh:

+ Sự phù hợp giữa quy mô các nguồn lực (đất đai, đàn gia súc, vốn, lao

động và công nghệ) và khả năng quản lý sử dụng các nguồn lực trong nông

hộ Theo khái niệm này, quy mô kinh tế được mở rộng nhằm hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh của nông sản Các chi phí có thể được giảm nhờ tăng quy

mô bao gồm: chi phí quản lý trang trại, chi phí áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chi phí tư vấn, đào tạo, …

+ Sự phù hợp giữa quy mô các mảnh thửa trong trồng trọt và các đàn gia súc trong chăn nuôi với khả năng đầu tư thâm canh và áp dụng hiệu quả khoa học tiến bộ kỹ thuật

Phương thức tăng quy mô ô thửa có thể hỗ trợ quá trình đầu tư, thâm canh, cơ giới hoá qua đó có thể làm tăng hiệu quả sản xuất/1đơn vị diện tích Nhưng nhiều ý kiến cho rằng quá trình tập trung thâm canh trên đây chỉ phát huy tác dụng khi sản xuất hàng hoá phát triển Nói cách khác quy mô của các

ô thửa, đàn gia súc, phụ thuộc vào quy mô sản xuất, trình độ sản xuất và khả năng đầu tư của nông hộ Trong trường hợp lao động dư thừa và sản xuất

có nhiều rủi ro, người nông dân nhỏ thường chọn giải pháp đầu tư vào lao động hơn là đầu tư vào các nguồn lực khác và vì thế họ ít quan tâm đến việc dồn điền đổi thửa Quy mô sản xuất phụ thuộc vào đặc điểm của các loại hình

Trang 22

nông hộ và khả năng áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất …Ví dụ như quy mô sản xuất có hiệu quả hiện nay ở Pháp là từ 50ha đến 100ha/nông hộ, nhưng ở Mỹ (do khả năng cơ giới hoá cao) quy mô ruộng đất nông hộ phải từ 200ha đến 300ha thì mới đạt hiệu quả cao nhất.

Tuy nhiên cũng cần nhấn mạnh rằng trong điều kiện sản xuất của các nông hộ nhỏ, sự manh mún không phải lúc nào cũng gây khó khăn Trên thực

tế ruộng đất manh mún cũng có những ưu điểm nhất định đối với sản xuất nhỏ như: cho phép đa dạng hoá cây trồng, giảm rủi ro trong sản xuất, khắc phục được dư thừa lao động và khắc phục được tính phi hiệu quả của thị trường lao động và thị trường đất đai

+ Vấn đề hạn điền ở một số nước dặt ra chủ yếu là trong thời kỳ cải

cách ruộng đất, quy định hạn mức ruộng đất ở những người có nhiều ruộng được dữ lại, vượt quá hạn mức nhà nước sẽ trưng mua để bán lại cho nông dân thiếu đất như ở Nhật Bản, Đài Loan… đến thời kỳ công nghiệp hóa phát triển thì vấn đề hạn điền thường không cần đặt ra Theo Macheal Lipton, 2002 nền công nghiệp của các nước đang phát triển ở châu á được đặc trưng bởi các yếu tố sau;

+ Tỷ lệ lao động nông nghiệp , nông thôn khá lớn và dư thừa

+ Nền nông nghiệp thâm canh sản xuất lương thực, đặc biệt là lúa nước chủ yếu dựa vào đầu tư lao động của nông hộ quy mô nhỏ

+ Sự tăng trưởng của khu vực nông nghiệp có tính chất quyết định đến tăng trưởng kinh tế nông thôn

Vì vậy để xoá đói giảm nghèo cần phải tạo thêm nhiều công việc làm cho lực lượng lao động ở nông thôn Thành quả của những cuộc cải cách ruộng đất thời gian qua đã tạo công việc làm và điều kiện cho các nông hộ phát triển kinh tế Cho nên việc tập trung ruộng đất, phát triển trang trại quy mô lớn không hợp lý thì có nguy cơ làm tăng thất nghiệp trong nông thôn

Trang 23

Kinh nghiệm chung của các nước là tích tụ ruộng đất phải đi đôi với giải quyết việc làm cho lực lượng nông dân cho thuê hoặc bán ruộng cho người khác Việc làm ở đây bao gồm các công việc ngay trong lĩnh vực nông nghiệp như; Làm thuê cho các trang trại lớn( có thể làm thuê cho chính người mình cho họ thuê đất hay bán ruộng ) Song chủ yếu vẫn là tạo ra các việc làm ngoài nông nghiệp (công nghiệp, dịch vụ nông thôn…) để chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông thôn

2.4 Chuyển đổi ruộng đất khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp

2.4.1 Những khái niệm về manh mún ruộng đất

Manh mún ruộng đất nghĩa là một hộ nông dân có nhiều thửa ruộng, là một đặc điểm quan trọng trong nông nghiệp của nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển ở Việt Nam manh mún ruộng đất rất phổ biến, đặc biệt ở miền Bắc theo con số thống kê ước tính toàn quốc có khoảng 75 triệu mảnh, trung bình một hộ nông dân có khoảng 7-8 mảnh Manh mún đất đai là một trong những rào cản của sự phát triển nông nghiệp nhất là sản xuất trồng trọt Cho nên rất nhiều nước đã và đang thực hiện chính sách khuyến khích tập trung đất đai ở Việt Nam cũng đang thực hiện chính sách này trong những năm gần đây, dưới quan điểm kinh tế, nếu manh mún đất đai làm cho lao động và các nguồn lực khác phải chi phí nhiều hơn thì việc giảm mức độ manh mún đất đai sẽ tạo điều kiện để các nguồn lực này được sử dụng ở các ngành nghề khác có hiệu quả hơn Như vậy, trên tổng thể nền kinh tế sẽ đạt được lợi ích khi ta giảm mức độ manh mún đất đai

