Theo tác giả, các nội dung nghiên cứu chính của luận án phải làm rõ 03 vấn đề lớn: 1 Những vấn đề lý luận chủ yếu về ĐTTT và vai trò của chúng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội vùng
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là từ nửa cuối thế kỷ XX trở lại đây và các đô thị ngày nay đóng vai trò hết sức quan trọng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Xu hướng chung của nhiều quốc gia trên thế giới là xác định các trọng tâm phát triển đối với các đô thị cho toàn quốc và mỗi vùng lãnh thổ nhằm hình thành những đầu tàu lôi kéo sự phát triển đối với không gian xung quanh Ở mỗi quốc gia đều có các
đô thị đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của vùng mà người ta coi chúng là các đô thị trung tâm (ĐTTT) của vùng Việc phát huy vai trò của các ĐTTT được coi là biện pháp then chốt để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của vùng Tuy vậy, cả lý luận và thực tiễn về ĐTTT và vai trò của ĐTTT đối với phát triển kinh tế - xã hội của vùng ở Việt Nam hiện còn nhiều điểm chưa rõ
Ở Việt Nam, trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến việc phát triển đô thị trên phạm vi quốc gia, trong đó quan tâm đến việc phát triển các ĐTTT như Hà Nội, Vinh, Đà Nẵng, Tp Hồ Chí Minh, Cần Thơ… Cụ thể là Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển hệ thống đô thị của nước ta đến năm 2025, tầm nhìn 2050 [7] Nhưng thực tế phát triển đã bộc lộ nhiều hạn chế, nhiều đô thị được xem là ĐTTT nhưng chúng vẫn chưa phát huy được vai trò trung tâm của mình; một số ĐTTT do mở rộng quá nhanh nên thiếu kết cấu hạ tầng (nhất là giao thông vận tải), nhà ở dẫn tới tình trạng tắc nghẽn giao thông phổ biến ở các đô thị này cũng như làm cho thị trường nhà đất không ổn định,… đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của bản thân ĐTTT cũng như của vùng và của cả nước Trước tình hình đó, giới khoa học và giới quản lý đứng trước những câu hỏi chưa có lời giải (Phát triển đô thị như thế nào trên phạm vi cả nước và ở mỗi vùng kinh tế lớn? Phát huy vai trò của các đô thị ấy trên phạm vi quốc gia cũng như các vùng lãnh thổ như thế nào để thịnh vượng nền kinh tế đất nước cũng như vùng lãnh thổ?…) nhưng cho đến nay cũng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu
về vấn đề này
Vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) hiện là vùng kinh tế quan trọng thứ hai
ở nước ta, sau vùng Đông Nam Bộ Chính vì vậy, việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng này được coi là có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với của cả nước Trong
Trang 2quá trình phát triển vùng ĐBSH, các đô thị (nhất là các ĐTTT) có vai trò quyết định Tuy nhiên việc nghiên cứu phát triển các ĐTTT ở vùng này chưa nhiều và kết quả đem lại còn ít
Xuất phát từ thực tiễn như vậy, tác giả chọn vấn đề “Đô thị trung tâm với việc phát
triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Hồng” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Mục đích của luận án nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về vai trò của ĐTTT đối với phát triển kinh - xã hội vùng; đánh giá rõ thực trạng phát huy vai trò của ĐTTT đối với phát triển vùng ĐBSH; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của ĐTTT đối với sự phát triển của vùng này
2.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích đã đề ra, luận án tập trung vào giải quyết các nhiệm vụ sau:
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến nội dung đề tài luận án
2 Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về ĐTTT và vai trò của chúng với phát triển kinh tế - xã hội vùng
3 Phân tích hiện trạng phát triển ĐTTT và vai trò của các ĐTTT trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh - xã hội ở vùng ĐBSH thông qua bộ chỉ tiêu đánh giá
4 Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của các ĐTTT trong việc thúc đẩy phát triển vùng ĐBSH đến năm 2030
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt khoa học: Luận án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về
ĐTTT, hiện trạng phát triển và vai trò của ĐTTT trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội ở vùng ĐBSH giai đoạn 2001 - 2012 và các giải pháp chủ yếu để nâng cao
Trang 3vai trò đó nhằm phát triển vùng ĐBSH nhanh và bền vững Trong nội dung về hiện trạng phát triển của ĐTTT vùng ĐBSH, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu tổng thể nền kinh tế
và một số ngành kinh tế chính thuộc nhóm ngành công nghiệp và dịch vụ Trong nội dung về vai trò của ĐTTT với sự phát triển vùng ĐBSH, luận án tập trung phân tích một
số vai trò nổi bật như đóng góp của ĐTTT vào gia tăng quy mô và tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, thay đổi cơ cấu dân số, giải quyết việc làm và tăng năng suất lao động, thúc đẩy phát triển thương mại, giải quyết nhu cầu đào tạo, khám chữa bệnh thông qua bộ chỉ tiêu định lượng
- Về không gian: Địa bàn nghiên cứu của luận án là toàn bộ vùng ĐBSH, bao
gồm 10 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình Tuy vậy, các đơn vị hành chính trên không được nghiên cứu một cách độc lập và mức độ chi tiết cũng khác nhau tùy yêu cầu của vấn đề nghiên cứu mà luận án đề cập đến Luận án tập trung nghiên cứu vào phần nội đô thuộc Tp Hà Nội, Tp Hải Phòng và Tp Nam Định (trực thuộc tỉnh Nam Định) - các “đô thị trung tâm” của vùng ĐBSH(1)
- Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu hiện trạng vai trò của các ĐTTT trong
việc thúc đẩy phát triển vùng ĐBSH trong giai đoạn 2001 – 2012 và dự báo phát triển đến năm 2030 Mặc dù các ĐTTT ở vùng ĐBSH đã hình thành từ lâu và có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng song tác giả cho rằng vai trò này ngày càng thể hiện rõ nét trong những năm gần đây và khoảng thời gian nghiên cứu 12 năm là đủ để phản ánh rõ nét vai trò đó Trong giai đoạn 2001 – 2012, về cơ bản địa giới hành chính cấp tỉnh trong vùng ĐBSH không có nhiều biến động lớn, trừ việc mở rộng phạm vi hành chính của thủ đô Hà Nội từ ngày 01/8/2008 (theo Nghị quyết số 15/2008/QH12 ngày 29/5/2008) [41] Cũng trong giai đoạn trên, địa giới hành chính cấp quận, huyện ở hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng có nhiều biến động đáng kể: số lượng các quận nội thành của Hà Nội tăng từ 7 quận (Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Ba Đình, Tây Hồ, Cầu Giấy, Thanh Xuân) lên 10 quận (thêm các quận Hoàng Mai, Long Biên và Hà Đông); số lượng các quận nội thành của Hải Phòng tăng từ 4 quận (Hồng Bàng, Ngô Quyền, Lê Chân, Kiến An) lên 7 quận (thêm các quận Hải An, Đồ Sơn,
(1) Nếu hiểu đúng theo nội hàm về ĐTTT mà chúng tôi quan niệm thì không gian của ĐTTT không phải hoàn toàn theo ranh giới hành chính (quận hay phường) mà được xác định chỉ là phần “lõi” của đô thị (xin xem thêm chương 2 của Luận án) Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc thu thập, xử lý số liệu nên chúng tôi sử dụng các số liệu thống kê theo đơn
vị hành chính
Trang 4Dương Kinh) Đối với Tp Nam Định, giai đoạn 2001 - 2012, phạm vi hành chính cũng
có sự điều chỉnh: thành lập 05 phường (Lộc Vượng, Lộc Hạ, Thống Nhất, Cửa Nam
và Trần Quang Khải) khiến diện tích phần nội đô tăng thêm khoảng 11km2 và dân số nội đô tăng thêm khoảng 28.000 người (năm 2004) Chính vì thế, số liệu tác giả xử lí
và công bố trong luận án được tính theo ranh giới các quận nội thành và phường nội
đô tại thời điểm nghiên cứu Một số đô thị khác trong vùng cũng có sự thay đổi quy
mô và cấp đô thị (Tp Hải Dương, thị xã Chí Linh, Tp Hưng Yên ), tuy nhiên những thay đổi đó không thật sự có tác động mạnh đến nội dung cốt lõi của luận án nên tác giả không đề cập đến ở đây
4 Khung lý thuyết, quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Khung lý thuyết nghiên cứu
Khung lý thuyết nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các vấn
đề (nhiệm vụ) cần giải quyết để đạt được mục đích nghiên cứu đồng thời đó cũng là khái lược quy trình thực hiện để đạt được mục đích đó Ở nhiều nước phát triển, đối với nghiên cứu luận án bắt đầu từ việc hoàn thiện khung lý thuyết nghiên cứu (framework study) Tác giả luận án đề xuất khung lý thuyết nghiên cứu áp dụng cho
đề tài “Đô thị trung tâm với việc phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông
Hồng” như hình 1 dưới đây:
Hình 1 Khung lý thuyết nghiên cứu
(Nguồn: Tác giả đề xuất)
Trang 5Theo khung lý thuyết nghiên cứu ở hình 1, để thực hiện thành công luận án, tác giả thực hiện các nhiệm vụ chính như sau:
- Thứ nhất, xác định rõ mục đích nghiên cứu Xác định mục đích nghiên cứu
rõ ràng, khả thi là yếu tố đầu tiên và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tiến hành các công việc tiếp sau nhằm hoàn thành luận án Mục đích nghiên cứu của luận
án là trên cơ sở tổng quan những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển ĐTTT, làm sáng tỏ cơ sở lý luận về ĐTTT, phân tích vai trò của các ĐTTT trong việc thúc đẩy
sự phát triển kinh - xã hội ở vùng ĐBSH đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của các ĐTTT để vùng ĐBSH phát triển nhanh và bền vững
- Thứ hai, xuất phát từ mục đích nghiên cứu, tác giả tiến hành tổng quan các
công trình khoa học đã công bố có nội dung liên quan đến đề tài luận án Thông qua bước tổng quan, tác giả làm rõ những nội dung vấn đề và mức độ nghiên cứu của các công trình khoa học trước đây Từ đó, tác giả làm rõ những nội dung có thể kế thừa
và những nội dung cần bổ sung trong luận án
- Thứ ba, xuất phát từ mục đích nghiên cứu cùng với những nội dung tổng
quan, tác giả phải xác định những nội dung nghiên cứu chính của luận án Theo tác giả, các nội dung nghiên cứu chính của luận án phải làm rõ 03 vấn đề lớn: (1) Những vấn đề lý luận chủ yếu về ĐTTT và vai trò của chúng đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội vùng; (2) Hiện trạng phát triển các ĐTTT và vai trò của chúng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSH; (3) Các giải pháp nâng cao vai trò của các ĐTTT đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSH
- Thứ tư, sau khi đã nghiên cứu các vấn đề nêu trên phải đưa ra kết luận chung
và kiến nghị nhằm đóng góp cơ sở khoa học phục vụ cho việc xây dựng chiến lược phát triển mạng lưới đô thị cũng như các ĐTTT của cả nước nói chung và vùng ĐBSH nói riêng
Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu với tinh thần cơ bản là đi từ tổng quan, nghiên cứu lý thuyết đến nghiên cứu thực trạng ĐTTT và vai trò của chúng đối với vùng rồi cuối cùng là đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của ĐTTT đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSH đến năm 2030
Trang 64.2 Quan điểm tiếp cận đối tượng nghiên cứu
Tác giả luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu (các ĐTTT và vai trò của các ĐTTT đối với phát triển kinh tế- xã hội của vùng lớn - trường hợp cụ thể vùng ĐBSH) theo các quan điểm chủ yếu sau:
4.2.1 Quan điểm hạt nhân tạo vùng
Hạt nhân tạo vùng là yếu tố quyết định để tạo thành bộ khung cho mỗi vùng lãnh thổ Các ĐTTT được coi là hạt nhân tạo vùng chính Cả lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng, do tác động của nhiều yếu tố, trong mỗi vùng đều hình thành những trung tâm đóng vai trò là hạt nhân, đầu tàu để lôi kéo sự phát triển kinh tế - xã hội của các bộ phận lãnh thổ còn lại Vì thế việc phát huy vị trí, vai trò của các trung tâm ấy có thể coi là giải pháp hữu hiệu thúc đẩy sự phát triển toàn vùng Các đô thị này đã và đang tạo ra một bán kính ảnh hưởng tới các đô thị xung quanh ở nhiều khía cạnh: kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ… Tác động cộng hưởng giữa ĐTTT và các vệ tinh của nó còn góp phần quan trọng trong việc định hình nên hướng phát triển chuyên môn hóa của một phạm vi lãnh thổ, tạo tiền đề để hình thành các vùng, tiểu vùng với các đặc trưng riêng Vì thế, khi nghiên cứu về vai trò của các ĐTTT với việc phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSH, quan điểm này có ý nghĩa hết sức quan trọng
