1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thái độ của sĩ phu bắc hà với phong trào tây sơn (1771 1802)

107 1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về thái độ sĩ phu Bắc Hà với phong trào Tây Sơn là một việc làm có ý nghĩa thiết thực, góp phần làm sáng tỏ hơn các khía cạnh của lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII vốn đã đầy

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Đinh Thị Hằng Nga

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc tới PGS.TS Vũ Văn Quân, người

đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn toàn thể thầy, cô giáo Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, thư viện trường, các thầy, cô và các bạn trong tập thể lớp cao học Lịch sử Việt Nam QH-2013 đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã hỗ trợ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi học tập, nghiên cứu và làm luận văn

Chân thành cảm ơn

Tác giả

Đinh Thị Hằng Nga

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC BẢNG 3

MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT BỐI CẢNH LỊCH SỬ CUỐI THẾ KỶ XVIII 9

1.1 Khủng hoảng xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII 9

1.2 Vài nét về phong trào Tây Sơn 11

1.2.1 Tây Sơn dựng cờ khởi nghĩa, đánh đổ chế độ chúa Nguyễn ở Đàng Trong, chính quyền Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài 11

1.2.2 Kháng chiến chống quân xâm lược bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc 14

1.2.3 Xây dựng lại giang san 22

1.2.4 Chính sách đối ngoại với nhà Thanh 24

Tiểu kết 26

CHƯƠNG 2: KHUYNH HƯỚNG TƯ TƯỞNG CỦA SĨ PHU BẮC HÀ VỚI PHONG TRÀO TÂY SƠN (1771-1802) 28

2.1 Các sĩ phu Bắc Hà thời Tây Sơn 28

2.1.1 Quan niệm chung về sĩ phu 28

2.1.2 Sĩ phu Bắc Hà trong thời Tây Sơn 29

2.2 Thái độ ủng hộ Tây Sơn 31

2.2.1 Nguyễn Đề 34

2.2.2 Đoàn Nguyễn Tuấn 35

2.2.3 Nguyễn Gia Phan 37

2.2.4 Vũ Huy Tấn 38

2.2.5 Nguyễn Huy Lượng 39

2.2.5 Phan Huy Ích 39

Trang 6

2.2.6 Ngô Thì Nhậm 41

2.2.7 Nguyễn Thiếp 45

2.3 Khuynh hướng chống Tây Sơn, không ủng hộ Tây Sơn, muốn phục hưng triều Lê - Trịnh 46

2.3.1 Lý Trần Quán 51

2.3.2 Lê Quýnh 51

2.3.3 Trần Công Xán 53

2.3.4 Phạm Thái 56

2.3.5 Nguyễn Hành 57

2.3.6 Ngô Thì Chí 58

2.3.7 Nguyễn Du 58

2.4 Thái độ không rõ ràng 62

2.4.1 Nguyễn Huy Tự 68

2.4.2 Bùi Huy Bích 69

2.4.3 Phạm Nguyễn Du 71

2.4.4 Ngô Thì Đạo 72

2.4.5 Bùi Dương Lịch 73

Tiểu kết 78

CHƯƠNG 3: ĐÓNG GÓP CỦA SĨ PHU BẮC HÀ VỚI PHONG TRÀO TÂY SƠN 79

3.1 Chính trị 79

3.2 Kinh tế 85

3.3 Quân sự 88

3.4 Văn hóa 92

Tiểu kết 96

KẾT LUẬN 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Danh sách các sĩ phu Bắc Hà ủng hộ phong trào Tây Sơn 31 Bảng 2.2 Danh sách các sĩ phu Bắc Hà chống đối phong trào Tây Sơn 46 Bảng 2.3 Danh sách các sĩ phu Bắc Hà có thái độ không rõ ràng với phong

trào Tây Sơn 62

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chế độ phong kiến Việt Nam cực thịnh vào thế kỷ XV, sang thế kỷ XVI, XVII chế độ này đã bộc lộ những dấu hiệu khủng hoảng với sự chia cắt đất nước thành Bắc Triều và Nam Triều rồi Đàng Trong và Đàng Ngoài Cùng với đó là liên tiếp các cuộc chiến tranh giữa hai miền càng làm xã hội trở nên bất ổn Hệ quả của

nó là hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra trên phạm vi cả nước Trong đó, tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn Cuộc khởi nghĩa đã giành được thắng lợi

vẻ vang trên nhiều phương diện: Đánh đổ các tập đoàn phong kiến đã thối nát, đánh tan quân xâm lược Xiêm - Thanh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của dân tộc Tuy nhiên, sau khi vua Quang Trung mất, chính quyền Tây Sơn lục đục và đó là cơ hội để Nguyễn Ánh đánh bại triều Tây Sơn, lập lên vương triều nhà Nguyễn

Sĩ phu Bắc Hà được nhắc đến nhiều trong giai đoạn cuối thế kỷ XVIII, Trịnh

- Nguyễn phân tranh và dưới thời Tây Sơn Trước hoàn cảnh lịch sử mới, giới nho

sĩ Bắc Hà đã buộc phải đứng trước sự lựa chọn mang tính bước ngoặt: Hoặc theo phong trào Tây Sơn để xây dựng nên cơ nghiệp mới nhưng buộc phải “từ bỏ” lòng trung quân đối với chính quyền Lê - Trịnh Một bộ phận khác nặng lòng với chế độ

cũ muốn phục dựng lại nhưng thế và lực yếu ớt Bên cạnh đó, một bộ phận sĩ phu sống ẩn mình, thờ ơ với thời cuộc Nghiên cứu về thái độ sĩ phu Bắc Hà với phong trào Tây Sơn là một việc làm có ý nghĩa thiết thực, góp phần làm sáng tỏ hơn các khía cạnh của lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII vốn đã đầy biến động Mặt khác, nghiên cứu thái độ của sĩ phu Bắc Hà với phong trào Tây Sơn còn nhằm giúp cung cấp thông tin, tài liệu, kiến thức cho học sinh trung học phổ thông về thời kỳ trung đại lịch sử Việt Nam Từ những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Thái độ của sĩ phu Bắc Hà với phong trào Tây Sơn (1771-1802)” làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Phong trào Tây Sơn là đề tài lớn, đã thu hút sự chú ý, quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước Các nhà nghiên cứu đã tiến hành tìm hiểu,

Trang 9

nghiên cứu về phong trào Tây Sơn, về lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII trên nhiều phương diện, khía cạnh khác nhau Những công trình này gồm có các nhóm sau:

Nhóm công trình thông sử về lịch sử Việt Nam nói chung và giai đoạn

1771-1802 nói riêng Các tác phẩm này đã khái quát bối cảnh lịch sử, các giai đoạn phát triển của lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ đồng thời làm rõ những diễn biến chung nhất của “Thời đại Tây Sơn” Trước hết, phải kể đến các bộ thông sử đồ sộ của triều

Nguyễn như Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương

mục, tập 1-2, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập I-V, Nxb Thuận Hoá, Huế Các cuốn sử này đã cho chúng ta cái nhìn khái

quát về diễn biến lịch sử sôi động 30 năm cuối thế kỷ XVIII Tuy nhiên, dưới con mắt của một vương triều đối địch, phần viết về vương triều Tây Sơn vẫn có những thiên kiến nhất định

Phạm Văn Sơn với Việt sử tân biên từ Tây Sơn đến Nguyễn Sơ, Nhà sách

Khai Trí, Sài Gòn là một bộ sách quy mô về Lịch sử Việt Nam, gồm 5 tập, chia làm

7 quyển phát hành từng tập từ năm 1956 đến năm 1972 tại Sài Gòn Trong đó, Quyển 4 là từ Tây Sơn mạt điệp đến Nguyễn sơ

Nhóm công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp tới phong trào Tây Sơn Các tác phẩm này đã nghiên cứu trực tiếp về phong trào Tây Sơn từ nhiều góc cạnh, trên tất cả các phương diện như kinh tế - chính trị - quân sự - văn hóa - xã hội Tiêu biểu

nhất là Tạ Chí Đại Trường (1973), Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802,

Văn Sử Học, Sài Gòn Trong tác phẩm này, người đọc sẽ tìm thấy trong cuốn sách giá trị của một công trình khoa học thật sự với những biến cố, những nhân vật trong một thời kỳ bi thương của lịch sử nước nhà Trong đó có cả những trận chiến chống quân xâm lược oai hùng nhất như: Rạch Gầm - Xoài Mút, Ngọc Hồi - Đống Đa… nhưng bên cạnh đó còn là nỗi đau của cảnh nồi da, xáo thịt giữa những người có cùng một gốc gác mẹ cha

Hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế (2009), Tây Sơn - Thuận Hóa và

anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ Quang Trung, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Đây là cuốn kỷ yếu khoa học tập hợp các bài nghiên cứu trong cuộc Hội thảo lần

Trang 10

thứ 5 về Quang Trung và thời Tây Sơn được tổ chức tại Huế Các báo cáo có nhiều kết quả nghiên cứu mới dựa trên nguồn tư liệu được cập nhật qua nhiều kênh, nhiều nghiên cứu từ khảo sát các tư liệu điền dã ở các địa bàn gắn với phong trào và vương triều Tây Sơn Qua những tư liệu mới, hội thảo tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của vua Quang Trung trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất, bảo vệ đất nước

Nhóm công trình đề cập tới các sĩ phu Bắc Hà trong thời Tây Sơn như: Trần

Quốc Vượng (2004), Danh nhân Hà Nội, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội; Văn Tân (1974), Ngô Thì Nhậm - Con người và sự nghiệp, Ty Văn hoá - Thông tin Hà Nội xuất bản; Khai Sinh (1953), Trần Danh Án, một chí sĩ đời cuối Lê, Đông Tây xuất bản; Nguyễn Thị Phượng (1995), Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Đề Nhà xuất bản Khoa học xã hội; Phạm Thế Ngũ (1963), Mai Quốc Liên (2001), Ngô Thì Nhậm, Tác

phẩm I, Nxb Văn học; Trần Nghĩa (1973), Tìm hiểu thái độ chính trị của Ngô Thì Nhậm, Tạp chí Văn học, số 4; Văn Tân (1973), Ngô Thì Nhậm, một trí thức sáng suốt

và dũng cảm đã đi theo nông dân khởi nghĩa Tây Sơn, tạp chí Nghiên cứu lịch sử; Lê

Sỹ Thắng (1974), Vài ý kiến góp về vấn đề đánh giá một số nhân vật thời Tây Sơn, tạp chí Triết học, số 5; Tảo Trang (1973), Bước đầu tìm hiểu về một số nhà văn trong

Ngô gia văn phái, Tạp chí Văn học, số 5; Phan Huy Lê (1974), Đô Đốc Đặng Tiến Đông, một tướng Tây Sơn chỉ huy trận Đống Đa, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 154;

Vũ Khiêu (1973), Vấn đề đánh giá Ngô Thì Nhậm, tạp chí Văn học số 4…

Các tác phẩm này đã cho chúng ta cái nhìn về tình hình các sĩ phu Bắc Hà trong giai đoạn biến loạn hồi cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX Tuy nhiên, đó mới chỉ là cái nhìn riêng lẻ về từng cá nhân hoặc nhóm người mà chưa có sự tổng thể, khái quát

Nhìn chung, những công trình ở trên đã đề cập ở những góc độ và mức độ khác nhau liên quan đến phong trào Tây Sơn và các sĩ phu Bắc Hà giai đoạn cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX Kết quả nghiên cứu và những tư liệu quý báu của các công trình này là cơ sở để tác giả kế thừa, vận dụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện luận văn Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề

Trang 11

thái độ của sĩ phu Bắc Hà trước phong trào Tây Sơn một cách hệ thống, tổng quá dưới góc nhìn lịch sử Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là làm sáng tỏ thái độ của sĩ phu Bắc Hà với phong trào

Tây Sơn (1771-1802)

