LỜI CẢM ƠN Luận văn với đề tài “Tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm nam Sơn tùng thoại” được hoàn thành tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn có xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, tháng 10 năm 2016
Tác giả Luận văn
Trần Thị Hải Yến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn với đề tài “Tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt trong tác
phẩm nam Sơn tùng thoại” được hoàn thành tại trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Để hoàn thành được Luận văn, bên cạnh những cố gắng của bản thân, tác giả luận văn đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân, tập thể
Trước tiên, với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới PGS.TS Nguyễn Thanh Bình, Thầy đã nhiệt tình hướng dẫn khoa học
cho tác giả để Luận văn được hoàn thành
Tác giả xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo khoa Triết học, các cán bộ, công chức của các phòng, ban, thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã hết sức giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu tại khoa, trường
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn quan tâm, động viên và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình hoàn thành Luận văn thạc sỹ của mình
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả Luận văn
Trần Thị Hải Yến
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGUYỄN ĐỨC ĐẠT VÀ 10
ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA ÔNG TRONG TÁC PHẨM NAM SƠN TÙNG THOẠI 10
1.1 Bối cảnh lịch sử và tiền đề tư tưởng hình thành tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt 10
1.1.1 Bối cảnh kinh tế- xã hội Việt Nam thế kỷ XIX 10
1.1.2.Bối cảnh chính trị, văn hóa, xã hội 15
1.1.3 Tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt 19
1.2 Cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Đức Đạt và khái lược về tác phẩm Nam Sơn tùng thoại 26
1.2.1 Cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Đức Đạt 26
1.2.2 Khái lược về tác phẩm Nam Sơn tùng thoại 29
Tiểu kết chương 1 34
Chương 2: TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA NGUYỄN ĐỨC ĐẠT TRONG TÁC PHẨM “NAM SƠN TÙNG THOẠI”: 35
NỘI DUNG CƠ BẢN, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ 35
2.1 Tư tưởng của Nguyễn Đức Đạt về mục đích của giáo dục 35
2.2 Tư tưởng của Nguyễn Đức Đạt về nội dung giáo dục 45
2.3 Tư tưởng của Nguyễn Đức Đạt về phương pháp giáo dục 54
2.4 Đánh giá về tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt qua nghiên cứu tác phẩm “Nam sơn tùng thoại” 60
2.4.1 Một vài đánh giá về những giá trị và hạn chế chủ yếu trong tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt 60
Trang 62.4.2 Ý nghĩa tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại đối với việc giáo dục đạo đức cho thanh niên, học sinh
Việt Nam hiện nay 67
Tiểu kết chương 2 74
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 7MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện nay phát triển ngày càng mạnh mẽ đã tạo nên những chuyển biến lớn đến diện mạo các quốc gia trên thế giới, nền kinh tế thế giới đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức, nguồn lực con người giữ vai trò trung tâm của quá trình phát triển Đặc biệt, trí tuệ trở thành yếu tố tạo nên sức mạnh và quyền lực của quốc gia đã cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục, đào tạo Giáo dục, đào tạo ngày càng thực sự là đòn bẩy quan trọng bậc nhất để phát triển kinh tế - xã hội Các quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững phải dành sự quan tâm đặc biệt đến giáo dục, đào tạo, vì đầu tư cho giáo dục, đào tạo chính là đầu tư cho phát triển
Ở nước ta, trong lịch sử cũng như hiện nay, vấn đề giáo dục, đào tạo luôn được Nhà nước và nhân dân quan tâm.Trên tấm văn bia ghi danh Tiến sĩ
năm 1484 tại Văn Miếu đã ghi “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí
thịnh thì thế nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà ngày càng xuống thấp” là minh chứng về vai trò và chính sách đối với người
hiền tài của dân tộc Sự thịnh suy của đất nước gắn liền với sự thịnh suy của hiền tài Nói như vậy để thấy rằng, giáo dục chính là nền tảng phát triển của mỗi quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong việc “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước Đặc biệt, đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, muốn đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu thì không còn cách nào khác là phải đầu tư mạnh mẽ và có hiệu quả cho giáo dục, đào tạo nguồn lực con người Nói khác đi, giáo dục là chìa khóa để khẳng định vị thế của đất nước trên trường quốc tế
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã tiếp tục khẳng định, “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển”, giáo dục là
Trang 8động lực phát triển, là nhân tố quan trọng bậc nhất để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để phát triển và đổi mới thành công giáo dục, chúng ta cần phải nghiên cứu trở lại những tư tưởng giáo dục trước đó
Xuất phát từ thực tiễn đổi mới, hiện đại hóa giáo dục ở nước ta hiện nay, đổi mới giáo dục tuy đã liên tục tiến hành song còn lúng túng và gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng nền tảng lý luận giáo dục đúng đắn Do
đó, việc tìm hiểu những tư tưởng giáo dục trong lịch sử dân tộc, qua đó thấy được những giá trị sâu sắc để tham khảo và vận dụng trong việc xây dựng nền giáo dục nước ta hiện nay là cần thiết và hữu ích Một trong những nhà tư tưởng để lại ấn tượng sâu sắc trong lịch sử tư tưởng giáo dục Việt Nam thế
kỷ XIX chính là Nguyễn Đức Đạt – một nhà Nho, nhà giáo ưu tú của Việt Nam với hệ thống các tác phẩm của ông tập trung nhiều tư tưởng đề cập đến các lĩnh vực của đời sống xã hội và con người như: tư tưởng triết học, tư tưởng đạo đức, chính trị v.v đặc biệt là tư tưởng giáo dục Tư tưởng giáo dục của ông được thể hiện thông qua rất nhiều các tác phẩm phục vụ trực tiếp cho
quá trình dạy học như: Nam Sơn song khóa, Nam Sơn song khóa phú tuyển,
Nam Sơn song khóa chế nghĩa, trong đó tập trung và hệ thống nhất quan điểm
về mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục của ông là tác phẩm Nam sơn
tùng thoại
Nghiên cứu Nam Sơn tùng thoại giúp chúng ta phần nào tiếp cận được
với tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt nói riêng và giáo dục Việt Nam trong thời kỳ phong kiến nói chung Ngoài ra, thực tiễn giáo dục hiện nay đặt ra yêu cầu đổi mới, cải cách để đạt được hiệu quả hơn thì việc nhìn lại lịch sử tư tưởng giáo dục trong lịch sử dân tộc là cần thiết để rút ra được những bài học cho ngày nay trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền giáo dục nước nhà
Với những lý do trên, tác giả mạnh dạn chọn vấn đề “Tư tưởng giáo
dục của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm“Nam Sơn tùng thoại” làm đề tài
nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ triết học của mình
Trang 92 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nhắc đến Nguyễn Đức Đạt, các nhà nghiên cứu dường như chỉ chủ yếu bàn luận đến tư tưởng triết học về “đạo đức” mà ít quan tâm tới tư tưởng giáo dục của ông Liên quan đến đề tài luận văn, có thể khái quát một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
Công trình Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách
mạng tháng Tám” tập I (1973) của tác giả Trần Văn Giàu Trong khi trình bày
sự thất bại của ý thức hệ phong kiến trước những vận động của lịch sử, tác giả của cuốn sách này đã trích dẫn nhiều ý kiến của Nguyễn Đức Đạt trong tác
phẩm Nam Sơn tùng thoại
Trong luận án tốt nghiệp ngành Hán Nôm của Ngô Đức Thọ: “Nguyễn
Đức Đạt nhà nho và học giả nửa cuối thế kỷ XIX” (1975) , tác giả đã tìm hiểu
về thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Đức Đạt, những quan điểm về chính trị -
xã hội trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại Hơn nữa, tác giả còn đánh giá