4.2.2 Quan điểm hệ thống
Như đã đề cập ở trên, các ĐTTT vùng được đặt trong một chỉnh thể hay một hệ thống lớn hơn đó là toàn bộ lãnh thổ vùng ĐBSH Giữa các bộ phận chính của nghiên cứu (các ĐTTT vùng) và phần còn lại có mối quan hệ tương hỗ không thể tách rời về nhiều mặt, đặc biệt là về kinh tế Việc liên kết hài hòa về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội (đặc biệt là về kinh tế) giúp cho các ĐTTT vùng phát huy tốt hơn vai trò đầu tàu, lôi kéo sự phát triển chung của toàn vùng Vì thế, quan điểm hệ thống mà biểu hiện cụ thể ở đây là liên kết kinh tế theo không gian giữa các trung tâm tạo vùng với các lãnh thổ còn lại một cách hài hòa có ý nghĩa hết sức quan trọng
4.2.3 Quan điểm phát triển
Quan điểm phát triển trong luận án được thể hiện cụ thể qua việc xem xét ĐTTT vận động, phát triển không ngừng: Các ĐTTT hiện nay có thể sẽ không còn là ĐTTT
Trang 7trong tương lai nếu như quá trình phát triển của chúng bị gián đoạn hoặc ngưng trệ; ngược lại, nhiều đô thị hiện nay chưa phải là ĐTTT song nếu nó hội tụ đủ các yếu tố
để hình thành thì hoàn toàn có thể trở thành ĐTTT Tác giả luận án đã vận dụng quan điểm này trong việc đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của các ĐTTT, đặc biệt là đối với đô thị Nam Định vốn hội tụ nhiều yếu tố để trở thành ĐTTT của tiểu vùng nam ĐBSH
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành việc nghiên cứu luận án, tác giả lựa chọn và sử dụng phổ biến các phương pháp truyền thống và hiện đại theo nguyên tắc đảm bảo tính tổng hợp, tính hệ thống, tính hiện đại và sự phù hợp Dưới đây là các phương pháp chủ yếu:
4.3.1 Phương pháp phân tích hệ thống
Phương pháp phân tích hệ thống đã được rất nhiều tác giả sử dụng khi nghiên cứu hệ thống lãnh thổ Do đặc điểm của đối tượng và mục đích nghiên cứu, phương pháp này đã được tác giả luận án sử dụng một cách triệt để trong luận án
Tác giả luận án đã vận dụng phương pháp phân tích hệ thống trong nhiều nội dung nghiên cứu luận án song tiêu biểu là trong việc phân tích, đánh giá vai trò của ĐTTT với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng ĐBSH Vai trò đó chỉ thực sự nổi bật và có ý nghĩa khi đặt trong mối quan hệ với các lãnh thổ khác (các ĐTTT vùng khác, các đô thị vệ tinh, các vùng nông thôn bao quanh, ); đồng thời ĐTTT vùng ĐBSH cũng là một bộ phận của mạng lưới các ĐTTT toàn quốc Vì thế, việc vận dụng phương pháp phân tích hệ thống trong trường hợp này giúp tác giả luận án có cách phân tích, đánh giá một cách logic, biện chứng
4.3.2 Phương pháp phân tích thống kê
Phân tích thống kê là phương pháp nghiên cứu không thể thiếu trong nghiên cứu địa lý kinh tế Trong luận án, tác giả đã thu thập các số liệu thống kê từ nhiều nguồn khác nhau như từ các cơ quan thống kê (Tổng cục, Cục), kết quả các cuộc điều tra, khảo sát của các cơ quan Nhà nước, các bản quy hoạch đã được phê duyệt Trên
cơ sở dữ liệu thu thập được, tác giả phân tích số liệu phục vụ đánh giá hiện trạng phát triển của các ĐTTT cũng như định lượng hóa vai trò của chúng đối với phát triển kinh
tế - xã hội vùng ĐBSH
Trang 84.3.3 Phương pháp phân tích chính sách
Các chính sách phát triển có tác động rõ nét đến việc hình thành, phát triển và phát huy vai trò của các ĐTTT Chính vì thế, trong nghiên cứu luận án, tác giả sử dụng phương pháp phân tích chính sách trong việc phân tích, đánh giá mặt được – mặt chưa được của các chính sách do Nhà nước ban hành đối với phát triển ĐTTT,
ví dụ như chính sách đầu tư, chính sách mở rộng địa giới hành chính, chính sách phát triển kết cấu hạ tầng, Đồng thời, phương pháp phân tích chính sách còn được tác giả sử dụng để đánh giá tác động của các chính sách kể trên đối với việc phát triển các ĐTTT cũng như vai trò của chúng trong việc thúc đẩy sự phát triển chung của cả vùng ĐBSH
4.3.4 Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS)
Ứng dụng Hệ thống thông tin Địa lý (Geographic Information System – viết tắt
là GIS) trong nghiên cứu Địa lý đang trở thành phổ biến nhờ vào khả năng phân tích
và thể hiện đặc điểm các đối tượng hết sức đa dạng và thuận tiện của các phần mềm GIS Tác giả luận án đã sử dụng phương pháp này trong hầu hết các bước nghiên cứu,
cụ thể: Trong bước thu thập tài liệu nghiên cứu, các bản đồ được xây dựng trên các
phần mềm GIS của các cơ quan chuyên ngành được tác giả sử dụng như một nguồn tài liệu quí giá như các bản đồ hiện trạng không gian đô thị Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định
trong những giai đoạn trước; Trong quá trình tiến hành nghiên cứu, các phần mềm GIS
là một công cụ hữu ích giúp tác giả đưa ra những phân tích về mặt không gian và đánh giá có giá trị như việc đề xuất lựa chọn các đô thị vệ tinh của vùng ĐBSH và thứ tự ưu
tiên các giai đoạn phát triển Trong việc thể hiện kết quả nghiên cứu, tác giả luận án
cũng đã xây dựng một số bản đồ chuyên đề bằng phần mềm MapInfo (một phần mềm GIS được ứng dụng phổ biến hiện nay ở nhiều quốc gia) nhằm thể hiện một cách khoa học, trực quan những kết quả đó
4.3.5 Phương pháp dự báo
Dự báo là một trong những nhiệm vụ nghiên cứu quan trọng của Địa lý kinh tế
- xã hội, đặc biệt là khi Địa lý học đã chuyển sang giai đoạn Địa lý tổ chức như hiện nay thay vì Địa lý mô tả trước đây Phương pháp dự báo được tác giả luận án vận dụng chủ yếu trong chương 4 của luận án Trên cơ sở phân tích các điều kiện, hiện
Trang 9trạng phát triển của các ĐTTT kết hợp với phương hướng và xu thế phát triển kinh
tế - xã hội nói chung và mạng lưới đô thị nói riêng của cả nước cũng như vùng ĐBSH để đề xuất các giải pháp tối ưu nhằm nâng cao vai trò ĐTTT trong việc thúc đẩy vùng ĐBSH phát triển nhanh và bền vững
4.3.6 Phương pháp chuyên gia
Việc tiếp cận và thu thập thông tin từ các chuyên gia, những nhà khoa học am hiểu về Đô thị học, Kinh tế học, Địa lý học giúp tác giả có thêm nhiều thông tin bổ ích đồng thời thẩm định lại một số nhận định khoa học trong luận án Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận án đã có cơ hội được tiếp xúc và lấy ý kiến của các chuyên gia thuộc Viện Kiến trúc, Quy hoạch đô thị và nông thôn - Bộ Xây dựng, Viện chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Khoa Địa lý - trường Đại học Sư phạm Hà Nội… Phương pháp chuyên gia được tác giả luận án vận dụng ở cả 4 chương trong
luận án: Ở chương 1, việc xin ý kiến chuyên gia giúp tác giả có sự lựa chọn chính xác hơn về các nội dung cần tổng quan; Ở chương 2, tác giả đã tiếp thu ý kiến của các
chuyên gia để đưa ra những quan niệm hoàn thiện hơn ở phần lý luận về đô thị và
ĐTTT; Ở chương 3, các ý kiến chuyên gia giúp tác giả có thêm thông tin để điều chỉnh hợp lý một số nhận định về đặc điểm, vai trò của các ĐTTT; Ở chương 4, tác
giả đã tiếp thu ý kiến các chuyên gia trong việc hoàn thiện hơn các mô hình cluster đồng thời dự báo một số chỉ tiêu phản ánh vai trò của ĐTTT trong giai đoạn tiếp theo 4.3.7 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa đóng vai trò hết sức quan trọng bởi nó không chỉ giúp kiểm nghiệm, chính xác hóa các kết quả nghiên cứu mà còn gợi ra cho tác giả một số ý tưởng bổ sung cho luận án Trong quá trình nghiên cứu luận án, tác giả đã tiến hành khảo sát thực địa tại các ĐTTT vùng ĐBSH là Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định cùng với một số đô thị lớn của vùng như Tp Hải Dương, Tp Hưng Yên,
Tp Bắc Ninh… Qua khảo sát thực địa tại một số đô thị nêu trên, tác giả có thêm căn
cứ thực tiễn để rút ra một số nhận định trong luận án của mình như: sự lan tỏa văn minh đô thị của các ĐTTT đối với vùng xung quanh, sự quá tải về hạ tầng của một
số ĐTTT, sự chia sẻ vai trò, chức năng của các đô thị vệ tinh (như Hải Dương, Bắc Ninh,…) còn khá hạn chế,…
Trang 10Ngoài các phương pháp trên, trong nghiên cứu luận án tác giả còn sử dụng các phương pháp quy nạp – diễn dịch (phổ biến trong đánh giá hiện trạng và dự báo phát triển của các ĐTTT) cũng như sử dụng phương pháp phân tổ - tổng quát hóa cho việc phân tích nhóm các ý kiến giống nhau và tổng quát hóa các ý kiến đó ở chương tổng quan các công trình nghiên cứu có nội dung liên quan
5 Những đóng góp mới của luận án
5.1 Về mặt lý luận
Luận án đã làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về ĐTTT và vai trò của chúng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng, khẳng định các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển và phát huy vai trò của ĐTTT, đề xuất hệ thống chỉ tiêu phản ánh vai trò của các ĐTTT đối với phát triển vùng kinh tế lớn trong điều kiện Việt Nam
5.2 Về mặt thực tiễn
Trên cơ sở vận dụng những vấn đề lý luận đã được làm rõ, luận án đã phân tích mặt được, mặt chưa được và nguyên nhân của những hạn chế trong phát triển và phát huy vai trò của ĐTTT đến phát triển kinh tế - xã hội ở vùng ĐBSH trong giai đoạn 2001 – 2012 Từ đó, luận án đề xuất định hướng phát triển các ĐTTT và các giải pháp tăng cường vai trò của chúng đối với phát triển hiệu quả, bền vững ở vùng ĐBSH đến năm 2030
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án được cấu trúc thành 4 chương chính:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan
Chương 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị trung tâm và vai trò của chúng
đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng
Chương 3 Thực trạng vai trò của đô thị trung tâm đối với phát triển kinh tế -
xã hội vùng Đồng bằng sông Hồng
Chương 4 Giải pháp nâng cao vai trò các đô thị trung tâm trong việc thúc đẩy
phát triển vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2030
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Tổng quan các công trình nghiên cứu có nội dung liên quan đến đề tài luận án
là yêu cầu bắt buộc và có ý nghĩa hết sức quan trọng Việc tổng quan giúp tác giả luận
án nắm bắt được những nội dung, mức độ nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố đồng thời xác định rõ những nội dung có thể kế thừa và những nội dung cần làm rõ, bổ sung mới Để tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan, tác giả luận án đã tìm đọc 35 tài liệu trong nước và 22 tài liệu nước ngoài Dưới đây là các kết quả tổng quan chủ yếu:
1.1 Về lý thuyết phát triển Trung tâm
Một số lý thuyết về phát triển trung tâm (với tư cách là một đô thị) được các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực quan tâm, trong đó nổi bật hơn cả là các nhà Địa lý học và Kinh tế học
Trên thế giới, trong số các công trình nghiên cứu nổi bật về lý thuyết phát triển trung tâm cần phải kể đến công trình “Các vị trí trung tâm ở miền Nam nước Đức”(2)của nhà Địa lý học người Đức Walter Christaller được công bố vào năm 1933 Lý thuyết “Vị trí trung tâm” (Central Place Theory) được đề cập đến trong tác phẩm này là một trong những lý thuyết quan trọng của thế kỷ XX bởi nó được coi như là
lý thuyết mở đường cho việc nghiên cứu các hệ thống không gian, việc tính toán chúng và sử dụng rộng rãi các phương pháp Toán học vào Địa lý kinh tế Ra đời sau
lý thuyết về vành đai nông nghiệp của V Thunen nhưng như chính lời của W Christaller thuật lại: “Nhưng tôi đi theo con đường ngược lại với V Thunen Ông giả định thành phố trung tâm đã được cho trước và hỏi rằng các vùng nông nghiệp được phân bố như thế nào xung quanh nó, còn tôi lại xuất phát từ một lãnh thổ có dân cư và sau đó hỏi rằng những thành phố phải được bố trí ở đâu” [71] Nội dung cốt lõi của lý thuyết nhằm giải đáp hai câu hỏi quan trọng: (1) Cần phải phát triển bao nhiêu thành phố (hay đô thị) ở một lãnh thổ và (2) Tại sao có sự chênh lệch về quy mô và vai trò của các đô thị?