Nhiệm vụ nghiên cứu là làm rõ các điều kiện chủ quan, khách quan tác động

đến thái độ, cách thức phản ứng của tầng lớp sĩ phu với phong trào Tây Sơn

Làm rõ những kết quả phong trào Tây Sơn đã đạt được từ đó có cách nhìn nhận, đánh giá về sự đóng góp của tầng lớp sĩ phu với phong trào Tây Sơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu thái độ của sĩ phu Bắc Hà với phong trào Tây Sơn

Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: Thái độ của tầng lớp sĩ phu Bắc Hà với phong trào Tây Sơn

Về thời gian: Từ năm 1771-1802, tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu tác giả có đề cập đến một số sự kiện trước và sau khoảng thời gian trên

Về không gian: Ở Đàng Ngoài

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh

Nguồn tư liệu tác giả sử dụng gồm hai nhóm chủ yếu sau:

Nhóm nguồn là các thư tịch cổ đã được các học giả, nhà nghiên cứu tiến

hành dịch ra chữ Quốc ngữ như: Đại Nam thực lục, Hoàng Lê nhất thống chí, Đại

Nam nhất thống chí, Đại Nam liệt truyện, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí…

Nhóm thứ hai là nhóm các công trình nghiên cứu đã được in thành sách, các bài nghiên cứu được đăng lên các tạp chí có đề cập đến phong trào Tây Sơn, tầng lớp

sĩ phu cuối thế kỷ XVIII, tình hình kinh tế - xã hội đất nước nửa cuối thế kỷ XVIII

Trang 12

6 Đóng góp của luận văn

Khái quát được phong trào Tây Sơn (1771-1802), làm nổi bật được thái độ của sĩ phu Bắc Hà với phong trào Tây Sơn Qua đó, nhận xét, đánh giá về phong trào Tây Sơn cũng như tầng lớp sĩ phu Bắc Hà cuối thế kỷ XVIII

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho quá trình giảng dạy ở trường trung học cơ sở, trung học phổ thông

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 Khái quát bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ XVIII

Chương 2 Khuynh hướng tư tưởng của sĩ phu Bắc Hà với phong trào Tây Sơn (1771-1802)

Chương 3 Đóng góp của sĩ phu Bắc Hà với phong trào Tây Sơn

Trang 13

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT BỐI CẢNH LỊCH SỬ CUỐI THẾ KỶ XVIII

1.1 Khủng hoảng xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII

Từ những thế kỷ trước, do việc tranh giành quyền lợi giữa các tập đoàn phong kiến, đất nước đã tạm thời bị chia cắt làm hai, lấy sông Gianh làm ranh giới Phía Bắc là Đàng Ngoài dưới sự cai trị của vua Lê - chúa Trịnh; phía Nam là Đàng Trong dưới sự cai trị của chúa Nguyễn

Ở Đàng Ngoài, vua Lê chỉ là bù nhìn, quyền hành tập trung trong tay chúa Trịnh Từ giữa thế kỷ XVIII, chính quyền họ Trịnh ngày càng trở nên thối nát, các chúa thi nhau ăn chơi, hưởng lạc, tiêu phí tiền của, công sức của nhân dân vào những công trình xây dựng, những cuộc du ngoạn tốn kém Cảnh ăn chơi của chúa Trịnh được mô tả: “Mỗi tháng, ba bốn lần chúa ngự chơi cung Thúy Liên trên bờ hồ Tây, binh lính dàn hầu vòng quanh bốn mặt bờ hồ, các kẻ nội thần đều bịt khăn mặc

áo đàn bà, dàn bày bách hóa chung quanh bờ hồ đề bán” [41, tr 26] Đời sống nhân dân, nhất là nông dân hết sức khốn khổ Nạn phu phen, tạp dịch, thuế khóa nặng nề Khắp nơi đồng ruộng bỏ hoang, chợ búa tiêu điều, xơ xác Tình cảnh xã hội hết sức thê thảm, nhà sử học Phan Huy Chú đã phê phán chính sách kinh tế của chúa Trịnh

“Vì trưng thu quá mức, dân kiệt cả vật lực mà không thể nộp đủ đến nỗi thành ra bần cùng mà phải bỏ nghề nghiệp Có người vì thuế sơn mà phải chặt cây sơn, có người vì thuế vải lụa mà phải phá khung cửi Cũng có người phải nộp gỗ cây mà phải bỏ rìu búa, vì thu cá tôm mà phải xé lưới chài, vì phải nộp mật mía mà không dám trồng mía, vì phải nộp bông chè mà bỏ hoang vườn tược” [37, tr 80]

Bước sang thế kỷ XVIII, Đàng Trong đã không giữ được sự ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế như thời kỳ trước Chiến tranh kéo dài đã làm cho kinh tế Đàng Trong trở nên kiệt quệ, chính quyền Đàng Trong cũng bước vào thời kì suy thoái Nạn chiếm đoạt ruộng đất của giai cấp địa chủ, tệ tham nhũng của quan lại,

sự gia tăng thuế má, phu phen, tạp dịch… đã đẩy dân chúng vào tình trạng khốn quẫn, khiến xã hội càng phân hóa mạnh

Trang 14

Bọn quý tộc, quan lại Đàng Trong cũng đua nhau ăn chơi, hưởng lạc như nhận xét của Lê Quý Đôn: “Từ quan to đến quan nhỏ, nhà cửa chạm trổ, tường xây bằng gạch đá, trướng vóc màn the, đồ dùng toàn bằng đồng, bằng sứ, yên ngựa, dây cương đều nạm vàng nạm bạc, áo quần là lượt nệm hoa, chiếu mây, lấy phú quý, phong lưu để khoe khoang lẫn nhau… Họ coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, hoang phí vô cùng” [42, tr 369]

Bộ máy quan liêu họ Nguyễn ngày càng thêm nặng nề và trở thành công cụ bóc lột vơ vét làm giàu của bọn quan lại Số lượng quan lại các cấp cũng tăng lên theo sự phát triển của nạn mua quan bán tước Chế độ chính trị đó khiến cho sức sản xuất xã hội bị ngưng trệ, nhân dân càng thêm khổ cực, điêu linh

Như vậy, có thể thấy, từ giữa thế kỷ XVIII, các chính quyền phong kiến Việt Nam suy thoái, khủng hoảng trầm trọng: Kinh tế trì trệ, chính trị không ổn định, đời sống nhân dân cực khổ, mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt Trước tình hình đó, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa đã nổ ra ở khắp cả nước

Ở Đàng Ngoài, có nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra Vùng Hải Dương có cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển, Vũ Trác Oánh Nam Định có cuộc khởi nghĩa của Tú Cao, Vũ Đình Dung, Đoàn Danh Trấn; Lạng Sơn có Toản Cơ… Không ít những cuộc khởi nghĩa kéo dài trên 10 năm như cuộc khởi nghĩa ở vùng Bắc Hà do Nguyễn Hữu Cầu chỉ huy, khởi nghĩa ở vùng Sơn Tây do Nguyễn Danh Phương lãnh đạo Cuộc khởi nghĩa của Hoàng Công Chất ở Tây Bắc đã duy trì được

30 năm (1739-1769), khởi nghĩa của Lê Duy Mật ở Thanh Hóa cũng tồn tại trên 30 năm (1738-1770)

Phong trào nổi dậy của các tầng lớp nhân dân, nông dân, dân tộc thiểu số ở Đàng Trong cũng vô cùng sôi nổi Cuộc nổi dậy của nông dân và thương nhân dưới

sự lãnh đạo của Linh Vương và Quảng Phú ở Quảng Ngãi, Quy Nhơn năm 1695; cuộc nổi dậy do Lý Văn Quang, một thương nhân Hoa kiều lãnh đạo nổ ra ở Trấn Biên năm 1747 Cuộc đấu tranh của đồng bào thiểu số như đồng bào Chăm ở Trấn Biên (Gia Định) do Dương Bao Lai và Diệp Mã Lăng lãnh đạo năm 1746, cuộc nổi dậy của dân tộc Hrê ở Quảng Ngãi năm 1770

Trang 15

Đến nửa sau thế kỷ XVIII thủ lĩnh nông dân ở Quảng Ngãi là chàng Lía đã lãnh đạo nghĩa binh nổi dậy giết bọn địa chủ, cường hào với khẩu hiệu “Lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo” có lúc đánh bại cả quân của chúa Nguyễn Cuộc khởi nghĩa của chàng Lía tuy bị dập tắt nhưng hình ảnh của “chàng Lía” và nghĩa quân vẫn in đậm trong lòng người dân Quảng Ngãi Các cuộc khởi nghĩa diễn ra triền miên suốt thế kỷ XVIII cùng các cuộc chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến Việt Nam với các nước lân bang càng làm cho đất nước trở nên rối loạn phản ánh một tình trạng khủng hoảng toàn diện, trầm trọng của chế độ phong kiến ở cả hai miền và là những tín hiệu báo trước một cơn bão lớn của phong trào nông dân vùng lên đấu tranh rộng lớn trong phạm vi toàn quốc

1.2 Vài nét về phong trào Tây Sơn

1.2.1 Tây Sơn dựng cờ khởi nghĩa, đánh đổ chế độ chúa Nguyễn ở Đàng Trong, chính quyền Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài

Mùa xuân năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ tập hợp quần chúng dựng cờ khởi nghĩa ở ấp Tây Sơn Nắm được mâu thuẫn giữa các phe phái trong nội bộ giai cấp thống trị Đàng Trong, các lãnh tụ khởi nghĩa nêu lên khẩu hiệu “Đánh đổ quyền thần Trương Thúc Loan, ủng hộ hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương” Với khẩu hiệu này cùng với uy tín của mình, các lãnh tụ khởi nghĩa ngay

từ buổi đầu đã thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia, lôi kéo được những bộ phận tiến bộ trong giai cấp phong kiến bấy giờ Với khẩu hiệu “Lấy của người giàu chia cho người nghèo”, nghĩa quân Tây Sơn có được sự ủng hộ rất lớn của dân chúng, không chỉ những người nông dân nghèo mà cả một số dân tộc thiểu

số và lực lượng người Hoa như hai đạo quân của Lý Tài, Tập Đình Lực lượng Tây Sơn còn nổi tiếng vì thực hiện sự bình đẳng, bình quyền, không tham ô của dân Sự bình đẳng tại những vùng nghĩa quân kiểm soát đã được thể hiện rất rõ thông qua những ghi chép của các giáo sĩ người Tây Ban Nha như Diego de Jumilla ghi lại:

“Ban ngày họ xuống các chợ, kẻ đeo gươm, người mang cung tên, có người mang súng Họ không hề làm thiệt hại đến người và của Trái lại họ tỏ ra muốn bình đẳng giữa mọi người Đàng Trong; họ vào nhà giàu, nếu đem nộp họ ít nhiều thì họ không

Trang 16

gây tổn hại, nhưng nếu chống cự lại thì họ cướp lấy những của quý đem chia cho người nghèo; họ chỉ giữ gạo và lương thực cho họ mà thôi Người ta gọi họ là bọn

cướp đạo đức và nhân từ đối với quần chúng nghèo khổ ” [3, tr 33] Với khẩu hiệu

nhân nghĩa và hành động thực tiễn, các tầng lớp nhân dân thấy được sự ưu việt của nghĩa quân Tây Sơn do đó, nhân dân theo nghĩa quân Tây Sơn ngày càng đông, lực lượng của quân khởi nghĩa không ngừng lớn mạnh

Sau hai năm khởi nghĩa, căn cứ nghĩa quân mở rộng gần hết phủ Quy Nhơn gồm miền hạ đạo huyện Tuy Viễn, Bồng Sơn, Phù Ly Mùa thu năm 1773, quân Tây Sơn chiếm được thành Quy Nhơn, từ đó phát triển ra các thành Phú Yên, Bình Thuận, Quảng Ngãi Cuối năm 1773, nghĩa quân đã làm chủ một vùng rộng lớn từ Quảng Nam đến Bình Thuận