những điểm tích cực và hạn chế của Nguyễn Đức Đạt Theo đó, Nguyễn Đức Đạt đã chỉ ra được những giá trị về mặt giáo dục đạo đức của Nho giáo trong việc rèn luyện con người, trau dồi kiến thức và tình yêu thương của con người Tuy nhiên; Nguyễn Đức Đạt lại cố gắng biện hộ cho hệ tư tưởng đạo đức đang dần trở nên lỗi thời so với yêu cầu của thời đại mới Ở mức độ nhất định, công trình nghiên cứu này đã đưa đến những nét khái quát nhất về cuộc đời và sự nghiệp của nhà Nho tiêu biểu cuối thế kỷ XIX Nguyễn Đức Đạt
Trong số những công trình bàn về tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức
Đạt thể hiện trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại, có thể thấy ở một số công
trình tiêu biểu sau:
Trước hết phải kể đến công trình Lịch sử tư tưởng Việt Nam (tập II) của
tác giả Lê Sỹ Thắng, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, xuất bản năm 1997 Trong cuốn sách này, tác giả đã dành một chương “Nguyễn Đức Đạt và tác
Trang 10phẩm Nam Sơn tùng thoại” để nghiên cứu về Nguyễn Đức Đạt và tác phẩm này
Ở chương này này, tác giả đã làm sáng tỏ những sự kiện tiêu biểu nhất về cuộc đời, sự nghiệp, nội dung cơ bản của tác phẩm như: tư tưởng về giáo dục, về nhân sinh quan và tư tưởng về chính trị Trên cơ sở đó, tác giả còn khẳng định giá trị
các tư tưởng của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại
Luận văn tốt nghiệp của Mai Vũ Dũng Tư tưởng đạo đức của Nguyễn
Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại (2007) tại Viện Triết học Trong
luận văn này, tác giả đã tìm hiểu về tiểu sử, cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Đức Đạt, những phạm trù đạo đức mà Nguyễn Đức Đạt đề cập đến trong tác phẩm Đặc biệt, luận văn đã chỉ ra được những giá trị và hạn chế trong tư tưởng đạo đức của ông Về mặt tích cực, luận văn chỉ rõ tư tưởng đạo đức của Nguyễn Đức Đạt đã thể hiện nhiều giá trị tích cực với nội dung xuyên suốt tư tưởng này là: Vua sáng, tôi hiền, con hiếu, nhân dân được no đủ Muốn vậy, theo Nguyễn Đức Đạt, phải lấy dân làm gốc và lấy an dân là mục đích cao nhất, lấy Đức trị để cảm hóa nhân dân Bên cạnh đó còn những nội dung về các phạm trù: Trung, Hiếu, Phúc, Họa v.v Bên cạnh những giá trị đó,
tư tưởng của ông cũng có những hạn chế nhất định: Những phạm trù Trung, Hiếu vẫn là sự trung thành với quan niệm đã lỗi thời Điển hình như trong quan niệm về Hiếu: nếu cha mẹ chết thì phải thôi việc về chịu tang Về tư tưởng giáo dục đạo đức, mặc dù có những tư tưởng tiến bộ nhưng về cơ bản, những nội dung giáo dục đạo đức của ông vẫn nằm trong khuôn khổ của hệ thống giáo dục Nho giáo, chưa gắn giáo dục với thực tiễn, đặc biệt với những biến động mang tính tính thời đại ở cuối thế kỷ XIX
Bài viết Quan niệm của Nguyễn Đức Đạt về mối quan hệ giữa đạo đức
và pháp luật trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại của Mai Vũ Dũng đăng trên
tạp chí Triết học số 6, tr 58 – 64, năm 2008 Tác giả đã tập trung phân tích về
mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong tác phẩm Nam sơn tùng thoại, về
Trang 11tầm quan trọng của đạo đức và pháp luật trong việc trị nước Với Nguyễn Đức Đạt, “đức” và “nhân” phải bao hàm trong “pháp”, “pháp” là cái không thể bỏ nhưng cũng không phải là cái duy nhất để trị nước, đạo đức và pháp luật phải lấy “lợi dân làm gốc”, từ sự trọng dân và kính dân Đó thực sự là những giá trị trong tư tưởng của Nguyễn Đức Đạt Tuy nhiên, theo Mai Vũ Dũng, vì nhiều
lý do chủ quan và khách quan nên tư tưởng của ông về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật còn những điểm hạn chế như: Ông không bàn về hạn chế của pháp luật phong kiến với việc đất nước bị đô hộ vì lúc đó nước ta bị Pháp đô hộ; ông muốn đề cao Đức trị, Nhân chính nhưng tư tưởng này ở cuối thế kỷ XIX không còn phù hợp nữa
Luận văn tốt nghiệp của Dương Tuấn Anh Tư tưởng giáo dục truyền
thống qua tác phẩm Nam Sơn tùng thoại của Nguyễn Đức Đạt (2002) tại
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Trong luận văn này tác giả đã trình bày và phân tích được những nội dung cơ bản trong tư tưởng giáo dục
của Nguyễn Đức Đạt qua tác phẩm Nam Sơn tùng thoại, chỉ ra được những
giá trị và hạn chế qua nghiên cứu tác phẩm Song, luận văn chưa chỉ ra và phân tích đầy đủ những tiền đề dẫn đến sự hình thành tư tưởng giáo dục của ông, đồng thời chưa chỉ ra những ý nghĩa của tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt trong việc xây dựng và đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay
Như vậy, qua các công trình nghiên cứu tiêu biểu trên, Nguyễn Đức
Đạt và tư tưởng giáo dục trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại đã được các nhà
nghiên cứu ít nhiều quan tâm Tuy nhiên, hầu hết các công trình mới chỉ dừng lại ở những đánh giá chung về tư tưởng giáo dục của ông hoặc giới thiệu khái quát về tác phẩm Có thể khẳng định rằng, tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức
Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại hiện nay chưa được nghiên cứu đầy
đủ và hệ thống Bởi vậy, theo chúng tôi, việc làm rõ tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt sẽ là cơ sở lý luận để có thể xây dựng những giải pháp đúng
Trang 12đắn để đổi mới nền giáo dục toàn diện của nước nhà Đây cũng là lý do nữa để tác giả chọn vấn đề này làm đề tài cho luận văn thạc sĩ triết học của mình
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Góp phần làm rõ tư tưởng của Nguyễn Đức Đạt
về giáo dục trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích bối cảnh và tiền đề cho sự ra đời tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt
- Phân tích, làm rõ những nội dung chủ yếu trong tư tưởng giáo dục của
Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại
- Đánh giá giá trị và hạn chế trong tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt
- Chỉ ra ý nghĩa tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm
Nam Sơn tùng thoại trong việc giáo dục đạo đức cho thanh niên, học sinh Việt
Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tư tưởng giáo
dục của Nguyễn Đức Đạt thể hiện trong tác phẩm Nam sơn tùng thoại
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu là tư tưởng của Nguyễn Đức Đạt về giáo dục, cụ thể: tư tưởng về vai trò, mục đích, nội
dung và phương pháp giáo dục trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện dựa trên những nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa Mác –Lênin; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục - đào tạo
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng tổng
Trang 13hợp một số phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp logic - lịch sử, phương pháp văn bản học, phương pháp phân tích và tổng hợp v.v
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ thêm những nội dung chủ yếu trong tư tưởng
về giáo dục của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại nói
riêng và trong nghiên cứu tư tưởng giáo dục Việt Nam nói chung
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu tư tưởng Nguyễn Đức Đạt về giáo dục và giáo dục Việt Nam thời phong kiến
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương, 6 tiết
Trang 14Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGUYỄN ĐỨC ĐẠT VÀ
ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA ÔNG
TRONG TÁC PHẨM NAM SƠN TÙNG THOẠI 1.1 Bối cảnh lịch sử và tiền đề tư tưởng hình thành tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt
1.1.1 Bối cảnh kinh tế- xã hội Việt Nam thế kỷ XIX
Nguyễn Huệ sau khi đánh tan 20 vạn quân Thanh đã lên ngôi Hoàng đế năm 1789 và lập nên triều Tây Sơn Sau khi Nguyễn Huệ đột ngột qua đời, nội bộ triều Tây Sơn lục đục, Nguyễn Ánh nhân cơ hội đó tập trung sức mạnh của giai cấp địa chủ trong nước đồng thời cầu viện sự ủng hộ của cả nước ngoài đã đánh bại triều Tây Sơn vào năm 1802 và thiết lập triều đại nhà Nguyễn Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, đến năm 1804, vua Gia Long đặt quốc hiệu nước ta là Việt Nam Sau đó vào năm 1820, Minh Mệnh được chọn làm người kế vị Gia Long và đổi quốc hiệu nước ta từ Việt Nam thành Đại Nam và đóng đô ở Huế Triều Nguyễn được lập nên sau một cuộc nội chiến kéo dài Khác với các triều đại phong kiến Việt Nam trước đây, về cơ bản và chủ yếu là gắn liền với quyền lợi của triều đại đó quyền lợi của nhân dân, thì nhà Nguyễn được dựng lên bằng một cuộc nội chiến kéo dài