Lí thuyết của W Christaller dựa trên khá nhiều giả thiết:
Trang 12- Các địa điểm trong mô hình về vị trí trung tâm có sức mua cũng như được phục vụ vận tải tương đương nhau ở tất cả các hướng, toàn bộ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng được mua ở vị trí trung tâm gần nhất
- Chi phí vận chuyển như nhau đối với tất cả các hướng và tỷ lệ thuận với khoảng cách;
- Không có lợi nhuận siêu ngạch (cạnh tranh hoàn hảo) [74, 92]
Do các vị trí trung tâm cạnh tranh nhau trong cung ứng dịch vụ nên cuối cùng
đã tạo nên lưới điểm quần cư đều đặn mà theo lí thuyết vị trí trung tâm, người ta xác định được cấp phân vị của các điểm dân cư gắn với cấp phân vị về dịch vụ Trong đó, các loại hình dịch vụ cơ bản và đơn giản (như cửa hàng tạp hóa) được coi
là có thứ bậc thấp trong khi các dịch vụ phức tạp hoặc mang tính chuyên sâu (như các trường đại học) được coi là có thứ bậc cao Các vị trí trung tâm ở bậc phân vị cao hơn thì cũng có khoảng cách xa nhau hơn nhưng có nhiều loại dịch vụ hơn và cũng thường có đông dân hơn Một vị trí trung tâm có khu vực thị trường nhỏ hơn
là một nhánh của vị trí trung tâm phục vụ khu vực thị trường lớn hơn Bậc của một
vị trí trung tâm được định nghĩa nhờ vào chức năng của nó như số lượng, giá cả và
sự đa dạng của hàng hóa và dịch vụ [31, 73, 77]
Nếu như vận chuyển thực sự dễ dàng trong tất cả các hướng, mỗi vị trí trung tâm sẽ có một khu vực thị trường Điều này có thể được diễn ra theo 02 trường hợp chủ yếu như sau:
- Trường hợp 1: Khu vực thị trường hình tròn (hình 1.1): Trong trường hợp này
sẽ có những khoảng không gian (khu vực) không được phục vụ hay nói cách khác là không chịu ảnh hưởng của một trung tâm nào
Hình 1.1 Mạng lưới các trung tâm khi bán kính ảnh hưởng hình tròn
(Nguồn: Tác giả lập hình vẽ minh họa)
Trang 13- Trường hợp 2: Không còn lãnh thổ trống vắng sự ảnh hưởng của đô thị (trung
tâm) (hình 1.2) Khi ấy, W Christaller đề nghị vùng ảnh hưởng của các trung tâm có hình dạng lục giác như hình 1.2 Khi đó mọi lãnh thổ đều chịu tác động của một trung tâm thu hút hàng hóa, nhân lực và cung ứng dịch vụ
Hình 1.2 Mạng lưới các trung tâm khi bán kính ảnh hưởng hình lục giác đều
(Nguồn: Tác giả lập hình vẽ minh họa)
Trong khi nghiên cứu các vị trí trung tâm ở miền Nam nước Đức, W Christaller
đã mô phỏng hóa hệ thống đô thị theo hình mạng lưới lục giác đều (hình 1.3)
Hình 1.3 Hình mô phỏng lý thuyết “Vị trí trung tâm” của W.Christaller
(Nguồn: Tác giả biên tập từ [77])
Trang 14Trong mô hình lý thuyết “Vị trí trung tâm” ở trên, các trung tâm được xác định chính là tâm của các lục giác đều Trong đó, đô thị là thủ phủ bang (Gaustadt - G) có thể được coi là một ĐTTT vùng
Mô hình các vị trí trung tâm trên của W Christaller chỉ có thể hình thành khi đáp ứng các giả thiết lý tưởng cả về các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội Tuy nhiên, điều này là không thể có trong điều kiện có sự phân dị cả về tự nhiên, kinh tế - xã hội:
- Chi phí SX có thể thay đổi không chỉ vì quy mô kinh tế mà còn bởi tài nguyên thiên nhiên (tức là không phải là một bề mặt địa hình cùng các yếu tố về tài nguyên thiên nhiên đồng nhất);
- Chi phí vận chuyển không bằng nhau trong tất cả các hướng;
- Thị trường nông thôn ban đầu (các hộ gia đình) được phân bố không đều;
- Yếu tố phi kinh tế như văn hóa, chính trị, lãnh đạo đóng vai trò khá quan trọng nhưng phân bố không đều
- Hành vi cạnh tranh có thể dẫn đến sự hấp thu vận tải hàng hóa và vận chuyển hàng hóa ảo
Tác giả luận án cho rằng, trong thực tiễn phát triển không có ở đâu và lúc nào tìm thấy một lãnh thổ đáp ứng điều kiện như giả thiết của W Christaller Chính vì thế, thực
tế cho thấy sự phân bố của mạng lưới đô thị ở những lãnh thổ có nhiều nét tương đồng nhất với mô hình trên cũng thường chỉ tạo thành những đa giác có sự phân bố tương đối đều đặn (tam giác gần đều, tứ giác gần đều, ) mà vùng ĐBSH ở nước ta có thể xem là một thí dụ Tuy nhiên, ý tưởng của ông đã chỉ ra một vấn đề quan trọng là có thể xác định được vị trí cần xây mới một đô thị để cho trong một không gian rộng không có lãnh thổ nào trống vắng ảnh hưởng của đô thị
Theo tác giả luận án, những đóng góp về khoa học của W Christaller và lý thuyết
“Vị trí trung tâm”thể hiện ở 03 phát hiện:
(1)- Khẳng định sự tồn tại của các trung tâm, hạt nhân của các lãnh thổ Các trung tâm này chính là các đô thị
(2)- Các trung tâm phát triển không giống nhau Mỗi trung tâm có ý nghĩa khác nhau thông qua vai trò của nó đối với lãnh thổ xung quanh nó
Trang 15(3)- Có đô thị là trung tâm vùng lớn và có đô thị là trung tâm một vùng nhỏ Dù lớn hay nhỏ thì chúng đều phải gắn kết với nhau tạo thành một hệ thống (hay mạng lưới) đô thị
Tác giả luận án hoàn toàn đồng ý với các phát hiện trên và coi chúng như những
cơ sở lý luận quan trọng trong nghiên cứu luận án
Sau khi ra đời, lý thuyết Vị trí trung tâm đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, trong đó nổi bật hơn cả là August Losch với công trình “Kinh
tế học định vị” Trong nghiên cứu này, ông đã kế thừa các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước(3) để hoàn thiện hơn nữa lý thuyết “Vị trí trung tâm” A Losch là người đầu tiên trình bày một cách đầy đủ hệ thống cân bằng trong mối tương quan giữa các địa điểm Ông không đưa ra giả thiết hay định nghĩa vùng kinh tế (lãnh thổ) nghiên cứu với các yếu tố về thị trường, nguyên liệu, giao thông… giống như
W Christaller, mà thay vào đó là nhấn mạnh yếu tố cấu trúc của một lãnh thổ, mối tương quan của SX cá nhân và các đơn vị tiêu thụ, vị trí cuối cùng của thị trường Thông qua việc giới thiệu và phân tích về Vị trí (Phần I), Các vùng kinh tế (Phần II), Thương mại (Phần III) và Các ví dụ minh họa (Phần IV), A Losch đã luận giải một cách rõ ràng và hoàn thiện hơn về lý thuyết Vị trí trung tâm [75]
Tác giả luận án đồng tình với nhận xét của Yu G Xauskin cho rằng “công lao của W Christaller và A Losch là ở chỗ các ông đã có ý định phám phá quy luật phân
bố không gian tương quan giữa các điểm dân cư, phát hiện một trật tự được tính toán trong cái đám hình như hỗn loạn của sự phân bố các thành phố và nông thôn, sau khi
đã nhận thức được quy luật khách quan, sẽ áp dụng nó vào quy hoạch các điểm dân
cư trên những lãnh thổ mới khai phá Công lao thứ hai của hai nhà khoa học là ở chỗ hai ông bắt đầu nghiên cứu những đặc điểm địa lý thuộc lĩnh vực phi SX… Các nhà bác học ấy xác định hệ thống lãnh thổ các điểm dân cư và mối liên hệ giữa vị trí của điểm dân cư trong hệ thống đó với những đặc điểm chức năng của nó – cơ cấu dân
cư, trình độ phục vụ dân cư…” [71]
Về lý thuyết “Vị trí trung tâm”, tiếp sau W Christaller và A Losch, rất nhiều nhà khoa học đã phân tích để làm rõ hơn những ý tưởng của hai ông đồng thời vận
(3) Các công trình được tác giả phân tích trong “The Economics of Location”: Thuyết Định vị công nghiệp của Webber (trang 16 - 36), Lý thuyết về Vành đai nông nghiệp của V Thunen (trang 36 – trang 63)
Trang 16dụng chúng vào nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong việc tổ chức không gian kinh tế và không gian đô thị Có thể kể ra đây một số dẫn chứng như nghiên cứu của Michael Sonis với công trình “Lý thuyết vị trí trung tâm sau Christaller và Losch: Một số phát hiện mới” [91] hay các công trình của W.W Hall và J.C Hite về việc sử dụng lý thuyết Vị trí trung tâm và Phân tích dòng hấp dẫn trong phân vùng kinh tế [85], Richard Webber áp dụng lý thuyết Vị trí trung tâm và Địa lý dân cư trong việc tìm kiếm vị trí để phân bố các trung tâm công nghiệp gắn với đô thị và xếp hạng giá trị các khu dân cư [95], Roger W White với công trình nghiên cứu bằng phương pháp
mô phỏng khẳng định ý nghĩa động lực của “Vị trí trung tâm” [93]
Bên cạnh W Christaller và A Losch, trong số các nhà khoa học nổi tiếng nghiên cứu lý thuyết về phát triển trung tâm không thể không nhắc đến nhà kinh tế học người Pháp F Perroux với các nghiên cứu của mình về cực tăng trưởng, cực phát triển Quan niệm của Perroux về sự tương tác trong không gian lần đầu tiên giành được sự chú ý của các nhà khoa học thông qua một bài giảng trình bày tại Harvard năm 1949,
và xuất bản trên Tạp chí Kinh tế vào tháng 3 năm 1950 Trong bài viết năm 1950,
khái niệm "cực tăng trưởng " hoặc "trung tâm tăng trưởng" chưa thực sự xuất hiện, tuy nhiên Perroux đã có nói tới "cực" và "trung tâm" Ông cho rằng, cực hay trung tâm được coi như nơi tập trung của các hoạt động kinh tế và phát sinh tăng trưởng
Tư tưởng của ông cho rằng sự tăng trưởng luôn luôn diễn ra trong tình trạng phân cực (tập trung đặc biệt ở các trung tâm hoặc các cực này nhưng lại chưa tập trung đặc biệt
ở trung tâm hoặc cực kia), dẫn đến trung tâm hay cực này có ý nghĩa thống trị và các trung tâm hay cực còn lại bị phụ thuộc.” [76, 84] Đó là những công trình công bố ý tưởng đầu tiên của Perroux về “cực tăng trưởng” và “cực phát triển” Trong báo cáo
"Khái niệm cực tăng trưởng" năm 1955, F Perroux đã phân tích thêm một bước về nguyên nhân chủ yếu của quan hệ chi phối ngành nghề là sự khác nhau về năng lực đổi mới giữa các ngành nghề và giữa các yếu tố kinh tế Một số công ty hoặc doanh nghiệp tăng trưởng có năng lực đổi mới tạo thành hạt nhân phát triển ngành nghề loại hình thúc đẩy Một số xí nghiệp loại hình thúc đẩy này thông qua mở rộng quy
mô để gia tăng tiêu thụ và mua bán với xí nghiệp khác có liên hệ Do đó, sự xuất hiện của xí nghiệp loại hình thúc đẩy dẫn đến sự tăng trưởng quy mô tiêu thụ của
cả quần thể xí nghiệp [44]
Trang 17Về cơ bản lý thuyết của Perroux chú trọng vào những lãnh thổ làm phát sinh sự tăng trưởng kinh tế của lãnh thổ Perroux khuyến cáo về hai loại cực: cực phát triển
và cực tăng trưởng Theo quan niệm của ông, cực phát triển là những trung tâm đô
thị đã hoàn thiện hoặc tương đối hoàn thiện về chức năng và sự phát triển Nó bao gồm một hoạt động động lực và các hoạt động khác xoay quanh nó, có những tác động lôi cuốn quan trọng đối với các khu vực xung quanh, hay nói cách khác nó là nơi cung cấp các dịch vụ cho xung quanh và thu hút từ xung quanh những nhu cầu
cần thiết cho bản thân Cực tăng trưởng là những trung tâm đô thị mới hình thành và
đang trong quá trình phát triển hoàn thiện Các cực tăng trưởng chịu ảnh hưởng thúc đẩy từ các cực phát triển và là vệ tinh cho các cực phát triển Nhịp độ phát triển của các cực tăng trưởng thường là mạnh bởi chúng phản ứng mạnh và sâu đối với tác động thúc đẩy, lôi cuốn của các cực phát triển Căn cứ vào những dấu hiệu ấy người