Lợi dụng những biến động ở Đàng Trong, tháng 10-1774, chúa Trịnh sai tướng Hoàng Ngũ Phúc đem quân vượt sông Gianh tiến đánh quân Nguyễn Quân Trịnh chiếm được Phú Xuân, chúa Nguyễn phải rút chạy vào Gia Định Tháng 5-

1775, quân Trịnh tiến đánh quân Tây Sơn ở Phú Yên, Nguyễn Nhạc thua trận mất Phú Yên, chỉ còn giữ Quy Nhơn và Quảng Ngãi Quân Trịnh tiếp tục đi về phía Nam vượt đèo Hải Vân và đụng độ với quân Tây Sơn ở Quảng Nam Quân Tây Sơn thua trận và đứng trước tình thế “Lưỡng đầu thọ địch” Tính thế cấp bách buộc những người lãnh đạo Tây Sơn phải lựa chọn 3 sự lựa chọn: Một là hòa với chúa Nguyễn để đánh quân Trịnh ở phía Bắc, thứ hai là xin hòa với quân Trịnh để dồn lực đánh quân chúa Nguyễn, thứ ba là cùng một lúc chống cả quân Trịnh ở phía Bắc

và quân Nguyễn ở phía Nam Trước tình thế đó, Nguyễn Nhạc đã lựa chọn xin giảng hòa với quân Trịnh, trên danh nghĩa đầu hàng nhà Lê, xin làm tiên phong đi đánh chúa Nguyễn ở Gia Định Chúa Trịnh bằng lòng và phong chức cho Nguyễn Nhạc Tháng 7-1775, Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Huệ đánh Phú Yên, quân Nguyễn tan vỡ, Tống Phúc Hiệp phải rút về Hòn Khói Bùi Công Kế ở Bình Khang và Tống Văn Khôi từ Khánh Hòa đem quân ra chiếm lại Phú Yên đều bị đánh, Bùi Công Kế

bị bắt sống trong khi đó Tống Văn Khôi tử trận Trước những thắng lợi liên tiếp của quân Tây Sơn, tướng Hoàng Ngũ Phúc đành xin chúa Trịnh phong Nguyễn Nhạc là

Trang 17

“Tây Sơn Hiệu Trưởng tiên phong tướng quân”, rồi dâng biểu về triều, xin về Thuận Hóa, tuy nhiên Hoàng Ngũ Phúc đã lâm bệnh và mất trên đường về Thuận Hóa Toàn bộ khu vực đèo Hải Vân trở xuống đều thuộc về nghĩa quân Tây Sơn Chúa Trịnh Sâm đồng ý cho Nguyễn Nhạc trấn thủ đất Quảng Nam

Từ năm 1776, quân Tây Sơn nhiều lần tiến vào Gia Định, khiến cho chúa Nguyễn phải bỏ đất liền vượt biển sang Xiêm cầu cứu Như vậy, chế độ thống trị xây dựng trên hai trăm năm của tập đoàn phong kiến họ Nguyễn đến đây bị đánh đổ Phong trào Tây Sơn đã giành được thắng lợi có ý nghĩa quyết định: giải phóng hầu

hết Đàng Trong, tiêu diệt lực lượng cát cứ của họ Nguyễn

Sau đó quân Tây Sơn tiếp tục tiến ra đánh chiếm Phú Xuân Thừa thắng, Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc đánh đổ chúa Trịnh Ngày 21-7-1786, Nguyễn Huệ tiến vào Thăng Long Như vậy, chỉ trong một tháng được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân Bắc Hà quân Tây Sơn dưới quyền lãnh đạo của Nguyễn Huệ đã lật nhào nền thống trị xây dựng gần ba trăm năm của họ Trịnh

Sau khi lật đổ nền thống trị của dòng họ Trịnh, Nguyễn Huệ lại trao trả quyền hành triều chính cho vua Lê Hiển Tông và để lại một số tướng lĩnh giúp nhà vua rồi rút về Nam Nhưng vua Lê Hiển Tông và người cháu lên nối ngôi là Lê Chiêu Thống đều là những kẻ ươn hèn, không đảm nhiệm nổi công việc triều chính, đất nước lại một lần lâm vào cảnh hỗn loạn Giữa năm 1788, Nguyễn Huệ tự thân cầm quân ra Bắc lần thứ hai để lập lại trật tự ở Bắc Hà Trước khi rút quân về Phú Xuân, Nguyễn Huệ cử Ngô Văn Sở trấn giữ Thăng Long thay Vũ Văn Nhậm để Sùng Nhượng công Lê Duy Cẩn làm Giám quốc giữ việc tế tự

Nhiều quan lại, sĩ phu tiến bộ ở Bắc Hà như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch, Vũ Văn Tấn, Trần Bá Lãm… được Nguyễn Huệ trọng dụng phong cho chức tước Ngô Thì Nhậm làm Thị trung đại học sĩ, Phan Huy Ích làm Thị trung ngự sử, Nguyễn Thế Lịch làm Hiệp biện đại học sĩ

Sau khi lật đổ thế lực Trịnh - Nguyễn, trên danh nghĩa, đất nước là một quốc gia thống nhất nhưng thực tế lại bị chia thành ba vùng: Nguyễn Nhạc tự xưng là Trung ương Hoàng đế cai quản vùng Quy Nhơn Nguyễn Huệ được phong làm Bắc

Trang 18

Bình vương cai quản từ đèo Hải Vân trở ra Bắc Nguyễn Lữ được phong làm Đông Định vương cai quản vùng Gia Định

Thế lực của vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong về cơ bản đã bị tiêu diệt, không thể khôi phục lại như trước, tuy nhiên tàn dư của các thế lực này chưa bị tiêu diệt hoàn toàn Nhằm khôi phục lại địa vị, giành lại đặc quyền như trước, chúng đã kêu gọi các thế lực bên ngoài giúp đỡ chống lại quân Tây Sơn Trước tình hình đó, quân Tây Sơn đã phải thực hiện nhiệm

vụ vừa trị nội phản, vừa chống giặc ngoại xâm

1.2.2 Kháng chiến chống quân xâm lược bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc

a, Chống quân Xiêm xâm lược

Năm 1771, ba anh em Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ dựng cờ khởi nghĩa chống lại chúa Nguyễn Sau khi hai chúa Nguyễn bị giết năm

1777, chúa mới là Nguyễn Ánh cũng bị Tây Sơn đánh thua nhiều lần Tuy nhiên, Nguyễn Ánh vẫn cố gắng tập hợp lại lực lượng ở Gia Định để khôi phục thế lực

Tháng 2 năm Quý Mão (1783), Nguyễn Nhạc sai hai em là Nguyễn Huệ

và Nguyễn Lữ mang quân vào Nam Tướng Nguyễn là Châu Văn Tiếp dùng hỏa công chống lại nhưng bị trở gió nên thua trận Chúa Nguyễn Ánh phải chạy xuống Ba Giồng (Định Tường), còn Châu Văn Tiếp phải men theo đường núi qua Cao Miên rồi qua Xiêm cầu viện Vua Xiêm đã đồng ý giúp Nguyễn Ánh chống lại quân Tây Sơn đồng thời nhân cơ hội đó đánh chiếm Cao Miên và Gia Định Châu Văn Tiếp gửi ngay mật thư báo tin cho chúa Nguyễn Sau khi hội đàm với tướng Xiêm tên là Thát Xỉ Đa tại Cà Mau, vào tháng hai năm Giáp Thìn (1784), chúa Nguyễn sang Vọng Các hội kiến với vua Xiêm và được vua Xiêm giúp đỡ xây dựng lại lực lượng

Tháng 7-1784, vua Xiêm đã cử hai tướng là hai người cháu Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem 2 vạn quân thủy cùng 300 chiến thuyền vượt vịnh Xiêm La, qua

ngả Kiên Giang tiến vào Đại Việt Theo Mạc Thị gia phả của Vũ Thế Dinh và Biên

niên sử Chân Lạp thì ngoài số quân trên còn có đạo bộ binh gồm khoảng 3 vạn quân

bộ do các tướng Lục Côn, Sạ Uyển, Chiêu Thùy Biện chỉ huy tiến sang Chân Lạp

Trang 19

(tức Cao Miên) với danh nghĩa giúp vua nước này rồi từ đó, tiến qua ngả Châu Đốc (nay thuộc An Giang), phối hợp cùng thủy binh của Chiêu Tăng và Chiêu Sương

Quân Nguyễn gồm các quân tướng đi theo phò chúa Nguyễn, số người Việt lưu vong ở Xiêm cùng một số còn đang ẩn náu ở Nam Bộ gộp chung được khoảng 3-4 nghìn người Chúa Nguyễn cử Châu Văn Tiếp làm Bình Tây đại đô đốc, Mạc

Tử Sanh (con Mạc Thiên Tứ) làm Tham tướng cùng dẫn quân Xiêm về nước chống lại quân Tây Sơn

Về lực lượng quân Tây Sơn, theo sách “Nhà Tây Sơn”, thì quân của Phò mã

Trương Văn Đa không quá 1 vạn do tướng Nguyễn Huệ chỉ huy ước khoảng 2 vạn, như vậy tổng cộng có khoảng gần 3 vạn quân Tây Sơn Nhưng về trang bị vũ khí, nhất là súng đại bác, quân Tây Sơn không hề thua kém quân Xiêm

Tháng 7-1784, thủy quân Xiêm đổ bộ đánh lấy Rạch Giá (thuộc đạo Kiên Giang), tiếp đó, quân Xiêm tiến đánh quân Tây Sơn của Đô đốc Nguyễn Hóa ở Trấn Giang (Cần Thơ), đánh chiếm các miền Ba Thắc (Srok Pra-sak), Trà Ôn, Sa Đéc, Mân Thít (hay Mang Thít, Man Thiết) rồi chia quân đóng giữ Tướng Tây Sơn là Trương Văn Đa liền đem quân thủy từ Gia Định tiến xuống Long Hồ (Vĩnh Long)

để cản ngăn Ngày 30-11-1784, Đại đô đốc Chu Văn Tiếp vì thông thạo địa hình, nên dẫn quân đi trước Ông cho quân vào sông Mân Thít, bị tiền quân Chưởng cơ Tây Sơn tên là Bảo (Chưởng Tiền Bảo) dẫn quân ra đánh, vây được tiền quân của Chu Văn Tiếp và giết chết được viên tướng này Mất đại tướng, chúa Nguyễn Ánh liền cho quân đánh gấp vào cứu viện và giết chết Chưởng Tiền Bảo cùng nhiều quân Tây Sơn Xét thấy quân ít, không chống chọi được, Trương Văn Đa cho quân lui về giữ Long Hồ

Chu Văn Tiếp tử trận, Lê Văn Quân được cử lên thay liền cho quân tiến đánh lũy Ba Lai (Bến Tre) và Trà Tân (Định Tường) Trong trận Ba Lai, Chưởng cơ quân Nguyễn là Đặng Văn Lượng bị tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Kim giết chết, tướng

Lê Văn Quân cũng bị Lê Văn Kế đánh trọng thương Kể từ đó, quân Xiêm - Nguyễn đóng dọc theo sông Tiền từ cù lao Năm Thôn trở về hướng Mỹ Tho và đặt đại bản doanh tại Trà Tân Cuối năm 1784, Trương Văn Đa sai Đô úy Đặng Văn Trấn về

Trang 20

Quy Nhơn báo rõ tình hình nguy cấp ở phía Nam, vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) liền cử Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ làm tổng chỉ huy, cùng với các tướng là Võ Văn Dũng, Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân đem đại binh vào đánh dẹp Quân Xiêm cậy mình là kẻ cứu giúp nên đàn áp, cướp bóc nhân dân, khinh mạn cả chúa Nguyễn và quân Nguyễn Bởi vậy, trong thư đề ngày 25-1-1785, chúa Nguyễn Ánh