mà kẻ thắng đã dựa vào sức mạnh của thế lực ngoại bang Cũng như tất cả các triều đại phong kiến trước đó, triều Nguyễn tiếp tục củng cố chế độ phong kiến trung ương tập quyền chuyên chế trên cơ sở bảo vệ quyền lợi của giai cấp địa chủ, do vậy, triều Nguyễn không được lòng đại đa số nhân dân Đến trước khi Pháp xâm lược Việt Nam vào năm 1858, bức tranh toàn cảnh kinh
tế - xã hội Việt Nam thời Nguyễn là đa dạng, phức tạp và có thời điểm như sự
tự mâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới, cái bảo thủ với cái lạc hậu Nhưng “Nhà Nguyễn cũng đã mở ra một bước ngoặt lịch sử với một tổ chức chính quyền quy mô hơn thay thế cho những chính quyền cũ đã quá nát ruỗng, một sự ổn
Trang 15định mới thay thế cho tình cảnh bấp bênh, loạn lạc v.v mà ai cũng đã chán ghét đến cực điểm và một nền văn hóa chính thống thay thế cho sự vô trật tự, đưa lại cho xã hội sự kỷ cương, nền nếp, một sự phục hồi bản sắc Đó quả là mong mỏi chung của nhiều tầng lớp nhân dân, là khát vọng của cả một giai đoạn, là điều kiện hình thành và củng cố địa vị của triều đại Nguyễn trong lịch sử trung đại Việt Nam” [23,tr.198] Ngay sau khi lên ngôi, nhà Nguyễn tìm mọi cách để ổn định xã hội, củng cố địa vị của mình, trong đó phục hồi Nho giáo là một trong những biện pháp then chốt các vua quan nhà Nguyễn
sử dụng nhằm tăng cường bảo vệ và duy trì địa vị thống trị và quyền lực của mình Nhiệm vụ trung tâm của nhà Nguyễn lúc này là xây dựng lại đất nước sau các cuộc nội chiến tàn phá trong các triều đại phong kiến trước đó và lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng, là công cụ để duy trì địa vị thống trị của mình Vua Gia Long và các vua kế vị đã thiết lập ở nước ta chế độ quân chủ chuyên chế, tăng cường bộ máy đàn áp, thi hành hàng loạt các biện pháp nhằm củng cố, bảo vệ địa vị thống trị vàquyền lợi của vương triều
Với chủ trương “dĩ nông vi bản” của nhà Nguyễn cho nên đến thế kỷ XIX, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp Nhà Nguyễn hết sức coi trọng vấn đề ruộng đất và sản xuất nông nghiệp Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, là nền tảng kinh tế của xã hội phong kiến Việt Nam.Tuy nhiên, tình hình ruộng đất và nền sản xuất nông nghiệp thời kỳ này phải đối mặt với hàng loạt khó khăn như: ruộng đất bỏ hoang, nông dân phiêu tán, nội chiến làm cho nền nông nghiệp càng thêm xơ xác, tiêu điều Vấn đề cấp thiết đặt ra lúc này cho các vua quan triều Nguyễn là phải khôi phục lại nền nông nghiệp, đưa nông dân về với ruộng đất, ổn định làng xã Đây là một trong những nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định với việc trị quốc, an dân Để khắc phục tình trạng
đó, trong thời kỳ này các vua quan triều Nguyễn đã thực hiện một số biện pháp khuyến khích nhằm phát triển nông nghiệp, ngăn chặn nạn cướp đoạt
Trang 16ruộng đất của địa chủ, cường hào Năm 1804, Vua Gia Long ban hành phép quân điền Theo đó, tất cả mọi người đều được chia ruộng công, trừ các quý tộc vương tôn được cấp 18 phần, quan lại nhất phẩm được cấp 15 phần, cứ tuần tự hạ mức cho đến dân nghèo được 3 phần Đến triều Minh Mệnh vẫn theo chế độ quân điền Nhưng trên thực tế, chính sách quân điền không có tác dụng đáng kể, dân nghèo vẫn không có ruộng đất Chính sách quân điền của các vua Nguyễn thực chất là nhằm đảm bảo quyền lợi kinh tế của các quan lại, số ruộng cấp cho nông dân ngày càng ít và chỉ là những ruộng xấu
Như vậy, chính sách nông nghiệp của triều Nguyễn giai đoạn này, mặc
dù cũng có những điểm tiến bộ, song những mặt hạn chế của nó là cơ bản Nền kinh tế nông nghiệp dưới triều Nguyễn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế của quốc gia Khẩn hoang và lập ấp làm tăng diện tích cày cấy nhưng kết quả khẩn hoang phần lớn rơi vào tay địa chủ, cường hào Quá trình chiếm đoạt và tập trung ruộng đất vào tay địa chủ gắn liền với nó là sự bần cùng hóa của nông dân diễn ra mạnh mẽ Các chính sách bảo vệ và phát triển nông nghiệp chưa thực sự được quan tâm đúng mức Chế độ công điền được duy trì lâu dài cùng với nền kinh tế tự nhiên, tự cấp càng làm cho làng xã trở thành đơn vị khép kín, hạn chế sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là kinh tế hàng hóa, tiền tệ
Tóm lại, kinh tế nông nghiệp của nước ta thời kì này vẫn chưa đáp ứng được như cầu phát triển của đất nước Mặc dù, các chính sách tiến bộ được áp dụng trong sản xuất nông nghiệp như: khai hoang, lập ấp, bảo vệ đê điều đã giúp nhà Nguyễn phần nào khôi phục được nền kinh tế tiêu điều để lại từ thế
kỷ trước, giúp phần nào ổn định được đời sống của nhân dân Tuy nhiên, những chính sách này chưa đủ sức mạnh để mở đường cho sự phát triển của một nền nông nghiệp ở trình độ cao hơn và cho đến khi Pháp xâm lược, bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế nông nghiệp nước ta vẫn ở tình trạng lạc hậu
Trang 17Trái ngược lại với những chính sách tiến bộ trong nông nghiệp, triều đình nhà Nguyễn lại sai lầm khi áp dụng các biện pháp ức thương nhằm hạn chế sự phát triển các nhân tố thương mại trong nền kinh tế Việc hạn chế phát triển công thương nghiệp không tạo nên điều kiện cần thiết cho xã hội thực hiện được những chuyển biến, dù rằng,Việt Nam dưới triều đại nhà Nguyễn, đất nước được thống nhất, yên bình là điều kiện thuận lợi cho việc buôn bán, trao đổi Đường cái quan nối liền Nam Bắc và các tỉnh được sửa đắp, nhiều kênh sông được khai đào v.v càng tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu, buôn bán Trong khi đó, triều đình thi hành chính sách bế quan tỏa cảng, thuế khóa phức tạp, thể lệ kiểm soát nghiêm ngặt đã hạn chế sự phát triển của kinh
tế thương nghiệp Về nội thương, triều đình coi muối, gạo là mặt hàng chiến lược do nhà nước quản soát nên đã cấm buôn bán từ vùng này sang vùng khác
và nếu mang lúa gạo đi các tỉnh thì bị đánh thuế rất nhiều chặng Chính sách này đã gây ra sự ách tắc, ứ đọng hàng hóa, gây ra sự mất cân đối giữa cung và cầu ở các vùng khác nhau trong cả nước Chính sự giới hạn các mặt hàng được phép buôn bán cùng với sự kiểm soát, thu thuế và nhiều thủ tục phiền hà
đã gây cản trở rất lớn đến hoạt động trao đổi, lưu thông hàng hóa và kích thích sản xuất trong thời kì này Về ngoại thương, triều đình giữ độc quyền buôn bán với các nước phương Tây, thi hành chính sách “bế quan, tỏa cảng” Người Trung Quốc ra vào buôn bán ở Việt Nam thì được ưu đãi, còn Tây phương thì phải xin phép buôn bán từng chuyến một Những chính sách hạn chế thương mại đó đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế hàng hóa
và chưa tạo nên những điều kiện cần thiết cho sự chuyển biến xã hội Điều đó khiến nền kinh tế nước ta suy yếu, không đủ sức đương đầu với những khó khăn, thách thức mới của thời đại Yêu cầu phát triển kinh tế Việt Nam là một tất yếu nhưng các vua quan triều Nguyễn tiến hành khôi phục và phát triển đất nước cũng chỉ nhằm mục đích chủ yếu là củng cố sự vững mạnh của vương
Trang 18triều họ Nguyễn, là xây dựng quốc gia hùng mạnh theo mô hình phong kiến -
mô hình xã hội đã lỗi thời, không còn thích hợp với thời đại mới nữa Tuy nhiên vẫn phải thừa nhận rằng, xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn ít nhiều có
sự chuyển biến về thương mại
Trong nền kinh tế Việt Nam thế kỷ XIX, tỉ lệ của nền sản xuất công nghiệp còn rất nhỏ Hình thức phổ biến của công nghiệp là thủ công và tiểu thủ công, chủ yếu là công nghiệp tại gia tức là sự chế biến nguyên liệu ngay ở nơi làm ra nguyên liệu Như vậy, tình hình công nghiệp ở giai đoạn này không có sự phát triển mạnh, biểu hiện rõ nhất là nhà Nguyễn vẫn nắm giữ những công xưởng lớn như: đúc súng, đúc tiền, đóng tàu Thợ làm việc trong các công xưởng chủ yếu trưng tập thợ giỏi các tỉnh, được tổ chức theo chế độ công tượng, tập trung theo ban, hưởng lương theo công việc nặng, nhẹ gồm gạo và tiền Chế độ làm việc nặng nề và chịu sự kiểm soát ngặt nghèo của các đốc công Tuy nhiên, do tính chất tập trung trong lao động và trình độ tay nghề của thợ, sản phẩm làm ra đều có chất lượng cao Nhận xét về việc đóng tàu của họ, một sĩ quan Mỹ là Jonh White đến nước ta năm 1820 đã viết