2.4.2 Tình trạng manh mún ruộng đất ở Việt Nam

ở Việt Nam tình trạng manh mún ruộng đất diễn ra khá phổ biến, đặc biệt

là ở các tỉnh Trung du, miền núi Bắc Bộ Trên thực tế, khái niệm manh mún ruộng đất xuất hiện từ khi chia ruộng cho hộ nông dân theo tinh thần Nghị

Trang 24

định 64/ CP năm 1993 của Chính phủ Số liệu tổng hợp của Bộ tài nguyên và Môi trường cho thấy hiện nay cả nước có khoảng 75 triệu thửa đất, bình quân mỗi hộ có khoảng 0,25 - 0,5 ha đất nông nghiệp với con số bình quân 6,8 thửa đất/ hộ Khu vực có mức độ manh mún nhiều nhất là trung du miền núi phía Bắc, đồng bằng sông hồng và khu bốn cũ.

Khái niệm manh mún ruộng đất trong nông nghiệp được hiểu trên hai khía cạch:+ Sự manh mún về ô thửa đối với một đơn vị sản xuất (hộ nông dân) một hộ có nhiều thửa ruộng với kích thước mỗi thửa tương đối nhỏ

+ Sự manh mún thể hiện về quy mô đất đai trên một đơn vị sản xuất (hộ nông dân) quy mô diện tích quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu tố sản xuất khác

Hai kiểu manh mún này đều dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả sản xuất thấp, hạn chế khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học ký thuật, làm cản trở bước tiến của quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn

Bảng 2.3 Mức độ manh mún của các vùng ở Việt Nam

STT Vùng sinh thái

Tổng số thửa/ hộ(thửa)

Diện tích bình quân/ thửa

(m2)Trung

1 Trung du miền núi bắc bộ 10 - 20 50 150 - 300 100 -150

3 Duyên hải Bắc Trung bộ 7 - 10 30 300 - 500 200 - 300

4 Duyên hải Nam Trung bộ 5 - 10 30 300 - 1000 200 - 1000

7 Đồng bằng sông Cửu long 3 10 3000 -5000 5000 - 10000

Nguồn: Tổng cục địa chính năm 1997

Trang 25

Tại Tỉnh Thái Bình, việc giao đất nông nghiệp ổn định, lâu dài cho hộ nông dân đã được thực hiện từ năm 1993 theo nghị định 64/NĐ-CP của chính phủ, quyết định 652/QĐ-UB ngày 17/11/1993 của UBND tinh Thái Bình và quyết định số 948/2000/QĐ-UB này 25/9/2000 của UBND tỉnh Thái Bình về việc giao ruộng đất ổn định, lâu dài và cấp GCNQSDD cho hộ nông dân Do tiến độ giáo đất nông nghiệp ổn định, lâu dài cho các hộ nông dân của Thái Bình diễn ra khá nhanh, đến cuối năm 1993, đã cơ bản hoàn thành và điều chỉnh bổ sung năm 2000 Đất được giao phân tán tại nhiều xứ đồng khác nhau:

Số lượng thửa đất của mỗi hộ được giao còn quá lớn ( bình quân số thửa / hộ toàn tỉnh từ 10- 15 thửa: các xã vùng chuyên canh lúa bình quân 7- 8 thửa / hộ: nhiều vùng trồng màu bình quân trên 15 thửa / hộ: cá biệt có hộ được giao đến 25 thửa ruộng) Ngoài ra, quỹ đất công ích không tập trung, nhiều nơi chỉ

có trên sổ sách, còn trên thực địa nằm lẫn trong diện tích giao ổn định, lâu dài của một số hộ nông dân Nhưng xét về cả quy mô diện tích trung bình của một hộ và diện tích/ thửa đất so với cả nước thì ruộng đất của Tỉnh Thái Bình manh mún hơn nhiều

Nguyên nhân của tình trạng này là do cách tư duy lệch lạc về “ Công bằng

xã hội” mà thực chất là do ảnh hưởng của tư tưởng tiểu nông “ Bình quân chủ nghĩa” Do đó, ruộng đất được xé nhỏ và phân đều cho mỗi hộ có ruộng gần, ruộng xa; có tốt, có xấu và có thuận lợi, có khó khăn trong sản xuất…

Bốn nguyên nhân dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất

Nguyên nhân đầu tiên, quan trọng nhất dẫn đến tình trạng manh mún

ruộng đất là sự phức tạp của địa hình đất đai ở mỗi địa phương trong tỉnh Thái Bình Là hầu như mỗi xã đều có 3 loại đất :đất vàn và đất thấp

Nguyên nhân thứ 2 là chế độ thừa kế chia đều ruộng đất cho tất cả con

cái ở Việt Nam ruộng đất của cha mẹ thường được chia đều cho tất cả các

Trang 26

con sau khi ra ở riêng, vì thế tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu kỳ phát triển của nông hộ

Nguyên nhân thứ 3 là tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ Do quy

mô sản xuất nhỏ lẻ, các hộ nông dân ngại thay đổi, nhất là những thay đổi liên quan đến ruộng đất