đã than phiền với giáo sĩ J Liot rằng: Nay thì Xiêm binh tự do cướp giật, cưỡng hiếp phụ nữ, cướp bóc tài sản, giết bừa không tha già trẻ Vậy nên, "giặc" Tây Sơn

ngày một mạnh, thế quân Xiêm ngày một suy Trong “Quốc Triều Chánh Biên Toát

Yếu” cho biết khi ấy “Ngài (chỉ Nguyễn Ánh) nghĩ quân Xiêm tàn bạo quá, dân ta

đều thán oán, muốn lui quân về”

So sánh lực lượng, biết không thể nào đánh thẳng vào Sa Đéc hay Trà Tân được, Nguyễn Huệ liền đi xem xét địa hình, thăm dò lòng dân ở đây và tìm hiểu điểm mạnh, yếu của đối phương Cuối cùng, ông quyết định chọn khúc sông Mỹ

Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút cách Mỹ Tho khoảng 12km, làm trận địa quyết

chiến Một mặt Nguyễn Huệ giả vờ cho người đem nhiều của cải đến Trà Tân, xin giảng hòa; mặt khác, ông giao Võ Văn Dũng chỉ huy thủy binh, vợ chồng Trần Quang Diệu chỉ huy bộ binh, bí mật cho quân và tàu chiến ẩn náu ở các nơi hiểm yếu, rồi mới cho quân đến khiêu khích Bị khiêu khích, Chiêu Tăng giao Sạ Uyển ở lại giữ đại bản doanh, cử Lục Cổn dẫn bộ binh men theo tả ngạn sông Tiền để cùng phối họp; rồi ông với tướng tiên phong là Chiêu Sương, dẫn hàng trăm thuyền chiến, tiến xuống Mỹ Tho, nơi đặt đại bản doanh của Tây Sơn Đêm 19 rạng 20 tháng 1 năm 1785 (tức đêm mùng 9 rạng mùng 10 tháng 12 năm Giáp Thìn), lợi dụng con nước đang xuôi, cả hai đạo thủy bộ cùng rầm rộ tấn công… Tuy nhiên, theo Nguyễn Khắc Thuần, dù lực lượng quân Xiêm rất hùng hậu nhưng chúa Nguyễn vẫn không tin sẽ dễ dàng đạt thắng lợi Vì thế, mặc dù bị chính Chiêu Tăng xui đi trước nhưng vị chúa này vẫn cố tìm cách đi sau cùng một số bề tôi thân tín như Trần Phúc Giai, Nguyễn Văn Bình, Lê Văn Duyệt Như thế chưa đủ, ông còn mật cho Mạc Tử Sanh bố trí một lối thoát riêng dành cho mình

Trang 21

Nguyễn Huệ sai Võ Văn Dũng dùng một số thuyền nhỏ tiến ra đánh giặc rồi giả vờ bỏ chạy, nhử đối phương vào khúc sông mai phục Khi quân Xiêm lọt vào vòng vây là lúc trời vừa tối và con nước cũng vừa lên, tức thì pháo lệnh tấn công của Tây Sơn nổ vang Từ hai bờ sông Tiền (đoạn Rạch Gầm - Xoài Mút) và dọc bờ cù lao Thới Sơn, bãi Tôn, cồn Bà Kiểu, Rừng Dừa… các đại bác cùng pháo hỏa hổ của bộ binh Tây Sơn bắn ra uy hiếp dữ dội Đồng loạt, đoàn thuyền của quân Tây Sơn từ rạch Xoài Mút, Rạch Gầm, từ những nhánh rạch nhỏ chảy quanh các cồn bãi, nhanh chóng kéo ra chặn đánh đầu Một đoàn thuyền Tây Sơn khác ẩn náu sau cù lao Thới Sơn, xông ra đánh mạnh vào hông (nhằm chia cắt đội hình) và đánh chặn đường lui, dồn đoàn thuyền của đối phương vào thế tiến thoái lưỡng nan Cùng lúc ấy, quân Tây Sơn cho những thuyền nhẹ chở đầy những vật liệu dễ cháy đâm thẳng vào những

chiến thuyền đang rối loạn làm cho số bị chìm, số bị cháy… Sách nhà Tây Sơn kể:

“Phần bị trước chặn đánh, sau đuổi đánh, phần bị hai bên hông và trên đầu đại bác nã, phần thuyền va vào nhau, hàng ngũ rối loạn, hết phương day trở, hết phương chống

đỡ, thuyền địch (liên quân) lớp bị tan vỡ, lớp bị bắn chìm không còn một chiếc Quân

sĩ lớp nhảy xuống nước bị chết chìm, lớp bị giết chết, trăm phần không còn được một, hai Còn đạo bộ binh của giặc (Xiêm) đương đi bỗng nghe tiếng đại bác nổ, liền dừng bước Thình lình trong lau lách phục binh của Tây Sơn vừa hét vừa xông ra Lục Côn trở tay không kịp, bị Bùi Thị Xuân chém một nhát bay đầu Binh lính hết hồn, đều bỏ chạy tán loạn Nhưng sau lưng có quân đánh, hai bên tả hữu cũng có quân đánh, chúng ùa nhau chạy về phía trước, nhảy ào vào Rừng Dừa Hai vạn binh Xiêm và số quân nhà Nguyễn, lớp bị đao kiếm, lớp bị sình lầy, chết không còn một

mống! 300 chiến thuyền và 2 vạn thủy binh của Xiêm cùng một số quân của chúa

Nguyễn, không đầy một ngày đã bị quân Tây Sơn phá tan Hai tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương chạy trốn về Sa Đéc, bị truy kích, lại hối hả cùng Sa Uyển dẫn vài nghìn tàn quân chạy bộ sang Chân Lạp rồi về Xiêm” [49; tr 195]

Khi thấy quân Xiêm tháo chạy, Mạc Tử Sanh vội vã lấy thuyền chở Nguyễn Ánh rời khỏi trận địa Bị truy đuổi gắt, Nguyễn Ánh phải bỏ thuyền, cùng 12 thuộc hạ (trong số đó có Lê Văn Duyệt), chạy về Trấn Giang (Cần Thơ), rồi qua Rạch Giá

Trang 22

Đến đây, theo “Hoàng Việt hưng long chí”, “Chúa Nguyễn cùng các bề tôi bị quân

Tây Sơn bắt được Nghĩ đến cha ông ngày trước chịu ơn Nam triều, viên chỉ huy quân Tây Sơn là Chưởng Cơ Trân, ngay trong đêm ấy, đã tìm cách giải thoát cho

chúa Nguyễn Ánh” Sau khi đánh bại quân Xiêm - Nguyễn, Nguyễn Huệ đã cử Đô

đốc Đặng Văn trấn ở lại giữ thành Gia Định còn mình đưa đại quân trở về Quy Nhơn

Chỉ trong thời gian một ngày, quân đội Tây Sơn đã tiêu diệt gọn quân Xiêm - Nguyễn đặt toàn bộ lãnh thổ Đàng Trong dưới quyền kiểm soát của mình Trong trận quyết chiến này, Nguyễn Huệ đã lợi dụng địa hình, vận dụng chiến thuật một cách linh hoạt Đặc biệt, ông đã khéo léo kết hợp quân thủy và quân bộ để cùng tấn công, đánh đối phương trên cả bốn mặt, nhưng chủ lực là đánh thật mạnh vào sườn địch Trận Rạch Gầm - Xoài Mút là một trận đánh mai phục kết hợp với bao vây tiêu diệt Điều này đã thể hiện được tài năng, trí tuệ hơn người, đặc biệt là tài điều binh, khiển tướng, nghệ thuật quân sự độc đáo của Bắc Bình Vương Nguyễn Huê Với chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút, nền độc lập của Đại Việt đã được giữ vững

b, Đánh đuổi giặc Thanh

Sau khi bị Nguyễn Huệ đánh bại, Lê Chiêu Thống sai người sang cầu cứu nhà Thanh, mưu đồ dựa vào quân Thanh để khôi phục lại nhà Lê Nhân cơ hội, nhà Thanh mượn cớ để đưa quân sang xâm chiếm nước ta Cuối năm 1788, vua Càn Long nhà Thanh đã cử Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị huy động binh mã của 4 tỉnh là Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu với tổng số lên đến 29 vạn quân tiến vào Đại Việt Lịch sử nhận định hành động này của Lê Chiêu Thống

là “Cõng rắn cắn gà nhà” Tháng 11-1788, các đạo quân xâm lược nhà Thanh xuất phát từ Quảng Tây ồ ạt tiến sang, theo đường Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang

Quân Tây Sơn lúc bấy giờ do tướng Ngô Văn Sở chỉ huy đã thực hiện kế sách sáng suốt của Ngô Thì Nhậm, chủ động rút quân thủy - bộ về miền Tam Điệp, Biện Sơn, tạo thành một phòng tuyến vững chắc để bảo toàn lực lượng

Sau khi quân Tây Sơn rút lui, ngày 17-2-1788 (tức 20 tháng 11 năm Mậu Thân), đạo quân của Tôn Sĩ Nghị kéo vào tiến đánh thành Thăng Long Tôn Sĩ Nghị sai bắc cầu phao qua sông Nhị Hà ở Bồ Đề, rồi cho quân lính đóng đồn ở những bãi

Trang 23

cát ven sông Lê Chiêu Thống mời Tôn Sĩ Nghị vào trong điện Kính Thiên nhưng Tôn Sĩ Nghị từ chối và cho đóng đại bản doanh ở Tây Long cung Vài ngày sau khi đến Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị theo lệnh của Càn Long phong cho Lê Chiêu Thống làm An Nam Quốc vương Quân Thanh mặc sức hoành hành, cướp bóc, hãm hại dân lành Còn Lê Chiêu Thống chỉ là một ông vua bù nhìn thừa lệnh Tôn Sĩ Nghị

Ngày 24 tháng 11 năm Mậu Thân (tức 21-12-1788), tướng Nguyễn Văn Tuyết hoả tốc về đến thành Phú Xuân cấp báo tình hình quân Thanh với Nguyễn

Huệ Nguyễn Huệ theo lời khuyên của các tướng “Định lập vị hiệu, ban lệnh ân xá

buộc lấy nhân tâm rồi hãy kéo quân ra Bắc”, sai người đắp đàn trên núi Bân (ở phía

Nam núi Ngự Bình) làm lễ tế cáo trời đất, rồi lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân, chỉ một ngày sau khi nhận được tin cáo cấp, quân ngũ Tây Sơn đã chỉnh tề lên đường Ngày 29 cùng tháng (tức 26-12-1788) đại quân Tây Sơn ra đến Nghệ An và tuyển mộ thêm binh lính Số quân của vua Quang Trung đã có đến hơn 10 vạn người Ngày 20 tháng 12 Mậu Thân (15-01-1789), đại quân đến chân đèo Tam Điệp Tại đây, sau khi nghiên cứu rà soát lại tình hình, vua Quang Trung quyết định xong phương án tác chiến Trong lời dụ các tướng lĩnh tại Thanh Hóa, vua Quang Trung đã thể hiện ý chí, quyết tâm tiêu diệt ngoại xâm, khẳng định chủ quyền độc lập của tổ quốc:

“Đánh cho để dài tóc

Đánh cho để đen răng

Đánh cho nó chích luân bất phản

Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn

Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”

Vua Quang Trung đã chia quân thành 5 mũi đồng loạt tiến ra Bắc đánh đuổi ngoại bang, giành lại chủ quyền dân tộc Đạo chủ lực do đích thân nhà vua chỉ huy đánh thẳng vào hệ thống phòng ngự chủ yếu của giặc ở phía nam Thăng Long Đạo thứ hai do Đô đốc Bảo chỉ huy, đi theo đường Sơn Minh ra phục ở Đại Áng để phối hợp với đạo quân chủ lực Đạo thứ ba do Đô đốc Long chỉ huy đi theo đường Chương Đức, rẽ sang Nhân Mục để tiến công cánh quân Sầm Nghi Đống đóng ở