“Người Việt Nam quả là những người đóng tàu thành thạo Họ hoàn thành công trình của họ với một kĩ thuật hết sức chính xác”[Dẫn theo: 46,tr.451] Ngoài thuyền gỗ, họ còn đóng các thuyền lớn bằng đồng Bên cạnh đó, các nghề thủ công ở nông thôn và thành thị tiếp tục phát triển, số lượng người làm nghề thủ công tăng lên Các nghề đồ gốm, sành sứ, dệt vải, làm giấy phát triển khắp nơi Trên cơ sở phát triển của nghề in bản gỗ, xuất hiện nghề làm tranh dân gian nổi tiếng với làng Đông Hồ (Bắc Ninh), Hàng Trống (Hà Nội) v.v Mặc dù thủ công nghiệp nói chung phát triển nhưng phương thức sản xuất hầu như không thay đổi Các làng thủ công vẫn gắn chặt với nông nghiệp như xưa, không hình thành các phường hội với quy chế riêng như ở các nước Tây
Âu cận đại Bên cạnh đó, chính sách của nhà nước cũng thiếu tính chất
Trang 19khuyến khích, khích kệ thủ công nghiệp phát triển Nhà nước giữ độc quyền một số sản phẩm như: sa, lượt, lụa là, người thợ thủ công vừa phải đóng thuế thân vừa phải nộp thuế sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm thủ công quý Do
đó, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vẫn chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong nền kinh tế Các sản phẩm làm ra không được tham gia vào quá trình tái sản xuất, không được hội nhập vào thị trường hàng hóa nên không thể kích thích thị trường, mở rộng sản xuất, tạo điều kiện cho những yếu tố thị trường len lỏi vào nền kinh tế
Như vậy, cho đến khi bị Pháp xâm lược, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu Nhằm duy trì, củng cố địa vị thống trị của mình, triều đình nhà Nguyễn đã thực thi nhiều chính sách cản trở sự phát triển nền kinh tế Tuy nhiên, trên một số lĩnh vực nhỏ vẫn có sự chuyển biến, góp phần tạo nên những thay đổi trong xã hội Trong bối cảnh đó, tất yếu làm nảy sinh những tư tưởng tiến bộ, những giải pháp để khắc phục tình trạng kém phát triển, đưa đất nước thoái ra khỏi cảnh lầm than Đó là điều kiện hết sức quan trọng đưa đến sự ra đời tư tưởng cải cách, duy tân của các nho sĩ, trí thức thức thời
1.1.2.Bối cảnh chính trị, văn hóa, xã hội
Thành lập và thống trị trong thế kỉ XIX, nhà Nguyễn được thừa hưởng được thành quả to lớn của phong trào nông dân Tây Sơn trong sự nghiệp thống nhất đất nước Nhà Nguyễn ra đời và tồn tại không những trong một bối cảnh đặc biệt của đất nước mà còn trong tình hình thế giới có nhiều biến chuyển lớn Thắng lợi của của nghĩa tư bản ở Tây Âu đã kéo theo sự phát triển của chủ nghĩa thực dân và của sự giao lưu buôn bán quốc tế Hàng loạt các nước châu Á lần lượt rơi vào ách đô hộ thực dân và Việt Nam cũng không tránh khỏi mối đe dọa đó Trước tình hình đó, nhà Nguyễn đã tìm cách tái độc tôn Nho giáo nhằm củng cố và làm bệ đỡ về mặt tư tưởng cho chính quyền phong kiến vốn đã bị suy đồi ở những thế kỷ trước Nho giáo được tập trung
Trang 20phát triển với tham vọng trở thành tư tưởng thống nhất, chống lại sự bành trước của tư tưởng Thiên Chúa giáo, hạn chế Phật giáo và tư tưởng duy tân theo hướng dân chủ tư sản của một số nhà Nho yêu nước như Nguyễn Trường
Tộ, Nguyễn Lộ Trạch v.v Nho giáo với tư cách là học thuyết chính trị - đạo đức có vai trò, vị trí và có ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội phong kiến Việt Nam dưới triều Nguyễn
Với mong muốn tái lập được xã hội có kỷ cương sau hàng loạt các cuộc nội chiến, nhà Nguyễn đã tìm mọi cách thực thi đường lối đức trị, vận dụng các nguyên tắc đạo đức tam cương, ngũ thường, các nguyên lý đạo đức Nho giáo v.v làm công cụ chủ yếu để chi phối, thống trị tư tưởng, tinh thần của nhân dân Các quan hệ vua - tôi, cha - con, vợ - chồng với các giá trị về trung, hiếu được nhà Nguyễn đề cao tuyệt đối Nho giáo với tư cách là một học thuyết chính trị- xã hội đã được các triều đại phong kiến Việt Nam từ thế kỷ
XI đến đầu thế kỷ XIX sử dụng làm hệ tư tưởng chính trị trong việc khôi phục, xây dựng và trị vì đất nước Vì vậy, Nho giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến việc định ra đường lối đức trị, xây dựng và sử dụng pháp luật cũng như việc hình thành và phát triển nền giáo dục của nước ta thời phong kiến Nhà Nguyễn cố gắng xây dựng một hệ tư tưởng riêng nhưng vẫn lấy Nho giáo làm
nòng cốt Bộ Minh mệnh chính yếu được coi là cơ sở tư tưởng và thể chế xây
dựng triều Nguyễn, thể hiện sự phục hồi đạo Nho, xuất phát từ những yếu tố tích cực của Nho giáo để trị nước, bình dân
Nhà Nguyễn thiết lập nền chính trị phong kiến trung ương tập quyền cao độ Về đối nội, vua Gia Long thi hành các chính sách xây dựng kinh tế, khôi phục văn hóa nhằm đem lại sự ổn định cho xã hội đồng thời trấn áp các cuộc nổi dậy nhằm củng cố địa vị thống trị của nhà Nguyễn trên toàn lãnh thổ Việt Nam Để tập trung quyền lực vào trong tay nhà vua, sau khi lên ngôi,
Trang 21Minh Mệnh tiến hành cải cách hành chính, xóa bỏ chế độ tổng trấn, chia cả nước thành 31 tỉnh do nhà vua trực tiếp quản lý
Đường lối đối ngoại của triều Nguyễn được bộc lộ trong chính sách “bế quan tỏa cảng” Bất chấp mọi nỗ lực ngăn chặn âm mưu xâm lược của nhà Nguyễn, năm 1858, Thực dân Pháp nổ súng vào Đà Nẵng, bắt đầu cuộc xâm lược Việt Nam Như vậy, tình hình chính trị Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX với những chính sách cải cách tưởng chừng như đưa xã hội Việt Nam đến sự
ổn định, nhưng thực chất nó đã bộc lộ những mâu thuẫn nội tại trong lòng chế
độ phong kiến và thể hiện sự bất cập của đường lối trị nước trước những thay đổi mới của thời đại lúc bấy giờ
Với đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp cùng thể chế chính trị phong kiến trung ương tập quyền, tình hình xã hội Việt Nam trong giai đoạn này cũng mang những đặc thù riêng và cũng có nhiều chuyển biến và phân hóa giai cấp sâu sắc Cũng như các triều đại trước, dưới thời Nguyễn xã hội Việt Nam chia ra thành hai giai cấp chính: thống trị và bị trị
Giai cấp thống trị bao gồm: vua, quan lại trong hệ thống chính quyền
và giai cấp địa chủ Các quan chức xuất thân từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau nhưng do vị thế của mình, trở thành người đối lập với nhân dân, hạch sách, bóc lột nhân dân Tất nhiên, trong số đó cũng có những người thanh liêm, trung trực, biết lo lắng cho cuộc sống của nhân dân, sự ổn định của xã hội
Giai cấp bị trị bao gồm toàn bộ nông dân, thợ thủ công, thương nhân, một số dân nghèo thành thị Nhân dân thì đại đa số là nông dân, dân bản mường Họ có ít nhiều ruộng đất tư để cày cấy, sinh sống Thêm vào đó là khẩu phần ruộng công nhỏ nhoi vừa xa, vừa xấu, nhiều người phải chạy vạy buôn bán ở các chợ làng, chợ huyện hoặc làm thủ công, gánh vác thuê cho các nhà buôn bán Họ là lớp người gánh chịu mọi tai họa của tự nhiên, mọi thiệt thòi, bất công của xã hội Sự phân hóa giai cấp diễn ra nhanh chóng và mâu
Trang 22thuẫn giai cấp ngày càng sâu sắc Ở mỗi triều đại khác nhau thì mức độ phân hóa giai cấp và mâu thuẫn giai cấp là khác nhau, điều đó phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân kinh tế là chủ yếu Dưới triều Nguyễn, đất nước thống nhất nhưng mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt, từng bước làm lung lay cơ sở xã hội của triều Nguyễn Biểu hiện cụ thể là ở nửa đầu thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh của nhân dân liên tiếp nổ ra với gần 420 cuộc nổi dậy, tiêu biểu là các phong trào: Khởi nghĩa Phan Bá Vành (1821 - 1827) nổ
ra tại Thái Bình, phong trào Lê văn Khởi (1833- 1835) diễn ra tại Gia Định, phong trào Cao Bá Quát (1854 - 1855) tiêu biểu cho cuộc đấu tranh do Nho sĩ lãnh đạo Các phong trào này đã lôi cuốn được phần lớn những người nông dân, thợ thủ công và nhiều nho sĩ, quan lại cấp dưới, binh lính, các dân tộc ít người v.v Nhìn chung, các phong trào nông dân, các cuộc khởi nghĩa đều mang tính chất địa phương, không có sự liên kết chặt chẽ nhưng các cuộc khởi nghĩa này nổ ra chống lại triều đình là biểu hiện rõ rệt nhất sự khủng hoảng của chế độ phong kiến, là lời tố cáo mạnh mẽ chế độ cai trị độc tài của nhà Nguyễn khiến dân chúng lâm vào sự khốn khổ, bần cùng