Và nguyên nhân thứ tư đó là liên quan đến phương pháp chia ruộng

bình quân theo nguyên tắc “ Có tốt, có xấu “ khi thực hiện nghị định 64/ CP của chính phủ Việc chia nhỏ các thửa ruộng để có được sự công bằng giữa các hộ đã góp phần không nhỏ đến tình trạng manh mún ruộng đất ở Thái Bình Quan điểm muốn bảo vệ sự công bằng cho những người dân được chia ruộng và nhiều lý do sau đây khiến đa số các địa phương chia nhỏ ruộng cho nông dân, đó là:

+ Tất cả các hộ đều phải có ruộng gần- xa, tốt, xấu, cao, thấp: có như vậy mới thể hiện tính công bằng xã hội:

+ Độ phì tự nhiên của đất của các khu khác nhau phải chia đều cho các hộ.+ Do hiệu quả kinh tế của các loại sử dụng đất khác nhau nên phải chia đều đất cho các hộ

+ các chân đất thường không an toàn do các vấn đề như: úng, hạn, chua… do đó việc chia đều rủi ro cho các hộ là chỉ tiêu quan trọng trong khi chia ruộng

Năm hạn chế của tình trạng manh mún ruộng đất đối với sản xuất

nông nghiệp và quản lý đất đai Tình trạng manh mún ruộng đất đã gây không

ít khó khăn cho người nông dân và các nhà quản lý, chỉ đạo sản xuất Cho đến nay đã khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề dồn đổi ruộng đất từ nhiều thửa ruộng nhỏ thành thửa ruộng lớn Các nghiên cứu đều chỉ ra những tác động tiêu cực của sự manh mún ruộng đất Có thể khái quát những ảnh hưởng bất lợi như sau:

Trang 27

+ Quy mô ruộng đất gây nhiều khó khăn cho quá trình sản xuất, phát triển cơ giới hóa nông nghiệp, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, thực hành thâm canh và chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa.

+ Gây lãng phí diện tích đất canh tác do phải làm nhiều bờ ngăn, toàn Tỉnh Thái Bình tính trung bình phải mất từ 3-5% diện tích đất canh tác dùng

+ Tình trạng manh mún ruộng đất đã hạn chế việc thực hiện các quyền

sử dụng đất của hộ nông dân( chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp…) Vì vậy cũng cản trở quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất để thực hiện mục tiêu CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn

2.5 Tích tụ ruộng đất và chuyển đổi ruộng đất ở Việt nam

ở trung du - Miền núi không quá 30 ha

Hạn mức đất sản xuất nông nghiệp như trên là phù hợp với điều kiện quỹ đất và khả năng đầu tư sản xuất của các hộ nông dân ở nước ta hiện nay Tại khoản 2, điểm c điều 71 Luật đất đai năm 2003 đã nêu rõ: Đối với mỗi địa

Trang 28

phương mà ủy ban nhân dân đã hướng dẫn hộ gia đình, cá nhân thương lượng chuyển đổi đất cho nhau trong quá trình thực hiện các chính sách, pháp luật

về đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến nay đã sử dụng ổn định thì được tiếp tục sử dụng

Như vậy chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là thực hiện hạn điền theo nguyên tắc vừa sử dụng có hiệu quả, vừa không để nông dân bị cùng hóa do không có đất sản xuất, vừa thúc đẩy quá trình tích tụ ruộng đất theo tiến trình công nghiệp hóa nông nghiệp

Để giải quyết mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh giữa chính sách hạn điền và chủ trương thúc đẩy tích tụ ruộng đất trong quá trình công nghiệp hóa, trong báo cáo thứ nhất tại kỳ họp thứ X, Thủ tướng chính phủ Phan Văn khải đã nêu; " chính sách hạn điền cần được xem xét với điều kiện đất đai ở các vùng khác nhau, không cản trở bước tiến ban đầu sang nền nông nghiệp sản xuất lớn, đồng thời ngăn chặn việc cưỡng đoạt ruộng đất của nông dân nghèo bằng các thủ đoạn chèn ép Phát triển mạnh mẽ nền nông nghiệp hàng hóa và các ngành nghề khác ở nông thôn đề giúp hộ nông dân thiếu đất lập nghiệp mới hoặc có việc làm và thu nhập

2.5.2 Vấn đề dồn điền đổi thửa.

Với những khó khăn nêu trên, việc chuyển đổi ruộng đất để tạo ô thửa lớn là việc làm cần thiết tạo tiền đề thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, nhằm thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn

Ngay từ khi nhận ra những tác động tiêu cực của tình trạng manh mún ruộng đất đến sản xuất, Chính phủ đã ban hành một số văn bản, như: Chỉ thị

số 10/1998/CT - TTg ngày 20/02/1998 và Chỉ thị số 18/1999/CT - TTg ngày 01/07/1999 nhằm khuyến khích nông dân và chính quyền địa phương các cấp

Trang 29

chuyển đổi ruộng đất từ các ô thửa nhỏ thành các ô thửa lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất.