Trang 24

vùng Khương Thượng Còn hai đạo sau thì tiến theo đường biển Đạo quân thứ tư

do Đô đốc Tuyết chỉ huy có nhiệm vụ tiến vào Lục Đầu Giang tìm diệt đám quân của Lê Chiêu Thống hoạt động ở vùng Hải Dương, sau đó tiến thẳng về Thăng Long tiếp ứng cho đạo quân khác Đạo thứ năm do Đô đốc Lộc chỉ huy cũng vào Lục Đâu Giang nhưng triển khai lên vùng Phượng Nhỡn, Lạng Giang để chặn đường rút lui của quân Thanh Năm đạo quân giống như một bàn tay xoè ra để tóm gọn hai mươi chín vạn quân Thanh Vua Quang Trung cho tướng sĩ ăn Tết trước vào sáng ngày 30 rồi nửa đêm hôm đó, đúng lúc giao thừa, cả năm đạo quân lên đường vào chiến dịch Và quả như lời Quang Trung tuyên bố trong bữa tiệc khao quân: Nay hãy ăn Tết Nguyên Đán trước, đợi sang xuân ngày mồng 7 vào thành Thăng Long mở yến tiệc, bọn các ngươi nhớ lấy lời ta xem là nói dối hay nói đúng

Đạo chủ lực ngay đêm giao thừa ấy đã hạ đồn Gián Khẩu ở ngã ba sông Đáy

- sông Hoàng Long sau đó nhanh chóng tiến lên liên tiếp diệt các đồn khác, bắt gọn bọn thám báo Đêm mùng 3 tết (28-01-1789), quân Tây Sơn bí mật vây đồn Hạ Hồi (nay thuộc huyện Thường Tín, Hà Nội, cách Thăng Long tròn 20 km) bắt giặc phải đầu hàng, không tốn một mũi tên Mờ sáng ngày mùng 4 tết, đại quân tiến đến Ngọc Hồi nhưng Quang Trung chưa cho đánh Ông ra lệnh cho các cơ đội một mặt phô trương thanh thế, uy hiếp tinh thần quân địch, một mặt phải chuẩn bị thật tốt vũ khí quân dụng như cung tên, súng đạn, thang vượt thành, lá chắn… Sáng mùng 5 nhà vua mới phát lệnh công đồn Tới gần trưa thì quân Tây Sơn đã hạ được đồn Ngọc Hồi - tuyến phòng ngự quan trọng cho kinh thành Thăng Long Thừa thắng xông lên, các cánh quân Tây Sơn liên tiếp giành được thắng lợi ở Đầm Mực, Khương Thượng Các cánh quân Tây Sơn nhanh chóng khép chặt vòng vây đối với kinh thành Thăng Long

Trước tin quân Thanh liên tiếp thua trận, đặc biệt là các đồn Hạ Hồi, Khương Thượng, Ngọc Hồi bị hạ và bị đánh tan tác ở Đầm Mực, đã khiến Tôn Sĩ Nghị và quân Thanh ở Thăng Long càng thêm hoảng loạn Tôn Sĩ Nghị sợ hãi đến tột đỉnh, đến nỗi giáp không mặc, ngựa không đóng yên, vội vàng vượt cầu phao tháo chạy, quên cả ấn tín và các thứ chiếu chỉ thủ bút của vua Thanh Quân lính Thanh thì như

Trang 25

rắn mất đầu tranh nhau tìm lối thoát thân Sợ bọn này quá đông gây khó khăn, cản trở cho con đường rút chạy nên Tôn Sĩ Nghị nhẫn tâm ra lệnh chặt cầu phao Hàng vạn quân Thanh bị chủ tướng của chúng ném xuống lòng sâu sông Hồng

Trưa ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu (30-1-1789), vua Quang Trung vào Thăng Long giữa sự đón chào hân hoan nồng nhiệt của đồng bào kinh đô Nhà thơ đương

thời Ngô Ngọc Du có ghi lại chiến thắng oanh liệt đó qua bài thơ “Long thành quang

phục kỉ thực” (Ghi chép việc khôi phục thành Thăng Long)

… Hỏa long nhất trận giặc phi mỹ,

Khí thành sang độ tranh đao sinh

Tam quân ngũ quán chỉnh đội tiến,

Bách tính tước lược giá đáo nghênh

Vân vĩ bạt khai kiến thiên nhật

Mãn thành bảo thiếu câu hoan nhan

Ma kiên bả tý quần tương ngữ

Cố đô hoàn thị ngã hà san”

(Một trận “rồng lửa” giặc tan tác,

bỏ thành cướp đò giành lối thoát

Ba quân tề chỉnh nhịp bước vào,

Trăm họ đón đường mừng nhảy nhót

Mưa tạnh, mù tan, thấy mặt trời

Khắp thành, già, trẻ mặt bừng tươi,

Chen vai, thích cánh cùng nhau nói:

“Cố đô nay lại của ta rồi!”

Mùa xuân năm Kỉ Dậu (1789) là mùa xuân đại thắng của phong trào Tây Sơn Chỉ trong vòng 10 ngày (từ 25 tháng Chạp đến mồng 5 tháng Giêng), quân dân ta dưới sự lãnh đạo của anh hùng áo vải Quang Trung đã đánh tan 29 vạn quân Thanh, giải phóng kinh thành Thăng Long, giải phóng đất nước, “đó là một chiến công vĩ đại và hiển hách vào bậc nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc”

Trang 26

1.2.3 Xây dựng lại giang san

Sau chiến thắng quân Thanh, triều đình Tây Sơn khẩn trương phục hồi kinh

tế, bồi dưỡng sức dân và đẩy mạnh công cuộc khôi phục đất nước

Một trong những vấn đề quan trọng nhất và cũng là cấp bách của Bắc Hà thời kỳ này là vấn đề ruộng đất cho nhân dân Chính quyền Tây Sơn đã đánh đổ thế lực của bọn kiêu binh thời kỳ vua Lê - chúa Trịnh, thu lại ruộng đất và đem chia

ruộng khẩu phần được thực hiện nhanh chóng Trong “Chiếu khuyến nông” do Ngô

Thì Nhậm soạn thảo có ghi những biện pháp nhằm nhanh chóng phục hồi sản xuất:

“Dân phiêu bạt phải trở về nguyên quán, nhận phần ruộng cày chứ không được bỏ

hoang Chỉ những người đi kiều ngụ đã được ba đời mới được phép nhận nơi kiều ngụ làm quê hương Những người theo quê mẹ, quê vợ, kiều ngụ vì nghề nghiệp thương mại hay vì lánh nạn chiến tranh, trốn tránh dao dịch, những người ấy đều phải trở về quê cũ Các xã khác không được chứa chấp” Như vậy, với các biện

pháp quyết liệt, triệt để, Quang Trung đã nhanh chóng ổn định được tình hình trật tự

xã hội đồng thời quản lý tốt dân số, từ đó có những biện pháp khuyến nông kịp thời nhằm phát huy sức dân vào công cuộc khôi phục Bắc Hà

Nhằm dễ dàng hơn trong việc quản lý cũng như phân định mức thuế đối với từng loại ruộng, Quang Trung đã chia ruộng công thành ba hạng:

Hạng nhất, mỗi mẫu đồng niên nộp 150 bát

Hạng nhì, mỗi mẫu đồng niên nộp 80 bát

Hạng ba, mỗi mẫu đồng niên nộp 50 bát

Chính quyền không những không ngăn cản nhân nhân sở hữu ruộng tư mà còn chia ruộng thành các loại với mức thuế thấp để động viên, khuyến khích nhân dân phát triển sản xuất góp phần khôi phục kinh tế Chính quyền Tây Sơn đã chia ruộng tư thành 3 hạng:

Hạng nhất, mỗi mẫu đồng niên nộp 40 bát

Hạng hai, mỗi mẫu đồng niên nộp 30 bát

Hạng ba, mỗi mẫu đồng niên nộp 20 bát

Trang 27

Đối với các khoản thuế thu, thuế khoán mỗi mẫu là 30 đồng Thuế thập vật y như ruộng công Thuế chung (hữu thân tất hữu dung) theo lệ đời Trịnh Cương từ năm 1723, một mẫu đồng niên phải nộp 1 quan 2 tiền Những năm hạn hán, bão lụt thì tùy theo mức độ thiệt hại mà có thể giảm hoặc miễn thuế Với chủ trương, sự nỗ lực của bộ máy chính quyền Tây Sơn mà tình hình sản xuất đã được khôi phục, đời

sống của nhân dân từng bước được ổn định, ấm no Theo Tây Sơn thuật lược, trong nhân gian đã nghe có tiếng ca hát: “Qua canh tuất lại rưới cơn thời vũ, cỏ cây đều

gội được triêm nhu”

Về công thương nghiệp: Quang Trung đã đề ra những chính sách nhằm mở rộng việc giao lưu buôn bán, làm ăn của thương nhân và thợ thủ công Nhà vua còn bãi bỏ nhiều thứ thuế công thương nghiệp trước đây Trong việc buôn bán với nước ngoài, vua Quang Trung cho mở cửa biên giới để thông thương chợ búa giữa hai nước Đại Việt - Thanh Tại biên ải, vua Quang trong đã sai người điều đình mở chợ biên giới như Bình Thủy (Cao Bằng), Du Thôn (Lạng Sơn) Nhân dân tại biên giới hai nước được tự do qua lại buôn bán và được miễn thuế buôn Ngoài ra, triều đình còn là cho lập một Nha Hàng tại Phủ Nam Ninh (thuộc tỉnh Quảng Tây), nhân dân qua đó thuận lợi cho việc buôn bán

Về văn hóa, giáo dục: Quang Trung ban bố “Chiếu về việc lập nhà học”

nhằm sửa đổi những thói tệ thi cử thời Lê mạt, chọn lựa những nho sinh có học thức

và đạo đức tốt để phục vụ cho đất nước “Chiếu cho quan viên và trăm họ trong nước biết: dựng nước lấy dạy học làm đầu, cầu trị lấy nhân tài làm gốc Trước đây bốn phương nhiều việc phải phòng bị, việc học không được sửa sang, khoa cử bỏ dần, nhân tài ngày càng thiếu thốn Ôi! hết loạn đến trị là lẽ tuần hoàn, tiếp sau hồi loạn lại càng cần phát triển sửa sang, lập giáo hóa, đặt khoa sử là quy mô lớn để chuyển loạn thành trị Trẫm khi vừa mới bình định đã có nhã ý hậu đại nhà nho, lưu tâm yêu mến kẻ sĩ, muốn có người thực tài để dùng cho quốc gia”

Nhà vua còn coi trọng chữ viết và tiếng nói dân tộc, thậm chí nhiều văn kiện, thư từ của nhà nước thời Quang Trung được soạn thảo bằng chữ Nôm Nhà vua còn lập ra Viện Sùng Chính để dịch các sách kinh điển nhà nho viết bằng chữ Hán sang

Trang 28

chữ Nôm và cử Nguyễn Thiếp, một trí thức danh cao vọng trọng lúc bấy giờ làm viện trưởng