Mặc dù đời sống kinh tế của nước ta trong giai đoạn này vẫn hết sức khó khăn, bức tranh toàn cảnh của xã hội cũng chưa có những biến đổi mạnh
mẽ, nhưng không thể phủ nhận rằng, lĩnh vực giáo dục, văn học, nghệ thuật
có những thành tựu to lớn
Trước hết là lĩnh vực giáo dục – khoa cử Không thể phủ nhận rằng, xã
hội Việt Nam thế kỷ XIX dưới triều Nguyễn, giáo dục được đặc biệt quan tâm
và có tác dụng to lớn trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, luôn chú trọng đến việc đào tạo nhân tài cho đất nước Các khoa thi vẫn được mở đều đặn,
nội dung thi cử là Tứ thư, Ngũ kinh của Nho giáo, xuất hiện nhiều bậc nhân
tài của đất nước
Trang 23Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã tổ chức lại việc giáo dục, thi cử Năm 1807, quy chế thi Hương được ban hành, khoa thi Hương đầu tiên dưới triều Nguyễn được tổ chức, chủ yếu ở Bắc thành Năm 1822, nhà Nguyễn mở khoa thi Hội đầu tiên có 8 người đỗ Tiến sĩ Trong thời kì này, xuất hiện nhiều nhà văn, nhà thơ lỗi lạc của đất nước
Nghệ thuật thời kỳ này cũng có những thay đổi lớn, văn nghệ dân gian
phát triển phong phú với nhiều thể loại như: nghệ thuật sân khấu tuồng, chèo phổ biến khắp nơi, bên cạnh đó còn có hát quan họ, hát dặm, hát xoan v.v xuất hiện tranh dân gian như tranh đánh vật, chăn trâu, thổi sáo v.v Đời sống văn hóa của Việt Nam thời kỳ này mặc dù có những thành tựu đáng kể song vẫn thiếu sự đa dạng, phong phú
Những ảnh hưởng của khoa học – kỹ thuật phương Tây dù ít ỏi cũng gợi lên ý thức của người Việt về kĩ thuật cơ khí, một số thợ thủ công đã học tập cách chế tạo một số máy tưới nước cho đồng ruộng, lọc nước và đặc biệt
là đóng được tàu thủy chạy bằng máy hơi nước Mặc dù vậy, do nhiều hạn chế, cho nên đến giữa thế kỷ XIX, Việt Nam vẫn là một nước với nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu và hết sức lạc hậu
Như vậy, bối cảnh kinh tế - xã hội nước ta nửa đầu thế kỷ XIX có nhiều biến động, đất nước phải đối mặt với hàng loạt các khó khăn, đặc biệt là mối
đe dọa về họa xâm lược của phương Tây Thế nhưng, với mong muốn đất nước được độc lập, nhân dân được sống trong hòa bình, độc lập, Nguyễn Đức Đạt đã xây dựng nên những tư tưởng của mình về giáo dục, tư tưởng về chính trị - xã hội…từ chính thực tiễn xã hội Việt Nam lúc đó
1.1.3 Tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt
Bất cứ một tư tưởng, một học thuyết nào ra đời cũng nảy sinh, bị quy định bởi chính những điều kiện kinh tế- xã hội nhất định Tư tưởng giáo dục
Trang 24của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam sơn tùng thoại cũng không nằm
ngoài quy luật chung đó
Có thể khẳng định rằng, tiền đề văn hóa, tư tưởng đã tác động mạnh mẽ đến sự hình thành tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt nói riêng và tư tưởng của ông nói chung Trong đó, tư tưởng giáo dục của Nho giáo là tiền đề
có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành tư tưởng này
Nho giáo không chỉ chủ yếu là một học thuyết chính trị- xã hội, đạo đức mà còn là một học thuyết giáo dục, ra đời và phát triển trong xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc Nho giáo do Khổng Tử (551 – 479 TCN) sáng lập và được các học trò của ông kế tục và phát triển Các tư tưởng của Nho giáo nói chung được thể hiện trong nhiều tác phẩm kinh điển của
Nho giáo bao gồm Tứ thư (Đại học, Trung dung, Mạnh tử và Luận ngữ) và
Ngũ kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch và Xuân Thu) Nho giáo bàn đến nhiều vấn đề
và nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và con người Mỗi giai đoạn phát triển của Nho giáo lại có những đặc trưng riêng, song tựu chung lại, tư tưởng của Nho giáo đề cập đến những vấn đề: Nguồn gốc của thế giới, con người, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới Trong đó, phần lớn nội dung của Nho giáo là những tư tưởng về chính trị - xã hội, về đạo đức
Xuất phát từ chính thực tiễn xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc là một giai đoạn “thiên hạ đạo loạn”, “vô đạo”, “lễ nhạc hoại băng”, là một xã hội rối loạn, không có trật tự, kỷ cương, vua không phải đạo vua, tôi không phải đạo tôi, cha không phải đạo cha, con không phải đạo con, v.v Hơn nữa, xuất phát từ lập trường của bộ phận cấp trên trong giai cấp quý tộc Chu, Khổng Tử chú trọng lập lại pháp chế, kỷ cương của nhà Chu Ông đã hệ thống lại những tư tưởng Nho giáo đã có trước đó để thành lập phái Nho gia
Theo Khổng Tử và nhiều nhà Nho, để khắc phục tình trạng xã hội “vô đạo” ấy thì cần phải xây dựng một xã hội đạo đức, những con người đạo đức
Trang 25và coi việc giáo dục đạo đức con người là quan trọng nhất, nhằm tạo dựng một xã hội mà ở đó mọi người luôn suy nghĩ và hành động theo đạo đức Theo Nho giáo, sự ổn định của xã hội và sự hạnh phúc của mỗi cá nhân trong
xã hội phụ thuộc chủ yếu vào việc giáo dục đạo đức của con người Và để giáo dục con người có đạo đức, trước hết phải xuất phát từ bản tính con người Từ đó, mới có thể đưa ra được mục đích, nội dung cũng như phương pháp giáo dục phù hợp và hiệu quả nhất
Có thể khái quát sơ lược quan niệm về bản tính con người của phái Nho gia như sau:
Quan niệm về bản tính con người được xuất hiện đầu tiên trong quan
điểm của Khổng Tử Mặc dù không được nhắc đến nhiều lần trong sách Luận
ngữ nhưng Khổng Tử cho rằng, bản tính của con người là cái vốn có và từ
khi con người được sinh ra, cái tính đó vốn là lành, ngay thẳng Tiếp theo, quan niệm này được Mạnh Tử kế thừa và phát triển thành học thuyết riêng, đó
là học thuyết “tính thiện” Trong học thuyết này, Mạnh Tử cho rằng, con người sinh ra vốn đã có “tính thiện”, nếu được giáo dục, bồi dưỡng thì tính thiện được lan tỏa và phát triển, còn nếu bỏ mặc thì nó sẽ bị mai một và biến mất Vì tính thiện là do trời phú cho nên nó là cái có sẵn, có tính tiên thiên Khác với quan điểm của Khổng Tử và Mạnh Tử, Tuân Tử quan niệm rằng, bản tính con người là “ác”, còn cái thiện là cái mà con người tạo ra sau này và chủ yếu là nhờ giáo dục, giáo hóa bằng đạo đức
Tóm lại, mặc dù quan điểm của các nhà Nho về bản tính của con người
có khác nhau nhưng đều có một điểm chung và thống nhất với nhau là họ rất cọi trọng và đề cao giáo dục,để con người trở nên có đạo đức,có ích cho xã hội Chính Khổng Tử là nhà giáo dục tư thục đầu tiên đưa ra mục đích giáo dục là đào tạo mẫu người lý tưởng, có đạo đức, hiểu biết sâu sắc về Đạo và thực hành Đạo trong xã hội để làm cho xã hội có đạo đức và được trị bình
Trang 26Ông là tấm gương tiêu biểu trong giáo dục với phương châm “ học không biết chán, dạy người không biết mệt mỏi”, không phân biệt nghèo, sang hèn, và với phương pháp giáo dục tiến bộ, theo đó học phải đi đôi với tập, với tư và với hành Nội dung giáo dục của Khổng Tử nói riêng và của Nho giáo nói chung đều hướng vào giáo dục đạo đức nhằm đào tạo ra mẫu người đủ đức,
đủ tài, đủ trí để phục vụ đất nước
Trên cơ sở quan niệm về bản tính người, phái Nho gia đã đi đến quan điểm về mục đích của giáo dục chính là đào tạo kẻ sĩ và người quân tử dạy đạo làm người theo những chuẩn mực đạo đức của Nho giáo, đồng thời đào tạo tầng lớp quan lại để bổ sung vào bộ máy nhà nước phong kiến đó chính là những con người có đạo đức, mẫu mực, có năng lực và phẩm hạnh, biết hành động theo lễ và đem tài đức của mình ra để hành đạo, để giúp người và giúp đời Theo Khổng Tử, để trở thành người có đức “Nhân” thì cần phải ra sức học tập đạo đức, trong đó tiêu chuẩn của người quân tử phải có ba đức cơ bản là: Nhân, Trí, Dũng Vì vậy, để đạt được mục đích giáo dục trên thì nội dung giáo dục xuyên suốt trong tư tưởng giáo dục của Nho gia là những chuẩn mực đạo đức như: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, hiếu, trung v.v Nội dung giáo dục Nho giáo chủ yếu là trang bị những kiến thức về văn chương, đạo đức, chính trị Vì vậy, trong tư tưởng giáo dục của Nho giáo, Nho giáo đặc biệt đề cao vai trò của đạo đức, giáo dục đạo đức đối với việc xây dựng và hoàn thiện đạo đức con người và trong việc xây dựng mẫu người phù hợp với yêu cầu của xã hội,
vì thế, nội dung cơ bản của tư tưởng giáo dục con người theo Nho giáo là
Đạo Đạo được xem như là sự vận động, biến hóa một cách có phép tắc, có
quy luật của trời, đất và người