ta bố trí hay không bố trí gần xung quanh chúng một điểm đô thị mới khác [31, 73, 77] Cực tăng trưởng cùng với không gian cực hóa và thành phố, thị trấn liên hệ với nhau làm cho cực tăng trưởng có vị trí địa lý xác định, tức là các hạt nhân của cực tăng trưởng ở vào vùng trung tâm của thành phố, thị trấn hoặc phụ cận
Như vậy, có thể coi các “cực phát triển” mà F Perroux đề cập đến trong lý thuyết của ông gần tương đương với các ĐTTT mà tác giả đang đề cập đến trong luận án trong khi phần lớn các đô thị vệ tinh chính là các “cực tăng trưởng”(4) Lý thuyết về các loại cực tăng trưởng, cực phát triển của F Perroux sau khi ra đời cũng nhận được sự quan tâm đặc biệt của rất nhiều nhà khoa học Đã có không ít các công trình nghiên cứu khoa học nhằm bổ sung, làm sáng tỏ cũng như phân tích giá trị thực tiễn của lý thuyết này Tác giả luận án xin dẫn ra một số công trình minh chứng: Darwent đã đưa ra những phân tích làm rõ hai khái niệm “cực tăng trưởng” và “cực phát triển” mà ông cho rằng đang
có sự nhầm lẫn về cách sử dụng đồng thời ông xem xét các khái niệm này dưới hai góc độ: Địa lý và Kinh tế [79]; John B Parr với các công trình “Lý thuyết Cực tăng trưởng,
lý thuyết Phát triển vùng và lý thuyết Vị trí trung tâm” [86] và “Chiến lược cực tăng trưởng trong phát triển kinh tế vùng: một cái nhìn về quá khứ” [87]; các tác giả M
(4) Theo quy luật phát triển thông thường, các đô thị vệ tinh thường đảm nhận vai trò cực tăng trưởng và nó sẽ dần hoàn thiện để trở thành cực phát triển
Trang 18Christophakis và A Papadaskalopoulos trong công trình “Chiến lược cực tăng trưởng trong quy hoạch vùng: những kinh nghiệm gần đây của Hi Lạp” [89]…
Lý thuyết phát triển trung tâm thứ ba có liên quan tới đề tài luận án mà tác giả muốn đề cập đến đó là “Thuyết định vị công nghiệp”(5) của Alfred Webber (1868-1958) đưa ra năm 1909 Mô hình của A Weber đã tính toán các yếu tố không gian cho việc tìm kiếm vị trí tối ưu và chi phí tối thiểu cho các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp [82, 83, 84] – những hạt nhân ban đầu để hình thành các đô thị nói chung và ĐTTT nói riêng Mục đích của sự định vị công nghiệp tập trung là để “cực tiểu hóa chi phí và cực đại hóa lợi nhuận” Lý thuyết này coi trọng vai trò của thành phố và xem thành phố là trung tâm thị trường, thành phố có lực hút lớn để lan tỏa ra xung quanh
Các điểm để định vị một ngành công nghiệp giảm thiểu chi phí vận chuyển và lao động yêu cầu phải phân tích ba yếu tố:
- Các điểm vận chuyển tối ưu dựa trên các chi phí về khoảng cách với "chỉ số vật liệu", tỷ lệ trọng lượng với các sản phẩm trung gian (nguyên liệu) đến thành phẩm
- Các biến dạng lao động, trong đó nhiều nguồn thuận lợi hơn của lao động làm cho chi phí thấp hơn có thể biện minh cho khoảng cách vận chuyển lớn hơn
- Các lực tích tụ và không tích tụ [82]
Vấn đề xác định vị trí cho một ngành công nghiệp luôn được đặc biệt quan trọng trong suốt quá trình hình thành và phát triển của ngành công nghiệp cũng như của các đô thị Đối với các ĐTTT, vấn đề này càng cần được đặc biệt chú ý bởi phạm
vi ảnh hưởng của chúng là rất lớn, vì vậy cần bố trí mạng lưới các ngành công nghiệp xung quanh một cách hợp lý nhằm đạt hiệu quả cao nhất Sau khi tác phẩm của Webber được công bố, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng và phát triển
“Thuyết định vị công nghiệp” của ông, tiêu biểu như: Douglass C North trong công trình “Lý thuyết vị trí và phát triển kinh tế vùng” [81], Mary Amiti trong công trình
“Lý thuyết thương mại mới và định vị công nghiệp ở EU: Khảo sát các bằng chứng” [90]… Các công trình trên tập trung phân tích ý nghĩa về lý luận và thực tiễn áp dụng
mô hình lý thuyết định vị công nghiệp trong phát triển kinh tế nói chung Song các
(5) Trong công trình “Über den Standort der Industrie” (Theory of the Location of Industries - Thuyết định vị công nghiệp) xuất bản vào năm 1909 tại Đức
Trang 19tác giả này chưa đề cập đến việc áp dụng lý thuyết này trong quá trình hình thành, phát triển và phát huy vai trò của các ĐTTT
Cùng với việc tổng quan các lý thuyết phát triển trung tâm ở trên, luận án cũng tổng quan một số vấn đề về phát triển cluster(6) nhằm làm sáng tỏ hơn nữa những nhận định, giải pháp mà chúng tôi đề cập đến ở chương 4 trong luận án Tính đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn phát triển cluster trên thế giới cũng như ở Việt Nam Trong điều kiện giới hạn nhất định về nội dung, tác giả xin tổng quan ngắn gọn một số vấn đề về phát triển cluster như sau:
Tác giả Michael E Porter trong [40] đã đưa ra một số đặc điểm cơ bản của cluster như: về phạm vi, cluster có thể trải rộng từ một đô thị đến toàn quốc, thậm chí là lan cả sang các nước lân cận; về hình thức, cluster bao gồm nhiều hình thức tùy thuộc vào độ sâu và tính phức tạp của nó; … Cũng trong nghiên cứu này, M Porter trích dẫn ra một
số mô hình cluster đã hình thành trên thế giới như cluster rượu vang California, cluster thời trang và giày da ở Italia,…
Tác giả Ngô Doãn Vịnh trong nghiên cứu “Mở cửa tư duy để hưng thịnh nước nhà” [70] dành một phần nội dung tổng kết các đặc điểm của cluster Ông cho rằng cluster hình thành trên cơ sở tự nguyện liên kết của các cơ sở SX, kinh doanh thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, nhằm đem lại lợi ích chung cho tất cả các cơ sở SX, kinh doanh đó trong một không gian xác định Cluster lấy hiệu quả kinh tế làm mục đích,
do vậy thường phát triển tập trung trong một lãnh thổ xác định (một quốc gia hay một địa bàn cụ thể), trên cơ sở liên kết các xí nghiệp, tổ chức Nhờ việc sử dụng chung các
cơ sở vật chất hạ tầng cùng các dịch vụ về nhà ở, thông tin liên lạc, ngân hàng, hải quan, nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực… nên giúp các doanh nghiệp giảm chi phí đầu tư và SX Đồng thời, gia tăng giá trị và hiệu suất phát triển, cũng như làm cho các doanh nghiệp tham gia cluster phát triển bền vững hơn, tránh phân bố rời rạc Từ
đó, tạo ra sự phát triển tổng hợp cho địa bàn và giúp thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước Tác giả Ngô Doãn Vịnh cũng chia cluster thành hai loại chủ yếu là: cluster ngành
và cluster lãnh thổ Cũng trong nghiên cứu này, ông đề xuất hình thành cluster tại một
(6) Khái niệm “cluster” ở tiếng Anh thường được dịch sang tiếng Việt là “Cụm liên kết đa ngành”, “Cụm phát triển tương hỗ” hay “Cụm tương hỗ”… song theo quan điểm của tác giả luận án, các cách dịch này chưa lột tả đầy đủ bản chất đối tượng nên trong luận án, tác giả sử dụng nguyên từ gốc tiếng Anh
Trang 20lãnh thổ có điều kiện thuận lợi ở Việt Nam như Hải Phòng, Dung Quất,… đồng thời kiến nghị cần tạo khung pháp lý và chính sách khuyến khích bảo đảm cho việc gia nhập chuỗi giá trị toàn cầu và phát triển các cluster có hiệu quả
Trong hai công trình của các tác giả M Porter và Ngô Doãn Vịnh dù chưa đi sâu vào phân tích vai trò hết sức quan trọng của cluster là tạo tính liên kết theo lãnh thổ song qua các tổng kết, gợi ý về mô hình cluster của các ông đưa ra đã gợi mở cho tác giả luận án những ý tưởng quan trọng trong việc đề xuất phát triển liên kết giữa ĐTTT với các vùng lãnh thổ xung quanh thông qua phát triển các cluster
Ở Việt Nam, nhiều nhà khoa học cũng đã bước đầu vận dụng các lý thuyết của Christaller, Perroux và Webber để nghiên cứu về địa lý, kinh tế hay tổ chức lãnh thổ Tiêu biểu có tác giả Lê Bá Thảo, trong đề tài “Tổ chức lãnh thổ Đồng bằng sông Hồng và các tuyến trọng điểm” đã dành riêng 1 chương để phân tích các cực phát triển của vùng mà ông coi chúng chính là các đô thị [50] Tác giả Nguyễn Hiền trong tập bài giảng [33] đã đưa ra nhận định “Trong lý thuyết cực tăng trưởng của F Perroux, từ tư tưởng về hệ thống trung tâm đã mô phỏng được hệ thống có cấu trúc thống nhất giữa các cực phát triển với sự hình thành các cực tăng trưởng, kéo theo là
hệ thống dịch vụ” và ông đã lấy dẫn chứng là các đô thị như Bà Rịa - Vũng Tàu, Biên Hòa, Thủ Dầu Một trong vai trò của những cực tăng trưởng, còn Tp Hồ Chí Minh là cực phát triển Các tác giả Ngô Doãn Vịnh [65, 67, 68, 69], Ngô Thúy Quỳnh [44] trong nhiều công trình nghiên cứu của mình đã tôn trọng và kế thừa tư tưởng của Christaller và Perroux trong quá trình nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn đối với Tổ chức lãnh thổ và phát triển hệ thống đô thị ở Việt Nam
Từ những công trình nghiên cứu về lý thuyết phát triển trung tâm, có thể thấy rằng để mỗi lãnh thổ phát triển cần thiết phải có những đô thị đóng vai trò đầu tàu lôi kéo và thúc đẩy sự phát triển chung dựa vào sự lan tỏa và sự thu hút của chúng Phạm
vi ảnh hưởng của các đô thị này phụ thuộc nhiều vào quy mô và trình độ phát triển của nó Đó là những luận điểm quan trọng mà luận án sẽ kế thừa
1.2 Về quan niệm đô thị và hình thái phát triển đô thị
Quá trình hình thành và phát triển đô thị trải qua các thời kì khác nhau Ở mỗi thời kì lịch sử tạo nên các đô thị đặc trưng riêng biệt (về tính chất, kiểu dáng,…), do
Trang 21các đô thị được hình thành và phát triển trong mối quan hệ tổng hòa giữa các yếu tố
tự nhiên và kinh tế - xã hội Trong quá trình đó, đô thị luôn biến đổi mạnh mẽ về nhiều mặt: vai trò và chức năng của đô thị, kiểu dáng kiến trúc đô thị, sự phân bố không gian Bên cạnh đó, đô thị lại là đối tượng nghiên cứu của nhiều chuyên ngành,
vì vậy, tính đến nay đã có rất nhiều khái niệm về đô thị được các tác giả trong và ngoài nước công bố trong các công trình nghiên cứu của mình ở nhiều lĩnh vực Có thể dẫn ra đây một số khái niệm của các tác giả nước ngoài như:
Theo Richtofen (1968): Đô thị là một nhóm tập hợp những người có cuộc sống
không dựa vào nông nghiệp và trước hết dựa vào công nghiệp
Theo Yu G Xauskin: Đô thị là một điểm quần cư có mật độ nhân khẩu cao và
dân cư ở đây không có hoạt động nông nghiệp trực tiếp
Như vậy, ở hai khái niệm trên, các tác giả đã đưa ra những nét nổi bật nhất ở đô thị, đó là SX mang tính phi nông nghiệp, có mật độ dân cư cao [51]
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra những khái niệm về đô thị: Tác giả Phạm Ngọc Côn trong cuốn “Kinh tế học đô thị” đã xem xét và đưa ra khái niệm đô thị dưới hai góc độ: theo tính chất đô thị và theo điểm dân cư đô thị
Theo tính chất, đô thị phải có ba điều kiện là tính tập trung với mật độ cao, tính kinh
tế và tính xã hội, từ đó tác giả rút ra định nghĩa đô thị: “Đô thị là một thực thể thống
nhất hữu cơ của thực thể kinh tế phi nông nghiệp, thực thể xã hội và thực thể vật chất
tập trung với mật độ cao tại một khu vực nhất định” Theo điểm dân cư đô thị thì
“Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp,
là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc của một tỉnh, một huyện” [16]
Tác giả Phạm Trọng Mạnh trong cuốn “Quản lí đô thị” cho rằng “Đô thị là
những điểm dân cư tập trung, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng thích hợp và dân cư nội thị không dưới 4.000 người (đối với miền núi là 2.000 người) với tỷ lệ lao động trong phi nông nghiệp tối thiểu là 65%” [36]
Bên cạnh các nhà khoa học, trong quá trình quản lí và hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, các cơ quan Nhà nước cũng đưa ra một số khái niệm đô thị như:
Trang 22Trong Thông tư số 34 /2009/TT-BXD và Luật quy hoạch đô thị đều đưa ra
khái niệm: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu
hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn” [3, 42]
Từ các khái niệm về đô thị nêu trên có thể thấy các tác giả có sự thống nhất tương đối về một số dấu hiệu nhận biết đô thị: mật độ dân cư cao, chủ yếu sản xuất phi nông nghiệp và có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Tác giả luận án đồng tình với quan điểm về các dấu hiệu nhận biết đó và có sự kế thừa chúng trong việc đưa ra khái niệm về đô thị ở chương 2
Trong nghiên cứu phát triển đô thị, vấn đề hình thái phát triển đô thị cũng được nhiều học giả quan tâm đến như các tác giả Phạm Ngọc Côn, Phạm Trọng Mạnh, Lê
Bá Thảo, Ngô Doãn Vịnh và Ngô Thúy Quỳnh trong đó tiêu biểu là các tác giả Ngô Doãn Vịnh và Ngô Thúy Quỳnh Trong các nghiên cứu của mình, hai tác giả đã chỉ
rõ 03 hình thái phát triển của đô thị, bao gồm mạng lưới đô thị dạng chùm, mạng lưới
đô thị dạng dải và điểm đô thị đơn lẻ Mạng lưới đô thị dạng chùm thường hình thành
và phát triển ở các đồng bằng châu thổ lớn, ở đó có 01 hoặc một vài đô trung tâm và các đô thị vệ tinh xung quanh Chuỗi đô thị thường hình thành ở những khu vực có địa hình hẹp ngang hoặc dọc (như dọc ven biển hoặc các thung lũng sông lớn) mà ở
đó, vai trò của các đô thị trung tâm khá mờ nhạt do hướng lan tỏa gặp nhiều khó khăn Điểm đô thị đơn lẻ thường hình thành ở khu vực có dân cư thưa thớt, giao thông kết nối gặp nhiều khó khăn (như miền núi bị chia cắt mạnh, hải đảo) [44, 63]
Tác giả luận án đồng tình với cách phân loại hình thái phát triển đô thị thành 03 nhóm của các tác giả nêu trên và sẽ kế thừa nội dung nghiên cứu về phân bố đô thị dạng chùm ở các đồng bằng châu thổ trong nghiên cứu luận án bởi phạm vi không gian nghiên cứu chủ yếu của luận án là vùng châu thổ sông Hồng – nơi hình thái mạng lưới đô thị dạng chùm phát huy được hiệu quả cao nhất
Trang 231.3 Về nhận thức, quan niệm đối với đô thị trung tâm và vai trò của chúng đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng
1.3.1 Về nhận thức và quan niệm đối với đô thị trung tâm
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều cho rằng trong mỗi vùng luôn luôn tồn tại một hệ thống đô thị Trong hệ thống ấy có ĐTTT (hay đô thị hạt nhân) và các đô thị vệ tinh phân bố xung quanh nó Các ĐTTT đóng vai trò là hạt nhân, đầu tàu trong việc lôi kéo và thúc đẩy sự phát triển chung của cả vùng và đó thường là những đô thị có quy
mô lớn nhất vùng Xung quanh các đô thị nòng cốt này là những đô thị có quy mô nhỏ hơn, đóng vai trò như những “vệ tinh” Như vậy, hai khái niệm “ĐTTT” và “đô thị vệ tinh” được dùng để chỉ những thực thể đã diễn ra ở thực tiễn nhiều năm nay
Như vậy, về mặt nhận thức và thừa nhận sự tồn tại của ĐTTT đã được thống nhất Tuy nhiên, khái niệm “đô thị trung tâm” cùng với các đặc điểm mang tính bản chất, phân biệt nó với đô thị vệ tinh xung quanh như thế nào vẫn rất ít được các nhà khoa học đề cập đến, hay nói cách khác, đối tượng này vẫn chưa được sự quan tâm một cách thỏa đáng
Trong quá trình thu thập tài liệu phục vụ cho luận án, tác giả đã tìm kiếm các văn liệu hàm chứa nội dung quan niệm về ĐTTT, song kết quả thu được là không đáng kể Ngay trong tác phẩm “Các vị trí trung tâm ở miền nam nước Đức” nổi tiếng của W Christaller, ông cũng chỉ vạch ra vị trí của các đô thị mang tính chất là thủ phủ theo các cấp hành chính, chứ chưa hề bàn sâu về ĐTTT Các kết quả tìm kiếm bằng tiếng Anh đối với nội dung quan niệm về ĐTTT (“central city” và một số thuật ngữ gần nghĩa như
“centre urban”, “metropole city” ) không đem lại hiệu quả như mong muốn bởi số lượng các công trình có nội dung này khá ít ỏi
Ở Việt Nam, tính đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về đô thị nói chung
và đô thị ở nước ta nói riêng, trong đó nổi bật là tác giả Đàm Trung Phường (trong cuốn “Đô thị Việt Nam” [39]), Trương Quang Thao (trong cuốn “Đô thị học nhập môn” [48]), Nguyễn Thế Bá (trong cuốn “Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị”[2]
và gần đây là báo cáo đánh giá đô thị hóa ở Việt Nam của Ngân hàng Thế giới [37] Các công trình nghiên cứu đô thị ở vùng ĐBSH cũng khá nhiều, đặc biệt là các đô thị lớn và có lịch sử phát triển từ lâu đời như Hà Nội, Hải Phòng Có thể kể ra một số
Trang 24công trình nổi bật như: tác giả Lê Du Phong và cộng sự với công trình “Ảnh hưởng của
đô thị hóa đến nông thôn ngoại thành Hà Nội – Thực trạng và giải pháp” [38]; tác giả
Đỗ Thị Minh Đức với luận án phó tiến sĩ “Phân tích dưới góc độ địa lý kinh tế - xã
hội sự chuyển hóa nông thôn thành đô thị ở Hà Nội trong quá trình đô thị hóa” [30];
tác giả Vũ Thị Chuyên với luận án tiến sĩ “ Phân tích quá trình đô thị hóa ở thành phố
Hải Phòng giai đoạn 1985 – 2007” [15];… Trong các công trình nghiên cứu này, các
tác giả phần lớn tập trung phản ánh đặc điểm của quá trình đô thị hóa cũng như các hoạt động kinh tế ở đô thị trên cả nước nói chung và vùng ĐBSH nói riêng Các nội dung có liên quan đến quan niệm về ĐTTT cùng những nội hàm của nó gần như chưa được đề cập đến
Trong số các công trình nghiên cứu trong nước, công trình khoa học quan trọng đầu tiên (mà tác giả có điều kiện tiếp cận) có đề cập tới ĐTTT cần phải kể đến là đề tài độc lập và trọng điểm cấp nhà nước có tên: “Tổ chức lãnh thổ Đồng bằng sông Hồng
và các tuyến trọng điểm” do GS Lê Bá Thảo chủ trì Trong đề tài, mặc dù các tác giả chưa đưa ra một quan niệm riêng về ĐTTT song đã dành hẳn một chương (chương III)
để bàn về các cực phát triển, trong đó có đề cập đến các điều kiện để hình thành cực tạo vùng hay thành phố “mẹ” (thủ phủ vùng) [50] Chúng tôi coi đây là một trong những tư liệu hết sức quý giá phục vụ cho việc phát triển các ý tưởng khoa học của luận án Như vậy, việc nghiên cứu các ĐTTT vùng chưa được các nhà khoa học đề cập tới hoặc đề cập dưới góc độ là phân tích khái quát đặc điểm một số đô thị lớn, đóng vai trò là hạt nhân, thủ phủ của vùng
Trong quá trình hoạch định chính sách, các cơ quan chức năng đã xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo từng giai đoạn mà trong đó nội dung phát triển đô thị đã được đề cập Nếu như ở các công trình nghiên cứu của một số nhà khoa học kể trên, các ĐTTT vùng nói chung và ĐTTT vùng ĐBSH nói riêng ít được đề cập thì chúng ta có thể thấy nội dung này được đề cập đến khá nhiều trong các văn bản hành chính, pháp luật Có thể kể ra đây một số quyết định của Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến việc phát triển đô thị, đặc biệt là các đô thị lớn ở vùng ĐBSH như quyết định số: 445/QĐ-TTg về việc phê duyệt điều chỉnh định hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050
Trang 25[7], quyết định số: 31/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Tp Nam Định, tỉnh Nam Định đến năm 2020 [6], quyết định số 1448/QĐ-TTg về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Tp Hải Phòng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 [9], Pháp lệnh thủ đô Hà Nội [62]… Ngoài ra còn có các văn bản pháp luật của nhiều bộ, ban ngành có liên quan Tuy vậy, ở các văn bản pháp luật trên mới chỉ dừng lại ở mức độ xác định các vai trò của các đô thị chứ chưa hề đề cập đến khái niệm, bản chất của ĐTTT
Trong các đề án quy hoạch phát triển các vùng, địa phương nói chung và các đô thị nói riêng ở nước ta thì nội dung về ĐTTT cũng đã được đề cập đến khá nhiều
Trong đề án quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2025, coi Hà Nội là trung tâm lớn của phía Bắc, Tp Vinh là trung tâm của vùng Bắc Trung Bộ, Tp Đà Nẵng là trung tâm của vùng miền Trung, Tp Hồ Chí Minh là trung tâm của Nam Bộ
và Tp Cần Thơ là trung tâm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long [7]
Tháng 11 năm 2005, trong bản báo cáo tổng hợp Quy hoạch tổng thể phát triển
Tp Nam Định trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng Nam ĐBSH, các nhà khoa học đã đưa ra khái niệm về ĐTTT: “Đô thị trung tâm vùng là trung tâm của một mạng lưới các điểm dân cư đô thị, nông thôn bao quanh, trong đó đô thị trung tâm
có chức năng, khả năng tác động, ảnh hưởng đến sự phát triển của các đô thị, điểm dân
cư nông thôn bao quanh và bản thân đô thị trung tâm cũng có nhu cầu nhận sự hỗ trợ của các đô thị, điểm dân cư nông thôn này” [59] Khái niệm về ĐTTT được đưa ra ở đây đã chỉ rõ được hai đặc tính quan trọng của ĐTTT đó là quy mô và sức lan tỏa – sức hút (hay trường ảnh hưởng)
Trong các đề án quy hoạch xây dựng vùng thủ đô Hà Nội(7), vùng Tp Hồ Chí Minh(8) vào năm 2008 và các quyết định về điều chỉnh quy hoạch xây dựng của hai vùng trên năm 2014 đã coi Tp Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh là các ĐTTT
Trong Nghị định số 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ về việc phân loại đô thị ở nước ta có quy định một đơn vị hành chính được coi là đô thị phải có các tiêu chuẩn
Trang 26cơ bản như: có chức năng đô thị, có quy mô dân số đạt 4000 người trở lên, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp đạt tối thiểu 65% so với tổng lao động Ở Việt Nam (tính đến ngày 21/12/2014) các đô thị được phân làm 06 loại: Đô thị đặc biệt (gồm 02 đô thị là
Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh), đô thị loại I (gồm 15 đô thị: Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang, Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột, Thái Nguyên, Nam Định, Việt Trì, Vũng Tàu, Hạ Long và Thanh Hóa), đô thị loại II (gồm 15 đô thị: Biên Hòa, Mỹ Tho, Pleiku, Long Xuyên, Hải Dương, Phan Thiết, Cà Mau, Tuy Hòa, Uông