1.2.4 Chính sách đối ngoại với nhà Thanh

Thất bại của Tôn Sĩ Nghị đã khiến y bị bãi chức Ngay sau đó, nhà Thanh cử Phúc Khang An xuống làm tổng đốc Lưỡng Quảng với danh nghĩa là điều động binh mã 9 tỉnh, thống lĩnh 50 vạn quân chờ ngày sang xâm lược nước ta Vua tôi nhà Thanh bề ngoài hư chương thanh thế, như chuẩn bị mang quân sang phục thù nhưng bên trong thực muốn thuyết phục Quang Trung giảng hòa Về phía ta, vua Quang Trung cũng muốn sớm chấm dứt cuộc chiến tranh khốc liệt giữa hai nước, giảng hòa với nhà Thanh Nhân bắt được chiếu thư do Tôn Sĩ Nghị bỏ rơi khi chạy

về Trung Quốc, vua Quang Trung bảo với Ngô Thì Nhậm rằng: “Ta xem sắc thư

của vua Thanh chẳng qua chỉ xem mạnh yếu để làm hơn kém thôi, việc làm cho nhà

Lê còn lại không phải là bản tâm, chỉ mượn đấy làm tiếng mà thực thì mưu tự lợi thôi Nay sau khi thua tất lấy làm xấu hổ quyết không cầu hòa, nhưng hai nước đánh nhau cũng không phải phúc cho dân, nay chỉ có người nào khéo về giấy tờ mới có thể ngăn được mối binh đao, việc ấy cần ở người chủ trương lấy” Quang

Trung lại cấp lương ăn áo mặc cho tù binh giặc, để có dịp sẽ trao trả nhà Thanh, tạo nhịp cầu hòa hiếu giữa hai nước

Sau khi nắm chắc kết quả giảng hòa giữa hai nước, vua Quang Trung bèn họp các tướng sĩ lại mà bảo “Việc binh ở Bắc Hà, ta giao cho Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân Việc giao thiệp với Trung Quốc ta giao cho Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích Mọi việc đều cho phép các ngươi tùy tiện xử trí Ta hãy về phía Nam, nếu việc

gì không quan hệ lắm thì tất phải qua lại bẩm báo cho thêm phiền phức”

Về phía nhà Thanh, công việc giao thiệp với nhà Tây Sơn cũng giao cho Phúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp đảm nhiệm Phúc và Thang đều có ý ôn hòa, lo sợ trước thái độ kiên quyết của vua Quang Trung Trong thư gửi cho Thang Hùng Nghiệp là Quảng Tây phân tuần, tả giang binh bị đạo, tổng lý việc biên giới,

để biện luận về duyên do chiến tranh giữa hai bên, Quang Trung đã phân tích lý lẽ phải trái để hiểu dụ và cảnh tỉnh đối phương “Phàm quân đội, cốt ở chỗ đoàn kết

Trang 29

một lòng, không cốt ở chỗ đông, binh lính quý ở chỗ tinh nhuệ, không quý ở chỗ nhiều Kẻ khéo thắng là thắng ở chỗ vô cùng mềm dẻo, chứ không ỷ mạnh lấn yếu, lấy đông hiếp ít đâu Nếu như sự tình trước đây chưa được giải tỏ mà thiên triều không chút khoan dung, cố gây việc tranh chiến, thì đó là làm cho nước nhà không được hết lòng cung kính thờ nước lớn, tôi cũng đành nghe theo mệnh trời mà thôi”

Mùa hạ năm 1789, vua Quang Trung cử một đoàn sứ giả sang Thanh, nhằm thể hiện thiện chí giảng hòa và để cầu phong Đoàn sứ giả gồm cháu của vua Quang Trung là Nguyễn Quang Hiển cùng với các bồi thần là Vũ Huy Tấn, Ngô Vi Quý, Nguyễn Đình Cừ Triều đình nhà Thanh tiếp đón các sứ giả hết sức nồng hậu, chấp nhận việc phong vương cho vua Quang Trung nhưng ép nhà vua phải sang dự lễ bát tuần vạn thọ của vua Càn Long vào năm 1790

Tháng 8-1789, triều đình nhà Thanh cử sứ thần sang phong cho vua Quang Trung làm An Nam quốc vương Sứ thần định tuyên chỉ tại Thăng Long, song vua Quang Trung buộc sứ thần phải vào tận Phú Xuân làm lễ tuyên phong

Mùa xuân năm 1790, Phúc Khang An giục vua Quang Trung sang nhà Thanh triều cận, nhưng Quang Trung lấy cớ đang chịu tang mẹ không đi và để con là Quang Thùy đi thay Trong lần này, đoàn sứ bộ phải cải trang làm Quang Trung, do

“giả vương” Phạm Công Trị dẫn đầu Đoàn được vua Càn Long đón tiếp cực kì trọng thể Số chi phí tiếp rước phục dịch dọc đường rất tốn kém Lúc sứ bộ về nước, vua Thanh còn sai thợ vẽ truyền thần bức chân dung giả vương rồi ban cho, ngoài ra còn tặng thơ, thiết yến tiệc, ân lễ hết sức trọng hậu

Sau những hoạt động ngoại giao kể trên, nhà Thanh càng tỏ ra nể trọng triều Tây Sơn, bãi bỏ lệ cống người vàng và mở chợ buôn bán thông thương ở Cao Bằng

và Lạng Sơn Quang Trung hết sức quan tâm đến vấn đề biên giới giữa hai nước Trước kia, 7 châu ở Hưng Hóa của nước ta vào cuối thời Lê bị nhà Thanh xâm chiếm, Quang Trung gửi cho tổng đốc Lưỡng Quảng, đề nghị xác định lại cương giới cũ, việc đó không được nhà Thanh chấp thuận, chúng lấy cớ là cương giới đã định rồi Từ đó, Quang Trung có ý chuẩn bị lực lượng quân sự, luyện tập binh lính đợi thời cơ để đòi lại những vùng đất đã mất trước đây Nhà vua thường bảo các

Trang 30

tướng hiệu rằng “Để cho ta vài năm nữa chứa uy thế, nuôi khí mạnh, thì ta có sợ gì

kẻ kia” Qua 3 năm chuẩn bị lực lượng, đến năm Nhâm Tý (1792) Quang Trung cử

Vũ Văn Dũng làm chánh sứ, mang biểu sang Trung Quốc cầu hôn công chúa nhà Thanh và xin đất Lưỡng Quảng để đóng đô Ngày 16-9-1792, Quang Trung đột ngột qua đời, lúc đó nhà vua mới 39 tuổi Công việc còn dang dở thì phải dừng lại

Sau khi nhà vua mất, con trưởng Quang Trung là Quang Toản theo di nguyện vua cha lên nối ngôi Quang Toản còn bé, cậu là Bùi Đắc Tuyên làm Thái

sư trông coi chính sự Đắc Tuyên là một kẻ tham lam, xảo quyệt, hành động chuyên quyền Nội bộ nhà Tây Sơn ngày càng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, khiến cho vương triều Tây Sơn ngày càng suy yếu Ở Đàng Trong, Nguyễn Ánh nhân cơ hội trở lại Gia Định, dựa vào thế lực bọn địa chủ bên trong, cấu kết với bọn tư bản nước ngoài, trở lại đánh chiếm thành Quy Nhơn, Phú Xuân Năm 1801, Quang Toản phải rút quân ra Bắc, thế lực yếu dần, các tướng lĩnh đã phản công lại Nguyễn, nhưng cuối cùng vẫn thất bại Tháng 7-1802, Nguyễn Ánh chiếm được Thăng Long Triều đại Tây Sơn đến đây coi như chấm dứt

Tiểu kết

Cuối thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, nhân dân bị áp bức bóc lột nặng nề, đời sống đói nghèo, cực khổ Trong khi đó, đất nước vẫn còn bị chia cắt, Nhà Thanh ở phương Bắc, Xiêm ở phương Nam luôn rình thời cơ xâm lược nước ta Khởi nghĩa nông dân lúc ấy nổi dạnh mạnh như vũ bão, tiêu biểu là phong trào Tây Sơn Dưới sự lãnh đạo của chủ tướng Nguyễn Huệ, phong trào này đã thực hiện thắng lợi cả ba nhiệm vụ lịch sử: giải phóng nhân dân khỏi chế độ phong kiến tàn bạo, thống nhất đất nước đang bị chia cắt, bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc trước nguy cơ xâm lăng bằng những chiến công hiển hách, vang dội

Trong bối cảnh lịch sử của thời đại, Nguyễn Huệ với tài năng lỗi lạc đặc biệt

là nghệ thuật quân sự thiên tài đã từng bước ổn định tình hình đất nước Tuy lên cầm quyền trong thời gian ngắn nhưng dưới sự trị vì của vua Quang Trung - Nguyễn Huệ đất nước đã đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực: quân sự, chính trị, văn hóa, ngoại giao… Đặc biệt, trong lĩnh vực đối nội, đối ngoại ông đã

Trang 31

thể hiện mình là một người rất có tài dùng người Quang Trung đã tập hợp được sức mạnh đại đoàn kết dân tộc Biết nhìn người, dám sử dụng người và đánh giá đúng khả năng, năng lực của từng người để từ đó bố trí, phân công công việc hợp phù hợp với năng lực của từng người qua đó phát huy được phẩm chất, năng lực của họ vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước

Trong hoàn cảnh đất nước có nhiều biến động đã ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng của bộ phận nho sĩ ở Bắc Hà Trước tình hình đó, giới nho sĩ đã xuất hiện 3 thái độ, cách thức phản ứng với sự xuất hiện và lớn mạnh của phong trào Tây Sơn đó là: Ủng hộ, chống đối và không ủng hộ cũng không chống đối

Trang 32

CHƯƠNG 2 KHUYNH HƯỚNG TƯ TƯỞNG CỦA SĨ PHU BẮC HÀ

VỚI PHONG TRÀO TÂY SƠN (1771-1802) 2.1 Các sĩ phu Bắc Hà thời Tây Sơn

2.1.1 Quan niệm chung về sĩ phu

Sĩ có nghĩa là người có học, phu là có nghĩa là người đàn ông như vậy từ sĩ phu có nghĩa là người có học vấn và có tiết tháo và là một trong bốn bậc thang xã

hội của xã hội phong kiến (Sĩ - Nông - Công - Thương) Theo cuốn “Từ điển tiếng

Việt” của Hoàng Phê thì: sĩ phu là người trí thức có danh tiếng trong xã hội phong

kiến Theo như Nguyễn Trần Quý trong cuốn “Sĩ phu đất Việt” thì Việt Nam chúng

ta có mẫu người “kẻ sĩ” và “sĩ phu” làm tiêu biểu và quan niệm kẻ sĩ là những người có học hành cao, hiểu biết rộng và nhất là luôn hành xử theo đúng tiếng gọi của lương tri: lên tiếng bênh vực lẽ phải, chê trách sai trái Nguyễn Công Trứ đã minh định vai trò của “kẻ sĩ” như sau:

“Cầm chính đạo để tịch tà, cự bí

Hồi cuồng lan nhi chướng bách xuyên”

Tạm được dịch là:

Kẻ sĩ theo đường ngay nẻo chính, chống tà thuyết

Ngăn sóng dữ để giữ trăm dòng sông

(Kẻ sĩ - Nguyễn Công Trứ) Cao hơn một bậc nữa, “sĩ phu” được coi là những kẻ sĩ không màng danh lợi, hiến thân phục vụ đại nghĩa, sẵn sàng cống hiến sinh mạng cho quê hương, dân tộc Trong lịch sử Việt Nam, mẫu người kẻ sĩ, sĩ phu được bao thế hệ người Việt tôn trọng và noi theo Thậm chí, có người đánh giá rằng, dân tộc Việt Nam vẫn tồn tại, vẫn vươn lên mặc dù nước ta bị ngoại bang đô hộ ngàn năm, chinh chiến triền miên

vì đó là nhờ sự có mặt của các thế hệ “sĩ phu” Như Nguyễn Trãi từng viết trong

Bình Ngô đại cáo rằng: “Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt thời nào

cũng có”

Nho sĩ, tầng lớp đứng đầu trong thứ bậc nghề nghiệp xã hội phong kiến trước đây thuần nhất về địa vị xã hội và được chia làm ba tầng hạng: hiển nho (nho sĩ đỗ