Đề giải quyết trước mắt tình trạng manh mún về số thửa và quy mô thửa ruộng, một số địa phương đã tổ chức cho nông dân dồn đổi ruộng đất theo nguyên tắc dân chủ Nông dân tự nguyện bàn bạc thống nhất phương án đổi ruộng và quy hoạch thuỷ lợi nội đồng Chính quyền các cấp tổ chức và làm trọng tài cho quá trình này Các tỉnh Hà Tây, Thanh Hoá là những tỉnh đi đầu trong công tác này Cho đến nay phong trào dồn điền đổi thửa đã và đang diễn ra mạnh mẽ trong cả nước (diễn ra mạnh nhất là ở các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng nơi có mức độ manh mún, phân tán ruộng đất cao nhất trong

cả nước Ở nhiều địa phương đã khắc phục được cơ bản tình trạng manh mún

và phân tán ruộng đất, bình quân số thửa/ hộ chỉ còn khoảng 2 - 5 thửa và cùng với đó là diện tích mỗi mảnh cũng tăng lên 2 đến 3 lần so với trước khi dồn điền đổi thửa

* Tại tỉnh Hà Tây:

Nhằm đẩy mạnh sản xuất trên cơ sở chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, ngày 12/02/1997 tỉnh uỷ Hà Tây đã ban hành Chỉ thị số 14 - CT/TU Tiếp theo đó, để đẩy mạnh phong tào chuyển đổi ruộng đất, ngày 10/04/1998 UBND tỉnh Hà Tây đã ra Chỉ thị số 11/1998/CT - UB về việc đẩy mạnh và hoàn thành chuyển đổi ruộng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp

Đến cuối năm 1997 có 254 xã phường đã và đang triển khai chuyển đổi ruộng đất Trong 12 huyện có 107 xã đã đổi giao xong ruộng đất cho 114.715

hộ nông dân, trong đó:

Hộ nhận từ 1 - 5 thửa có 84.889 hộ chiếm 74% tổng số hộ

Hộ nhận từ 6 - 8 thửa có 28.678 hộ chiếm 25% tổng số hộ

Hộ nhận trên 8 thửa chỉ có 1.148 hộ chiếm 1% tổng số hộ

Trang 30

Trước chuyển đổi số thửa của 107 xã là 1.884.842 thửa Sau chuyển đổi

số thửa của các xã chỉ còn 686.829 thửa giảm được 64% số thửa so với trước chuyển đổi, riêng huyện Phú Xuyên giảm được 75,4% số thửa

* Tại tỉnh Thanh Hoá

Năm 1997 toàn tỉnh có 21 xã thuộc 14 huyện, thị, thành phố được chỉ đạo làm điểm về chuyển đổi ruộng đất có kết quả Điển hình là tại huyện Thiệu Hoá chỉ đạo làm điểm tại 3 xã: Thiệu Hưng, Thiệu Tâm, Thiệu Đô Kết quả cho thấy, trước chuyển đổi tổng số thửa cảu 3 xã có 29.399 thửa, sau khi chuyển đổi chỉ còn 11.598 thửa, giảm 60,72% Đặc biệt là xã Thiệu Hưng đã giảm được 75% số thửa so với trước và đã có 75 hộ nhận cả ở một xứ đồng

* Tại tỉnh Hà Nam

Để khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún, phân tán gây khó khăn cho việc quản lý, sử dụng đất Ngày 04/05/2000 tỉnh uỷ Hà Nam đã ra Chỉ thị số 15 - CT/TU và ngay sau đó UBND tỉnh Hà Nam cũng ra kế hoạch số 08/KH - UB ngày 10/05/2000, nhằm vận động và hướng dẫn việc tổ chức thực hiện chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp khắc phục tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất Và đến năm 2003 tỉnh Hà Nam đã công bố hoàn thành việc chuyển đổi ruộng đất trong toàn tỉnh, kết quả đạt được là khá tốt: bình quân số thửa/hộ sau chuyển đổi là 3,89 thửa, so với trước chuyển đổi giảm 4,41 thửa; số hộ có

từ 5 thửa trở xuống chiếm 90,82%

Số hộ 1 thửa có 14.010 hộ chiếm 7,50% so với tổng số hộ chuyển đổi

Số hộ 2 thửa có 24.710 hộ chiếm 13,22% so với tổng số hộ chuyển đổi

Số hộ 3 thửa có 32.143 hộ chiếm 17,20% so với tổng số hộ chuyển đổi

Số hộ 4 thửa có 44.266 hộ chiếm 23,68% so với tổng số hộ chuyển đổi

Số hộ 4 thửa có 54.631 hộ chiếm 29,22% so với tổng số hộ chuyển đổi

Số hộ trên 5 thửa có 17.160 hộ chiếm 9,18% so với số tổng số hộ chuyển đổi

Trang 31

Ngày 27/3/2002 UBND tỉnh Thái Bình đã ra quyết định số

18/2002/QĐ-UB Ban hành đề án thực hiện dồn điền đổi thửa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp

Kết quả Trước đây bình quân mỗi hộ từ 8 đến 10 thửa, có hộ tới 15 thửa nay chỉ còn bình quân không quá 3 thửa trên hộ, nhiều hộ chỉ còn một thửa Hầu hết các xã kết hợp được việc dồn điền đổi thửa với việc quy hoạch vùng sản xuất tập trung để chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi; quy hoạch xây dựng thuỷ lợi, giao thông đồng ruộng và quy gọn đất 5% công ích thành vùng tập trung để phục vụ cho việc phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công trình công cộng sau này khi thực hiện dồn điền đổi thửa đã tạo được khí thế mới trong sản xuất, nông dân phấn khởi tin tưởng vào cấp uỷ Đảng, Chính quyền địa phương, tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, gắn bó hơn với đồng ruộng của mình và tình hình nông thôn ổn định