Bí, Thái Bình, Rạch Giá, Bạc Liêu, Ninh Bình, Bắc Ninh, Thủ Dầu Một), đô thị loại III (gồm 47 đô thị), đô thị loại IV (gồm 66 đô thị) và đô thị loại V (khoảng 650 đô thị) Trong công trình nghiên cứu “Khu đô thị trung tâm” của Nguyễn Đăng Sơn [46] cũng đưa ra quan niệm về ĐTTT, trong đó khẳng định “Đô thị trung tâm có tính chất chỉ vị trí khu đất trung tâm đô thị, nơi kế thừa các di tích lịch sử hình thành đô thị, nơi có mật độ xây dựng tập trung cao về nhà ở, các công trình công cộng về hành chính văn hóa thương mại, dịch vụ công cộng v.v ” Ông cũng chỉ ra đặc điểm cơ bản của ĐTTT là
“nơi luôn luôn có không khí tấp nập, nhộn nhịp do tập trung nhiều chức năng và hệ thống phục vụ công cộng của đô thị về hầu hết các mặt” Theo tác giả luận án, phần quan niệm về ĐTTT của tác giả Nguyễn Đăng Sơn nhìn nhận dưới góc độ kiến trúc nên chưa thật hoàn thiện về các vai trò, chức năng kinh tế, xã hội… Tuy nhiên, tác giả luận án đồng tình với nhận định về đặc điểm của ĐTTT mà tác giả Nguyễn Đăng Sơn đưa ra đồng thời coi đây là một ý tưởng khoa học cần được bổ sung, làm sáng tỏ hơn nữa trong luận án
1.3.2 Vai trò của đô thị trung tâm đối với phát triển kinh tế - xã hội
Như tác giả đã trình bày ở trên, các lý thuyết về phát triển trung tâm vốn được các nhà khoa học, nhất là các nhà khoa học phương Tây đặc biệt chú trọng nghiên cứu
và phát triển Tuy vậy, một trong những nội dung nghiên cứu theo tác giả là hết sức lý thú và cần thiết là phân tích vai trò của các vị trí trung tâm đối với việc phát triển kinh
tế - xã hội ở một lãnh thổ thì dường như vẫn chưa được quan tâm thỏa đáng Vì thế, trong quá trình thu thập tài liệu cho luận án, tác giả luận án cố gắng gạn lọc một số công trình tiêu biểu có liên quan đến đề tài nhằm kế thừa và phát triển như sau:
Trang 27Trong số các công trình ít ỏi bằng tiếng Anh mà tác giả cố gắng tìm kiếm có đề cập trực tiếp đến nội dung về ĐTTT thì cuốn sách “The Changing Economic Function
of the Central City” [92] của tác giả Raymond Vernon(9)là công trình có nhiều giá trị tham khảo và được tìm hiểu chi tiết hơn cả Trong tác phẩm này, ông phân tích hai nội dung chính là (1) Các ĐTTT thời nay và (2) Các ĐTTT trong giai đoạn quá độ Phần nội dung thứ nhất, ông đi sâu phân tích vị trí của ĐTTT trong nền kinh tế, giá cả trong hoạt động thương mại, yếu tố thông tin, Phần nội dung thứ hai, ông đưa ra những nhận định về xu hướng dân số, nghề nghiệp, của các ĐTTT trong thời kỳ quá độ Tuy nhiên, ở những nội dung này, ông tập trung chủ yếu đánh giá dưới góc độ kinh tế học các hoạt động kinh tế ở ĐTTT Vì thế, nội dung lí luận về ĐTTT hay các ảnh hưởng của ĐTTT đối với một vùng lãnh thổ chưa được đề cập đến
Công trình bằng tiếng Anh thứ hai là bài báo khoa học “Tầm quan trọng của các ĐTTT đối với kinh tế của vùng và quốc gia: đánh giá của các lập luận và bằng chứng thực nghiệm” của Keith R Ihlanfeldt(10) [88] Trong công trình này, thông qua việc tổng quan rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, ông đã phân tích mối quan
hệ giữa vùng ngoại vi và thành phố trung tâm rồi đưa ra 02 kết luận về mối quan hệ đó: (1) Mối quan hệ giữa thành phố trung tâm và vùng ngoại vi được thể hiện rất rõ ràng và (2) Sự phát triển của vùng ngoại vi đã làm tăng sức cạnh tranh đối với thành phố trung tâm Tác giả cũng thể hiện quan điểm đồng tình với giả thuyết rằng các thành phố trung tâm có đóng góp quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế vùng và quốc gia, nhưng ông không đồng tình với nhận định rằng sự phát triển của công nghệ thông tin, truyền thông
sẽ làm giảm sút vai trò của các thành phố trung tâm nhờ vào việc người lao động có thể làm việc qua internet ở mọi nơi
Trong công trình nghiên cứu về sự suy giảm vai trò của các ĐTTT và giải pháp đối với nội vùng cũng như vùng lân cận của tác giả Richard Voith [94] cũng đã chỉ ra thực trạng một số ĐTTT ở nước Mỹ bị suy giảm vai trò do xu hướng “phi tập trung” của dân cư Hiện tượng này dẫn tới nhiều hệ quả về mặt kinh tế, xã hội của ĐTTT và được ông phân tích sâu thông qua một số chỉ tiêu về thuế và thu nhập Cũng trong
(9)Tiến sĩ - Trưởng bộ phận nghiên cứu về vùng trung tâm New York (Ủy ban phát triển vùng, Hoa Kỳ).
(10) Giáo sư Kinh tế - Đại học bang Geogia (Năm 1995).
Trang 28nghiên cứu này, R Voith đã đề xuất một số giải pháp đối phó với tình hình trên trong phạm vi nội vùng và các vùng ngoại vi trong đó đáng chú ý là giải pháp tăng quyền chủ động cho các địa phương lân cận như việc phát triển các dịch vụ về y tế, giáo dục… Trong tuyển tập các công trình về “Đô thị hóa và tăng trưởng”, Michael Spence
và các cộng sự [47] đã chỉ rõ, các đô thị có vai trò hết sức quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế của mỗi lãnh thổ Theo các tác giả, hai đóng góp quan trọng bắt nguồn từ sự khác biệt về năng suất và mức tăng năng suất lao động giữa thành thị với nông thôn Nghiên cứu chỉ rõ rằng: trong thập kỷ đầu của quá trình phát triển, khi số dân phần lớn ở nông thôn, sự dịch chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị đóng góp lớn cho tăng trưởng; khi các đô thị đã phát triển phình to thì yếu tố lợi nhuận cao hơn từ năng suất lao động ở thành thị chiếm ưu thế Các tác giả còn cho rằng, các đô thị chỉ phát triển một cách ổn định và hiệu quả khi giải quyết được hai thách thức lớn: thứ nhất là đẩy mạnh phát triển các hoạt động có năng suất cao, thứ hai là quản lý các tác dụng phụ do thành công về mặt kinh tế gây ra (tình trạng tắc nghẽn giao thông, bất bình đẳng, giá nhà đất quá cao…) Cũng trong công trình này, các tác giả còn đưa ra một nhận định về vai trò của các đô thị “thống lĩnh” Theo đó, các tác giả cho rằng, trong việc đối xử sự vượt trội của thành phố này đối với các thành phố khác ở các quốc gia đang phát triển, một số Chính phủ thường có xu hướng “chia đều” nhằm giảm sức phát triển nóng của đô thị thống lĩnh Cả mặt tích cực và mặt trái của việc tích tụ - tập trung quá mức ở một số đô thị đều được thể hiện rất rõ Song theo các tác giả, việc giải quyết những hạn chế còn ít tốn kém và dễ dàng hơn là chuyển vị trí tăng trưởng từ thành phố này sang thành phố khác Các tác giả cũng khuyến nghị rằng cần phải tính toán quy mô phát triển tới hạn của các đô thị này một cách hợp lý, tránh khiến chúng trở nên quá tải Tác giả luận án đồng tình với các quan điểm trên và coi chúng như những gợi ý quan trọng trong việc phân tích vai trò của các ĐTTT cũng như đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của chúng
Năm 2011, trong báo cáo của Tổ chức Định cư con người Liên Hợp quốc (UN HABITAT) đã công bố nghiên cứu về vai trò kinh tế của các thành phố Trong báo cáo này, các tác giả đánh giá khái quát rất nhiều vai trò của đô thị trong nền kinh tế
Trang 29quốc dân Báo cáo cũng chỉ ra một số vai trò của các thành phố toàn cầu, thành phố thủ phủ vùng song ở mức khá khái lược, sơ sài các vai trò đó [96]
Đối với các tài liệu trong nước, trong các công trình khoa học nghiên cứu về đô thị, hầu hết các tác giả đều đề cập đến vai trò của đô thị Có thể kể ra một số tác giả và công trình tiêu biểu sau:
Tác giả Trương Quang Thao trong cuốn “Đô thị học nhập môn” [48] đã phân tích những đóng góp của đô thị Ông cho rằng đô thị, nhất là các đô thị lớn thì thường
có nhiều mặt tiêu cực hơn là tích cực Đối với ảnh hưởng tiêu cực, ông chỉ ra đó là kinh phí đắt đỏ cho xây dựng kết cấu hạ tầng, cung cấp nước sạch và xử lý nước thải, cung cấp thực phẩm tươi sống… Đối với ảnh hưởng tích cực, ông đã viện dẫn các kết luận của nhà kinh tế đô thị Perevedentxev, đó là:
- Năng suất lao động cũng như tiền lãi của nền kinh tế lớn hơn rõ rệt so với trị số trung bình tương ứng của các đô thị nói chung, cụ thể:
Bảng 1.1 Năng suất lao động và tiền lãi công nghiệp theo quy mô đô thị
Quy mô của đô thị
(Nghìn người)
Số phần trăm so với trị số trung bình (100%)
của các đô thị nói chung
Năng suất lao động Tiền lãi của công nghiệp
- Các đô thị tạo ra nhiều cơ hội về học tập, việc làm,…
- Các đô thị lớn là môi trường tốt nhất cho việc “SX, tàng trữ và truyền đạt kiến thức”
- Các đô thị lớn là nơi mà những nhu cầu mới của con người không ngững được phát sinh tạo động lực thúc đẩy nhiều ngành SX cũng như nhiều loại hình dịch vụ phát triển
Trang 30Tác giả Đào Hoàng Tuấn trong công trình “Phát triển bền vững đô thị: những vấn đề lý luận và kinh nghiệm của thế giới” [58] cho rằng, bên cạnh những tác động tích cực của đô thị (là trung tâm của sự thay đổi, là nhân tố của sự tiến bộ, là động lực đầu tiên của sự phát triển) thì mặt trái của nó cũng hết sức đáng lo ngại, đặc biệt là ở các đô thị lớn
Từ các công trình nghiên cứu trên cho thấy nhà khoa học đi trước đã nhắc tới vai trò của ĐTTT với các chức năng cơ bản: vị trí hạt nhân, trung tâm nghiên cứu khoa học, trung tâm dịch vụ (giáo dục – đào tạo, y tế, ngân hàng,…)
Tác giả luận án rất tâm đắc với những luận điểm về ĐTTT của một vùng lãnh thổ nhất định, về vai trò hạt nhân lôi kéo, thu hút, lan tỏa của nó; đồng thời tán đồng nhiều điểm với những ý kiến đã tổng quan Tuy nhiên, tác giả luận án nhận thấy nhận thức, quan niệm về ĐTTT vùng mới được nêu một cách khái quát, chung chung, chưa làm nổi bật vai trò “trung tâm” hay “hạt nhân” của nó Đồng thời, các nhà khoa học chưa lí giải thật đầy đủ về chức năng của các ĐTTT trong hệ thống đô thị cũng như trong quá trình phát triển của một vùng lãnh thổ cụ thể trong bối cảnh Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu luận án, tác giả luận án sẽ phải bổ sung, làm sáng tỏ hơn nữa cả về mặt lý thuyết và thực tiễn đối với những vấn đề đó
1.4 Tổng quan về đánh giá vai trò của các đô thị trung tâm
1.4.1 Phạm vi tác động của đô thị trung tâm
Xác định phạm vi tác động hay bán kính ảnh hưởng của các ĐTTT là một trong những vấn đề hết sức nan giải bởi cho đến nay vẫn chưa có một công thức chung hay kết luận cuối cùng về cách xác định bán kính tác động của đô thị Như đã nêu ở trên,
độ lớn của vùng ảnh hưởng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan Các yếu tố chủ quan có thể kể ra như vị trí địa lí, sức mạnh kinh tế của đô thị,… trong khi các yếu tố khách quan nổi bật cần phải kể đến như đặc điểm mạng lưới đô thị xung quanh, sự phát triển của mạng lưới giao thông vận tải… Chính do đặc điểm các yếu tố ảnh hưởng tới độ lớn bán kính tác động của ĐTTT cũng mang tính định tính nên việc tính toán, xác định bán kính vùng ảnh hưởng của nó cũng chỉ mang tính chất tương đối
Tính đến nay đã có một số nhà khoa học đưa ra các ý tưởng của mình về cách xác định bán kính tác động của đô thị Nhìn chung họ thường dựa trên một số đặc