Trang 33

đạt làm quan), ẩn nho (nho sĩ đỗ đạt hoặc tài cao học rộng nhưng không ra làm quan) và nho sĩ chưa đỗ đạt Về phương diện giai cấp, nho sĩ có thể xuất phát từ nhiều nguồn, nhưng suy cho cùng, họ bao gồm hai tầng lớp: nho sĩ quan lại (có lợi ích gắn liền với phong kiến thống trị) và nho sĩ bình dân (những người không đỗ đạt, không tham gia bộ máy chính trị, có lợi ích gắn liền với đời sống nhân dân)

2.1.2 Sĩ phu Bắc Hà trong thời Tây Sơn

Kẻ sĩ Bắc Hà được nhắc tới và nói đến nhiều từ thời Trịnh - Nguyễn phân tranh rạch đôi sơn hà Nam - Bắc và sau đó là triều đại Quang Trung chói lòa Sĩ phu, như đã cắt nghĩa ở trên, là những người thuộc tầng lớp trí thức Bắc Hà: tương đương với Đàng Ngoài (từ sông Gianh - tỉnh Quảng Bình trở ra Bắc) được sử dụng trong giai đoạn thế kỉ XVI - XVIII Như vậy “Sĩ phu Bắc Hà” là cụm từ nói chung

về những người được coi là có tri thức tầm hiểu biết sống tại Đàng Ngoài

Thế kỉ XVIII, thuyết chính danh và trật tự cương thường của Nho giáo ngày càng bị phá hoại nghiêm trọng Mô hình thiết chế chính trị quân chủ tập quyền cũ

và hệ tư tưởng Nho giáo chính thống bị đem ra thử thách và chao đảo trước thực tế sinh động và khắc nghiệt của cuộc sống với nhiều chuyển biến mới, tuy vẫn không

bị giải thể Xã hội bắt đầu xuất hiện những tình cảnh “quý chúa không bằng quý thân” Nguyễn Thiếp phải than thở “đạo thánh nhân lâu nay bị lu mờ” Phạm Đình

Hổ thì kêu lên: “Đồi suy thói tệ, thế đạo ngày một sút kém, danh phận lung tung” Còn tiến sĩ Phạm Công Thế, người tham gia cuộc khởi nghĩa Lê Duy Mật bị bắt, khi được các đình thần của triều Lê - Trịnh hỏi, ông nói rằng: “Người khoa giáp sao phải theo giặc?” Phạm Công Thế đã lấy tính mạng mình mà trả cược cho cái nhận định “danh phận không rõ từ lâu, thuận nghịch lấy gì mà phân biệt được” Tất cả những lý tưởng, đạo lý, kỉ cương, những điều mà trước nay vẫn được coi là “khuôn vàng thước ngọc” đến lúc này đã hoàn toàn sụp đổ

Sĩ khí suy kém, thói cầu an xu nịnh tràn lan, thị phi lẫn lộn, chân ngụy khó phân, điều đó đã phản ánh sâu sắc sự phân hóa về nhân cách trong giới Nho sĩ - quan liêu Bắc Hà thời Lê - Trịnh Trên cơ sở sự khủng hoảng ấy mà sĩ phu bộc lộ thái độ chính trị của mình

Trang 34

Từ nửa cuối thế kỉ XVIII, có một tình hình nổi bật khác hẳn các thời kì trước trong đội ngũ sĩ phu, là sự biến động, phân hóa mãnh liệt diễn ra trong một quá trình liên tục từ trước khi khởi nghĩa Tây Sơn lan rộng, và phát triển tới mức sâu sắc, triệt để Yếu tố trực tiếp dẫn đến tình hình đó là những biến động mạnh mẽ trước đời sống chính trị, xã hội đương thời

Sĩ phu là tầng lớp có nhiều chức năng, trong đó chức năng chủ yếu là hoạt động chính trị dưới sự chi phối, tác động của tư tưởng Nho giáo, họ chỉ khác nhau

ở những điểm không cơ bản và nhờ vậy mà kết thành đội ngũ Chỗ gặp nhau của

họ chính là hoài bão về một xã hội thịnh trị gắn liền với một triều đình mà đứng đầu là một vua hiền có bề tôi giỏi, đảm bảo cho kẻ sĩ công danh thông suốt và bổng lộc lâu bền Cái cốt lõi trong lý tưởng chính trị gắn liền với lý tưởng đạo đức của sĩ phu, tựu trung lại là hai chứ “trung” và “hiếu”, trong đó “trung” là căn bản

Do đó, những diễn biến trong đời sống chính trị xã hội dẫn tới những diễn biến phức tạp về tư tưởng trong mỗi sĩ phu Suy cho cùng, mọi sự phân hóa trong tầng lớp này đều bắt đầu ở sự lựa chọn đối tượng cho chữ “trung” Từ xuất phát điểm này chúng ta có thể xem xét toàn bộ quá trình diễn biến tư tưởng và hành trạng phức tạp của giới sĩ phu, từ đó đi tới lý giải và đánh giá thỏa đáng về tầng lớp này trong sự nghiệp vẻ vang của dân tộc nói chung, của phong trào Tây Sơn cuối thế

kỉ XVIII nói riêng

Trong phạm vi của luận văn này, để khảo sát về hành xử chính trị trong nửa cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, các trí thức sĩ phu Bắc Hà được xác định bao

gồm những nhân vật đảm bảo thỏa mãn đồng thời các tiêu chí như sau:

(1) Sinh ra, có nguyên quán, hoặc có cuộc đời sống chủ yếu ở Bắc Hà, tức là lãnh thổ Đàng Ngoài, từ sông Gianh trở về phía Bắc

(2) Sống trong khoảng từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX và phải đối diện với các biến động chính trị ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX (tức là có lựa chọn hành xử chính trị trong quan hệ với các chính quyền đương thời)

(3) Đỗ đạt khoa cử Nho học (từ tú tài trở lên) hoặc có tài văn học nổi tiếng, được tôn vinh như những bậc danh sĩ có uy tín trong xã hội đương thời

Trang 35

Qua khảo sát một số nguồn tư liệu cơ bản về những nhà khoa bảng nói riêng

và nhân vật lịch sử - văn hóa của Bắc Hà nói chung, bao gồm Các nhà khoa bảng

Việt Nam 1075-1919 của nhóm Ngô Đức Thọ, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam

của Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam do Đinh Xuân Lâm và Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Từ điển Văn học (Bộ mới) của

Nguyễn Huệ Chi, Trần Hữu Tá có thể xác định được 103 sĩ phu Bắc Hà sống trong khoảng thời gian từ giữa thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX có những lựa chọn hành

xử chính trị trước những biến động đương thời

Tiếp đó, phân tách các trường hợp thống kê ở theo từng kiểu mẫu hành xử chính trị là hợp tác với tiều đại Tây Sơn hay chống Tây Sơn hoặc không có thái độ

rõ ràng để phân tích tổng hợp số liệu Tiếp tục các phân tích số liệu thống kê chi tiết hơn, có thể thấy được đặc điểm của bộ phận sĩ phu theo từng khuynh hướng

2.2 Thái độ ủng hộ Tây Sơn

Bảng 2.1 Danh sách các sĩ phu Bắc Hà ủng hộ phong trào Tây Sơn [53]

Tĩnh

Tiến sĩ năm 1754 Bồi tụng, Thị lang bộ Công, Quốc sử tổng tài

Nội

Tiến sĩ năm 1775 Thượng thư bộ Binh, Thị lang Lại bộ

Tình Phái hầu

Tĩnh

Tiến sĩ năm 1775 Thị trung Ngự sử Thị lang bộ Hình Tước Thụy Nham hầu

Lại bộ Thượng thư

Nội

Tiến sĩ năm 1775 Thừa chính sứ, Công bộ Thị lang

Trang 36

STT Họ và tên Năm sinh

Bình

Đỗ Hương cống Binh bộ Thượng thư, tước Trường Nguyên Bá

Hàn lâm trực học sĩ

Thị lang Lễ bộ Gia Phái hầu

Hàn lâm trực học sĩ, Lâm Trạch bá

Yên

Tiến sĩ năm 1787 Đốc học Bắc Thành

Ninh

Tiến sĩ năm 1787 Thị lang Lại bộ, tước Gia phái hầu

Tả đồng nghi Trung thư sảnh

Thượng trụ quốc, Hạo Trạch hầu

Viện trưởng Viện Sùng chính

Trang 37

Tuy Nguyễn Huệ không phải là người chịu ảnh hưởng nhiều bởi Nho giáo và chính ông cũng thừa nhận là “ta chỉ gớm thầy nho” nhưng cuối cùng ông và người

kế nhiệm (Quang Toản) vẫn phải sử dụng nhiều sĩ phu nho học Lý do cũng thật dễ hiểu Tây Sơn khi ra Bắc đã không chỉ còn là một cuộc nổi dậy khởi nghĩa của “đám nông dân” nữa mà dần đã trở thành một phong trào dân tộc Đặc biệt, lúc Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế và thiết lập bộ máy triều đình, ông không thể chỉ sử dụng đội ngũ quan lại có nguồn gốc từ nông dân và võ tướng được mà cần phải có hàng ngũ quan văn để giúp vua trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa… Song quan văn đó lấy từ đâu? Đất Bắc Hà với truyền thống khoa cử kéo dài trên 700 năm cùng một đội ngũ nho sĩ đông đảo đã đáp ứng nhu cầu đó

Vậy tại sao nhiều sĩ phu Bắc Hà theo Tây Sơn? Thực ra, đây là một đặc điểm của kẻ sĩ Bắc Hà Những người này có thể bị đời sau cho là “cơ hội”, “sọc dưa” Nhưng họ là những đại sĩ phu, học rộng tài cao Họ chỉ đơn giản tranh thủ cơ hội để được đưa cái sở học của mình ra gìn giữ ngôi đền văn hóa nước nhà vì muốn:

Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông

(Đi thi tự vinh - Nguyễn Công Trứ)

Bộ phận sĩ phu này được cho là thức thời và nhạy cảm, đã nhận thấy sự nghiệp to lớn của Tây Sơn và cảm phục tài năng, tâm huyết của Nguyễn Huệ - Quang Trung, can đảm từ bỏ truyền thống Lê - Trịnh để hợp tác đắc lực với chính quyền Tây Sơn, có thể kể đến Tiến sĩ Phan Huy Ích, Hương cống Nguyễn Thiếp… Mặc dù sĩ phu Bắc Hà lựa chọn con đường này chỉ có tỉ lệ không cao (chiếm 19,4%), nhưng lại đóng góp cho phong trào - vương triều Tây Sơn và đất nước nhiều trí thức tài danh như Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp…

Với biết bao tâm huyết và kỳ vọng giữa triều đại mới, sự nghiệp mới, diễn biến chính trị xoay quanh chính những nhà Nho được cho là thức thời này cũng không hề đơn tuyến, một chiều Vương triều Tây Sơn được thành lập như là “một hỗn hợp không chặt chẽ giữa các võ tướng xuất thân là nông dân Đàng Trong chuyển hóa thành quan lại (mà trình độ quản lý xã hội còn thấp kém) nắm giữ các chức vụ chủ

Trang 38

chốt ở triều đình và các trấn cùng với các văn thần (mà người Bắc Hà không ít) mới được thu dung”[51; Tr 407] Thực trạng bộ máy chính quyền như vậy gây ra không

ít trở ngại trong hành xử của người trí thức Nho học mong muốn “kiêm tế thiên hạ” (cứu vớt cả thiên hạ) Nhất là sau khi vua Quang Trung mất (1792), hàng loạt nho thần Bắc Hà như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Ninh Tốn… tự ví tình cảnh của mình như “bóng nhạn cô đơn” (lời Phan Huy Ích), một sớm mất đi vị minh quân mong ước, không còn được tin dùng nữa, bị vô hiệu hóa Nhiều người trong số đó đã từ bỏ quan trường, trở ra Bắc hay về quê ở ẩn [51; Tr 407] Dưới đây là một số sĩ phu tiêu biểu trong khuynh hướng ủng hộ phong trào Tây Sơn