2.6 Cơ sở thực tiễn của việc đổi điền dồn thửa đất nông nghiệp

+ Việt Nam bắt đầu con đường đổi mới kinh tế của mình từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI Mục tiêu của chính sách đổi mới là chuyển nền kinh tế Việt Nam từ mô hình kế hoạch hóa, tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong lĩnh vực nông nghiệp Nghị quyết 10 của

bộ chính trị năm 1988 là bước ngoặt cơ bản Nội dung chính của chính sách này là công nhận hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, tự do hóa thị trường đầu vào và đầu ra của sản xuất cũng như các tư liệu sản xuất khác (ngoại trừ đất đai) và giao đất sử dụng ổn định, lâu dài cho người dân Chính

Trang 32

sách mới này đã dẫn đến xoá bỏ hợp tác hóa trong nông nghiệp Cũng theo chính sách này, nông dân được giao đất nông nghiệp trong 15 năm và ký hợp đồng sử dụng các đầu vào, sử dụng lao động và sản phẩm mà họ sản xuất ra Các chỉ tiêu trong hợp đồng được ổn định trong 5 năm Hơn nữa, hầu hết các

tư liệu sản xuất( máy móc, trâu bò và các công cụ khác) được coi là sở hữu tư nhân Từ đó, nông nghiệp Việt Nam bước vào một giai đoạn mới tương đối

ổn định Tuy nhiên, thời gian giao đất còn quá ngắn và một số quyền sử dụng đất khác chưa được luật pháp hóa Điều này đẫn đến nông dân có thể ít có động cơ đầu tư dài hạn trên đất Luật đất đai năm 1993 ra đời đã giải quyết được những vấn đề nêu trên Theo luật này nông dân được giao đất ổn định và lâu dài và được giao các quyền sử dụng đất như: Quyền chuyển nhượng, trao đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp,… nguyên tắc quan trọng nhất trong việc giao đất là duy trì sự công bằng Thông thường ở nhiều nơi trên miền bắc, đất đai được chia bình quân theo định suất (hoặc bình quân theo nhân khẩu) Những tiêu chuẩn khác cũng được xem xét khi giao đất là các chính sách xã hội, chất lượng đất, tình hình thủy lợi, khoảng cách đến thửa ruộng và khả năng luân canh cây trồng, đất cây hàng năm ở Việt Nam được chia làm 6 hạng Do đó, để duy trì nguyên tắc công bằng mỗi hộ thường được giao nhiều thửa với nhiều hạng đất khác nhau, ở các cánh đồng khác nhau với chất lượng đất khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo ra tình trạng manh mún đất đai ở Việt Nam Nguyên nhân của manh mún đất đai do trong quá trình giao đất nông nghiệp mang nặng tư tưởng lấy "công bằng xã hội" đã được nhiều cơ quan và các nhà nghiên cứu thảo luận và phân tích những năm gần đây Manh mún có nhiều mức độ khác nhau, ở một số vùng tình trạng manh mún có thể nghiêm trọng hơn ở những nơi hoặc vùng khác Theo số liệu của tổng cục địa chính năm 1998 Bình quân một hộ vùng đồng bằng sông hồng có khoảng 7 thửa trong khi ở vùng núi phía bắc con số này còn cao

Trang 33

hơn từ 10- 20 thửa Số liệu điều tra từ 42.167 nông hộ ở tỉnh Hưng Yên cho thấy sau khi giao đất năm 1993, trung bình một hộ có 7,6 thửa Vào năm

1998, Chính Phủ đã đề ra chính sách khuyến khích nông dân đổi ruộng cho nhau để tạo thành những thửa có diện tích lớn hơn Từ đó, các tỉnh trên miền bắc, đặc biệt là vùng đồng bằng sông hồng đã thành lập các hội đồng thực hiện thí điểm công tác dồn điền, đổi thửa Theo báo cáo trên toàn quốc khoảng 700 xã ở 20 tỉnh đã và đang thực hiện công tác chuyển đổi ruộng đất, tuy nhiên tiến trình vẫn còn rất chậm Trên thực tế ở những vùng này đất đai được chia lại cho các hộ nông dân với mục tiêu là giảm số thửa ruộng

2.7 Những lợi ích ý nghĩa của việc tích tụ đất trong công tác chuyển đổi đất nông nghiệp

2.8 Những bài học thành công và thất bại tạo tiền đề cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.

Trang 34

3 PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Phạm vi nghiên cứu

+ Đề tài được thực hiện trên địa bàn xã Đông Hà, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Để xem xét, tìm hiểu các vấn đề liên quan đến chuyển đổi ruộng đất phải xuất phát điểm từ khi thực hiện nghị định 64/ CP năm 1993 của Chính Phủ về việc giao đất nông nghiệp ổn định lâu dài cho hộ nông dân.+ Thực hiện nghị định 64/ CP năm 1993 của Chính phủ UBND tỉnh Thái Bình đã có quyết định số 652/QĐ-UB ngày 17/11/1993 về việc chỉ đạo thực hiện đồng bộ việc giao quyền sử dụng đất ổn định lâu dài cho hộ nông dân trên địa bàn toàn tỉnh Việc giao ruộng đất theo phương thức bình quân, đồng đều nhằm đảm bảo công bằng đã gây khó khăn cho công tác quản lý sử dụng đất, không phù hợp với sản xuất nông nghiệp hàng hóa và quá trình CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn

+ Trước tình hình đó, tỉnh ủy tỉnh Thái Bình có nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 23/3/1999 nhằm khuyến khích nông dân và chính quyền địa phương các cấp “ đổi điền dồn thửa” từ thửa ruộng nhỏ thành thửa ruộng lớn