Quan hệ cơ bản của đạo làm người là quan hệ giữa con người với con người, các nhà sáng lập Nho giáo đã dành cho lĩnh vực này một sự quan tâm đặc biệt Theo đó, con người tồn tại và quan hệ với nhau trong năm mối quan
Trang 27hệ (ngũ luân) và nhiều mối quan hệ khác nữa Trong từng mối quan hệ này, Nho giáo lại đưa ra những yêu cầu và quy phạm về mặt đạo đức để giáo dục, ràng buộc con người Theo đó, vua phải là người có Nhân, bề tôi phải trung thành với vua; cha phải từ, con phải hiếu; chồng phải có nghĩa với vợ, còn vợ phải “tùy” theo chồng; anh nhường em kính; bạn bè phải tin cậy nhau Có như vậy, mỗi người mới có đạo đức, xã hội mới có đạo đức, có trật tự, kỷ cương
và ổn định Nhưng để đạt được những mục đích trên đây, theo Nho giáo, trước hết và chủ yếu, mọi người phải được giáo dục, giáo hóa bằng đạo đức
Tóm lại, nội dung giáo dục chủ yếu của Nho giáo là những kiến thức văn chương, thông qua văn chương để giảng dạy đạo lý, các quy tắc hành xử của con người đồng thời là cung cấp những tri thức chính trị nhằm đạo tạo những con người có tri thức, sức khỏe và đạo đức để đảm đương công việc trị nước, an dân, đồng thời cũng góp phần vào việc xây dựng những con người
có hiểu biết và thực hành theo quy tắc xã hội, hay biết làm những việc hợp
“lễ”, tạo dựng sự nề nếp, ổn định xã hội
Để thực hiện mục đích giáo dục như trên và truyền tải được những nội dung giáo dục phong phú của mình, các nhà Nho đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp giáo dục như: phương pháp học đi đôi với hành tức đem tri thức của mình vận dụng vào thực tiễn, hay phương pháp “ôn cố tri tân” (ôn cũ để biết mới), đặc biệt trong giáo dục Nho giáo chú trọng nhiều đến phương pháp nêu gương, đây là phương pháo giáo dục chủ yếu và độc đáo của giáo dục Nho giáo đã có tác dụng mạnh mẽ đem lại hiệu quả cao trong quá trình giảng dạy và học tập Có thể nói, Nho giáo đã đưa ra những phương pháp rất cụ thể, thiết thực nhằm giúp cho học trò có thể lĩnh hội được tri thức, không ngừng hoàn thiện bản thân mình Nó cũng làm cho những nội dung của tư tưởng giáo dục trở nên phong phú, có ý nghĩa to lớn đối với không chỉ người học và còn với cả người thầy và hoạt động giáo dục nói chung
Trang 28Trên cơ sở những nội dung chủ yếu trong tư tưởng giáo dục của Nho giáo, Nguyễn Đức Đạt với tư cách là một nhà Nho, ông không thể không tiếp thu, chịu ảnh hưởng và hơn nữa là xây dựng nên tư tưởng giáo dục của mình
Có thể khẳng định rằng, tư tưởng Nho giáo nói chung và tư tưởng giáo dục của Nho giáo nói riêng là tiền đề trực tiếp, có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến
sự hình thành tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt
Nền giáo dục nước ta nảy sinh và phát triển trong lòng chế độ phong kiến qua các triều đại, tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt là sự tiếp nối trong dòng chảy lịch sử giáo dục truyền thống nước nhà, trong đó là sự kế thừa và phát huy từ các nhà Nho, nhà giáo trong truyền thống, tiêu biểu là tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm Nguyễn Trãi rất đề cao vai trò của giáo dục Theo ông, giáo dục đem lại sự hiểu biết, học để làm người và thành người, giáo dục cũng là môi trường để tạo cơ hội cho con người đỗ đạt, tiến thân góp phàn làm cho đất nước vững bền Nguyễn Trãi cũng xác định rõ vai trò của giáo dục là phải đào tạo được những con người có tài đức để phụng sự triều đình, thực hành nhân nghĩa để con người sống trong cảnh đất nước thái bình Ông đề cao tri thức, sự hiểu biết và rèn luyện đạo đức thông qua giáo dục nhưng ông cũng rất đề cao thực hành, coi trọng việc vận dụng kiến thức sách vở vào cuộc sống Tư tưởng này của ông chứng tỏ ông chịu ảnh hưởng của tư tưởng giáo dục Nho giáo về giáo dục khá rõ nét Những tư tưởng giáo dục tiến bộ của Nguyễn Trãi không chỉ được các thế hệ sau tiếp thu mà ngay chính trong thời đại đó, được vua Lê Thánh Tông tiếp thu và phát triển đưa vào giáo dục – khoa cử Nho học phát triển hưng thịnh vào nửa cuối thế kỷ XV
Tiếp đó là tư tưởng giáo dục của Lê Thánh Tông, trong lĩnh vực giáo dục – khoa cử thời Lê Thánh Tông trị vì, Nho giáo là học thuyết chiếm vị thế gần như tuyệt đối với nội dung giáo dục của Nho giáo được sử dụng trong quá
Trang 29trình giảng dạy Đồng thời, thông qua giáo dục để truyền bá tư tưởng Nho giáo và hệ tư tưởng Nho giáo một cách sâu rộng vào nhân dân nhằm đưa Nho giáo lên vị trí độc tôn Lê Thánh Tông đã đứng trên lập trường dân tộc để tiếp thu Nho giáo nhằm củng cố triều đình và duy trì trật tự xã hội Vì thế, tư tưởng giáo dục của ông thể hiện rõ trong tư tưởng của ông về mục đích, nội dung và phương pháp giáo dục của Nho giáo
Như vậy, tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam
sơn tùng thoại là sự tiếp nối những tư tưởng giáo dục và những thành tựu tiến
bộ của nền giáo dục Nho giáo ở Việt Nam nói chung đồng thời cũng là những thành tựu của nền văn hóa, tư tưởng Việt Nam nói riêng ở thế kỷ XIX Lịch
sử ghi nhận, từ rất lâu trong đời sống tinh thần, tư tưởng ở Việt Nam đã tồn tại hiện tượng tam giáo đồng nguyên, nghĩa là sự tồn tại và ảnh hưởng đồng thời của cả ba hệ tư tưởng: Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo Vì vậy, tư tưởng của Nguyễn Đức Đạt nói chung và tư tưởng về giáo dục của ông nói riêng xuất hiện trong bối cảnh Việt Nam chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo là
lẽ dĩ nhiên
Tóm lại, bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế - xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX vẫn chưa thực sự có những sự chuyển biến rõ nét.“Xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong đó mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa kinh tế và xã hội, giữa thực tiễn đất nước và ý muốn của nhà cầm quyền Có những mâu thuẫn nhà Nguyễn đã giải quyết đúng hướng, tích cực nhưng cũng có những mâu thuẫn nhà Nguyễn đành chịu bất lực, luẩn quẩn và bế tắc Sở dĩ như vậy là do ý muốn chủ quan, bảo thủ của nhà Nguyễn đi ngược lại xu thế phát triển của lịch sử cộng thêm vào đó là khả năng giải quyết bị hạn chế và cách giải quyết cực đoan nên cuối cùng triều Nguyễn đã lâm vào sự khủng hoảng toàn diện và triền miên Do vậy, đất nước
bị xâm lược” [26,tr.53]
Trang 30Sự xuất hiện tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt là kết quả của sự tích hợp của các yếu tố lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tư tưởng của thời đại cùng tài năng xuất sắc của ông, đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong sự vận động của lịch sử tư tưởng Việt Nam
1.2 Cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Đức Đạt và khái lược về tác phẩm
Nam Sơn tùng thoại
1.2.1 Cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Đức Đạt
Nguyễn Đức Đạt (1824 -1887), tự Khoát Như, hiệu Khả Am Chủ Nhân, Nam Sơn Chủ Nhân và Nam Sơn Dưỡng Tẩu, sinh ra tại làng Hoành Sơn, xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Nam Đàn là địa danh nổi tiếng về truyền thống hiếu học, cần cù lao động và tinh thần đấu tranh kiên cường bảo vệ nền độc lập của đất nước Chính vì vậy, mảnh đất này đã sản sinh ra những người con ưu tú của đất nước, những nhân vật lịch sử kiệt xuất
và đặc biệt là những nhà giáo dục lớn của quê hương, đất nước Nói đến lĩnh vực giáo dục – khoa cử trong thời kỳ này không thể không nhắc đến Nguyễn Đức Đạt Tư tưởng giáo dục của ông đã góp phần không nhỏ trong việc rèn luyện đạo đức, đào tạo những học trò đỗ đạt, thành danh trong đó hai tiến sĩ là Đinh Văn Chất và Nguyễn Đức Quý - hai học trò xuất sắc nhất của ông
Sinh ra trong một gia đình nhà Nho trên mảnh đất có truyền thống hiếu học, ngay từ khi còn nhỏ, Nguyễn Đức Đạt rất ham học hỏi Thuở còn nhỏ, cha dạy ông học, đến năm 19 tuổi mới bắt đầu phải đi học ở xa nhà Năm
1847, ông đậu cử nhân ở trường Nghệ Đầu đời vua Tự Đức, ông vào kinh thi
Hội, đến khoa Quý Sửu niên hiệu Tự Đức thứ 6 (1853) ông đỗ Thám hoa Sau khi thi đậu, ông được bổ chức Thị giảng ở Tập hiền viện Thời gian này, ông
thường đau ốm nên đến tháng 10 năm 1856, ông xin về quê dưỡng bệnh và đến đầu năm 1860 trở lại làm việc ở Kinh đô