2.2.1 Nguyễn Đề

Nguyễn Đề sinh ngày 13 tháng 2 năm Tân Tỵ (1761) tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh Ông là con thứ sáu của Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm (1708-1755) và là anh cùng mẹ với Nguyễn Du

Nhờ cha làm quan lớn (Tể tướng), nên những năm tháng thiếu thời, ông sống khá yên vui cùng các anh em trong một cơ ngơi bề thế ở phường Bích Câu, trong kinh thành Thăng Long

Năm 1768, mới 7 tuổi, ông đã được tập ấm: Hoằng tín đại phu, Trung thành môn vệ úy, Khuê Nhạc bá Năm 1780, nhờ thông minh và chăm chỉ, ông đỗ đầu kỳ khảo khóa ở Quốc tử giám

Năm 1783, ông đỗ đầu kỳ thi ở huyện Thọ Xương và ở huyện Đông Ngàn Tháng 10 cùng năm, ông đỗ Cử nhân ở trường thi Phụng Thiên

Năm 1786, ông được vua Lê Hiển Tông bổ làm Thị nội văn chức, giữ việc thường trực tại nhà học của con chúa Trịnh; rồi kiêm Phó tri Thị nội thư tả lại phiên

ở phủ chúa Sau nữa, ông thăng Xu mật viện sự Đức Phái hầu Cùng năm, quân Tây Sơn ra Bắc, ông được giao giữ chức Hiệp tán quân cơ đạo quân Sơn Tây

Năm Kỷ Dậu (1789), vua Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, ông theo không kịp phải lánh về quê mẹ ở Bắc Ninh

Năm Quang Trung thứ 3 (1790), nhờ người quen đề cử, ông được nhà Tây Sơn mời ra giúp việc từ hàn, tiếp đến là Hàn lâm viện thị thư, rồi được cử làm Phó

sứ (do Nguyễn Quang Hiển dẫn đầu) đi đến Yên Kinh tuế cống triều Thanh

Trang 39

Về nước, ông được thăng Đông các đại học sĩ, gia tăng Thái sử, Thự Tả thị lang Nghi Thành hầu Năm 1794, thời Cảnh Thịnh, ông được thăng Tả phụng nghi

bộ Binh, vào Quy Nhơn giữ chức Hiệp tán nhung vụ, cai quản tinh binh

Năm 1795, ông được cử sang Trung Quốc lần hai, để chúc mừng vua Thanh

là Càn Long làm lễ nhường ngôi cho con là Gia Khánh Tháng 2-1796, ông về nước, được phong chức Tả đồng nghị Trung thư sảnh

Năm 1802, nhà Tây Sơn sụp đổ, vua mới là Gia Long lệnh cho ông theo xe vua ra Bắc Hà và làm việc tại Bắc Thành, dưới quyền quan Tổng trấn Năm 1805, trong lần về chịu tang người thiếp, ông bị một viên tri phủ truy bức nhân có một vụ việc tại làng Vì quá uất ức, ông đã qua đời lúc 54 tuổi

Có thể nói, Nguyễn Đề làm quan với Tây Sơn khá tự nguyện và hăm hở, không mặc cảm, ít vướng bận nghĩa “trung quân”, thậm chí có lúc ông còn chỉ trích những người bảo thủ, lánh đời Vì chuyện này, ông phải chịu không ít lời gièm pha Thậm chí, trong thơ của em ông là Nguyễn Du cũng phần nào thể hiện sự chê trách:

Một chức quan buộc anh ở phía nam tòa thành sáu tháp, Ban đêm vượt đèo Hải Vân đá lởm chởm

Ba năm đóng thú ở vùng núi lam chướng, Tiết tháng Hai lạnh lẽo, nhìn hoa khói quê nhà

Một phen từ biệt, không biết nay ở nơi nào?

Cuộc trùng phùng có lẽ phải đợi đến kiếp sau

Trời bể mênh mông, đường xa nghìn dặm, Hồn phách tìm nhau, dầu trong giấc mộng cũng khó

(Nhớ anh - Nguyễn Du)

2.2.2 Đoàn Nguyễn Tuấn

Đoàn Nguyễn Tuấn (1750-?) quê làng Hải Yên, huyện Quỳnh Côi (nay là làng Hải An, xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình) Ông là con Hoàng giáp Đoàn Nguyễn Thục (1718-1775), đại thần thời Lê Mạt, là con rể Tiến sĩ Nhữ Đình Toản (1702-1773) và là anh vợ thi hào Nguyễn Du (1765-1820)

Trang 40

Ông thi đỗ Hương cống đời Lê (vào khoảng đời Cảnh Hưng), nhưng không

ra làm quan Khoảng 1786, ông có tụ họp người làng bàn chuyện dấy binh giúp Trịnh Bồng, nhưng việc không thành

Cuối năm 1787, ông cùng Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm ra giúp nhà Tây Sơn; ông được cử giữ chức Hàn lâm trực học sĩ (1788) Tháng 9 năm sau (1789), ông được giao nhiệm vụ đón tiếp sứ giả nhà Thanh sang phong vương cho vua Quang Trung

Năm sau nữa (1790), ông cùng Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn, được cử vào sứ

bộ của vua Quang Trung giả, sang Trung Quốc triều kiến vua Càn Long Khi trở

về nước, ông được thăng làm Tả thị lang bộ Lại, tước Hải Phái hầu

Sau khi vua Quang Trung mất đột ngột (1792), ông tiếp tục giúp vua Cảnh Thịnh cho đến khi triều đại Tây Sơn sụp đổ

Ông là một trong những sĩ phu Bắc Hà hết sức chân thành với triều Tây Sơn Ông có nhiều bài thơ thể hiện sự hào hứng ca ngợi võ công của đội quân Tây Sơn,

đã mang lại cảnh thanh bình thịnh trị cho đất nước; hoặc biểu lộ niềm tự hào về nền văn hiến dân tộc, như: "Kỷ Dậu trọng thu thượng hoan nghênh tiếp sách sứ, tâm

hữu Nguyễn Quế Kiên tặng thi nhị thủ, y nguyên vận phúc" (Sáng sớm ngày hai

mươi tháng mười một hạ được thành, mừng làm thơ); "Quá Nhị Hà quan Bắc binh

cố lũy" (Qua sông Nhị xem lũy cũ của quân Bắc); "Trọng đông nguyệt, nhị thập thất nhật, tảo thời, khắc thành, hỷ tác"; "Cụ phong hậu cảnh sắc" (Cảnh sắc sau cơn bão

táp), "Nam phong" (Gió Nam); "Ngự dinh cung kỳ" (Trong cung vua, kinh ghi);

"Đáp vấn" (Trả lời câu hỏi) Ngần ấy cho thấy niềm phấn khởi, lòng tin, ý muốn

đóng góp nhiều cho triều đại mới của ông

Tuy nhiên sau đó, nhận thấy vương triều này suy thoái nhanh chóng, nhất là sau khi vua Quang Trung đột ngột mất đi, khiến rải rác trong thơ ông không khỏi có những ý nghĩ bi quan, buồn chán Nỗi niềm đó được bộ lộ qua các bài tự sự trữ

tình: "Tại Đồ Bàn thành ngoại khách xá tri húy nhật" (Tại quán khách ngoại thành

Đồ Bàn, gặp ngày giỗ cha); "Thu, dư nhập kinh, đông mạt thủy qui, nhân ức Tố

Như thị "Nhất quan bôn tẩu phong Trần Mạt" chi cú triền thành tứ vận" (Mùa thu ta

vào kinh, cuối đông mới về, nhân nhớ câu "Nhân quan bôn tẩu phong trần mạt của

Ngày đăng: 30/03/2017, 06:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Văn Ánh (2004), Ngô Thì Đạo trong Từ điển văn học (bộ mới), Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Thì Đạo trong Từ điển văn học (bộ mới)
Tác giả: Phạm Văn Ánh
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
2. Đỗ Bang (1981), Trung thư phụng chính Trần Văn Kỷ, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 177, tr.17-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Đỗ Bang
Năm: 1981
3. Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng (1976), Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ
Tác giả: Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1976
4. Phạm Tú Châu (2004), Từ điển Văn học bộ mới, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Văn học bộ mới
Tác giả: Phạm Tú Châu
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
5. Nguyễn Huệ Chi, Trần Hữu Tá (2005), Từ điển Văn học (Bộ mới), NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Văn học (Bộ mới)
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi, Trần Hữu Tá
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2005
6. Phan Huy Chú (1960), Lịch triều hiến chương loại chí, tập I-IV. Nxb Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1960
7. Danh nhân văn hóa trong lịch sử Việt Nam và Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập 3) (2008), Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân văn hóa trong lịch sử Việt Nam" và "Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập 3)
Tác giả: Danh nhân văn hóa trong lịch sử Việt Nam và Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập 3)
Năm: 2008
8. Trịnh Văn Định (2003), Những cách lựa chọn của kẻ sĩ tinh hoa trong lịch sử, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, tập 29, số 2, tr. 10-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cách lựa chọn của kẻ sĩ tinh hoa trong lịch sử
Tác giả: Trịnh Văn Định
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
9. Trịnh Hoài Đức (1999), Gia Định thành thông chí, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định thành thông chí
Tác giả: Trịnh Hoài Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1999
10. Nguyễn Thạch Giang (2004), Văn học thế kỷ XVIII, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học thế kỷ XVIII
Tác giả: Nguyễn Thạch Giang
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
11. Trần Văn Giáp (2003), Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (Tập 1 và 2 in chung), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (Tập 1 và 2 in chung)
Tác giả: Trần Văn Giáp
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2003
12. Hoàng Xuân Hãn (1971), Phe chống đảng Tây Sơn ở Bắc với tập “Lữ Trung ngâm”, Tập san Sử Địa, số 21, tr. 20-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lữ Trung ngâm”, "Tập san Sử Địa
Tác giả: Hoàng Xuân Hãn
Năm: 1971
13. Hoàng Xuân Hãn (1998), La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, in trong, La Sơn Yên hồ Hoàng Xuân Hãn, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp", in trong, "La Sơn Yên hồ Hoàng Xuân Hãn, tập 2
Tác giả: Hoàng Xuân Hãn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
14. Cao Xuân Hạo (2005), Quốc triều chánh biên toát yếu, quyển II, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều chánh biên toát yếu, quyển II
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2005
15. Nguyễn Văn Hoàn (1973), Phong trào khởi nghĩa nông dân và văn học Việt Nam thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, Tạp chí Văn học, số 4, tr. 15-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào khởi nghĩa nông dân và văn học Việt Nam thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX
Tác giả: Nguyễn Văn Hoàn
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1973
16. Nguyễn Hoàn, Lê Quý Đôn, Cao Miên (1991), Đại Việt sử ký tục biên, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký tục biên
Tác giả: Nguyễn Hoàn, Lê Quý Đôn, Cao Miên
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1991
17. Cao Xuân Huy, Thạch Can (1978), Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, Quyển II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, Quyển II
Tác giả: Cao Xuân Huy, Thạch Can
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1978
18. Vũ Khiêu (1973), Vấn đề đánh giá Ngô Thì Nhậm, Tạp chí Văn học số 4, tr. 13-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Văn học
Tác giả: Vũ Khiêu
Năm: 1973
19. Hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế (2009), Tây Sơn - Thuận Hóa và anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ Quang Trung, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây Sơn - Thuận Hóa và anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ Quang Trung
Tác giả: Hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
20. Ngô Cao Lãng (1995) Lịch triều tạp kỷ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều tạp kỷ
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. Danh sách các sĩ phu Bắc Hà có thái độ không rõ ràng - Thái độ của sĩ phu bắc hà với phong trào tây sơn (1771 1802)
Bảng 2.3. Danh sách các sĩ phu Bắc Hà có thái độ không rõ ràng (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w