+ Phạm vi nghiên cứu vấn đề “ đổi điền dồn thửa” của đất sản xuất nông nghiệp trong nhóm đất nông nghiệp ở xã Đông Hà, huyện Đông Hưng, Tỉnh Thái Bình được tiến hành tại toàn thể các thôn trong xã

+ Nhưng do thời gian thực hiện đề tài có hạn, hơn nữa hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp sau đổi điền dồn thửa còn có nhiều yếu tố khác tác động như: yếu tố về giống, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, phân bón, cải tạo đất, thị trường… mà hiệu quả mang lại do công tác “ Đổi điền dồn thửa” đất nông nghiệp chỉ là một yếu tố làm tăng hiệu quả sử dụng đất Nên việc đánh giá tác động của Chính sách “ Đổi điền dồn thửa” đến hiệu quả kinh tế

sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân trên địa bàn xã chỉ mang tính chất

Trang 35

3.2 Nội dung nghiên cứu

+ Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu trước và sau khi thực hiện chính sách “ Đổi điền dồn thửa” nhằm đánh giá được sự ảnh hưởng của nó đến phát triển kinh tế nông

hộ trên địa bàn xã Việc nghiên cứu, đánh giá được tập trung vào hộ gia đình,

cá nhân đã được DĐDT và hiệu quả kinh tế mang lại sau khi được ĐĐDT + Vì vậy nội dung nghiên cứu được tập trung vào các vấn đề chính sau:

3.2.1 Điều tra, đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội trên

địa bàn xã Đông Hà huyện Đông Hưng sau khi thực hiện chính sách “ Đổi điền dồn thửa” đất sản xuất nông nghiệp trong nhóm đất nông nghiệp

3.2.2 Tìm hiểu chính sách của Đảng và nhà nước trong công tác đổi

điền dồn thửa, tích tụ ruộng đất để tạo nên các “ Thửa ruộng lớn” nhằm tạo điều kiện sản xuất tốt nhất cho người sử dụng đất phát huy hiệu quả đầu tư, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất

a Tìm hiểu thực trạng công tác đổi điền dồn thửa đất nông nghiệp và những biến đổi trong việc quản lý, sử dụng đất sau khi đổi điền dồn thửa đất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu bao gồm:

+ Thực trạng manh mún đất đai trước đổi điền dồn thửa đất nông nghiệp trên địa bàn xã Đông Hà huyện Đông Hưng Tỉnh Thái Bình

+ Các phương án đổi điền dồn thửa đất nông nghiệp trên địa bàn xã Đông

Hà huyện Đông Hưng Tỉnh Thái Bình

+ Quá trình tổ chức thực hiện đổi điền dồn thửa đất nông nghiệp trên địa bàn xã

+ Kết quả của việc thực hiện Chính sách “ Đổi điền dồn thửa” đất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu

b Đánh giá tác động của công tác đổi điền dồn thửa đến hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp của các hộ nông dân trên địa bàn nghiên cứu, bao gồm

Trang 36

+ Sự thay đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân.

+ Khả năng đầu tư cho sản xuất của hộ nông dân

+ Khả năng phát huy cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất

+ Khả năng tăng diện tích sử dụng đất nông nghiệp của các hộ nông dân sau khi tạo nên các thửa ruộng lớn

Việc đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp trước và sau khi thực hiện Chinh sách “ đổi điền dồn thửa” đất nông nghiệp của các hộ nông dân trên cơ sở các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế ( Như: tổng thu nhập, tổng chi phí, lợi nhuận, năng suất và sản lượng cây trồng, vật nuôi) của các loại hình

sử dụng đất đặc trưng trên địa bàn nghiên cứu

3.2.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu, góp phần thực hiện mục tiêu

công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn xã

3.3 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu thực hiện trong phạm vi xã Đông Hà, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Chọn điểm nghiên cứu.

Chọn điểm nghiên cứu là vấn đề hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng đến tính chính xác, khách quan và tính thực tiễn của kết quả nghiên cứu Việc chọn điểm nghiên cứu bao gồm chọn vùng, và chọn hộ nghiên cứu

a Chọn vùng nghiên cứu: theo kết quả nghiên cứu địa hình và vùng sinh

thái của một xã kết hợp với việc nghiên cứu tài liệu liên quan xã Đông Hà, Huyện Đông hưng được chia làm hai vùng rõ rệt ( khái niệm vùng cao và vùng trũng chỉ mang tính tương đối của vùng nghiên cứu):

Trang 37

* Vùng đông nam sông Sâu, sông Thống nhất: bao gồm các thôn: Nam Song; Bắc Song vùng này phù hợp với phát triển đa dạng các loại cây trồng, vật nuôi theo hướng hình thành các tiểu vùng chuyên canh như: Cây công nghiệp ngắn ngày, kết hợp chăn nuôi, vùng chuyên lúa

* Vùng tây bắc sông Sâu, sông Thống nhất: gồm các thôn: Tam Đồng, Đồng Tâm, Liên Hoàn, Minh Thành; địa hình của vùng này khá bằng phẳng Thuận lợi cho hình thành vùng chuyên canh, thâm canh lúa, cây thực phẩm và cây cói

Hai vùng sinh thái này có sự khác biệt tương đối rõ rệt về điều kiện đất đai, cơ cấu cây trồng, vật nuôi… do vậy để đảm bảo cho nhu cầu nghiên cứu, điểm được chọn để nghiên cứu phải bao gồm đại diện các vùng sinh thái kinh tế trong xã