Trang 31Năm 1863, ông được cử đi nhận chức Đề học Hà Nội Trên đường đi,
ông ghé thăm quê nhà, tổng đốc Nghệ An lúc đó là Vũ Trọng Bình mến tài đức của ông nên mời ông ở lại rồi xin triều đình bổ nhiệm làm đốc học Nghệ
An Ông giữ chức Đốc học Nghệ An đến năm 1865 thì có chiếu triệu về Kinh
đô và được thăng chức Chưởng ấn ngự sự ở Đô sát viện nhưng giữ chức này
không được bao lâu, vào tháng 8 năm1865 thân phụ ông mất, ông về quê chịu tang, ít lâu sau mẹ ông cũng qua đời
Trong thời gian cư tang, năm 1866, ông nhận lời đến dạy học ở làng Hương (huyện Nam Đàn) Sau đó vì học trò nghe tiếng tới xin học rất đông, dân làng Lãng Đông (nay là xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An) dựng một ngôi trường đón ông về dạy học
Mùa đông năm 1869, theo thỉnh cầu của Tổng đốc Nghệ An, triều đình
lại cử ông làm Đốc học tỉnh lần thứ hai Đến cuối năm 1871, ông được bổ làm quyền Án sát tỉnh Thanh Hóa, đến tháng 8 năm 1872, ông lại được triệu trở lại chức vụ cũ, làm Đốc học Nghệ An (lần thứ 3) Về Nghệ An chưa đầy 10 ngày, ông được thăng chức Bổ chánh sự kiêm chức tuần phủ tỉnh Hưng Yên Trong
thời điểm ấy, đất nước đang đứng trước sự lăm le, khiêu khích xâm lược của thực dân Pháp, Nguyễn Đức Đạt phải lo chống nạn thủy tai do hệ thống đê điều bị hư hỏng, vừa lo việc thuế má triều đình mới đặt ra làm tổn sức dân, lại phải giữ cho Hưng Yên được yên ổn trước sự nhòm ngó của thực dân Pháp Đến tháng 3 năm 1876, sau khi tờ sớ của ông xin hoãn thuế cho dân bị vua Tự Đức bác đi, lấy cớ ốm đau, Nguyễn Đức Đạt xin cáo quan về làng và tiếp tục
sự nghiệp dạy học
Giữa năm Đinh Sửu (1877), học trò cùng dân làng Hoành Sơn góp công sức, của cải dựng cho ông một gian nhà và một ngôi trường để ông sinh sống và dạy học Trong suốt 7 năm (1877- 1883), ông chuyên tâm vào công
Trang 32việc dạy học và viết sách Thời gian này ông dạy ở trường Đông Sơn hay còn gọi là trường Nam Sơn
Năm1885, khi phong trào Cần Vương bùng nổ, Nguyễn Đức Đạt nhận
được chiếu chỉ của vua Hàm Nghi giao cho ông làm Tổng đốc đóng tại làng
Hoành Sơn Hưởng ứng lời kêu gọi Cần Vương, Nguyễn Đức Đạt cùng nhiều người có cùng chí hướng đã tập hợp được mấy trăm nghĩa quân Thế nhưng, trong những buổi đầu của phong trào Cần Vương do chưa tập hợp được đông
đủ nhân dân trong làng Hoành Sơn tham gia nên khởi nghĩa đã bị thất bại Nguyễn Đức Đạt vì già yếu đành cải trang thành người mù đến lánh ở chùa Đông Sơn Gian nhà và ngôi trường của ông do dân làng dựng cho bị giặc đốt phá Đầu năm 1886, những vụ lùng quét của giặc tạm lắng, ông mới trở về gian nhà còn sót lại trên đống tro tàn Do tuổi cao, ông mất vào ngày mùng 1 tháng 2 năm 1887, thọ 63 tuổi
Như vậy, cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Đức Đạt trải qua nhiều thăng trầm do những biến động của tình hình thế giới, khu vực và trong nước Tất nhiên, những bối cảnh kinh tế - xã hội nước ta thế kỷ XIX cùng với những tiền đề về văn hóa, tư tưởng, giáo dục v.v là những điều kiện khách quan hình thành nên tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt Tuy nhiên, nếu chỉ có những tiền đề khách quan thì không thể làm xuất hiện nhà tư tưởng xuất sắc của thời đại, ở đó còn có vai trò của nhân tố chủ quan, đó chính là tài năng của cá nhân Nguyễn Đức Đạt trong việc nhận thức xã hội và qua đó khái quát lên thành những tư tưởng của mình
Quá trình tham gia dạy học đã giúp cho Nguyễn Đức Đạt có được môi trường, điều kiện để ông vận dụng quan điểm của mình về Nho giáo, về giáo dục thông qua các bài giảng của mình Ngoài ra, chính trong quá trình dạy học, ông nhận thấy những giá trị của Nho giáo, đặc biệt là đạo đức Nho giáo cần phải được các thế hệ học trò tiếp nhận và vận dụng vào việc xây dựng con
Trang 33người Với khát vọng rèn luyện đạo đức cho con người, đào tạo những người
có tài, đức để xây dựng đất nước đã hình thành nên tư tưởng giáo dục của ông với nhiều nội dung phong phú và đặc sắc Ngoài ra, là người được chứng kiến những biến đổi dữ dội của xã hội Việt Nam ở thế kỷ XIX, với lương tâm của một nhà Nho, một nhà giáo, ông luôn mong muốn dùng những kiến thức của mình vào việc giáo dục con người và xây dựng một xã hội ấm no cho tất cả mọi người Bối cảnh đó đã làm xuất hiện một nhà giáo dục xuất sắc của nước
ta thời kỳ phong kiến – Nguyễn Đức Đạt
1.2.2 Khái lược về tác phẩm Nam Sơn tùng thoại
1.2.2.1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Nam Sơn tùng thoại
Trong quá trình dạy học của mình, đặc biệt là giai đoạn dạy học tại trường Đông Sơn, Nguyễn Đức Đạt đã dành khá nhiều thời gian để viết sách
Giai đoạn này, ông đã soạn và cho in tới 4 cuốn sách, gồm Nam Sơn tùng
thoại (1880), Việt sử thặng bình và Hồ dạng thi tập (1881), Vịnh sử thi tập
(1883) Cả 4 cuốn sách trên đều là những công cụ hữu hiệu phục vụ cho công tác dạy học của ông, cung cấp cho người học những tri thức về nhiều lĩnh
vực.Trong số này, Nam Sơn tùng thoại ra đời đầu tiên và chiếm một vị trí khá
quan trọng trong tư tưởng và trong các trước tác của Nguyễn Đức Đạt
Chính trong Lời tựa của cuốn sách, Nguyễn Đức Đạt đã nêu lên lý do,
hoàn cảnh ra đời của tác phấm: “Nam Sơn ta ham xem sách, lại hay đau ốm, ngày tiến đạt thì ít, ngày ở quê thì nhiều Những điểm nhàn rỗi, ngồi bên lò lửa đem những chuyện thường nói cho đỡ mỏi Thường ngồi cùng với vài học trò ngồi trước cửa sổ quây quần nói chuyện, nói rất nhiều nhưng chỉ là thuận miệng nói ra thôi Nghe chuyện cũ, lời nói tuy khá hay nhưng đâu phải là đầy
đủ, ý tưởng ấy không thể coi là cớ (để làm sách) đâu Không ngờ các học trò quá nghe ta, cùng nhau thu nhặt, lựa thành tập, xếp thành 32 loại, bảo ta làm tựa rồi mọi người đến nói sắp cho in” [12, tr.1] Trước những mong muốn đó
Trang 34của học trò, ông đã xem xét cho in thành sách Theo những cứ liệu còn lại, sách này được soạn năm Tự Đức thứ 32 (1879) Học trò của ông biên tập và
tổ chức cho in vào năm Tự Đức thứ 33 (12/1880)
Như vậy, trong bối cảnh sách vở do người Việt soạn được sử dụng
trong các ngôi trường Nho học còn rất hạn chế thì sự ra đời của Nam Sơn tùng
thoại có ý nghĩa quan trọng trong việc biên soạn sách phục vụ cho quá trình
dạy học của người Việt
1.2.2.2 Kết cấu và nội dung chính của tác phẩm
Tác phẩm gồm 4 quyển, chia thành 32 thiên như sau:
Quyển một: Gồm 10 thiên
Thiên thứ nhất: Học vấn Bàn về những vấn đề liên quan đến việc học
tập như: học cái gì, học để làm gì, và học như thế nào?
Thiên thứ hai: Đại đạo Đề cao giá trị của Đạo, đề ra cách thức hay
phương pháp để đạt tới Đạo
Thiên thứ ba: Thư tịch Chủ yếu bàn về sách vở
Thiên thứ tư: Văn chương Chủ yếu bàn về văn chương, cách làm văn
chương và các thể loại văn chương
Thiên thứ năm: Sư hữu Bàn về mối quan hệ thầy trò, bạn bè, giá trị của
các mối quan hệ đó
Thiên thứ sáu: Chí hạnh Bàn về đức của người quân tử, kẻ sĩ
Thiên thứ bảy: Sự ngôn Bàn về mối quan hệ giữa lời nói và việc làm,
về cách hành xử
Thiên thứ tám: Đức tính Bàn về đạo đức, tâm tính của con người
Thiên thứ chín: Tài tình Bàn về tài năng của mỗi con người, khẳng
định những tố chất thiên phú nhưng vẫn coi trọng hơn vai trò của việc học, vai trò quyết định của việc học đối với tài năng và tâm tính của mỗi con người
Thiên thứ mười: Sĩ tiến Bàn về đạo làm quan
Trang 35Quyển hai: gồm 8 thiên
Thiên thứ mười một: Trị đạo Bàn về cách cai trị đất nước Trong đó,
những người cai trị cần phải có các phẩm chất như: thanh liêm, cần kiệm, có lòng nhân nghĩa, giữ đúng bổn phận, hết lòng vì công việc, vì dân
Thiên thứ mười hai: Pháp chế Bàn về chế độ pháp luật, sự cần thiết
phải lập pháp chế Pháp luật là cần thiết nhưng cần hơn vẫn là giáo hóa để mọi người đều theo chính đạo, không vi phạm pháp luật
Thiên thứ mười ba: Chính thuật Bàn về thuật thi hành chính sự
Thiên thứ mười bốn: Binh yếu Bàn về những vấn đề trọng yếu của binh
pháp.Phải dùng nhân, lễ, nghĩa để bảo về đất nước
Thiên thứ mười lăm: Quốc dụng Bàn về sự chi dùng của quốc gia như:
thu thuế, tích trữ, sản xuất v.v
Thiên thứ mười sáu: Hình thưởng Bàn về việc thưởng phạt.Thưởng
phạt phải nghiêm minh, đúng người, đúng mức
Thiên thứ mười bảy: Lễ nhạc Bàn về Lễ Nhạc Lễ là tiết độ, chừng
mực Mối quan hệ giữa Lễ và Nhạc
Thiên thứ mười tám: Tri nhân Bàn về việc tìm hiểu con người