Trang 31điểm về dân cư – lao động và mối liên kết giao thông để xác định bán kính đó Tác giả G.A Golc trong công trình nghiên cứu “Ảnh hưởng của vận tải tới sự phát triển không gian các đô thị và các phức hợp” đã nhấn mạnh thuộc tính quan trọng của không gian đô thị và không gian đô thị hóa là thực chất giao thông của nó Năm 1926, Desvo đưa ra khẳng định tốc độ vận tải là một trong những điều kiện phát triển đô thị Lấy chi phí thời gian cho sự đi lại ổn định dưới dạng một đại lượng cố định là 30 phút, ông xác định bán kính đô thị cho các loại giao thông khác nhau Về sau này, rất nhiều tác giả lấy đại lượng đó làm tiêu chuẩn một cách tự nhiên, như là theo trực giác, như một định đề không cần phải chứng minh [64]
Trong khi đó, ở nhiều nước trên thế giới, việc xác định giới hạn lãnh thổ của các ĐTTT dựa vào mức độ gắn kết các mối quan hệ về trao đổi lao động giữa ĐTTT
và các đô thị, điểm dân cư nông thôn trong vùng ảnh hưởng và mức độ cung cấp các dịch vụ công cộng của ĐTTT cho vùng ảnh hưởng Chẳng hạn, nhiều nhà nghiên cứu
ở một số nước cho rằng, cứ 5 - 7% số lao động của điểm dân cư đã vào làm việc tại ĐTTT thì điểm dân cư đó thuộc vùng ảnh hưởng của đô thị ấy Tuy nhiên, theo tác giả luận án, con số 5 - 7% trên có thể áp dụng với các nước có điều kiện giao thông vận tải phát triển, việc đi lại giữa vùng ảnh hưởng xung quanh và ĐTTT hết sức thuận lợi; ở các nước có kết cấu hạ tầng kém phát triển thì con số này có lẽ sẽ thấp hơn do
hệ thống đường giao thông, phương tiện vận tải còn hạn chế
Theo quan điểm của tác giả luận án, việc dựa vào chỉ tiêu mối quan hệ về lao động, cung ứng dịch vụ để xác định vùng ảnh hưởng của ĐTTT có nhiều ưu điểm hơn
so với việc dựa vào thời gian di chuyển bằng các phương tiện để tới ĐTTT Tuy vậy,
cả 2 cách đánh giá này có mối liên quan mật thiết với nhau trong đó sự phát triển các mối liên kết về giao thông thông vận tải là điều kiện hết sức quan trọng để có thể thúc đẩy mối quan hệ về lao động và cung ứng dịch vụ
1.4.2 Về đánh giá vai trò, ảnh hưởng của đô thị trung tâm
Như đã trình bày ở trên, việc định lượng mức độ ảnh hưởng của ĐTTT là vấn
đề hết sức khó khăn và sẽ rất khó có thể tìm được 1 công thức chung cho mọi đô thị ở mọi không gian Tuy vậy, các nhà nghiên cứu đô thị trên thế giới đã cố gắng lượng hóa
Trang 32mức độ ảnh hưởng của đô thị bằng cách định lượng các giá trị dựa trên các yếu tố tác động tới mức độ ảnh hưởng của đô thị
Ngay từ năm 1858, H.C Carey [76] đã tham khảo định luật vạn vật hấp dẫn của Newton và nêu ra công thức lượng hóa tác động tương hỗ giữa hai khu vực là:
I = (1.1)
Trong đó: P1, P2 : dân số đô thị 1 và đô thị 2
d : khoảng cách giữa đô thị 1 và đô thị 2
I : lượng tác động tương hỗ giữa đô thị 1 và đô thị 2 Công thức của Carey tính toán lượng tác động giữa hai đô thị mới chỉ dựa vào hai biến số là quy mô dân số và khoảng cách giữa hai đô thị vì vậy tính chính xác của việc lượng hóa này vẫn chưa cao Điểm hạn chế này đã được khắc phục dần ở các công trình nghiên cứu tiếp sau đó
Đến năm 1929, W J Reilly [76] lại phát triển thêm công thức của Carey để phân tích mức độ tác dụng sức hấp dẫn thương mại của một nơi nào đó giữa hai đô thị Công thức đó là:
= x (1.2)
Trong đó: P1, P2 : dân số đô thị 1 và đô thị 2
D1, D2 : khoảng cách giữa hai đô thị với một nơi ở giữa nào đó
S1, S2 : số lượng tương đối của hai đô thị bán hàng hóa cho cư dân ở một nơi giữa nào đó
Công thức (1.2) của Reilly đã cụ thể hóa tương quan tỷ lệ giữa mức độ ảnh hưởng thương mại với quy mô dân số và khoảng cách giữa hai đô thị tới một đô thị khác Sau đó, công thức (1.2) được phát triển thành:
RI = (1.3)
Trong đó: R: sức hút của đô thị I
P: số dân đô thị I
K: một điểm dân cư gần đô thị I
d : khoảng cách giữa đô thị I với điểm K
P1.P
d2
P1 P2
S2 S1
D2 D1
2
PI
d2IK
Trang 33Công thức (1.3) cũng có thể coi là một bước cụ thể hóa công thức (1.1) bởi thay bằng tính toán lực tương tác giữa hai đô thị ở công thức (1.1) thì trong công thức này, tác giả tính toán sức hút của riêng 1 đô thị đối với đô thị khác Cũng do mục đích tính toán nên các biến cũng có sự thay đổi: biến dân cư của cả 2 đô thị trước đây được thay bằng biến dân cư của đô thị cần tính toán
Tác giả Nhiễu Hội Lâm [76] đã phát triển và giải thích lại mô hình trên đây để vận dụng tìm phạm vi hành hưởng của đô thị như sau:
RIK = (1.4)
Trong đó: R: ảnh hưởng đến điểm K của đô thị I
P: khả năng tổng hợp kinh tế - xã hội của đô thị I (GDP là đại diện)
d: khoảng cách tiêu chuẩn giữa đô thị I và điểm K
Công thức (1.4) có sự thay đổi so với các công thức trên, ngoài việc giữ lại biến
về khoảng cách, tác giả đã thay biến quy mô dân số bằng biến khả năng tổng hợp kinh
tế - xã hội của đô thị cần tính (ở đây GDP là đại diện) Công thức này tuy đã khắc phục được phần nào nhược điểm của các công thức trên song nó vẫn chưa phải là công thức tối ưu có thể áp dụng để tính toán chính xác mức độ ảnh hưởng của một đô thị Qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến vai trò, phạm vi ảnh hưởng các ĐTTT cho thấy đến nay các nhà khoa học mới đi sâu tìm kiếm các chỉ tiêu đánh giá tác động của hai đô thị và tác động của mỗi đô thị (trong hai) đối với một địa điểm nào đó trong một vùng lãnh thổ Họ chưa đề cập chỉ tiêu phản ánh vai trò của ĐTTT tới sự phát triển của một vùng lãnh thổ xác định Chẳng hạn, chỉ tiêu phản ánh vai trò của ĐTTT đối với tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, cung cấp máy móc thiết bị và công nghệ, cung cấp dịch vụ cho khu vực xung quanh và vai trò thúc đẩy của trung tâm đối với sự phát triển chung của vùng thông qua thúc đẩy SX hàng hóa, hình thành và phát triển các vệ tinh công nghiệp và thông qua hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn… Đây là điều đáng tiếc nhất đối với tác giả luận án vì lẽ không kế thừa được
gì ở họ
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Ở chương 1, tác giả luận án rút ra một số kết luận chính như sau:
1 Nghiên cứu ĐTTT có cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc Các lý thuyết về phát triển trung tâm đã được nhiều nhà khoa học đề cập, không ngừng được bổ sung
PK
d2
IK
Trang 34và hoàn thiện Trong số đó, lý thuyết “Vị trí trung tâm” của W Christaller và lý thuyết
“Cực tăng trưởng” của F Perroux được coi như những lý thuyết giữ vai trò chủ đạo
và tiêu biểu
2 “Đô thị trung tâm” (hiểu theo đúng nội hàm của nó mà tác giả luận án sẽ đề cập đến ở chương 2) gắn bó chặt chẽ với quá trình hình thành và phát triển mạng lưới
đô thị cũng như đối với sự phát triển của vùng kinh tế lớn Tuy vậy, cho đến nay còn
ít công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về ĐTTT và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng Các công trình nghiên cứu đã công bố chủ yếu đi sâu vào phân tích đặc điểm, ảnh hưởng của đô thị và quan hệ giữa các đô thị với nhau Tác giả luận án đã xác định được một số vấn đề có thể kế thừa như việc khẳng định ĐTTT
và tác động của ĐTTT đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng lớn
3 Trên cơ sở phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố, tác giả luận án đã xác định được những vấn đề luận án cần tiếp tục tập trung nghiên cứu: (1) Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển ĐTTT, (2) Các yếu tố tác động tới sự hình thành, phát triển và phát huy vai trò của ĐTTT, (3) Xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá vai trò của ĐTTT đối với phát triển kinh tế - xã hội của vùng, (4) Phân tích hiện trạng phát triển và vai trò của các ĐTTT đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSH, (4) Đề xuất giải nâng cao vai trò ĐTTT trong việc phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSH
Trang 35Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ TRUNG TÂM VÀ VAI TRÒ CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ -
XÃ HỘI VÙNG
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về đô thị trung tâm vùng
2.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đô thị
a Khái niệm
Ở chương 1, tác giả luận án đã trích dẫn khái niệm về đô thị cả ở trong và ngoài nước Tác giả luận án đồng ý với một số nội dung đề cập đến trong quan niệm về đô thị của các tác giả Richtofen, Xauskin [51], Phạm Ngọc Côn [16], Phạm Trọng Mạnh [36], ở một số văn bản pháp quy và thống nhất với các tác giả trên về một số tiêu chí
để xác định một đô thị, đó là:
Về đặc điểm dân cư: Các tiêu chí về đặc điểm dân cư luôn được các tác giả xác
định là tiêu chí quan trọng hàng đầu trong các khái niệm về đô thị Tuy nhiên quy
mô số dân và mật độ dân số để một khu vực được coi là đô thị không hoàn toàn đồng nhất giữa các quốc gia Ví dụ: ở Việt Nam, theo Nghị định số 42/2009/NĐ-
CP thì đối với cấp đô thị có quy mô nhỏ nhất (đô thị loại V) cũng phải có quy mô dân số trên 4000 người, mật độ dân số bình quân từ 2000 người/km2 (đối với miền núi có thể thấp hơn) [8]
Về kinh tế: một đặc điểm mà hầu hết các khái niệm đô thị của các tác giả đã
đưa ra đó là hoạt động kinh tế phi nông nghiệp là chủ yếu Điều này cũng thật dễ hiểu bởi SX nông nghiệp không thể đáp ứng các nhu cầu sinh tồn và phát triển của
số lượng lớn dân cư tập trung với mật độ cao như ở đô thị Ở các đô thị thời phong kiến trở về trước, các hoạt động kinh tế thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đóng vai trò chủ chốt Ngày nay, các hoạt động công nghiệp, dịch vụ với nhiều loại hình khác nhau, có năng suất lao động cao, tạo ra giá trị gia tăng lớn đang là những ngành kinh tế tạo nên sức sống của đô thị…
Về vai trò: Các đô thị là những trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa
tổng hợp hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc phạm vi không gian lãnh thổ cấp vùng, tiểu vùng, tỉnh
Trang 36Về phạm vi ranh giới: đô thị bao gồm các bộ phận nội thành, ngoại thành (của
thành phố), nội thị, ngoại thị (của thị xã, thị trấn)
Tác giả luận án cho rằng đối với các khái niệm về đô thị đã đưa ra trước đó, cần
bổ sung và làm rõ hơn nữa đặc điểm của đô thị bởi đây không chỉ là nơi tập trung theo kiểu cộng gộp về “lượng” đối với các yếu tố về dân số, kinh tế đơn thuần mà có
sự chọn lọc, phát triển các yếu tố trên về “chất”
Trên cơ sở kế thừa ý tưởng khoa học của các học giả đi trước và kết quả nghiên
cứu của bản thân, tác giả luận án cho rằng: “Đô thị là một lãnh thổ xác định, tại đó
tập trung những người sống nhờ vào hoạt động phi nông nghiệp, đồng thời, nói một cách hình ảnh chính tại đó có sự “cô đặc” (11) các năng lực kinh tế, năng lực khoa học – công nghệ và các giá trị văn hóa, xã hội”
b Đặc điểm
Tác giả luận án cho rằng đô thị có các đặc điểm cơ bản sau:
- Đô thị là sự “cô đặc” về dân số, kinh tế, khoa học – công nghệ