3.4.2.Phương pháp thu thập thông tin

- Thu thập thông tin số liệu thứ cấp: Thông tin số liệu thứ cấp; đó là những thông tin số liệu có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến quá trình nghiên cứu của đề tài đã được công bố chính thức ở các cấp, ngành Thông tin

số liệu chủ yếu bao gồm: Các kết quả nghiên cứu có liên quan đã tiến hành trước đó, thông tin số liệu liên quan đến tình hình sử dụng đất nông nghiệp, các chính sách đầu tư khuyến khích phát triển sản xuất, kết quả sản xuất nông nghiệp và các thông tin số liệu khác

Trang 38

- Thu thập thông tin sơ cấp: Thông tin số liệu chưa được công bố chính thức trong từng nông hộ, nó phản ánh một cách toàn diện đời sống kinh tế văn hóa xã hội, đặc biệt là vấn đề sử dụng đất đai và các vấn đề khác có liên quan Thông tin số liệu sơ cấp được thu thập từ các nguồn chủ yếu sau:

+ Các hộ nông dân trong và ngoài vùng nghiên cứu

+ Các cá nhân có kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lĩnh vực sử dụng đất

+ Thị trường nông thôn từ các tổ chức dịch vụ và cung ứng vật tư sản phẩm có liên quan cùng các cá nhân và tổ chức khác

+ Để thu thập được thông tin số liệu sơ cấp: Đề tài sử dụng các phương pháp khác nhau trong quá trình thực hiện, cụ thể như:

+ Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA): Thông qua việc đi thực điạ để quan sát thực tế, phỏng vấn các cán bộ nông dân cơ sở tại địa

3.4.3 Phương pháp xử lý, tổng hợp thông tin, số liệu.

Các thông tin số liệu sơ cấp, thứ cấp đều được xử lý, phân tích,tổng hợp và tính toán bằng hệ thống phần mềm Microsoft Office

3.4.4 Phương pháp minh hoạ bằng bản đồ.

Sử dụng hệ thống phần mềm CAD để xây dung bản đồ hiện trạng sử dụng đất và sơ đồ mô hình đại diện của khu vực nghiên cứu

Trang 39

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

4.1.1.Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Xã Đông Hà có vị trí nằm phía Đông Nam của huyện Đông Hưng cách thị trấn Đông Hưng khoảng 8 km cách trung tâm thành phố Thái Bình khoảng

16 km Vị trí cụ thể như sau

- Phía Bắc giáp xã Đông La, xã Đông Xá

- Phía Đông giáp xã Đông Giang

- Phía Tây giáp xã Đông Các, xã Đông Động

- Phía nam giáp xã Đông Vinh

4.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Đông Hà có địa hình không bằng phẳng: vùng vàn cao thường chênh với mực nước biển từ 1 - 1,45 m Vùng trũng có cao độ 0,6 - 0,9 m

Với điều khả năng tưới tiêu hiện nay tuy đảm bảo nước tưới cho sản xuất theo mùa vụ song việc tiêu úng mùa mưa vẫn còn là vấn đề bất cập

4.1.1.3 Khí hậu, thủy văn

Khí hậu Đông Hà mang tính chất chung của khí hậu đồng bằng Bắc Bộ là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nền nhiệt cao được chia làm hai mùa chính: mùa

hạ khí hậu nóng ẩm chịu ảnh hưởng của gió tây khô nóng: mùa đông khô hanh có sương giá, sương muối, xen kẽ giữa hai mùa chính là khí hậu chuyển tiếp: Giữa mùa hạ sang mùa đông là mùa thu ngắn thường có bão, lụt: Giữa đông sang hạ là mùa xuân không rõ rệt, có mưa phùn

- Nhiệt độ: Tổng nhiệt độ cả năm từ: 8.5500c - 8.6500c Nhiệt độ không khí trung bình năm là 23 đến 240c Có 5 tháng nhiệt độ trung bình lớn hơn

Trang 40

270c cá biệt có thời điểm lên tới 41,1c Có 3 tháng nhiệt độ trung bình dưới 20c: Có những ngày có sương muối gió bắc, nhiệt độ xuống tới 4,10c

- Bức xạ nhiệt: Bức xạ tổng cộng hàng năm theo lý thuyết đạt tới: 225-

230 KCalo/cm Bức xạ tổng cộng thực tế đo được cả năm xấp xỉ 50% tổng lượng bức xạ lý thuyết

- Nắng: cả năm có 1650 - 1700 giờ nắng, tháng có số giờ nắng nhiều nhất

là tháng 7( 219giờ), ít nhất là tháng 2( 48giờ) Số ngày không có nắng trung bình năm là 83,2 ngày

- Mưa: Đông Hà nằm cận vùng ít mưa của tỉnh, lượng mưa trung bình năm từ 1.700- 1.800 mm, hàng năm khoảng 137 ngày có mưa Tháng mưa cao nhất là tháng 9 xấp xỉ 420 mm, thấp nhất là tháng 01 dưới 20 mm

Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 và kéo dài 6 tháng Lượng mưa chiếm tới 86-88% tổng lượng mưa trong năm

- Độ ẩm không khí: Độ ẩm tương đối trung bình năm là 80 - 85% Mùa đông, vào những ngày khô hanh độ ẩm xuống thấp tới 50% ( Thường xảy ra vào tháng 12) Cuối đông sang xuân vào những ngày mưa phùn độ ẩm lên tới 89% và có thời điểm hơi nước đạt bão hòa, sinh ẩm ướt ( Thường xảy ra vào tháng 02)