Quyển ba: gồm 8 thiên
Thiên thứ mười chín: Nhậm sử Bàn về cách dùng người của vua và
cách thi hành chức trách của các quan
Thiên thứ hai mươi: Quân đạo Bàn về đạo làm vua, vua phải có đức,
phải hết lòng vì công việc, yêu mến dân
Thiên thứ hai mươi mốt: Thần liêu Bàn về đạo bề tôi Bề tôi phải hết
lòng vì vua, đối với công việc phải tận tụy mà không tham lam
Thiên thứ hai mươi hai: Tự luận Bàn về đạo lý trong gia đình, mọi
người phải thành thực với nhau, giữ đúng bổn phận, có trách nhiệm
Trang 36Thiên thứ hai mươi ba: Thánh hiền Bàn về các bậc thánh hiền như
Nghiêu, Thuấn, Khổng, Mạnh
Thiên thứ hai mươi tư: Thuật nghiệp Bàn về cách lập nghiệp.Cách lập
nghiệp là phải chú trọng đến việc học tập
Thiên thứ hai mươi lăm: Bách gia Bàn về thuyết của Bách gia như:
Khổng Tử, Mặc Tử, Lão Tử, Trang Tử
Thiên thứ hai mươi sáu: Thiệp thế Bàn về việc dấn thân vào cuộc sống
Cần phải có đạo đức, biết khiêm nhường, nhẫn nhịn đồng thời cũng cần phải giữ mình
Quyển bốn: gồm 6 thiên
Thiên thứ hai mươi bảy: Danh phẩm Bàn về danh dự và phẩm giá của
con người
Thiên thứ hai mươi tám: Vận số Bàn về thời vận, số mệnh Thời vận
hay số mệnh đều tự ở con người, không phải tại trời Làm ác thì chịu tai ác, làm thiện thì được hưởng phúc lành
Thiên thứ hai mươi chín: Phúc đức Bàn về phúc và đức của mỗi người,
quan hệ giữa phúc và đức: có đức thì được hưởng phúc, làm việc thiện để tích đức
Thiên thứ ba mươi: Bình cư Nói về cách ăn ở, sinh hoạt, đối nhân xử
thế trong cuộc đời của Nguyễn Đức Đạt Trong thiên này, cũng trình bày một
số sự kiện liên quan đến cuộc đời ông
Thiên thứ ba mươi mốt: Cách vật Bàn về cách tìm hiểu, nhìn nhận sự
vật, sự việc Qua đó nắm rõ bản chất của đối tượng để phát huy hết khả năng của nó
Thiên thứ ba mươi hai: Đàm dư Bàn tản mạn về nhiều thứ khác nhau,
vì vậy nội dung không nhất quán vào một chủ đề nhất định
Như vậy, Nam Sơn tùng thoại là một tác phẩm lớn, chứa đựng nhiều
nội dung từ những vấn đề về sử học, văn học, địa lý, chính trị, đạo đức, tôn
Trang 37giáo, pháp luật, các mối quan hệ xã hội và cách hành xử v.v Qua đó, có thể khẳng định rằng, đây là một tập sách lớn, có vị trí quan trọng trong các trước tác của Nguyễn Đức Đạt, có ảnh hưởng nhất định trong giới học thuật trong một giai đoạn lịch sử nên được nhiều người biết đến và có những tìm hiểu, phân tích và đánh giá Ngay sau khi ra đời, tập sách này được các học trò của ông ở trường Đông Sơn háo hức đón nhận, bởi nó là sự đúc kết của nhiều giá trị tư tưởng và học thuật của cả cuộc đời nhà giáo Nam Sơn
Trong phạm vi đề tài, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu nội dung tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt thể hiện trong tác phẩm này mà thôi Các nội dung khác trong tác phẩm chỉ là những gợi ý, gợi mở để chúng tôi hoàn thành mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Trang 38Tiểu kết chương 1
Nguyễn Đức Đạt là một nhà giáo dục lỗi lạc cuối thế kỷ XIX Sinh ra trong một gia đình nhà Nho với truyền thống hiếu học, ông đã có một nền học vấn sâu rộng về nhiều vấn đề của xã hội Nguyễn Đức Đạt đã để lại nhiều thành tựu trong lĩnh vực khảo cứu, biên soạn v.v
Những biến động về kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX là nền tảng cho sự hình thành tư tưởng về giáo dục của Nguyễn Đức Đạt
thể hiện trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại Tác phẩm này ra đời là sản
phẩm của lịch sử, thể hiện rõ ràng và sâu sắc về những mối bận tâm của tác giả về các vấn đề của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ như: Vấn đề về chính trị, vấn đề quân sự, đạo đức v.v và đặc biệt là một nhà giáo ưu tú, Nguyễn Đức Đạt dành sự quan tâm của mình đến giáo dục với mong muốn xây dựng một nền giáo dục tiến bộ, có ích cho nước nhà
Để hiểu sâu sắc hơn về vấn đề này, chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu các nội dung chính trong tư tưởng giáo dục của ông như quan niệm của ông
về vai trò của giáo dục, phương châm của giáo dục, nội dung của giáo dục và
phương pháp giáo dục qua nghiên cứu tác phẩm Nam Sơn tùng thoại Với
những nội dung như vậy, tác phẩm ra đời không chỉ có ý nghĩa trong bối cảnh
xã hội lúc đó, mà nó còn thực sự thể hiện được giá trị của nó trong thời đại ngày nay và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc
Trang 39Chương 2: TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA NGUYỄN ĐỨC ĐẠT TRONG
TÁC PHẨM “NAM SƠN TÙNG THOẠI”:
NỘI DUNG CƠ BẢN, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ
Nguyễn Đức Đạt là một nhà Nho chân truyền, ngoài những năm tháng làm quan thì phần lớn thời gian Nguyễn Đức Đạt dành thời gian cho dạy học
và viết sách Điều đó giúp ta dễ dàng hơn khi nghiên cứu và đánh giá tư tưởng
giáo dục của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại Vì nội
dung chủ yếu của Nho giáo là đề cập đến nhiều vấn đề về chính trị - xã hội và đạo đức, cho nên tư tưởng giáo dục của Nho giáo thực chất là giáo dục đạo đức Vì vậy, tư tưởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt không tách rời tư tưởng
về giáo dục của Nho giáo nói chung và tư tưởng đạo đức của Nho giáo nói riêng Tư tưởng này được cụ thể hóa thông qua chính quá trình dạy học của ông trên tất cả các khía cạnh từ vai trò, mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục
2.1 Tư tưởng của Nguyễn Đức Đạt về mục đích của giáo dục
Sống trong thời buổi loạn lạc, khi chế độ quân chủ rơi vào khủng hoảng, đất nước suy yếu cùng lúc là họa xâm lược của phương Tây, Nguyễn Đức Đạt đã từ quan về quê lo việc dạy học Hơn nữa, nền giáo dục Việt Nam được nảy sinh và phát triển trong lòng chế độ phong kiến với tư tưởng độc tôn Nho thuật, lấy Nho giáo làm tư tưởng chủ đạo nên mục đích giáo dục của Nguyễn Đức Đạt cũng không nằm ngoài mục đích giáo dục của Nho giáo Nguyễn Đức Đạt là người theo Nho, hành theo đạo Nho, giáo dục con người
và xã hội theo đạo Nho Điều đó chứng tỏ rằng, ông đã nhận thức rõ tác dụng, vai trò của giáo dục Nho giáo đối với sự phát triển của cá nhân và xã hội Tuy nhiên theo ông, đó không phải là sự sao chép đơn thuần mà cần phải tiếp thu những yếu tố tiến bộ và bổ sung thêm
Trang 40Giống như Luận ngữ của Khổng Tử, Nam Sơn tùng thoại đã được mở
đầu bằng việc bàn về giáo dục và học tập; sách cũng được trình bày dưới dạng vấn đáp, tản văn Điều này cho thấy rằng, cũng như Khổng Tử, Nguyễn Đức Đạt là người thầy, do đó việc dạy và học được ông quan tâm hàng đầu cùng những lời răn của ông đối với học trò
Trước hết, Nguyễn Đức Đạt là người đề cao vai trò của việc học khi ông cho rằng, giáo dục đem lại sự hiểu biết, thúc đẩy ý chí phấn đấu và tu dưỡng đạo đức của con người Ông nhận thấy, nhờ có học mà “người dại cũng hóa khôn Không học thì khôn không bằng dại” Nhờ có học mà con người có thể thay đổi được tư chất vốn có của mình, như ông nói: “đục khắc mãi thì vật rắn đến đâu cũng phải thủng, uốn mãi không thôi thì gỗ thẳng nào cũng phải cong Đường bích cứng rắn thế mà còn có thể đẽo khắc để làm đồ dùng huống chi là tâm lý Cho nên, chịu khó học thì người ngu cũng hóa
khôn, không học thì khôn không bằng dại” [12,tr.4] Về vấn đề này, thiên Chí
hạnh, trong sách Nam Sơn tùng thoại có ghi chép rằng: Có người hỏi : Tư
chất nhút nhát khó trở nên cứng cỏi, tư chất ngu độn khó trở nên sắc sảo được thì làm thế nào? thì ông đáp “Không có lúc cứng cỏi sao có lúc nhút nhát? Không có lúc sắc sảo sao có lúc ngu độn? Muốn trở lại cứng và sắc, không gì bằng học Miếng bùn mềm đen nung lên thì rắn ngang với đá, mảnh sắt mài đi thì sắc cắt đứt da ” [12, tr.72] Từ đó, Ông khẳng định, “Người quân tử chẳng gì làm cho thông hơn đi học, không gì làm cho dốt hơn là việc chán học, không gì linh hơn đi học, không gì xuẩn hơn bỏ học” [12, tr.9]
Như vậy, ngay từ những trang đầu của cuốn sách, Nguyễn Đức Đạt đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc học trong việc tích lũy tri thức, mang đến sự hiểu biết cho con người trong cuộc sống Nói khác đi, chỉ có việc học mới tạo nên sức mạnh giúp con người chinh phục thiên nhiên và hoàn thiện được nhân cách và không ngừng tích lũy kinh nghiệm, tri thức để phục vụ cho