Hoạt động kinh tế chủ yếu tại đô thị là phi nông nghiệp (công nghiệp, dịch vụ) bởi vậy nó đòi hỏi các đô thị phải có sự “cô đặc” về các yếu tố dân số, kinh tế, khoa học – công nghệ - khác với tính chất rải rác, phân tán trong sản xuất nông nghiệp ở nông thôn
Về dân số, ngoài biểu hiện về quy mô, mật độ dân số đã được các khái niệm trước
đó đề cập đến, theo tác giả luận án chất lượng của dân cư đô thị cũng phát triển hơn hẳn so với dân cư nông thôn Điều đó có được nhờ cơ hội tiếp cận với giáo dục, thông tin và đòi hỏi trong môi trường làm việc ở đô thị cao hơn nhiều so với nông thôn
Về kinh tế, các đô thị là nơi tích lũy vốn, tài sản chủ yếu của mỗi lãnh thổ (địa phương, vùng hoặc quốc gia) bởi đây là nơi tập trung dân số, các công trình nhà xưởng, kết cấu hạ tầng,… với mật độ cao Mức độ tập trung, tích lũy của cải ở các đô thị luôn diễn ra với nhịp độ nhanh hơn rất nhiều so với nông thôn Chính nhờ quy mô và cường
độ tích lũy của cải vượt trội giúp đô thị luôn đóng vai trò hạt nhân, dẫn dắt sự phát triển của vùng nông thôn xung quanh nói riêng và toàn lãnh thổ nói chung
(11) Tác giả sử dụng thuật ngữ “cô đặc” bởi cho rằng các thuật ngữ gần nghĩa khác như “tập trung” hay “tập trung cao độ”, “tích tụ”, “kết tụ”… đều không giúp thể hiện ý tưởng của tác giả: Đô thị phải là nơi kết tinh các giá trị cả về vật chất, nhân lực,… chứ không chỉ là phép cộng quy mô đơn thuần
Trang 37Về khoa học – công nghệ, các đô thị luôn đóng vai trò tiên phong và chủ đạo trong việc nghiên cứu, triển khai các ứng dụng khoa học – công nghệ và thông tin trong sản xuất và đời sống bởi đây là nơi có sự “cô đặc” về trí tuệ cũng như các điều kiện làm việc tốt Đây chính là biểu hiện quan trọng để khẳng định các đô thị có vai trò chi phối quyết định tới trình độ phát triển, văn minh của mỗi lãnh thổ
- Đô thị biểu hiện tính hiện đại và văn minh
Hiện đại và văn minh là đặc điểm đặc trưng của đô thị mà người ta dễ dàng phân biệt với vùng nông thôn Đặc điểm này biểu hiện qua nhiều khía cạnh của đô thị: cơ cấu kinh tế, kết cấu hạ tầng, kiến trúc các khu dân cư, điều kiện hưởng thụ các dịch vụ cao cấp,… Chính vì thế, nhiều nhà nghiên cứu coi sự phát triển của các đô thị là hình ảnh đại diện cho sự phát triển của một vùng, một quốc gia Tính hiện đại và văn minh
ở đô thị có được do tác động tổng hợp của nhiều yếu tố: mức thu nhập và trình độ dân trí cao dẫn tới nhu cầu sử dụng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ hiện đại, chất lượng cao của người dân, tính năng động, nhạy bén của các doanh nghiệp,…
- Đô thị luôn có sự xung đột mạnh mẽ trong nội bộ
Nhịp sống ở đô thị luôn diễn ra rất nhanh so với ở nông thôn, cùng với đó là sự tập trung đến mức “cô đặc” cả về yếu tố con người, kết cấu hạ tầng, tài sản,… vì thế trong nội bộ đô thị luôn có xung đột (hay mâu thuẫn): Mật độ cư trú quá cao dẫn tới xung đột về chỗ ở khiến giá nhà đất tăng cao, thị trường bất động sản bất ổn…; Sự đa dạng của các doanh nghiệp cộng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chất lượng cuộc sống dân cư dẫn tới xung đột giữa doanh nghiệp kinh doanh cùng loại mặt hàng hay giữa các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ lỗi thời với các sản phẩm, dịch vụ hiện đại(12) mà kết quả là nhiều doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ đồng thời nhiều doanh nghiệp phá sản hay bị buộc phải sáp nhập Các xung đột (mâu thuẫn) ở đô thị diễn ra liên tục, phổ biến dẫn đến tình trạng vừa giải quyết xong xung đột này lại nảy sinh xung đột khác Vì thế, có thể nói chính nhờ việc giải quyết các xung đột diễn ra liên tục, phổ biến nên đô thị luôn có tốc độ tăng trưởng, phát triển nhanh hơn hẳn so với vùng nông thôn – lãnh thổ vốn có ít xung đột và tính chất xung đột cũng ít gay gắt hơn
(12) Tác giả luận án cho rằng đô thị chính là lãnh thổ tiêu biểu minh họa cho hiện tượng “sáng tạo triệt tiêu sáng tạo” (tức
là các sáng tạo mới nhanh chóng phủ định, triệt tiêu các sáng tạo trước đó) (Dẫn theo ý tưởng của các tác giả Daron Acemoglu và James A Robinson trong [78]
Trang 38Từ đặc điểm về tính xung đột như trên, tác giả luận án cho rằng, sự khác biệt về trình độ phát triển của các đô thị giữa các vùng, các quốc gia ngày nay có nguyên nhân căn bản từ khả năng giải quyết các xung đột, mâu thuẫn nội bộ ở đô thị mà ở đó vai trò của cơ quan quản lý Nếu các xung đột được giải quyết nhanh chóng theo hướng tìm giải pháp thúc đẩy phát triển sẽ tạo điều kiện cho đô thị phát triển nhanh; nếu các xung đột đó được giải quyết một cách chậm trễ hoặc theo hướng cô lập, kìm hãm phát triển thì đô thị sẽ phát triển chậm
- Đô thị có sức thu hút và lan tỏa
Sức thu hút và sức lan tỏa là đặc điểm đặc trưng, nổi bật của đô thị Sức thu hút của đô thị đối với vùng xung quanh bao gồm dân cư và nguồn lao động, các nguồn thực phẩm, nguyên vật liệu cho sản xuất, vốn đầu tư; sức lan tỏa bao gồm các loại hàng hóa, vận tải, khoa học – công nghệ và thông tin,… Đặc điểm về sức thu hút và sức lan tỏa của đô thị sẽ được chúng tôi trình bày chi tiết hơn ở mục 2.1.2 Đồng thời, tác giả luận án cũng cho rằng đối với vùng nông thôn, nên nhìn nhận đó là không gian chịu tác động của “sức hut hút” và “sức lan tỏa” từ các đô thị bởi thực tế hai thuộc tính này ở vùng nông thôn là hết sức mờ nhạt
2.1.1.2 Đô thị trung tâm vùng
đề tài Những lý thuyết này giúp chúng ta mường tượng về mặt cấu trúc không gian của mạng lưới đô thị mà ở đó, các ĐTTT chính là hạt nhân quan trọng nhất Tuy nhiên, động lực phát triển của các ĐTTT lại có cơ sở lý luận dựa trên lý thuyết tích
tụ - tập trung
Trên Trái Đất các điều kiện hay nguồn lực cho sự phát triển của con người không đồng nhất giữa các lãnh thổ Đây là điều kiện cần đối với sự ra đời từ thuở sơ khai của lý thuyết tích tụ - tập trung Nội dung bao quát của lý thuyết này có thể được đúc kết qua câu thành ngữ “Đất lành chim đậu” đã xuất hiện từ bao đời nay của ông
Trang 39cha ta Lý thuyết này chỉ ra rằng khu vực nào thuận lợi cho kế sinh nhai thì dân cư, lao động sẽ tụ hội ở đó Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, các luồng nhập cư (mang tính tự phát) từ vùng xung quanh chỉ xuất hiện khi khu vực đó đã thực sự phát triển
so với các khu vực khác Cùng với việc tập trung, hội tụ của dân cư và lao động, các dòng của cải của xã hội cũng tập trung tạo đà cho sự mở mang, phát triển cho khu vực thuận lợi ban đầu đó Sự phát triển của hạt nhân đó càng lớn thì sức hút của nó đối với các luồng hàng hóa, của cải và nhân lực, đặc biệt là nhân lực có trình độ cao càng lớn, tạo ưu thế nổi trội về tiềm lực phát triển của hạt nhân đó so với khu vực xung quanh Cứ như vậy, sự tích tụ, tập trung ngày càng lớn về quy mô và mạnh lên
về cường độ tạo động lực chính cho sự phát triển của ĐTTT
b Khái niệm về đô thị trung tâm vùng
Trong rất nhiều công trình nghiên cứu về đô thị đã công bố trước đây, nhiều tác giả đã đưa ra hàng loạt các khái niệm, định nghĩa về đô thị, tuy nhiên thuật ngữ “đô thị trung tâm vùng” hay “đô thị trung tâm” hầu như chưa được nhắc đến ở các công trình
đó Chính vì vậy, trong khuôn khổ của luận án, tác giả đề xuất khái niệm về ĐTTT vùng như sau:
“Đô thị trung tâm vùng là đô thị có các ưu thế vượt trội về quy mô dân số, sức mạnh kinh tế, khoa học – công nghệ, có khả năng tác động, chi phối sự phát triển của các đô thị vệ tinh nhỏ hơn ở xung quanh nó, nhờ đó nó đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn vùng Trong mỗi vùng thường có một (hoặc một vài) đô thị trung tâm, tùy vào đặc điểm riêng của vùng đó về quy mô diện tích, đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội Ranh giới phạm vi tác động của các đô thị trung tâm trong vùng thường bao trùm gần như toàn bộ lãnh thổ của vùng đó”
Từ khái niệm ĐTTT vùng như trên, tác giả luận án muốn làm rõ thêm một số vấn đề gắn liền với thực tiễn ở Việt Nam như sau:
Thứ nhất, một ĐTTT phải có đặc trưng quan trọng và chủ yếu là vai trò dẫn dắt
sự phát triển chung của lãnh thổ mà nó chi phối nhờ có được sự phát triển vượt trội
về kinh tế, khoa học công nghệ, dịch vụ chất lượng cao, về văn minh đô thị, về thông tin và khả năng cung cấp thông tin, về văn hóa và khả năng cung cấp các sản phẩm văn hóa cũng như sự vượt trội về quy mô và chất lượng dân số
Trang 40Thứ hai, về phạm vi ranh giới của ĐTTT, tác giả luận án cho rằng ranh giới của
các ĐTTT hiện nay ở Việt Nam không trùng khớp với ranh giới hành chính (toàn thành phố đối với các thành phố trực thuộc Trung ương hay thành phố trực thuộc tỉnh) và cũng không trùng với phần nội thành (gồm các quận, phường) của các thành phố đó Chúng tôi cho rằng, thực chất phạm vi ranh giới của các ĐTTT hiện nay chỉ
bao gồm phần “lõi” của đô thị đó với quan niệm “Phần lõi là không gian trong đó
toàn bộ dân số sống bằng nghề phi nông nghiệp, được thụ hưởng và chính cuộc sống, hoạt động của họ phản ánh văn minh đô thị thực thụ Phần lõi là không gian quyết định tính chất và trình độ phát triển của đô thị” Phần “lõi” của đô thị sẽ phát triển
cả về quy mô, trình độ theo thời gian Tác giả luận án cũng cho rằng, nhận thức về sự khác biệt về ranh giới của ĐTTT với đô thị mang tính hành chính cần được quán triệt
để từ đó có những chính sách quản lý, đầu tư phát triển có trọng tâm hơn nữa đối với lãnh thổ thuộc ĐTTT chứ không phải mang tính dàn trải theo ranh giới hành chính như hiện nay
Thứ ba, ĐTTT vùng có quy mô không giống nhau, có đô thị là trung tâm của
toàn bộ vùng lớn (với quy mô lãnh thổ lớn, dân số lớn và mang tính chi phối quyết định với các đô thị khác và toàn vùng) và có đô thị là trung tâm của tiểu vùng (với quy mô lãnh thổ, dân số nhỏ hơn và mang tính chi phối tương tác với các đô thị khác)
Thứ tư, về đô thị vệ tinh, tác giả luận án cho rằng đô thị vệ tinh là những đô thị
nằm xung quanh ĐTTT, có mối quan hệ chặt chẽ với ĐTTT mà cụ thể là chịu sự chi phối trực tiếp của ĐTTT, đặc biệt là trong các lĩnh vực dịch vụ cao cấp (những dịch
vụ mà đô thị vệ tinh không thực hiện được) Đô thị vệ tinh cấp cao cũng đồng thời là trung tâm của tiểu khu vực xung quanh ĐTTT và của các đô thị vệ tinh cấp thấp hơn
Đô thị vệ tinh quan hệ với ĐTTT dựa trên tính chi phối của các vành lãnh thổ xung quanh ĐTTT: Vành lãnh thổ càng gần thì vệ tinh càng gắn bó và càng xa thì càng ít gắn bó hơn Tuy nhiên, đô thị vệ tinh không chỉ bị chi phối thụ động, phụ thuộc hoàn toàn vào ĐTTT mà nó cũng có mặt tích cực, chủ động: Nếu đô thị vệ tinh phát triển tốt, khả năng cung cấp các dịch vụ công ích tốt,… sẽ giúp ĐTTT hạn chế bớt các dòng lao động, dịch vụ… đổ dồn về và gây quá tải