- Lượng bốc hơi chỉ số ẩm ướt: Trên địa bàn Đông Hà, lượng bốc hơi trung bình hàng năm khoảng 850 mm Chỉ số ẩm ướt K(K= lượng mưa/ lượng bốc hơi) trên địa bàn trung bình năm khoảng 2,2- 2,7: hàng năm thường có 4 tháng ( tháng 1,2,3,4) có K<1, vào thời kỳ này thường xảy ra hạn hán: Do vậy phải có kế hoạch tưới dưỡng cho cây trồng khi độ ẩm xuống thấp

- Gió: vận tốc gió trung bình trong năm 1,9 - 2.3 m/ giây, hướng gió thịnh hành là hướng bắc, đông bắc vào mùa đông và đông nam vào mùa hạ.Hàng năm có khoảng 30 ngày chịu ảnh hưởng của gió tây khô nóng ( tháng 5 đến tháng 7, có năm gió tây xuất hiện sớm hơn hoặc kết thúc muộn hơn)

Ngày đăng: 30/03/2017, 21:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Tình hình biến động về số lượng và quy mô trang trại nông nghiệp - Đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi thực hiện chính sách “Dồn điền đổi thửa” trên địa bàn xã Đông Hà huyện Đông hưng tỉnh Thái Bình
Bảng 2.2. Tình hình biến động về số lượng và quy mô trang trại nông nghiệp (Trang 20)
Bảng 2.3 Mức độ manh mún của các vùng ở Việt Nam - Đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi thực hiện chính sách “Dồn điền đổi thửa” trên địa bàn xã Đông Hà huyện Đông hưng tỉnh Thái Bình
Bảng 2.3 Mức độ manh mún của các vùng ở Việt Nam (Trang 24)
Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2008 xã Đông Hà huyện Đông Hưng. - Đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi thực hiện chính sách “Dồn điền đổi thửa” trên địa bàn xã Đông Hà huyện Đông hưng tỉnh Thái Bình
Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2008 xã Đông Hà huyện Đông Hưng (Trang 54)
Bảng 4.2 Diện tích cơ cấu đất nông nghiệp năm  2008 xã Đông Hà huyện  Đông Hưng. - Đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi thực hiện chính sách “Dồn điền đổi thửa” trên địa bàn xã Đông Hà huyện Đông hưng tỉnh Thái Bình
Bảng 4.2 Diện tích cơ cấu đất nông nghiệp năm 2008 xã Đông Hà huyện Đông Hưng (Trang 55)
Bảng 4.3 Diện tích cơ cấu đất chuyên dùng năm  2008 xã Đông Hà  huyện Đông Hưng. - Đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi thực hiện chính sách “Dồn điền đổi thửa” trên địa bàn xã Đông Hà huyện Đông hưng tỉnh Thái Bình
Bảng 4.3 Diện tích cơ cấu đất chuyên dùng năm 2008 xã Đông Hà huyện Đông Hưng (Trang 57)
Bảng 4.6 Một số kết quả đạt được sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa tại - Đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi thực hiện chính sách “Dồn điền đổi thửa” trên địa bàn xã Đông Hà huyện Đông hưng tỉnh Thái Bình
Bảng 4.6 Một số kết quả đạt được sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa tại (Trang 67)
Bảng 4.7 Phản ứng của hộ nông dân đối với việc dồn điền đổi thửa tại xã  Đông Hà huyện Đông Hưng. - Đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi thực hiện chính sách “Dồn điền đổi thửa” trên địa bàn xã Đông Hà huyện Đông hưng tỉnh Thái Bình
Bảng 4.7 Phản ứng của hộ nông dân đối với việc dồn điền đổi thửa tại xã Đông Hà huyện Đông Hưng (Trang 68)
Bảng 4.9  Giá thầu đất công ích; thuê đất cơ bản trước và sau dồn điền đổi - Đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi thực hiện chính sách “Dồn điền đổi thửa” trên địa bàn xã Đông Hà huyện Đông hưng tỉnh Thái Bình
Bảng 4.9 Giá thầu đất công ích; thuê đất cơ bản trước và sau dồn điền đổi (Trang 75)
Bảng 4.10 Bình quân diện tích đất nông nghiệp/ khẩu trước và sau dồn điền - Đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi thực hiện chính sách “Dồn điền đổi thửa” trên địa bàn xã Đông Hà huyện Đông hưng tỉnh Thái Bình
Bảng 4.10 Bình quân diện tích đất nông nghiệp/ khẩu trước và sau dồn điền (Trang 76)
Bảng 4.15  Hiệu quả mô hình chuyên nuôi thả cá - Đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi thực hiện chính sách “Dồn điền đổi thửa” trên địa bàn xã Đông Hà huyện Đông hưng tỉnh Thái Bình
Bảng 4.15 Hiệu quả mô hình chuyên nuôi thả cá (Trang 86)
Bảng 4.16 So sánh hiệu quả kinh tế của các mô hình sử dụng đất trước và sau - Đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi thực hiện chính sách “Dồn điền đổi thửa” trên địa bàn xã Đông Hà huyện Đông hưng tỉnh Thái Bình
Bảng 4.16 So sánh hiệu quả kinh tế của các mô hình sử dụng đất trước và sau (Trang 87)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w